1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thành phần loài và đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá rô đồng (anabas testudineus) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang

27 726 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ TRÚC GIANG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH TRƯỞNG CỦA CÁ RÔ ĐỒNG Anabas testudineus Ở HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ TRÚC GIANG

THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH

TRƯỞNG CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus) Ở

HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN

2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ TRÚC GIANG

THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH

TRƯỞNG CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus) Ở

HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS HÀ PHƯỚC HÙNG

2014

Trang 4

THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH TRƯỞNG

CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testudineus) Ở HUYỆN LONG MỸ, TỈNH

7 orders In this, the Perciformes had the most number of species with 18 species (47.37%), followed by Cypriniformes accounted for 10 species (26.32%), Siluriformes with 6 species (15.79%), and the rest is Osteoglossiformes, Mugiliformes, Synbranchiformes, Tetraodontiforme: each order accounts for one species (2.63%) By linear regression method determined closed relationship between the length and weight of Anabas testudineus through the equation of the correlation length and weight which is

W = 0.0137*L 3.1867 with R 2 = 0.9744 Conditional coefficient (CF) of fish between months is not so much difference, the highest in November (0.0147) and the lowest in August (0.0135) The growth parameters were determined by the SLCA method that is application for non seasonal growth curves Maximum asymptotic length L ∞ = 25 cm, growth rate K = 1.00 / year, t o = - 0.47 years Distribution of fish species is more and more abundant in Long My district, Hau Giang province, but it was less than around area In the growth and development process, anabas testudineus population always fluctuates because of effect by habitat, nutrition, reproduction, migration behavior and human impact

Keywords: Anabas testudineus, species, length, weight, growth, biological growth

Title: Species composition and growth biology characteristic of Anabas testudineus in Long My district, Hau Giang province

TÓM TẮT

Nghiên cứu thành phần loài và sinh học sinh trưởng của cá Rô đồng được thực hiên từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2014, ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang Kết quả nghiên cứu đã thu được 38 loài thuộc 27 giống, 19 họ, 7 bộ Trong đó, bộ cá Vược (Perciformes) có số lượng thành phần loài nhiều nhất

là 18 loài (47,37%), kế tiếp là bộ cá Chép (Cypriniformes) chiếm 10 loài (26,32%), bộ cá Da trơn (Siluriformes) chiếm 6 loài (15,79%), còn lại là bộ

cá Thát lát (Osteoglossiformes), bộ cá Đối (Mugiliformes), bộ Lươn (Synbranchiformes), bộ cá Nóc (Tetraodontiformes): mỗi bộ chiếm 1 loài (2,63%) Bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đã xác định được mối quan hể rất chặt chẽ giữa chiều dài và trọng lượng của loài cá Rô đồng (Anabas

Trang 5

testudineus) thông qua phương trình về tương quan chiều dài và trọng lượng

là W=0,0137*L 3,1867 , với R 2 =0,9744 Hệ số điều kiện (CF) của cá giữa các tháng không chênh lệch nhiều, cao nhất vào tháng 11 (0,0147) và thấp nhất vào tháng 8 (0,0135) Các tham số tăng trưởng được xác định thông qua phương pháp SLCA áp dụng dạng đường cong tăng trưởng không mùa vụ (Non seasonal) Chiều dài tiệm cận cực đại L ∞ =25 cm, tốc độ tăng trưởng K=1.00/năm, thời gian tuổi cá bằng 0 t o = -0,47 năm Sự phân bố của các loài

các ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ngày càng phong phú nhưng lại ít hơn

so với các khu vực lân cận Trong quá trình tăng trưởng và phát triển của quần đàn cá Rô đồng luôn có sự biến động do ảnh hưởng của môi trường sống, dinh dưỡng, sinh sản, tập tính di cư và có cả các tác động từ con người

Từ khóa: Cá Rô đồng, loài, chiều dài, trọng lượng, tăng trưởng,sinh học sinh trưởng

1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một trong những quốc gia có vùng biển rộng, bờ biển dài, hội tụ nhiều đảo và quần đảo với nhiều hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao, tạo

ra nhiều tiềm năng phát triển nguồn lợi thuỷ sinh Đồng bằng sông Cửu Long

là một trong những vùng ở Việt Nam có tiềm năng lớn về nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản do có đường bờ biển dài với nhiều ngư trường lớn và có sông Mê Kông chảy qua Từ đó tạo tiền đề cho một ngành thủy sản phát triển trên nhiều lĩnh vực Ngày nay, bên cạnh sự phát triển ngành thủy sản đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có sự suy giảm nguồn lợi thủy sản trên các thủy vực nội địa Nguyên nhân các loài thủy sản ngày một cạn kiệt là do tình trạng khai thác quá mức, đánh bắt tràn lan Nếu như trước đây người dân khai thác,

đánh bắt cá theo mùa, lựa cá to thu hoạch thì nay họ đánh bắt quanh năm, khai

thác cả cá lớn lẫn cá bé Không những thế, gần đây xuất hiện tình trạng đánh bắt cá mang tính tận diệt bằng cách dùng xung điện, bình ắc quy, dùng kích thước mắt lưới nhỏ bắt sạch cá lớn bé, làm hủy hoại nguồn lợi thủy Vì vậy, hiện nay vấn đề đặt ra hàng đầu cho việc bảo vệ và phát triển một ngành thủy sản bền vững và lâu dài là việc quản lý nguồn lợi thủy sản một cách hợp lý Hậu Giang là một tỉnh thuộc vùng nước ngọt của Đồng bằng sông Cửu Long

Đây là một vùng đất thấp với khí hậu điều hòa, ít bão, quanh năm nóng ẩm,

không có mùa lạnh, có nguồn lợi thủy sản khá phong phú, chủ yếu là các giống loài tôm cá nước ngọt Những thuận lợi đó giúp cho Hậu Giang có nguồn lợi thủy sản phong phú phát triển mạnh về nuôi trồng thủy sản và khai thác tự nhiên Do đó để đánh giá và ghi nhận thêm thông tin về nguồn lợi thủy sản nước ngọt cho tỉnh Hậu Giang, cũng như biện pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho khu vực này Đề tài “Thành phần loài và sinh học sinh trưởng của một

vài loài cá ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang” đã được thực hiện

Trang 6

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm khảo sát thành phần loài ở huyện Long Mỹ, tỉnh

Hậu Giang và các đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá Rô đồng, qua đó cung cấp dữ liệu góp phần làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý, bảo vệ

và bảo tồn nguồn lợi cá ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát thành phần loài và định danh các loài cá ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo thời gian và địa điểm thu mẫu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá Rô đồng theo thời gian

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2014

Địa điểm nghiên cứu cụ thể gồm 4 địa điểm thuộc huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu

Giang: Địa điểm 1 (Đ1): xã Xà Phiên, địa điểm 2 (Đ2): xã Vĩnh Viễn, địa

điểm 3: (Đ3): thị trấn Long Mỹ, địa điểm 4 (Đ4): thị trấn Trà Lồng

(Nguồn: Google Maps)

Hình 2.1: Sơ đồ thu mẫu ở khu vực nghiên cứu

2.2 Phương pháp thu và phân tích số liệu

Mẫu cá được thu trực tiếp từ các ngư cụ đánh bắt: chài lưới, lưới giăng, dớn…

và thu từ chợ địa phương Mẫu cá được thu mua từ các chợ phải đảm bảo được

Đ1

Đ2

Đ3

Đ4

Trang 7

người dân đánh bắt ở những khu vực khảo sát Thu đại diện, tất cả thành phần loài và kích cỡ cá

Tất cả các mẫu thu được sẽ được rửa sạch, đóng bọc và trữ lạnh bằng nước đá, bảo quản trong thùng lạnh, sau đó chuyển về phòng thí nghiệm nguồn lợi Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ tiến hành phân tích, sau đó tiến hành xử lý bằng formol và lưu trữ làm mẫu đối chứng sau này Mẫu thu sẽ được ghi đầy

đủ thông tin về địa điểm thu mẫu Mẫu cá được thu định kỳ mỗi tháng 1 lần

2.2.1 Xác định thành phần loài

Quan sát các đặc điểm bên ngoài của từng cá thể như: quan sát hình dạng, màu sắc toàn thân và các cơ quan trên cơ thể và đếm các chỉ tiêu hình thái phân loại như sau: vi ngực (P: Pectoral fin), vi lưng (D: Dorsal fin), vi bụng (V: Ventral fin), vi hậu môn (A: Anal fin), vi đuôi (C: Caudal fin)

Sau đó, mẫu được thu ngẫu nhiên đem đo, cân để xác định: chiều dài tổng, trọng lượng toàn thân

2.2.2 Định danh loài

Mẫu sau khi thu được định danh tại phòng thí nghiệm theo tài liệu định danh của các tác giả: Định loại cá nước ngọt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993); Mô tả định loại cá Đồng

bằng sông Cửu Long, Việt Nam của Trần Đắc Định và ctv (2013)

2.2.3 Xác định mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng

Theo Huxley (1924) đã đề xuất công thức sinh trưởng của cá qua mối quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng theo công thức sau (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004): W=a*Lb, trong đó: W là trọng lượng cơ thể cá (g), L là chiều dài của cá (cm), a là hằng số tăng trưởng ban đầu, b là hệ số tăng trưởng

2.2.4 Xác định hệ số điều kiện

Hệ số điều kiện phản ánh sự thành thục sinh dục đồng thời xác định mùa vụ sinh sản của cá Hệ số điều kiện có thể tính theo công thức như sau (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004): CF=W/Lb, trong đó: CF là hệ

số điều kiện, W là trọng lượng toàn thân cá (g), L là chiều dài của cá (cm), b là

hệ số tăng trưởng

2.2.5 Ước tính các tham số tăng trưởng

Phương trình tăng trưởng Von Bertalanffy là một trong những phương trình căn bản trong sinh học nghề cá Nguyên lý xác định các tham số tăng trưởng là dựa vào sự tăng trưởng của các nhóm trong một khoảng thời gian liên tục (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) Nếu quần đàn có nhiều nhóm tuổi thì ta sẽ có được một hệ những đường cong sinh trưởng Các

đường cong tăng trưởng này được xác định thông qua chiều dài trung bình của

các nhóm tuổi tại thời điểm thu mẫu Các tham số tăng trưởng (L∞, K, to) được xác định bằng phần mềm LFDA trong chương trình FMSP (Fishery Management Software Programme) Phương trình Von Bertalanffy được biểu diễn như sau: L(t)= L∞ {1- exp[-K(t- to)]}, trong đó t là tuổi tại thời điểm t,

Trang 8

đơn vị là năm; L∞ là chiều dài tối đa mà cá có khả năng đạt được; to là tuổi lý thuyết tại đó cá có chiều dài bằng 0, thứ nguyên của năm, to thường gần bằng

0 và có giá trị âm và K là hệ số tăng trưởng nói lên tốc độ cá thể đạt đến chiều dài L∞, thứ nguyên của 1/năm

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đa dạng thành phần loài

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 38 loài thuộc 27 giống, 19 họ, 7 bộ (Phụ lục 1) Trong đó, địa điểm chiếm số lượng thành phần loài nhiều nhất là ở Thị trấn Trà Lồng với 33 loài, thấp nhất là xã Xà Phiên với 22 loài, Thị trấn Long Mỹ với 29 loài và xã Vĩnh Viễn với 23 loài (Phụ lục 2) Trong 38 loài cá thuộc 27

giống, 19 họ, 7 bộ thì bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế về số lượng thành phần loài với 18 loài (47,37%), kế tiếp là bộ cá Chép (Cypriniformes) chiếm 10 loài (26,32%), bộ cá Da trơn (Siluriformes) chiếm 6 loài (15,79%), còn lại là bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes), bộ cá Đối (Mugiliformes), bộ Lươn (Synbranchiformes), bộ cá Nóc (Tetraodontiformes): mỗi bộ chiếm 1

Hình 3.1: Tỉ lệ phần trăm của các bộ được tính theo loài

Trong đó, bộ các Vược (Perciformes) chiếm số lượng họ nhiều nhất với 10 họ (52,36%), tiếp đến là bộ cá Da trơn (Siluriformes) có 3 họ (15,79%), bộ cá Chép (Cypriniformes) có 2 họ (10,53%) Trong khi đó, bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes), bộ cá Đối (Mugiliformes), bộ Lươn (Symbranchiformes)

và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) có số lượng là 1 họ (5,26%) (Hình 3.2)

Trang 9

Hình 3.2 : Tỉ lệ phần trăm của các bộ được tính theo họ

So sánh với kết quả nghiên cứu của Trương Thủ Khoa và Trần Thi Thu Hương (1993) thì trong tổng số 38 loài cá khảo sát được thì có 6 loài chưa

được tác giả cập nhật, đó là cá Cóc không râu (Cyclocheilichthys lagleri), cá

Linh ống (Cirrhinus jullieni), cá Heo Râu (Lepidocephalichthys hasselti), cá Lau kiếng (Pterygoplichthys disjunctivus), cá Chạch cơm (Macrognathus

semiocellatus), cá Nóc (Tetraodon cochinchinensis) (Phụ lục 3)

Với kết quả này thì thành phần loài có phần phong phú hơn so với những năm trước: Trong tổng số 38 loài cá khảo sát được có 16 loài mới được tìm thấy so với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hoài (2012) ở cùng khu vực nghiên cứu nhưng lại kém phong phú hơn so với các khu vực lân cận Cụ thể là: ở vùng

đệm Khu bảo tồn Lung Ngọc Hoàng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang đã

xác định được 45 loài cá có giá trị kinh tế thuộc 10 bộ, 21 họ và 32 giống (Nguyễn Phương Vy, 2012), ở huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã tìm được 42 loài cá thuộc 30 giống, 20 họ, 7 bộ (Nguyễn Thụy Diễm Kiều, 2012) Ngoài

ra, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Trung Kiên (2010), ở tuyến kênh Xáng

Xà No, tỉnh Hậu Giang đã tìm được 44 loài cá thuộc 33 giống, 21 họ, 8 bộ Thông qua các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thấy rằng nguồn lợi thủy sản ở khu vực nghiên cứu ngày càng phong phú nhưng lại kém phong phú hơn so với các vùng lận cận

3.2 Đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá Rô đồng (Anabas testudineus)

Bộ: Perciformes

Họ: Anabantidae

Giống: Anabas

Loài: Anabas testudineus

Địa điểm thu mẫu: Xã Xà Phiên, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

Số mẫu định danh: 5

Trang 10

Hình 3.3: Cá Rô đồng (Anbas testudineus)

3.2.1 Đặc điểm hình thái

Thân cá kéo dài, dẹp bên về phía sau Chiều dài chuẩn của cá gấp 3-4 lần chiều dài cao thân Đầu rộng, chiều dài đầu bằng chiều cao thân Mõm ngắn,

đầu mõm tròn Miệng ở tận cùng, nghiêng, chẻ sâu Răng hàm xếp thành hàng

rộng, ngắn và nhọn Các mắt lớn Đỉnh và hai bên đầu có vảy Cạnh của nắp mang khía răng cưa Đường bên thành hai hàng Vây lưng và vây hậu môn dài,

có những gai khỏe Vây đuôi khít, nhiều và tròn

Lúc cá còn tươi, màu nâu, mặt bụng sáng hơn Hai bên thân có các chấm đen xếp thành hàng ngang đều hoặc không đều Có một chấm đen lớn, tròn ở gốc vây đuôi Vây lưng vây hậu môn và vây đuôi màu nâu Các vây khác có màu nâu nhạt (Hình 3.3)

Bảng 3.3: So sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Rô đồng Chỉ

tiêu

Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương

(1993)

Kết quả nghiên cứu

Ghi chú: P: vây ngực, D: vây lưng, V: vây bụng, A: vây hậu môn.

Kết quả nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái trên của cá Rô đồng (Anabas testudineus) trong nghiên cứu này hoàn toàn trùng khớp với kết quả nghiên

cứu của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) đã đưa ra (Bảng 3.3)

3.2.2 Sự tương quan giữa chiều dài và trọng lượng

Quá trình sinh trưởng của cá là một quá trình gia tăng về kích thước và tích lũy về mặt khối lượng Đồng thời quá trình này tượng trưng cho từng loài cụ thể qua mối tương qua giữa chiều dài và trọng lượng của cơ thể cá Qua 4 tháng thu mẫu ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang cho thấy mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng như sau:

Trang 11

n= 161

Mối tương quan trên được xác định dựa vào số liệu thu được từ việc cân, đo

161 mẫu cá với chiều dài dao động từ 5,42 cm đến 16,66 cm, chiều dài chuẩn dao động từ 4,43 cm đến 13,57 cm và trọng lượng dao động từ 3,2 g đến 105,54 g, xác định được phương trình hồi quy W=0,0137*L3,1867, với

R2=0,9744 rất cao đã thể hiện mối tương quan rất chặt chẽ giữa chiều dài và trọng lượng (Hình 3.4)

Hình 3.4: Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Rô đồng

Qua đồ thị Hình 3.4, ta thấy có sự thay đổi về sinh trưởng và chiều dài, khi cá

có chiều dài từ 5,42 cm đến 12,54 cm và trọng lượng 3,2 g đến 37,1 g thì cá bắt đầu tăng trưởng nhanh về trọng lượng, quan hệ thể hiện chặt chẽ hơn, nhưng khi cá đạt chiều dài 13 cm và trọng lượng 56,61 g thì có sự vượt trội về trọng lượng, đồng thời mối tương quan này cũng trở nên lỏng lẻo hơn, lúc này

cá đang bắt đầu chuyển sang giai đoạn thành thục và tham gia sinh sản

So sánh kết quả nghiên cứu về mối tương giữa chiều dài và trọng lượng của cá

Rô đồng với các khu vực lân cận khác: Theo Vũ Bảo Sơn (2011) nghiên cứu ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xác định được phương trình hồi quy W=0,0197*L2,9452, với R2=0,946 Còn theo Phạm Ngọc Liên (2011) nghiên cứu ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xác định được phương trình hồi quy W=0,0145*L3,149 với R2=0,9844 Thông qua các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, ta thấy giữa các kết quả nghiên cứu có phần tương thích với nhau, không đồng nhất tuyệt đối, nhưng vẫn phát triển đúng theo đường cong qui luật hàm số mũ Qua đó, nhận xét thấy cá Rô đồng tăng trưởng và phát triển không đồng đều trong từng giai đoạn; trong quá trình tăng trưởng và phát triển của một quần đàn luôn có sự biến động về môi trường sống, về dinh dưỡng, có cả các tác động từ con người…

3.2.3 Hệ số điều kiện (CF)

Qua kết quả khảo sát trong 4 tháng cho thấy hệ số điều kiện CF của cá Rô

đồng giữa các tháng chênh lệch không nhiều, cao nhất vào tháng 11 (0,0147)

và thấp nhất vào tháng 8 (0,0135) (Hình 3.5) Tháng 8 đạt giá trị thấp nhất là

do vào tháng này cá phải tập trung năng lượng để bắt đầu chuẩn bị cho giai

đoạn thành thục và tham gia sinh sản Kết quả nghiên cứu có phần tương thích

với kết quả nghiên cứu của Vũ Bảo Sơn (2011) thực hiện ở huyện Cờ Đỏ,

Trang 12

thành phố Cần Thơ với CF cao nhất vào tháng 11 (0,099) và thấp nhất vào tháng 8 (0,0129) Qua đó, biết được hệ số điều kiện CF của cá không đồng

đều giữa các tháng do ảnh hưởng của các giai đoạn thành thục và sinh sản

Hình 3.5: Sự biến động hệ số điều kiện của cá Rô đồng

Chỉ số CF đạt cực đại khi các vật chất dinh dưỡng tích lũy trong cơ thể đạt giá trị cao nhất Sau khi cá đẻ, độ béo cũng giảm theo tương ứng Điều này hoàn toàn hợp lí vì trong quá trình thành thục sinh dục, cá cần một vật chất dinh dưỡng rất lớn để tích lũy và tạo sản phẩm sinh dục Qua đó có thể thấy rằng trong quá trình cá tập trung tích lũy dinh dưỡng thì độ béo tăng cao và ngược lại khi đến mùa vụ sinh sản thì độ béo giảm thấp, do lượng vật chất dinh dưỡng được tích lũy trong trứng đã được đẻ ra ngoài

3.2.4 Ước tính các tham số tăng trưởng

Ước tính các tham số tăng trưởng của cá Rô đồng (Anabas testudineus) theo

phương pháp SLCA không mùa vụ (Non seasonal) cho kết quả: chiều dài tiệm cận cực đại L∞=25 cm, tốc độ tăng trưởng K=1.00/năm, thời gian tuổi cá bằng

0 to= -0,47 năm Kết quả nghiên cứu trùng khớp với nghiên cứu của Lê Ngọc Diện (2010) khảo sát ở địa bàn thành phố Cần Thơ trong khoảng thời gian nghiên cứu là 1 năm với chiều dài tiệm cận cực đại L∞=25 cm, tốc độ tăng trưởng K=1.00/năm, thời gian tuổi cá bằng 0 to= -0,44 năm

Kết quả nghiên cứu cho thấy từ tháng 8 đến tháng 9 tốc độ tăng trưởng của cá không cao nhưng số lượng cá giảm không đáng kể trong khi từ tháng 9 đến tháng 10 số lượng cá lại giảm một cách đáng kể, ngược lại kích cỡ cá lại ngày càng lớn dần và đến tháng 11 thì cá lại tăng trưởng nhanh về số lượng và kích

cỡ (Hình 3.6) Qua đó thấy được trong khoảng thời gian trên cá tăng trưởng dần và lớn dần mặc dù có sự suy giảm về số lượng Kích cỡ càng lớn thì số lượng càng giảm do có sự tác động từ nhiều yếu tố khác nhau: dinh dưỡng, sinh sản, điều kiện môi trường

Trang 13

8 9 10 11

Hình 3.6: Đường cong tăng trưởng không mùa vụ của cá Rô đồng (Anabas

testudineus)

Ngoài ra, vào tháng 10 có sự xuất hiện của một nhóm cá mới với kích cỡ nhỏ

và số lượng ít (Hình 3.6) Điều này ta có thể giải thích rằng trong quá trình sinh trưởng, cá sinh sản ra một nhóm cá, nhóm cá này là thế hệ cá con của nhóm cá trước Bên cạnh đó ta cũng có thể giải thích rằng nguyên nhân xuất hiện nhóm cá trên là do việc di cư của quần đàn cá khác từ nơi khác đến

4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

4.1 Kết luận

Nhìn chung sự phân bố của các loài cá ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ngày càng phong phú nhưng lại kém phong phú hơn so với các khu vực lân cận, nguyên nhân có thể do các ngư cụ khai thác còn thô sơ chỉ có khả năng

đánh bắt những loài có kích cỡ nhất định Ngoài ra các khu vực nghiên cứu đa

phần là những vùng trũng nước ngọt nên thành phần loài ít có sự phong phú hơn so với những vùng có cả nước ngọt và nước lợ Cá Rô đồng tăng trưởng

và phát triển không đồng đều trong từng giai đoạn, cá tăng trưởng dần theo các tháng mặc dù có sự suy giảm về số lượng, kích cỡ cá càng lớn thì số lượng cá càng giảm Trong quá trình tăng trưởng và phát triển của quần đàn cá Rô đồng luôn có sự biến động do ảnh hưởng của môi trường sống, dinh dưỡng, sinh sản, tập tính di cư và có cả các tác động từ con người

4.2 Đề xuất

Cần tiếp tục nghiên cứu để có đủ thông tin về thành phần loài nhằm cung cấp thêm dữ liệu để có biện pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản của Long Mỹ nói riêng và của Hậu Giang nói chung

Ngày đăng: 13/11/2015, 11:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ thu mẫu ở khu vực nghiên cứu - thành phần loài và đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá rô đồng (anabas testudineus) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang
Hình 2.1 Sơ đồ thu mẫu ở khu vực nghiên cứu (Trang 6)
Hình 3.1: Tỉ lệ phần trăm của các bộ được tính theo loài - thành phần loài và đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá rô đồng (anabas testudineus) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang
Hình 3.1 Tỉ lệ phần trăm của các bộ được tính theo loài (Trang 8)
Hình 3.3: Cá Rô đồng (Anbas testudineus) - thành phần loài và đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá rô đồng (anabas testudineus) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang
Hình 3.3 Cá Rô đồng (Anbas testudineus) (Trang 10)
Bảng 3.3: So sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Rô đồng  Chỉ - thành phần loài và đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá rô đồng (anabas testudineus) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang
Bảng 3.3 So sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Rô đồng Chỉ (Trang 10)
Hình 3.4: Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Rô đồng - thành phần loài và đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá rô đồng (anabas testudineus) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang
Hình 3.4 Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Rô đồng (Trang 11)
Hình 3.5: Sự biến động hệ số điều kiện của cá Rô đồng - thành phần loài và đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá rô đồng (anabas testudineus) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang
Hình 3.5 Sự biến động hệ số điều kiện của cá Rô đồng (Trang 12)
Hình 3.6: Đường cong tăng trưởng không mùa vụ của cá Rô đồng (Anabas - thành phần loài và đặc điểm sinh học sinh trưởng của cá rô đồng (anabas testudineus) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang
Hình 3.6 Đường cong tăng trưởng không mùa vụ của cá Rô đồng (Anabas (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w