I TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI Xác nhận đề tài: “TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN KỸ SƯ NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Cần Thơ-2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG VÀ CẢI TẠO
ĐẤT PHÈN VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN KỸ SƯ NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã ngành: 52850103
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
Nguyễn Thị Hà Mi Họ tên SV: Nguyễn Thiện An
Võ Quang Minh MSSV: 4115001
Lớp Quản Lý Đất Đai K37A1
Cần Thơ-2014
Trang 3I
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
Xác nhận đề tài:
“TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG VÀ
CẢI TẠO ĐẤT PHÈN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thiện An MSSV : 41115001
Lớp Quản lý Đất đai khóa 37 thuộc bộ môn Tài nguyên Đất đai – Khoa Môi trường & Tài nguyên Thiên nhiên – Trường Đại học Cần Thơ
Ý kiến của bộ môn:
Cần Thơ, ngày…….tháng……năm 2014
Trang 4II
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
Chấp nhận chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp
ngành quản lý đất đai với đề tài:
“TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG VÀ
CẢI TẠO ĐẤT PHÈN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thiện An MSSV : 41115001
Lớp Quản lý Đất đai khóa 37 thuộc Bộ môn Tài nguyên Đất đai – Khoa Môi Trường
& Tài nguyên Thiên nhiên – Trường Đại học Cần Thơ
Nhận xét của cán bộ hướng dẫn:
Cần thơ, ngày……tháng…… năm 2014 Cán bộ hướng dẫn
Trang 5III
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
o0o
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp chấp thuận đề tài: “TỔNG HỢP CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG VÀ CẢI TẠO ĐẤT PHÈN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG” Do sinh viên Nguyễn Thiện An (MSSV : 4115001) thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày… tháng……năm 2014 Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức :
Ý kiến của hội đồng:
Cần thơ, ngày……tháng… năm 2014
Chủ tịch hội đồng
Trang 6IV
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thiện An
Trang 7Nơi sinh : Hòn Đất – Kiên Giang
Quê quán : Xã Sơn Kiên, Huyện Hòn Đất
Ngành học: Quản lý Đất đai
Nơi học: Trường Đại học Cần Thơ
Họ tên cha : Nguyễn Văn Bình, Sinh năm: 1971
Nghề nghiệp: Làm ruộng
Họ tên mẹ : Phạm Thị Mỹ Tuyến, Sinh năm: 1975 Nghề nghiệp: Làm ruộng
Trang 8VI
LỜI CẢM TẠ
Kính thưa quý thầy, cô Trường Đại học Cần Thơ !
Qua 3 năm học được làm sinh viên ngồi dưới mái trường đại học, được sự tận tâm và nhiệt tình truyền đạt kiến thức các môn học của các thầy, cô là niềm vinh dự và hạnh phúc nhất của em trong thời gian học tại trường Ngày hôm nay với sự nổ lực, cố gắng không ngừng của bản thân và sự hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy, cô đã giúp cho em hoàn thành tốt Luận Văn tốt Nghiệp, làm hành trang cho tương lai sau này Với những
gì tốt đẹp thầy cô đã mang đến cho em, em xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
Cô Nguyễn Thị Hà Mi và thầy Võ Quang Minh đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ cho em hoàn thành tốt đề tài này
Em vô cùng biết ơn cô Nguyễn Thị Song Bình, cố vấn học tập của lớp Quản lý Đất đai khóa 37A1 đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa học
Quý thầy, cô bộ môn Tài nguyên Đất đai, cùng toàn thể quý thầy, cô Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức cho em trong thời gian em học tại trường
Các bạn lớp Quản lý Đất đai khóa 37 đã động viên giúp đỡ em trong quá trình học tập tại bộ môn Tài nguyên Đất đai, Khoa Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên
Con xin cảm ơn gia đình đã nuôi dưỡng và tạo điều kiện cho con ăn học
Lời cuối em xin chúc toàn thể quý thầy, cô nhiều sức khỏe, thành công trong công tác giảng dạy
Em xin trân thành cảm ơn !
Nguyễn Thiện An
Trang 9VII
TÓM LƯỢC
Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long là một vùng cực Nam của Việt Nam, còn được gọi
là vùng Đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi của người dân Việt Nam ngắn gọn là Miền Tây, có 1 thành phố trực thuộc trung ương và 12 tỉnh Vùng này có diện tích đất phèn lớn nhất cả nước
Đất phèn vùng ĐBSCL đặc trưng bởi độ axit cao, nồng độ độc tố nhôm tiềm tàng cao
và thiếu lân, bao gồm cả các loại đất phèn nhiễm mặn nặng và trung bình Hầu hết đất phèn tập trung tại Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên còn các loại đất phèn mặn tập trung tại vùng trung tâm bán đảo Cà Mau, chiếm diện tích lớn nhất trong các loại đất nên việc quy hoạch và cải tạo cần được chú ý để đạt được hiệu quả tốt nhất Bằng phương pháp: thu thập số liệu, các kết quả nghiên cứu khoa học về sử dụng và cải tạo đất phèn, phương pháp: kiểm tra, khảo sát thực địa tình hình quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, tổng hợp và đánh giá độ tin cậy đề tài được thực hiện để đánh giá các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn Kết quả đã tổng hợp được một số biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn vùng ĐBSCL đồng thời đề xuất các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn cho vùng
Trang 10VIII
MỤC LỤC
Trang XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI I XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: II NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO III
LÝ LỊCH CÁ NHÂN V LỜI CẢM TẠ VI TÓM LƯỢC VII MỤC LỤC VIII DANH SÁCH BẢNG XIII DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT XIV
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về vùng ĐBSCL 3
1.1.1: Vị trí địa lí 3
1.1.4 Thổ nhưỡng 4
1.1.5 Thủy văn 4
1.1.6 Khí hậu 4
1.1.7 Khoáng sản 5
1.1.8 Dân số - lao động 5
1.1.9 Văn hóa – xã hội 5
1.1.10 Kinh tế 5
1.2 Đất phèn 7
1.2.1 Đất phèn là gì ? 7
1.2.2 Nguồn gốc, quá trình hình thành và thành phần cơ giới của đất phèn 8
1.2.3 Phân loại đất phèn 13
1.2.4 Phân bố vùng đất phèn 17
1.2.5 Một số nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam 20
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Phương tiện 22
2.2 Phương pháp 22
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
Trang 11IX
2.3.3 Phương pháp tổng hợp 23
2.3.4 Phương pháp đánh giá 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.1 Vùng sinh thái đất phèn ở ĐBSCL 24
3.1.1 Phân vùng sinh thái đất phèn ở ĐBSCL 24
3.1.2 Đặc tính đất phèn vùng ĐBSCL 25
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất ở vùng ĐBSCL 2
3.2 Một số mô hình canh tác trên đất phèn 2
3.2.1 Trồng khóm trên đất phèn 2
3.2.2 Trồng tiêu dưới tán tràm 3
3.2.3 Trồng khoai mỡ trên đất phèn 5
3.2.4 Trồng mãng cầu xiêm trên đất phèn: 7
3.2.5 Trồng mía trên vùng đất phèn nhiều: 9
3.2.6 Mô hình lúa – tôm 10
3.2.7 Trồng sen trên vùng đất phèn 11
3.2.8 Trồng tràm trên đất phèn: 12
3.3 Các biện pháp cải tạo đất phèn 14
3.3.1 Bón phân lân cải tạo phèn 14
3.3.2 Cải tạo đất phèn bằng phương pháp thủy lợi : 17
3.3.3 Cải tạo đất phèn bằng phương pháp tiêu ngầm 18
3.3.4 Cách làm đất để cải tạo phèn 21
3.3.5 Bón vôi cải tạo đất phèn: 22
3.3.6 Trồng cây để cải tạo đất phèn 24
3.3.7 Cải tạo đất phèn bằng biện pháp lên liếp 24
3.4 Đánh giá các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn đối với từng vùng sinh thái 25
3.4.1 Vùng Tứ giác Long Xuyên 25
3.4.2 Vùng Đồng Tháp Mười 26
3.4.3 Vùng Bán đảo Cà Mau 27
3.5 Đề xuất các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn 30
3.5.1 Trồng ớt trên đất phèn 30
3.5.2 Cải tạo đất phèn bằng phân vi sinh và phân trùn quế 32
Trang 12X
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 33
4.1 Kết luận 33
4.2 Kiến nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 131.5 Một vùng đất phèn rộng lớn phân bố tại vùng Đồng Tháp Mười 20
3.1 Bản đồ phân vùng sinh thái nông nghiệp trên các yếu tố địa mạo 27
3.2 Các loại đất có hoá tính khác nhau của châu thổ ĐBSCL 30
3.7 Xử lý mục giống khoai mỡ bằng thuốc hóa học 37
3.11 Tăng trưởng tôm càng xanh nuôi trong ruộng lúa ở huyện Mỹ
Trang 14XII
3.15 Bón lân cho lúa trên đất phèn tại Đồng Tháp 45
3.18 Tiêu ngầm bằng ống sứ (A) và hang chuột (B) 52
3.20 Lên liếp làm giảm độc tố của đất trên tầng mặt 55
Trang 15XIII
DANH SÁCH BẢNG
1.2 Kali và Natri trao đổi trong một số loại đất phèn 13
1.3 Phân bố diện tích đất phèn ở các tỉnh miền Nam 19
1.4 Diện tích các loại đất phèn ở vùng ĐBSCL của Việt Nam 19
3.2 Thuận lợi và khó khăn của các biện pháp cải tạo đất phèn 59
3.3 Các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn đối với từng vùng sinh
thái
60
Trang 16XIV
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Organization of the United Nations
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hiệp Quốc
Trang 172
MỞ ĐẦU
Đất phèn là đất có chứa vật liệu sinh phèn như lưu huỳnh, sắt Hai loại vật liệu này khi kết hợp với nhau sẽ tạo ra hỗn hợp dạng Sunfua sắt Dạng phèn này nằm tiềm tàng ở dưới tầng đất mặt, khi tiếp xúc với không khí chúng sẽ tạo thành phèn gây độc cho cây trồng Chính vì thế, các hộ nông dân cần có những biện pháp cải tạo đất phèn hợp lý
và kịp thời nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng của đất phèn lên cây trồng
Cải tạo đất phèn là vấn đề khó khăn, phức tạp đối với nhà nông Các nhà khoa học nước ta và trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đất phèn Những thành công cũng như những kết quả chưa đạt được đều là những bài học kinh nghiệm quý báu
Nước ta có diện tích đất phèn hàng triệu héc ta, tập trung ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ Muốn cải tạo đất phèn để đưa vào sản xuất, ta phải tìm hiểu nguồn gốc, sự phân bố, phân loại, biết được động vật, thực vật sống trên đất phèn; hiểu rõ về mặt lý tính, hóa tính, những độc chất và sự biến động phức tạp của độc chất
để từ đó tìm ra hướng sử dụng tốt nhất, tiết kiệm được tối đa nguồn nhân lực trong công tác thủy lợi, khai hoang mở rộng diện tích, tiết kiệm được vật tư, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh Xuất phát từ thực tiễn trên cũng như tầm quan trọng của việc sử
dụng và cải tạo đất phèn chính vì thế, đề tài : “Tổng hợp các kết quả nghiên cứu
khoa học về sử dụng và cải tạo đất phèn ở Đồng bằng song Cửu Long”, được thực
hiện với các mục tiêu:
Nghiên cứu tổng hợp các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Đánh giá các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn đối với các vùng sinh thái ở Đồng bằng sồng Cửu Long
Đề xuất các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn tối ưu cho từng vùng sinh thái đất phèn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 18(Nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam 2005)
Hình 1.1: bản đồ các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.1.1: Vị trí địa lí
ĐBSCL nằm ở vùng cực nam của nước Việt Nam, nằm trong vùng từ 8030’ – 110
vĩ độ Bắc và từ 104030’ – 1070
kinh độ Đông, gồm 13 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Trà Vinh ĐBSCL được giới hạn từ biên giới Việt Nam – Campuchia ở phía Bắc, biển Đông ở phía Nam, vịnh Kiên Giang ở phía Tây và sông Vàm Cỏ ở phía Đông (Lê Sâm, 1996)
Theo Nguyen My Hoa (2003), ĐBSCL chiếm toàn bộ phía Nam lãnh thổ của cả nước, thuộc hạ lưu sông Mêkông với ba mặt giáp biển Phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Nam giáp biển Đông, phía Đông giáp miền Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh), phía Tây Bắc giáp với Campuchia
1.1.3 Địa hình
Trang 194
Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, Tây nam sông Hậu và Bán đảo Cà Mau Địa hình của vùng tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình
là 3 – 5 m, có khu vực chỉ cao 0,5 – 1 m so với mặt nước biển (Mạnh Tráng, 2013)
ở bán đảo Cà Mau Tổng lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm của đồng bằng sông Cửu Long khoảng 500 km3, trong đó khoảng 23,0 km3
được hình thành trong đồng bằng sông Cửu Long, 477 km3 từ trung thượng lưu sông Mê Công chảy vào đồng bằng sông Cửu Long Mức bảo đảm nước bình quân trong 1 năm trên 1 km2 diện tích ở đồng bằng sông Cửu Long tới 14.700.103 m3/km2 và cho 1 người 31.560 m3/người (vào năm 2005) Tuy nhiên, có tới 95,4% tổng lượng dòng chảy năm là từ trung thượng lưu đổ vào đồng bằng sông Cửu Long, nên nếu chỉ tính lượng dòng chảy được hình thành ở đồng bằng sông Cửu Long, thì mức bảo đảm nước bình quân trong 1 năm trên 1 km2 diện tích khoảng 676.103 m3/km2 và cho 1 người khoảng 1.450 m3/người, vào loại thấp so với các hệ thống sông khác ở Việt Nam
1.1.6 Khí hậu
Nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm 24 – 27 0C, biên độ nhiệt trung bình năm 2 – 30 0C, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm thấp, ít có bão hoặc nhiễu loạn thời tiết Có hai mùa rõ rệt, mùa mưa tập
Trang 205
trung từ tháng 5 – 10, lượng mưa chiếm tới 99% tổng lượng mưa của cả năm Mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, hầu như không có mưa (Mạnh Tráng, 2013)
1.1.7 Khoáng sản
Trữ lượng khoáng sản không đáng kể Đá vôi phân bố ở Hà Tiên, Kiên Lương dạng núi vách đứng với trữ lượng 145 triệu tấn Phục vụ sản xuất xi măng, vôi xây dựng; cát sỏi ở dọc sông Vàm Cỏ, sông Mê Kông trữ lượng khoảng 10 triệu mét khối; than bùn
ở U Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, tứ giác Long Xuyên Ngoài ra còn các khoáng sản khác như đá, suối khoáng (Mạnh Tráng, 2013)
1.1.8 Dân số - lao động
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất hội cư của nhiều tộc người, trong đó chủ yếu là người Việt (90%), người Khơme (6%), người Hoa (2%), còn lại là người Chăm Họ cùng chung sống và phát triển các loại hình hoạt động kinh tế Trong quá trình sinh sống, làm ăn, hành trang mang theo của cư dân là những vốn truyền thống từ làng quê, đất tổ đã thẩm thấu lẫn nhau tạo nên một nét mới để thích nghi, phù hợp với vùng sinh thái tự nhiên và xã hội Người dân tới vùng đất phương Nam phải gạt bỏ dần những tập tục phong kiến để tiếp thu, thẩm thấu những nét, những sắc thái văn hóa hết sức đa dạng, phong phú và riêng có của văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long trong nền văn hóa người Việt (Mạnh Tráng, 2013)
1.1.9 Văn hóa – xã hội
Theo Mạnh Tráng (2013), Đồng Tháp – Cao Lãnh – Sa Đéc là một trong ba vùng của Đồng Tháp Mười, quê hương của các giống lúa nổi: lúa trời (lúa ma), lúa sạ (sạ khô, sạ ướt, sạ vãi, sạ tỉa, sạ ngâm) là những giống lúa gieo thẳng, kỷ niệm của thời khẩn hoang Tiền Giang – Mỹ Tho – Gò Công, quê hương của chợ nổi Cái Bè, là nơi có di tích khảo cổ học thời Óc Eo, di tích lịch sử Rạch Gầm, Xoài Mút thời Nguyễn Huệ và ngày nay có làng dê Song Thuận, trại rắn Đồng Tâm lớn nhất nước An Giang – Long Xuyên – Châu Đốc là nơi có chùa Tây An, khu du lịch Núi Sam tưng bừng rộn rịp nhờ Miếu Bà Chúa Xứ, và lễ hội Miếu Bà có lẽ là lễ hội mùa xuân lớn nhất nước với hàng triệu lượt người tham dự, từ Tết Nguyên Đán đến giữa mùa hè Còn Long Xuyên và Châu Đốc là hai nơi bán nhiều thứ mắm thơm ngon nhất nước Ở Thất Sơn, có chùa Phật Lớn lâu đời, có tượng Phật Di Lặc được sách kỷ lục Việt Nam công nhận lớn nhất
cả nước
1.1.10 Kinh tế
Theo Mạnh Tráng (2013), Nông nghiệp là ngành chủ yếu của vùng, hầu hết các tỉnh ngành nông nghiệp đều chiếm tỷ trọng trên 50% GDP của tỉnh Trong thời gian qua đã phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi gắn liền với chế biến
Trang 216
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, cây lương thực chiếm ưu thế tuyệt đối Năm
1999 diện tích cây lương thực của vùng là 1.953 ngàn ha chiếm sản lượng lương thực
là 12,3 triệu tấn chiếm 51,91% sản lượng lương thực cả nước Mức lương thực bình quân đầu người cao nhất trong cả nước là 850 kg/người/năm Năng suất lương thực ngày càng tăng cao năm 1997 đạt 40,2 tạ/ha cao nhất trong cả nước điều này là do cơ cấu mùa vụ thay đổi, đồng ruộng được cải tạo, thuỷ lợi hoá và đầu tư khoa học kỹ thuật Diện tích cây ăn quả trong mấy năm gần đây có xu hướng tăng, hiện có khoảng
170 nghìn ha cây ăn quả Cây ăn quả được trồng theo 3 dạng vườn tạp, vườn hỗn hợp
và vườn chuyên Ngành chăn nuôi cũng khá phát triển đàn lợn chiếm 14,2% đàn lợn của cả nước, tuy nhiên còn nhỏ so với tiềm lực của vùng Nuôi vịt là truyền thống của vùng để lấy thịt, trứng và lông xuất khẩu Đàn vịt chiếm 25,1% đàn gia cầm của cả nước được nuôi nhiều nhất ở Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh
Ngành ngư nghiệp: Nghề cá của vùng đã phát triển khá mạnh cả về sản lượng
và kim ngạch xuất khẩu Giá trị sản lượng ngành ngư nghiệp của vùng chiếm 42 – 45% giá trị sản lượng của ngành trong cả nước và 37 – 42% kim ngạch xuất khẩu của ngành cả nước Về nuôi trồng diện tích nuôi trồng thủy sản của vùng là 294,1 ha chiếm 21,2% diện tích nuôi trồng thuỷ sản của cả nước Trong đó có các mô hình nuôi tôm-lúa, rừng - tôm, tôm Ngoài ra vùng còn nuôi các thuỷ sản khác có giá trị kinh tế cao như lươn, ốc, cua, rùa, đồi mồi, đây cũng là nguồn lợi xuất khẩu có giá trị
Ngành lâm nghiệp:Khôi phục rừng tràm trên các vùng đất mặn ven biển Duy trì và mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển Tuy nhiên do không khắc phục được nạn cháy rừng nên diện tích rừng trong mấy năm gần đây bị giảm nhanh chóng
Ngành công nghiệp:Chủ yếu là công nghiệp chế biến lương thực và thực phẩm với hơn 20% giá trị gia tăng công nghiệp của vùng Tuy nhiên chủ yếu mới là sơ chế nên chất lượng và hiệu quả còn thấp.Các ngành khác như dệt, may, sản xuất vật liệu xây dựng (chiếm 12% giá trị gia tăng công nghiệp của vùng); hoá chất đã tăng trưởng nhanh trong thời gian qua.Công nghiệp của vùng phân bố chủ yếu ở các đô thị lớn như Cần Thơ, các thị xã, tỉnh lỵ
Ngành dịch vụ: Đồng bằng sông Cửu Long có nhiểu tiềm năng để phát triển du lịch, bởi vậy trong vùng đã hình thành các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia như Điểm
du lịch Cần Thơ mang sắc thái của vùng Tây Đô; hệ sinh thái rừng ngập mặn Cà Mau;
du lịch trên đảo Phú Quốc… và hàng loạt điểm du lịch khác như bảo tàng Long An, sông Vàm Cỏ, chợ nổi Cái Bè… Từ các điểm du lịch này hình thành lên các cụm du lịch Cụm du lịch Cần Thơ, Cụm du lịch Tiền Giang, cụm du lịch Châu Đốc; Cụm du lịch Năm Căn (Cà Mau)
Trang 227
Tiềm năng kinh tế của vùng:
ĐBSCL là một trong những đồng bằng châu thổ rông và phì nhiêu ở Đông Nam
Á và thế giới, là vùng đất quan trọng sản xuất lương thực lớn nhất nước, là vùng thủy sản và vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của nước ta
ĐBSCL có bờ biển dài trên 700 km khoảng 3600 km2 vùng kinh tế đặc quyền, giáp biển Đông và Vịnh Thái Lan, rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển
ĐBSCL nằm giữa khu vực kinh tế năng động và phát triển, liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vùng phát triển năng động nhất Việt Nam bên cạnh các nước Đông Nam Á (Thái Lan, Singapore, Malaixia, Philippin, Indonesisa…) một khu vực kinh tế năng động và phát triển là những thị trường và đối tác đầu tư quan trọng
ĐBSCL nằm trong khu cực có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc
tế quan trọng giữa Nam Á và Đông Á cũng như Châu Úc và các quàn đảo khác trong Thái Bình Dương, vị trí này hết sức quan trọng cho giao lưu quốc tế
ĐBSCL nằm giáp Campuchia, gần Lào, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ là những vùng có nguồn tài nguyên khoáng sản, rừng phong phú, có nguồn dầu khí, điện lớn
ĐBSCL nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thủy vào bậc nhất so với các vùng của nước ta
1.2 Đất phèn
1.2.1 Đất phèn là gì ?
Nhóm đất phèn hay nhóm đất phù sa phèn, tên theo phân loại của FAO là Thionic Fluvisols là tên gọi dùng để chỉ nhóm đất có chứa các vật liệu mà kết quả của các tiến trình sinh hoá xảy ra là axit Sulfuric được tạo thành hoặc sẽ sinh ra với một số lượng
có ảnh hưởng lâu dài đến những đặc tính chủ yếu của đất (Pons, 1973)
Đất phèn có nơi gọi là đất “chua mặn” Trên thực tế sản xuất nhân dân Miền Nam quen gọi là “ đất phèn” Trên thế giới, đất phèn đựơc gọi bằng một số tên sau đây:
Theo Van der Spek (1950) gọi là “catclays”, muốn chỉ đất chua, có tầng Sulphat sắt hay sulphat nhôm, có những đốm vàng trong tầng phẫu diện
Theo Edelman và Van Staveren (1956) lại gọi là “mudclays”, ý muốn nói tầng đất này chứa nhiều sét bùn, chua, có “chất nhờn”
Ngoài ra, còn gọi là đất “daroxit”, chỉ rằng, trong các tầng đất phèn màu “vàng trấu” hay “vàng rơm” của phức chất KFe3(SO4)2(OH)6 Hoặc có tác giả còn gọi là đất
“thiosol”, muốn chỉ rằng trong đất có nhiều lưu huỳnh hay sulphat; hay còn gọi là đất
Trang 238
“acid peat soils”, muốn chỉ rằng trong đất chua vừa có nhiều hữu cơ dạng gần giống than bùn và nhiều axit Sulphuric Cũng có tác giả còn gọi là đất phèn là “Strong axit Sulphate soil of salty padly fields” để chỉ những cánh đồng lúa giàu axit Sulphuric và mặn ven biển Nhật Bản
Đất phèn có chứa nhiều gốc Sunphat (SO42-) và có độ pH rất thấp chỉ khoảng 2 – 3, lượng độc chất Al3+
, Fe2+, SO42 rất cao Trong đất phèn khả năng trao đổi và đệm của môi trường đất bị phá vỡ không thể tự làm sạch được nữa Do đó môi trường đất bị ô nhiễm nặng, động thực vật và vi sinh vật bị tiêu diệt hàng loạt Phèn được sinh ra có thể do nguyên nhân oxy hóa phèn tiềm tàn (FeS) tại chỗ để tạo thành axit H2SO4 chứa nhiều độc chất Al3+, Fe2+, SO42, hay cũng có thể do nước phèn di chuyển từ nơi khác đến gây nhiễm phèn cho môi trường đất Quá trình thứ nhất là quá trình phèn hóa, quá trình thứ hai là quá trình nhiễm phèn Ô nhiễm phèn nhôm thì độc tính mạnh hơn là ô nhiễm phèn sắt Đất phèn thường có màu đen hoặc nâu có mùi đặc trưng của lưu huỳnh và H2S
1.2.2 Nguồn gốc, quá trình hình thành và thành phần cơ giới của đất phèn
Nguồn gốc, quá trình hình thành:
Theo Moorman và ctv (1961) cho rằng sự hình thành đất phèn xuất hiện ở vùng nước
lợ, có thủy triều xâm nhập và có sự tham gia của vi sinh vật với các điều kiện và các giai đoạn sau:
Ion SO42- bị khử trong điều kiện thiếu oxy, có sự tham gia của các vi sinh vật yếm khí Trong giai đoạn này cần phải có đầy đủ chất hữu cơ để làm thức ăn cho vi sinh vật yếm khí Thiobacillus…
Tiếp đó là phản ứng giữa Sunphure H2S với sắt có trong đất để tạo thành FeS2(Pirit) Giai đoạn này nếu có đủ Canxi thì không sinh ra phèn Nhưng nếu thiếu Canxi thì phản ứng tiếp tục ở giai đoạn 3
Nếu có oxy xâm nhập quá trình oxy hóa FeS2 sẽ xảy ra để tạo thành FeSO4 và
Trang 249
Fe2(SO4)3 + 2H2O ↔ 2FeSO4(OH) +H2SO4 Axit Sunphuric mới tạo thành gây chua cho đất và sẽ phản ứng mạnh với cá khoáng sét
để tạo thành Sunphat nhôm, Natri và Kali theo phương trình phản ứng sau:
Al2O3SiO2 + 3H2SO4 → Al2(SO4)3 + Silic hydroxyt Thực tế trong đất phèn không chỉ có những hợp chất vô cơ mà còn có những hợp chất hữu cơ phè, hay hữu – vô cơ, mà ở đây tác giả chỉ mới nói đến đơn thần là các phản ứng của các hợp chất vô cơ
Thành phần cơ giới của đất phèn:
Theo Lê Huy Bá (1982), thành phần cơ giới có nơi gọi là “cấp hạt” hay “sa cấu” Chỉ nói về tỷ lệ phần trăm các hạt sét, át và bùn có trong đất Trong đất phèn hoạt động cũng như tiềm tàng thường có tỷ lệ sét 50 – 65% Thông thường, ở các tầng đất sâu, tỷ
lệ sét cao Bùn cũng chiếm 15 – 25% trong thành phần cơ giới Có thể xếp chung thành phần cớ giới của đất phèn là đất sét trung bình đến sét nặng Tuy nhiên, ở một số vùng đất phèn trung bình đến ít, gần các triền phù sa cổ thành phần cơ giới chung là thịt nhẹ đến thịt trung bình Thành phần cơ giới nặng (sét cao) của đất phèn gắn liền với quá trình hình thành của nó Đất phèn lắng tụ trong phù sa biển, mà biển ở đây do bồi đắp của phù sa Cửu Long, dòng chảy chậm, nguồn đưa đi xa, nên vật liệu được mang về bồi đắp thành vịnh hoặc biển cũ thường rất mịn Thành phần rất mịn này đã tạo nên tỷ lệ sét cao, tức là thành phần cơ giới nặng Ngoài ra, một số loại đất mới bị nhiễm phèn có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ ở lớp mặt, nhưng dưới sâu vẫn là sét cao Loại này thường gặp ở Long Phước, Nhơn Trạch, một số giồng cát cũ của Vĩnh Lợi (Bạc Liêu)
Nhiệt độ của đất phèn:
Theo Lê Huy Bá (1982), nhiệt độ có liên quan đến độ ẩm đất, đến độ hòa tan không khí, đến hoạt động của hệ vi sinh vật và liên quan đến đặc tính của phèn trong đất Nghĩa là, nhiệt độ đất có liên quan quá trình lý hóa, hóa sinh học của đất nói chung và phèn nói riêng Ví dụ: vi sinh vật cần một nhiệt độ thích hợp để sống và hoạt động là
25 – 30 oC
Đạm trong đất phèn:
Theo Lê Huy Bá (1982), thông thường khi đất giàu hữu cơ và mùn, sẽ giàu đạm Bởi
vì đạm là sản phẩm cửa chất hữu cơ Xét về đạm tổng số (bao gồm đạm trong hữu cơ, đạm dạng hòa tan và trong các hợp chất vô hữu cơ) ở đất phèn Đông Nam Bộ rất giàu
Trang 2510
(trung bình từ 0,15 – 0,25%) Hầu hết các mẫu phân tích có hàm lượng đạm tổng số trong đất từ 0,1 – 0,4%, có trường hợp đạt 0,6%
Bảng 1.1: Lượng đạm ở một số vùng đất phèn
(Nguồn: Lê Huy Bá.1982)
Tùy lượng đạm tổng số cao nhưng đạm dễ tiêu lại nghèo Phương pháp phân tích đạm
dễ tiêu ngày nay chưa thật ổn định Đất nghèo đạm dễ tiêu, có nơi chỉ vài chục ppm, thậm chí chỉ có vệt (trace) Vì vậy, việc bón đạm hay tạo đạm cho đất phèn là quan trọng
Lượng lân tổng số ít, chỉ khoảng 0,01 – 0,05% Những đất phèn ít và mặn, do pH cao, nên lân tổng số có cao hơn và có khi đạt đến 0,1% trọng lượng đất khô
Loại phèn Địa điểm Độ sâu (cm) N (%) Nơi phân tích Phèn nhiều Lê Minh
Trường đại học Nông Nghiệp
Phèn đang
chuyển hóa
Tam Nông Đồng Tháp
0 – 20
45 – 80
80 – 90
0,41 0,32 0,11
Phân viện Khoa học Việt Nam
Tiềm tàng Cần Giờ 0 – 40
40 – 60
80 – 9 0
0,24 0,14 0,11
Trường đại học Nông Nghiệp
Phèn trung
bình
Châu Thành Hậu Giang
0 – 25
45 – 60
80 – 90
0,31 0,20 0,17
Trường đại học Nông Nghiệp
Trang 263Ca(OH)2 +2H3PO4 Ca3(PO4) + 4Ca3(PO4)2 + 6H2O Sau đó,
2 Ca3(PO4)2 + H2O Ca5(PO4)3OH + CaHPO4 Hoặc là lân tác dụng với Sulphat nhôm
H3PO4 + Al2(SO4)3 3H2SO4 + 2AlPO4
H3PO4 + Fe2(SO4)3 3H2SO4 + 2FePO4 Các hợp chất muối Phosphate vừa được tạo thành đều bị kết tủa, làm giảm lượng lân
dể tiêu trong dung dịch đất Ngoài ra, trong đất phèn ta còn gặp dạng AL2(OH)3PO4 hoặc
Fe2(OH)3PO4 đều là những dạng khó tan
Xét về biến động và lượng P2O5 dễ tiêu trong đất phèn vùng trống lúa, nếu để nước ngập 1 – 2 cm hường xuyên thì P2O5 có chiều hướng tăng dần, nhưng tăng chậm và dừng lại
Theo dõi sự biến động của lân dễ tiêu ở tầng mặt nhưng trong điều kiện xử lý làm phèn “bốc” lên “hạ” phèn thì ở những ngày thứ 21 – 36 và các ngày 51 – 66 thì phèn bốc lên ; ở những ngày thứ 51 – 87, phèn hạ xuống Chứng tỏ rằng, khi lượng phèn lên cao, P2O5 giảm xuống và ngược lại, nếu ta tăng cường bón phân lân, cung cấp lân dễ tiêu cho đất, sẽ hạ được phần nào mức độ phèn Sản phẩm của các phản ứng đã tạo thành những hợp chất của lân với Al, Fe và cả Ca dưới dạng khó tan, nhất là trong diều kiện pH thấp
Như vậy, so với loại đất được đánh giá là P tổng số trung bình (phù sa sông Hồng, sông Mã, sông Chu, sông Thái Bình mức 0,0 8 – 0,12%) thì lân tổng số ở đất phèn là nghèo và lân dễ tiêu lại càng nghèo (30 – 36 ppm) Vì vậy, cần phải bón lân cho đất phèn thì cây trồng mới cho năng suất và điều này cũng giải thích vì sao một số vùng đất phèn bón thêm DAP (phân “tiêu”), năng suất tăng rõ
Trang 27Bảng 1.2: Kali và Natri trao đổi trong một số loại đất phèn
(Nguồn: Lê Huy Bá 1982)
Loại phèn Địa điểm Độ sâu (cm) K+ Na+
Phèn nhiều Lê Minh
0,3 0,6 1,3 Phèn tiềm
0,2 0,5 0,7 Phèn tiềm
12,1 10,3 15,2
0,2 0,6 0,5 Phèn mặn Nhà Bè 0 – 25
40 – 50
80 – 90
0,14 0,11 0,06
3,2 3,8 2,6
Trang 28PH phèn ít, biến đổi ít, trừ tầng 3 (tầng Pyrite) xuống còn 0,4 đơn vị khi khô
PH phèn nhiều ở tầng 1 biến đổi ít, tầng 2 và biến đổi nhiều hơn
PH phèn tiềm tàng và phèn mặn biến đổi nhiều ở cả 3 tầng , nhất là tầng (Pyrite hoặc hữu cơ) chênh lệch 0,8 – 2,2 đơn vị
(Nguồn: Đào Xuân Học, Hoàng Thái Đại 2005)
Hình 1.2: Sơ đồ cấu thành đất phèn
1.2.3 Phân loại đất phèn
Theo Pons (1973) đã chia đất phèn ra làm hai loại đất phèn tiềm tàng và đất phèn hoat động
Trang 2914
a Đất phèn tiềm tàng:
Đất phèn tiềm tàng (theo phân loại FAO: Proto – Thionic Fluvisols) là đơn vị đất thuộc nhóm đất phù sa phèn Đất phèn tiềm tàng được hình thành trong vùng chịu ảnh hưởng của nước có chứa nhiều Sulfat Trong điều kiệm yếm khí cùng với hoạt động của vi sinh vật, Sulfat bị khử để tạo thành lưu huỳnh và chất này sẽ kết hợp với sắt có trong trầm tích để tạo thành FeS Thành phần khoáng vật của đất phù sa phèn vùng nhiệt đới có thể rất đa dạng và tùy thuộc chủ yếu vào nguồn gốc của vật liệu phù sa Pyrit nằm trong tầng khử (màu xám đen) bị ôxi hóa do ôxy xâm nhập xuống, Jarosit (màu vàng) và oxit sắt (màu nâu) được hình thành – Đất phèn vùng Đồng Tháp Mười – Việt Nam
Để có thể nhận dạng đất phèn, một trong những đặc điểm quan trọng nhất là hình thái phẫu diện đất Do hiện diện trong điều kiện khử và có tầng sinh phèn nên thường nền đất có màu xám đen, nhất là nơi có chứa khoáng Pyrit (FeS2) Mật độ và phân bố của các khoáng Pyrit đủ để hình thành một tầng sinh phèn
(Đào Xuân Học, Hoàng Thái Đại 2005)
Trang 30có thể hạ xuống rất nhanh, khi đó pH có thể hạ thấp dưới 2,0
(Đào Xuân Học, Hoàng Thái Đại 2005)
Hình 1.4: Cải tạo đất phèn trên các vùng phèn nặng
Trang 31Mật độ và sự phân tán các tinh khoáng Jarosit có thể tập trung hoặc phân tán dọc theo ống rễ (do rễ cây đã chết phân hủy tạo thành) hoặc kẻ nứt trong đất Với một độ dầy xuất hiện và mật độ của Jarosit mà có thể hình thành tầng phèn trong đất
Tính chất: Khi khoáng Pyrit trong đất phèn tiềm tàng bị oxy hóa hoàn toàn để hình thành khoáng Jarosit ở đất phèn hoạt động thì cứ 1 mol FeS2 khi bị oxy hóa sẽ sản sinh
ra 4 mol ion H+ Do có sự gia tăng nồng độ H+
nhiều như thế nên có sự gia tăng độ chua trong đất Môi trường đất lúc bấy giờ có pH khá thấp, thông thường pH = 3,5 Tuy nhiên, ở một vài nơi có điều kiện rửa phèn khá tốt, có thể có giá trị pH cao hơn (pH = 3,7 hoặc 3,9)
Trong môi trường đất có giá trị pH < 3,5, phần lớn các ion Fe3+ và Al3+ trong hợp chất Hydroxit Fe và Al đều bị hòa tan và dễ dàng gây độc cho cây trồng lẫn nguồn thủy sản Một khi giá trị pH được nâng lên khoảng bằng 4 thì sắt (Fe) bị cố định và độc chất quan trọng nhất trong môi trường nầy chủ yếu là do nhôm (Al) hòa tan Có lẽ vì thế
mà người nông dân lo ngại phèn lạnh (do Al) hơn là phèn nóng (do Fe) vì sử dụng nước và vôi để rửa phèn và nâng pH vượt qua khỏi giá trị 5 trong đất phèn hoạt động nặng là công việc không dễ dàng trong một khoảng thời gian ngắn
Các độc chất trong đất phèn hoạt động chủ yếu là hợp chất chứa sắt (Fe), nhôm (Al) và Sulfat (SO42-) Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào tất cả các hợp chất nầy đều gây độc cho thực vật và thủy sinh vật trên vùng đất phèn mà nó tùy thuộc
Trang 3217
Theo Đào Xuân Học, Hoàng Thái Đại (2005), nhân dân vùng đất phèn Nam Bộ xếp loại đất phèn theo kinh nghiệm sản xuất và đặc trưng hình thái của đất phèn hoặc theo phẫu diện đất phèn
Phèn nóng: Chủ yếu do Sunphat sắt FeSO4, Fe2(SO4)3 tạo thành, ít nhôm và Sunphat nhôm Mức độ độc hại loại phèn này ít hơn so với phèn nhôm Trên mặt nước
ở ruông, ở kênh thường có một lớp váng vàng Váng vàng này dính vào tay chân khi làm ruộng, thường gây ngứa và dễ gây mục quần áo
Phèn lạnh: Chủ yếu do Sunphat nhôm tạo nên Al2(SO4)3, loại này độc hại hơn phèn nóng Nước trên ruộng và trong kênh mương ở khu vực đất phèn này trong suốt (nhìn
thấy đáy kênh mương) ở những vùng này, trong vụ hè thu, nếu không đủ nước tưới dễ
bị “xi” phèn gây chết lúa và cây cối Các loại động thực vật rất khó sống và phát triển
ở vùng này
Phèn đỏ: Một số vùng ở miền tây gọi là phèn đỏ, về bản chất phèn đỏ cũng như phèn nóng, do Sunphát Sắt và oxit sắt ngâm nước gây nên Nước trên ruộng thường có váng vàng đỏ ánh trên mặt Mức độ độc hại không cao
Phèn trắng: Về bản chất phèn trắng giống như phèn lạnh, do Sunphat nhôm gây nên Ở những vùng phèn nhiều và thiếu nước vào cuối mùa khô, muối Al2(SO4)3 bốc lên mặt và kết tinh thành những hạt muối tròn có đường kính vài milimét dính với nhau thành từng cụm, khi ẩm thì nhờn trơn, khi khô thì dòn, nhẹ, dễ vỡ, dễ tan vào nước Ở những vùng đất phèn xuất hiện loại muối này trên mặt đất vào cuối mùa khô tức là đã đạt đến đỉnh cao của sự độc hại, vào những trận mưa đầu mùa nếu lượng mưa không đủlớn để rửa trôi và đưa muối này ra những kênh lớn hoặc thấm xuống tầng sâu
mà đọng lại ở một số vùng trũng, thấp thì nước rất trong, nhưng rất độc hại Trâu bò, lợn, gà uống phải nước này dễ bị chướng bụng và có thể dẫn đến tử vong
Phèn đen: Những vùng phèn có tầng hữu cơ lẫn lộn với hợp chất phèn thường gặp ở những vùng trũng hoặc vùng rừng U Minh Phẫu diện thường có mầu đen, mức
độ, phèn phụ thuộc vào môi trường nước xung quang và đặc điểm về nguồn nước mặt
và nguồn nước ngầm Diện tích loại đất này không lớn, mức độ phèn cũng không như loại phèn trắng và phèn lạnh
1.2.4 Phân bố vùng đất phèn
Theo Lê Huy Bá (1982), diện tích đất phèn trên thế giới khoảng 15 triệu ha, chủ yếu xuất hiện ở các vùng ven biển nhiệt đới hay cận nhiệt đới, thuộc hầu hết các nước Đông Nam Á Ngoài vùng nhiệt đới hay cận nhiệt đới châu Á, đất phèn còn xuất hiện
Trang 3318
ở Guianas, Venezuala, Brazin, Agentina và những vùng ven biển thuộc khu vục đông Amazon, một số nước tây Phi với một diện tích rộng lớn và ở Đông Phi với một diện tích ít hơn Một số đất phèn còn được tìm thấy ở Hà Lan, nơi đất liền thấp hơn cả mặt nước biển, ở biển Bắc của Ba Lan
Bảng 1.3: Phân bố diện tích đất phèn ở các tỉnh miền Nam
Trang 3419
Theo Đào Xuân Học, Hoàng Thái Đại (2005), Việt Nam có khoảng 2 triệu ha đất phèn chiếm gàn 16% diện tích đất phèn trên thế giới, chiếm khoảng 30% diện tích đất canh tác của Việt Nam Diện tích đất phèn phân bố chủ yếu ở hai vùng đồng bằng và một ít ven biển miền trung
Ở miền Bắc có khoảng 200.000 ha đất phèn, phân bố ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Hà, Hải Dương và một số diện tích ở ven biển miền Trung Ở miền Nam
có khoảng 1,8 triệu ha đất phèn phân bố ở các tỉnh miền Tây (Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ)
Do điều kiện hình thành, mà hệ thống đất phèn ở Sông Cửu Long phân bố rất phức tạp
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), diện tích đất phèn các loại có đến khoảng 1,8 triệu ha, tương đương với 40% tổng diện tích tự nhiên của toàn đồng bằng, phân bố chủ yếu ở Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, và bán đảo Cà Mau, Hà Tiên, Cần Thơ, Tây Sông Hậu, trong đó diện tích đất phèn tập trung lớn nhất ở Đồng Tháp Mười với 356.000 ha, chiếm 22,3% tổng diện tích đất phèn của đồng bằng Sông Cửu Long, còn lại tập trung lác đác ở một số vùng khác thuộc các tỉnh như Tiền Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Kiên Giang (Nguyễn Xuân Đăng, 2009)
(Nguồn: Đào Xuân Học, Hoàng Thái Đại, 2005)
Hình 1.5: Một vùng đất phèn rộng lớn ở Đồng Tháp Mười
Đất phèn than bùn: Loại này gặp một ít ở rìa của U Minh Thượng, U Minh Hạ, Năm Căn Phẫu diện đặc trưng của nó thường có 3 tầng:
Lớp xác thực vật bán phân giải màu nâu đen, tơi xốp dày từ 0 – 40 cm
Lớp than bùn màu đen có lẫn xác thực vật, phèn tiềm tàng hoặc phèn hoạt động, dày ( 40 – 50 cm )
Tầng sét tích luỹ phèn tiềm tàng
Trang 3520
Nếu ở những vùng này, tầng than bùn quá dày và không có hiện tượng đốt và khai thác hay làm mất tầng than bùn trên mặt thì vẫn là loại đất than bùn (nếu than bùn > 100 cm), hoặc phèn tiềm tàng (nếu than bùn mỏng 20 – 30 cm) Nhưng đất than bùn này sẽ sinh phèn do quá trình làm oxy tiếp xúc với tầng dưới (tầng 3) làm hoá phèn tầng này
và sẽ biến tầng thứ hai thành tầng Jarosit Cũng có thể là do nước phèn ở nơi khác dồn
về làm nhiễm phèn tầng bùn và tầng dưới Thông thường pH ở lớp than bùn (tươi): 4,5 – 6, ở tầng dưới 3,5 – 4,5 và tầng Pyrit 3,5 – 4 (Đào Xuân Học, Hoàng Thái Đại, 2005)
1.2.5 Một số nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam
Năm 1735 Peelman đã phát hiện ra một loại khoáng biến thành đất, đất này chua và được mang tên là Arigilla Vitrolacea
Người đầu tiên phát hiện ra đất phèn là Van Bemmelen (1886), ông đã xác định được giá trị rất thấp cua pH, hàm lượng cao của sunphat sắt, sunphat nhôm và hàm lượng lớn H2SO4 tự do trong đất
Tiếp theo, năm 1930 Aanrino, 1937 M.C Doyne, đều cho rằng phèn có nguồn gốc từ nước biển và cây sú, vẹt Nhiều nước trên thế giới, đã có nhiều kết luận về nguồn gốc,
về quá trình hình thàng và đặc tính của đất phèn vùng mà họ đã nghiên cứu
Đến nay các nhà khoa học về cải tạo đất trên thế giới đã tổ chức thành công bốn hội nghị quốc tế lớn về đất phèn Lần thứ nhất tại Wageningen Hà Lan 8/1972, lần thứ hai tại Bangkok Thái Lan 1/1981, lần thứ ba tại Senegal 1986 và lần thứ tư tại thành phố
Hồ Chí Minh Việt Nam 3/1992
Vào những năm 1960 nhà bác học Fritland đã nghiên cứu đất phèn ở đồng bằng Bắc
Bộ và đưa ra một số kết luận sơ bộ về quá trình hình thành đất phèn vùng đồng bằng Bắc Bộ, cùng một số biện pháp cải tạo và sử dụng loại đất này
Cũng vào những năm 1960, Moorman đã nghiên cứu về đất phèn vùng đồng bằng Sông Cửu Long đã đề xuất sơ bộ về quá trình hình thành đất phèn vung đồng bằng Sông Cửu Long
Từ năm 1960 đến 1975 có một số tác giả nghiên cứu về đất phèn ở vùng đồng bằng sông cửu long Nhưng đặc biệt từ sau năm 1975 đến nay, việc nghiên cứu về quá trình hình thành, đặc tính và biện pháp cải tạo và khai thác đất phèn , được phát triển mạnh
mẽ với quy mô lớn và có chiều sâu ở nhiều cơ quan trong nước và một số tổ chức quốc
tế
Những cơ quan tổ chức đã tham gia nghiên cứu về đất phèn như: Trường đại học Thủy Lợi, Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy Lợi, trường Đại học Cần Thơ, trường đại học
Trang 36Nói chung các nhà khoa học về cải tạo đất đã khẳng định được bản chất và nguồn gốc của đất phèn, những nét chung về phân loại đất phèn Việc sử dụng và cải tạo đất phèn
đã được nhiều người nghiên cứu tuy nhiên cũng còn nhiều điều còn chưa được sáng tỏ, đặc biệt việc cải tạo đất phèn phụ thuộc rất nhiều đến môi trường nơi người nghiên cứu và tác động của con người trong việc cải tạo và sử dụng chúng Việc nghiên cứu cải tạo đất phèn không thể thành công nếu chỉ nghiên cứu cải tao đất cho từng khu vực
cụ thể mà không chú ý đến việc cải tạo môi trường xung quanh vùng đất được cải tạo
Trang 37Địa điểm nghiên cứu: địa phận vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Thời gian thực hiện: Từ 08/2014 đến 12/2014
Máy vi tính, sổ ghi chép và một số văn phòng phẩm hỗ trợ khác
Các phần mềm như Microsoft word, Microsoft excel,…
Bản đồ đất vùng Đồng bằng sông Cửu Long…
2.2 Phương pháp
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Tham khảo các tài liệu liên quan đến phân loại đất phèn, các kết quả nghiên cứu khoa học về biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn,…tài liệu về việc quy hoạch sử dụng đất trên vùng đất phèn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tham khảo các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất ở vùng nghiên cứu, các luận văn có đề tài liên quan đến quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên đất phèn và các biện pháp cải tạo đất phèn
Tìm hiểu các khái niệm về đất phèn, sử dụng đất nông nghiệp, các công việc cần làm khi quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên đất phèn
Thu thập các số liệu, bản đồ ở các cơ quan của huyện, tỉnh như: Phòng, Sở Tài nguyên Môi trường các huyện, các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL về
Bản đồ hành chính tỉnh của vùng ĐBSCL
Bản đồ hiện trang sử dụng đất của vùng ĐBSCL
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL
Trang 3823
2.2.2 Phương pháp tổng hợp
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về phân loại đất phèn
Tổng hợp nghiên cứu, thực tế điều tra, tài liệu liên quan đến các vùng đất phèn ở trên vùng nghiên cứu
Tổng hợp tài liệu, số liệu, bản đồ, ảnh liên quan đến tinh hình quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên đất phèn và biện pháp cải tạo ở vùng nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp đánh giá
Đánh giá đô tin cậy, tính chính xác của các tài liệu, số liệu,… bằng cách tham khảo các tài liệu, các báo cáo, các công trình nghiên cứu đã được công bố, khảo sát thực địa Đánh giá tình hình quy hoạch, đưa ra nhận xét cho tình hình quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên đất phèn và biện pháp cải tạo của vùng
2.3 Nội dung nghiên cứu
Bước 1: Thu thập số liệu về các nghiên cứu khoa học, sách, báo, tạp chí về cách sử dụng và biện pháp cải tạo đất phèn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long như:
Bản đồ hiện trang sử dụng đất của các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Bản đồ hành chính tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Tình hình nuôi trồng trên đất phèn ở vùng
Tình hình cải tạo, giải pháp sử dụng đất phèn trên vùng nghiên cứu
Bước 2: Tổng hợp số liệu, tài liệu, ảnh, bản đồ,…
Từ các điều tra thực địa, thu thập ý kiến của chính quyền cũng như người dân ở vùng nghiên cứu
Tổng hợp, thống kê các số liệu thu thập được
Bước 3: Tiến hành phân tích, xử lý số liệu có được
Tổng hợp, so sánh, đánh giá số liệu Xác định được các vùng đất phèn, thuận lợi khó khăn trong quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên đất phèn và cải tạo ở vùng nghiên cứu, đề ra định hướng hiệu quả cho việc sử dụng và cải tạo đất phèn
Bước 4: Hoàn chỉnh luận văn, viết bài
Trang 3924
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Vùng sinh thái đất phèn ở ĐBSCL
3.1.1 Phân vùng sinh thái đất phèn ở ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất ngập nước lớn nhất Việt Nam, có tính đa dạng sinh học cao và là một trong các vùng nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố thời tiết cực đoan và khí hậu thay đổi (Lê Văn Tuấn, Nguyễn Phước Bé 2008)
Việc phân vùng sinh thái nông nghiệp được thực hiện khá nhiều trên thế giới trong thời gian qua, chủ yếu dựa trên đặc tính môi trường đất (Mertens, Silverman 2005)
Ở ĐBSCL, phân vùng sinh thái nông nghiệp đã được thực hiện từ những năm 1980; tuy nhiên việc phân chia này chủ yếu dựa trên các đặc tính địa mạo (Vo Tong Xuan, Matsui 1998)
Theo Vo Tong Xuan và Matsui (1998), Đồng bằng sông Cửu Long được chia thành sáu vùng sinh thái khác nhau theo các yếu tố địa hình, địa mạo
Vùng tứ giác Long Xuyên
Một số đặc điểm của vùng tứ giác Long Xuyên:
Địa hình tứ giác Long Xuyên có hai dạng chính là đồi núi thấp và dạng đồng bằng trũng Do quá trình canh tác và để khô nước nên ở đây xuất hiện nhiều loại phèn nhiều, tầng Jarosite xuất hiện gần hoàn thiện và gần mặt đất, thành phần cơ giới chủ yếu là sét, độc chất rất cao, xuất hiện ở các vùng địa hình trũng nên rất khó cải tạo
Một số đặc điểm vùng Đồng Tháp Mười:
Địa hình Đồng Tháp Mười là một lòng chảo lớn, trong các long chảo lớn lại có nhiều long chảo trung bình và trong các lòng chảo trung bình lai có các lòng chảo nhỏ và mỗi lòng chảo tương đương với một ổ phèn
Do dịa hình trũng nên đất phèn ở vùng Đồng Tháp Mười có chứa nhiều độc tố với hàm lượng rất cao diễn biến phức tạp phụ thuộc vào mùa vụ và kỹ thuật canh tác
Trang 4025
Một số đặc điểm của vùng bán đảo Cà Mau:
Địa hình vùng bán đảo Cà Mau tương đối bằng phẳng cao trung bình 0,5 – 1,5 m vùng địa hình cao chủ yếu là đê của các con sông
Bán đảo Cà Mau là vùng có diện tích đất phèn lớn ở ĐBSCL chủ yếu tập trung ở Cà Mau và một phần của tỉnh Kiên Giang,
(nguồn: Võ-Tòng Xuân & Matsui,1998)
Hình 3.1: Bản đồ phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa trên các yếu tố địa mạo
3.1.2 Đặc tính đất phèn vùng ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm Trong một năm, đất
có từ 168 – 252 ngày bị ngập nước (trong mùa mưa), bắt đầu từ 15/5 cho đến ngày 20/1 năm sau
Do ảnh hưởng của ngập nước ngọt trong mùa mưa, nên đất thường xuất hiện quá trình gley hóa từ yếu đến mạnh Đất có tích lũy chất hữu cơ tương đối khá (từ 4 – 12%) ở