1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang

74 739 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 885,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANHNGUYỄN NGỌC KHUYẾN PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN SỬ DỤNG CỦI TRẤU ÉP CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI XÃ MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN NGỌC KHUYẾN

PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN

SỬ DỤNG CỦI TRẤU ÉP CỦA CÁC CƠ SỞ

SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI XÃ

MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN CHỢ MỚI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN NGỌC KHUYẾN

PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN

SỬ DỤNG CỦI TRẤU ÉP CỦA CÁC CƠ SỞ

SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI XÃ

MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN CHỢ MỚI

08 – 2014

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Trong quá trình học tập tại trường Đại học Cần Thơ, em đã được quý Thầy, Cô truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích, nhất là những kiến thức chuyên ngành để làm hành trang bước vào cuộc sống sau này Em xin chân thành cảm

ơn sự chỉ dạy tận tình của quý Thầy, Cô

Con xin cảm ơn Ba, Mẹ đã động viên và ủng hộ để con có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn Cô Ngô Thị Thanh Trúc đã hướng dẫn tận tình để em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp!

Cảm ơn sự hỗ trợ và động viên của các bạn cùng lớp trong quá trình thực hiện đề tài!

Chân thành cảm ơn Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh An Giang đã giúp đỡ trong thời gian thực hiện đề tài

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ sở sản xuất gạch nung trên địa bàn xã

Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã nhiệt tình cung cấp thông tin

để tôi hoàn thành bài nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Người thực hiện

Nguyễn Ngọc Khuyến

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Người thực hiện

Nguyễn Ngọc Khuyến

Trang 5

TRANG NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm tạ i

Trang cam kết .ii

Trang nhận xét của cơ quan thực tập iii

Trang nhận xét của giáo viên hướng dẫn iv

Chương1: GIỚI THIỆU ……….………… … 1

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Không gian 2

1.3.2 Thời gian 3

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Nguồn gốc của vỏ trấu 4

2.1.2 Khái niệm 4

2.1.3 Hiện trạng của vỏ trấu 4

2.1.4 Qui trình sản xuất củi trấu 5

2.1.5 Phân loại và đặc điểm của các loại củi trấu ép 6

2.1.6 Một số nghiên cứu ứng dụng của củi trấu 8

2.1.7 Hiệu quả của củi trấu 10

2.1.8 Hiện trạng lò gạch 12

2.1.9 Phân loại các kiểu lò gạch 12

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 16

Trang 7

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 16

2.2.2.1 Số liệu thứ cấp 16

2.2.2.2 Số liệu sơ cấp 16

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 16

Chương 3: KHÁI QUẤT VỀ XÃ MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG 17

3.1 Vị trí địa lý xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 17

3.2 Kinh tế xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 18

3.2.1 Nông nghiệp xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 18 3.2.2 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 19

3.2.3 Tài chính ngân sách xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, 20

3.3 Văn hóa xã hội xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 21

3.3.1 Văn hóa thông tin xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 21

3.3.2 Giáo dục xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 21

3.3 Y tế xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 22

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN SỬ DỤNG CỦI TRẤU ÉP CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT GẠCH NUNG TẠI XÃ MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG 23

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 23

4.2 Thông tin về tình hình sản xuất lò gạch nung của các cơ sở lò gạch tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 29

4.2.1 Tình hình hoạt động của các cơ sở sản xuất gạch nung trên địa bàn xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 29

4.2.2 Tình hình thực hiện quyết định 266/QĐ – UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt đề án sắp xếp và khắc phục ô nhiễm môi trường các cơ sở sản xuất gạch nung trên địa bàn tỉnh An Giang 30

4.2.3 Đánh giá chung về các loại hình sản xuất gạch nung trên địa bàn xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 30

Trang 8

4.3 Khảo sát tình hình sử dụng nhiên liệu đốt và thông tin sử dụng sản phẩm củi trấu ép của các cơ sở lò gạch tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang 31

4.3.1 Đối tượng có sử dụng sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 33

4.3.2 Đối tượng chưa có sử dụng sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 40

4.4 Phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao mức độ chấp nhận sử dụng của các cơ sở lò gạch ………42

4.4.1 Phân tích mức độ chấp nhận sử dụng sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 42

4.4.2 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao mức độ chấp nhận sử dụng sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 44

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Kiến nghị 50

5.2.1 Đối với ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 50

5.2.2 Đối với các sở ban ngành có chức năng 52

5.2.3 Đối với các cơ sở lò gạch 52

5.2.4 Đối với cơ sở sản xuất sản phẩm củi trấu ép 53

Tài liệu tham khảo 54

Phụ lục 57

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Thông tin về các đáp viên tại các cơ sở sản xuất gạch nung ở

xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 23 Bảng 4.2 Thông tin trong hoạt động sản xuất tại các cơ sở sản xuất

gạch nung ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 25 Bảng 4.3 Loại gạch nung đƣợc sản xuất gạch nung ở xã Mỹ Hội Đông,

huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 27 Bảng 4.4 Khoảng cách giữa 2 đợt sản xuất của các cơ sở sản xuất gạch

nung ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 29 Bảng 4.5 Mức giá của nhiên liệu củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông,

huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 34 Bảng 4.6 Ƣu điểm của sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông,

huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 36 Bảng 4.7 Vấn để trở ngại còn tồn tại đối với sản phẩm củi trấu ép tại

xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 38 Bảng 4.8 Giá nhiên liệu trấu thô tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới,

tỉnh An Giang 40 Bảng 4.9 Nguyên nhân các cơ sở gạch nung chƣa sử dụng sản phẩm

củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 41 Bảng 4.10 Mức độ quan tâm của các cơ sở sản xuất gạch nung đối với

sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An

Giang 42 Bảng 4.11 Các vấn đề cần hoàn thiện của sản phẩm củi trấu ép tại xã

Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 44 Bảng 4.12 Các vấn đề và giải pháp nhằm nâng cao mức độ chấp nhận

sử dụng đối với sản phẩm củi trấu ép 45

Trang 10

Bảng 4.13 Những biện pháp để các cơ sở lò gạch chấp nhận sử dụng

sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An

Giang .49

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 2.1 Sơ đồ sản xuất củi trấu ép tại Quận 7, thành phố Hồ Chí

Minh 6

Hình 2.2 Củi cây (củi thanh) 6

Hình 2.3 Củi đập (củi băm) 7

Hình 2.4 Củi viên 8

Hình 2.5 Củi 6cm 8

Hình 3.6 Bảng đồ hành chính xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2014 17

Hình 4.7 Trình độ học vấn của các đáp viên tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 24

Hình 4.8 Thông tin chức vụ của các đáp viên tại các cơ sở sản xuất gạch nung ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 25

Hình 4.9 Kiểu lò gạch nung lò tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 26

Hình 4.10 Công suất các lò tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 27

Hình 4.11 Tình hình sử dụng nhiên liệu đốt của các lò gạch tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 31

Hình 4.12 Nguồn tiếp cận thông tin sản phẩm của các cơ sở lò gạch tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 33

Hình 4.13 Tình hình sử dụng củi trấu ép tại các cơ sở lò gạch tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 35

Hình 4.14 Mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép với giá 800 đồng – 1000 đồng của các cơ sở lò gạch đã có sử dụng sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 39

Hình 4.15 Mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép với giá 800 đồng – 1000 đồng của các cơ sở lò gạch chƣa sử dụng sản phẩm củi trấu ép tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 41

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nông nghiệp là một lợi thế to lớn của nước ta, đặc biệt là đối với đất đai phì nhiêu và màu mỡ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng canh tác lúa lớn nhất nước ta hiện nay, mỗi năm lượng lúa sản xuất và xuất khẩu hàng triệu tấn Bên cạnh mức tăng trưởng sản xuất lúa vẫn còn đọng lại vấn đề về các bãi chứa, đầu ra cho các phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch, cụ thể là vỏ trấu Đó là vấn đề nan giải vì lượng trấu thải ra là rất lớn nhưng việc tận dụng phế phẩm này là rất ít Mặc dù công dụng của trấu đã được chứng minh là có thể dùng trong sản xuất điện, ủ men phân sinh học, phụ gia sản xuất xi măng…

Riêng các nhà máy xay lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long, một phần trấu chủ yếu được bán làm chất đốt, thức ăn chăn nuôi, lượng trấu dư thừa còn lại thì đổ thẳng xuống sông, kênh rạch gây ô nhiễm nặng nề Ngoài ra các lò sấy,

lò nung sử dụng chất đốt là trấu, do đó thải ra lượng lớn khí thải gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Đây chính là một trong những nguồn thải gây ô nhiễm môi trường đang được công chúng và các nhà quản lý môi trường quan tâm tìm cách xử lý Chính vì thế mà cần có những phương pháp những nghiên cứu khả thi và hiệu quả để tận dụng nguồn phế thải nông nghiệp dồi dào hiện nay

Nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do khí thải từ các lò sấy,

lò nung, các nhà khoa học đã nghiên cứu và áp dụng sản xuất củi trấu ép đưa vào thực nghiệm nhằm giảm bớt lượng khí thải độc hại vào không khí Xét về lâu dài, với việc sản xuất thành công củi trấu có thể sử dụng nhiệt lượng của

nó để sản xuất điện năng, làm vật liệu xây dựng, sản xuất ôxit silic, nhờ khả năng đốt cháy mạnh và giá thành rẻ (Tái chế vật liệu vỏ trấu thành năng lượng tái sinh, 2012) Mô hình sản xuất củi trấu mang lại những lợi ích kinh tế cao

và tính thực tế rất khả thi Củi trấu sẽ giúp giảm lượng trấu phế phẩm, giải quyết việc làm, góp phần bảo vệ môi trường Chính những ưu điểm của mô hình này mà nhiều doanh nghiệp áp dụng sản xuât củi trấu ép Nhưng do mô hình còn mới và chưa cải thiện được chi phí sản xuất nên kỹ thuật và công nghệ còn hạn chế, sản xuất mang tính vừa và nhỏ, sản lượng còn thấp và giá

cả chưa hợp lý

Huyện Chợ Mới là một trong những khu vực có dân số đông nhất của tỉnh

An Giang, được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao, có hai cù

Trang 14

dào, đồng thời có số lượng các cơ sở gạch nung tại đây khá lớn đặc biệt là xã

Mỹ Hội Đông một xã có truyền thống làm nghề lò gạch lâu năm với số lượng

lò gạch cao nhất huyện Chợ Mới Hằng ngày, lượng khí thải độc hại thải vào môi trường từ khu vực này rất nhiều, gây ô nhiễm trầm trọng Việc đưa củi trấu ép vào sử dụng nhằm hạn chế khí thải gây ô nhiễm tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vẫn đang là một vấn đề cần được quan tâm Cho đến nay vẫn chưa có các bài báo hay nghiên cứu về mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Xuất phát từ thực tiễn trên đã đưa ra yêu cầu thực hiện đề tài: “Phân tích

mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại

xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” nhằm phân tích mức độ

chấp nhận sử dụng củi trấu ép và các yêu cầu đặt ra đối với sản phẩm củi trấu

ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Từ đó đề xuất những biện pháp nhằm tăng mức độ chấp nhận

sử dụng củi trấu ép nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và mang hiệu quả kinh tế cao

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nhằm nâng cao mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của lò gạch nung

- Phân tích, thu thập các yêu cầu đặt ra đối với củi trấu ép

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép tại các cơ sở sản xuất gạch nung ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Không gian

Đề tài được khảo sát tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Trang 15

1.3.2 Thời gian

- Số liệu thứ cấp đƣợc thu thập trong thời gian từ năm 2009 – 2013

- Số liệu sơ cấp đƣợc thu thập trong thời gian từ tháng 9/2013 đến tháng 9/2014

- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014

- Thời gian thu thập số liệu sơ cấp 9/2014 đến tháng 10/2014

1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đề tài tập trung phân tích về mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Nguồn gốc của vỏ trấu

Lúa (Oryza spp.) là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với ngô (Zea Mays L.), lúa mì (Triticum sp tên khác: tiểu mạch), sắn (Manihot esculenta Crantz, tên khác khoai mì) và khoai tây (Solanum tuberosum L.) Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc Sau khi xát

bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính làgạo và các phụ phẩm

là cám và trấu (Vũ Thị Bách, 2010)

2.1.2 Khái niệm

Trấu là lớp vỏ ngoài cùng của hạt lúa và được tách ra trong quá trình xay xát Trong vỏ trấu chứa khoảng 75% chất hữu cơ dễ bay hơi sẽ cháy trong quá trình đốt và khoảng 25% còn lại chuyển thành tro Chất hữu cơ chứa chủ yếu cellulose, lignin và Hemi - cellulose (90%), ngoài ra có thêm thành phần khác như hợp chất nitơ và vô cơ Lignin chiếm khoảng 25-30% và cellulose chiếm

khoảng 35-40% (Vũ Thị Bách, 2010)

2.1.3 Hiện trạng vỏ trấu

Vỏ trấu có rất nhiều tại Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng, 2 vùng trồng lúa lớn nhất cả nước Chúng thường không được sử dụng hết nên phải đem đốt hoặc đổ xuống sông suối để tiêu hủy Theo khảo sát, lượng vỏ trấu thải ra tại Đồng bằng sông Cửu Long khoảng hơn 3 triệu tấn/năm, nhưng chỉ khoảng 10% trong số đó được sử dụng (Vũ Thị Bách, 2010)

Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, các nhà máy xay xát đổ trấu trực tiếp ra sông, kênh rạch Trấu trôi nổi trên mặt sông, một số khác thì chìm xuống đáy gây tắc nghẽn, ô nhiễm dòng chảy Nhiều người dân ở một số huyện vùng sâu thuộc Thành phố Cần Thơ và tỉnh An Giang bức xúc trước tình trạng một lượng lớn vỏ trấu trôi khắp mặt sông, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt Đi dọc một số bờ sông ở quận Ô Môn, huyện Thới Lai, huyện Cờ Đỏ của Thành phố Cần Thơ như sông Thị Đội, sông Ngang sẽ thấy rất nhiều vỏ trấu trôi trên mặt sông Bờ sông ngập một màu vàng của vỏ trấu Nước sông ở những đoạn này vốn đã ô nhiễm, giờ quyện với mùi vỏ trấu phân hủy tạo nên một “hương vị” rất khó chịu (Huỳnh Hải, 2009)

Trang 17

Ở huyện đầu nguồn Tân Châu (An Giang), nạn trấu trôi sông đã làm nhiều người dân mất ăn mất ngủ Người thì nhiễm bệnh ngoài da, đau mắt, còn

cá nuôi bè cứ nối đuôi nhau chết hết bè này đến bè khác Hàng ngày bà con có nhà ở quanh nhà máy xay lúa gạo Thái Trung chỉ hít bụi bặm đã no bụng" (Hưng Phú và Lê Hoàng Vũ, 2009)

Không riêng gì địa bàn xã Vọng Đông mà dọc theo tuyến kênh Ba Thê Mới, từ xã Thoại Giang vào thị trấn Óc Eo (Thoại Sơn), hàng loạt nhà máy xay xát lớn vẫn đang hoạt động ầm ầm và dưới lòng kênh cũng tràn ngập trấu Một người dân ở xã Thoại Giang cho biết, vào thời điểm này, hầu hết các nhà máy đều cho người dân tự do lấy trấu về sử dụng hoặc các ghe buôn đến lấy trấu chở đi bán Tuy nhiên, do lượng trấu quá nhiều nên vẫn không giải quyết hết Theo Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Thoại Sơn, trên địa bàn huyện có khoảng 20 nhà máy xay xát quy mô lớn, ước tính lượng trấu thải ra mỗi năm trên 400.000 tấn Ngoài một lượng ít trấu được sử dụng làm nhiên liệu đốt cho các lò gạch, lò sấy lúa, lò đốt trấu ở các hộ gia đình… thì số trấu còn lại vẫn chưa có hướng xử lý triệt để Thế nhưng, tình trạng này vẫn sẽ còn tiếp diễn nếu không tìm ra giải pháp căn cơ (Ngô Văn, 2010)

2.1.4 Qui trình sản xuất củi trấu

Trấu được ghe chở từ các nhà máy xay xát về nơi sản xuất củi trấu, tại đây sử dụng ống của máy hút được kéo xuống ghe hút trấu vào kho chứa Trong kho sản xuất, vỏ trấu được xử lý loại bỏ các tạp chất, máy ép trấu

sẻ tự động hút trấu từ kho vào máy để ép thành củi trấu bộ phận sấy tự động của máy sẽ làm giảm độ ẩm xuống còn dưới 12%, Củi trấu được làm ra bởi một chiếc máy ép chạy bằng điện ba pha Trấu đổ vào phễu hứng phía trên, máy sẽ ép và đùn ra phía dưới những thanh củi tròn dài đến 1 mét Thanh củi

có đường kính 7,5 cm, hình vành khuyên với lỗ tròn ở giữa để dễ cháy, sau đó được cắt ra thành từng thanh dài 20 cm Cứ 1,05 kg trấu, sẽ cho ra 1 kg củi trấu thành phẩm Năng suất của loại máy ép này có thể đạt được 150 - 200 kg/giờ Do trong bản thân phế phẩm nông nghiệp này đã có chứa sẵn chất kết dính (gọi là lignin) nên khi ép, tác dụng của nhiệt ma sát và nhiệt từ khuôn ép

đã giúp tạo nên một chất kết dính chắc chắn Do vậy, củi trấu này còn chắc hơn cả gỗ củi dùng thông thường khác Sau đó các thanh củi được sắp xếp để nguội rồi kiểm tra, phân loại ra loại thanh và loại viên, cân và đóng gói bao bì

lại thành phẩm (Võ Thanh Tuấn, 2013)

Trang 18

Hình 2.1: Sơ đồ sản xuất củi trấu ép tại Quận 7,

Thành Phố Hồ Chí Minh

Nguồn: Võ Thanh Tuấn (2013)

2.1.5 Phân loại và đặc điểm của các loại củi trấu ép

Theo Công ty cổ phần Năng Lƣợng Việt (2013) phân loại và mô tả đặc điểm của các dạng củi trấu ép nhƣ sau:

- Củi cây (củi thanh)

Hình 2.2: Củi cây (củi thanh)

Nguồn: Nangluongviet.vn

Vỏ trấu

Đùn ép Cắt

Làm nguội

Tiếp nhận Xử lý Kho nguyên liệu

Sấy trộn Sắp xếp

Phân loại

Thành phẩm Cân

Trang 19

+ Dạng thanh hình trụ, đường kính 8.5cm

+ Chiều dài thanh sản phẩm: > 20cm – 40cm

+ Hình Thức đóng gói: 30 – 35 kg/1bao

- Củi đập (củi băm)

Hình 2.3: Củi đập (củi băm)

Trang 20

2.1.6 Một số nghiên cứu ứng dụng của củi trấu

- Có nhiều nhà máy tận dụng nguồn trấu phế thải làm nhiên liệu nhƣ: Hệ thống sấy lúa công nghiệp do Công ty trách nhiệm hữu hạn Điện hơi công

Trang 21

nghiệp Tín Thành (Thành phố Hồ Chí Minh) đầu tư xây dựng ở xã Thoại Giang, Nhà máy điện trấu ở các huyện Thoại Sơn và Chợ Mới… hay các nhà máy sản xuất củi trấu theo mô hình của Long An, Thành phố Hồ Chí Minh… Bên cạnh đó, cũng cần tăng cường xử phạt các nhà máy xay xát cố tình xả trấu

ra sông gây ô nhiễm môi trường (Ngô Văn, 2010)

- Sử dụng nhiệt lượng của trấu sản xuất điện năng: Với khá năng đốt cháy mạnh và rẻ, có thể ứng dụng hơi nóng sinh ra khi đốt nóng không khí bằng trấu để làm quay tua bin phát điện Theo tính toán mỗi kg trấu có thể tạo được 0,125kW giờ điện và 4 kW giờ nhiệt, tùy theo công nghệ (Thăng Long, Báo Công nghiệp Việt Nam - số 35/2006) Ứng dụng này được áp dụng chế tạo máy phát điện loại nhỏ cho các khu vực vùng sâu vùng xa (Võ Thanh Tuấn, 2013)

- Sử dụng làm vật liệu xây dựng: Võ trấu nghiền mịn và có thể được trộn với các thành phần khác như mụn dừa, hạt xốp, xi măng, phụ gia và lưới sợi thuỷ tinh Trọng lượng của vật liệu nhẹ hơn gạch xây thông thường khoảng 50% và có tính cách âm, cách nhiệt và không thấm nước cao Đây là vật liệu thích hợp với các vùng như miền Tây, miền Trung bị ngập úng, lũ lụt và nền đất yếu Sau khi sử dụng có thể nghiền nát để tái chế lại Hiện nay đã có công

ty sản xuất thương mại loại vật liệu này ứng dụng vào thực tế (Võ Thanh Tuấn, 2013)

- Sử dụng tro trấu sản xuất ôxyt silic: Tro của trấu sau khi đốt cháy có hơn 80% là silic oxyt Ôxyt silic là chất được sự dụng khá nhiều trong nhiều lĩnh vực như xây dựng, thời trang, luyện thủy tinh….Vấn đề tận dụng ôxyt silic trong vỏ trấu hiện đang đưọc rất quan tâm, mục đích là thu được tối đa lượng silic với thời gian ngắn Hiện nay đã có công trình nghiên cứu về trích

ly ôxyt silic bằng NaOH thành công mang lại hiệu quả kinh tế cao (Võ Thanh Tuấn, 2013)

- Một số ứng dụng khác của vỏ trấu: Không dừng ở các ứng dụng trên,

vỏ trấu còn có thể dùng làm thiết bị lọc nước, thiết bị cách nhiệt, làm chất độn, giá thể trong công sản xuất meo giống, dùng đánh bóng các vật thể bằng kim loại, tro trấu có thể dùng làm phân bón (Võ Thanh Tuấn, 2013)

- Trấu có thể được ứng dụng rất đa dạng trong đời sống của con người Việt Nam Trấu có ưu thế rất lớn về nguồn nguyên liệu và giá thành nên việc nghiên cứu sử dụng trấu vào sản xuất luôn mang lại hiệu quả kinh tế cao và tiết kiệm chi phí Thực tế hiện nay một số tỉnh nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long lượng trấu vẫn còn rất dồi dào nên cần lưu ý tăng cường việc nghiên cứu

Trang 22

ứng dụng nguồn nguyên liệu này nhằm mở rộng khả năng sử dụng trấu vừa tiết kiệm chi phí sản xuất, vừa có lợi cho mô (Võ Thanh Tuấn, 2013)

- Ngoài ra, trấu còn được sử dụng làm sơn nano chống đạn Nguyên liệu chính để làm ra các loại sơn nano này là silicat nano từ vỏ trấu được tách ra, giá trị lớn gấp trăm lần so với trấu, được dùng cho nhiều lĩnh vực như sơn, chống thấm, mỹ phẩm, dược phẩm, vi tính…Loại sơn này được dùng cho các

áo chống đạn để tăng khả năng chống đạn lên nhiều lần và giúp giảm cân nặng cho áo Áo chống đạn sử dụng sơn nano từ trấu đã được thử nghiệm ở Campuchia với sự hỗ trợ của quân đội nước này Kết quả, viên đạn súng lục không xuyên qua 6 lớp vải khi có sơn chống đạn, ở cự ly 2 m, trong khi áo chống đạn bình thường có 20 - 40 lớp vải nên trọng lượng rất nặng Nguyễn Thị Hòe sẽ đưa sáng chế này đăng ký ở Mỹ và hy vọng sẽ nhận được giấy phép của Mỹ để có thể chuyển giao công nghệ cho các công ty sản xuất áo chống đạn trên thế giới Mặt khác, trong chương trình nghiên cứu của mình, bà còn tập trung vào vật liệu chống cháy với bề mặt chủ yếu là bê tông, gỗ, sắt thép Sản phẩm sơn chống cháy nano từ trấu bảo vệ các bề mặt bê tông, thép, gỗ trong tòa nhà dưới sức nóng lên đến 1.000 độ C của lửa trong vòng 2-6 tiếng Sơn kháng khuẩn được sự quan tâm của giới y khoa Loại sơn này được tích hợp công nghệ nano bạc và các hợp chất hữu cơ đặc biệt tạo ra khả năng diệt đến 99% vi khuẩn trên bề mặt sơn Khả năng diệt khuẩn của sản phẩm đã được chứng nhận tại Singapore và sản phẩm đang được bán tại nước này (Lê Thị Ngọc, 2013)

2.1.7 Hiệu quả của củi trấu

Theo công ty cổ phần phát triển công nghệ cao su (2012) đánh giá về hiệu quả của sản phẩm củi trấu ép như sau

- Giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính: Nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính là do hàm lượng các khí thải có trong môi trường cao bao gồm: CO2, CH4, CFC, SO2,… Hàm lượng SO2 và CO2 trong Củi Trấu < 0,02% do vậy giảm thiểu đáng kể lượng khí thải ra môi trường

- Chi phí thấp hơn so với nhiên liệu truyền thống: So với chi phí đốt lò hơi để vận hành máy móc bằng những nhiên liệu truyền thống như: Than đá, dầu mỏ thì khi đốt bằng củi trấu có thể tiết kiệm được khoảng 20 đến 30% do giá thành của Củi Trấu khoảng 1500đ/Kg

- Nguồn cung dồi dào và liên tục: Nước ta là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất nhì trên thế giới Hàng năm lượng vỏ trấu từ các nhà máy xay xát thải ra môi trường là rất lớn và liên tục qua các năm cho nên tận dụng

Trang 23

được nguồn cung cấp dồi dào và liên tục này thì đây là một nguồn tài nguyên của Quốc Gia

- Thân Thiện với môi trường: Là một loại sản phẩm mới và độc đáo trên thị trường, gắn liền với mỗi câu hát và lời ru Một dạng năng lượng xanh cho cuộc sống bền vững của chúng ta

- Khi đốt cháy hiệu quả cao và triệt để: Khi cháy củi trấu đạt khoảng 3900-4200Kcal/kg, tro củi trấu cháy và giữ nhiệt trong thời gian dài

- Dễ vận chuyển và Lưu trữ: Thể tích của củi trấu đạt khoảng 1300kg - 1350kg/1M3 chiếm bằng 15% so với trấu thô ban đầu chưa thành củi, như vậy vận chuyển cũng như lưu trữ là rất gọn gàng so với Trấu nguyên liệu Sau khi thành thanh củi nó rất chắc chúng ta có thể xếp cao hoặc chồng đống lên nhau rất tốt

- Giảm chi phí xử lý khí thải ra môi trường cho các nhà máy: Đối với những nhiên liệu truyền thống thì khí thải ra môi trường rất nhiều, các nhà máy xí nghiệp gần các khu dân cư thành thị họ phải lắp đặt các dụng cụ xử lý trước khi thải ra môi trường nên chi phí cho sản xuất là cao Khi đốt cháy Củi Trấu chúng ta ngửi thấy thoang thoảng hương thơm của mùi lúa mới đặc biệt không gây ô nhiễm môi trường vì hàm lượng các chất gây độc hại là rất ít nên chi phí xử lý khí thải là không cao

- Tăng tuổi thọ thiết bị lò hơi: Lưu huỳnh tồn tại trong nhiên liệu đốt lò dưới nhiều dạng khác nhau, thông thường là dưới dạng các hợp chất sulfua, disulfua hay dưới dạng di vòng Khi bị đốt cháy lưu huỳnh sẽ chuyển thành

SO2, khí này cùng với khói thải sẽ được thoát ra ngoài, trong thời gian này chúng có thể tiếp xác với oxy để chuyển một phần thành khí SO3 Khi nhiệt độ của dòng khí thải xuống thấp thì các khí này sẽ kết hợp với hơi nước để tạo thành các axit tương ướng, đó chính là các axit vô cơ có độ ăn mòn các kim loại rất lớn Thực tế thì các axit sulfuaric sẽ gây ăn mòn ở nhiệt độ thấp hơn

100 ÷ 150oC, còn axit sulfuarơ chỉ gây ăn mòn ở nhiệt độ thấp hơn 40 ÷ 50oC

Do vậy hàm lượng lưu huỳnh càng ít thì tuổi sự ăn mòn sẽ chậm và tuổi thọ lò hơi sẽ cao

- Tro của củi trấu sau khi đốt được dung cải tạo đất rất tốt: Sau khi Củi Trấu cháy hết để lại phần tro chộn Tro Trấu với một số loại phân bón khác giúp cải tạo đất và là một hỗn hợp rất tốt cho cây trồng

- Xử lý ô nhiễm môi trường: Hàng năm có hàng triệu tấn trấu thải ra môi trường biến môi trường của chúng ta ô nhiễm đặc biệt trên các dòng sông vùng đồng bằng sông cửu long Nhờ có các nhà máy sản xuất củi trấu mà hàng năm

Trang 24

lượng trấu thải ra môi trường giảm một cách đáng kể và còn đem lại một nguồn thu lớn cho người sản xuất

2.1.8 Hiện trạng lò gạch ở An Giang

Theo Tầng Phú An (2010) cho biết gạch nung là vật liệu xây dựng

truyền thống chiếm vị trí quan trọng trong tám loại vật liệu xây dựng cơ bản (xi măng, vôi, gạch ngói, cát đá sỏi, tre gỗ, sành sứ, sắt thép và kính xây dựng) Theo số liệu điều tra sơ bộ của Hội Xây dựng Việt Nam: Năm 2000 sản lượng gạch nung khoảng 12 tỷ viên, năm 2007 sản lượng gạch là 22 tỷ viên

Dự kiến đến năm 2015 là 32 tỷ viên và đến năm 2020 sẽ tăng lên 42 tỷ viên

Hiện nay tỉnh An Giang có trên 600 cơ sở sản xuất gạch nung với hơn

1695 lò nung các loại trong đó có khoảng 1690 lò thủ công, hàng năm cung cấp cho thị trường khoảng 750 triệu viên gạch nung các loại Việc sản xuất gạch bằng lò nung thủ công (lò cổ điển) chiếm trên 80% sản lượng, đây là loại

lò tiêu hao nhiều nhiên liệu, sử dụng nhiều lao động và gây ô nhiễm môi trường, có đến 1.695 lò gạch sử dụng vỏ trấu từ các nhà máy xay xát lúa gạo làm nhiên liệu đốt Hiện nay với công nghệ thô sơ, hiệu suất thấp các lò gạch đang gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường xung quanh và hiện tại chính quyền tỉnh An Giang đang hợp tác với các tổ chức nước ngoài để có những hỗ trợ thay đổi sang lò gạch đốt trấu liên tục giảm thiểu khí thải ô nhiễm

Về công nghệ lò nung gạch hiện nay được phân loại:

Phân loại theo kiểu nung:

- Nung gián đoạn

- Nung bán liên tục

- Nung liên tục

Phân loại theo kiểu buống đốt:

- Nung gạch với buồng đốt di động

- Nung gạch với buồng đốt cố định

2.1.9 Phân loại các kiểu lò gạch nung

Theo Tầng Phú An (2010) phân loại các kiểu lò nung như sau:

- Kiểu lò nung Hoffman: do người Đức phát minh năm 1858 Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung liên tục với buồng đốt di động Lò này được

du nhập vào Việt Nam (miền Nam) vào thập niên 60 của thế kỷ 20 Năm 2008

và 2009 tại tỉnh An Giang (Chợ Mới) có một số chủ cơ sở đã triển khai xây dựng kiểu lò này nhung do quá trình xây dựng và chuyển giao không được

Trang 25

thực hiện một cách nghiêm túc nên đang gặp nhiều khó khăn trong vận hành

Lò Hoffman gồm 2 dãy, mỗi dãy có 11 khoang gạch với 12 cửa đốt (có thể có

số khoang và số cửa nhiều hơn) Có 2 phương pháp đốt cơ bản là đốt cửa hông

và đốt trên xuống, đồng thời có thể kết hợp cả 2 cách đốt lò này đã được cải tiến bởi nhiều tổ chức và cá nhân để chuyển từ việc đốt củi sang đốt phụ phẩm nông nghiệp (vỏ cà phê, vỏ hạt điều, vỏ đậu phộng, trấu) như hiện nay Lò Hoffman hiện đang được sử dụng rộng rãi tại Tây Ninh, Bình Thuận vả rãi rác một số tỉnh miền Đông Nam bộ Qua khảo sát tại Tây Ninh cho thấy nhu cầu nhiên liệu trấu đốt cho 1 kg gạch vào khoảng 150g (tiết kiệm trên 60% lượng trấu) lợi nhuận tăng cao với lò thủ công Ngoài ra, do sử dụng ít nhiên liệu và

sử dụng hiệu quả cao nguồn nhiệt, do đốt liên tục và tuần hoàn, nên giảm lượng khí ô nhiễm thải ra môi trường (giảm trên 70% so với lò thủ công) Đặc biệt, do sử dụng nhiệt triệt để, khói thải tập trung tại một ống khói cao từ 11-15m, chủ động đẩy khói bằng mô tơ quạt, nên dễ xử lý ô nhiễm môi trường

+ Chi phí đầu tư: khoảng 1 tỉ đồng/lò công suất 1.000.000 viên/tháng (sản lượng tương đương 10 lò thủ công)

+ Ưu điểm: dễ vận hành, sử dụng được nhiều loại nhiên liệu khác nhau như than đá, củi, gas, dầu, phụ phẩm nông nghiệp Gây ô nhiễm môi trường trung bình, dễ xử lý môi trường chất lượng gạch sau nung khá đồng đều, tỉ lệ gạch ống đạt mác 50 trên 85%

+ Nhược điểm: cần diện tích mặt bằng lớn; chí phí đầu tư ban đầu lớn;

tỉ lệ hao hụt cao khi phải dựng lò không chủ động

- Kiểu lò Tuynel (lò đường hầm): do người Đức phát minh năm 1877 Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung liên tục với buồng đốt cố định Lò này được du nhập vào miền Bắc Việt Nam khoảng thập niên 70 của thế kỷ 20, Đây là dạng lò nung dạng ống trụ hình chữ nhật đặt nằm Đây là kiểu lò nung liên tục với buồng đốt cố định, gạch mộc được chất trên các xe goòng và lần lượt di chuyển qua một buồng đốt cố định Kiểu lò này được sử dụng phổ biến nhất ở các nước phát triển và hiện tại lò tuy Tuynel đã được tự động cao và được đánh giá thích hợp cho điều kiện sản xuất công nghiệp và quy mô lớn Lượng than đá sử dụng dao động từ 70 – 75g/1kg gạch Nhiên liệu sử dụng có thể là than đá, khí gas, dầu các loại

+ Chi phí đầu tư: khoảng 3,5 tỉ đồng/lò 1.250.000 viên/tháng (sản lượng tương đương 12 lò thủ công)

Trang 26

+ Ưu điểm: dễ xử lý môi trường; có khả năng tự động hóa cao; chất lượng gạch sau nung đạt có độ đồng đều trung bình, gạch ống đạt mác 50 trên 90%

+ Nhược điểm: cần diện tích mặt bằng lớn; chí phí đầu tư ban đầu lớn;

tỉ lệ hao hụt cao khi phải dừng lò không chủ động

-Kiểu lò Habla: do người Đức Phát minh năm 1927 Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung bán liên tục (có thể vận hành liên tục) với buồng đốt di động Kiểu lò này được cải tiến từ lò Hoffman (lò Hoffman có vách ngăn) nên có thể dừng lò khi có sự cố và điều tiết sản lượng dễ dàng Lửa đốt

và hơi nóng được dẫn đi theo đường Zig-Zag nên lượng nhiệt liệu đốt có giảm

Hiện lò nung gạch đốt trấu cải tiến đang được thử nghiệm tại huyện Lai Vung, Đồng Tháp (Cơ sở Năm Phương, Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Thạch) với công suất 20.000 viên ngày đêm, là một kiểu lò tương tự lò Habla Qua đánh giá sơ bộ cho thấy, lượng trấu sử dụng dao động 250g – 300g trấu/1kg gạch (tiết kiệm 30% so với lò thủ công)

+ Chi phí đầu tư: khoảng 600 triệu đồng/lò 500.000 viên/tháng (Sản lượng tương đương 5 lò thủ công)

+ Ưu điểm: Chi phí đầu tư trung bình, dễ vận hành, sử dụng được nhiều loại nhiên liệu khác nhau như than đá, củi, gas, dầu, phụ phẩm nông nghiệp

Có thể chuyển sang dạng lò nung bán liên tục, dễ xử lý môi trường, chất lượng gạch sau nung khá đồng đều, tỉ lệ gạch ống đạt mác 50 ( 60< M50< 80%)

+ Nhược điểm: tiêu hao nhiên liệu cao, gây ô nhiễm môi trường khá cao

- Kiểu lò Vertical Shaft brick kiln hay lò nung liên tục kiểu đứng) Do người Trung quốc phát minh 1958 Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung liên tục với buồng đốt cố định Lò nung dạng ống trụ hình chữ nhật đặt đứng, gạch mộc được nạp vào miệng lò từ phía trên và lấy ra ở dưới đáy lò Lò vận hành dựa trên nguyên lý khí động học nên sử dụng năng lượng rất hiệu quả Kiểu lò này được xây dựng lần đầu tiên tại Việt Nam (Hưng Yên) vào năm

2001 và áp dụng tại An Giang vào năm 2003 nhưng hoạt động không hiệu quả (do một chủ cơ sở tự xây dựng sau khi đi tham quan mô hình tại Hưng Yên), năm 2005 công nghệ này được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đăk Lăk chuyển giao về An Giang (xã Mỹ Hội Đông) Hiện tại kiểu lò này đã được nhiều tổ chức Khoa học công nghệ cải tiến nên tương đối hoàn thiện về mặt công nghệ và đạt hiệu quả khá cao, tỉ lệ hao hụt giảm (dao động từ 7 – 5% so

Trang 27

với 20 – 30% trong những năm trước 2005); lượng than đá sử dụng với mức

45 - 50g than đá/1kg gạch (giảm 20% so với bản đầu tiên)

+ Chi phí đầu tư: khoảng 300 triệu đồng/lò công suất 300.000 viên/tháng (sản lượng tương đương 3 lò thủ công)

+ Ưu điểm: Chi phí đầu tư ban đầu trung bình, không cần xử lý môi trường, chất lượng gạch sau nung có độ đồng đều cao, lượng gạch ống đạt mác

50 > 80 %

+ Nhược điểm: tỉ lệ gạch bể cao >7% và có thể tăng lên vài chục % nếu vận hành không đảm bảo kỹ thuật; khó vận hành; sử dụng duy nhất một loại nhiên liệu là than đá

-Lò nung gạch đốt trấu kiểu Thái Lan: do các giáo sư người Thái nghiên cứu và hoàn thiện vào năm 2000 Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung bán liên tục với buồng đốt di động Kiểu lò này được áp dụng lần tiện tại Việt Nam (An Giang) vào năn 2006 Lò được xây theo dạng hình vuông, có bốn buồng đốt, mỗi buồng đốt chứa từ 1800 - 2000 viên gạch ống, thời gian nung cho mỗi buồng từ 8 đến 12 giờ tùy theo loại đất ở khu vực, Hiện lò này đã được cải tiến nâng công suất lên 2500 viên/buồng đốt và lắp đạt thêm hê thông

xử lý môi trường nên có thể triển khai áp dụng cho các cơ sở sản xuất với quy

mô hộ gia đình Do đặt thù của lò là tận dụng nguồn nhiệt đầu ra của buồng đốt để sấy gạch mộc ở các buồng kế cận và có thể lấy nhiệt ở buồng làm nguội

để sấy nóng không khí trước khi đi vào lò buồng nung Do đó lò đạt hiệu suất nhiệt khá cao về nhiệt và tiết kiệm nhiên liệu 250g trấu/1kg gạch (tiết kiệm trên 35% lượng trấu so với lò thủ công)

Đặc biệt, do sử dụng nhiệt khá triệt để, khói thải có nhiệt độ thấp (dưới

120oC) và tập trung tại một đầu ra do một quat trung tâm điều tiết nên dễ xử lý

ô nhiễm

+ Chi phí đầu tư: khoảng 150 triệu đồng/lò công suất 150.000 viên/tháng (sản lượng tương đương 1,5 lò thủ công)

+ Ưu điểm: Chi phí đầu tư thấp, dễ vận hành, cần ít diện tích mặt bằng,

sử dụng được nhiều loại nhiên liệu khác nhau như than đá,củi vụn, phụ phẩm nông nghiệp Chất lượng gạch ống sau nung khá đồng đều, tỉ lệ mác 50

>80%, tỉ lệ gạch bể < 2%

+ Nhược điểm: gây ô nhiễm môi trường trung bình (dễ xử lý môi trường), cần nhiều thời gian bảo trì lò

Trang 28

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Xã Mỹ Hội Đông là nơi tập trung nhiều cơ sở gạch nung lâu năm Đề tài được thực hiện nhằm phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của cơ

sở sản xuất gạch nung tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, An Giang Đối tượng mà đề tài thực hiện khảo sát là những cơ sở sản xuất gạch nung tại xã

Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, An Giang

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.2.1 Số liệu thứ cấp

Gồm các tài liệu, số liệu có các nội dụng về điều kiện tự nhiên, kinh tế -

xã hội, thông tin về các lò gạch nung được cung cấp bởi Phòng Tài nguyên Thiên nhiên huyện Chợ Mới Bên cạnh đó đề tài còn sử dụng các số liệu được thu thập từ các trang web, sách báo chuyên ngành và các nghiên cứu về sản phẩm củi trấu ép

2.2.2.2 Số liệu sơ cấp

- Đối tượng nghiên cứu là đại diện của cơ sở sản xuất gạch nung ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh AN Giang

- Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp thu thập số liệu là phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi

Nội dung bảng câu hỏi được chia làm hai nhóm cơ sở sản xuất gạch

nung có sử dụng sản phẩm củi trấu ép và cơ sở sản xuất gạch nung chưa sử

dụng củi trấu ép (đính kèm bảng câu hỏi ở phụ lục)

Chọn mẫu phi xác suất, đại diện là 25 cơ sở

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Trang 29

CHƯƠNG 3 KHÁI QUÁT VỀ XÃ MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN CHỢ MỚI,

TỈNH AN GIANG 3.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ XÃ MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Theo Ủy Ban Nhân Dân Xã Mỹ Hội Đông (2010) khái quát vị trí địa lí của xã như sau:

Mỹ Hội Đông là xã cù lao tiếp giáp sông Tiền và sông Hậu Phía Đông giáp hai xã Kiến An và Kiến Thành, phía Tây giáp huyện Châu Phú, phía Nam giáp xã Nhơn Mỹ và huyện Châu Thành, phía Bắc giáp huyện Phú Tân

Hình 3.6 Bảng đồ xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Nguồn: https://www.google.com/maps

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.872,6 ha Toàn xã có 10 ấp, dân số có 6.294 hộ với tổng số nhân khẩu 26.617 người, trông đó số hộ sống bằng nghề nông chiếm 53,23% Dân cư gồm người Kinh chiếm 99,95%, người Khmer chiếm 0,04%, người Hoa chiếm 0,01%

Trang 30

3.2 KINH TẾ XÃ MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Là một xã có thế mạnh về nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây lúa, hoa màu đã tạo nhiều lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương Bên cạnh đó,còn có các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cũng khá phát triển như dây keo, sản xuất gạch ngói, gạch ống, xay xát, đan võng (Ủy Ban Nhân Dân Xã Mỹ Hội Đông, 2010)

3.2.1 Nông Nghiệp xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Theo Ủy Ban Nhân Dân Xã Mỹ Hội Đông (2014) cho biết đất sản xuất nông nghiệp là 1.957,98 ha ( diện tích đất trồng lúa 1.675,08 ha, trồng hoa màu 124

ha, cây trồng khác 146,9 ha, đất nuôi trồng thủy sản 12 ha) Về sản xuất nông

nghiệp: tình hình sản xuất nông nghiệp vụ 1, vụ 2, gặp nhiều khó khăn do tình hình sâu bệnh, giá vật tư tăng cao, giá lúa thấp gây khó khăn cho bà con Tổng diện tích gieo trồng cả 2 vụ là 3.691 ha, đạt 100% so với kế hoạch, trong

đó diện tích lúa là 3.017 ha, hoa màu la 674 ha Năng suất bình quân cả 2 vụ đạt 12,7 tấn/ha, sản lượng đạt 38.315,9 tấn Giá trị ngành nông nghiệp ước đạt 213,19 tỉ đồng, tăng 61,94 tỉ so cùng kỳ Đến nay, toàn xã đã xuống giống dứt điểm lúa vụ 3 với diện tích 1.506 ha, đạt 100% so với kế hoạch Hiện lúa đang trong giai đoạn mạ Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết nên trà lúa xuất hiện một số loại sâu, bệnh như ốc bưu vàng 780 ha, chuột cắn phá 10 ha, bệnh bù lạch 15 ha Tổng diện tích áp dụng “ ba giảm ba tăng ” là 2.175 ha ( vụ 1: 337

ha, vụ 2: 370 ha, vụ 3: 1.468 ha), chiếm 51,14% tổng diện tích lúa xuống giống, trong đó diện tích sạ hàng là 49 ha, sạ thưa là 2 ha, cấy 74 ha Diện tích

áp dụng chương trình “1 phải 5 giảm” là 1.407 ha (vụ 1: 205 ha, vụ 2: 197ha,

vụ 3: 1.005 ha), chiếm 31.1 % so với tổng diện tích xuống giống Diện tích xuống giống màu vụ 3 được 355 ha, đạt 100% so kế hoạch

Công tác thủy lợi: Tập trung khảo sát các tuyến đê, đoạn đê, cổng bọng

đề nghị nâng cấp, sữa chũa đảm bảo công tác chống lũ Đến nay đã nâng cấp, sữa chữa 02 cống hở (cống Đoàn Kết, cống Quyết Thắng), 02 cống tròn (cống Quyết Thắng, cống Năm Lịch), đồng thời tiến hành kiểm tra, khảo sát các cống tư nhân dưới đê kết hợp hướng dẫn bà con lắp đặt cống mới đúng kỹ thuật Ngoài ra, còn khảo sát kênh mương nội đồng bồi lắng để có kế hoạch nạo vét năm 2014 Bên cạnh đó còn hỗ trợ đơn vị thi công công trình thuộc dự

án Nam Vàm Nao Đến nay cơ bản thi công sắp hoàn thành

Về chăn nuôi: Trong 9 tháng đầu năm, do giá heo hơi tăng, giá thức ăn

ổn định, bà con chăn nuôi có lời nên mạnh dạn đầu tư phát triển chăn nuôi

Trang 31

heo, tuy nhiên tốc độ phát triển đàn heo vẫn còn thấp so với cùng kỳ năm

2013, do một số bà con chăn nuôi chuyến sang chăn nuôi bò vỗ béo Hiện tổng đàn gia súc, gia cầm gồm: Heo: 1.376 con, giảm 5,8% so với cùng kỳ; Bò: 1.714 con, tăng 98%; Gà: 3.600 con; Vịt đàn: 27.000 con

Nuôi trồng thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn xã hội là 8,718 ha, với 18 hộ nuôi, trong đó diện tích cá tra giống là 6,5 ha, cá tra thịt là 2,2 ha, cá lóc 55 m2 và lươn 125 m2

3.2.2 Công Nghiệp - Tiểu Thủ Công Nghiệp xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 9 tháng đầu năm ước đạt 228,89 tỷ đồng tăng 72,59 tỷ so với cùng kỳ Các cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp như dây keo, xay sát hoạt động ổn định góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, riêng các cơ sở sản xuất gạch hiện đang gặp khó khăn do giá nhiên liệu đốt tăng cao, thiếu nguyên liệu sản xuất nên nhiều cơ sở nhỏ ngưng hoạt động, một số cơ sở lớn chỉ hoạt động cầm chừng

Giao thông – xây dựng cơ bản:

+ Giao thông: Hỗ trợ đơn vị thi công sữa chữa, nâng cấp tuyến lộ liên

xã dài 6 km; bên cạnh đó, Hội Chữ thập đỏ xã vận động nhân dân tiến hành sữa chữa, lắp và tuyến lộ liên xã với tổng kinh phí là 63 triệu đồng, rãi đá bụi tuyến đường kênh Đồng Tân với kinh phí 35 triệu đồng, đỗ đá mi tuyến lộ liên

xã ấp Mỹ Hóa A với kinh phí 17,1 triệu đồng Hỗ trợ đơn vị thi công giải phóng mặt bằng láng nhựa tuyến đường Đồng Tân – Xã Niếu với tổng chiều dài 3,1 km; kết hợp Phòng Kỹ thuật quản lý đường sông khảo sát nâng cấp sữa chữa và lắp mới các biển báo đường sông quy định

+ Xây dựng cơ bản: Công trình xây dựng trường Mẫu giáo ở điểm phụ

đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, hiện công trình ở điểm chính đang thi công đúng tiến độ Dự kiến đến tháng 11 sẽ xong và đưa vào sử dụng

Tình hình : Công tác thu hồi nợ Mỹ Thành hiện đang gặp khó khăn do các hộ đều là hộ nghèo, cận nghèo, một số hộ phải đi làm ăn xa đến nay đoàn đã tổ chức thu được trên 79/560 triệu đồng, đạt 14,1% so với tổng chỉ tiêu huyện giao thu năm 2014 Thực hiện Công văn số 332/Văn phòng Ủy ban nhân dân của Văn phòng ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân xã thành lập Hội đồng xét duyệt các trường hợp được giãn, hoãn nợ vay mua nền nhà ở trong cụm tuyến dân cư Mỹ Thành Kết quả có 26 hộ được giãn, hoãn nợ và khoanh nợ theo quy định; hỗ trợ Chi cục Nông nghiệp tỉnh và Phòng Nông

Trang 32

nghiệp huyện giải ngân cho 14 hộ di dời sạt lỡ theo Quyết định 1776/Chính phủ của Chính phủ với tổng số tiền 280 triệu đồng

Điện nước nông thôn: 02 nhà máy nước hoạt động tốt, tiếp tục cung cấp nước sạch cho các hộ dân sử dụng Trong 9 tháng qua, đã lắp đặt mới cho 673

hộ nâng tổng số hộ được sử dụng nước lọc là 3.924 hộ (tăng 714 hộ so với cùng kỳ)

Thương mại – dịch vụ: Tổng giá trị thương mại – dịch vụ đầu năm đến nay ước đạt 368,83 tỷ đồng, tăng 114,13 tỷ so với cùng kỳ Các hoạt động dịch

vụ mua bán trong thời điểm trước, trong và sau tết tương đối nhộn nhịp, mẫu

mã hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng tốt thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế nên nhìn chung sức mua người dân có giảm

Tài nguyên – Môi trường: Kết hợp Đoàn liên ngành huyện tiến hành kiểm tra việc lấy đất làm nguyên liệu gạch được 02 cuộc, kiểm tra độc lập được 11 cuộc, xử phạt hành chính 12 trường hợp, nhắc nhở 06 trường hợp vi phạm; bên cạnh đó, còn tổ chức kiểm tra môi trường 05 cuộc, nhắc nhở 12 trường hợp vi phạm (Ủy Ban Nhân Dân Xã Mỹ Hội Đông, 2014)

3.2.3 Tài Chính - Ngân Sách xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang

Trong 9 tháng đầu năm, tổng thu ngân sách xã ước đạt trên 6,485 tỷ đồng từ các nguồn như: thuế nhà, đất, thuế môn bài, lệ phí trước bạ, bổ sung từ ngân sách cấp trên đạt 106,6% so với dự toán

Tổng chi ước đạt trên 5,775 tỷ đồng, đạt 94,62% so dự toán, chủ yếu chi thường xuyên

Bên cạnh đó, các nguồn thu khác của địa phương đạt như sau: Phí bảo trì đường bộ thu được trên 251/171 triệu đồng, đạt 146,78% so số bộ đã lập, Quỹ quốc phòng an ninh thu được trên 37/210 triệu đồng, đạt 17,61% so số bộ và Thuế Phi nông nghiệp thu được trên 48/54 triệu đồng, đạt 88,88% Ngoài ra,

bộ phận Kế toán kết hợp với các ngành chuyên môn tiến hành cấp phát tiền hỗ trợ diện tích trồng lúa nước theo Nghị định 42/Chính Phủ của Chính phủ với tổng diện tích là 11.278.321 m2 (hỗ trợ 6 tháng đầu năm 2013) (Ủy Ban Nhân Dân Xã Mỹ Hội Đông, 2014)

Trang 33

3.3 VĂN HÓA – XÃ HỘI XÃ MỸ HỘI ĐÔNG, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

3.3.1 Văn Hóa Thông Tin xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang

Ngành văn hóa thông tin xã làm tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tập trung tuyên truyền công tác phòng cháy chữa cháy mùa khô, nhất là trong dịp tết Nguyên Đán; kết hợp các ngạnh, đoàn thể xây dựng kế hoạc tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân; tuyên truyền ý nghĩa các ngày lễ lớn của Đảng và Nhà nước , tuyên truyền cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh, tuyên truyền cách phòng bệnh ở người và gia súc, gia cầm tuyên truyền mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Tổ chức thành công giải bóng đá nông dân cấp xã lần thứ 21, giải bóng chuyền nông dân cấp xã và tham gia tốt các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao do huyện tổ chức

Phong trào quần chúng tham gia tập luyện thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ ở địa phương ngày càng thu hút đông đảo quần chúng tham gia như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, xe đạp, đờn ca tài tử, cờ tướng (Ủy Ban Nhân Dân Xã Mỹ Hội Đông, 2014)

3.3.2 Giáo Dục xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Năm học 2014 – 1015, các trường tập trung huy động học sinh nhập học từ đầu tháng 8/2014 và chính thức khai giảng năm học mới đồng loạt vào ngày 25.8/2014 Đến nay, tỷ lệ huy động học sinh ra lớp của các bậc học đạt tỷ

lệ như sau: Mẫu giáo 403/390 em, đạt 103,59% so với chỉ tiêu trên giao, bậc tiểu học 2.331/2.311 em, đạt 100,86%, trung học cơ sở 1.186/1.188 em, đạt 99,83% và trung học phổ thôngcó 704/755 em, đạt 93,24% Đến nay công tác giảng dạy và học đã đi vào ổn định

Công tác phổ cập trung học cơ sở: Đến nay, đã tổ chức thi học kỳ II cho khối 8 và thi hết lớp 9 khối 9 xong với 80 học viên, kết quả đạt

Hội khuyến học: Tổ chức trao quà “tiếp bước đến trường” năm học

2014 – 2015 cho 218 em học sinh nghèo, cận nghèo vời tổng số tiền 29.300.000 đồng và 4.360 quyển tập (trong đó Hội Khuyến học huyện hỗ trợ

15 triệu đồng), đồng thời trao giấy khen và hiện vật cho 57 em thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng năm học 2013 – 2014 với tổng số tiền là 11.400.000 đồng (Ủy Ban Nhân Dân Xã Mỹ Hội Đông, 2014)

Trang 34

3.3.3 Y Tế xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Luôn nâng cao chất lượng hoạt động của trạm Y tế xã; phục vụ tốt các chương trình y tế quốc gia và chăm sóc tốt sức khỏe cho nhân dân Trong 9 tháng đầu năm, đã khám và điều trị bệnh cho 19.617 lượt bệnh nhân, trong đó khám bảo hiểm y tế 8.137 lượt

Quan tâm công tác kế hoạch hóa gia đình, đến nay, có 498 trường hợp

áp dụng các biện pháp tránh thai; khám phụ khoa và khám thai cho 4.284 trường hợp; đình sản 03/03 ca, đạt 100% so chỉ tiêu trên giao

Công tác phòng chống bệnh ở người; Ngay từ đầu năm, công tác vệ sinh môi trường phòng chống các loại dịch bệnh được quan tâm đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, đặc biệt là công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết, tuy nhiên đến thời điểm này trên địa bàn có 32 ca mắc sốt xuất huyết (tăng 31

ca so với cùng kỳ), trong đó có 02 ca tử vong và 06 ca tay chân miệng (giảm

10 ca so với cùng kỳ) (Ủy Ban Nhân Dân Xã Mỹ Hội Đông, 2014)

Trang 35

Sản xuất gạch nung ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới chủ yếu là sản xuất gạch ống và gạch thẻ Là một xã có thế mạnh về tiểu thủ công nghiệp nên

đa số các cơ sở sản xuất đều có nhiều năm kinh nghiệm trong việc sản xuất cũng như có khá nhiều lò nung cùng một cơ sở Xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vẫn còn nằm trong khu vực nông thôn nên trình độ tương đối trung bình và chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm lâu năm cha truyền con nối

Bảng 4.1: Thông tin về các đáp viên tại các cơ sở sản xuất gạch nung ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Tiêu chí Giá trị trung

bình

Giá trị lớn nhất

Giá trị nhỏ nhất

Tuổi 48 59 25 Năm kinh nghiệm 27,7 35 20

Nguồn điều tra thực tế, 2014 (n = 25)

Từ việc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng thông qua bảng câu hỏi, các số liệu thu thập được thống kê về đối tượng nghiên cứu thể hiện ở Bảng 4.1 Đa

số các đáp viên có độ tuổi dao động từ 25 – 59 tuổi, độ tuổi trung bình là 48 tuổi Sản xuất lò gạch nung là ngành nghề lâu năm và được truyền từ nhiều đời nên tuổi của các đáp viên tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

là khá cao

Xã Mỹ Hội Đông là xã có truyền thống lâu năm về tiểu thủ công nghiệp, người dân chủ yếu là làm lò gạch nung Do đó đa số các chủ cơ sở đều có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất gạch nung Chủ cơ sở có năm kinh nghiệm nhiều nhất là 35 năm, số năm kinh nghiệm thấp nhất là 20 năm và trung bình

về năm kinh nghiệm sản xuất của các cơ sở là 27,7 năm Đa số đều cho biết

đã sản xuất lò gạch từ rất lâu, việc sản xuất được truyền lại cho con cháu trong gia đình và đến tận bây giờ vẫn còn tiếp tục Với số năm kinh nghiệm làm lò gạch tích lũy được khá nhiều, các chủ cơ sở này chính là mục tiêu hướng tới

Trang 36

để xác định nhu cầu sử dụng củi trấu ép và các yêu cầu đặt ra đối với sản phẩm này

Bên cạnh đó phải kể đến nam giới luôn là người chủ yếu trong việc quyết định và thực hiện các vấn đề liên quan đến sản xuất, tuy nhiên, nữ giới cũng

có đóng góp và tham gia rất nhiều phụ giúp nam giới Họ cũng có khá nhiều

sự hiểu biết về vấn đề sản xuất và có thể đưa ra các quyết định về vấn đề liên quan đến sản xuất, đây cũng là những đối tượng cần hướng tới để xác định các yêu cầu mà họ đặt ra đối với củi trấu ép

Hình 4.7 : Trình độ học vấn của các đáp viên tại xã Mỹ Hội Đông, huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang

Nguồn điều tra thực tế, 2014 (n = 25)

Thông qua Hình 4.7 cho thấy đa số các cơ sở có trình độ học vấn ở mức trung bình Chiếm đa số là trình độ trung học cơ sở với 60%, sau đó là trình độ đại học với 16% Chiếm tỉ lệ thấp nhất là trình độ trung tiểu học và trung học Phần lớn các đáp viên có trình độ học vấn ở mức trung học cơ sở nguyên nhân chủ yếu là do thuộc vùng xã nông thôn không có đủ điều kiện học cao và lao động sớm Tuy nhiên vì tính chất công việc và phục vụ cho việc kinh doanh nên trình độ học vấn của các đáp viên ngày càng được nâng cao

Qua thống kê tại Hình 4.8 cho thấy đa số các đáp viên được phỏng vấn đều là chủ của các cơ sở (chiếm 88%) có kinh nghiệm lâu năm và nắm bắt được tình hình hoạt động của cở sở Còn lại các đáp viên trả lời phỏng vấn cho biết là quản lý của cơ sở và đều có trình độ học vấn cao (bậc đại học) Và chiếm đa số các chủ cơ sở có trình độ học vấn tương đối thấp tập trung nhiều

ở cấp 2 vì do điều kiện những năm 60, 70 vấn đề học vấn nước ta nói chung và

ở xã Mỹ Hội Đông – một xã thuần nông nói riêng cũng không được nhiều sự

Trang 37

quan tâm, các chủ cơ sở vẫn giữ được truyền thống làm lò là do kinh nghiệm tích góp trong quá trình làm nghề và kinh doanh

Hình 4.8: Thông tin chức vụ của các đáp viên tại các cơ sở sản xuất gạch nung

ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Nguồn điều tra thực tế, 2014 (n = 25)

Ngoài ra theo như khỏa sát các cơ sở tại lò thì được biết các quản lí cơ sở

là con cháu trong gia đình, có trình độ học vấn cao (Bậc đại học) nhằm nâng cao tri thức cũng như bắt kịp những kỹ thuật tiên tiến của xã hội, các cở sở không thuê quản lí bên ngoài để quản lí việc kinh doanh của cơ sở

Bảng 4.2 : Thông tin trong hoạt động sản xuất tại các cơ sở sản xuất gạch nung

ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Tiêu chí Giá trị

trung bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị lớn nhất

Giá trị nhỏ nhất

Lao động chính thức 18,6 4,3 25 15

Nguồn điều tra thực tế, 2014 (n = 25)

Thông qua Bảng 4.2 cho thấy số lao động chính thức của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang có số người ít nhất là 15 người/lò, cơ sở có số người nhiều nhất là 25 người/lò Trung bình số lao động là 18,6 người/lò, đây là một con số tương đối cao so với số lượng người lao động ở tại các lò gạch Vì trên thực tế số trung bình người lao động ở mỗi lò khoảng 16 người trên 1 lò vì các lò ở cùng 1 cơ sở không đồng loạt sản xuất nên lượng công nhân được di chuyển qua lại, thay

Ngày đăng: 13/11/2015, 11:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ sản xuất củi trấu ép tại Quận 7, - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 2.1 Sơ đồ sản xuất củi trấu ép tại Quận 7, (Trang 18)
Hình 2.2: Củi cây (củi thanh) - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 2.2 Củi cây (củi thanh) (Trang 18)
Hình 2.3: Củi đập (củi băm) - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 2.3 Củi đập (củi băm) (Trang 19)
Hình 2.5: Củi 6cm - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 2.5 Củi 6cm (Trang 20)
Hình 2.4: Củi viên - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 2.4 Củi viên (Trang 20)
Hình 3.6 Bảng đồ xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 3.6 Bảng đồ xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (Trang 29)
Hình 4.7 : Trình độ học vấn của các đáp viên tại xã Mỹ Hội Đông, huyện - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 4.7 Trình độ học vấn của các đáp viên tại xã Mỹ Hội Đông, huyện (Trang 36)
Hình 4.9 Kiểu lò gạch nung tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 4.9 Kiểu lò gạch nung tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, (Trang 38)
Hình 4.10: Công suất các lò tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 4.10 Công suất các lò tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, (Trang 39)
Bảng 4.4: Khoảng cách giữa 2 đợt sản xuất của các cơ sở gạch nung tại xã Mỹ  Hội Đông, huyện Chợ Mới, An Giang - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Bảng 4.4 Khoảng cách giữa 2 đợt sản xuất của các cơ sở gạch nung tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, An Giang (Trang 41)
Hình 4.12: Nguồn tiếp cận thông tin sản phẩm của các cơ sở lò gạch tại xã Mỹ - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 4.12 Nguồn tiếp cận thông tin sản phẩm của các cơ sở lò gạch tại xã Mỹ (Trang 45)
Hình 4.13: Tình hình sử dụng củi trấu ép hiện tại các cơ sở lò gạch - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 4.13 Tình hình sử dụng củi trấu ép hiện tại các cơ sở lò gạch (Trang 47)
Hình 4.14: Mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép với giá từ 800 đồng – 1000 - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 4.14 Mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép với giá từ 800 đồng – 1000 (Trang 51)
Bảng 4.9: Nguyên nhân các cơ sở gạch nung chƣa sử dụng sản phẩm củi trấu - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Bảng 4.9 Nguyên nhân các cơ sở gạch nung chƣa sử dụng sản phẩm củi trấu (Trang 53)
Hình 4.15: Mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép với giá từ 800 đồng – 1000 - phân tích mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép của các cơ sở sản xuất gạch nung tại xã mỹ hội đông, huyện chợ mới tỉnh an giang
Hình 4.15 Mức độ chấp nhận sử dụng củi trấu ép với giá từ 800 đồng – 1000 (Trang 53)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w