1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang

78 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ khi bắt đầu ứng dụng ở Đồng bằng sông Cửu Long từ những năm 1990, công nghệ khí sinh học biogas đã phát huy được hiệu quả trong việc xử lý chất thải chăn nuôi và chất thải sinh học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

VÕ THỊ BÍCH LOAN

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIOGAS CỦA NGƯỜI DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành kinh tế tài nguyên thiên nhiên

Mã số ngành: 52850102

09-2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÂN THƠ KHOA KINH TẾ- QUẢN TRỊ KINH DOANH

VÕ THỊ BÍCH LOAN MSSV: 4115207

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIOGAS CỦA NGƯỜI DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Mã số ngành: 52850102

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS NGÔ THỊ THANH TRÚC

9-2014

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Sau khoảng thời gian ba năm rèn luyện trong môi trường đại học, được

sự động viên từ gia đình, sự chỉ dẫn nhiệt tình của thầy cô và cả những giúp đỡ của bạn bè trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt từ sự hỗ trợ của thầy cô khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh em đã học được nhiều kinh nghiệm quý báu cho bản thân, để hôm nay luận văn chính là thành quả đầu tiên em đạt được trong thời gian học tập vừa qua

Em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy cô bộ môn Kinh tế nông nghiệp

và tài nguyên thiên nhiên, cùng cô Ngô Thị Thanh Trúc, đã dành thời gian,

công sức, tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối lời em xin kính chúc cô hướng dẫn và quý thầy (cô) khoa Kinh Tế - Quản trị kinh doanh –Trường Đại học Cần Thơ dồi dào sức khỏe và luôn

thành công trong công việc Em xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Người thực hiên

Võ Thị Bích Loan

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Em xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của em và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Võ Thị Bích Loan

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………, Ngày ………tháng……… năm……

Người nhận xét

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Giáo viên hướng dẫn: Ngô Thị Thanh Trúc

Học vị: Tiến sĩ

Bộ môn: Kinh tế nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên

Sinh viên thực hiện: Võ Thị Bích Loan

Mã số sinh viên: 4115207

Chuyên ngành: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên

Tên đề tài: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận áp dụng biogas của người dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG NHẬN XÉT

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, Ngày … tháng… Năm 2014

Giáo viên hướng dẫn

Ngô Thị Thanh Trúc

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

TRANG CAM KẾT ii

NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP iii

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.3.1 Không gian nghiên cứu 2

1.3.2 Thời gian nghiên cứu 2

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2.1 1 Khái niệm biogas 3

2.1.2 Các loại hầm ủ biogas 4

2.1.3 Lợi ích của sử dụng biogas 5

2.1.4 Tình hình sử dụng biogas ở Việt Nam 7

2.1.5 Những khó khăn khi áp dụng biogas ở Việt Nam 8

2.1.6 Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng biogas của nông hộ 10

2.1.7 Hiệu quả tài chính trong chăn nuôi heo 12

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.2.1 Phương pháp mô tả địa bàn nghiên cứu 13

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 13

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 14

CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG 18

3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG 18 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 18

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 19

3.2 THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI HEO VÀ SỬ DỤNG BIOGAS Ở THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG 22

3.2.1 Tình hình chăn nuôi heo 22

Trang 8

3.2.2 Tình hình sử dụng biogas 25

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIOGAS CỦA NGƯỜI DÂN Ở THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG 27

4.1 MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27

4.1.1 Thông tin đáp viên 27

4.1.2 Thông tin nông hộ 28

4.2 ĐẶC ĐIỂM CHĂN NUÔI HEO CỦA NÔNG HỘ Ở THỊ XÃ NGÃ BẢY 31

4.2.1 Thông tin đàn heo ở thị xã Ngã Bảy 31

4.2.2 Hiệu quả tài chính trong chăn nuôi heo thịt của nông hộ ở thị xã Ngã Bảy 32

4.3 ĐẶC ĐIỂM XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI HEO CỦA NÔNG HỘ KHÔNG ÁP DỤNG BIOGAS Ở THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG 36 4.3.1 Cách xử lý chất thải chăn nuôi heo của nông hộ chăn nuôi heo 36

4.3.2 Nhận thức của người dân về tác hại của chất thải chăn nuôi heo 37

4.3.3 Nhận thức của người dân về biogas 39

4.3.4 Lý do người dân ở thị xã Ngã Bảy không áp dụng biogas 42

4.4 MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN ÁP DỤNG BIOGAS CỦA NGƯỜI DÂN 44

4.4.1 Đặc điểm hộ không chấp nhận sử dụng biogas 44

4.4.2 Đặc điểm hộ chấp nhận sử dụng biogas 45

4.5 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIOGAS CỦA NGƯỜI DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG 47

4.5.1 Mô tả các biến độc lập đưa vào mô hình 47

4.5.2 Kết quả mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng quyết định lắp đặt biogas của người dân thị xã Ngã Bảy 48

4.6 GIẢI PHÁP ĐỂ NHÂN RỘNG MÔ HÌNH BIOGAS Ở THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG 51

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

5.1 KẾT LUẬN 53

5.2 KIẾN NGHỊ 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 1 57

PHỤ LỤC 2 62

PHỤ LỤC 3 63

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Thành phần khí sinh học 3

Bảng 2.2: Năng suất cây trồng khi bón bằng phân không ủ và bã hầm ủ biogas 6

Bảng 2.3: Bảng phân phối mẫu nghiên cứu 13

Bảng 2.4: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình 17

Bảng 3.1: Các đơn vị hành chính thị xã Ngã Bảy 19

Bảng 3.2: Tình hình đàn heo thị xã Ngã Bảy năm 2010 – 2013 23

Bảng 3.3: Tình hình đàn heo ở xã Tân Thành tính đến tháng 8 năm 2014 24

Bảng 3.4: Tình hình đàn heo ở xã Đại Thành tính đến tháng 8 năm 2014 24

Bảng 4.1: Mô tả thông tin tuổi và trình độ học vấn của đáp viên 27

Bảng 4.2: Mô tả thông tin nông hộ chăn nuôi heo ở thị xã Ngã Bảy tháng 9 năm 2014 28

Bảng 4.3: Chi phí chất đốt hàng tháng của nông hộ thị xã Ngã Bảy 30

Bảng 4.4: Đặc điểm đàn heo ở thị xã Ngã Bảy tháng 9 năm 2014 32

Bảng 4.5: Chi phí nuôi 1 lứa heo thịt của người dân thị xã Ngã Bảy 33

Bảng 4.6: Chi phí bình quân trên 1 kg heo thịt của nông hộ ở thị xã Ngã Bảy 34

Bảng 4.7: Doanh thu 1 lứa heo của nông hộ ở thị xã Ngã Bảy 35

Bảng 4.8: Thu nhập từ đàn heo của nông hộ thị xã Ngã Bảy 36

Bảng 4.9: Nhận thức về tác hại chất thải chăn nuôi heo của người dân thị xã Ngã Bảy 38

Bảng 4.10: Mô tả các biến định tính trong mô hình 47

Bảng 4.11: Mô tả các biến định lượng 48

Bảng 4.12: Kết quả mô hình hồi quy logistic 49

Bảng 4.13: Bảng tổng hợp hạn chế và giải pháp nhằm nhân rộng mô hình biogas ở thị xã Ngã Bảy 51

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Bản đồ vị trí thị xã Ngã Bảy 18

Hình 3.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp thị xã Ngã Bảy năm 2013 20

Hình 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp thị xã Ngã Bảy năm 2013 20

Hình 3.4 Tỷ lệ dân số phân theo giới tính và theo thành thị, nông thôn ở thị xã Ngã Bảy 21

Hình 3.5 Tỷ lệ đàn heo trong tổng số đàn gia súc thị xã Ngã Bảy năm 2013 22 Hình 4.1 Mô tả giới tính đáp viên 27

Hình 4.2 Tỷ lệ hộ dân sử dụng từng loại chất đốt ở thị xã Ngã Bảy 29

Hình 4.3 Tỷ lệ các loại heo được nuôi ở thị xã Ngã Bảy 31

Hình 4.4 Cách xử lý chất thải chăn nuôi của nông hộ thị xã Ngã Bảy 37

Hình 4.5 Hiểu biết của người dân thị xã Ngã Bảy về biogas 39

Hình 4.6 Nguồn thông tin biogas ở thị xã Ngã Bảy 40

Hình 4.7 Nhận thức của người dân về lợi ích của biogas 41

Hình 4.8 Lý do không áp dụng biogas của nông hộ ở thị xã Ngã Bảy 42

Hình 4.9 Tỷ lệ nông hộ chấp nhận áp dụng biogas ở thị xã Ngã Bảy 44

Hình 4.10 Đặc điểm hộ không đồng ý áp dụng biogas ở thị xã Ngã Bảy 44

Hình 4.11 Mục đích chấp nhận sử dụng biogas của người dân thị xã Ngã Bảy 45

Hình 4.12 Các mô hình biogas được người dân lựa chọn 46

Hình 4.13 Các yếu tố người dân cần hỗ trợ khi lắp đặt biogas 46

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp chăn nuôi và chế biến nông sản tại Việt Nam phát triển rất mạnh Bên cạnh việc đem lại lợi ích lớn

về kinh tế và giải quyết vấn đề lao động nông thôn thì một số cở sở chăn nuôi

và chế biến cũng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đồng thời lãng phí một lượng lớn nguyên liệu tái sinh Ô nhiễm môi trường từ chăn nuôi ngày càng tăng dần do các hộ nuôi tăng đàn, nhưng thiếu hệ thống xử lý chất thải

Sử dụng công nghệ biogas là một tiến bộ kỹ thuật hết sức cần thiết, vừa mang nhiều lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường Khí biogas là nguồn năng lượng tái sinh chứa khí metan (CH4) được sinh ra từ

sự phân huỷ kỵ khí hay sự lên men của chất hữu cơ từ chất thải gia súc

Theo Hồ Thị Hương Lan (2002), công nghệ khí sinh học đã được giới thiệu và phát triển tại Việt Nam từ những năm 60 Tất cả các loại chính của

mô hình khí sinh học đơn giản và việc sử dụng nó đã được thử nghiệm và phát triển Năm 2012 có hơn 25.000 gia đình có kích thước hầm khí sinh học từ 1 đến 50 m³ ở vùng nông thôn của cả nước Kể từ khi bắt đầu ứng dụng ở Đồng bằng sông Cửu Long từ những năm 1990, công nghệ khí sinh học (biogas) đã phát huy được hiệu quả trong việc xử lý chất thải chăn nuôi và chất thải sinh học, cung cấp nguồn khí gas phục vụ đun nấu và các nhu cầu sử dụng năng lượng khác Không những thế, chất thải đầu ra hầm ủ biogas còn có thể sử dụng như nguồn phân hữu cơ cho trồng trọt và nuôi thủy sản

Ở Hậu Giang trong những năm qua, chăn nuôi gia súc khá phát triển với nuôi nhỏ lẻ gia đình, nuôi gia trại và trang trại Khi mức độ chăn nuôi tăng dần, việc xử lý tránh gây ô nhiễm môi trường đang được người chăn nuôi quan tâm Chính vì vậy từ hơn 10 năm qua, ngành nông nghiệp đã triển khai nhiều chương trình dự án, khai thác khí sinh học từ chất thải như: chương trình khí sinh học ngành chăn nuôi, dự án hỗ trợ nông nghiệp cacbon thấp,…

Tuy nhiên, tại Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng, các khảo sát về ứng dụng thiết bị biogas quy mô nông hộ còn khiêm tốn Năm 2003, có một khảo sát hộ dân có hầm biogas ở Hậu Giang và Cần Thơ về góc độ kinh tế - xã hội Một cuộc điều tra nhằm tìm hiểu thị trường thiết bị biogas về nhu cầu sử dụng thiết bị, loại thiết bị dự định đầu tư và các cách nhằm phổ biến công nghệ biogas ở 4 huyện thuộc tỉnh Hậu Giang Trong khuôn khổ dự án VIE020 - bèo lục bình đã thực hiện một khảo sát về khả năng chấp nhận của người dân đối với mô hình hầm ủ EQ trong đó có Hậu Giang

Do đó, để triển khai rộng rãi mô hình biogas ở Hậu Giang, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ chất thải chăn nuôi, rất cần những nghiên cứu đánh giá về khả năng ứng dụng của thiết bị ủ biogas và yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận sử dụng biogas của người dân Chính vì vậy mà em

chọn đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang” nhằm tìm hiểu thực

Trang 12

trạng và nhu cầu của người dân chăn nuôi heo đang và sẽ hướng tới ứng dụng biogas vào chăn nuôi trên địa bàn thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Từ đó đề ra các giải pháp nhằm nhân rộng mô hình biogas trên toàn địa bàn

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài được thực hiện nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas trong chăn nuôi của người dân trên địa bàn thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao tỷ lệ hộ dân sử dụng biogas ở địa phương này

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Phân tích đặc điểm chăn nuôi heo cũng như thực trạng xử lý chất thải trong chăn nuôi heo của hộ dân không áp dụng biogas ở thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận áp dụng biogas của người dân tại thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang

Đề xuất các giải pháp để nhân rộng mô hình biogas trên địa bàn thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Không gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện ở xã Đại Thành và xã Tân Thành thuộc thị xã Ngã Bảy, Tỉnh Hậu Giang

1.3.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014

Thời gian thu thập số liệu thứ cấp từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 9 năm

2014

Thời gian thu thập số liệu sơ cấp đồng thời cũng là thời gian tiến hành phỏng vấn được thực hiện từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nông hộ có hoạt động chăn nuôi heo

và không áp dụng biogas ở thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang

Trang 13

2.1.1.2 Khí sinh học được sinh ra từ đâu?

Trong điều kiện tự nhiên, khí sinh học được sinh ra ở những nơi nước sâu, tù đọng thiếu oxy như các đầm (khí đầm lầy), dưới đáy ao, hồ, giếng, ruộng lúa ngập nước, bãi rác (khí bãi rác) hoặc trong bộ máy tiêu hóa của động vật (khí ruột)

Khí sinh học còn được tạo ra ở các mỏ than đá (khí mỏ), dầu mỏ (khí đồng hành) và khí thiên nhiên do các quá trình biến đổi địa hóa xảy ra hàng triệu năm

Trong điều kiện nhân tạo, khí sinh học được sinh ra trong các thiết bị khí sinh học nhờ công nghệ lên men yếm khí

2.1.2.3 Thành phần của biogas

Theo Hoàng Kim Giao (2011), Khí sinh học là một hỗn hợp của nhiều chất khí Thành phần khí sinh học tùy thuộc vào loại nguyên liệu tham gia vào quá trình phân giải và các điều kiện trong quá trình đó như nhiêt độ, độ pH, chất lượng nước… nó cũng tùy thuộc cả vào các giai đoạn phân giải Bảng 2.1 cho ta thấy thành phần của khí sinh học – biogas:

Nước - H2O 00-03 Hidro sunfua - H2S 00-03

Nguồn: Loic Rakotojaon, 2013

Khí metan: Trong khí sinh học, metan là thành phần chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao nhất Nó cũng là thành phần chủ yếu của khí thiên nhiên (thường chiếm trên 90%) Metan không màu, không mùi, nhẹ bằng nửa không khí, ít hòa tan trong nước nó hóa lỏng ở nhiệt độ -151,5 0C trong điều kiện áp suất khí quyển

Trang 14

Do vậy, việc hóa lỏng metan rất tốn năng lượng và người ta thường không hóa lỏng nó cũng như không hóa lỏng khí sinh học và khí thiên nhiên

Khí cacbonic: Thành phần chủ yếu thứ hai của khí sinh học là cacbonic (CO2) Khí này không màu, không mùi, không cháy được, không duy trì sự sống, nặng gấp 1,5 lần không khí Tỷ lệ cacbonic cao sẽ làm giảm chất lượng khí sinh học

Khí hidro sunfua: Tong thành phần của khí sinh học có khí hidro sunfua (H2S) là khí không màu, có mùi hôi như mùi trứng thối, khiến cho khí sinh học cũng có mùi hôi, giúp ta dễ nhận biết được khí sinh học nhờ khứu giác Nồng độ H2S trong khí sinh học sản xuất từ chất thải người và gia cầm cao hơn các nguyên liệu khác nên rất khó chiu Tuy nhiên, H2S cũng là khí cháy được nên khi đốt khí sinh học sẽ hết mùi hôi

Trong những năm vừa qua, công nghệ loại này phát triển chủ yếu là loại hầm xây gạch nắp vòm hay bán cầu Thể tích hầm thường biến động từ 5 đến

30 m3 Do có chương trình phát triển được nước ngoài tài trợ (1-1,5 triệu/hầm) nên đang được phát triển trên nhiều tỉnh phía Nam Tuy vậy, nhiều cơ sở thiết

kế xây lắp còn chưa được tập huấn, chủ yếu do kinh nghiệm làm lâu năm Số hầm xây có tỷ lệ sử dụng còn khá thấp do chưa có chính sách hậu mãi tốt và mạng lưới công nhân kỹ thuật sửa chữa chưa đều khắp Chủ yếu hầm xây phục

vụ cho các chăn nuôi gia đình hay trại chăn nuôi nhỏ và vừa Một số doanh nghiệp đã hình thành để cung cấp dịch vụ xây loại hầm ủ này

2.1.2.2 Hầm biogas nắp nổi

Xuất xứ từ Ấn độ năm 1956 do Jashu Bhai J Patel phát triển, sau đó cải tiến thành mẫu KVIC Có cấu trúc gọn, chiếm ít diện tích xây dựng nhưng do giá thành cao hơn hẳn các loại hầm khác nên số lượng lắp đặt khá khiêm tốn Ngoài ra, chất lượng của nắp nổi cũng là một vấn đề cần quan tâm Loại hầm này được một số cơ sở thiết kế và xây dựng nhưng với số lượng ít

2.1.2.3 Túi biogas bằng nhựa dẻo Polyethylene

Vấn đề quan trọng nhất trong các chương trình biogas ở các nước đang phát triển chính là giá thành của hầm ủ Trước đây giá một hầm ủ xây bằng xi măng cho một gia đình biến động trong vòng 3-10 triệu Giá này là một trở ngại cho hầu hết các tiểu nông Với chi phí chỉ bằng 1/4-1/5 giá hầm xây, túi ủ

Trang 15

bằng polyethylene trở nên rất hấp dẫn cho người sử dụng ở Việt nam Một điểm hết sức thú vị là túi ủ có thể lắp nổi trên mặt nước, rất thích hợp cho những vùng ngập nước, vùng có mùa nước nổi như các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long

2.1.2.4 Hầm ủ ống nằm ngang bằng bê tông và bằng composite

Nhằm đa dạng hoá các sản phẩm hầm biogas, gần đây, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Bách Khoa và một số đơn vị khác đã thử nghiệm loại hầm biogas ống nằm ngang bằng bê tông và bằng vật liệu composite

Hầm bằng composite có ưu điểm: Độ bền cao, giá thành vừa phải, kỹ thuật lắp đặt đơn giản, vận hành thuận tiện, ít phải bảo trì, sửa chữa, có thể chuyển đổi vị trí hầm ủ Loại hầm này cũng đã phát triển tốt ở một số tỉnh như Bến Tre, Long An, Tiền Giang Tuy nhiên, cần có một số nghiên cứu phát triển để các công nghệ này có thể ứng dụng rộng rãi trong điều kiện của các cơ

sở sản xuất trong các vùng khác nhau Sự liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu

và các doanh nghiệp chiếm vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển này

2.1.2.5 Hầm biogas phủ bạt nhựa HDPE hoặc FPP

Đa số các công nghệ biogas vừa nêu trên đây chủ yếu thích hợp cho các

cơ sở sản xuất nhỏ và vừa với số lượng chất thải ít Ngày nay, chăn nuôi tập trung, công nghệ chế biến nông súc hải sản tập trung đang có xu hướng phát triển mạnh, nhất là quanh khu vực kinh tế trọng điểm Nhiều cơ sở chăn nuôi lớn, các nhà máy chế biến nông sản, súc sản, hải sản quanh thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận đã sử dụng các lọai nhựa dẻo như HDPE, FPP resins làm tấm bạt phủ trên hố chứa phân và nước thải (còn gọi là công nghệ CIGAR- Covered In-Ground Anaerobic Reactor) để thu biogas và giảm ô nhiễm môi trường Kết quả cho thấy có rất nhiều triển vọng đặc biệt cho các trang trại với số đầu gia súc lớn (hàng ngàn con), các nhà máy chế biến có lượng nước thải hàng ngàn khối

Các lọai nhựa này có tuổi thọ và độ bền cao (10-15 năm), mặc dù đầu tư tốn kém, nhưng giá thành tính trên đơn vị thể tích hố ga thì lại rất rẻ Có một

số số liệu về tính năng của các chất liệu này ở một số nước trên thế giới Cần

có nhiều nghiên cứu sâu các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật về khả năng ứng dụng các chất liệu mới này làm hố ủ biogas trong điều kiện Việt Nam như tuổi thọ, giá thành, hiệu xuất sinh ra

2.1.3 Lợi ích của sử dụng biogas

Việc áp dụng công nghệ biogas có thể giải quyết nhiều vấn đề Trong tương lai công nghệ khí sinh học sẽ thay thế nhiên liệu vận chuyển, nhiên liệu sinh học, điện công nghiệp và mức độ sinh nhiệt … khí sinh học có thể mang lại sự cải thiện về kinh tế, xã hội cũng như môi trường

2.1.3.1 Lợi ích về kinh tế

Theo Gauri P Minde và cộng sự (2013), từ 1 kg bùn sinh học sau khi phân giải có thể sản sinh ra lên đến 0,5 kg nitơ so với phân tươi Xem xét giá trị kinh tế của bùn sinh học làm phân đầu tư quá trình có thể đạt được trong 3-

Trang 16

4 năm Đó là ước tính rằng việc sử dụng bùn sinh học hàng năm tiết kiệm được 39 kg Nitơ, 19 kg lân và 39 kg kali mỗi hộ gia đình Không những thế

mà việc tận dụng bã của hầm ủ biogas làm phân bón còn góp phần tăng năng suất cây trồng, sau đây là kết quả thực nghiệm so sánh năng suất của 4 loại cây trồng khi bón bằng phân không ủ và bã của hầm biogas:

Bảng 2.2 Năng suất cây trồng khi bón bằng phân không ủ và bã hầm ủ biogas

Đơn vị tính: phần trăm (%)

Bã hầm biogas 128,0 110,0 124,7 112,5

Nguồn: Nguyễn Duy Thiện, 2005

Kết quả bảng trên chỉ ra rằng khi sử dụng bã hầm ủ biogas bón cho cây trồng, năng suất sẽ tăng lên ít nhất là 10% (đối với cây lúa nước) và có thể cao hơn 24,7% (đối với cây lúa mì) Rõ ràng việc tận dụng phế phẩm của hầm

ủ biogas không chỉ tiết kiệm chi phí mua phân thuốc hóa học mà còn tăng năng suất không nhỏ cho cây trồng của nông dân

Ngoài ra, biogas sử dụng có thể giải quyết vấn đề suy thoái đất ở khu vực

bã hầm ủ đã được sử dụng làm nhiên liệu đốt và có ý nghĩa kinh tế khi các hộ mua ít phân bón nhân tạo mà mang lại doanh thu các hộ gia đình

2.1.3.2 Lợi ích cho xã hội

Biogas là một nhiên liệu không khói do đó là một giải pháp thay thế tuyệt vời cho dầu hỏa, rơm, trấu và củi được sử dụng làm nhiên liệu ở hầu hết các nước đang phát triển Ngay cả khi khí sinh học gia đình được coi là hiệu quả nhất về các mục tiêu đạt được, chương trình khí sinh học cộng đồng đã được cho là có những tiến bộ đáng kể (Gauri P Minde và cộng sự, 2013) Lợi ích kinh tế - xã hội có thể được được liệt kê như :(i) Chiếu sáng và cung cấp nguồn năng lượng trong sinh hoạt; (ii) Cung cấp cho tất cả các hộ gia đình nhiên liệu nấu ăn (biogas); (iii) Tạo việc làm và mang lại thu nhập; (iv) Nâng cao năng lực và (v) Giảm vất vả cho phụ nữ và trẻ em (Theo Sanjeevani Munasinghe (2010), khí sinh học cung cấp đến 75% nhu cầu năng lượng để nấu ăn trong các hộ gia đình Các phụ nữ và trẻ em gái tiết kiệm trung bình 2 – 2,5 giờ mỗi ngày khi nấu ăn bằng gas Hầu hết các phụ nữ (79%) sử dụng thời gian này đối với một số hoạt động tạo thu nhập mà họ kiếm được tương đương với 24% thu nhập hàng tháng của họ)

2.1.3.3 Lợi ích cho môi trường

Gauri P Minde và cộng sự (2013) cũng cho rằng, không chỉ biến đổi khí hậu mà khí sinh học còn có tiềm năng để chống lại các vấn đề môi trường như hiện tượng phú dưỡng, axit hóa và ô nhiễm không khí Gián tiếp hạn chế ô nhiễm môi trường do bị ảnh hưởng bởi amoniac, nitrat và nitrit được tạo ra từ khí thải phát sinh do ủ chất thải và phân bón góp phần vào hiện tượng phú

Trang 17

dưỡng và quá trình axit hóa Đối với nấu ăn, hiệu quả của quá trình đốt cháy trong trường hợp bếp khí sinh học nhiều hơn so với bếp lò nhiên liệu truyền thống (bếp dầu hỏa) và bếp khí sinh học sẽ phát thải khí nhà kính thấp nhất Theo nghiên cứu của Chương trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam cho thấy: bụi giảm từ 4 - 25 lần, khí cacbonoxit giảm từ 2 – 7 lần, khí hidro sunfua thấp hơn khoảng 4 lần so với nhiên liệu thông thường

Một số lợi ích môi trường được liệt kê như sau: (i) CO2 giảm thông qua thay thế nhiên liệu hóa thạch; (ii) Cải tạo đất thông qua lâm nghiệp (phát triển tạo sinh khối rừng); (iii) Cộng đồng và trang trại đất; (iv) Bảo tồn sinh khối để giảm áp lực lên cây và rừng

2.1.4 Tình hình sử dụng biogas ở Việt Nam

Mô hình lên men yếm khí quy mô nhỏ (được biết với tên hầm ủ khí sinh học) đã được ứng dụng hiệu quả trong xử lý chất thải chăn nuôi cũng như cung cấp nguồn nhiên liệu phục vụ nhu cầu nấu ăn và thắp sáng cho các hộ chăn nuôi nhỏ ở Việt Nam Mặc dù đã hiện diện gần 30 năm, nhưng số lượng hầm ủ khí sinh học vẫn còn hạn chế (Nguyễn Võ Châu Ngân, 2011) Thật vậy, đến năm 2012 chỉ có 0,3% trong số 17.000 các trang trại lớn đã sử dụng khí sinh học Chiến lược quốc gia của Chính phủ về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường đặt mục tiêu là đến năm 2020 sẽ có khoảng 45% trang trại sử dụng hệ thống quản lý chất thải, đặc biệt là bể biogas để xử lý và quản lý chất thải Tương tự như vậy, một lượng lớn rác thải đô thị và rác thải chế biến nông sản, chẳng hạn như đường và sắn, cũng chưa được sử dụng đúng mức và cả hai loại chất thải này đều gây ra ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường và lãng phí tài nguyên Các công ty cũng đang chịu áp lực mạnh mẽ từ cả phía chính phủ trung ương và địa phương trong việc phải có hệ thống xử lý chất thải thích hợp Do đó, nhu cầu và động lực để sử dụng và sản xuất biogas ở Việt Nam thực sự lớn

Trong khi nhận thức về sự cần thiết cũng như lợi ích của các hệ thống biogas đã tăng lên một cách đáng kể, thì cho đến nay rào cản lớn nhất cho việc đầu tư vào hệ thống biogas vẫn là sự thiếu thốn về mặt tài chính và khả năng thương mại thấp trong tương lai gần Vì vậy, một số cơ chế tài chính đang được chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ chuẩn bị

Có hai xu hướng chính sản xuất ứng dụng biogas tại Việt Nam: (i) sử dụng biogas phục vụ đun nấu và phát điện cho chiếu sáng ở quy mô hộ gia đình và (ii) sử dụng biogas cho phát điện và làm nhiên liệu, sưởi ở một quy

mô lớn hơn (quy mô công nghiệp)

Ở quy mô hộ gia đình, năm 2012 có khoảng 500.000 hầm phân hủy biogas Tuy nhiên hầu hết các hầm này đều có quy mô nhỏ (dưới 10m3) được xây dựng bởi các hộ gia đình Riêng chương trình Khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam, do chính phủ Hà Lan tài trợ, tính đến năm 2011 đã xây được 15.678 hầm quy mô nhỏ Mặc dù không có con số chính thức, nhưng người ta ước tính rằng có chưa đến 100 hầm biogas thương mại, với dung tích khoàng 100 – 200m3, trong số đó hầu hết đều được khai thác bởi các trang trại nuôi lợn Hiện nay có khoảng 17.000 trang trại lợn (với hơn 500 con lợn mỗi

Trang 18

trang trại), và dưới 0,3% trong số đó có hầm biogas Do việc thi hành luật vệ sinh môi trường nghiêm ngặt hơn, nhiều trang trại trong số này sẽ cần đến các hầm phân hủy biogas tại chỗ trong tương lai

Xét về mặt công nghệ, hầu hết các hầm ủ nhỏ là loại hầm vòm cố định Đối với các hầm ủ trung bình và lớn hơn, phổ biến nhất là các hồ kỵ khí phủ bạt có thể tích nằm trong khoảng 300 – 190.000 m3 Các hồ phủ bạt kỵ khí này thường được sử dụng bởi các trang trại lớn, các nhà máy công nghiệp hoặc các khu chứa rác thải đô thị

2.1.5 Những khó khăn khi áp dụng biogas ở Việt Nam

Tuy công nghệ biogas không còn mới mẻ quá với người dân Việt Nam, nhưng thực tế cho thấy sự gia tăng về số lượng hầm ủ biogas trong những năm gần đây là dựa vào các dự án khí sinh học trong nước và hỗ trợ giữa các quốc gia và chỉ trong quy mô nhỏ, mở rộng về nông dân Một số nguyên nhân được đưa ra sau đây là rào cản làm chậm sự phát triển công nghệ biogas ở Việt Nam:

2.1.5.1 Năng lực kỹ thuật

Thiếu khả năng kỹ thuật và lao động có tay nghề cao về xây dựng hầm biogas, vận hành và bảo dưỡng công trình Hầu hết thợ xây khí sinh học là thợ xây tự do những người có trình độ học vấn thấp, nhưng họ có một đào tạo ngắn từ các dự án khí sinh học hoặc chỉ học bằng cách bắt chước Vì vậy, họ

bị giới hạn về việc thu thập kiến thức về quá trình xây dựng, Đặc biệt có rất

ít dịch vụ sau xây dựng vào ngành khí sinh học

Chất lượng và nguyên liệu nạp vào hầm ủ không đáp ứng đủ, mà chủ yếu là phân lợn Trong thực tế, hơn 90% hộ gia đình sử dụng biogas chỉ áp dụng phân lợn làm nguyên liệu chính cho các hầm ủ khí sinh học của họ Nguyên liệu duy nhất này sẽ bị ảnh hưởng nhiều trong trường hợp nông dân giảm hoặc ngưng chăn nuôi lợn vì một số lý do (như lợn bệnh hoặc thị trường lợn thấp) Trong những tổ chức, đầu tư vào hầm ủ khí sinh học dường như lãng phí tiền bạc của họ và nông dân không muốn chấp nhận rủi ro

Thiếu các doanh nghiệp thương mại cung cấp thiết bị khí sinh học và phụ tùng Tại thời điểm gần đây có những quy định không hiệu quả để thiết lập và vận hành doanh nghiệp khí sinh học trên cung cấp kỹ thuật, thiết bị cung cấp, nghiên cứu và phát triển khí sinh học,… (Nguyễn Võ Châu Ngân, 2011)

2.1.5.2 Khía cạnh xã hội

Thiếu nhận thức về công nghệ khí sinh cũng như những lợi ích thu được

từ một mô hình khí sinh học Cho đến nay, sự phát triển khí sinh học chủ yếu dựa vào các dự án hỗ trợ biogas Không có thực tế đáng kể từ nhà nước để thúc đẩy lĩnh vực khí sinh học Song song đó, có nhận thức không đầy đủ về điều kiện vệ sinh, đặc biệt là về chất lượng nước và quản lý chất thải

Thái độ khó chịu của người dân về xử lý chất thải chăn nuôi bằng khí sinh học và áp dụng nước thải làm phân bón Ở miền nam Việt Nam, do thói quen chung của việc áp dụng phân bón vô cơ cho cây trồng nông nghiệp,

Trang 19

không có nhiều nông dân sẵn sàng sử dụng phân bón hữu cơ, đặc biệt là sản phẩm từ một hầm ủ khí sinh học cho các hoạt động canh tác của họ

Các dự án hỗ trợ khí sinh học không liên quan đến tất cả các thành viên của gia đình và điều này gây ra sự bất đồng về việc xây dựng một nhà máy khí sinh học Để giúp nông dân tiếp cận các công nghệ khí sinh học, hầu hết các

dự án hỗ trợ thông tin khí sinh học biogas giới thiệu hoặc thông qua tổ chức đại diện như Hội Phụ nữ, Hội nông dân,… Sau đó, chỉ có một thành viên trong gia đình biết những lợi thế của công nghệ khí sinh học, trong khi các thành viên khác thì không (Nguyễn Võ Châu Ngân, 2011)

2.1.5.3 Khía cạnh tài chính

Hạn chế hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước về lĩnh vực khí sinh học công nghệ khí sinh học không chỉ cung cấp điện tại các khu vực nông thôn mà còn vệ sinh môi trường Tuy nhiên, chính phủ vẫn chưa tích hợp ngành khí sinh học như một yếu tố vào khuôn khổ của điện khí hóa nông thôn và cung cấp nước sạch nông thôn ủng hộ chương trình

Khó khăn để tiếp cận các nguồn tài chính do thủ tục hành chính phức tạp Nhu cầu xây dựng nhà máy khí sinh học chủ yếu là từ nông dân nghèo không có tài sản hoặc bất động sản Để nhận được các khoản vay ngân hàng, người vay cần xuất trình chứng minh của họ về tài sản hoặc bất động sản để đảm bảo cho khoản vay của họ, nhưng thực sự họ không thể làm điều đó (Nguyễn Võ Châu Ngân, 2011)

Một số hộ nghèo khác sẽ không đầu tư vào hầm ủ vì không đủ kinh phí,

vì vậy họ chấp nhận với cách xử lý chất thải chăn nuôi hiện tại, dẫu rằng nhiều người trong số họ biết nó sẽ gây ô nhiễm môi trường mà họ là người bị tác động trực tiếp Theo Karthik Rajendran, et all (2012), mặc dù có lợi thế khác nhau của hầm khí sinh học của hộ gia đình, tuy nhiên phân giải kỵ khí là một quá trình chậm, và nó đòi hỏi một thời gian ủ dài (> 30 ngày) Điều này làm tăng khối lượng và chi phí của bể càng làm tăng chi phí lắp đặt, đó lại là 1 khó khăn của hộ nghèo

2.1.5.4 Tổ chức giáo dục và chính sách

Thiếu sự hỗ trợ của nhà nước và địa phương để thúc đẩy công nghệ khí sinh học phát triển Gần đây, pháp luật cũng cung cấp hỗ trợ và khuyến khích năng lượng tái tạo nói chung, và cho khí sinh học, nhưng các biện pháp thực hiện chi tiết vẫn còn thiếu Như B Amigun, et al (2012) nhận định: “ Việc áp dụng công nghệ khí sinh học có thể bị hạn chế bởi những lý do như: (i)

Người dân sử dụng biogas nhưng thiếu kinh nghiệm và chuyên gia tư vấn (ii) Thiếu thông tin đáng tin cậy về những lợi ích tiềm năng của công nghệ (iii) Thiếu tài liệu tham khảo, nghiên cứu…” điều này cũng không tránh khỏi ở Việt Nam

Không có chính sách đầu tư hiệu quả để thu hút đầu tư tư nhân phát triển

dự án khí sinh học Thậm chí phát triển trong khoảng ba thập kỷ qua, các dự

án khí sinh học đã không nhận được đủ sự chú ý và không thu hút được các nhà đầu tư tư nhân Bằng cách lắp đặt của các nhà máy khí sinh học ở các

Trang 20

vùng nông thôn và ngoại thành, các nhà đầu tư phải đối mặt với lợi nhuận thấp trong khi chi phí đầu tư cao hơn so với lợi nhuận thu được nhiều lần Tuy nhiên, nông dân không có điều kiện tốt để có được các khoản vay từ ngân hàng để xây dựng nhà máy khí sinh học quy mô nhỏ

Thiếu chiến lược dài hạn để theo dõi các dự án hỗ trợ biogas Có rất nhiều dự án khí sinh học trong nước và hỗ trợ trong các nước bạn thực hiện trong nước mà chính quyền địa phương không đủ tương tác với các dự án để

dự án không được ghi nhận một cách hệ thống (ví dụ như không có hồ sơ tập trung về dự án khí sinh học như tên đối tượng thụ hưởng, số lượng cài đặt nhà máy khí sinh học,…) Thiếu các biện pháp xử phạt vi phạm về xử lý chất thải chăn nuôi trước khi thải vào nguồn nước mở Trong thực tế các quy định của Việt Nam về chất thải và phí nước thải, không có quy định về tiêu chuẩn được giao cho chất thải chăn nuôi và nước thải thải Đây là lý do chính tại sao nông dân chỉ đơn giản là xả chất thải chăn nuôi và nước thải trực tiếp vào nguồn nước mở mà không cần bất kỳ điều trị

2.1.6 Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng biogas của nông hộ

Một số nghiên cứu về biogas ở những địa bàn khác nhau cho thấy các nhân tố chính sau đây sẽ có tính quyết định đến việc chấp nhận sử dụng biogas của hộ gia đình:

Tuổi chủ hộ: Độ tuổi của chủ hộ ảnh hưởng như người ta tin rằng với

tuổi tác cao, nông dân tích lũy vốn kinh nghiệm hơn và, do đó, cho thấy một khả năng lớn hơn đầu tư vào đổi mới công nghệ Tuy nhiên, nó cũng có thể là

hộ gia đình trẻ đứng đầu là linh hoạt hơn và do đó có khả năng áp dụng công nghệ mới Dấu hiệu dự kiến hệ số về độ tuổi là không xác định, có thể tích cực hoặc tiêu cực (Uaiene, R.N, 2008)

Trình độ giáo dục của chủ hộ: biến được dự kiến sẽ có một ảnh hưởng

tích cực trong các quyết định về sử dụng năng lượng khí sinh học Trình độ của chủ hộ gia đình cao dự đoán sẽ ít bảo thủ hơn, khả năng tiếp xúc với các nguồn thông tin và do đó nhiều thông tin hơn, hiểu biết và môi trường cảnh báo về những tác động tiêu cực của nhiên liệu hóa thạch đối với môi trường

Họ nên chấp nhận các nguồn năng lượng sạch như khí sinh học với lý do nó hơn thân thiện môi trường hơn, dễ dàng sử dụng hơn so với chủ hộ có trình độ thấp (Walekhwa, P N, 2010)

Số thành viên trong gia đình: Walekhwa, P N (2010) dự kiến kích

thước của hộ gia đình sẽ ảnh hưởng đến quyết định áp dụng một cách tích cực hay tiêu cực Một gia đình lớn thường có một số lượng lớn các thành viên làm việc và lao động do đó có nhân lực để vận hành khí sinh học và bảo dưỡng định kỳ Do đó gia đình lớn, những thứ khác là không đổi, xác suất của việc áp dụng năng lượng khí sinh học là cao Tuy nhiên, một gia đình lớn hơn có thể gây một gánh nặng của sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên ít ỏi của gia đình đến mức hầu như không có bất kỳ tiết kiệm cho đầu tư sản xuất khí sinh học Trong hoàn cảnh này, người trong gia đình lớn hơn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định áp dụng công nghệ khí sinh học

Trang 21

Giới tính của chủ hộ: Giới tính của chủ hộ được dự kiến sẽ có thể tác

động tích cực hoặc tiêu cực Kể từ khi phụ nữ chiếm ưu thế sử dụng năng lượng nông thôn ở cấp hộ gia đình, nó có thể được dự kiến rằng các hộ gia đình do phụ nữ có thể có một xác suất cao hơn của việc áp dụng năng lượng khí sinh học nhiều hơn nam giới Tuy nhiên, ở Uganda, nam giới chiếm ưu thế kiểm soát, đưa ra các quyết định liên quan đến nguồn lực sản xuất trong gia đình và có thể trực tiếp ảnh hưởng đến quyết định đầu tư về công nghệ khí sinh học (Walekhwa, P N, 2010)

Diện tích đất: Walekhwa, P N (2010) dự kiến rằng diện tích đất thuộc

sở hữu của hộ gia đình sẽ có tác động tích cực quyết định áp dụng khí sinh học Đối với khí sinh học, để hoạt động hiệu quả hơn, tất cả ba thành phần (chất thải, số lượng động vật và thành phần thức ăn gia súc) cần phải được kết hợp với nhau để cung cấp nguyên liệu dễ dàng và giám sát hiệu quả của các hoạt động vận hành và bảo dưỡng định kỳ Đối với điều này xảy ra, một hộ gia đình phải có một diện tích đất tối thiểu có thể chứa chúng Dựa trên tiền đề này, do đó nó có thể được dự kiến rằng các hộ gia đình có diện tích đất lớn hơn sẽ có một xác suất cao hơn trong việc áp dụng công nghệ khí sinh học

Hiểu biết về biogas của người dân: Nguyễn Hữu Phong (2007) cho rằng

khi hộ dân có sự hiểu biết tốt về hầm ủ biogas thì có xu hướng sẽ áp dụng nhiều hơn Do đó yếu tố này được dự kiến sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc chấp nhận áp dụng biogas

Số lượng gia súc: số lượng gia súc thuộc sở hữu của một hộ gia đình là

một yếu tố quan trọng trong quyết định áp dụng khí sinh học bởi vì nó cung cấp phân gia súc - nguyên liệu chính cho hầm ủ gia đình nhỏ Dự kiến số lượng gia súc lớn thì xác suất của các hộ gia đình áp dụng công nghệ khí sinh học sẽ cao hơn (Walekhwa, P N, 2010)

Vị trí nhà ở: có thể ảnh hưởng đến quyết định sử dụng năng lượng khí

sinh học một cách tích cực hay tiêu cực Nếu hộ gia đình nằm trong một khu vực nông thôn, nơi có không gian phù hợp, xác suất của việc áp dụng năng lượng khí sinh học có thể là lớn hơn ở các trung tâm đô thị, nơi thiếu đất là canh tác (Walekhwa, P N, 2010)

Thu nhập hộ gia đình: Các hộ gia đình có mức thu nhập cao hơn được dự

kiến sẽ áp dụng công nghệ khí sinh học dễ dàng hơn hộ nghèo Nguyễn Ngọc Sơn và đồng nghiệp cho rằng “Để cho biogas có thể hoạt động được phải cần

số lượng heo đủ để có lượng phân thích hợp (5-8 con/hộ) và duy trì số lượng heo hằng năm Với hộ nghèo, duy trì chăn nuôi khoảng 5-8 con heo thì dường như vượt quá khả năng về vốn của họ” Do đó, thu nhập của hộ gia đình sẽ có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng biogas

Chi phí nhiên liệu: nhiên liệu chủ yếu để nấu ăn và chiếu sáng, chẳng hạn

như củi và dầu hỏa, được dự kiến sẽ được tương quan tích cực với xác suất của việc áp dụng năng lượng khí sinh học Bằng chứng từ các nghiên cứu áp dụng tương tự cho thấy biogas là hấp dẫn hơn khi giá năng lượng tương đương cao và công nghệ mới có những đặc điểm tốt như hiệu quả cao và dễ quản lý (Ji-Quin và Nyns, 1996)

Trang 22

Giá heo: Nguyễn Ngọc Sơn và đồng nghiệp (2007) chỉ ra rằng giá cả

chăn nuôi cũng ảnh hưởng mạnh tới hầu hết các nông hộ đã áp dụng biogas và chưa áp dụng biogas Những thiệt hại về chăn nuôi làm cho nguồn vốn giảm mạnh Hậu quả làm mất khả năng tái chăn nuôi tiếp theo Kết quả cho thấy các

hộ trước đây áp dụng biogas nhưng bỏ một thời gian do không chăn nuôi Khi giá cả thị trường heo tăng lên mức chấp nhận được những nông dân này chăn nuôi heo trở lại nhưng việc cải tạo hệ thống biogas như ban đầu thường không được nông dân chú trọng bởi chi phí sửa chữa khá cao và tốn nhiều lao động

Ảnh hưởng của cộng đồng: điều này được hiểu là sự lan tỏa từ những

người hàng xóm xung quanh, bạn bè cũng có ảnh hưởng đến quyết định của người dân Kinh nghiệm học được từ nông dân trong và ngoài địa phương và giúp cho người dân có thể nâng cao kiến thức để chấp nhận hợp phần biogas

Do đó, yếu tố này sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc chấp nhận áp dụng biogas của hộ gia đình (Nguyễn Ngọc Sơn và đồng nghiệp, 2007)

2.1.7 Hiệu quả tài chính trong chăn nuôi heo

Hiệu quả tài chính: Là hiệu quả chỉ tính trên góc độ cá nhân, tất cả chi phí và lợi ích đều tính theo giá thị trường (Mai Hữu Khuê, Nguyễn Hữu Quỳnh, 2001)

Các chỉ tiêu đo lường mức độ hiệu quả trong chăn nuôi heo của nông hộ:

- Doanh thu: Doanh thu là tổng các khoản thu nhập của nông hộ từ hoạt

động sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm Doanh thu trong bài là toàn bộ lượng tiền thu được từ việc bán heo ở lứa nuôi gần nhất

Doanh thu = (Tổng sản lượng heo (kg) x giá bán (đồng/kg))

- Chi phí: Là tổng số tiền mà người sản xuất phải chi ra để sản xuất ra

một số lượng sản phẩm nhất định trong một khoảng thời gian nào đó Các loại chi phí sử dụng trong đề tài bao gồm các khoản:

+ Chi phí con giống

+ Chi phí thức ăn

+ Chi phí khấu hao chuồng traị

+ Chi phí thú y

- Lợi nhuận: Là kết quả tài chính cuối cùng của quá trình sản xuất kinh

doanh, đó là phân chênh lệch giữa doanh thu và chi phí

Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí

- Một số chỉ tiêu tài chính dùng cho việc phân tích:

+ Tổng doanh thu/Tổng chi phí (DT/CP): Là chỉ tiêu phản ánh một đồng chi phí đầu tư thì người sản xuất sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu

Trang 23

Nếu chỉ số DT/CP nhỏ hơn 1 thì người sản xuất bị lỗ, nếu DT/CP bằng 1 thì hòa vốn, DT/CP lớn hơn 1 thì người sản xuất có lời

+ Thu nhập/Chi phí (TN/CP): Là chỉ tiêu phản ánh một đồng chi phí

bỏ ra thì người sản xuất sẽ thu lại được bao nhiêu đồng doanh thu Nếu TN/CP

là số dương thì người sản xuất có lời, chỉ số này càng lớn càng tốt

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp mô tả địa bàn nghiên cứu

Để phục vụ đề tài, phỏng vấn được thực hiện đối với 66 hộ chăn nuôi heo và không áp dụng biogas trên địa bàn xã Tân Thành và Đại Thành thuộc thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Là địa phương rộng nhất trong thị xã, với tổng diện tích 2 xã là 39,46 km2 (chiếm 50,25% tổng diện tích toàn thị xã), Tân Thành và Đại Thành có 205 hộ chăn nuôi heo, số lượng đàn heo nhiều và tiêu biểu cho toàn thị xã Trong đó, có 17 hộ tham gia mô hình biogas Mẫu được phân phối dựa vào tỷ lệ hộ chăn nuôi heo và không áp dụng biogas của địa bàn 2 xã vừa nêu, cụ thể như sau:

Bảng 2.3: Bảng phân phối mẫu nghiên cứu

Số hộ nuôi heo (hộ)

Nguồn: Trạm khuyến nông thị xã Ngã Bảy, 2014

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Mô tả tình hình kinh tế - xã hội ở thị xã Ngã Bảy được thu thập từ “Báo cáo kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2013” thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang năm 2013

Diện tích, dân số, mật độ dân số, số lượng heo ở thị xã Ngã Bảy được thu thập từ “Niên giám thống kê 2013” chi cục thống kê thị xã Ngã Bảy năm

2013

Số lượng đàn heo, số hộ chăn nuôi heo ở xã Đại Thành, Tân Thành được thu thập từ “Bảng tổng hợp tổng đàn gia súc, gia cầm xã Đại Thành, Tân Thành”, chi cục thú y xã Đại Thành, Tân Thành

2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 66 nông hộ

có hoạt động chăn nuôi heo và không sử dụng biogas trên địa bàn xã Tân

Trang 24

Thành, Đại Thành bằng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi được thiết kế sẵn với 22 câu hỏi đóng được chia thành 2 phần Trong đó:

- Phần thông tin chung: tên, tuổi, giới tính và trình độ học vấn của đáp viên; lao động trực tiếp chăn nuôi heo, tổng thu nhập hộ, số năm chăn nuôi heo của hộ

- Phần nội dung chính gồm:

 Những thông tin về đặc điểm đàn heo: loại heo được nuôi, số lứa/năm,

số con/lứa, các khoản chi phí chăn nuôi heo, giá bán, thông tin chuồng trại

 Đặc điểm xử lý chất thải chăn nuôi heo: lý do và cách xử lý chất thải chăn nuôi heo hiện nay của hộ, nhận thức của người dân về tác hại của chất thải chăn nuôi heo nếu xử lý không đúng cách

 Nguồn năng lượng đun nấu hộ đang sử dụng: loại nhiên liệu sử dụng, chi phí cho từng loại nhiên liệu/tháng/hộ

 Hiểu biết về biogas của hộ: nguồn thông tin tiếp nhận, lợi ích của biogas, lý do không sử dụng biogas, quyết định áp dụng biogas, lý do có và không chấp nhận áp dụng

Phương pháp chọn đối tượng phỏng vấn là phương pháp chọn mẫu thuận tiện Số lượng mẫu được xác định dựa trên công thức phát triển bởi Slovin (1984) như sau:

(1 + 𝑁 𝑒2)Trong đó:

N: số hộ chăn nuôi heo chưa áp dụng biogas ở xã Đại Thành và xã Tân Thành

e: sai số cho phép, được lấy 10%

Vậy với sai số cho phép 10%, ta có cỡ mẫu là 66 mẫu

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

2.2.3.2 Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê mô tả dùng để thống kê lại thông tin chung của mẫu, mô tả lại đặc điểm chăn nuôi heo, đặc điểm xử lý chất thải của đàn heo ở mỗi nông hộ đồng thời liệt kê các chi phí và lợi ích đạt được từ hoạt động chăn nuôi heo của nông hộ, từ đó tính được hiệu quả chi phí đàn heo mang lại bằng cách lấy tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí Phương pháp được sử dụng trong thống kê

mô tả bao gồm tần số, tỷ lệ, tỷ trọng, số trung bình, max, min và độ lệch chuẩn

Trang 25

2.2.3.3 Kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau giữa hai trung bình tổng thể (T - test)

Kiểm định T- test được dùng để đánh giá xem có sự khác biệt về chi phí, thu nhập từ việc chăn nuôi heo thịt giữa nông hộ mua heo con giống và sử dụng heo giống nhà, sự khác biệt của các biến định lượng giữa 2 nhóm đồng ý

và không đồng ý chấp nhập sử dụng biogas

Khi thực hiện kiểm định ta có hai giả thuyết:

H0: Nông hộ chăn nuôi heo thịt mua heo giống và sử dụng heo giống nhà bỏ ra chi phí như nhau và đạt hiệu quả tài chính từ việc chăn nuôi heo là như nhau Không có sự khác biệt của các biến định lượng giữa 2 nhóm đồng ý

và sử dụng heo giống nhà Đồng thời, cho thấy sự khác biệt của các biến độc lập giữa 2 nhóm đồng ý và không đồng ý áp dụng biogas Nếu giá trị sig > mức ý nghĩa, ta chấp nhận giả thuyết H0, có nghĩa là hiệu quả chăn nuôi heo thịt của các nông hộ này như nhau và không có sự khác biệt giữa các biến định lượng ở những hộ chấp nhận và không chấp nhận áp dụng biogas Mức ý nghĩa:   10 %

2.2.3.4 Phương pháp phân tích hồi quy nhị nguyên (Binary Logistic regression)

Nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS để hỗ trợ trong việc phân tích

số liệu Mô hình hồi quy Binary Logistic được sử dụng để xác định các nhân

tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận áp dụng biogas của các người dân chăn nuôi heo ở thị xã Ngã bảy, tỉnh Hậu Giang Mô hình có phương trình tổng quát:

)0(

)1(

Y P

Y P

Đây là biến phụ thuộc có hai biểu hiện:

1: chấp nhận áp dụng biogas; 0: không chấp nhận áp dụng biogas

Các biến X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7, X8, là các biến độc lập (biến giải thích)

Trang 26

: hệ số chặn (intercept) Giá trị của z khi tất cả các biến độc lập bằng 0 i : hệ số hồi quy (regression cofficients) của các yếu tố thứ i Hệ số này cho biết độ mạnh cũng như chiều của sự ảnh hưởng của các yếu tố đến việc chấp nhận áp dụng biogas Nếu hệ số hồi qui dương thì biến độc lập làm tăng khả năng (xác suất) xảy ra của sự kiện nghiên cứu và ngược lại

Khả năng chấp nhận áp dụng mô hình biogas của người nông dân được tính toán bằng cách sử dụng phương trình sau đây:

PA = (Y=1) = 𝑒

𝑧

1+𝑒 𝑧Trong đó:

PA: xác suất mà nông hộ đồng ý áp dụng mô hình biogas vào chăn nuôi

z = ln (PA/1-PA) = khả năng mà nông hộ đồng ý áp dụng biogas

*Biến độc lập:

Các biến đưa vào mô hình phân tích dựa vào kết quả lược khảo các đề tài nguyên cứu và đặc điểm của địa bàn thực hiện đề tài, 8 biến độc lập được chia thành 3 nhóm: đặc điểm đáp viên, đặc điểm hộ và nhận thức, cụ thể như sau:

Giới tính (X2): Là giới tính của đáp viên, được mã hóa là 1 nếu đáp viên

là nam và 0 nếu đáp viên là nữ Biến giới tính ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt biogas là không rõ ràng nên không thể dự đoán được dấu kì vọng của biến này

Trình độ học vấn (X3): là số năm đi học của đáp viên Biến này được dự đoán cùng chiều với quyết định áp dụng biogas của người dân, do người có trình độ học vấn càng cao thì mức độ hiểu biết càng tăng Vì vậy, quyết định tham gia mô hình càng cao

 Nhóm đặc điểm hộ

Thu nhập (X4): là tổng thu nhập bình quân hàng tháng của gia đình đáp viên Biến này được kì vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định lắp đặt biogas của người dân, do thu nhập càng cao thì khả năng chi trả cho các khoản chi phí lắp đặt biogas càng lớn

Số lượng heo (X5): là số heo thịt trung bình được nuôi trong 1 lứa của hộ gia đình đáp viên Biến này được kì vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định lắp đặt biogas của người dân do số lượng heo thịt càng nhiều sẽ đảm bảo nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho 1 hầm/túi ủ biogas, do vậy khả năng áp dụng biogas của những nông hộ này sẽ cao hơn

Trang 27

Sử dụng củi (X6): là nông hộ có dùng củi trong đun nấu Được mã hóa 1: nông hộ có sử dụng củi trong đun nấu, 0: nông hộ không sử dụng củi Biến được kì vọng tương quan cùng chiều với biến phụ thuộc, do nhu cầu tiết kiệm chi phí chất đốt, thay thế nguồn năng lượng sạch hơn cho gia đình

 Nhóm nhận thức

Hiểu biết (X7): là sự hiểu biết của người dân về biogas, được mã hóa là 1: người dân biết về biogas, 0: người dân không biết về biogas Đối với biến này được kì vọng cùng chiều với quyết định lắp đặt biogas của người dân Nhận thức ô nhiễm (X8): là nhận thức của đáp viên về sự ô nhiễm không khí do các khí thoát ra từ bãi, hầm ủ phân heo trong đất, sau đó được dùng làm phân bón cho cây Được mã hóa 1: người dân biết rằng các khí thoát ra gây ô nhiễm không khí, ngược lại 0: người dân không biết về vấn đề này Biến được

kì vọng có ảnh hưởng tích cực đến quyết định sử dụng biogas, do người dân

có nhận thức tốt về vấn đề không khí bị ô nhiễm sẽ có mong muốn thay thế cách xử lý chất thải hiệu quả hơn, mang lại lợi ích môi trường

Bảng 2.4: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình

+

X2 Giới tính đáp viên Biến giả, X2 = 1: đáp viên là

nam, đáp viên là nữ: X2 = 0

+/-

X3 Trình độ học vấn Số năm đi học của đáp viên +

X4 Tổng thu nhập của nông hộ

trong một tháng Triệu đồng

+

X6 Nông hộ sử dụng củi trong

đun nấu

Biến giả, X6 = 1: nông hộ có sử dụng củi trong đun nấu, ngược lại X6 = 0

+

X7 Hiểu biết về biogas Biến giả, X7 = 1: nông hộ có

biết về biogas, ngược lại X7 = 0

+

X8 Nhận thức được sự ô nhiễm

không khí do phân hủy phân

heo từ bãi, hầm ủ trong đất

Biến giả, X8 = 1: nông hộ nhận thức được vấn đề ô nhiễm không khí, ngược lại X8 = 0

+

Nguồn: số liệu điều tra, 2014

Trang 28

CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG 3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thị xã Ngã Bảy có diện tích 78,52 km2, cách thành phố Vị Thanh - tỉnh

lỵ Hậu Giang - khoảng 60 km (đường quốc lộ), nhưng lại có những đặc điểm thuận lợi về vị trí địa lý và điều kiện phát triển giao thông, giao thương: nằm trên tuyến quốc lộ 1A, giữa trung tâm thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng (mỗi địa điểm cách Ngã Bảy khoảng 30 km) Có vị trí địa lý như sau:

- Phía đông giáp tỉnh Sóc Trăng,

- Phía tây và nam giáp huyện Phụng Hiệp,

- Phía bắc giáp huyện Châu Thành

Nguồn: Trang thông tin thị xã Ngã Bảy

<http://ngabay.haugiang.gov.vn/>

Hình 3.1 Bản đồ vị trí thị xã Ngã Bảy

Trang 29

là 270C Lượng mưa thuộc loại trung bình, khoảng 1800 mm/năm Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%) và giá trị độ ẩm trung bình trong năm là 82% Ngã Bảy có một hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km Mật độ sông rạch khá lớn 1,5 km/km, vùng ven sông Hậu thuộc huyện Châu Thành lên đến 2 km/km

3.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Thị xã Ngã Bảy có nhiều tài nguyên như: tài nguyên nước, đất, sinh vật phong phú cùng với tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp 18,63 ha Rừng trồng đạt 18,69 ha năm 2013 Sản lượng thủy sản ở Ngã Bảy lớn gồm cá, tôm, và các loại khác, ước tính đạt 14.593 tấn năm 2013

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tình hình kinh tế

* Nông nghiệp

Nông nghiệp ở thị xã Ngã Bảy với cây trồng chủ yếu là lúa Cây lúa xuống giống 3.605,6 ha (năm 2013) Trong đó vụ Đông Xuân xuống giống 2.138,1 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 14.361,9 tấn, vụ Hè Thu xuống giống 1.467,55 ha, đang phát triển tốt Rau màu, đậu các loại, bắp gieo trồng 1.056,6

ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 12.092 tấn Cây mía xuống giống 1.311 ha, đang phát triển tốt Cây ăn quả các loại trồng được 3.285,9 ha, trong đó diện tích cây Cam Sành 2.472,43 ha (so với năm 2012 tăng 341,43 ha), đang cho sản phẩm 806,7 ha, sản lượng ước đạt 14.520 tấn Diện tích thả nuôi thủy sản 145,71 ha, sản lượng ước đạt 4.181,5 tấn, trong đó cá tra thả nuôi 41,21 ha, hiện nay người nuôi gặp khó khăn do giá cả sụt giảm (giá mua tại chỗ từ 20.000 - 21.000 đồng/kg, trong khi chí phí sản xuất từ 22.000 - 23.000

Stt Tên phường, xã Diện tích

(km2)

Dân số (Người)

Mật độ dân số (Người/km2)

Trang 30

đồng/kg) Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển, tổng đàn gia súc-gia cầm đạt 381.077 con Tình hình dịch bệnh trên động, thực vật trên địa bàn không xảy ra Kết quả sản xuất nông nghiệp ở Ngã Bảy đã mang lại giá trị cao trong những năm gần đây, cụ thể như sau:

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Ngã Bảy 2013, trang 17

Hình 3.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp thị xã Ngã Bảy năm 2013

Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng qua các năm, đặc biệt năm 2013 tăng 11,99% so với năm 2012, đạt mức 587.818 triệu đồng, báo hiệu một bước tiến cao cho ngành nông nghiệp thị xã Ngã Bảy nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng Nguyên nhân là do năm 2013 tổng diện tích trồng trọt chăn nuôi trên địa bàn thị xã đều tăng, mặt khác các công nghệ kĩ thuật gieo trồng, chăn nuôi cũng được người dân quan tâm và áp dụng nhằm cải thiện chất lượng cây trồng vật nuôi Tuy năm 2013 giá cả hàng hóa bấp bênh nhưng nhìn chung sản lượng nông nghiệp cao đã góp phần nâng cao thu nhập cho ngành

* Công nghiệp

Cùng với nông nghiệp, các ngành công nghiệp cũng được đầu tư phát triển theo hướng tích cực, kết quả mang lại khả quan trong những năm gần đây:

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Ngã Bảy 2013, trang 31

Hình 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp thị xã Ngã Bảy năm 2013

0 100000

Trang 31

nam 49,80%

nữ

55%

nông thôn 45%

Sản phẩm công nghiệp ở thị xã Ngã Bảy tập trung chủ yếu vào các ngành như: đóng ghe xuồng, đồ mộc, xay xát gạo, thùng lưới, cưa xẻ gỗ… Nhìn chung giá trị sản xuất công nghiệp đang có tiến triển tốt, cụ thể đã đạt 613.361 triệu đồng năm 2013, tăng 5,56% so với năm 2012 Trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là ngành công nghiệp chế biến, đạt 595.567 triệu đồng, chiếm 97% trong tổng số công nghiệp Dễ dàng nhận thấy do tận dụng được nguồn nguyên liệu có sẵn từ nông nghiệp mà ngành công nghiệp chế biến ở Ngã Bảy phát triển mạnh, đặc biết là sự phát triển của các nhà máy đường, nhà máy xay xát gạo… không những đóng góp không nhỏ vào GDP tỉnh nhà mà còn tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển

* Dịch vụ

Trên địa bàn thị xã hiện có 05 chợ đang hoạt động như: chợ Ngã Bảy, chợ Hiệp Thành, chợ Đại Thành, chợ Hiệp Lợi, chợ đêm phường Ngã Bảy Ngoài ra, dự án Siêu thị Ngã Bảy đang thi công, dự kiến tháng 12/2013 đi vào hoạt động, đang triển khai lập thủ tục khôi phục chợ nổi Ngã Bảy, xin vốn xây dựng chợ đầu mối trái cây Ngã Bảy Tổ chức 04 cuộc hội chợ đưa hàng Việt

về nông thôn, xúc tiến thương mại, với tổng doanh số bán ra khoảng 1,12 tỷ

đồng Dịch vụ ngân hàng, vận tải, nhà hàng đang phát triển mạnh

3.1.2.2 Tình hình xã hội

Thị xã Ngã Bảy đang ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu trong công tác xây dựng xã hội đặc biệt trong công tác xây dựng nông thôn mới, trong đó điển hình là xã Đại Thành - xã đầu tiên đạt chuẩn Nông thôn mới của Đồng bằng sông Cửu Long Thành phần dân số của thị xã Ngã Bảy được thống kê như sau:

Nguồn: niên giám thống kê thị xã Ngã Bảy năm 2013, trang 7

Hình 3.4 Tỷ lệ dân số phân theo giới tính và theo thành thị, nông thôn

ở thị xã Ngã Bảy

Tỷ lệ nam nữ ở Ngã Bảy cân bằng nhau gần như 50% với số lượng 30.003 nữ và 30.200 nam Bên cạnh đó sự chênh lệch dân số giữa thành thị và nông thôn cũng không đáng kể với 33.117 người ở thành thị chiếm tỷ lệ 45%

và 27.086 người ở nông thôn chiếm tỷ lệ 55% (năm 2013)

Thị xã Ngã Bảy luôn thực hiện tốt công tác an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Cụ thể năm 2013, thị xã đã xây dựng được 05 căn nhà

Trang 32

tình nghĩa, 15 căn nhà tình thương Toàn thị xã có 270 hộ đăng ký thoát nghèo, chiếm tỷ lệ 1,82% Thị ủy, Ủy ban nhân dân thị xã chỉ đạo xã, phường có ấp/khu vực thoát nghèo, kết quả có 03 ấp/khu vực đăng ký thoát nghèo Ngoài ra, thực hiện tốt các chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, hỗ trợ chi phí học tập, mua bảo hiểm y tế Trạm y tế các xã, phường tổ chức khám, chữa bệnh cho 37.950 lượt người Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm được thị

xã tiếp tục quan tâm, đặc biệt tổ chức Lễ mitting hưởng ứng Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2013 với chủ đề “An toàn thực phẩm bếp ăn tập thể”, thu hút đông đảo cán bộ, cơ sở sản xuất kinh doanh và người dân tham gia

Trên địa bàn thị xã hiện có 24 cơ sở giáo dục công lập gồm: 06 trường mầm non - mẫu giáo, 11 trường tiểu học, 05 trường trung học cơ

sở, 02 trường trung học phổ thông với tổng số 150 phòng học kiến cố,

133 phòng học bán kiên cố, 28 phòng học tạm thời; ngoài ra có 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 06 trung tâm học tập cộng đồng, 06 nhóm giữ trẻ tư thục Thị xã tiếp tục đầu tư nâng cấp, xây dựng mới và giải phóng mặt bằng 03 trường mẫu giáo, 05 trường tiểu học, 02 trường trung học cơ sở từ nguồn vốn xổ số kiến thiết; đến tháng 12/2013 hoàn thành xóa phòng học tre lá Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

3.2 THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI HEO VÀ SỬ DỤNG BIOGAS Ở THỊ

XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

3.2.1 Tình hình chăn nuôi heo

Trong tổng đàn gia súc gia cầm ở thị xã Ngã Bảy, heo được nuôi nhiều nhất, chiếm tỷ trọng 97,79% với số lượng 2.038 con trong tổng số đàn gia súc (bò, lợn, dê) của tỉnh Hậu Giang (năm 2013) Điều này cho thấy heo là loài gia súc được nuôi nhiều nhất ở Ngã Bảy bởi đặc tính dễ nuôi và thị trường tiêu thụ lớn

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Ngã Bảy năm 2013, trang 25

Hình 3.5 Tỷ lệ đàn heo trong tổng số đàn gia súc thị xã Ngã Bảy năm 2013

1,87%

97,79%

0,34%

bò lợn dê

Trang 33

Tuy chiếm tỷ trọng cao nhưng những năm gần đây số lượng đàn heo ở Ngã Bảy có nhiều biến động, cụ thể:

Bảng 3.2: Tình hình đàn heo thị xã Ngã Bảy năm 2010 – 2013

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Ngã Bảy năm 2013, trang 25

Ghi chú: Sản lượng heo năm 2009 là 2.547 con

Giai đoạn 2010 – 2013 số lượng lợn nhìn chung giảm đều và nhưng ở mức ít Số lượng giảm từ 2.208 con năm 2010 xuống còn 1.895 con năm 2012 Nguyên nhân chính là do tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên cả nước

và có ảnh hưởng không ít đến địa bàn Hậu Giang nói chung và thị xã Ngã Bảy nói riêng Dịch lợn tai xanh lây lan gây bệnh, chết lợn nên số lượng có chiều hướng đi xuống, kèm theo đó là tâm lý e dè của người tiêu dùng khi tiêu thụ sản phẩm thịt lợn trong thời kì có dịch bệnh, tức cầu giảm Không những vậy

mà giá thức ăn cho lợn trong những năm gần đây cũng tăng, trong đó giá gạo cám tăng 3,7% và chi phí thú y tăng 5 – 10% so với năm 2012 Đặc biệt là giá lợn hơi giảm mạnh tới đáy vào cuối năm 2012 đầu năm 2013, chỉ ở khoảng 35 đến 36 nghìn/kg heo hơi, khiến nhiều hộ nuôi thua lỗ Mặc dù giá có cải thiện tăng đều khoảng 55 nghìn/kg vào cuối năm 2013 nhưng vẫn còn chưa bù được chi phí cho nhiều nông hộ Đến nay theo chi cục thú y thị xã Ngã Bảy, tuy dịch lợn tai xanh được xem như không ảnh hưởng nhiều đến khu vực này nhưng nhiều hộ, trang trại ở Thị xã vẫn còn ngần ngại đầu tư vào chăn nuôi lợn, thậm chí nhiều người đã bỏ chuồng để đầu tư vào loài động vật khác Thay vào đó là sự xuất hiện của lợn rừng mới đây đã là đối thủ cạnh tranh với lợn nhà, khi chất lượng thịt lẫn sự an toàn khi sử dụng của nó hơn hẳn lợn nhà Xuất phát từ đó mà số lượng lợn ở thị xã Ngã Bảy vẫn chưa tăng lên đáng kể Đến năm 2013 tổng đàn lợn đã tăng lên 2.038 con, tăng 7,5 % so với tổng đàn lợn năm 2012 Và tính đến thời điểm tháng 8 năm 2014, tổng đang heo đã tăng lên 3.219 con Có thể nói đạt được kết quả trên là do công tác kiểm dịch, tiêm phòng bệnh gia súc của chi cục thú y thị xã Ngã Bảy hoạt động có hiệu quả trong tình hình dịch bệnh diễn biến khá phức tạp Thêm vào

đó là ý thức hợp tác tiêm ngừa đầy đủ cho đàn heo của hộ chăn nuôi đã góp phần đẩy lùi dịch bệnh lẫn tâm lý lo sợ của người dân Mặc khác, tình hình tiêu thụ heo trên thị trường khá ổn định, giá cả ít biến động nên đã đẩy số lượng đàn heo tăng lên năm 2013 Trong đó, tổng đàn heo xã Đại Thành và

xã Tân Thành tính đến tháng 8 năm 2014 khoảng 2.231 con, cụ thể đàn heo ở

xã Tân Thành như sau:

Trang 34

Bảng 3.3: Tình hình đàn heo ở xã Tân Thành tính đến tháng 8 năm 2014

Đơn vị tính: con

(hộ)

Số con Tổng Cái SS Thịt

so với Tân Thành cả về số hộ nuôi lẫn số lượng heo Cụ thể như sau:

Bảng 3.4: Tình hình đàn heo ở xã Đại Thành tính đến tháng 8 năm 2014

Trang 35

Tổng đàn heo xã Đại Thành tại tháng 8 năm 2014 chiếm 48,37% tổng đàn heo (3.219 con) của toàn thị xã Ngã Bảy, với 153 hộ chăn nuôi 1.557 con Trong đó, Ấp Sơn Phú nuôi nhiều nhất trong xã, với số lượng 458 con của 28

hộ nuôi, chiếm tỷ lệ 29,4% trong tổng số đàn heo của xã trong đó, số heo thịt

là 388 con, số heo cái sinh sản là 70

3.2.2 Tình hình sử dụng biogas

Tình hình sử dụng biogas của tỉnh Hậu Giang nói chung và thị xã Ngã Bảy nói riêng được phổ biến và hỗ trợ của ban quản lý dự án khí sinh học Trung ương và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Việc sử dụng biogas đã đem lại nhiều lợi ích về môi trường, về năng lượng, về nông nghiệp cho người dân trong thị xã Sử dụng biogas đã góp phần nâng cao nhận thức tình trạng ô nhiễm môi trường của toàn thị xã và mỗi người dân Dự án khí sinh học được phổ biến rộng rãi trong thị xã Ngã Bảy, cụ thể đến hết năm

2013 toàn tỉnh đã có hàng trăm hộ sử dụng biogas, trong đó có 70/85 hộ xây dựng hầm ủ được hỗ trợ kinh phí thuộc chương trình “Dự án khí sinh học” được hỗ trợ bởi chính phủ Trong đó, xã Đại Thành xây dựng được 6 hầm ủ trong dự án và 15 túi ủ do người dân tự lắp đặt Các hộ còn lại không chọn cách xử lý chất thải chăn nuôi bằng khí sinh học chủ yếu xả trực tiếp chất thải chăn nuôi xuống kênh rạch hoặc ao, mương nuôi cá tại vườn Được biết phần lớn người dân ở thị xã Ngã Bảy nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung sử dụng dạng túi ủ Nguyên nhân là do chi phí cho việc lắp đặt một túi

ủ biogas rẻ hơn so với xây dựng hầm ủ, chỉ khoảng 1 đến 2,5 triệu đồng cho một túi ủ biogas và có thể sử dụng trong 2 đến 3 năm nếu trong điều kiện bảo trì tốt (Tạ Hồng Ngọc, 2011)

Theo kết quả điều tra nghiên cứu năm 2013, ở tỉnh Hậu Giang có đến 75% hầm ủ EQ1 và EQ2 được tài trợ bởi chính phủ Lúcxămbua, và có đến 91,7% người dân nhận được hỗ trợ từ dự án xây dựng hầm ủ biogas Trước đó khi chưa áp dụng công nghệ biogas thì có khoảng 25% số hộ ở tỉnh Hậu Giang thải trực tiếp chất thải chăn nuôi vào kênh rạch Điều đáng quan tâm là hiện nay còn đến 29,2% trong số hộ khảo sát đang sử dụng nguồn nước mặt từ hệ thống kênh rạch xung quanh cho sinh hoạt hàng ngày Như vậy, khi xây dựng hầm ủ biogas người dân đã góp phần bảo vệ môi trường nước tại khu vực mình sinh sống (Nguyễn Võ Châu Ngân và cộng sự, 2013)

Công tác tuyên truyền cũng được quan tâm sâu sắc ở thị xã, cụ thể tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng đài phát thanh, phát hành các tờ gấp về công nghệ khí sinh học, tổ chức 4 buổi hội thảo tuyên truyền cho hộ dân trên địa bàn vê khí sinh học thu hút 80 người tham gia Trong năm qua (2013) thị xã Ngã Bảy nói riêng và tỉnh Hậu Giang nói chung

đã tổ chức mở 4 lớp tập huấn thu hút 80 người tham gia tập huấn sử dụng biogas Ngoài ra, địa bàn thị xã còn mở rộng ứng dụng khí sinh học toàn diện với 3 công trình có sử dụng phụ phẩm khí sinh học để nuôi cá

Tuy nhiên, do giá heo trên thị trường thấp, tình hình dịch bệnh heo tai xanh diễn biến phức tạp nên tình hình chăn nuôi trong thị xã cũng giảm làm giảm số lượng đàn heo, ảnh hưởng đến quyết định sử dụng biogas của người

Trang 36

dân Mặt khác, giá vật liệu tăng cao, nhiều hộ thiếu vốn đầu tư vào hầm ủ, thời tiết mưa lũ kéo dài gây khó khăn trong quá trình xây dựng, bảo trì bảo dưỡng Đối với những hộ tham gia dự án được hỗ trợ kinh phí thì bị ảnh hưởng bởi tiền trợ giá thấp do trượt giá không còn phù hợp với thời điểm hiện tại vì vậy việc khuyến khích người dân tham gia cũng gặp khó khăn

Trang 37

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIOGAS CỦA NGƯỜI DÂN Ở THỊ XÃ NGÃ BẢY,

TỈNH HẬU GIANG

4.1 MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1.1 Thông tin đáp viên

Đề tài đã phỏng vấn 66 nông hộ có hoạt động chăn nuôi heo và không áp dụng biogas trên địa bàn thị xã Ngã Bảy, thông tin chung về đáp viên được thống kê như sau:

Nguồn: Số liệu điều tra, 2014

Hình 4.1 Mô tả giới tính đáp viên Theo kết quả mô tả, có hơn 50% đáp viên là nữ (63,7%), còn lại là đáp viên nam chiếm tỷ lệ 36,4% Đa phần ở nông thôn Việt Nam, nữ giới là người trực tiếp tham gia vào hoạt động chăn nuôi của gia đình Do đó, họ nắm rõ thực trạng đàn heo nên đã tạo được thuận lợi cho quá trình phỏng vấn đáp viên, những thông tin thu thập được từ nông hộ có độ tin cậy cao

Bảng 4.1: Mô tả thông tin tuổi và trình độ học vấn của đáp viên

Thông tin Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Độ lệch chuẩn

Nguồn: số liệu điều tra, 2014

Tuổi: của đáp viên khá cao, trung bình 45 tuổi Điều đó cho thấy rằng

đáp viên có thể là chủ hộ (đối với nam) hoặc là lao động chính tham gia chăn nuôi heo trong gia đình Có thể nhận định rằng ở độ tuổi này, con người sẽ có suy nghĩ chính chắn, tích lũy nhiều kinh nghiệm sống nên cũng góp phần tạo điều kiện thuận tiện trong việc trao đổi thông tin

Số năm đi học: thể hiện trình độ học vấn của đáp viên, có đáp viên trình

độ đại học nhưng cũng có đáp viên không đi học Tuy nhiên, đáp viên không

đi học không có nghĩa là mù chữ Phần lớn đáp viên có trình độ tiểu học và trung học cơ sở (với số năm đi học trung bình 5,62 năm) Với mức trình độ này đáp viên có thể tiếp thu được thông tin dễ dàng, do đó việc phỏng vấn cũng không gặp nhiều khó khăn

Nam 36%

Nữ 64%

Trang 38

Nhìn chung, các đáp viên đa phần là nữ và là những người trực tiếp tham

gia chăn nuôi heo, tuổi đáp viên cũng khá cao và trình độ học vấn chủ yếu ở bậc tiểu học và trung học cơ sở

4.1.2 Thông tin nông hộ

4.1.2.1 Thông tin nhân khẩu

Bảng 4.2: Mô tả thông tin nông hộ chăn nuôi heo ở thị xã Ngã Bảy

lao động nuôi heo Người 1,00 4,00 1,77 0,69

Nguồn: số liệu điều tra, 2014

Số thành viên: Tổng số thành viên trong gia đình đáp viên dao động từ 2

đến 8 người, trung bình mỗi nông hộ có 3,8 người Điều này có thể thấy không riêng gì ở thị xã Ngã Bảy, những gia đình thời hiện đại con cái tự lập, không sống chung với cha mẹ sau khi kết hôn hoặc đi làm xa, nên đa phần mỗi hộ gia đình chỉ gồm 2 thế hệ Tuy nhiên, cũng có một số ít gia đình còn giữ nét truyền thống sống chung nhiều thế hệ và do đó số nhân khẩu ở các hộ gia đình

có sự chênh lệch nhau

Thu nhập: Do thuộc địa phận nông thôn nên thu nhập của các hộ dân ở

xã Đại Thành và Tân Thành còn thấp, trung bình mỗi hộ thu nhập 5,9 triệu đồng/tháng, hộ có thu nhập thấp nhất là 1 triệu đồng/tháng và cao nhất là 50 triệu đồng/tháng Có sự chênh lệch lớn về thu nhập là do thứ nhất: mỗi hộ gia đình có số nhân khẩu khác nhau, thu nhập được tính bằng tổng thu nhập của các thành viên trong gia đình vì thế gia đình có nhiều thành viên sẽ có thu nhập lớn hơn; thứ hai: người dân ở xã Đại Thành và Tân Thành lấy chăn nuôi

là hoạt động sinh kế chính, và mỗi nông hộ có số lượng gia súc gia cầm khác nhau nên thu nhập mang lại cũng khác nhau; ngoài ra, các hộ gia đình còn tham gia nhiều hoạt động sản xuất khác và mang lại nhiều nguồn thu Như vậy, nếu kết hợp với số người trung bình trong một hộ thì thu nhập bình quân trên đầu người sẽ là 1,5 triệu/người/tháng Con số này nhìn chung là rất thấp

so với mức bình quân thu nhập trên đầu người ở Việt Nam

Số lao động tham gia chăn nuôi heo: từ 1 đến 4 người tham gia vào hoạt

động chăn nuôi heo trong một nông hộ, như vậy trung bình sẽ có 1,7 người là lao động chính trực tiếp chăm sóc đàn heo So với số thành viên trung bình trong 1 hộ là 3,8 người thì ta thấy ngoài hoạt động chăn nuôi heo, các thành viên còn lại trong gia đình còn tham gia hoạt động sản xuất khác như trồng trọt, phi nông nghiệp,…

Trang 39

Số năm chăn nuôi heo: số năm chăn nuôi heo của nông hộ dao động từ 1

năm (tức những hộ mới bắt đầu nuôi heo) và đến 34 năm Thời gian chăn nuôi heo phản ánh kinh nghiệm của nông hộ, như vậy trung bình mỗi hộ có 9,82 năm gắn bó với hoạt động chăn nuôi heo Con số cho thấy người dân tích lũy nhiều kiến thức theo thời gian, am hiểu nhiều về đặc tính đàn heo, đây là điều kiện thuận lợi cho việc phỏng vấn vì những thông tin hữu ích được đáp viên chia sẻ nhiều hơn

Tóm lại, số nhân khẩu trong các nông hộ được phỏng vấn là không lớn,

mức thu nhập bình quân trên người còn thấp, tuy nhiên mức độ chệnh lệch giữa thu nhập là rất lớn Số lao động tham gia chăm sóc đàn heo trong gia đình còn ít và kinh nghiệm chăn nuôi heo của người dân ở mức khá cao

4.1.2.1 Thông tin chất đốt sử dụng của nông hộ

Các nông hộ được phỏng vấn ở thị xã Ngã Bảy chỉ sử dụng nhiên liệu đun nấu là những chất đốt truyền thống như củi, than và gas công nghiệp Do đặc điểm nhân khẩu và kinh tế gia đình nên có những hộ chỉ sử dụng duy nhất

1 loại chất đốt Trong khi đó, những hộ khác sử dụng kết hợp 2 hoặc cả 3 loại trong đun nấu hàng ngày

Nguồn: Số liệu điều tra, 2014

Hình 4.2 Tỷ lệ hộ dân sử dụng từng loại chất đốt ở thị xã Ngã Bảy Với những hộ thu nhập thấp và hoạt đồng thuần nông sẽ sử dụng củi để đun nấu trong gia đình (chiếm 27,27%) Những hộ có thành phần gia đình là công nhân viên và số thành viên ít sẽ chọn sử dụng gas công nghiệp để tiết kiệm thời gian và thuận tiện hơn trong đun nấu (6,06%), còn lại những hộ sử dụng than do nhu cầu đun nấu cao, nhiên liệu này không chỉ được dùng để đun nấu thức ăn cho gia đình mà còn dùng nấu rượu hay thức ăn cho heo (1,52%)

Có không ít những hộ sử dụng kết hợp 2 loại chất đốt như củi và gas công nghiệp, than và củi nhằm linh hoạt hơn trong việc sử dụng và tiết kiệm chi phí Chỉ 1,52% nông hộ sử dụng cả 3 loại chất đốt, đó là hộ có số thành viên đông, hoạt động nấu rượu và chăn nuôi heo với số lượng lớn

Theo đó, chi phí mỗi hộ bỏ ra hàng tháng cho nhiên liệu truyền thống bao gồm củi, gas và than được thống kê như sau:

Gas công nghiệp (n=4)

than (n=1)

Củi và gas (n=34)

Gas và than (n=5)

Củi và than (n=3)

Cả 3 (n=1)

Ngày đăng: 13/11/2015, 11:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Bản đồ vị trí thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 3.1 Bản đồ vị trí thị xã Ngã Bảy (Trang 28)
Bảng 3.1: Các đơn vị hành chính thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Bảng 3.1 Các đơn vị hành chính thị xã Ngã Bảy (Trang 29)
Hình 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp thị xã Ngã Bảy năm 2013 - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp thị xã Ngã Bảy năm 2013 (Trang 30)
Bảng 3.3: Tình hình đàn heo ở xã Tân Thành tính đến tháng 8 năm 2014 - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Bảng 3.3 Tình hình đàn heo ở xã Tân Thành tính đến tháng 8 năm 2014 (Trang 34)
Hình 4.2 Tỷ lệ hộ dân sử dụng từng loại chất đốt ở thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 4.2 Tỷ lệ hộ dân sử dụng từng loại chất đốt ở thị xã Ngã Bảy (Trang 39)
Bảng 4.3: Chi phí chất đốt hàng tháng của nông hộ thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Bảng 4.3 Chi phí chất đốt hàng tháng của nông hộ thị xã Ngã Bảy (Trang 40)
Hình 4.3 Tỷ lệ các loại heo được nuôi ở thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 4.3 Tỷ lệ các loại heo được nuôi ở thị xã Ngã Bảy (Trang 41)
Bảng 4.4 Đặc điểm đàn heo ở thị xã Ngã Bảy tháng 9 năm 2014 - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Bảng 4.4 Đặc điểm đàn heo ở thị xã Ngã Bảy tháng 9 năm 2014 (Trang 42)
Bảng 4.5: Chi phí nuôi 1 lứa heo thịt của người dân thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Bảng 4.5 Chi phí nuôi 1 lứa heo thịt của người dân thị xã Ngã Bảy (Trang 43)
Hình 4.4 Cách xử lý chất thải chăn nuôi của nông hộ thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 4.4 Cách xử lý chất thải chăn nuôi của nông hộ thị xã Ngã Bảy (Trang 47)
Hình 4.6 Nguồn thông tin biogas ở thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 4.6 Nguồn thông tin biogas ở thị xã Ngã Bảy (Trang 50)
Hình 4.8 Lý do không áp dụng biogas của người dân ở thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 4.8 Lý do không áp dụng biogas của người dân ở thị xã Ngã Bảy (Trang 52)
Hình 4.11 Mục đích chấp nhận sử dụng biogas của người dân thị xã Ngã Bảy - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 4.11 Mục đích chấp nhận sử dụng biogas của người dân thị xã Ngã Bảy (Trang 55)
Bảng 4.11: Mô tả các biến định lượng - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Bảng 4.11 Mô tả các biến định lượng (Trang 58)
Hình 1  Lý do chọn cách xử lý chất thải chăn nuôi heo của nông hộ thị xã - phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biogas của người dân thị xã ngã bảy, tỉnh hậu giang
Hình 1 Lý do chọn cách xử lý chất thải chăn nuôi heo của nông hộ thị xã (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w