TRƯỜNG ĐAI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN VĂN KHÊ SO SÁNH CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Penaeus vannamei GIỮA MÔ HÌNH NUÔI ĐƠN VỚI MÔ HÌNH NUÔI KẾT HỢP
Trang 1TRƯỜNG ĐAI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN VĂN KHÊ
SO SÁNH CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ
CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei) GIỮA
MÔ HÌNH NUÔI ĐƠN VỚI MÔ HÌNH NUÔI KẾT HỢP
CÁ RÔ PHI Ở HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGHÀNH QUẢN LÍ NGUỒN LỢI THỦY SẢN
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐAI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN VĂN KHÊ
SO SÁNH CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ
CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei) GIỮA
MÔ HÌNH NUÔI ĐƠN VỚI MÔ HÌNH NUÔI KẾT HỢP
CÁ RÔ PHI Ở HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGHÀNH QUẢN LÍ NGUỒN LỢI THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS TRẦN VĂN VIỆT
2014
Trang 3SO SÁNH CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH NUÔI ĐƠN
VÀ NUÔI KẾT HỢP TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei) VỚI CÁ RÔ
PHI Ở HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TIỀN GIANG
Nguyễn Văn Khê Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ Email: khe115125@student.ctu.edu.vn
ABSTRACT
White leg shrimp is cultured in intensive system with two treatments, they are combined tilapia and without tilapia The purpose of study is to evaluate water quality fluctuation and yield of shrimp culture on the treatment with tilapia or without tilapia The study was carried out from May to August, 2014 at Phu Tan commune, Tan Phu Dong didtrict, Tien Giang province The study was conducted on 3 ponds of white leg shrimp with tilapia and 3 ponds without stocking tipalia, environmental parameters was focused as: temperature, pH, salinity, transparency, hardness, alkalinity, DO, COD, TSS, NH 3 , PO 4 ,
NO 2 , NO 3 , TN and TP There was six times of sampling, twice per month Results found that water quality of two treatments are appropriate for shrimp growth However, transparency, hardness, PO 4, TN and TP were higher standard water quality for shrimp culture It also found that water quality were not significant differences between two treatment, whereas salinity, alkanility, DO, PO 4 , NH 3 has significant between two treatments The yield of shrimp in the treatment with tilapia was higher than the treatment without tilapia, but it was not significant differences
Keywords: white leg shrimp, tilapia, Tan Phu Dong, Tien Giang
Title: Comparison of water quality and effective of white leg shrimp (Penaeus
vannamei) culture in the system with tilapia and without tilapia in Tan Phu Dong district, Tien Giang province
TÓM TẮT
Khảo sát mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh có kết hợp cá rô phi (NKH) và nuôi đơn (NĐ) đã được nghiên cứu ở xã Phú Tân huyện Tân Phú Đông tỉnh Tiền Giang
từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2014, nhằm làm cơ sở cho việc chọn mô hình hiệu quả cho người nuôi Nghiên cứu theo dõi 6 ao nuôi tôm thẻ chân trắng, trong đó 3 ao nuôi tôm
có kết hợp (NKH) và 3 ao (NĐ), các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, độ mặn, độ trong, độ cứng, độ kiềm, DO, COD, TSS, NH 3 , PO 4 , NO 2 , NO 3 , TN, TP Mẫu được thu 6
đợt từ tháng 5/2014 – tháng 8/2014 với chu kỳ thu 2 lần/tháng Qua kết quả khảo sát cho
thấy đa số các chỉ tiêu chất lượng nước ở hai mô hình nuôi nằm trong phạm vi thích hợp cho phát triển của tôm nuôi Tuy nhiên, có một số chỉ tiêu như: độ trong, độ cứng, PO 4 ,
TN, TP ở mức cao Qua khảo sát đa số các chỉ tiêu chất lượng nước giữa hai mô hình nuôi không có sự khác biệt, bên cạnh đó độ mặn, độ kiềm, độ trong, DO, PO 4 , NH 3 có
sự khác biệt giữa 2 mô hình Năng suất tôm nuôi hai mô hình không có sự khác biệt lớn,
ở mô hình (NĐ) năng suất đạt 8,60± 3,20 tấn/ha/vụ và (NKH) là 7,10±3,70 tấn/ha/vụ
Từ khóa: Nuôi kết hợp tôm thẻ chân trắng-cá rô phi, chất lượng nước
Trang 41 GIỚI THIỆU
Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) có nguồn gốc từ Nam Mỹ, là loài có cường độ
bắt mồi khoẻ, lớn nhanh, có thể nuôi với mật độ cao thích hợp với các hình thức nuôi thâm canh, hiện đang được phát triển nuôi ở nhiều nước trên thế giới trong năm 2007 tôm chân trắng chiếm 75% tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu và là đối tượng nuôi chính
ở 3 nước Châu Á Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia (Tổng cục thủy sản, 2013) Ở Việt
Nam tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi thử nghiệm năm 2001 Đến năm 2008 được
bộ NN&PTNT cho phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Từ đó diện tích và sản lượng tôm thẻ chân trắng không ngừng được tăng lên
Dự kiến đến năm 2015 sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 449.500 tấn (Châu Tài Tảo, 2013)
Tiền Giang là tỉnh phía đông của ĐBSCL, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh
và bán thâm canh (TC&BTC) là 2.696,3 ha năm 2011, đã tiêu thụ 2.371 triệu giống, diện tích tăng 59% so với cùng kỳ năm 2012 (Chi cục Thủy sản tỉnh TG, 2014), trong đó huyện Tân Phú Đông là huyện ven biển có diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 326,69
ha tăng 45,1 ha so với 6 tháng đầu năm 2011 (Chi cục thủy sản Tiền Giang, 2012) Tôm thẻ chân trắng được nuôi thâm canh, năng suất cao nhưng luôn gặp rủi ro, trong những năm gần đây dịch bệnh trong nuôi tôm xảy ra nhiều, người nuôi tôm đã sử dụng hóa chất, kháng sinh nhiều nhưng chưa đúng kỹ thuật đã làm cho môi trường nuôi ngày càng suy thoái và ô nhiễm nhiều hơn Theo tổng cục thủy sản (2012) thì hội chứng hoại
tử gan tụy ở tôm nuôi xảy ra ở 19 tỉnh thành trong cả nước với tổng diện tích bị thiệt hại
là 46.1 ha Để tìm giải pháp khắc phục theo hướng bền vững thông qua xử lý sinh học thì nhiều người nuôi tôm ở huyện Tân Phú Đông Tiền Giang hiện kết hợp cá rô phi trong nuôi tôm thẻ chân trắng, nhằm giúp hạn chế thức ăn dưa thừa, góp phần khắc phục
ô nhiễm nguồn nước và cải thiện môi trường
Do cá rô phi (Oreochromis niloticus) là loài ăn tạp thiên về thực vật, thức ăn chủ yếu là
động vật phù du, mùn bã hưu cơ và tảo lắng đáy, nó có thể sống ở nước có độ mặn từ
5-30‰ ( Nguyễn Văn Tuyến và ctv, 2011) Theo Fitzsimmon (2001) thì việc kết hợp nuôi
cá rô phi trong ao tôm sú thì cá rô phi có vai trò duy trì mật độ tảo ổn định làm ổn định
độ kiềm của nước làm ổn định pH và độ trong của nước thông qua việc làm ổn định
quần thể tảo trong ao nuôi
Tuy nhiên việc nuôi ghép cá rô phi và tôm thẻ chân trắng chưa có nghiên cứu đầy đủ về vai trò của cá rô phi trong cải thiện môi trường và tăng hiệu quả nuôi Mô hình này đã
được áp dụng ở Tân Phú Đông (Hình 1) và hiệu quả nuôi mô hình này thì chưa được
biết
Vì mậy mục tiêu của nghiên cứu là theo dõi biến động chất lượng nước và năng suất nuôi tôm thẻ chân trắng trong mô hình nuôi kết hợp cá rô phi (NKH) và nuôi đơn (NĐ)
được thực hiện, nhằm đánh giá hiệu quả của việc kết hợp này để có thông tin góp phần
làm cơ sở cho việc khuyến cáo người nuôi việc lựa chọn mô hình thích hợp
2 PHƯƠNNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện Xã Phú Tân thuộc huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang từ
tháng 5/2014 – tháng 8/2014 (Hình 1) Nghiên cứu được thực hiện dựa trên theo dõi 6 ao
Trang 5nuôi tôm thẻ chân trắng, trong đó 3 ao nuôi tôm có kết hợp cá rô phi và 3 ao nuôi tôm
không kết hợp cá rô phi (Hình 2)
Hình 1: Địa điểm nghiên cứu Hình 2: Mô hình NKH (a) và NĐ (b) 2.2 Thiết kế ao nuôi
Để kiểm soát lượng cá rô phi người nuôi tôm dùng lưới cước làm vèo cố định, có mắt
lưới 1 mm để thả cá rô phi giữa ao, diện tích của vèo lưới khoảng 80 m2 (Hình 2a) Các
thông tin ban đầu của ao nuôi ở bảng 1
Bảng 1: Thông tin ban đầu của các ao trong khảo sát
Nuôi kết hợp (NKH) Nuôi đơn (NĐ)
Diện tích ao (m2) 3500 1900 3500 2500 2000 2700
Mật độ tôm (tôm/m2) 85,0 68,0 85,0 80,0 80,0 80,0
2.3 Thông tin chung của các hộ nuôi
Cải tạo ao: Vôi đá + Dolomite + Canxi : 100 kg/1000 m2, lấy nước có độ mặn (5-15ppt)
xử lý Clorine (30 ppm), sau 15 ngày diệt khuẩn lại ao nuôi bằng (Iodine) 2 ngày sau cấy
men vi sinh (BZT, Enveron) 3 ngày sau thả giống Thả giống: Tôm nuôi được bắt từ các
trại của CP, Nam Miền Trung
Trang 6Chăm sóc & quản lý: Cho tôm ăn 4 lần/ngày bằng thức ăn Thăng Long, Grobest, dùng men vi sinh định kỳ (10 ngày/lần/tháng 1 và 7 -10 ngày/lần/tháng 2 trở đi), diệt khuẩn
định kỳ trước khi cấy men vi sinh 02 ngày Vôi được xử dụng tùy theo pH và độ kiềm
từng ao
2.4 Phương pháp thu và phân tích mẫu
2.4.1 Phương pháp thu mẫu
Nhiệt độ, pH, độ trong, độ mặn: được đo tại hiện trường bằng nhiệt kế và máy đo pH cầm tay, độ trong đo bằng đĩa Secchi và độ mặn đo bằng khúc xạ kế tại hiện trường DO: mẫu được thu và chứa trong lọ nút mài màu nâu 125 mL, cố định bằng 1mL dung dịch MnSO4 và 1 mL dung dịch KI-NaOH
COD: mẫu được thu và chứa trong lọ nút mài màu trắng 125 mL và cố định bằng 2 mL
H2SO4 4M
Độ cứng, độ kiềm, TSS, NH3, TN, TP, PO4, NO2, NO3: được thu đồng thời và chứa trong bình nhựa 1 L, đậy kín và bảo quản lạnh ở 4 oC
2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu
Bảng 2: Phương pháp phân tích mẫu
Chỉ tiêu Chu kỳ Phương pháp phân tích
1 Nhiệt độ
2 pH
3 Độ mặn
4 Độ trong
5 Độ cứng
6 Độ kiềm
7 DO
8 COD
9 TSS
10 NH3
11 PO4
12 NO2
13 NO3
14 TN nước
15 TP nước
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
2 lần/tháng
Máy đo Máy đo Khúc xạ kế
Đĩa Secchi
Chuẩn độ Complexon, phép chuẩn độ tạo phức Chuẩn độ acid, phép chuẩn độ trực tiếp acid-base Winkler, phép chuẩn độ gián tiếp
Oxy hóa KMnO4 trong môi trường kiềm Trọng lượng
Indophenol, Phenate APHA et al (1999): 4500-NH3-F
So màu SnCL2 APHA et al (1999): 4500-P-D
So màu Diazonium APHA et al, (1999): 4500-NO2-
So màu Diazonium APHA et al, (1999): 4500-NO2-
Kjeldahl và so màu Phenate APHA et al (1999): 4500-NH3-F Kjeldahl và so màu SnCL2 APHA et al (1999): 4500-P-D
Trang 72.4.3 Mẫu tôm
Mẫu tôm được thu và cân tại hiện trường bằng cân điện tử hai số lẻ, mẫu được lập lại 3 lần để theo dõi tăng trưởng của tôm nuôi qua các đợt thu mẫu Năng suất và tỷ lệ sống của tôm được ghi nhận ở lần thu thứ 6 khi các chủ ao thu hoạch tôm
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các yếu tố thủy lý
pH có sự chênh lệch qua các lần thu mẫu ở ao (NKH) và ao (NĐ) ở (Bảng 3), pH dao
động trong khoảng 7,93 đến 8,60 ) Theo Chanratchakool et al, (1995) thì pH tối ưu cho
sự phát triển của tôm trong ao nuôi từ 7,50 – 8,40 Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009) thì pH thích hợp cho tôm từ 7,50-8,50 Nhìn chung pH giữa hai
mô hình nuôi giao động qua các đợt thu mẫu thấp tương đối ổn định
Bảng 3: Biến động pH, nhiệt độ, độ mặn qua các đợt thu mẫu
Nhiệt độ có sự biến động theo thời gian ở ao (NĐ) và ao (NKH), nhiệt độ dao động từ (28,4oC -31,3oC) (Bảng 3), nhiệt độ có xu hướng giảm dần qua các đợt thu mẫu Theo
Trần Viết Mỹ và ctv, (2009) nhiệt độ thích hợp nhất cho phát triển của tôm là 23 – 30oC
Độ mặn trung bình giữa (NĐ) và (NKH) dao động trong khoảng 5‰ – 11,3‰ (Bảng 3)
Theo Bùi Hữu Lộc, (2013) độ mặn thích hợp là 7‰ -34‰, nhưng tôm có thể phát triển tốt ở độ măn thấp 10‰ -15‰ Độ mặn thích hợp 10‰ -30‰, tốt nhất là 15‰ -25‰ biến động trong ngày không quá 5‰ ( Bộ thủy sản, 2004)
3.2 Các yếu tố thủy hóa
3.2.1 Oxy hòa tan (DO)
Biến động DO giữa (NĐ) và (NKH) theo thời gian khác biệt (p<0.05) (Hình 3a) Tuy nhiên ở đợt thu mẫu thứ 2 thì DO giảm ở (NKH) là 4,40 và đợt 5 ở (NĐ) là 4,90 các đợt còn lại nhìn chung DO ở hai mô hình nuôi có xu hướng tăng, do dần về cuối vụ nuôi người nuôi tăng thời gian chạy quạt và mật độ tảo tăng cao Theo Nguyễn Trọng Nho và
ctv, (2006) thì DO không được thấp hơn 3 mg/l và cao hơn 9 mg/l, nên hàm lượng oxy
hòa tan ở hai mô hình nuôi dao động ở mức cho phép
Trang 8Hình 3: Biến động oxy hòa tan (DO) (a) và nhu cầu oxy hóa học (COD) (b) theo
thời gian 3.2.2 Nhu cầu oxy hóa học (COD
Hàm lượng COD có sự biến động theo thời gian ở (NĐ) và (NKH) (Hình 3b) COD cao vào đầu vụ nuôi, nhưng lại giảm xuống thấp ở đợt 2 (NĐ): 12,1 mg/ Lvà (NKH): 10,8 mg/L) Tuy nhiên ở các đợt còn lại COD tăng dần về cuối vụ do lượng chất hữu cơ thải
ra môi trường càng nhiều và lượng thức ăn dư thừa tăng dần vào cuối vụ Nhìn chung COD vẫn phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng nước mặt QCVN 08 : 2008/BTNMT
3 2.3 Độ trong
Độ trong qua các đợt thu mẫu ở (Hình 4a), độ trong giảm dần về cuối vụ, và có sự khác biệt giữa 2 nghiệm thức (p<0,05), do lượng chất hữu cơ thải ra môi trường càng nhiều và lượng thức ăn dư thừa tăng và vào thời điểm này Ở (NKH) thì độ trong thấp hơn (NĐ)
do cá rôi phi di chuyển tìm thức ăn ở nền đáy ao làm cho vật chất lơ lững trong nước tăng cao
Hình 4: Biến động độ trong (a) và vật chất lơ lững (TSS) (b) theo thời gian 3.2.4 Tổng vật chất lơ lững TSS
Nhìn chung TSS hai mô hình nuôi đều tăng dần đến giữa vụ nuôi nhưng có xu hướng giảm về cuối vụ, (NKH) dao động trong khoảng 36,3-229 mg/L và (NĐ) trong khoảng 66,8-239 mg/L (Hình 4b) Theo thời gian hàm lượng TSS giữa hai mô hình nuôi không
có sự khác biệt (p>0,05) Hàm lượng TSS được ghi nhận qua các đợt thu mẫu phù hợp với nghiên cứu của Sơn Sâm Phone (2011) hàm lượng TSS trong ao nuôi là 171,6 mg/L
Trang 93.2.5 Độ kiềm
Qua các đợt thu mẫu độ kiềm ở hai mô hình nuôi có sự biến động (Hình 5a), ở mô hình nuôi (NĐ) độ kiềm tăng dần vào cuối vụ, bên cạnh đó thì mô hình (NKH) lại tăng từ đầu
đến cuối vụ nuôi Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009) thì trong ao
nuôi tôm độ kiềm tốt nhất là 80-150 mgCaCO3/L Theo Boyd (1998) thì độ kiềm phù hợp cho ao nuôi thủy sản là 20- 400 mg/L Nhìn chung thì độ kiềm trong hai mô hình nuôi tăng vào cuối vụ nuôi do thường xuyên bón vôi theo định kỳ cho ao nuôi nhất là vào những ngày có mưa, lượng thức ăn dư thừa ngày càng nhiều là dinh dưỡng cho tảo phát triển làm tăng độ kềm
Hình 5: Biến động độ kiềm tổng cộng (a) và độ cứng tổng cộng (b) theo thời gian 3.2.6 Độ cứng
Độ cứng ở hai mô hình nuôi có sự biến động lớn theo chiều hướng giảm dần về cuối vụ
nuôi (trừ đợt 2 của (NKH) tăng ở mức 1415 mg/L) (Hình 5b), các đợt còn lại đều giảm
Ở mô hình (NĐ) đều giảm qua các lần thu dao động trong khoảng 763 đến 1402 mg/L
Theo thời gian độ cứng giữa hai mô hình nuôi không có sự khác biệt (p>0,05) Độ cứng cao đầu vụ nuôi là do trước vụ nuôi người nuôi bón vôi cải tạo ao với hàm lượng cao (Vôi đá + Dolomite + Canxi : 100 kg/1000 m2)
3.2.7 Tổng đạm TN trong nước
Hàm lượng TN trong hai mô hình nuôi tăng dần về cuối vụ nuôi, không có sự khác biệt giữa hai mô hình (p>0,05) (Hình 6a) Giá trị TN tăng về cuối vụ nuôi là do quá trình tích lủy Nitơ từ thức ăn dư thừa, chất thải của tôm và cá Điều này làm TN ở mô hình (NKH) cao hơn so với (NĐ) ở lần thứ 4, thứ 5 và thứ 6, do về cuối vụ cá rô phi đã lớn (150 gam/con) lượng chất thải cũng tăng lên Hàm lượng TN trong nghiên cứu ở hai mô hình cao hơn so với nghiên cứu của Trần Minh Tân (2013) là 0,477 đến 3,17 mg/L Theo Boyd và Green (2002) thì hàm lượng TN không nên vượt quá 3 mg/L để hạn chế tối đa khả năng gây ô nhiễm nguồn nước, vì vậy cần quản lý tốt lượng thức ăn tránh dư thừa gây bất lợi cho tôm nuôi
Trang 10Hình 6: Biến động tổng đạm TN (a) và tổng lân TP (b) trong nước theo thời gian 3.2.8 Tổng lân (TP) trong nước
Hàm lượng TP trong nghiên cứu dao động có sự tương đồng giữa hai mô hình nuôi và không có khác biệt (p>0,05), dao đông trong khoảng (2,00-3,50 mg/L) (Hình 6b) Theo Trần Minh Tân (2013) thì lân trong nước được tồn tại dưới nhiều dạng như các muối Orthophosphate hòa tan hay các dạng phostphate ngưng tụ, các dạng này có thể chuyển hóa lẫn nhau phụ thuộc vào biến động pH trong nước Hàm lượng TP trong nghiên cứu này ở mức khá cao so với nghiên cứu của Sơn Sâm Phone (2011) dao động trong khoảng 0,100-1,20 mg/L Nhìn chung hàm lượng TP trong nghiên cứu chưa phù hợp cho tôm phát triển
3.2.9 Nitrite (NO 2 - )
Nồng độ NO2- của hai mô hình dao động theo hướng tăng dần về cuối vụ nuôi, không
có sự khác biệt (p>0,05) Ở mô hình (NĐ) dao đông trong khoảng (0,010-1,40 mg/L) và (NKH) là (0,042-2,10 mg/L) (Hình 7a), do hàm lượng chất thải và thức ăn dư thừa của tôm cá tăng dần về cuối vụ Ở lần thu thứ 5 và 6 thì NO-2 tăng cao ở (NKH) là 1 mg/L và 2,10 mg/L Theo Phạm Minh Nhựt (2014) thì nồng độ NO-2 4 mg/L gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho tôm nuôi Theo Nguyễn Phú Hòa (2013) nồng độ NO-2 cho phép trong
ao nuôi là 0,01-1,70 ppm, nồng độ thích hợp là 0,010-0,10 ppm Nhìn chung sự dao
động NO
-2 của hai mô hình nuôi ở mức an toàn không ảnh hưởng đên tôm nuôi
Hình 7: Biến động Nitrite NO 2 - (a) và Nitrate NO 3 - (b) trong nước theo thời gian