2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 2.2.1.1 Số liệu thứ cấp Số liệu thứ cấp được thu thập từ UBND xã Gáo Giồng, Ban quản lý rừng tràm Gáo Giồng, Công ty Cổ p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỒ QUỐC HUY
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ CỦA KHU
DU LỊCH SINH THÁI GÁO GIỒNG THUỘC
XÃ GÁO GIỒNG, HUYỆN CAO LÃNH,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỒ QUỐC HUY MSSV: 4115196
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ CỦA KHU
DU LỊCH SINH THÁI GÁO GIỒNG THUỘC
XÃ GÁO GIỒNG, HUYỆN CAO LÃNH,
Tháng 08 - 2014
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Sau khoảng thời gian ba năm học tập giúp em tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu cho bản thân nhờ sự chỉ dẫn nhiệt tình cũng như sự giúp đỡ của thầy (cô) Trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt là thầy (cô) Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Từ những kiến thức đó đã giúp em có thể hoàn thành
chuyên đề luận văn tốt nghiệp Kinh tế tài nguyên thiên nhiên: “Phân tích giá trị giải trí của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng thuộc xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp”
Em xin chân thành biết ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của quý thầy (cô) Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt, em xin gửi
lời biết ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thúy Hằng đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian làm đề tài
Cuối lời em xin kính chúc cô hướng dẫn và quý thầy (cô) Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Cần Thơ dồi dào sức khỏe và luôn
thành công trong công việc Em xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Người thực hiên
Hồ Quốc Huy
Trang 4ii
TRANG CAM KẾT
Em xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của em và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Người thực hiện
Hồ Quốc Huy
Trang 5iii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
- Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thúy Hằng
- Học vị: Thạc sĩ
- Bộ môn: Kinh tế nông nghiệp và Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
- Sinh viên: Hồ Quốc Huy
- MSSV: 4115196
- Chuyên ngành: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
- Tên đề tài: Phân tích giá trị giải trí của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng thuộc xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014 Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Thúy Hằng
Trang 6iv
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Phạm vi không gian 3
1.3.2 Phạm vi thời gian 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Giá trị của hàng hóa chất lượng môi trường 4
2.1.2 Đánh giá giá trị chất lượng môi trường 8
2.2 Phương pháp nghiên cứu 10
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 10
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 11
2.3 Tổng quan về phương pháp chi phí du hành (TCM) 11
2.3.1 Khái niệm 11
2.3.2 Phân loại phương pháp chi phí du hành 13
2.4 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) trong việc định giá giá trị
phi sử dụng 21
2.4.1 Khái niệm về phương pháp CVM 21
2.4.2 Các bước đo lường giá sẵn lòng trả bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên 21
Chương 3: TỔNG QUAN VỀ KHU DU LỊCH SINH THÁI GÁO GIỒNG THUỘC XÃ GÁO GIỒNG, HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 28
3.1 Tìm hiểu về xã Gáo Giồng 28
3.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 28
3.1.2 Đặc điểm dân cư - xã hội 31
3.1.3 Các chính sách phát triển vùng trong thời gian tới 38
3.1.4 Những thuận lợi và khó khăn đang tồn tại 40
3.2 Đôi nét về Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 42
3.2.1 Lịch sử hình thành 42
3.2.2 Giá trị cảnh quan khu du lịch 43
3.2.3 Thực trạng về hoạt động du lịch 47
3.2.4 Vấn đề bảo tồn thiên nhiên 54
Trang 7v
Chương 4: GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ CỦA KHU DU LỊCH SINH THÁI GÁO
GIỒNG THUỘC XÃ GÁO GIỒNG, HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG
THÁP 57
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 57
4.1.1 Bảng câu hỏi phỏng vấn 57
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội các đối tượng tham gia phỏng vấn 58
4.1.3 Các hoạt động chính của du khách khi đến với Khu du lịch sinh thái
Gáo Giồng 63
4.1.4 Số lượng khách trong một nhóm tham quan 64
4.1.5 Các yếu tố cấu thành sự hài lòng và những khía cạnh mà du khách
cảm thấy chưa hài lòng đối với các dịch vụ du lịch tại Gáo Giồng 65
4.2 Xây dựng mô hình hàm cầu du lịch của du khách 67
4.2.1 Phân vùng xuất phát và tổng dân số mỗi vùng 67
4.2.2 Tính toán tỷ lệ tham quan theo từng vùng 69
4.2.3 Xác định các thành phần chi phí du lịch của khách tham quan 71
4.2.4 Lựa chọn phương hướng tiếp cận thích hợp đối với giá trị chi phí du hành 77
4.2.5 Các yếu tố tác động đến cầu du lịch 79
4.3 Tổng giá trị giải trí hằng năm của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 82
4.3.1 Xây dựng đường cầu giải trí của khách du lịch 82
4.3.2 Xác định thặng dư tiêu dùng trên mỗi du khách 83
4.3.3 Tính toán giá trị giải trí hằng năm của Khu du lịch sinh thái
Gáo Giồng 85
4.4 Đánh giá giá trị phi sử dụng của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng
bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) 86
4.4.1 Các mức giá WTP mà du khách sẵn lòng chi trả cho công tác
bảo tồn giá trị sinh thái rừng tràm Gáo Giồng 86
4.4.2 Các yếu tố tác động đến giá sẵn lòng trả của đáp viên 88
4.4.3 Tổng giá sẵn lòng trả cho việc bảo tồn hệ sinh thái rừng tràm
Gáo Giồng 92
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
5.1 Kết luận 94
5.2 Kiến nghị 95
5.2.1 Đối với ban quản lý Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 95
5.2.2 Đối với các cơ quan quản lý tỉnh Đồng Tháp 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH HỒI QUY 101
PHỤ LỤC 2: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN ĐÁP VIÊN 106
Trang 8vi
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tổng giá trị kinh tế của một tài nguyên môi trường 8
Bảng 3.1 Tài nguyên đất xã Gáo Giồng 30
Bảng 3.2 Thống kê số hộ gia đình và nhân khẩu xã Gáo Giồng giai đoạn 2010 - 2013 32
Bảng 3.3 Thu nhập bình quân đầu người xã Gáo Giồng giai đoạn
2010 - 2013 36
Bảng 3.4 Chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo 37
Bảng 3.5 Kết quả thực hiện kế hoạch giải quyết việc làm xã Gáo Giồng 38
Bảng 3.6 Thống kê số lượt khách đến với Khu du lịch sinh thái
Gáo Giồng giai đoạn 2007 - 2013 48
Bảng 3.7 Doanh thu từ hoạt động du lịch Gáo Giồng giai đoạn
2007 - 2013 50
Bảng 4.1 Kết quả mô hình Bitest 59
Bảng 4.2 Đặc điểm về tuổi và giới tính của du khách tham gia phỏng vấn 59
Bảng 4.3 Thu nhập của đáp viên được phỏng vấn 60
Bảng 4.4 Trình độ học vấn của du khách đến viếng thăm Khu du lịch
sinh thái Gáo Giồng 61
Bảng 4.5 Nghề nghiệp hiện tại và mục đích đến Gáo Giồng của đáp viên 62
Bảng 4.6 Các hoạt động giải trí chính của du khách tại Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 64
Bảng 4.7 Số lượng khách trong một nhóm tham quan khi đến Gáo Giồng 65
Bảng 4.8 Các yếu tố mà du khách cảm thấy hài lòng và chưa hài lòng
về các loại hình dịch vụ tại Gáo Giồng 66
Bảng 4.9 Phân chia vùng xuất phát cho du khách khi đến với Gáo giồng 69
Bảng 4.10 Lượng du khách trung bình đến Gáo Giồng theo vùng
tính trên 1.000 dân 70
Bảng 4.11 Thống kê phương tiện di chuyển của du khách đến Gáo Giồng 72
Bảng 4.12 Chi phí nhiên liệu của một số phương tiện vận tải đường bộ 73
Bảng 4.13 Chi phí di chuyển của du khách theo hai hướng tiếp cận 73
Bảng 4.14 Mức lương tối thiểu của du khách phân theo vùng xuất phát 74
Bảng 4.15 Chi phí thời gian theo vùng của du khách được tính toán
theo hai hướng tiếp cận 75
Bảng 4.16 Chi phí tại địa điểm tham quan của du khách 77
Bảng 4.17 Tổng chi phí du hành của du khách khi đến với Gáo Giồng 77
Bảng 4.18 Kết quả mô hình hồi quy giữa tỷ lệ viếng thăm (VR) và tổng
chi phí du hành (TC) 78
Trang 9vii
Bảng 4.19 Mô tả các biến kinh tế - xã hội đƣợc sử dụng trong mô hình
hồi quy kinh tế lƣợng 81
Bảng 4.20 Kết quả hồi quy tuyến tính và logarit - tuyến tính về cầu giải trí 82
Bảng 4.21 Tỷ lệ viếng thăm và chi phí du hành theo vùng 83
Bảng 4.22 Lợi ích giải trí hằng năm của du khách theo vùng 84
Bảng 4.23 Tổng giá trị giải trí của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 85
Bảng 4.24 Các mức giá WTP cho việc thành lập một quỹ bảo tồn
hệ sinh thái Gáo Giồng 87
Bảng 4.25 Các nguyên nhân dẫn đến câu trả lời “Không” cho WTP 87
Bảng 4.26 Mô tả các biến số của mô hình kinh tế lƣợng 89
Bảng 4.27 Kết quả mô hình kinh tế lƣợng 89
Trang 10viii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Tổng giá trị kinh tế (TEV) của một tài sản môi trường 6
Hình 2.2 Tam giác của quá trình phát triển bền vững 7
Hình 2.3 Đồ thị đường cầu du lịch cá nhân 14
Hình 2.4 Phân chia vùng xuất phát của du khách 16
Hình 2.5 Đường cầu giải trí đối với du khách 19
Hình 2.6 Tổng giá trị giải trí của một địa điểm tham quan 20
Hình 3.1 Lược đồ huyện Cao Lãnh 28
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ các nhóm đất chính ở xã Gáo Giồng 30
Hình 3.3 Đồ thị thể hiện sự tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người
xã Gáo Giồng, 2010 - 2013 36
Hình 3.4 Diệc lửa 44
Hình 3.5 Nhan điển 44
Hình 3.6 Cây tràm 45
Hình 3.7 Hoa sen 46
Hình 3.8 Đồ thị thể hiện lượng khách du lịch hằng năm đến
với Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng giai đoạn 2007 - 2013 49
Hình 3.9 Một góc nhìn Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng từ trên đài
quan sát 51
Hình 3.10 Các loại quà lưu niệm tại Gáo Giồng 53
Hình 3.11 Hiện trạng rác thải tại Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 56
Hình 4.1 Mức thu nhập của những người được phỏng vấn 60
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện trình độ học vấn của đáp viên 62
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện tỷ trọng các hoạt động chính mà
du khách đã tham gia khi đến Gáo Giồng 64
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện địa điểm xuất phát của du khách khi
đến thăm Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 68
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện lượng du khách hằng năm đến Gáo Giồng 70
Hình 4.6 Đường cầu giải trí của du khách tại KDLST Gáo Giồng 83
Trang 11ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KHTN & CNQG : Khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia
quyển Quốc gia Mỹ
Trang 121
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môi trường tự nhiên là một nguồn tài nguyên quý giá mà tạo hóa đã ban
tặng cho con người Môi trường sinh thái là một mạng lưới các mối quan hệ
giữa vật thể sống (sinh vật) và các vật thể không sống (đất, nước, không khí)
trên phạm vi toàn cầu Chức năng đầu tiên và được xem như quan trọng nhất
của môi trường tự nhiên là cung cấp môi sinh cho con người và các loài động,
thực vật Môi trường cho ta không khí để duy trì sự sống nhờ có quá trình hô
hấp, đất để xây dựng nhà cửa và đem lại nguồn sống cho con người Bên cạnh
đó, cùng với hệ sinh thái đa dạng được tạo nên từ các quá trình sinh địa hóa là
nơi cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất Cuối cùng nhưng không
kém phần quan trọng, môi trường với khả năng đồng hóa tự nhiên là nơi tiêu
thụ và chứa chất thải từ các hoạt động kinh tế Theo đó, con người là một bộ
phận của tự nhiên và trong quá trình lao động chúng ta đã dần dần đi ngược lại
với sự phát triển của tự nhiên
Tuy đóng vai trò hết sức to lớn nhưng nhiều năm trở lại đây vấn đề suy
thoái môi trường đang dần trở nên trầm trọng thêm do xuất phát từ các hoạt
động của con người nhằm mục đích phát triển kinh tế Theo Cơ quan bảo vệ
môi trường Mỹ, sự tăng dần các khí gây hiệu ứng nhà kính (cacbon đioxít) do
các hoạt động nhân tạo khác nhau như: đốt nhiên liệu hóa thạch, quá trình
công nghiệp hóa,… có thể ở lại trong bầu không khí hàng nghìn năm Một
trong những nguyên nhân chính gây hiệu ứng nhà kính là do mất rừng Theo
tính toán từ các chuyên gia của tổ chức Nông - Lương (FAO) thì diện tích
rừng tự nhiên trên thế giới liên tục suy giảm khoảng 11,5 triệu hecta do nạn
phá rừng và vấn đề thiên tai Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị tự phát
đã thải ra 35 tỷ tấn CO2 làm suy thoái môi trường (Dự án Cacbon toàn cầu,
2012) Chỉ tính riêng ở Việt Nam đến cuối tháng 12 năm 2013, diện tích rừng
tự nhiên suy giảm khoảng 1.700 hecta Bên cạnh đó, độ che phủ rừng tự nhiên
nước ta chỉ vào khoảng 39,7% trong khi độ che phủ rừng an toàn theo quy
định của thế giới là 45% Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Việt Nam hiện có khoảng 13,1 triệu hecta rừng, trong đó diện
tích rừng tự nhiên chiếm 10 triệu hecta Nhưng điều đáng buồn là trong tổng
diện tích rừng tự nhiên có đến hơn một nữa là rừng nghèo, rừng được tái sinh;
những cánh rừng được coi là quý giá như rừng nguyên sinh, rừng già chỉ còn
lại chưa đầy 10% Nhận thấy rằng, hành động bảo tồn và cải tạo hệ sinh thái tự
Trang 132
nhiên là một vấn đề cấp thiết không chỉ ở hiện tại mà còn là một kế hoạch lâu dài trong tương lai
Xuất phát từ ý tưởng giữ gìn và tôn tạo giá trị giải trí tự nhiên, các dịch
vụ du lịch sinh thái dần dần được hình thành và phát triển Khi chất lượng cuộc sống con người được nâng cao, họ bắt đầu có sự cảm nhận và đánh giá sâu sắc hơn giá trị môi trường xung quanh Họ muốn hòa mình và sống lại cái thuở thiếu thời bên cây đa, giếng nước, con đò và những sản vật tự nhiên mà
đã từ lâu rồi con người bị cuốn trôi theo cuộc sống thường nhật mà chúng dường như dần đi sâu vào quên lãng Nếu Lâm Đồng có Vườn quốc gia Cát Tiên, Cà Mau nổi tiếng với sân chim Ngọc Hiển, Vĩnh Long có cù lao An Bình thì Đồng Tháp là nơi thu hút khách du lịch với hai địa điểm tham quan lý thú là Vườn quốc gia Tràm Chim và Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng Du lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp nói chung và Gáo Giồng nói riêng có vai trò như một chiếc cầu nối cho những ai muốn tìm về nét an nhàn, nét dân dã của thuở khai hoang Loại hình du lịch này đem đến lợi thế ở cả hai khía cạnh, vừa phát triển kinh tế và vừa giáo dục ý thức cộng đồng về tầm quan trọng của môi trường tự nhiên Được ví như vùng Đồng Tháp Mười thu nhỏ, Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng đem đến cho du khách những hình ảnh hoang sơ mang đậm sắc màu đời sống của cư dân vùng sông nước Nam Bộ, hòa quyện cùng với vẻ đẹp của
tự nhiên Ban quản lý khu du lịch không ngừng hoàn thiện và đổi mới phương thức phụ vụ để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách đến tham quan Tuy nhiên, Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng vẫn chưa khai thác hết tiềm năng du lịch sẵn có Bên cạnh đó, hình thức hoạt động vẫn chưa có sự sáng tạo, chưa tìm ra những loại hình dịch vụ mới làm nên nét riêng cho mình Đồng thời, lợi ích đạt được chỉ xem xét ở khía cạnh doanh thu mà vẫn chưa quan tâm nhiều đến mức độ hài lòng của du khách khi đến với Gáo Giồng hay giá trị mà cảnh quan tự nhiên mang lại
Chính vì những lý do trên, em quyết định chọn thực hiện đề tài “Phân tích giá trị giải trí của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng thuộc xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” để nghiên cứu Đề tài áp dụng lý thuyết phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM) nhằm lượng hóa được giá trị giải trí mà khu du lịch mang lại cho du khách Từ đó cho thấy được tầm quan trọng của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng để có những giải pháp tôn tạo, phát triển và thu hút thêm nhiều du khách đến tham quan trong thời gian tới
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trang 143
Lượng hóa được giá trị giải trí của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của cảnh quan tự nhiên Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn góp phần làm nền tảng cho việc đề
ra các chính sách phát triển và tôn tạo cho khu du lịch trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1.2.2.1 Mục tiêu 1: Nắm bắt được lợi thế và thực trạng khai thác tiềm
năng du lịch của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng
1.2.2.2 Mục tiêu 2: Nhận thấy được các yếu tố tác động đến nhu cầu giải
trí của du khách đối với địa điểm du lịch Gáo Giồng
1.2.2.3 Mục tiêu 3: Ước lượng được giá trị giải trí của khu du lịch sinh
thái mang lại hằng năm cho khách du lịch Đồng thời đánh giá được nhận thức cũng như đo lường được mức giá mà họ sẵn lòng chi trả cho công tác bảo tồn rừng tràm tại Gáo Giồng
1.2.2.4 Mục tiêu 4: Đề ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao
chất lượng dịch vụ cho khu du lịch và các hoạt động bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng
thuộc xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
1.3.2 Phạm vi thời gian
Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được thu thập từ năm 2007 đến tháng 8 năm 2014 Số liệu sơ cấp được tiến hành thu thập từ ngày 15 tháng 9 đến ngày 1 tháng 10 năm 2014
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng
Trang 15+ Chất lượng môi trường cung cấp các điều kiện sống và sinh hoạt hằng ngày như: ăn, ở, đi lại, văn hóa - xã hội,… cho con người
+ Chất lượng môi trường đáp ứng đầy đủ tiện nghi cho cuộc sống con người như: không khí trong lành, nước, cây cối tự nhiên, sự yên tĩnh,…
+ Yếu tố này như là thước đo về chất lượng của điều kiện tự nhiên, xã hội bao quanh và có những tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần của con người Sự tác động đó còn tùy thuộc vào mức độ suy thoái môi trường gây ra mà nguyên nhân chính xuất phát từ các hoạt động khai thác, sản xuất và phát triển kinh tế của con người
Dù ở phương diện nào, môi trường xung quanh đều thực hiện ba chức năng quan trọng và không thể thiếu đi trong quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người Và vô tình con người lại có những hành động gây nguy hại cho thế giới tự nhiên Hàng hóa chất lượng môi trường là một khái niệm mới được đưa vào nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế môi trường Trước đây, chất lượng môi trường vẫn chưa được xem là hàng hóa vì nó không được phản ánh bởi giá thị trường Tuy nhiên, chất lượng môi trường thể hiện đầy đủ ba đặc điểm chủ yếu của một loại hàng hóa:
+ Hàng hóa do con người tạo ra: môi trường thực hiện chức năng quan trọng là nơi chứa chất thải từ các hoạt động sống của con người Nhờ khả năng đồng hóa, hệ thống môi trường tự nhiên có khả năng chấp nhận một lượng chất ô nhiễm nào đó và chuyển chúng sang dạng trung tính hoặc vô hại Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là con người được tự do phó mặc cho môi trường
xử lý các sản phẩm không mong muốn của mình trong quá trình hậu sản xuất
mà không tìm ra các biện pháp xử lý Khả năng đồng hóa của môi trường là có
Trang 16+ Hàng hóa phải thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người: môi trường là nơi chứa đựng các yếu tố vật lý (không khí, nước, nhiệt độ, ánh sáng, ) cung cấp cho sinh vật trên Trái đất giúp duy trì sự sống Đồng thời, môi trường là nơi chứa đựng các nguyên, vật liệu cần cho quá trình sản xuất Hầu hết mọi hoạt động kinh tế đều cần đến sự tham gia của các yếu tố tự nhiên từ môi trường Bên cạnh đó, một số cảnh quan môi trường còn cung cấp cho con người giá trị giải trí, tham quan, nghỉ dưỡng và nghiên cứu khoa học Nhờ vào
tự nhiên, con người có được những lợi ích từ việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên của môi trường trong quá trính phát triển
+ Hàng hóa có thể mua bán trên thị trường: việc định giá chất lượng môi trường là một vấn đề rất khó khăn trước khi giấy phép thải có thể chuyển nhượng (TDP) xuất hiện Chương trình giấy phép thải cho các cá nhân quyền gây ô nhiễm trên số đơn vị giấy phép mà họ có Tổng số giấy phép cho ta giới hạn tối đa về tổng lượng thải cho phép trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Theo đó, nó khuyến khích các đơn vị sản xuất xử lý chất thải để bán số giấy phép mà họ có được phù hợp với nguyên tắc cân bằng biên khi giá giấy phép vẫn còn lớn hơn hay xấp xỉ chi phí giảm thải biên Trong khi đó, các nguồn thải có chi phí giảm thải biên quá lớn hoặc mới gia nhập ngành sẽ là chủ thể mua giấy phép Từ đó, giá giấy phép hình thành bằng quan hệ cung - cầu trên thị trường và phần nào đo lường được giá trị hàng hóa chất lượng môi trường trong một thị trường giấy phép
Cho đến nay, khi phân tích khía cạnh chất lượng môi trường thì các nhà kinh tế môi trường luôn quan tâm đến giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường
mà nó được đề cập
2.1.1.2 Các yếu tố cấu thành giá trị kinh tế của hàng hóa chất lượng môi trường (TEV)
Hàng hóa và dịch vụ môi trường thường không có giá trên thị trường Do
đó khó xác định được tầm quan trọng của chúng Để giúp các nhà kinh tế đễ dàng hơn trong việc phân tích và đo lường giá trị của hàng hóa môi trường thì
lý thuyết về tổng giá trị kinh tế đã ra đời Khái niệm được hình thành vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, nó cho phép đo lường giá trị tài sản môi
Trang 176
trường phi thị trường Trong đó, tổng giá trị kinh tế của tài sản môi trường không chỉ đề cập đến giá trị sử dụng mà còn bao hàm cả giá trị phi sử dụng Một TEV bao gồm các yếu tố được minh họa trong sơ đồ sau:
Nguồn: Theo Mustafa F Türker và cộng sự, 2002
Hình 2.1 Tổng giá trị kinh tế (TEV) của một tài sản môi trường
Hiện nay, các thuật ngữ vẫn chưa có sự thống nhất nhưng đa phần các nhà nghiên cứu kinh tế môi trường thường thống nhất quan điểm rằng phương pháp của họ đặt trên cơ sở cách giải thích truyền thống về giá trị Đó là sự tương tác giữa con người với tự nhiên Do vậy, chúng ta đã tìm ra được hầu hết các giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường Chúng bao gồm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng
Giá trị sử dụng được hình thành từ việc thực sự sử dụng một tài sản môi trường Là tiện ích khi tiêu dùng một giá trị nào đó của môi trường Giá trị này được cấu thành từ các yếu tố sau:
+ Giá trị sử dụng trực tiếp: là thành phần quan trọng nhất của giá trị sử dụng Giá trị sử dụng trực tiếp liên quan đến việc sử dụng thực tế hàng hóa đang được xem xét và nó đem lại các lợi ích (như một chuyến đi câu cá) hay mục đích sử dụng đã được hoạch định trong tương lai (như một chuyến đi du lịch trong tháng tới) Giá trị này rất dễ nhận thấy và thường có thể được đo lường theo giá thị trường
+ Giá trị sử dụng gián tiếp: là những lợi ích gián tiếp thu được bằng cách
sử dụng các nguồn tài nguyên môi trường Những lợi ích này liên quan nhiều đến chức năng của hệ sinh thái mà nó tham gia gián tiếp hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế và đời sống của con người Đảm bảo cho những thảm họa có thể không xảy ra hoặc xảy ra với mức độ đã được giảm nhẹ Nó xuất phát từ lợi
Tổng giá trị kinh tế
Giá trị sử dụng gián tiếp
Giá trị tồn tại
Giá trị lựa chọn
Giá trị sử
dụng trực
tiếp
Giá trị phi sử dụng Giá trị sử dụng
Giá trị lưu truyền
Trang 18ở thời điểm hiện tại hay duy trì nó cho nhu cầu trong tương lai dựa trên sự so sánh phần lợi ích (hoặc chi phí) nhận được (hoặc mất đi) để làm nền tảng cho quá trình ra quyết định sử dụng
Giá trị phi sử dụng: liên quan đến hành động của một cá nhân bộc lộ mức giá sẵn lòng trả của mình để duy trì sự tồn tại của một loại hàng hóa cho dù cá nhân đó không sử dụng Giá trị này được cấu thành và tiếp cận thông qua hai khía cạnh:
+ Giá trị lưu truyền: phản ánh sự sẵn lòng chi trả để đảm bảo cho thế hệ tương lai có thể tận hưởng những lợi ích môi trường tương tự trong thời gian tới Điều này liên quan đến việc chi trả cho bảo tồn môi trường sống hiện tại của các loài và duy trì hệ sinh thái Nó cũng bao gồm sự sẵn sàng trả tiền để ngăn chặn những thay đổi có thể tránh được (như sự tuyệt chủng của loài) Giá trị này liên quan đến một lý thuyết quan trọng mà các nhà kinh tế luôn theo đuổi để đạt được là mục tiêu phát triển bền vững Hàm ý rằng việc tiêu dùng của thế hệ hiện tại phải đảm bảo duy trì khả năng cung cấp của môi trường cho nhu cầu riêng của các thế hệ tương lai ít nhất là bằng hoặc hơn thời điểm hiện tại (theo Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển, 1987) Quá trình phát triển vững chắc phải đảm bảo sự hài hòa của ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 19Để nhận thức rõ hơn về các yếu tố cấu thành nên giá trị kinh tế của một tài sản môi trường, ta xem xét ví dụ minh họa giá trị kinh tế của một khu rừng Giá trị này được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1: Tổng giá trị kinh tế của một tài nguyên môi trường
Giá trị lựa chọn
Giá trị lưu truyền
Tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp ở tương lai
Giá trị
di sản
Giá trị kiến thức có được
từ sự tồn tại tài sản môi trường
▪ Chắn bão
▪ Điều hòa cacbon
▪ Đa dạng sinh học
▪ Duy trì môi trường sống
▪ Môi trường sống
▪ Phòng ngừa sự thay đổi các giá trị môi trường
▪ Các loài động, thực vật
▪ Di truyền
▪ Hệ sinh thái
Nguồn: Jochem Jantzen, Radmilo Pešic Assessment of the economic value of
environmental degradation in Serbia, 2004
2.1.2 Đánh giá giá trị chất lượng môi trường
2.1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá giá trị chất lượng môi trường
Trang 202.1.2.2 Các phương pháp đánh giá giá trị chất lượng môi trường
Dựa trên cơ sở lý thuyết của kinh tế học, các nhà kinh tế môi trường đã phát triển một số phương pháp định giá đối với hàng hóa môi trường nhằm đưa các giá trị tài nguyên và dịch vụ môi trường vào trong phân tích kinh tế
Từ đó, một số tài sản môi trường đã được định giá trị một cách tương đối và làm nền tảng cho việc phát triển và ứng dụng ngày càng rộng rãi các phương pháp này trên thế giới Các phương pháp được sử dụng phổ biến bao gồm: + Phương pháp thay đổi năng suất: sử dụng phương pháp luận dễ hiểu là
đo lường chất lượng môi trường thông qua mối quan hệ giữ môi trường bị xuống cấp và sự thay đổi năng suất sản xuất hàng hóa, dịch vụ gắn liền với môi trường đó Vì thế giá trị chất lượng môi trường được đánh giá thông qua
sự biến động của các yếu tố gắn liền với nó
+ Phương pháp chuyển giao giá trị: phương pháp sử dụng kết quả đã được đúc kết từ những bài nghiên cứu trước đó làm giá trị tham khảo và chuyển đổi nó vào địa bàn nghiên cứu của mình trên cơ sở có sự tương đồng giữ hai đối tượng Phương pháp giúp cho người nghiên cứu tiết kiệm được chi phí và thời gian Điểm cần lưu ý là người thực hiện nghiên cứu phải biết cách chuyển giao các giá trị sẵn có sang địa điểm nghiên cứu một cách phù hợp với đặc điểm riêng của từng khu vực, tránh nhầm lẫn
+ Phương pháp hành vi phòng ngừa và giảm nhẹ thiệt hại: phương pháp dựa trên sự quan sát hành động của các cá nhân và chi phí mà họ đã bỏ ra để phòng tránh hoặc giảm bớt các tác động từ khi có thảm họa môi trường Nền tảng của phương pháp là các cá nhân có thể nhận biết được tác động tiêu cực của sự suy thoái môi trường và họ có khả năng điều chỉnh hành vi của mình để phòng ngừa và giảm nhẹ các tác động đó Phương pháp này xem chi phí của
Trang 21+ Phương pháp đánh giá hưởng thụ: giá trị của một hàng hóa phụ thuộc vào mức giá sẵn lòng trả cho hàng hóa đó và giá trị của hàng hóa đó thay đổi khi đặc điểm của hàng hóa có sự thay đổi Trong đó, chất lượng môi trường cũng được xem như một yếu tố làm nên giá trị của một hàng hóa Sự biến động về giá trị này khi điều kiện môi trường thay đổi phản ánh giá của hàng hóa môi trường
+ Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên: là phương pháp duy nhất giúp xác định giá trị phi sử dụng Đây là một phương pháp thuộc nhóm phát biểu sự ưa thích Phương pháp dựa vào mức giá sẵn lòng trả của từng cá nhân cho một dịch vụ môi trường được cải thiện hoặc giá sẵn lòng chấp nhận cho một dịch
vụ môi trường bị thay đổi
Tùy từng điều kiện cụ thể mà các nhà nghiên cứu quyết định sử dụng phương pháp đo lường nào cho hợp lý Tuy nhiên, trong một số trường hợp do giá trị của tài sản môi trường quá phức tạp đòi hỏi phải kết hợp nhiều phương pháp định giá lại với nhau
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ UBND xã Gáo Giồng, Ban quản lý rừng tràm Gáo Giồng, Công ty Cổ phần dịch vụ du lịch Gáo Giồng; thu thập từ sách, báo, tạp chí, internet,… nhằm có được các thông tin về đặc điểm kinh tế
- xã hội xã Gáo Giồng cũng như tình hình hoạt động dịch vụ giải trí của Khu
du lịch sinh thái Gáo Giồng
2.2.1.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp những du khách đến tham quan địa điểm du lịch sinh thái Gáo Giồng Từ đó có được cái
Trang 2211
nhìn tổng quát hơn về các đặc diểm kinh tế - xã hội của du khách cũng như thái độ của họ đối với các dịch vụ du lịch
Số lượng mẫu phỏng vấn được lấy theo phương pháp hệ thống khoảng
396 mẫu Tuy nhiên do giới hạn về thời gian và kinh phí thực hiện nên đề tài chỉ thu thập khoảng 100 mẫu đại diện để tiến hành tính toán
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.2.1 Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp so sánh số tương đối, số tuyệt
đối từ số liệu thứ cấp của Công ty Cổ phần dịch vụ du lịch Gáo Giồng để nhận thấy được thực trạng khai thác và sử dụng hệ sinh thái tự nhiên của khu du lịch Bên cạnh đó, đề tài còn áp dụng phương pháp thống kê mô tả dữ liệu thứ cấp lấy từ UBND xã Gáo Giồng để thấy được tiềm năng và phương hướng phát triển trong tương lai của khu du lịch sinh thái
2.2.2.2 Mục tiêu 2: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân
tích sơ bộ các đặc điểm kinh tế - xã hội từ mẫu du khách được phỏng vấn Song song đó, mô hình hồi quy được thực hiện cùng với sự hỗ trợ của phần mềm thống kê Stata để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch của khách tham quan
2.2.2.3 Mục tiêu 3: Phương pháp hồi quy kinh tế lượng bằng công cụ
Regression Analysis trong Excel được áp dụng để vẽ và tìm các hệ số giá trị hàm cầu du lịch ở Gáo Giồng để từ đó tính toán giá trị giải trí của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng thông qua thặng dư tiêu dùng và chi phí du hành của du khách Bên cạnh đó, mô hình hồi quy kinh tế lượng được ứng dụng để tìm ra các yếu tố tác động và tính toán mức giá sẵn lòng trả của du khách cho việc bảo tồn hệ sinh thái rừng tràm Gáo Giồng
2.2.2.4 Mục tiêu 4: Từ việc phân tích bảng câu hỏi về mức độ hài lòng
của các đáp viên, bài nghiên cứu đưa ra một số đề xuất khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng làm cơ sở cho việc bảo tồn và thu hút thêm nhiều du khách đến viếng thăm trong thời gian tới
2.3 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM) 2.3.1 Khái niệm
Phương pháp chi phí du hành xuất phát từ ý tưởng của nhà kinh tế học Harold Hotelling trong một lá thư gửi đến giám đốc của một Công viên quốc gia vào cuối những năm 1940 (theo W Douglass Shaw, 2005) Khi đó, các nhà kinh tế học áp dụng lý thuyết của Hotelling bằng thông tin đơn giản có
Trang 2312
được từ việc thu thập số phiếu xe ô tô để ước lượng khoảng cách của các tiểu bang và quận mà du khách lái xe đến Dựa vào những thông tin đã thu thập được, họ tiến hành tính toán chi phí cho mỗi dặm của chuyến đi và toàn bộ chi phí cho một chuyến đi đến từ các quận xung quanh khu giải trí Chi phí này được giả định là mức giá sẵn lòng trả mà người du lịch phải bỏ ra để đến địa điểm tham quan bằng nhu cầu về chất lượng môi trường tại địa điểm Sau đó,
ý tưởng cơ bản này được nhiều nhà kinh tế học môi trường như Jack Clawson, Marion Nets ứng dụng và phát triển để đo lường giá trị của khu vui chơi giải trí
Chi phí du hành là một trong những phương pháp thuộc nhóm bộc lộ sự
ưa thích Phương pháp nhằm đánh giá nhu cầu hưởng thụ cảnh quan môi trường thông qua một thị trường đại diện thực sự tồn tại Mặc dù chúng ta không thể quan sát hành vi mua hàng hóa chất lượng môi trường nhưng chúng
ta vẫn có thể quan sát được hành vi du lịch thực sự của họ để hưởng thụ một cảnh quan môi trường Giá trị tài nguyên môi trường được bắt nguồn từ dữ liệu thu được thông qua các thị trường thay thế Khi quyết định đến một địa điểm du lịch nào đó, họ thường phải bỏ ra hai yếu tố chi phí cơ bản đó là chi phí về tiền bạc và chi phí cơ hội về thời gian Từ đó, phương pháp chi phí du hành xem chi phí và thời gian mà một cá nhân phải gánh chịu trong suốt chuyến đi giải trí đến một địa điểm nào đó là cơ sở để suy ra giá trị của địa điểm đó Bằng cách xem xét sự thay đổi trong số lượng chuyến đi, ta ước tính được hàm cầu và giá trị của địa điểm du lịch Cơ sở mối quan hệ giữ cầu du lịch và chi phí của chuyến đi là tỷ lệ nghịch với nhau Đây là phương pháp chỉ
có thể đo lường giá trị sử dụng trực tiếp của một loại tài sản môi trường Phương pháp này được ứng dụng trong các trường hợp sau:
+ Đánh giá giá trị giải trí của địa điểm du lịch
+ Thay đổi chi phí du lịch ở địa điểm giải trí hiện tại
+ Sự loại ra một địa điểm giải trí đang tồn tại
+ Thêm vào một địa điểm giải trí mới
+ Những thay đổi về chất lượng môi trường tại địa điểm vui chơi, giải trí Phương pháp chi phí du hành được sử dụng khá phổ biến trong đánh giá lợi ích của việc giải trí Bên cạnh đó, một khía cạnh khác có thể áp dụng phương pháp này là dùng để đánh giá chất lượng môi trường khi có thiệt hại
do ô nhiễm hoặc giá trị của địa điểm tăng thêm do được cải tạo thông qua việc quan sát sự thay đổi trong hành vi viếng thăm một địa điểm tự nhiên Khi đó,
Trang 2413
các nhà nghiên cứu thường kết hợp phương pháp chi phí du hành (TCM) và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để ước tính giá trị kinh tế của sự thay đổi chất lượng tài sản môi trường bằng cách khảo sát khách du lịch xem
có bao nhiêu chuyến đi họ sẽ thực hiện đến địa điểm nghiên cứu khi có sự thay đổi nhất định về chất lượng môi trường Dữ liệu này góp phần quan trọng trong việc đánh giá các tác động của một chính sách đối với hoạt động của điểm tham quan
2.3.2 Phân loại phương pháp chi phí du hành
Có nhiều cách tiếp cận phương pháp chi phí du hành Tuy nhiên, các nhà kinh tế môi trường thường áp dụng hai phương pháp chi phí du hành đơn giản
đó là chi phí du hành cá nhân và chi phí du hành theo vùng
2.3.2.1 Phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM)
Phương pháp chi phí du hành cá nhân được phát triển bởi Brown - Nawas (1973) và Gum - Martin (1974) Phương pháp ước tính thặng dư tiêu dùng bằng cách phân tích hành vi du lịch của mỗi cá nhân và chi phí để duy trì cho hoạt động giải trí đó Phương pháp này áp dụng gần như tương tự với phương pháp chi phí du hành theo vùng Điểm khác biệt ở đây là tỷ lệ tham quan theo phương pháp này được tính bằng số lần viếng thăm mà mỗi cá nhân thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể - thường là một năm (theo Paolo Rosato và Edi Defrancesco, 2002) Do vậy, các biến giải thích liên quan mật thiết đến các thông tin của cá nhân và đòi hỏi một cuộc điều tra chi tiết hơn về các đặc điểm kinh tế - xã hội của từng du khách Không đơn thuần chỉ thu thập thông tin về khoảng cách và chi phí mà theo tiến sĩ Ekin Birol trong bài giảng
về giá trị, cuộc điều tra phỏng vấn phải đảm bảo có các thông tin sau:
+ Vị trí nhà của du khách là bao xa so với địa điểm du lịch
+ Họ đã viếng thăm nơi đây bao nhiêu lần trong năm hoặc mùa ở quá khứ
+ Kỳ nghỉ kéo dài bao lâu
+ Họ đã tiêu tốn bao nhiêu thời gian cho địa điểm du lịch
+ Chi phí du lịch là bao nhiêu
+ Thu nhập của cá nhân hoặc các thông tin khác để xác định giá trị thời gian của họ
+ Những đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách
Trang 2514
Chi phí du
hành cá nhân
Tỷ lệ viếng thăm Đường cầu du lịch cá nhân
+ Những địa điểm viếng thăm khác trong chuyến đi và thời gian mà họ dành cho mỗi địa điểm
+ Những mục đích khác của chuyến đi (chỉ nhằm mục đích viếng thăm, hoặc cho một vài mục đích khác)
+ Sự nhận thức về chất lượng môi trường tại địa điểm du lịch
+ Các địa điểm thay thế khác mà du khách có lẽ sẽ viếng thăm thay vì đến địa điểm cần nghiên cứu
Mô hình chi phí du hành cá nhân có thể được minh họa như sau:
Vij = f (TCij, Xi) (2.1) Trong đó Vij: Số lượt viếng thăm của vị khách tham quan thứ i đến
Hình 2.3 Đồ thị đường cầu du lịch cá nhân
Trang 2615
Sau đó, thặng dư tiêu dùng trung bình này được nhân với dân số nơi có liên quan để ước tính tổng thặng dư tiêu dùng của địa điểm du lịch Cuối cùng, tổng chi phí và lợi ích cho ta giá trị giải trí của địa điểm cần đánh giá
Phương pháp ITCM yêu cầu phải có sự biến động tương đối lớn trong số lần đến địa điểm du lịch của một cá nhân thì mới có thể ước lượng được hàm cầu Do đó sẽ gặp khó khăn khi mô hình có sự biến động với số lần du lịch trong năm (hoặc mùa) là quá nhỏ Vì vậy, chúng ta cần đến một cách tiếp cận khác đó là phương pháp chi phí du hành theo vùng
2.3.2.2 Phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM)
Được biết đến như một hướng tiếp cận khá đơn giản, mô hình chi phí du hành theo vùng được ứng dụng và phát triển bởi Clawson trong “Chương trình tài nguyên cho tương lai” vào cuối những năm 1950 và 1960 (theo Sunkanya Das, 2013) Phương pháp sử dụng dữ liệu thứ cấp và dữ liệu phỏng vấn đơn giản từ du khách là chủ yếu Dữ liệu cần có cho việc nghiên cứu bao gồm mẫu bảng câu hỏi về một nhóm du khách đại diện cho các vùng đến địa điểm tham quan nào đó để xác định vùng xuất phát của họ Đây là phương pháp tiếp cận khá đơn giản và ít tốn kém nhất do sử dụng một số lượng của mẫu điều tra để suy rộng cho giá trị tổng thể Vì vậy, phương pháp thường được áp dụng cho các trường hợp địa điểm không có một số thuộc tính duy nhất làm cho giá trị phi sử dụng trở nên quan trọng Thêm vào đó, nếu kinh phí cho việc bảo tồn là khá thấp thì việc áp dụng phương pháp này tương đối khả thi Theo đó, khu vực xung quanh địa điểm khảo sát được chia làm các vùng trên cơ sở các địa điểm xuất phát là gần như nhau về khoảng cách (tính từ địa điểm nghiên cứu)
Do đó, tỷ lệ viếng thăm là số lượt người đến tham quan từ một vùng trên tổng dân số vùng đó Phương pháp giả định rằng phản ứng của du khách đối với chi phí du hành giống như phản ứng của việc tăng giá vé vào cửa Các vùng có khoảng cách càng xa thì chi phí du hành càng lớn Vì thế, số lượt viếng thăm càng giảm Bên cạnh đó, các cá nhân xuất phát từ cùng một vùng nghiên cứu được giả định rằng họ có chi phí thời gian và phương tiện di chuyển là như nhau Bằng cách xem xét mối quan hệ giữ số lượt khách viếng thăm của từng vùng với các đặc điểm kinh tế - xã hội từ mẫu thu thập cho ta giá trị hàm cầu giải trí làm cơ sở ước lượng thặng dư tiêu dùng Sau đó, việc tổng hợp giữa chi phí của chuyến đi và những lợi ích mà du khách nhận được cho ta giá trị của một địa điểm tham quan
2.3.2.3 Các bước tiến hành phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM)
Trang 27+ Bước 2: chọn mẫu và tiến hành khảo sát Từ số liệu thứ cấp về lượng
du khách đến viếng thăm hằng năm của địa điểm tham quan, ta lấy mẫu đại diện cho tổng thể Tuy nhiên việc lấy mẫu cần phải xem xét đến tính mùa vụ
để có mẫu đại diện Nếu tổng thể hơn 200 cá thể, ta sử dụng công thức đơn giản của Yamane (1967 - 1986) để tính số lượng mẫu cần điều tra có dạng:
N: Số lượt du khách trung bình đến địa điểm nghiên cứu trong một năm
α2
: Sai số cho phép (từ 3% - 6%) + Bước 3: chia vùng xuất phát của du khách theo khoảng cách tăng dần Dựa vào số mẫu khảo sát, ta chia mẫu thành từng nhóm đại diện cho một số vùng có cùng khoảng cách với nhau (tính từ vị trí của địa điểm nghiên cứu) Hay ta có thể phân vùng xuất phát thành khu vực thành thị và nông thôn Tuy nhiên, một cách đơn giản nhất để phân vùng xuất phát của du khách là vẽ các đường tròn đồng tâm (với tâm là địa điểm du lịch) Phương pháp này tiết kiệm được thời gian và không yêu cầu phải có số liệu chính xác về khoảng cách
Hình 2.4 Phân chia vùng xuất phát của du khách
Điểm
du lịch Vùng 1 Vùng 2
Trang 2817
+ Bước 4: xác định tỷ lệ viếng thăm của từng vùng dựa vào mẫu khảo sát Tỷ lệ viếng thăm theo vùng được tính toán bằng cách lấy số mẫu khảo sát của từng vùng chia cho tổng số mẫu thu thập được Công thức ước tính như sau:
m
im ijm
P
P
P (2.3) Trong đó Pijm: Tỷ lệ viếng thăm theo mẫu của vùng i đến địa điểm j
Pim: Số khách viếng thăm của vùng i trong mẫu
Pm: Tổng số mẫu khảo sát được + Bước 5: tính số lượt viếng thăm hằng năm theo vùng Dựa vào tỷ lệ viếng thăm theo mẫu của từng vùng, sau khi nhân với số lượt viếng thăm trung bình hằng năm của du khách đến với một địa điểm nghiên cứu cụ thể ta có được số lượt viếng thăm hằng năm theo vùng Cách ước lượng dựa theo công thức sau:
ijm j
V (2.4) Trong đó Vij: Số khách viếng thăm vùng i đến địa điểm j hằng năm
Vj: Số lượt khách viếng thăm trung bình hằng năm đến địa điểm tham quan j
Pijm: Tỷ lệ viếng thăm theo mẫu vùng i đến địa điểm j + Bước 6: tính tỷ lệ viếng thăm trung bình theo vùng Sau khi có được lượng khách viếng thăm hằng năm theo vùng (đã thực hiện ở bước 5), ta tiến hành thu thập tổng dân số của từng vùng Khi số liệu về các chỉ tiêu cần cho việc tính toán đã sẵn sàng, ta xác định tỷ lệ viếng thăm trung bình theo từng vùng dựa vào công thức sau:
i
ij i
P
V
VR (2.5) Trong đó VRi: Tỷ lệ viếng thăm trên 1.000 dân của vùng i
Vij: Số khách viếng thăm vùng i đến địa điểm j hằng năm
Pi: Tổng dân số của vùng thứ i + Bước 7: tính chi phí du hành trung bình của từng vùng đến địa điểm nghiên cứu (TC) Đây là bước ước tính quan trọng đối với kết quả nghiên cứu Chi phí này thường bao gồm ba yếu tố cơ bản cấu thành Yếu tố đầu tiên là chi
Trang 2918
phí về phương tiện di chuyển Chi phí này bao gồm chi phí tiền xăng cho
phương tiện di chuyển, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,… Mỗi cá nhân khi
xuất phát từ những vùng khác nhau sẽ sử dụng những phương tiện khác nhau
và do đó chi phí của họ cũng không giống nhau Để ước lượng chi phí này, ta
có thể dựa vào chi phí bình quân của mẫu khảo sát hoặc từ các tài liệu có sẵn
về chi phí trên mỗi ki-lô-mét được các nhà nghiên cứu khác tính toán từ trước
Sau đó, ta nhân chúng với khoảng cách của từng vùng cho ta chi phí về
phương tiện di chuyển Chi phí thứ hai phải kể đến đó là chi phí về thời gian
bao gồm thời gian di chuyển và thời gian tại địa điểm Đa số các nhà nghiên
cứu đều có chung quan điểm là nên sử dụng tiền lương lao động trên một ngày
hoặc một giờ để tính toán loại chi phí này Chi phí cơ hội được ước lượng
bằng cách nhân thời gian tiêu tốn cho chuyến đi với mức lương tương ứng
trong một ngày (hoặc giờ) lao động Tuy vậy, đây là loại chi phí dễ nhận thấy
nhưng rất khó xác định bởi nó còn phụ thuộc vào chuyến đi đa mục tiêu hay
với nhiều địa điểm trong lịch trình di chuyển Do vậy đòi hỏi người nghiên
cứu cần phải tách biệt được chi phí thời gian mà du khách thực sự bỏ ra cho
địa điểm đang nghiên cứu Bên cạnh đó, nếu chuyến di chuyển đến địa điểm
giải trí là một trải nghiệm mang đến nhiều điều thú vị cho du khách thì chi phí
thời gian lại trở thành lợi ích mà du khách có được trong chuyến viếng thăm
Cuối cùng, nhóm chi phí thứ ba là chi phí tại địa điểm du lịch Chi phí này
thường bao gồm: vé vào cổng (nếu có), chi phí thuê hướng dẫn viên, chi phí
ăn uống, chi phí nghỉ lại qua đêm, chi phí tham gia các hoạt động giải trí,…
Để ước lượng chi phí này, ta có thể tính chi phí tại địa điểm trung bình mẫu
nghiên cứu theo từng vùng và nhân với tổng số du khách viếng thăm hằng
năm theo từng vùng
+ Bước 8: ước lượng hàm cầu dịch vụ giải trí Ta sử dụng một hàm cầu
đơn giản mô tả mối quan hệ giữ tỷ lệ khách tham quan và chi phí du hành của
họ có dạng:
i
VR (2.6)
Trong đó VRi: Tỷ lệ viếng thăm trên 1.000 dân của vùng i
a: Hệ số chặn biểu thị sự ảnh hưởng của các yếu tố khác ngoài mô hình
b: Phản ánh mối tương quan giữ tỷ lệ viếng thăm và chi phí
du hành
TCi: Là chi phí du hành tương ứng với vùng xuất phát i
Trang 3019
Sau khi có được số liệu về tỷ lệ viếng thăm (VRi) và chi phí du hành
(TCi) cho từng vùng Ta sử dụng phương pháp hồi quy Regression Analysis
trong Excel để vẽ và tìm hàm số cầu của các vùng về dịch vụ giải trí gồm hai
yếu tố VRi và TCi Đường cầu giải trí này ngầm giả định rằng mỗi du khách
đến từ cùng một vùng nghiên cứu sẽ phản ứng như nhau đối với sự thay đổi
của chi phí du hành Họ sẽ có số lượt viếng thăm là như nhau khi phải chi trả
với cùng một mức chi phí
Hình 2.5 Đường cầu giải trí đối với du khách + Bước 9: tính thặng dư tiêu dùng trung bình trên mỗi du khách theo
từng vùng (CSi) Thặng dư tiêu dùng ở đây được xem là phần chênh lệch giữ
chi phí du hành thực tế mà cá nhân đã bỏ ra so với lợi ích mà họ nhận được
sau chuyến viếng thăm Ta nhận thấy nhu cầu du lịch của từng cá nhân là khác
nhau do đó đường cầu giải trí không đơn thuần là một đường thẳng Vì vậy,
diện tích dưới đường cầu được tính bằng công thức tích phân với cận trên là
giá chokeprice (mức giá làm cho VR bằng 0) và cận dưới là chi phí du hành
của từng vùng Vậy để ước lượng giá trị thặng dư tiêu dùng theo vùng ta có
thể áp dụng công thức:
Chokeprice
TC i
i
)(
(2.7)
Trong đó CSi: Thặng dư tiêu dùng trên mỗi du khách của vùng thứ i
TCi: Chi phí du hành tương ứng với vùng xuất phát i Chokeprice: Mức chi phí làm cho tỷ lệ viếng thăm bằng 0 a: Hệ số chặn của mô hình
b: Hệ số biểu thị sự tác động của chi phí du hành TC
Chi phí du
hành (TC)
Tỷ lệ viếng thăm (VR) Đường cầu du lịch
Trang 3120
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, khi mức giá chokeprice < TCi thì thặng dư tiêu dùng sẽ bằng 0 Vì lúc này chi phí mà một cá nhân đến viếng thăm địa điểm phải bỏ ra lớn hơn lợi ích mà họ nhận được nên CS sẽ nhận giá trị 0
+ Bước 10: tính tổng thặng dư tiêu dùng cho từng vùng (TCSi) Khi có được chỉ số đo lường thặng dư tiêu dùng của từng người theo vùng (CSi), ta nhân giá trị này với số lượt khách viếng thăm từ mỗi vùng đến địa điểm nghiên cứu trung bình trong một năm (Vij) Sau đó tổng hợp CS của tất cả các vùng ta được tổng thặng dư tiêu dùng (TCS) của du khách khi đến một địa điểm du lịch
+ Bước 11: đây là bước xác định mục tiêu cần đạt được của cuộc nghiên cứu đó là định giá giá trị giải trí của một địa điểm du lịch Giá trị của một địa điểm tham quan sẽ bằng tổng chi phí du hành (TC) cộng với tổng thặng dư tiêu dùng (TCS) Đó là toàn bộ diện tích nằm dưới đường cầu giải trí Việc có
sự kết hợp này là do TC chính là mức giá sẵn lòng trả mà một cá nhân chấp nhận chi trả để đến một địa điểm du lịch Và thặng dư tiêu dùng chính là lợi ích mà cá nhân đạt được khi đến viếng thăm địa điểm nghiên cứu Do vậy, giá trị giải trí phải bao gồm cả hai yếu tố TC và TCS
Hình 2.6 Tổng giá trị giải trí của một địa điểm tham quan
+ Bước 12: phân tích và trình bày kết quả Tùy theo các mục tiêu khác nhau mà giá trị giải trí này sẽ được phân tích nhằm đáp ứng cho việc giải thích mục tiêu đó
Đề tài nghiên cứu áp dụng lý thuyết phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM) để tính toán giá trị giải trí của Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng Cách tiếp cận này tương đối phù hợp với địa điểm nghiên cứu do đặc điểm phương pháp chi phí du hành cá nhân (ITCM) cần một sự biến động tương đối
TCi
VR
Đường cầu giải trí CSi
Chi phí du hành TC
Trang 3221
rõ nét trong số lượt viếng thăm đến địa điểm du lịch trong một khoảng thời gian cụ thể Bên cạnh đó, du khách Việt Nam thường có thói quen đi đến địa điểm tham quan chỉ một lần và dường như họ hiếm khi quay lại địa điểm cũ khi có nhu cầu du lịch Trong khi phương pháp ZTCM không phụ thuộc vào biến số lượt viếng thăm này của cá nhân Thêm vào đó, phương pháp này nhìn chung khá đơn giản để thực hiện vì các thông tin thu được không cần chi tiết hóa đặc điểm của du khách tham quan mà phụ thuộc vào các vùng xuất phát cần nghiên cứu Để ước lượng một mức giá sẵn lòng chi trả cho việc bảo tồn địa điểm nghiên cứu, đề tài còn kết hợp sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để đo lường giá trị WTP cho công tác bảo tồn thiên nhiên (hay giá trị phi sử dụng mà tài sản môi trường sinh thái mang lại) của du khách đến viếng thăm Gáo Giồng
2.4 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN (CVM) TRONG VIỆC ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG
2.4.1 Khái niệm về phương pháp CVM
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên có thể được dùng để lượng hóa giá trị kinh tế của tất cả các hệ sinh thái và môi trường tự nhiên Đây được xem là một phương pháp hữu ích trong việc định giá tài nguyên môi trường (giá trị sử dụng và phi sử dụng của hàng hóa) Phương pháp được hình thành và dựa trên nền tảng lý thuyết của S.V Ciriacy Wantrup (1947) Sau đó, phương pháp được Davis áp dụng vào năm 1973 trong nghiên cứu của mình về việc ước tính giá trị mà thợ săn và du khách có được khi đến với một môi trường đặc biệt hoang dã
Các nhà kinh tế sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) khi
dữ liệu trên thị trường không đáng tin cậy hoặc không có sẵn cho việc phân tích Bằng cách xây dựng một thị trường giả định, các cá nhân từ đó phát biểu
sự ưa thích của mình thông qua mức giá sẵn lòng chi trả (WTP) cho sự cải thiện hoặc giá trị sẵn lòng chấp nhận (WTA) cho việc chấp nhận sự suy giảm chất lượng dịch vụ môi trường nào đó Đây là phương pháp phụ trong nghiên cứu nhằm thành lập một quỹ bảo vệ hệ sinh thái rừng tràm Gáo Giồng trong thời gian tới
2.4.2 Các bước đo lường giá sẵn lòng trả bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
Để ước lượng được giá sẵn lòng trả của từng cá nhân cho sự thay đổi trong việc cung cấp một hàng hóa hoặc dịch vụ môi trường, ta thực thiện theo trình tự các bước như sau:
Trang 3322
2.4.2.1 Bước 1: Xây dựng thị trường giả định
Một thuận lợi thú vị của phương pháp CVM là nó có thể dùng để suy ra giá trị của một tài nguyên mà cá nhân chưa từng sử dụng, thấy hoặc viếng thăm tài nguyên thiên nhiên đó Thị trường giả định giúp cho các đáp viên có thể hình thành ý tưởng về hàng hóa thông qua các dữ kiện về thuộc tính, cấu tạo, công dụng,… Bên cạnh đó, ta cũng có thể mô tả bằng hình ảnh minh họa Đây là bước quan trọng, có ảnh hưởng đến kết quả tính toán sau này Nội dung của một thị trường giả định bao gồm các yếu tố sau:
+ Mô tả đặc điểm của đối tượng cần nghiên cứu: việc mô tả chi tiết về đối tượng nghiên cứu giúp hình thành cái nhìn đầu tiên về tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ môi trường trong suy nghĩ của đáp viên Đối với Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, thị trường giả định được xây dựng thông qua sự đa dạng của hệ sinh thái rừng tràm Sự đa dạng này được thể hiện bằng cách đưa
ra số lượng ước tính tương đối của các loài động vật (chim, cá,…) và thực vật (tràm, sen, súng,…) góp phần giúp cho du khách có cái nhìn tổng quan hơn về giá trị sinh cảnh Gáo Giồng mang lại Bên cạnh đó, chức năng điều hòa khí hậu và giảm nhẹ các tác động xấu của thời tiết cũng được nhắc đến nhằm nhấn mạnh vai trò của rừng tràm trong cuộc sống con người
+ Tình huống giả định được đặt ra về sự thay đổi chất lượng dịch vụ môi trường cung cấp cho người được phỏng vấn về hiện trạng sử dụng và các mối nguy hại đe dọa đến đối tượng cần nghiên cứu Theo đó, bảng câu hỏi phỏng vấn đưa ra một giả thuyết về việc thành lập một quỹ bảo tồn hệ sinh thái rừng tràm Gáo Giồng trong thời gian tới Quỹ bảo tồn có chức năng quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ sinh cảnh Gáo Giồng, tạo điều kiện cho sự phát triển của các loài động vật và thực vật Các hoạt động bảo tồn được nêu lên cụ thể trong bảng khảo sát như: thuê thêm lực lượng bảo vệ rừng; xây dựng đê bao bảo vệ xung quanh; đổi mới các trang, thiết bị chữa cháy chuyên dụng; Kinh phí cho công tác bảo tồn này được xây dựng từ ngân sách tỉnh Đồng Tháp, phần còn lại do cá nhân đóng góp
+ Đưa ra phương tiện thanh toán cho người được phỏng vấn Bao gồm các thông tin: cách thanh toán, thời gian thanh toán, phương tiện thanh toán (thường thông qua thuế, phí, lệ phí),… Để thành lập quỹ bảo tồn hệ sinh thái rừng tràm Gáo Giồng, nghiên cứu đưa ra phương tiện đóng góp cho du khách thông qua việc gia tăng giá vé vào cổng áp dụng từ năm 2015 Hình thức đóng góp thông qua giá vé được cho là khá phù hợp do mức giá vé vào cổng hiện tại
là khá thấp so với các dịch vụ khác Đây là cách giúp du khách có thể đóng
Trang 3423
góp trực tiếp sau khi đã viếng thăm Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng Thông qua việc xác định mức giá WTP, ta đo lường được thái độ và nhận thức của các cá nhân trong việc giữ gìn và duy trì giá trị sinh thái rừng tràm Gáo Giồng cho thế hệ tương lai
2.4.2.2 Bước 2: Xây dựng các mức giá cho WTP
Đây là cơ sở giúp cho việc tính toán các giá trị WTP hoặc WTA để đạt được mục tiêu cuối cùng trong nghiên cứu
Cuộc khảo sát nhằm xác định mức giá sẵn lòng trả cao nhất của đối tượng phỏng vấn cho những sự thay đổi của chất lượng môi trường Các loại câu hỏi WTA hoặc WTP thường dùng bao gồm:
+ Nhóm câu hỏi mở: “Mức giá cao nhất mà anh (chị) có thể chi trả cho việc thay đổi chất lượng hàng hóa môi trường là bao nhiêu…?” Giá trị trả lời cho câu hỏi này còn tùy thuộc vào mức độ đánh giá ban đầu của người được phỏng vấn Phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng thị trường giả định
+ Nhóm câu hỏi đấu giá: ta tăng dần mức giá sẵn lòng trả cho các đáp viên đến khi họ không thể trả thêm được nữa - “Anh (chị) có sẵn lòng trả thêm…” và nếu câu trả lời là “Không” cuộc phỏng vấn kết thúc
+ Nhóm câu hỏi đóng đơn: hỏi một lần, nếu đáp viên trả lời đồng ý hoặc không đồng ý chi trả đều ngưng phỏng vấn Và lấy mức giá đó để tính toán cho giá trị WTP hoặc WTA
+ Nhóm câu hỏi đóng kép: với câu hỏi này ta thực hiện hai lần khảo sát Nếu đáp viên đồng ý chi trả ở mức giá đầu tiên đưa ra thì tăng mức giá lên Nếu đáp viên không sẵn lòng chi trả thì giảm mức giá xuống
+ Nhóm câu hỏi liệt kê: trực tiếp đưa ra các mức giá cụ thể để đáp viên lựa chọn Hình thức này nhằm gợi ý về câu trả lời cho những người được phỏng vấn
Nhận thấy du khách dành nhiều thời gian tham quan tại Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng và thường ra về vào buổi chiều Do đó, nhóm câu hỏi liệt kê được lựa chọn sử dụng trong nghiên cứu này để tránh làm mất thời gian của du khách khi ra về và hạn chế sự phiền toái gây ra cho những người tham gia phỏng vấn Các mức giá từ 5.000 đồng đến 100.000 đồng được cho là khá hợp
lý trong việc tăng giá vé vì nếu mức tăng thêm quá cao, du khách sẽ không sẵn lòng chi trả Thêm vào đó, các mức giá như một gợi ý về câu trả lời cho WTP giúp đáp viên không phải suy nghĩ nhiều và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình phỏng vấn
Trang 3524
Bên cạnh các câu hỏi về WTP hoặc WTA cần phải đưa ra các câu hỏi liên quan tiếp theo để phát hiện ra những động cơ phía sau nhằm loại bỏ các câu trả lời phản đối và không hợp lý Bảng câu hỏi khảo sát đưa ra một số nguyên nhân khiến đáp viên không sẵn sàng đóng góp cho công tác bảo tồn sinh cảnh Gáo Giồng như: việc bảo tồn là nhiệm vụ của ban quản lý rừng tràm, người hưởng lợi từ việc khai thác tài nguyên của rừng tràm phải trả tiền,… để đáp viên lựa chọn
2.4.2.3 Bước 3: Xác định các yếu tố tác động đến giá trị WTP
Trong việc phân tích kinh tế như hiện nay, có rất nhiều mô hình khác nhau được các nhà kinh tế sử dụng để lập chính sách Tính đa dạng của các mô hình tuy góp phần tạo nên sự phong phú trong quá trình phân tích nhưng điều
đó lại làm cho việc giải thích ý nghĩa các hệ số thống kê trong mô hình trở nên phức tạp hơn Trong đó, mô hình logarit ngày càng được sử dụng rộng rãi do
nó có thể khắc phục được các khuyết tật về phương sai giữa các biến trong mô hình Góp phần làm cho việc ước lượng được ổn định và tổng quát
Phân tích hồi quy dựa trên phần mềm thống kê Stata về các yếu tố tác động đến mức giá sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ môi trường của từng đáp viên Trong đó, giá trị WTP (biến phụ thuộc) được giải thích sự biến động thông qua các đặc điểm kinh tế - xã hội (biến độc lập) của đối tượng tham gia phỏng vấn Do giá trị một số biến giải thích trong mẫu khảo sát tại Gáo Giồng lớn hơn rất nhiều so với giá trị của các biến còn lại Vì thế để có được phương sai sai số đồng nhất giữa các biến số, ta sử dụng mô hình logarit - tuyến tính tổng quát có dạng:
WTP j G j X j u j
Log (2.8) Trong đó α: Hệ số chặn của mô hình
G: Biến giả β: Hệ số hồi quy của biến giả G
Xj: Các biến số có giá trị liên tục
λj: Hệ số hồi quy của biến Xj
uj: Sai số ngẫu nhiên
Mô hình bán logarit phản ánh sự thay đổi của giá sẵn lòng trả (WTP) theo sự tác động của các biến liên tục Xj Cụ thể, khi Xj tăng lên 1 đơn vị (theo đơn vị tính của biến Xj) thì giá trị WTPj sẽ tăng lên thêm λj% (nếu các yếu tố khác không đổi)
Trang 3625
Tuy nhiên, đối với một số mô hình logarit - tuyến tính có chứa các biến giả thì việc giải thích sự tác động của các biến số này làm cho mô hình trở nên phức tạp hơn Gọi k là sự biến động giá trị WTP theo biến giải thích G Theo Halvorsen - Palmquist (1980) và Kennedy (1981), để xác định sự biến động của biến phụ thuộc (WTP) khi G = 1 được tính toán dựa vào công thức:
Log(WTPG=1) = Log(1 + k) + Log(WTPG=0)
Log(WTPG=1) - Log(WTPG=0) = Log(1 + k) (*)
+ Bên cạnh đó, theo công thức (2.8) ta có:
Mô hình hồi quy cho ta các hệ số tác động về giá sẵn lòng trả WTP cho công tác bảo tồn sinh cảnh Gáo Giồng với đặc điểm kinh tế - xã hội của đáp viên Từ đó, ta xác định được mức giá WTP trung bình của khách du lịch sẵn lòng đóng góp để duy trì sự đa dạng của sinh cảnh Gáo Giồng làm cơ sở tính toán cho tổng giá trị phi sử dụng mà hệ sinh thái rừng tràm mang lại cho người dân xã Gáo Giồng
2.4.2.4 Bước 4: Kết quả phân tích
Tổng hợp dữ liệu là quá trình chuyển từ giá trị trung bình của mẫu nghiên cứu sang cho tổng thể Khi có được giá trị WTP (hay WTA) trung bình, ta nhân giá trị này cho số người bị ảnh hưởng để suy rộng cho giá trị tổng thể Đối với Gáo Giồng, số người bị ảnh hưởng ở đây được đại điện bằng
số lượt du khách đến tham quan trung bình hằng năm Tổng giá sẵn lòng trả để
Trang 37rừng tràm Gáo Giồng WTP: Giá sẵn lòng trả thêm cho công tác bảo tồn của
2.4.2.5 Bước 5: Đánh giá phương pháp CVM
Kết quả CVM phục thuộc rất nhiều vào chất lượng của quá trình phỏng vấn mẫu nghiên cứu Đo đó, để đánh giá một CVM có thành công hay không nên dựa vào các hướng dẫn của NOAA (Văn phòng cơ quan Quản lý Đại dương và Khí quyển quốc gia Mỹ) về các nguyên tắc cần được tuân theo khi thực hiện CVM gồm:
+ Việc lấy mẫu xác suất là rất cần thiết cho một cuộc khảo sát sử dụng để đánh giá Mẫu xác suất giúp người nghiên cứu tiết kiệm được thời gian nếu số lượng tổng thể là quá lớn Do đó, kết quả khảo sát trở nên đáng tin cậy và có thể đại diện cho tổng thể cần nghiên cứu, đánh giá Đối với Gáo Giồng, đề tài
sử dụng công thức xác suất đơn giản của Yamane (1967 - 1986) để tìm ra số lượng mẫu đại diện cần thu thập
+ Giảm thiểu các biến không có sự phản hồi: nếu giá trị này quá cao sẽ làm cho kết quả khảo sát không đáng tin cậy Biến số này phản ánh nhận thức của những đối tượng tham gia phỏng vấn và khả năng giải thích, truyền đạt của người phỏng vấn Cần tạo cho đáp viên sự tin tưởng nhất định thông qua thái độ và cách ứng xử của người phỏng vấn trong quá trình nêu ra câu hỏi khảo sát Nếu mẫu khảo sát không đầy đủ thông tin, nghiên cứu sẽ tiến hành loại bỏ để không gây ảnh hưởng đến kết quả tính toán
+ CVM cần được bắt đầu bằng kịch bản diễn tả chính xác, dễ hiểu về các tác động của một chương trình đối với môi trường Đôi khi đáp viên được hỏi không nắm bắt được đầy đủ thông tin Do đó, vấn đề đặt ra là phải cung cấp đầy đủ tư liệu trong giới hạn cho phép của cuộc điều tra để giúp cho họ có cái
Trang 3827
nhìn tổng quan hơn về đặc điểm của đối tượng được nghiên cứu, đánh giá Đối với du khách tại Gáo Giồng, bảng câu hỏi xây dựng kịch bản cho một quỹ bảo tồn thiên nhiên Gáo Giồng sau khi đã thu thập được các thông tin về chi phí của đáp viên
+ Việc phỏng vấn trực tiếp cho ta giá trị đáng tin cậy hơn phỏng vấn qua điện thoại hoặc gửi thư Mặt đối mặt phỏng vấn thường thích hợp hơn (mặc dù cuộc phỏng vấn qua điện thoại hoặc thư từ thì ít tốn kém hơn) Phương pháp phỏng vấn trực tiếp giúp ta quan sát được thái độ của các đối tượng tham gia phỏng vấn Từ đó có thể giải thích thêm hay loại bỏ các câu trả lời không hợp
lý có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Theo đó, cuộc khảo sát được tiến hành tại Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng với những du khách đã tham quan xong và đang ra về Du khách tham gia phỏng vấn trả lời trực tiếp theo các câu hỏi được nêu ra bởi người phỏng vấn Hình thức phỏng vấn này tạo điều kiện cho việc giải thích những thắc mắc của đáp viên, giúp họ hiểu rõ hơn về nội dung của các câu hỏi nghiên cứu
+ Một cuộc khảo sát thử nghiệm cần được thực hiện trước khi tiến hành lấy mẫu nhằm kiểm tra những sai sót trong bảng câu hỏi điều tra Phỏng vấn thử giúp người nghiên cứu có thêm kinh nghiệm trong quá trình đặt câu hỏi và điều chỉnh vị trí, trật tự và cấu trúc bảng câu hỏi sao cho phù hợp và thuận lợi nhất cho cả người hỏi và người trả lời phỏng vấn
+ Nên tính toán giá trị WTP thay vì WTA Giá trị WTA sẵn lòng chấp nhận chịu đựng thiệt hại xảy ra để được bồi thường vì có quyền sở hữu Do vậy các cá nhân thường đưa ra mức WTA cao để nhận được bồi thường Thêm vào đó, do giới hạn ngân sách của người chi trả cho WTP làm cho giá trị này thường thấp hơn giá trị WTA Vì thế, đề tài đã lựa chọn WTP để đo lường giá trị phi sử dụng của rừng tràm Gáo Giồng thông qua sự đánh giá của du khách tham gia phỏng vấn
+ CVM cần nhắc nhở đáp viên về các loại hàng hóa thay thế Hàng hóa này có thể tạo thuận lợi hay đem lại lợi ích cao hơn cho đáp viên nếu họ không lựa chọn hàng hóa hay địa điểm đang nghiên cứu Bên cạnh đó, cũng cần nhắc nhở đáp viên rằng mức thu nhập của họ có thể bị giảm đi do phải chi trả cho loại hàng hóa đang sử dụng Vì thế, bảng câu hỏi phỏng vấn đưa ra một số địa điểm du lịch thay thế tại tỉnh Đồng Tháp nếu du khách không đến tham quan Gáo Giồng
Trang 3928
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ KHU DU LỊCH SINH THÁI GÁO GIỒNG
THUỘC XÃ GÁO GIỒNG, HUYỆN CAO LÃNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP
3.1 TÌM HIỂU VỀ XÃ GÁO GIỒNG
3.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Cao Lãnh
<http://caolanh.dongthap.gov.vn/wps/portal/hcl>
Hình 3.1 Lược đồ huyện Cao Lãnh Được xem như một trong những vùng đất hoang sơ mà con người chưa
khai phá hết của vùng Đồng Tháp Mười, Gáo Giồng là nơi mang nét đẹp hòa
quyện đặc trưng giữ con người và cảnh vật Xã Gáo Giồng trãi dài về phí Bắc
của huyện Cao Lãnh, cách trung tâm huyện khoảng 31 km và cách trung tâm
tỉnh Đồng Tháp khoảng 28 km Gáo Giồng là một trong 18 xã, thị trấn của
huyện Cao Lãnh - tỉnh Đồng Tháp với diện tích tự nhiên là khoảng 5.539,52
hecta Trong đó diện tích dành cho sản xuất nông nghiệp và thổ cư chiếm
3.530,24 hecta, phần còn lại là diện tích rừng tự nhiên Về đặc điểm hành
chính phân khu, Gáo Giồng được chia thành 6 ấp (ấp 1, 2, 3, 4, 5, 6) Xã Gáo
Giồng được bao bọc và có quan hệ giao thương kinh tế gắn liền với các đơn vị
hành chính của vùng kế cận như:
+ Phía Đông tiếp giáp với xã Phương Thịnh
+ Phía Tây nối liền ranh giới với xã Bình Tấn, huyện Thanh Bình
+ Phía Nam giáp với xã Tân Nghĩa và xã Phong Mỹ
+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp với xã Hưng Thạnh, huyện Tháp Mười
3.1.1.2 Đặc điểm tự nhiên
Trang 4029
+ Địa hình
Địa hình khá thấp với phần lớn diện tích là vùng trũng ngập nước Bề mặt địa hình không bằng phẳng, bị chia cắt rõ rệt và được hình thành từ độ cao của hai nhóm đất là đất gò và đất lung Chênh lệch độ cao trung bình giữa đất
gò và đất lung là 50 cm Bên cạnh đó, nhờ có hệ thống sông ngòi khá dày đặc với các nhánh rẽ phụ tạo nên nguồn nước dồi dào cho sinh hoạt và sản xuất Lưu lượng nước sông, rạch và cường độ dòng chảy thay đổi theo hai mùa là mùa lũ và mùa cạn Vì thế có thể lợi dụng triều để tưới tiêu tự chảy theo hệ thống cống, rãnh hoặc kết hợp với bơm tưới trong thời gian đỉnh triều thấp Tuy nhiên, sức nước chảy vào mùa lũ rất mạnh gây xói mòn đất và đê bao, ảnh hưởng lớn đến các công trình công cộng và diện tích hoa màu đang canh tác + Khí hậu và thủy văn
Cùng với điều kiện địa hình, khí hậu và thủy văn nơi đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống Xã Gáo Giồng mang những đặc trưng cơ bản của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ tương đối cao và phân bổ đều trong năm Nắng nhiều và biên độ dao động nhiệt khá ổn định từ 280C đến 330
C (theo Dự án quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Gáo Giồng, 2010) Thêm vào đó, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm tương đối lớn Vì thế, rất thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ (đặc biệt là đối với cây lúa nước), nâng cao năng suất và chất lượng nông sản
+ Lượng mưa
Lượng mưa bình quân hằng năm thấp và tùy thuộc theo hai mùa rõ rệt Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào khoảng cuối tháng 11 hằng năm Đây là khoảng thời gian có lượng mưa chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm Đặc biệt vào các tháng mùa lũ, đây là lúc tần suất các trận mưa bão xảy ra thường xuyên và làm mực nước ở các sông, rạch dâng cao gây nên tình trạng nước phủ trắng xóa trên các cánh đồng do mưa lớn
Bên cạnh đó, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Mùa khô chiếm chưa tới 10% lượng nước mưa của cả năm Trong thời gian này, do
hệ thống dẫn nước chưa được xây dựng ở một số nơi nên lượng nước tưới tiêu còn hạn chế đối với các vùng nội đồng
+ Điều kiện thổ nhưỡng
Đặc điểm vị trí tự nhiên khiến Gáo Giồng là một vùng đa dạng với nhiều nhóm đất Trong đó ba nhóm đất chiếm ưu thế về diện tích là đất phù sa, đất nhiễm phèn nhẹ Nhóm đất bị xáo trộn (nhóm đất này hình thành do quá trình