TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH PHẠM THỊ BÉ NGÂN ƯỚC TÍNH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH VỀ ĐƯỜNG HÔ HẤP CỦA NGƯỜI DÂN GIỮA HAI XÃ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ BÉ NGÂN
ƯỚC TÍNH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH
VỀ ĐƯỜNG HÔ HẤP CỦA NGƯỜI DÂN GIỮA HAI XÃ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT GẠCH NUNG VÀ MÔI TRƯỜNG
CÓ KHÔNG KHÍ TRONG LÀNH TẠI TỈNH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ BÉ NGÂN MSSV: 4115221
ƯỚC TÍNH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH
VỀ ĐƯỜNG HÔ HẤP CỦA NGƯỜI DÂN GIỮA HAI XÃ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT GẠCH NUNG VÀ MÔI TRƯỜNG
CÓ KHÔNG KHÍ TRONG LÀNH TẠI TỈNH
TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Mã số ngành: 52850102
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN TH.S NGUYỄN THÚY HẰNG
Tháng 08-Năm 2014
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Qua 3 năm học tập tại trường, em đã nhận được rất nhiều sự chỉ dạy của quý thầy cô trong Khoa kinh tế nói riêng và của trường Đại học Cần Thơ nói chung Nhân dịp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành với niềm biết ơn sâu sắc với Cô cố vấn học tập Cô Huỳnh Thị Đan Xuân đã quan tâm, chia sẻ, hỗ trợ và động viên em trong suốt quá trình theo học chuyên ngành Kinh tế tài nguyên – thiên nhiên Đặc biệt em vô cùng biết ơn Cô Nguyễn Thúy Hằng đã tận tụy hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình em thực hiện đề tài Cô
đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn cũng như những kinh nghiệm, những góp ý vô cùng quý báo để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Em xin chân thành cảm ơn Gia đình thân yêu của Em, cảm ơn Cha và
Mẹ đã tạo điều kiện cho em ăn học để em có thể bước chân vào giảng đường đại học, luôn luôn ở bên cạnh, ủng hộ và động viên em trên con đường học vấn Do kiến thức còn hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót
Vì vậy em rất kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy Cô, các Anh/ Chị cùng các bạn để luận văn hoàn thiện Cuối cùng em xin kính chúc Quý Thầy Cô Khoa Kinh tế - QTKD, Cô Huỳnh Thị Đan Xuân, Cô Nguyễn Thúy Hằng, được nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Trà Vinh, ngày 13 tháng 11 năm 2014
Sinh viên thực hiện
(ký và ghi họ tên)
Phạm Thị Bé Ngân
Trang 4ii
LỜI CAM KẾT
Em cam kết rằng đề tài này là do chính em thực hiện, các số liệu thu thập
và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Trà Vinh, ngày 13 tháng 11 năm 2014
Sinh viên thực hiện
(ký và ghi họ tên)
Phạm Thị Bé Ngân
Trang 5iii
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Trà Vinh, ngày … tháng … năm 2013
Thủ trưởng đơn vị
(ký tên và đóng dấu)
Trang 6iv
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thúy Hằng
Học vị: Thạc sĩ
Chuyên ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Thiên Nhiên
Cơ quan công tác: Khoa Kinh Tế- QTKD, Trường Đại Học Cần Thơ
Họ và tên sinh viên thực hiện đề tài: Phạm Thị Bé Ngân
MSSV: 4115221
Chuyên ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Thiên Nhiên
Tên đề tài: “Ước tính chi phí điều trị các bệnh về đường hô hấp của người dân
giữa hai xã bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gạch
nung và môi trường có không khí trong lành tại tỉnh Trà Vinh”
NỘI DUNG NHẬN XÉT
1 Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo:
2 Về hình thức:
3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài:
4 Độ tin cậy về số liệu và tính hiện đại của luận văn:
5 Nội dung và các kết quả đạt được:
6 Các nhận xét khác:
7 Kết luận:
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Giáo viên hướng dẫn
(ký và ghi họ tên)
Trang 7v
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Giáo viên phản biện
(ký và ghi họ tên)
Trang 8vi
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.4.1 Phạm vi về không gian 4
1.4.2 Phạm vi về thời gian 4
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5
2.1.1 Ô nhiễm môi trường không khí 5
2.1.2 Các bệnh về đường hô hấp 15
2.1.3 Chi phí điều trị bệnh và tổn thất kinh tế do nghỉ ốm 16
2.1.4 Tài nguyên đất sét 16
2.1.5 Triển khai dự án CDM 18
2.1.6 Quy trình sản xuất gạch nung ở tỉnh Trà Vinh 19
2.1.7 Mô hình lò nung gạch trên địa bàn tỉnh Trà Vinh 20
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 26
2.2.3 Số mẫu và kỹ thuật chọn mẫu 28
2.2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 29
2.2.5 Hạn chế của nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3:TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI TỈNH TRÀ VINHVÀ ĐỊA BÀN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 30 3.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI TỈNH
Trang 9vii
TRÀ VINH 30
3.2 TỔNG QUAN VỀ XÃ ĐẠI PHÚC HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH 33
3.3 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI TỈNH TRÀ VINH 34
CHƯƠNG 4: ƯỚC TÍNH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH VỀ ĐƯỜNG HÔ HẤP CỦA NGƯỜI DÂN GIỮA HAI XÃ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT GẠCH NUNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÓ KHÔNG KHÍ TRONG LÀNH TẠI TỈNH TRÀ VINH 36
4.1 TỈ LỆ MẮC CÁC BỆNH VỀ ĐƯỜNG HÔ HẤP TỰ KHAI BÁO 36
4.1.1 Tỉ lệ mắc các bệnh hô hấp tự khai báo 36
4.1.2 Tỉ lệ mắc bệnh viêm phế quản 37
4.1.3 Tỉ lệ mắc bệnh viêm phổi 38
4.1.4 Tỉ lệ mắc bệnh ung thư phổi và lao phổi 38
4.1.5 Tỉ lệ mắc các bệnh hô hấp của 2 xã ở Trà Vinh so với cả nước 39
4.2 ƯỚC TÍNH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH VỀ ĐƯỜNG HÔ HẤP CỦA NGƯỜI DÂN Ở HAI XÃ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT GẠCH NUNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÓ KHÔNG KHÍ TRONG LÀNH Ở TỈNH TRÀ VINH 40
4.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔNG CHI PHÍ CỦA CÁ NHÂN NGƯỜI DÂN MẮC BỆNH HÔ HẤP SỐNG Ở XÃ ĐẠI PHƯỚC 42
4.4 ĐÁNH GIÁ CỦA NHỮNG HỘ DÂN VỀ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI XÃ ĐẠI PHƯỚC 43
4.5 ĐƯA RA CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CHO CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI TỈNH TRÀ VINH 44
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1 KẾT LUẬN 45
5.1.1 Thực trạng môi trường sản xuất gạch nung tại tỉnh Trà Vinh 45
5.1.2 Tỉ lệ mắc các bệnh về đường hô hấp tự khai báo 45
5.1.3 Chi phí điều trị các bệnh về đường hô hấp của người dân 46
5.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng chi phí của cá nhân người dân mắc bệnh hô hấp bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí do hoạt động sản xuất gạch nung 46
5.2 KIẾN NGHỊ 46
Trang 10viii
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 1 51
BẢNG CÂU HỎI 51
PHỤ LỤC 2 61
Trang 11ix
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thành phần hóa học của không khí khô 5
Bảng 2.2 Nồ độ khí CO2, SO2, NO2 của mô hình lò nung gạch thủ công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh năm 2012 22
Bảng 2.3 Nồng độ HF của các lò nung gạch thủ công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh năm 2012 23
Bảng 2.4 Thành phần cơ lý của rác sinh hoạt 24
Bảng 2.5 Mức ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất gạch trên địa bàn tỉnh Trà Vinh năm 2012 25
Bảng 2.6 Đặc điểm các biến đưa vào mô hình tuyến tính 28
Bảng 3.7 Hiện trạng mô hình gạch nung trên địa bàn tỉnh Trà Vinh 32
Bảng 4.8 Tổng số người của 2 nhóm thu thập 36
Bảng 4.9 Tỉ lệ mắc các bệnh hô hấp của 2 xã tại Trà Vinh so với cả nước 39
Bảng 4.10 Kết quả chạy mô hình tuyến tính 44
Bảng 4.11 Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí xung quanh khu vực sống của hộ dân ở xã Đại Phước 46
Trang 12x
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Quy trình sản xuất gạch nung theo mô hình thủ công tại tỉnh Trà
Vinh 19
Hình 2.2 Mô hình lò nung gạch thủ công tỉnh Trà Vinh 21
Hình 4.3 Tỉ lệ mắc các bệnh hô hấp ( 5 bệnh hô hấp điều tra) 36
Hình 4.4 Tỉ lệ mắc bệnh viêm phế quản 37
Hình 4.5 Tỉ lệ mắc bệnh viêm phổi 38
Hình 4.6 Tỉ lệ mắc bệnh ung thƣ phổi và lao phổi 39
Hình 4.7 Chi phí điều trị các bệnh hô hấp 40
Hình 4.8 Tổn thất do nghỉ ốm 41
Hình 4.9 Tổng chi phí do các bệnh hô hấp 42
Trang 13TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
IPCC Intergovemmental Panel on Climate Change (Ủy Ban Liên
Chính Phủ về Thay Đổi Khí Hậu)
SIDA Swedish International Development Cooperation Agency (Tổ
Chức Hợp Tác Phát Triển Quốc Tế Thụy Điển)
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa của Liên Hiệp Quốc)
Trang 141
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Gạch nung là bộ phận cấu thành quan trọng của công trình xây dựng chiếm vị trí quan trọng trong tám loại vật liệu xây dựng cơ bản (xi măng, vôi, gạch ngói, sành sứ, tre gỗ, sắt, thép và kính xây dựng) dùng để xây dựng nhà
ở và các công trình công cộng như bệnh viện, trường học Việt Nam được biết đến là nước đang phát triển vì thế nhu cầu sử dụng gạch nung để phục vụ cho xây dựng ngày một gia tăng Theo điều tra của Hội xây dựng Việt Nam vào năm 2000 sản lượng gạch nung khoảng 12 tỷ viên Dự kiến đến năm 2015 sản lượng gạch nung là 32 tỷ viên và tăng lên 42 tỷ viên vào năm 2020 Hằng năm, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng, cả nước tiêu thụ khoảng 20- 22 tỷ viên/1 năm, chủ yếu là gạch nung thủ công chiếm tới 90% Với đà phát triển này, đến năm 2020 lượng đất sét phải tiêu thụ vào khoảng 600 triệu
m3, tương đương với 30.000 ha đất canh tác
Theo số liệu thống kê của Sở Công thương tỉnh Trà Vinh, tính đến tháng 07năm 2013 tỉnh Trà Vinh hiện có 21 cơ sở sản xuất gạch nung đất sét gồm 42
lò, tập trung chủ yếu ở huyện Càng Long, Châu Thành và Cầu Kè, sản xuất khoảng hơn 30 ngàn viên gạch nung/năm, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định năm 1994) hơn 07 tỷ đồng, chiếm 0,17% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành Trong đó, huyện Càng Long 16 cơ sở, 30 lò, toàn bộ là
lò tròn đứng, huyện Cầu Kè có 04 cơ sở có 10 lò, trong đó có 09 lò tròn đứng
và 01 lò liên hoàn, huyện Châu Thành có 01 cơ sở với 02 lò Hoffman (lò đứng liên tục và lò vòng) Sản xuất gạch để phục vụ xây dựng là nghề truyền thống của một bộ phận người dân các huyện Châu Thành, Càng Long và Cầu Kè, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động Hiện nay, với 42 lò, đã giải quyết thường xuyên cho gần 400 lao động (có 30 lao động thời vụ), chiếm 0,52% tổng số lao động của toàn ngành công nghiệp, nộp ngân sách Nhà nước khoảng 300 triệu đồng/năm, thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu trong tỉnh, một bộ phận nhỏ tiêu thụ ở các tỉnh lân cận như Sóc Trăng và Vĩnh Long Nguồn nguyên liệu sản xuất được khai thác tập trung ở xã Song Lộc, huyện Châu Thành và xã Tân An huyện Càng Long với khối lượng đất sét khai thác
để sản xuất khoảng 45.000m3/năm
Thế nhưng, gạch nung còn tiêu tốn rất nhiều năng lượng như than, củi, trấu, quá trình này thải vào bầu khí quyển của chúng ta cơ bản là khí độc không chỉ ảnh hưởng tới môi trường, sức khỏe con người mà còn làm giảm năng suất của cây trồng vật nuôi
Theo khảo sát của các sở, ngành liên quan, trên địa bàn tỉnh hiện nay, sản xuất gạch hầu hết áp dụng công nghệ lò nung là chủ yếu (lò tròn kiểu đứng), trong tổng số42 lò đang hoạt động, nhiên liệu đốt chủ yếu là trấu Từ thực tế đó,
ô nhiễm môi trường là vấn đề được quan tâm nhiều nhất của các cấp chính quyền và cộng đồng dân cư xung quanh Các nguồn gây ô nhiễm từ sản xuất gạch nung là khói thải trong quá trình đốt lò, bụi, trấu, tro phát tán trong qua trình hoạt động của lò nung gạch, tro trấu vươn vãi trên đường, tràn xuống sông, kênh rạch gây ô nhiễm nguồn nước, hơi nóng từ lò đốt Quan trọng hơn là
Trang 152
các cơ sở sản xuất gạch nung trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đa số là các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, nung gạch thủ công, nằm trong khu dân cư lại không đủ khả năng đầu tư hệ thống xử lý khí thải đạt quy chuẩn hiện hành.Và trong quá trình nung gạch sẽ thải ra môi trường một lượng lớn khí độc như: CO2, CO, NO, SO2, HF, khói, bụi những chất này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân và là một trong những nguyên nhân gây nên hiệu ứng nhà kính Ngoài ra, với việc khai thác đất sét với khối lượng và diện tích lớn sẽ dẫn đến thu hẹp dần đất nông nghiệp gây nguy hại đến an ninh lương thực Sản xuất gạch nung được biết đến là ngành nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường rất lớn do khói bụi ảnh hưởng đến sinh hoạt và sức khỏe người dân đồng thời các bệnh liên quan đến hô hấpnhư bệnh hen phế quản, bệnh viêm phổi, bệnh lao, bệnh viêm phế quản bắt đầu xuất hiện và ngày một nhiều Các tính toán về gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sức khỏe, khoảng 25 đến 35% gánh nặng bệnh tật toàn cầu có thể là do phơi nhiễm với yếu tố môi trường, các vấn đề sức khỏe chủ yếu là do liên quan tới ô nhiễm không khí, nước uống và tình trạng vệ sinh không đảm bảo Bên cạnh những tổn thất về người, những chi phí điều trị bệnh cũng ngày càng tăng, đồng thời kéo theo tổn thất kinh tế do nghỉ ốm không đi làm được cũng ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Việc đi nghiên cứu chi phí điều trị của một số bệnh về đường hô hấp của người dân trong độ tuổi lao động giữa hai xã bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gạch nung và môi trường có không khí trong lành tại tỉnh Trà Vinh sẽ cho thấy một cái nhìn bao quát hơn về tình hình bệnh về đường hô hấp và chi phí điều trị cũng như tổn thất kinh tế do
bệnh tật mà những người dân này phải chi trả Từ những lý do trên đề tài “Ước tính chi phí điều trị các bệnh về đường hô hấp của người dân giữa hai xã bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gạch nung và môi trường có không khí trong lành tại tỉnh Trà Vinh” được thực hiện 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1Mục tiêu chung
Ước tính được chi phí điều trị các bệnh về đường hô hấp của người dân giữa hai xã bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gạch nung và môi trường có không khí trong lành tại tỉnh Trà Vinh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Tìm hiểu chung về thực trạng môi trường sản xuất gạch
nung tại tỉnh Trà Vinh?
Mục tiêu 2: Xác định tỷ lệ hiện mắc từng bệnh về đường hô hấp là
bệnh viêm phế quản, bệnh viêm phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh ung thư phổi, bệnh lao phổi của những người dân trong độ tuổi lao động ở hai xã
bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gạch nung tự khai báo tại xã Đại Phước huyện Càng Long và ở môi trường trong lành tại xã Đại Phúc huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh trong 12 tháng từ tháng 08 năm 2013 đến tháng 08 năm 2014?
Trang 163
Mục tiêu 3: Ước tính được chi phí điều trị của người dân mắc bệnh
hô hấp trong độ tuổi lao động thuộc những hộ dân bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gạch nung tại xã Đại Phước huyện Càng Long và của người dân mắc bệnh hô hấp trong độ tuổi lao động thuộc những
hộ dân sống ở khu vực có môi trường sống trong lành tại xã Đại Phúc huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh trong 12 tháng từ tháng 08 năm 2013 đến tháng 08 năm 2014?
Mục tiêu 4: Ước tính được tổn thất kinh tế do nghỉ ốm không đi làm
được của 2 nhóm đối tượng người dân trong độ tuổi lao động thuộc hộ bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gạch nung tại xã Đại Phước huyện Càng Long và ở khu vực có môi trường sống trong lành tại xã Đại Phúc huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh trong 12 tháng từ tháng 08 năm
2013 đến tháng 8 năm 2014?
Mục tiêu 5: So sánh chênh lệch về chi phí điều trị và tổn thất kinh tế
do nghỉ ốm không đi làm được liên quan các bệnh về đường hô hấp do có môi trường sống khác biệt của người dân trong độ tuổi lao động thuộc hộ dân bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gạch nung và người dân trong độ tuổi lao động thuộc hộ dân sống ở khu vực có môi trường sống trong lành?
Mục tiêu 6: Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi
trường cho cơ sở sản xuất gạch nung?
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng tình hình sản xuất gạch nung trên địa bàn tỉnh Trà Vinh như thế nào?
- Vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất nung trên địa bàn tỉnh Trà Vinh diễn ra như thế nào?
- Sức khỏe của người dân sống gần khu vực sản xuất gạch nung ra sao? Chi phí điều trị cho các bệnh về đường hô hấp của người dân trong độ tuổi lao động thuộc hộ dân bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất gạch nung là bao nhiêu?
- Chi phí điều trị cho các bệnh về đường hô hấp của người dân trong độ tuổi lao động thuộc hộ dân sống ở khu vực có môi trường trong lành là bao nhiêu?
- Tổn thất kinh tế do nghỉ ốm không đi làm được liên quan đến các bệnh
về đường hô hấp của người dân trong độ tuổi lao động thuộc hộ dân bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất gạch nung và của người dân trong độ tuổi lao động thuộc hộ dân sống ở khu vực có môi trường trong lành là bao nhiêu?
- Chênh lệch về chi phí điều trị bệnh và tổn thất kinh tế do nghỉ ốm không đi làm được liên quan đến môi trường không khí sống khác biệt của người dân trong độ tuổi lao động thuộc hộ dân bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi
Trang 17- Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2000 đến tháng07 năm 2013
- Số liệu sơ cấp điều tra các vấn đề liên quan đến bệnh tật của người dân trong 12 tháng đã qua từ tháng 08 năm 2013 đến tháng 08 năm 2014
- Thời gian thực hiện đề tài từ 11 tháng 08 đến 17 tháng 11 năm 2014
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng người dân trong độ tuổi lao động thuộc các hộ sống gần cách
lò gạch nung đang hoạt động trong phạm vi khoảng 1km tại xã Đại Phước huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh
- Đối tượng người dân trong độ tuổi lao động thuộc các hộ sống ở khu vực có môi trường trong lành thuộc xã Đại Phúc huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh
- Đề tài chỉ ước tính chi phí điều trị và tổn thất kinh tế do nghỉ ốm không
đi làm được của các bệnh về đường hô hấp cụ thể là 5 bệnh: bệnh viêm phế quản, bệnh viêm phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh ung thư phổi, bệnh lao phổi của người dân trong đô tuổi lao động mà các chi phí này có thể ước tính được bằng tiền tệ
Trang 185
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Ô nhiễm môi trường không khí
2.1.1.1 Định nghĩa ô nhiễm môi trường không khí
Không khí là một trong các yếu tố quan trọng mà con người sống trong
đó suốt cả cuộc đời, làm việc và nghỉ ngơi Sức khỏe và cảm ứng của con người, sự sinh trưởng và phát triển của tất cả các loài động vật, thực vật phụ thuộc rất nhiều vào: thành phần hỗn hợp của không khí, độ trong sạch và đặc tính lý hóa của nó Có thể nói không khí vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong đời sống, sự sinh trưởng và phát triển của tất cả các loài động vật, thực vật nói chung và con người nói riêng Do vậy luôn luôn có một tác động qua lại giữa bầu không khí và con người như: trao đổi ôxy và cacbon, trao đổi nhiệt, làm phát sinh bụi và hơi độc…Không khí trong tự nhiên là một hỗn hợp bao gồm các thành phần hóa học sau:
Bảng 2.1: Thành phần hóa học của không khí khô
nhiễm có thể gây hại đến tự nhiên và con người mà khoa học thời điểm đó nhận biết được chỉ đơn thuần là gây ra sự khó chịu cho con người như mùi hôi, màu sắc…
2.1.1.2 Các loại nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí
Các nguồn thải chất gây ô nhiễm môi trường không khí bao gồm nguồn
tự nhiên và do nhân tạo:
Nguồn thải do yếu tố tự nhiên
- Sự hoạt động của núi lửa và các loại vi khuẩn trong không khí cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí Theo ước tính thì lượng CO2 do núi lửa hoạt động phun ra cao gấp 40.000 lần so với lượng CO2hiện có trong khí quyển đã làm thay đổi nhiệt độ khí quyển, các loại khí độc như: CO2, NOx,
CH4, CFC đã gây ra hiệu ứng nhà kính Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọng gây hiệu ứng nhà kính là CO2, nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, CH4 là 13%, Ozôn tầng đối lưu là 7%, Nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3% Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng trao đổi nhiệt
Trang 196
không cân bằng giữa Trái Đất với không gian xung quanh, làm nhiệt độ Trái Đất nóng lên Mêtan (CH4) là một chất có khả năng hấp thụ bức xạ lớn gấp 20 lần CO2, được sinh ra từ nhiều quá trình, có vai trò thứ hai trong việc gây nên hiệu ứng nhà kính Nồng độ Mêtan đã tăng hơn 700 ppb trong vòng 150 năm qua Năm 2013, lượng khí CO2 toàn cầu đạt mức 396 ppm, tăng 2,9 ppm so với năm 2012 và đây là mức tăng hằng năm lớn nhất trong 30 năm qua Các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác như Mêtan và Ôxit nitơ đếu tăng ở mức
kỷ lục trong năm 2013, trong đó khí mêtan tăng lên mức 1.824ppb, Ôxit nitơ tăng lên mức 325,9ppb Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì trong vòng 30 năm tới nước biển dâng từ 1,5- 3,5 m (Stepplan Keckes) Có nhiều khả năng lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau Điều này sẽ thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng Nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,600C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,300C
- Ngoài ra cháy rừng cũng là nguyên nhân không nhỏ gây ô nhiễm không khí Từ lâu các nhà khoa học đã biết rằng cháy rừng có thể ảnh hưởng đến chất lượng không khí và tăng mức độ trầm trọng hơn, mức độ ô nhiễm Ôzôn bằng cách giải phóng nitơ ôxit và khí hyđrô cácbon vào khí quyển từ đó ôzôn được hình thành qua các phản ứng hóa học trong ánh sáng mặt trời qua phản ứng hóa học trong ánh sáng mặt trời gần đám cháy hoặc những vùng xuôi chiều gió Hiện tượng lỗ thủng tầng ôzôn cũng là vấn đề của toàn cầu Ngoài nguyên nhân cháy rừng CFC là chất phá hoại chính tầng ôzôn Ôzôn ở tầng bình lưu đem lại lợi ích cho sự sống trên Trái Đất bằng cách chặn tia cực tím từ Mặt Trời, ngược lại ôzôn ở vùng khí quyển thấp hơn có thể đem lại nhiều vấn đề
về sức khỏe
Nguồn thải do yếu tố nhân tạo
Hàng năm con người đã khai thác và sử dụng hàng tỷ tấn than đá, dầu
mỏ, khí đốt, đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau, làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên một cách khá nhanh chóng Hàng năm có khoảng: 20 tỷ tấn cácbon điôxít, 1,53 triệu tấn SiO2, hơn 1 triệu tấn niken, 700 triệu tấn bụi, 1,5 triệu tấn asen, 900 tấn coban, 600.000 tấn kẽm (Zn), hơi thủy ngân (Hg), hơi chì (Pb) và các chất độc hại khác
Nguồn thải công nghiệp: Nền công nghiệp ở nước ta ngày càng phát
triển tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội Các khu công nghiệp, các nhà máy mọc lên với số lượng nhiều, qui mô lớn làm thay đổi cả bộ mặt xã hội theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực, trong đó phải kể đến vấn đề ô nhiễm môi trường Hoạt động của công nghiệp tăng cao sẽ kéo theo việc tăng chất thải vào môi trường khí Khi lượng chất thải đủ nhiều để phá vỡ chu trình cân bằng vật chất của môi trường, làm cho môi trường bị ô nhiễm
Nguồn thải gây ô nhiễm của các ngành công nghiệp gồm:
Công nghiệp năng lượng: Công nghiệp năng lượng gồm 3 ngành chính: Điện - Than - Dầu khí
- Ngành điện: ngành điện của nước ta có cơ cấu các nhà máy phát điện
là:
Trang 207
+ Thủy điện 66% là ngành không gây ô nhiễm môi trường khí nhưng tiềm ẩn khả năng biến đổi môi trường - sinh thái vùng hồ chứa nước và thủy vực vùng hạ lưu
+ Nhiệt điện: 21%
+ Tuabin khí và điezen: 13%
Các nhà máy nhiệt điện dùng than làm nhiên liệu có lượng tiêu hao than
từ 0,4 ÷0,8 kg/kwh Nguồn cung cấp than là các mỏ than vùng Đông bắc Theo
TS Phạm Ngọc Đăng thì năm 1993 các nhà máy tiêu thụ gần 480.000 tấn than
và thải ra khí quyển 6.713 tấn khí SO2; 2.724 tấn NOx; 277,9 × 103 tấn CO2 và
1491 tấn bụi Đây là nguồn gây ô nhiễm rất lớn nhưng việc khắc phục còn rất khó khăn và tốn kém Các nhà máy dùng dầu F.O làm nhiên liệu chủ yếu tập trung ở phía Nam như Thủ Đức - Cần Thơ - Hiệp Phước Nguồn khí thải chủ yếu là CO và SOx do trong dầu F.O hàm lượng lưu huỳnh rất cao (tới 3%).Với các nhà máy dùng khí làm nhiên liệu thì nguồn gây ô nhiễm không khí chỉ là CO2, NO2
- Ngành khai thác than: Ngành khai thác than ít có nguy cơ trực tiếp
gây ô nhiễm không khí, có chăng chỉ có nguồn phát sinh bụi từ các tuyến vận chuyển,phân loại than mà thôi Ngành này tiềm ẩn khả năng làm biến đổi môi trường - sinh thái vùng khai thác do cây cối bị triệt phá, đất đá bị đào xới…
- Ngành khai thác dầu khí: Nguồn phát thải chất ô nhiễm là việc đốt bỏ
khí đồng hành và những sự cố dò rỉ khí đốt trên các tuyến vận chuyển, sử dụng
Công nghiệp hóa chất:
- Hóa chất cơ bản: Chúng ta ít có nhà máy sản xuất hóa chất cơ bản lớn
nhất là ở khu vực phía Nam Nhưng có một số nhà máy công nghiệp khác có theo dây chuyền sản xuất hóa chất xút - clo trên cơ sở điện phân muối ăn Tại những cơ sở này, hơi Clo được thải bỏ tự do vào không khí là một nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Tùy theo các dạng sản phẩm làm ra mà các cơ sở sản xuất hóa chất cơ bản có chất thải làm ô nhiễm môi trường khí Ví dụ: SO2 từ công nghệ sản xuất acide sunfuric; Clo từ công nghệ điện phân muối ăn
- Phân hóa học: nguồn ô nhiễm lớn nhất tại các nhà máy phân hóa học
là bụi, sau đó là hơi SO2 và fluo nếu là dây chuyền sản xuất super lân, hay
NH3, CO2 nếu là sản xuất phân đạm
- Thuốc trừ sâu: Các nhà máy thuốc trừ sâu ở nước ta có hai dạng chính
là thuốc trừ sâu dạng lỏng và rắn Ở các nhóm clo hữu cơ và lân hữu cơ là loại
có độc tính cao Trong quá trình pha chế, đóng gói thành phẩm, có hơi thuốc trừ sâu bay hơi vào không khí gây ô nhiễm môi trường khí Ngoài ra phải kể tới bụi ở các dây chuyền sản xuất thuốc bột và hột bay vào môi trường không khí Tuy khối lượng không nhiều nhưng khí thải của các xí nghiệp này rất độc hại nên cần đặc biệt chú ý
Công nghiệp luyện kim: Cả nước chỉ có một nhà máy luyện gang từ quặng sắt ở Thái Nguyên, nhà máy này vừa luyện gang và luyện cốc, khí thải của nhà máy chứa nhiều CO, CO2, Cy Hx, SOx, NH3 và bụi…Hiện nay nhà máy sản xuất với năng suất rất thấp Khi hoạt động, lò luyện thường làm ô nhiễm không khí xung quanh vì khói bụi của quá trình sản xuất Trong khí thải của lò, lượng CO cho tới 15% – 20% (thể tích); H2 chiếm 0.5% - 35% Tải
Trang 21ra môi trường các loại khí độc hại đặc trưng Cùng ở dạng này ta còn gặp các
lò sản xuất đất đèn, đá mài…cũng là loại lò nung dùng hồ quang điện Chúng
ta còn phải chú ý đến khí thải của hàng trăm cơ sở nấu đúc kim loại nằm trong khu vực dân cư Các loại lò này thường dùng dầu FO và than đá làm nhiên liệu,nấu lại kim loại và phế liệu nên khói thải của các cơ sở thường làm ô nhiễm khu vực xung quanh
Công nghiệp vật liệu xây dựng:
- Sản xuất xi măng: Hiện chúng ta đang có rất nhiều nhà máy sản xuất
xi măng Bao gồm hai công nghệ chính là xi măng lò đứng công suất thấp, chất lượng thấp, sản xuất thô sơ và xi măng lò quay có công suất và chất lượng cao Khí thải từ lò nung xi măng có hàm lượng bụi, CO, CO2, Fluor rất cao và
cỏ khả năng gây ô nhiễm nếu không được kiểm soát tốt Hiện tại, vấn đề ô nhiễm môi trường do bụi và khói ở một vài nhà máy xi măngvẫn đang chưa được giải quyết
- Sản xuất gạch đất nung: Tại các cơ sở công nghiệp lớn, gạch đất nung
trong các lò Tuy-nen dùng nhiên liệu là dầu DO hay FO, các nhà máy này phát thải vào không khí chất gây ô nhiễm do đốt dầu vẫn đang tồn tại, còn chưa được giải quyết triệt để Chất gây ô nhiễm là tro bụi, CO2, SOx Tại các lò gạch thủ công dùng trấu, củi, than làm ô nhiên liệu, do đặc tính công suất nhỏ,
ở rải rác nên khí thải chứa tro bụi, CO2 ảnh hưởng tới các nhà dân lân cận Khi tập trung thành các làng nghề thì vấn đề sẽ trở nên bức xúc hơn
- Sản xuất gạch gốm, đồ gốm sứ: Các nhà máy sản xuất gạch ceramic có
nguồn phát thải lớn chất gây ô nhiễm vào không khí là tháp sấy Kaolin và lò nung Trong khí thải thường chứa: CO, CO2, Fluor, SOx…Lò nung thải khí thải đốt nhiên liệu dầu mỏ trừ các xí nghiệp có lò nung dùng gaz
Bụi từ dây chuyền cân trộn nghiền cao line và phụ gia
Khí thải chất ô nhiễm từ lò đốt: Lò đốt nhiên liệu là tên gọi chung cho tất cả các loại như lò hơi, lò nung, lò rèn, buồng sấy…dùng để đốt nhiên liệu rắn hay lỏng lấy nhiệt lượng phục vụ cho nhu cầu sản xuất, đời sống Quá trình cháy trong lò sẽ sinh ra khí thải có nồng độ CO2, CO, SOx, NOx và tro bụi Tùy theo đặc điểm của mục đích sử dụng mà khí thải của lò đốt còn mang theo các chất ô nhiễm đặc trưng khác Khi tính toán lắp dựng lò đốt và ống thải không hợp lý, khí thải lò đốt sẽ làm ô nhiễm không khí vùng lân cận dưới chiều gió
Cần phải có sự chú ý đặc biệt tới lò đốt rác thải vì ngoài khí thải do cháy nhiên liệu còn có khí thải do các thành phần của rác cháy hay bốc hơi vào khí thải
Ô nhiễm giao thông:
Cùng với đà phát triển của công nghiệp hóa, số lượng các phương tiện giao thông ngày càng nhiều, vì vậy trên các tuyến giao thông đông đúc ở các
đô thị thường xuất hiện vấn đề ô nhiễm không khí do bụi và khí thải của xe có
Trang 229
động cơ gây ra Đặc điểm của loại khí thải này là nguồn thải thấp, di động và không đều Ở các tuyến có mật độ lưu thông cao khí thải hợp lại thành nguồn phát thải theo tuyến làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường hai bên đường Những chất ô nhiễm đặc trưng của khí thải giao thông là bụi, CO,
CyHx, SOx, Chì, CO2 và Nox, Benzen
2.1.1.3 Chất gây ô nhiễm môi trường không khívà ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người và các tác nhân gây bệnh đường
hô hấp
Khái niệm: Chất nào được thải vào không khí với nồng độ đủ để ảnh
hưởng tới sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển, sinh trưởng của động, thực vật, phá hủy vật liệu, làm giảm cảnh quan môi trường… đều là các chất ô nhiễm
Phân loại chất gây ô nhiễm môi trường không khí:
+ Dựa vào nguồn gốc phát sinh bao gồm: chất gây ô nhiễm sơ cấp và
chất gây ô nhiễm thứ cấp
+ Dựa vào tính chất vật lý bao gồm: chất ô nhiễm rắn, lỏng, khí
+ Dựa vào nguồn gốc sử dụng bao gồm: chất ô nhiễm từ quá trình
đốt;chất ô nhiễm sinh ra trong những quá trình công nghệ khác nhau
Các chất ô nhiễm nguy hiểm đối với sức khỏe con người và là tác nhân gây nên những bệnh về đường hô hấp bao gồm: bụi; Cacbon monoxit (CO);
Cácbon đioxit (CO2); Đioxit Sunfua (SO2);NOx; Axít Flohiđric (HF); NH3…
+ Bụi: Từ các cơn lốc, núi lửa phun, đám cháy rừng, khai thác than, khai
thác đá, khí thải các máy móc động cơ sử dụng than hay dầu, đặc biệt là khí thải từ lò nung gạch gây ảnh hưởng rất lớn đến người dân xung quanh Bụi kích thích cơ học và phát sinh phản ứng sơ hóa phổi gây nên những bệnh về
hô hấp thường gặp như: Viêm phổi, khí thũng phổi, ung thư phổi, bệnh lao phổi Những hạt bụi có kích thước nhỏ hơn hoặc bằng 0,1μm không lưu lại trong hệ thống hô hấp của con người Loại từ 1 đến 5 μm sẽ bám dính vào phế nang phổi Loại lớn hơn 5 μm được đọng lại phần trên hệ hô hấp Tùy theo bản chất hóa học bụi có các tác hại gây bệnh khác nhau Thường ta gặp các nhóm:
+ Bụi gây nhiễm độc (chì, thủy ngân)
+ Bụi gây dị ứng (bụi bông gai, phấn hoa, lông thú vật,…)
+ Bụi gây nhiễm trùng
+ Bụi gây xơ phổi: bụi than, aniăng, silíc,…
Bụi còn gây tác hại tới máy móc, thiết bị, tăng độ hao mòn, tăng tốc độ
ăn mòn kim loại trong không khí
+ Cacbon monoxit (CO): CO được hình thành do việc đốt cháy không
hết nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, một số chất hữu cơ khác Khí thải từ
Trang 2310
các động cơ xe máy là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố Hằng năm trên toàn cầu sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO CO không độc với thực vật vì cây xanh có thể chuyển hóa CO CO2 và sử dụng nó trong quá trình quang hợp Vì vậy, thảm thực vật được xem là tác nhân tự nhiên có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO Tùy vào nồng độ và thời gian tiếp xúc với khí CO, CO
có thể gây nhức đầu nhẹ, hoa mắt, buồn nôn Khi con người ở trong không khí
có nồng độ CO khoảng 450 mg/m3 sẽ bị tử vong Hỗn hợp CO trong không khí ở nồng độ giới hạn sẽ trở thành hỗn hợp cháy nổ CO là loại khí đặc biệt nguy hiểm cho các thiết bị lọc bụi tĩnh điện khi lọc khói lò nung hay khí thải
lò đốt tích lũy trong không gian kín
+ Cácbon đioxit (CO 2 ): Là một hợp chất ở điều kiện bình thường có
dạng khí trong khí quyển Trái Đất, bao gồm một nguyên tử cacbon và hai nguyên tử ôxy CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là nguyên liệu cho quá trình quang hợp để sản xuất năng suất sinh học sơ cấp ở cây xanh Thông thường, lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với lượng CO2 được
sử dụng cho quang hợp Hai loại hoạt động của con người là đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng đã làm cho quá trình trên mất cân bằng, có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu Hoạt động sản xuất gạch nung cũng tạo ra một lượng khí
CO2 không nhỏ, CO2 là một khí không màu mà khi hít thở phải ở nồng độ cao
có thể gây ngạt thởnặng hơn có thể dẫn đến tử vong, CO2 ở nồng độ thấp tạo
ra vị chua trong miệng gây kích ứng trung tâm hô hấp và cảm giác nhói ở mũi
và cổ họng
+ Ôxít lưu huỳnh: Trong hai loại oxít lưu huỳnh thì sunfurơ SO2 đáng được quan tâm hơn cả vì có số lượng lớn hơn nhiều so với anhyđric sunfuric (SO3) Hai loại khí này sinh ra nhiều nhất là do đốt than đá và sản phẩm dầu
mỏ có chứa lưu huỳnh.SO2 là chất khí không màu, có vị hăng cay khí nồng độ trên 1ppm khi khuếch tán trong khí quyển, SO2 bị oxi hóa thành SO3 hay muối sunfat, chúng sẽ tách khỏi không khí rơi xuống mặt đất theo nước mưa Đây là nguyên nhân gây ra các trận mưa acide phá hoại thảm thực vật trên mặt đất gần các khu công nghiệp Khi con người hít phải khí có nồng độ SOx cao, SOx
sẽ hòa tan trong các nước bọt ở trong miệng, dịch ở màng phổi, tạo thành acide kích thích hệ hô hấp, gây tổn thương niêm mạc ở cơ quan hô hấp, tạo ra các chứng bệnh ở đường hô hấp Các giọt nước mưa hòa tan SOx tạo các loại acide sẽ làm hư hỏng mùa màng, hư hỏng các công trình xây dựng do hòa tan CaCO3 trong kết cấu xây dựng.SOx là nguyên nhân chính gây ô nhiễm loại YOKKAICHI (Tháng 6/1963 thành phố YOKAICHI bị ô nhiễm nặng bởi bụi, khí SOx , H2S làm số bệnh nhân bị ngộp thở , đau nhói ngực tăng cao bất bình thường)
+ NO x: Ôxít Nitơ có nhiều loại nhưng thường gặp nhất là NO và NO2 Chất khí này được hình thành khi nitơ và oxy trong không khí kết hợp với nhau ở điều kiện nhiệt độ cao Do vậy nó chỉ thường thấy ở các khu công nghiệp và đô thị lớn Trong khí quyển, NO2 kết hợp với các gốc OH trong không khí để tạo thành HNO3 Khi trời mưa NO2 và các phân tử HNO3theo nước mưa rơi xuống đất làm giảm độ PH của nước mưa NOx và CO2 là nguyên nhân gây ra hiện tượng ô nhiễm kiểu losangeles: Là một kiểu ô nhiễm
Trang 24N2O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra trong quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch Hàm lượng của nó đang tăng dần trên phạm vi toàn cầu, hàng năm tăng khoảng từ 0,2 – 0,3 % Một lượng nhỏ N2O khác xâm nhập vào khí quyển do kết quả của quá trình nitrat hóa các loại phân bón hữu
cơ và vô cơ N2O xâm nhập vào trong không khí sẽ không thay đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới những tầng trên của khí quyển nó mới tác động một cách chậm chạp với nguyên tử oxy Con người tiếp xúc lâu với NO2 ở 0.06 ppm sẽ gia tăng các bệnh về đường hô hấp Người ta nhận biết được mùi của NO2 khi trong không khí có chứa NO2 với nồng độ lớn hơn hoặc bằng 0.12 ppm Với nồng độ ở 5 ppm, NO2 gây tác hại cho bộ máy hô hấp sau vài phút và ở nồng độ từ 1.5 đến 50 ppm NO2 sẽ gây nguy hại cho tim phổi trong vài giờ
+ Hyđrô cacbon: Là tên gọi chung của các hợp chất hợp thành từ hyđrô
và cacbon Hyđrô cacbon trong không khí có nguồn gốc từ thiên nhiên do quá trình phân hủy yếm khí chất hữu cơ, như mêtan, etylen,…Trong không khí ở các thành phố và khu công nghiệp, hyđrô cacbon có trong không khí do khí thải của các lò đốt sản phẩm dầu mỏ, khí thải động cơ nổ, và còn do bay hơi của các sản phẩm dầu mỏ trong quá trình vận chuyển, tồn trữ và sử dụng Các loại thường gặp là etylen, benden, xilen, toluen…Tuỳ thuộc vào bản chất hoá học HC tác hại khác nhau tới người, gia súc và thực vật trong môi trường có chứa HC
+ Clo và HCl: Clo và HCl có nhiều ở xung quanh các nhà máy hóa chất
đặc biệt là các phân xưởng sản xuất NaOH bằng cách điện phân muối ăn NaCl Clo còn thấy ở các nhà máy sản xuất nhựa tái sinh, các lò đốt rác thải có chứa chất dẻo Do Clo dễ hòa tan vào nước nên thường gây kích thích cho vùng trên của đường hô hấp khi nồng độ Clo trong không khí cao Khi tiếp xúc với Clo ở nồng độ cao, người thường xanh xao, vàng vạch, nhiều bệnh tật, cây cối chậm phát triển hay dễ chết Trên tầng cao khí quyển, gốc Clo trong hợp chất FREON được giải phóng sẽ làm tan rã các phân tử khí ô-dôn O3, làm thủng lớp vỏ ô-dzôn bảo vệ trái đất khỏi bức xạ tử ngoại
+ Chì: Chì được dùng nhiều trong công nghiệp, người ta được biết tới
150 nghề và trên 400 quá trình công nghệ có sử dụng chì Chì rất độc cho người và động vật Chỉ với nồng độ 0.182 mg/lít không khí, đã đủ gây ngộ độc chì dẫn đến chết xúc vật sau 18h tiếp xúc Chì trong không khí dưới dạng bụi
nhỏ do các quá trình sản xuất gây ra
+ Axít Flohiđric (HF): Là hợp chất acid HF dạng khí được phát ra từ
các cơ sở sản xuất gạch, gốm mỹ nghệ, các nhà máy sản xuất phân lân, bình điện phân nhôm Là khí có nhiều tác hại tới cây trồng và vật nuôi, đặc biệt là đối với sức khỏe con người Người bị nhiễm HF có thể bị xương ức, ho ra
Trang 2512
đờm hoặc ra máu, những chỗ tiếp xúc với HF có thể bị hen phế quản, viêm phế quản,loét, kích thích da, mắt, niêm mạc, xung huyết mũi và xoang, phù phổi, tổn thương thần kinh,…
+ Amoniac (NH 3 ): Là một hợp chất vô cơ, ở điều kiện tiêu chuẩn nó là
một chất khí độc, có mùi khai tan nhiều trong nước Nếu hít phải nhiều khí
NH3 sẽ gây hỏng đường hô hấp, gây bỏng rác cổ họng
+ Ôzôn: Qua tiến hành đo đạc liên tục từ năm 1979 đến nay, cho thấy
trên bình diện toàn cầu, tầng ôzôn đã bị suy giảm 2,5% trong khoảng thời gian
từ 1969-1986, và thêm 3% nữa từ năm 1986-1993 Khoảng98% tia cực tím của bức xạ mặt trời – UV được hấp thụ ở tầng bình lưu để tạo thành và phá hủy ôzôn theo các quá trình tự nhiên.Với nồng độ từ 0,3 – 1ppm nếu tiếp xúc
từ 15 phút – 2 giờ thì xuất hiện triệu chứng ngạt thở, ho, mệt mỏi Nếu nồng
độ 1,5-2ppm mà tiếp xúc quá 2 giờ gây ra các chứng đau ngực, ho, đau đầu, cơ thể mất cân bằng, mỏi mệt, đau nhức các khớp xưong; ở nồng độ 9ppm gây
ốm
Từ những thông tin trên có thể thấy được rằng các chất gây ô nhiễm bụi; Cacbon monoxit (CO); Cácbon đioxit (CO2); Đioxit Sunfua (SO2);NOx; Axít Flohiđric (HF); NH3… đã ảnh hưởng đến công việc,ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của con người, gây hại đến sức khỏe con người Đặc biệt những chất ô nhiễm phát sinh trong quá trình sản xuất gạch nung như CO2,
SO2, NO2, bụi khói, HF là những tác nhân gây nên các bệnh về đường hô hấp nghiêm trọng như bệnh lao, bệnh phổi, bệnh hen phế quản đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như tính mạng con người
Ngoài những ảnh hưởng nghiêm trọngđến con người thì các chất gây ô nhiễm không khí trên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến động vật và thực vật Khí SO2 gây tổn thương lớp mô trên cùng của bộ máy hô hấp, gây bệnh khí thũng và suy tim ở động vật Đối với chuột cống, nồng độ SO2 là 11ppm bắt đầu gây ảnh hưởng đến hoạt động của lớp mao trên màng nhầy của phế nang phổi, ở nồng độ 25ppm phổi bị tổn thương nặng CO làm suy giảm khả năng trao đổi vận chuyển ôxy của hồng cầu trong máu, ở nồng độ 100ppm và thời gian tiếp xúc trên 8 giờ hàng ngày, CO không gây ảnh hưởng gì, nhưng ở nồng
độ 1000 ppm gây tác hại nghiêm trọng đến sự sống của các loài động vật Khí
HF gây viêm khí quản, viêm phổi ở các loài chuột lang và thỏ Với nồng độ cao trên 8 mg/m3 có thể gây chết do viêm phổi nặng
Đối với thực vật SOx khi kết hợp với nước mưa tạo nên axit gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cây trồng và thảm thực vật Ở nồng độ cao có thể gây chấn thương với lá cây sau vài giờ tiếp xúc Khí H2S làm tổn thương lá cây, làm rụng lá và giảm sinh trưởng, gây ngộ độc rễ thực vật, gây chết động vật và một số vi sinh vật hiếu khí trong môi trường đất NOx có thể tạo mưa axít gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái, phá hủy plasmolyt và gân
lá, gây ảnh hưởng đến sắc tố lá Khí HF hạn chế chế độ sinh trưởng của cây, làm rụng quả, lép quả, quả nhỏ và hay bị nứt Nồng độ HF rất nhỏ 0,001 – 0,002 ppm đã gây tác động đối với lá cây như làm cháy lá Với nồng độ tiếp xúc lớn hơn 0,002 mg/m3 thì lá bị tổn thương hoặc cây đã bị phá hủy CO2 gây
Trang 2613
độc hại cho cây, làm tăng trưởng quá trình đồng hóa dẫn đến tăng sinh trưởng
CO với nồng độ CO cao (100- 10.000ppm) làm cho lá rụng, bị xoắn, quăn, cây non bị chết, cây cối chậm phát triển, làm mất khả năng cố định Nitơ, làm thực vật bị thiếu đạm NH3 và HCl làm ngưng trệ quá trình quang hợp và gây ra bệnh hạc, cháy lá Bụi trong không khí cũng có tác động làm tăng cường quá trình han gỉ của kim loại, đặc biệt là bụi than, bụi ximăng có chứa SO2 và vôi Các hợp kim có độ bền vững cao có thể bị mài mòn hoặc hoen ố do bụi bám Đinh Thị Thúy (2009) xác định hoạt động phóng xạ tự nhiên trong gạch men theo TCXDVN 397:2007 cho thấy kết quả gạch men sử dụng ở nước ta
có hàm lượng phóng xạ khá cao so với gạch men được sử dụng ở các nước khác nhưng vẫn đảm bảo TCXDVN 397:2007 và ở mức trung bình của thế giới Điều này phản ánh rằng, ở nước ta đã có sự kiểm soát nhất định về việc
sử dụng nguyên liệu dùng để sản xuất gạch men Giới hạn hiệu dụng trung bình hàng năm do vật liệu xây dựng gây ra trong đó có gạch men theo TCXDVN 397:2007 là không vượt quá 1mSv/năm, thông qua chỉ số hoạt độ phóng xạ an toàn Index, không tính khí radon, không tính sự đóng gói của phóng xạ môi trường Bức xạ sinh ra dưới nhiều hình thức, các dạng quan trọng nhất là các dạng có thể xuyên qua vật chất và làm cho nó bị điện tích hóa hay ion ảnh hưởng đến sức khỏe con người Tiếp xúc với bất kỳ loại nào trong số các loại bức xạ ion háo, bức xạ alpha, beta, các tia gamma, tia X và nơtron, đều có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người
2.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự khuyết tán môi trường không khí
Các tố chất khí tượng ảnh hưởng lên sự phát tán chất ô nhiễm
- Sự phát tán chất khí trong khí quyển có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới kích thước và hình dạng đám mây phát thải chất khí vào khí quyển Sự tương tác giữa khuyết tán rối với gradient vận tốc do lực dịch chuyển trong khối khí tạo
ra sự phân tán Sự di chuyển các tạp chất khí trong khí quyển trong trường hợp
có gió chủ yếu bởi quá trình tải, nhưng sự dịch chuyển của tạp chất khí trong trường hợp gió lặng thường là do sự phân tán
- Các điều kiện ảnh hưởng tới sự phát tán chất khí trong khí quyển
+ Ảnh hưởng của lượng phát thải lên sự phát tán chất khí: cũng như trong trường hợp phát thải tức thời và phát thải liên tục, kích thước của vùng nguy hiểm sẽ càng lớn cả theo chiều dài lẫn chiều rộng, khi lượng phát thải ô nhiễm càng nhiều
+ Ảnh hưởng độ ổn định của khí quyển lên sự phát tán chất khí: bức xạ của mặt trời trong vùng phát thải, mức độ che phủ của mây và cường độ hoạt động của gió đóng vai trò rất quan trọng đến sự phát tán chất ô nhiễm trong môi trường không khí và do đó vùng nguy hiểm cũng phụ thuộc vào các yếu
tố này
+ Ảnh hưởng của tính nổi của khí lên sự phát tán của chúng: các chất khí phát tán vào trong khí quyển có thể nặng hơn hoặc nhẹ hơn không khí Trong trường hợp nhẹ hơn không khí, chất khí hay tạp chất có thể hòa vào không khí tạo thành trạng thái có mật độ gần với không khí Nồng độ mặt đất thường là
Trang 2714
nhỏ hơn bởi vì điểm có nồng độ cực đại dọc theo đường lan truyền của đám mây sẽ được nâng lên cao Tốc độ nâng như vậy của đám mây sẽ là hàm số của hiệu mật độ giữa khí và không khí và của vận tốc gió Gió mạnh có xu hướng giữ đám mây trên bề mặt đất lâu hơn Trong trường hợp nặng hơn không khí sẽ có xu hướng hạ thấp xuống mặt đất và trong một số điều kiện có thể chạm xuống mặt đất hay quay ngược lại so với hướng gió Tuy nhiên trong khi bị pha loãng bởi không khí, tại một số thời điểm chúng bắt đầu có xu hướng thay đổi giống như chất khí có mật độ gần với độ không khí
+ Ảnh hưởng của chiều cao phát thải lên sự phát tán chất khí: đa số phát thải công nghiệp thực hiện hiệu quả ống khói Mặt dù trong trường hợp này các nguyên lý phát tán ô nhiễm đều có thể áp dụng, tuy nhiên nồng độ mặt đất
có sự khác biệt so với trường hợp nguồn thải ở dưới mặt đất, điểm đạt nồng độ cực đại sẽ nằm tại đường trung tâm dọc theo vệt khói Nếu chất khí nhẹ hơn không khí thì sự xuất hiện của chất ô nhiễm gần mặt đất sẽ phụ thuộc vào tốc
độ gió
+ Ảnh hưởng trạng thái vật lý chất ô nhiễm lên sự phát tán: ngoài chất khí gió còn có thể cuốn theo khói, sương mù, khí cùng những hạt bụi Một số phát thải còn có chứa các hợp chất hóa học, hỗn hợp các hợp chất hóa học, bụi Các hạt, các tạp chất có kích thước lớn có thể rơi từ các đám mây, vệt khói xuống bề mặt đất Các hạt nhỏ có thể đi xa cũng như chất khí Các hạt chất lỏng có thể bốc hơi trong thời gian bị gió cuốn đi, mặc dù nếu ở dạng khí hoàn toàn chúng có thể nhẹ hơn không khí Tất cả các hiện tượng này đều ảnh hưởng lên nồng độ gần mặt đất của chất khí
+ Ảnh hưởng của tốc độ phụt khói ở độ cao miệng ống khói lên sự phát tán: khí có thể phát thải vào khí quyển dưới dạng các luồng do áp suất cao Luồng khí mạnh đầu tiên có thể gây ra sự pha trộn mạnh và như vậy dẫn đến
sự giảm nồng độ của chất khí Tuy nhiên sau đó khi đám mây và vệt khói chuyển động theo hướng gió thì đều này ít bị ảnh hưởng hơn
+ Ảnh hưởng của bề mặt đệm lên sự phát tán chất khí: nhiều bề mặt đệm nơi xảy ra sự phát tán không bằng phẳng, các bề mặt như vậy ảnh hưởng tới sự phát tán của chất khí Những bề mặt như vậy làm tăng sự dịch chuyển và phát tán chất ô nhiễm
+ Ảnh hưởng của sự thay đổi hướng gió lên phạm vi ô nhiễm: hướng gió rất hiếm khi không đổi trong thời gian phát thải: nó có thể thay đổi nhiều lần Những thay đổi như vậy được gọi là sự nhiễu Người ta lưu ý rằng đám mây hay vệt khói với xác suất 90% không vượt quá ranh giới 1200 trong các điều kiện ổn định loại A, B, C Đối với những điều kiện ổn định, vùng hình quạt này thu hẹp xuống còn 400
- Độ ổn định của khí quyển: Trong khí quyển người ta xem rằng mọi quá trình giãn nở hoặc nén đều xảy ra theo tính chất đoạn nhiệt bởi vì sự trao đổi nhiệt với môi trường xung quanh diễn ra với cường độ không đủ dẫn tới sự cân bằng nhiệt độ, nói cách khác sự trao đổi nhiệt với môi trường xung quanh
có thể bỏ qua Một khối không khí bổ sung bốc lên cao trong khí quyển theo phương thẳng đứng sẽ chịu tác động của một áp suất mỗi lúc một giảm nhỏ,
Trang 2815
khối khí sẽ giãn nở và nhiệt độ của nó hạ thấp Ngược lại, khi khối lượng không khí đó hạ dần độ cao thì nó sẽ bị nén ép, áp suất tăng và kéo theo là nhiệt độ cũng tăng cao Người ta gọi gradian nhiệt độ đoạn nhiệt khô là độ hạ hoặc tăng nhiệt độ của một khối không khí bổ sung trong quá trình bốc lên cao hoặc hạ xuống thấp trong khí quyển khô
- Ảnh hưởng của địa hình đối với sự phân bố chất ô nhiễm
Địa hình, thậm chí các gò đất, đồi núi, công trình với độ cao không lớn, cũng có ảnh hưởng đến khí hậu và sự phân bố chất ô nhiễm Các nghiên cứu thực nghiệm chứng tỏ không khí ở phía sau các đồi, gò, phía sau hướng gió, có nồng độ chất ô nhiễm lớn hơn Điều này có thể giải thích là phía sau đồi áp lực gió giảm và xuất hiện vùng gió quẩn Hướng chuyển động và tốc độ của dòng không khí sát mặt đất trong khu vực có đồi núi khác xa với hướng và tốc độ gió ở không khí “tự do” cao hơn đồi núi hay ở các vùng trống trải Do đó có thể rút ra kết luận là, khi xây dựng công trình ở khu địa hình phức tạp cần phải tiến hành khảo sát các yếu tố khí tượng cụ thể ở địa điểm xây dựng, không nên chỉ dựa vào số liệu khí hậu chung chung của vùng đó Nếu đo tại hiện trường thì phải tiến hành với thời gian dài và nhiều lần đo mới tin cậy được, hoặc là
phải dùng phương pháp mô hình hóa tiến hành thí nghiệm trong ống khí động
- Ảnh hưởng của nhà ở và công trình đối với sự phân bố chất ô nhiễm trong không khí
Trong khu công nghiệp sự chuyển động của không khí cùng với các phần
tử bụi và hơi khí chứa trong nó khác với ở trong vùng trống trải (không có vật cản) Nhà cửa, công trình sẽ làm thay đổi trường vận tốc của không khí Ở phía trên công trình vận tốc chuyển động của không khí tăng lên, phía sau công trình vận tốc không khí giảm xuống và đến khoảng cách xa nào đó vận tốc gió mới đạt tới trị số ban đầu của nó Ở phía trước công trình một phần động năng của gió biến thành tĩnh năng và tạo thành áp lực dư, ở phía sau công trình có hiện tượng gió xoáy và làm loãng không khí, tạo ra áp lực âm Ngoài ra trong khu công nghiệp còn có các dòng không khí chuyển động do các nguồn nhiệt công nghiệp thải ra, cũng như các lượng nhiệt bức xạ Mặt Trời đốt nóng các mái nhà, đường sắt và sân bãi gây nên chênh lệch nhiệt độ
và tạo thành sự chuyển động của không khí Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự chuyển động của không khí xung quanh công trình tại hiện trường, cũng như trên mô hình trong ống khí động Kết quả nghiên cứu chứng tỏ các dòng không khí chuyển động cũng như nồng độ chất độc hại trong không khí đối với nhà có chiều ngang rộng và hẹp rất khác nhau
2.1.2 Các bệnh về đường hô hấp
Các bệnh hô hấp thường gặp bao gồm: viêm phế quản, viêm phổi do các loại vi khuẩn vius, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư phổi, tràn dịch màng phổi, lao phổi Các bệnh này chiếm khoảng 80% số các bệnh
lý hô hấp, bên cạnh đó, còn nhiều bệnh hô hấp khác, tuy nhiên chỉ chiếm tỷ lệ
ít hơn như: giãn phế quản, viêm phổi kẽ, bụi phổi, các biểu hiện phổi trong các bệnh hệ thống, nội tiết, cơ xương khớp, thận………
Trang 2916
Hầu hết các bệnh lý hô hấp đều có biểu hiện ho, khạc đờm, đau ngực hoặc khó thở, tùy theo từng bệnh lý cụ thể, mà các triệu chứng có thể có những biểu hiện, diễn biến khác nhau, chẳng hạn bệnh nhân viêm phế quản cấp, viêm phổi thường có triệu chứng diễn biến cấp tính, trong thời gian ngắn với các triệu chứng như sốt, ho, khạc đờm mủ hen phế quản thường gặp ở người trẻ tuổi, các biểu hiện ho, khó thở thường xuất hiện khi bệnh nhân tiếp xúc dị nguyên, môi trường không khí ô nhiễm hay thời tiết thay đổi, trong cơn khó thở thường nghe thấy tiếng cò cứ, tuy nhiên ngoài cơn bệnh nhân lại hoàn toàn bình thường Các bệnh nhân giãn phế quản thường có ho, khó thở xuất hiện nhiều năm, tuy nhiên bệnh nhân thường có ho, khạc đờm nhiều, có thể có từng đợt ho ra máu…
Bên cạnh các triệu chứng bệnh lý tại đường hô hấp, nhiều bệnh nhân có bệnh lý hô hấp lại có biểu hiện toàn than như sốt, gầy sút, biểu hiện ở các cơ quan, bộ phận khác, sau đó mới được phát hiện các bệnh hô hấp, chẳng hạn bệnh nhân ung thư phổi có thể có biểu hiện ban đầu là đau xương, khớp, ngón tay sưng to, hoặc đôi khi bệnh nhân đi khám vì đau đầu, liệt nửa người…
2.1.3 Chi phí điều trị bệnh và tổn thất kinh tế do nghỉ ốm
- Chi phí điều trị bệnh này lại gồm 2 loại:
+ Chi phí cho điều trị: là các chi phí cho chăm sóc y tế liên quan đến chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị bệnh…
+ Chi phí không cho điều trị: là những chi phí không liên quan đến quá trình khám và điều trị như chi phí đi lại, ở trọ…
2.1.4.1 Khái niệm khoáng sét
Theo Trần Kim Tính (2003) Khoáng sét trong đất chiếm ưu thế trong việc hiển thị các đặc tính hóa lí đất do diện tích bề mặt lớn có liên kết với cấu trúc mạng tinh thể của chúng Trong thành phần vô cơ của đất thì các khoáng silicate này thuộc nhóm phyllosilicate và có 2 nhóm cấu tạo chính cần phân biệt (khoáng 2:1 và khoáng 1:1) Thành phần khoáng sét ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) theo kết quả phân tích của Brinman và cộng tác viên , (1985) được Lê Văn Khoa (2000) trích dẫn như sau: trên 43 mẫu phân tích đất
Trang 30rễ cây phát triển tốt bằng cách bổ sung vôi, đá phấn, hoặc chất hữu cơ (Trần Văn Chính, 2006)
Tinh khoáng sét là những alumino silicate, đặc sắc nhất là tinh khoáng hallophan (Al2O3), kaolinite (đất sứ), hallosisit, montmorillonite (giàu Ca và Mg) và illite Tinh khoáng sét có trong các loại đất và đá trầm tích như đất sét,
đá đất sét, diệp thạch, sa thạch, đá vôi nhuyễn hạt và chỉ nhìn thấy được qua kính hiển vi điện tử Khoáng sét được tạo thành từ sự thoái hóa của tràng khoáng, thành phần hóa học của khoáng này gồm 3 nguyên tố giàu nhất địa cầu là Si, O, Al (SiO2, Al2O3 và thành phần các oxít khác) (Omueti, J L I and Lavkulich, L M, 1988) Dù vậy một số tinh khoáng sét có thể được kết tinh tại chỗ như trường hợp của illite Hiện nay tinh khoáng học về sét là một ngành
vô cùng rộng lớn vì sét là vật liệu cho nhiều ứng dụng sâu xa trong các kỹ nghệ (Trần Kim Thạch, 1972)
2.1.4.2 Ứng dụng của đất sét
Đất sét cũng có tầm quan trọng trong ngành công nghiệp lớn như xây dựng và dầu khí Ứng dụng trong sản xuất gạch ốp lát tường, lát nền cao cấp, các ống thoát nước và ống lọc nước thải Điển hình như khoáng Bentonite được sử dụng trong dung dịch khoan dầu khí, là chất kết dính trong xây dựng Các lĩnh vực ứng dụng khác của khoáng sét như chất trộn xúc tác làm trong nước và rượu vang, sử dụng trong ngành giấy, gốm sứ, nhựa, và công nghiệp cao su (Trần Khải và Trần Kông Tấu, 2002)
Trong các loại vật liệu thiên nhiên thì đất là vật liệu thiết thực và rất được ưa chuộng Từ xa xưa đất được dùng để đắp đường (đất sét trộn rơm) và đắp đê Bằng công nghệ thủ công thô sơ đất trở thành vật liệu xây cất nhân tạo
là đem nung để làm gạch nung phục vụ xây dựng Vậy có thể nói gạch nung, ngói là loại đá do hiện tượng nhiệt biến tính nhân tạo làm nên và vật liệu chính
là đất sét lấy từ các đồng phù sa trộn lẫn với ít cát mịn Tất cả cho vào khuôn đúc thành thỏi đất ướt theo hình dạng và kích thước định sẵn Sau đó người ta cho vào lò nung được xây bằng gạch kỵ lửa, nhiệt độ nung 800 – 10500C (Trần Kim Thạch, 1972)
Ngày nay đất sét với thành phần khoáng sét có chọn lọc theo loại đã trở thành nguồn nguyên liệu xây dựng không thể thiếu trong các công trình kiến trúc, trong công nghiệp và xây dựng hạ tầng Do đặc tính mềm dẻo, dễ uốn nắn hình dạng khi ẩm và trở nên khô cứng khi phơi dưới ánh sáng mặt trời, càng rắn chắc hơn khi đem nung ở nhiệt độ cao đất sét lý tưởng để làm đồ gốm, sứ có độ bền cao Gạch nung là một dạng vật liệu xây dựng được tạo nên
Trang 3118
sau khi được phơi khô dưới nắng hoặc đốt nóng Các dạng đất sét khác nhau trong những điều kiện nung khác nhau, người ta thu được đất nung, gốm và sứ (Grimshaw, R.W, 1971)
2.1.5 Triển khai dự án CDM
Cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism) là một phương thức hợp tác quốc tế mới trong lĩnh vực môi trường giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia đã công nghiệp hoá Đây là hình thức hợp tác được xây dựng theo Nghị định thư Kyoto nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện phát triển bền vững thông qua sự đầu tư vào lĩnh vực môi trường của chính phủ các nước công nghiệp hoá và các công ty/doanh nghiệp của các nước này Thời gian qua, các dự án CDM đã đem lại lợi ích rõ rệt về môi trường và kinh tế cho cả hai phía - phía các nước công nghiệp hoá (tức là các nhà đầu tư dự án CDM) và phía các nước đang phát triển (hay còn gọi là các nước tiếp nhận dự án CDM) Về mặt kinh tế, nguồn tài trợ từ các dự án CDM sẽ giúp các nước đang phát triển đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường và phát triển bền vững, chẳng hạn như giảm ô nhiễm không khí và nước, cải thiện sử dụng đất, nâng cao phúc lợi xã hội, xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm hay giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hoá thạch… Ở mức độ toàn cầu, thông qua các dự án giảm phát thải, CDM có thể khuyến khích đầu
tư quốc tế, thúc đẩy cung cấp nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng kinh tế ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới Việt Nam không thuộc diện các nước phải cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính, song Việt Nam hiện là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của tình trạng biến đổi khí hậu Chính vì vậy, Việt Nam đã sớm gia nhập Nghị định thư Kyoto từ năm 2002 Tháng 3 năm 2003, theo yêu cầu của Nghịđịnh thư Kyoto và Thoả thuận bổ sung Marrakech, Việt Nam đã thành lập Cơ quan quốc gia về CDM thuộc Văn phòng Ozone và biến đổi khí hậu, trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Hiện nay, Việt Nam đã phê duyệt 105 dự án CDM và 15 dự án CDM được quốc tế công nhận Các dự án này đã đem lại những hiệu quả rõ rệt Kết quả thu được từ các dự án CDM ở nước ta trong thời gian qua là hết sức thiết thực Điển hình là Dự án tăng hiệu quả sử dụng năng lượng trong lĩnh vực nồi hơi công nghiệp và Dự án thu gom khí đồng hành mỏ Rạng Đông của nhà thầu JVPC (Nhật) Đặc biệt là dự án trong lĩnh vực nồi hơi công nghiệp có mục tiêu giảm tiêu thụ năng lượng của nồi hơi công nghiệp, nâng cao hiệu suất nồi hơi với chi phí đầu tư thấp, nhờ đó giảm phát thải khí CO2 trong lĩnh vực công nghiệp Kết quả cụ thể thu được từ dự án này là giảm được khoảng 150 nghìn tấn CO2 mỗi năm, nhờ tăng được hiệu suất trung bình của nồi hơi công nghiệp
từ 45% lên 60% Hình thức của các dự án CDM đã thực hiện ở Việt Nam và
đa số các nước khác là các tổ chức ở các nước phát triển, thông qua các công
ty cung cấp công nghệ, tìm đến các nước đang phát triển có tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính để thực hiện dự án Điều này có nghĩa thị trường buôn bán phát thải đang ở tình trạng một chiều, người mua chủ động tìm đến những địa chỉ có tiềm năng cung cấp sản phẩm mà họ cần Trong thời gian tới, sự phát triển về quy mô và chất lượng của thị trường sẽ thay đổi, và theo đó, hình thức buôn bán phát thải sẽ cân bằng hơn, nghĩa là sẽ có cả những nhà cung cấp sản phẩm chủ động tìm đến người tiêu dùng Nhất là khi Quyết định 130 của
Trang 3219
Thủ tướng Chính phủ quy định về dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch và
một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển
sạch đã được ban hành (Hà Huy, 2010)
2.1.6 Quy trình sản xuất gạch nung ở tỉnh Trà Vinh
Trên địa bàn tỉnh Trà Vinh sản xuất gạch nung theo mô hình thủ công là
chủ yếu:
Nguồn: Điều tra thực tế, 2014
Hình 2.1 Quy trình sản xuất gạch nung theo mô hình thủ công tại tỉnh Trà
Vinh
Để sản xuất gạch nung cần phải có nguyên liệu, nguyên liệu chính là đất
sét, đất sét có thể khai thác từ đất mặt ruộng, sau đó là công đoạn đảo trộn
nguyên liệu bằng tay hoặc cơ giới để cho đất có độ mềm xốp rồi đưa vào máy
ép gạch định hình ra hình dạng viên gạch, tiếp đó đem gạch ra phơi có thể
Khai thác nguyên liệu
Trang 3320
phơi ngoài trời hoặc phơi trong nhà có mái che đến khi gạch khô thì đưa vào
lò nung gạch, sau khi gạch đã chínvà để nguội thì chuyển gạch ra cho công nhân phân loại ra làm các loại gạch khác nhau, để cho ra thành phẩm sau đó đưa vào bãi hoặc kho chứa gạch vàcuối cùng là đem cung ứng cho thị trường
2.1.7 Mô hình lò nung gạch trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Mô hình lò nung gạch trên đìa bàn tỉnh Trà Vinh chủ yếu là lò nung thủ công (lò cổ điển), nguyên liệu đốt chủ yếu là trấu, công nghệ còn lạc hậu và hầu hết các chủ cơ sở không đủ chi phí đầu tư hệ thống xử lý khí thải theo quy chuẩn hiện hành
2.1.7.1 Thông số kỹ thuật của mô hình lò nung gạch thủ công
Lò gạch thủ công truyền thống thường do người dân tự xây dựng lên nên các lò có kích thước khác nhau tùy khả năng tài chính của từng chủ lò Theo
số liệu cung cấp của ông Nguyễn Văn Đực chủ lò gạch tại ấp Hạ, xã Đại Phước huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh thì 1 lò thường cao 10m, dài 9m, rộng 5m, công suất là 100.000 viên/lò Chi phí xây dựng lò nung là khoảng 100 triệu đồng/lò Thời gian đốt là 8 ngày làm nguội 3 – 5 ngày Số lượng trấu cho
mỗi mẻ gạch là 1000 đôi trấu
Trang 3421
Nguồn: Ảnh chụp thực tế, lò gạch ở ấp Hạ xã Đại Phước huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh,
2014
Hình 2.2 Mô hình lò nung gạch thủ công tỉnh Trà Vinh
Các giai đoạn trong quá trình sản xuất gạch của lò thủ công
- Nguyên liệu sản xuất gạch: Đất sét là một loại khoáng, được hình thành
từ quá trình lắng của phù sa từ các sông và đất ruộng, là nguyên liệu chính để sản xuất gạch
- Sơ chế nguyên liệu và định hình cho gạch (chạy gạch mộc)
+ Sơ chế nguyên liệu: Đây là công đoạn rất quan trọng Ở công đoạn này, đất được nghiền nhỏ nhằm loại bỏ các hạt sỏi có kích thước lớn Sau đó chúng được nhào trộn với một lượng nước nhất định để đạt được độ dẻo và độ trương nở thích hợp để dễ dàng định hình cho gạch ở công đoạn sau
+ Định hình cho gạch: Công đoạn định hình cho gạch này theo tiếng địa phương của người dân làm gạch là “chạy gạch mộc” Ở đây đất sét được định hình có kích thước tiêu chuẩn xác định tùy theo chúng ta muốn sản xuất loại gạch thẻ hay gạch ống Thông thường 1m3 đất có thể chạy được khoảng 450 –
500 viên gạch Hầu hết các máy ép định hình, băng tải cắt gạch, máy nhồi đất,…đều tự chế
- Phơi gạch mộc: Việc phơi gạch tùy thuộc vào thời tiết và dựa vào kinh nghiệm cảm tính của người sản xuất Thông thường trời nắng tốt thì phơi trong
2 ngày nhưng nếu có mưa bão thì phơi lâu hơn nữa
Trang 3522
- Nung gạch: Sau khi chất gạch mộc (đã được phơi có độ ẩm thích hợp) vào lò thì miệng lò được đóng lại bằng gạch đã chín và tô lò bằng đất sét, tô 2m miệng lò từ dưới lên và đốt khoảng 1 ngày, tiếp theo tô thêm 3m đốt trong
2 ngày, sau đó tô 3m còn lại tiếp tục đốt thêm 5 ngày tổng thời gian đốt là 8 ngày Sau khi gạch đã chín mở cửa lò đề nguội gạch khoảng 3 – 5 ngày rồi ra
lò Tỷ lệ gạch đạt mác 50 < 60%, tỷ lệ gạch bể khi nung > 9%
Ưu điểm:
- Sử dụng nhiên liệu địa phương như: trấu, củi, giá thành nhiên liệu rẻ
- Sản phẩm được xếp cố định, nhiệt độ di động từ thấp lên cao, khí nóng được tận dụng để lấy sản phẩm ở phần trên
2.1.7.2 Nồng độ chất khí ô nhiễm của mô hình lò nung gạch thủ công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Bảng 2.2: Nồ độ khí CO2, SO2, NO2 của mô hình lò nung gạch thủ công trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh năm 2012
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh, 2012
Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường Trà Vinh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh đã tiến hành thử nghiệm chất lượng không khí và cho biết nồng độ các chất khí CO2, SO2, NO2 thì chất lượng không khí trong và lân cận khu vực các cơ sở sản xuất gạch nung hoạt động đã
và đang ô nhiễm Nồng độ ô nhiễm khí CO2, SO2, NO2 đều nằm dưới mức tiêu chuẩn cho phép (TCCP)…Trong đó nồng độ CO2 trung bình là 3,330mg/m3,
Trang 3623
nồng độ CO2 ở lò gạch Đại Phước là 3,490 mg/m3 cao hơn hai xã còn lại điều
đó cho thấy ở đây có nhiều lò gạch hoạt động hơn hai xã còn lại, nồng độ SO2trung bình 0,045 mg/m3, nồng độ NO2 trung bình là 0,049 mg/m3 Mặc dù nồng độ CO2, SO2, NO2 đều nằm dưới mức TCCP nhưng về lâu dài sẽ gây tác hại đến môi trường và sức khỏe người dân
Bảng 2.3: Nồng độ HF của các lò nung gạch thủ công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh năm 2012
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh, 2012
Dựa vào Bảng 2.3 thì nồng độ HF tại các vị trí đo xung quanh các lò gạch thủ công đều vượt quá QCVN 05:2009 (tổng cộng 3 vị trí) đạt giá trị trung bình là 0,011 mg/m3 QCVN 05:2009 quy định nồng độ tối đa cho phép của nồng độ HF trong không khí xung quanh là 0,020 mg/m3 (một lần tối đa)
và trung bình ngày đêm chỉ có 0,005mg/m3 Nộng độ HF cao nhất là 0,013mg/m3 của hộ Nguyễn Văn Đực ở ấp Hạ, xã Đại Phước, huyện Càng Long Nói chung mức độ ô nhiễm khí thải chủ yếu là khí HF từ sản xuất gạch, gốm sinh ra chưa đến mức cực lớn gây chết người và vật nuôi, do điều kiện khí hậu nhiệt đới và vùng đồng bằng, gió đã phát tán pha loãng nhanh khí độc vào môi trường
2.1.7.3 Ô nhiễm tiếng ồn và ô nhiễm bụi của mô hình lò nung gạch trên địa bàn tỉnh Trà vinh
Xác định sản xuất gạch nung là ngành nghề gây ô nhiễm nên tại tỉnh Trà Vinh các cơ sở đã xây dựng nơi chứa và che chắn trấu (dùng để nung gạch), tro (sau khi nung) nhưng chưa hoàn chỉnh nên khi gặp gió thổi mạnh trấu và tro bay ra khu vực bên ngoài vươn vãi trên đường, xuống ao hồ gây ô nhiễm Chắc chắn trong quá trình nung gạch sẽ không tránh khỏi việc thải vào môi trường bụi bẩn, tiếng ồn phát ra từ lò gạch thủ công cũng chưa đến mức ảnh hưởng nghiêm trọng
2.1.7.4 Chất thải rắn và môi trường đất tại nơi sản xuất gạch
-Rác thải sinh hoạt
Thành phần: Thành phần chính chủ yếu gồm vỏ trái cây, thức ăn dư
thừa, bao bì, túi nylon, giấy, vỏ hộp,rác vườn… Đây là những chất hữu cơ
Trang 37(Nguồn: Công ty môi trường Đô thị thành phố Hồ Chí Minh)
Dựa vào Bảng 2.4 thì chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chủ yếu trong hoạt động sinh hoạt của những công nhân và gia đình của chủ cơ sở Thành phần
rác thải sinh hoạt chủ yếu là thực phẩm, giấy, túi nilôn
- Chất thải rắn sản xuất gạch
+ Chất thải rắn của cơ sở có số lượng không lớn, chủ yếu là các sản phẩm bền hóa học, không bị phân huỷ hoặc tạo ra mùi khó chịu, có thể tái sử dụng nên về mặt môi trường các chất thải này không phải là điều đáng quan tâm Thành phần chủ yếu là: gạch vỡ, tro, trấu rơi vãi khi vận chuyển vào kho,… Các chất thải rắn này chiếm một khối lượng khá lớn, nếu không có biện pháp xử lý thích hợp sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường cho khu vực
+ Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt phổ biến là đốt tại chỗ Việc làm này đã vô tình làm chuyển từ hình thức ô nhiễm đất sang ô nhiễm không khí
do mùi hôi Hiện tại, tro sau khi nung sẽ được chứa lại trong các hố đất xung quanh cơ sở
+ Chất thải rắn từ sản xuất gạch là các loại phế phẩm (gạch vỡ), gạch phồng, công vênh, xỉ than, tro từ lò nung Hầu hết các chất thải rắn được tận