Keywords: improved extensive shrimp farming system, GIS, Phu Tan, Ca Mau Title: Application of GIS evaluated shrimp culture status of improved extensive shrimp farming system in Phu Ta
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ỨNG DỤNG GIS ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NUÔI TÔM SÚ
(Penaeus monodon) MÔ HÌNH QUẢNG CANH CẢI TIẾN
Ở HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Quản lí nguồn lợi thủy sản
Mã lớp: TS11W5A1
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS TRẦN VĂN VIỆT NGUYỄN VĂN QUY
MSSV:4115143
CẦN THƠ, NĂM 2014
Trang 2
ỨNG DỤNG GIS ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NUÔI TÔM SÚ
(Penaeus monodon) MÔ HÌNH QUẢNG CANH CẢI TIẾN
Ở HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
Nguyễn Văn Quy Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ Email: quy115143@student.ctu.edu.vn
ABSTRACT
GIS was applied to assess improved extensive shrimp farming system in Phu Tan, Tan Hung Tay and Tan Hai communes of Phu Tan district, Ca Mau province The study was carried out from August to December 2014 The study surveyed on 100 shimp farmers, who were applying shrimp culture in this system throught questionaries, GPS was also used to identify these farms The secodary data was used to combine with primary data in the study Besides, available map of Phu Tan district (scale 1: 35,000) in 2008 was used to digitize the themes in the study region
by Arcview GIS sofware Results found that there was lage exchanges about shrimp culture area of 3 communes during 2010-2013 However, area and yield of each household in each commune were not much exchanges, the shrimp culture area of households 0.5-6.0 ha, this is a low invest and risk system, but the profits was estimated equal 5-6 times of the cost, it also found that 92% of househods used local postlavarve, shrimp farmers is not also harvest stocking shrimp, but also wild shrimp, mud crab and fish in this system
Keywords: improved extensive shrimp farming system, GIS, Phu Tan, Ca Mau
Title: Application of GIS evaluated shrimp culture status of improved extensive
shrimp farming system in Phu Tan district, Ca Mau province
TÓM TẮT
GIS đã được ứng dụng đánh giá mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến (QCCT) ở 3
xã Phú Tân, Tân Hưng Tây, Tân Hải của huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau từ tháng 8-12 năm 2014 thông qua khảo sát 100 hộ nuôi, kết hợp khảo sát thực tế và định vị GPS các hộ nuôi, sử dụng bản đồ nền của huyện năm 2008 (tỷ lệ 1: 35.000) và số hóa bằng chương trình Arcview GIS Kết quả cho thấy mô hình QCCT có sự thay đổi lớn
về diện tích nuôi của 3 xã giai đoạn 2010-2013, tuy nhiên diện tích và năng suất của từng hộ nuôi trong các xã thì không có sự thay đổi đáng kể, diện tích các hộ từ 0,5-6
ha Là mô hình đầu tư thấp, ít rủi ro và lợi nhuận 5-6 lần chi phí đầu tư, 92% hộ nuôi sử dụng nguồn giống ở Cà Mau, người nuôi còn thu hoạch cua biển và tôm cá
tự nhiên
Từ khóa: GIS, tôm sú, mô hình quảng canh cải tiến, Phú Tân, Cà Mau
Trang 31 GIỚI THIỆU
GIS (Geographic Information System) là hệ thống thông tin địa lý, là công cụ được xem là công cụ hữu ích trong quản lý và trong sử dụng đất, quản lý môi trường, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và thủy sản, là chương trình máy tính ứng dụng nhằm giúp cập nhật thông tin, quản lý, xử lý và truy xuất dữ liệu nhanh nhằm giúp người quản lý đưa ra nhận định chính xác, là một kỹ thuật quản lý thông tin nhằm mục đích lưu trữ, quản lý, và xử lý các số liệu thuộc về địa lý hoặc không gian nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau GIS đã được ứng dụng trong quản lý rừng ở Cà Mau (Pham Minh Thu, 2006), ứng dụng trong thiết lập mạng lưới quan trắc chất
lượng nước nuôi cá tra, basa ở An Giang (Trần Thị Hồng Hạnh và ctv, 2009), ứng
dụng trong điều tra phân tích hiện trạng nuôi trồng thủy sản ở đầm Sam Chuồn, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên Huế (Lê Công Tuấn và Lê Thị Hạnh, 2009)
Ngoài ra, GIS đã được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đánh giá tình hình nuôi trồng thủy sản vùng một cách có hiệu quả đặc biệt là vùng ven biển nơi có sự biến động lớn về mô hình, đối tượng nuôi và diện tích hàng năm
Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam với bờ biển dài 254 km chạy từ phía biển đông sang Vịnh Thái Lan, diện tích tự nhiên là 5.211 km2 là tỉnh đóng góp lớn nhất cho cả nước về sản lượng nuôi trồng thủy sản nước lợ Diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh 296.000 ha năm 2013, trong đó diện tích nuôi tôm trên 266.000 ha và sản lượng nuôi trồng thủy đạt trên 280.000 tấn, trong đó con tôm chiếm 130.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 1,5 tỷ USD (Bảo Anh, 2014) Do điều kiện sinh thái của từng vùng, Cà Mau có nhiều mô hình nuôi tôm khác nhau như thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến (QCCT), trong đó mô hình QCCT chiếm diện tích lớn nhất với hơn 60.000 ha năm 2014, ở các huyện Năm Căn, Ngoc Hiển, Thới Bình, Cái Nước, Phú Tân Mô hình QCCT là mô hình nuôi tôm dựa trên mô hình quảng canh nhưng có bổ sung hoặc là giống ở mật độ thấp (0,5-2 con/m2) hoặc là thức ăn theo tuần đôi khi bổ sung cả giống và thức ăn, tức là khi thu hoạch ngoài thu tôm thả nuôi còn thu tôm cá tự nhiên có trong vuông nuôi, do con giống tự nhiên vào thông qua quá trình trao đổi nước
Phú Tân là huyện ven biển với diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2013 là 29.313,14
ha chiếm 63,13% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích mô hình nuôi tôm QCCT chiếm 10.500 ha tập trung ở 3 xã: Phú Tân, Tân Hải, Tân Hưng Tây Vùng này trước đây làm nông nghiệp và chuyển sang nuôi tôm nước lợ từ sau năm 2000 nên tình hình nuôi tôm có nhiều biến động như diện tích, mô hình, năng suất, sản lượng, kinh nghiệm và kỹ thuật nuôi cũng chưa được biết Ngoài ra, năng suất và hiệu quả của nuôi cũng có nhiều khác biệt ở mức độ nông hộ, vì vậy gặp nhiều khó khăn trong quản lý vùng nuôi, cần có một công cụ quản lý cập nhật và truy xuất dữ liệu nhanh là rất quan trọng trong quản lý hiện nay
Chính vì vậy việc ứng dụng GIS để đánh giá tình hình nuôi tôm theo mô hình QCCT
ở huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau là cần thiết Nhằm đánh giá hiện trạng và tình hình sử dụng đất trong nuôi tôm QCCT ở khu vực nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu, cập nhật và
Trang 4truy xuất nhanh và chính xác ở địa phương, giúp nhà quản lý định hướng và phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: 8-12 năm 2014 tại 3 xã: Tân Hải, Phú Tân, Tân Hưng Tây của huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau
Hình 1: Bản đồ huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau 2.2 Thu thập số liệu
Sử dụng bản đồ nền tỷ lệ 1: 35.000 về tình hình sử dụng đất của huyện năm 2008
Các số liệu thứ cấp: được thu thập từ các nghiên cứu, báo cáo của các cơ quan địa
phương, sách báo, tạp chí và các website có liên quan
Số liệu sơ cấp: thông qua quan sát trực tiếp tại địa bàn nghiên cứu thông qua khảo
sát 100 hộ nuôi tôm theo mô hình này của 3 xã về diện tích, năng suất hộ nuôi và
năng suất/ha
Định vị bằng GPS các hộ khảo sát để cập nhật lên bản đồ về tình hình nuôi
2.3 Xử lý số liệu
Arcview GIS 3.2 được sử dụng để số hóa, phân tích, cập nhật dữ liệu và thành lập bản đồ, GIS đã được sử dụng để định vị các ao nuôi cho việc cập nhật lên bản đồ vùng nuôi theo mô hình
Trang 5Sơ đồ tóm tắt quy trình thu thập và xử lý thông tin để truy xuất ảnh và bản đồ
3 KẾT QUẢ
3.1 Tình hình nuôi tôm quảng canh cải tiến của 3 xã Tân Hải, Phú Tân, Tân Hưng Tây huyện Phú Tân Tỉnh Cà Mau
Nghề nuôi tôm ở đây đã có từ năm 2000, trước đây vùng này trồng lúa, tuy nhiên vào thời điểm này việc nuôi tôm nước lợ và trồng lúa vẫn xuất hiện trong vùng, do canh tác nông nghiệp ngày càng kém hiệu quả, do đất bị nhiễm mặn ngày càng nhiều, chi phí sản xuất cao, giá bán thấp, người trồng lúa có xu hướng chuyển dần sang nuôi tôm Qua thực tế tình hình phát triển thủy sản trong những năm gần đây có xu hướng phát triển mạnh cả về diện tích và sản lượng nuôi Đầu tiên là mô hình QCCT, do dễ canh tác chi phí và rủi ro thấp và mô hình này chiếm ưu thế về diện tích ở các xã ở trong huyện ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, mô hình này thì có diện tích nuôi từ 0,5 đến 5 ha/hộ Mô hình QCCT nuôi quanh năm và tôm giống được thả nuôi
Xử lý, phân tích và truy xuất dữ liệu cho các kết quả khác
nhau cho từng thuộc tính
Số hóa, tạo các lớp thuộc tính khác nhau
Kết hợp số liệu sẵn có, cập nhật số liệu từ thực tế
Bản đồ nền Khảo sát thực tế
Dữ liệu đầu vào
Kết quả
Truy xuất bản đồ cho từng thuộc tính: vùng nuôi, diện tích,
và năng suất
Trang 6nhiều đợt trong năm tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng hộ, và nguồn giống cũng khác nhau, cách lựa chọn tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của từng hộ Vì hiệu quả kinh tế và dễ làm việc mở rộng diện tích nuôi đang được phát triển và khuyến khích từ chính sách nhà nước hiện nay trong huyện có thành lập nhiều hợp tác xã như: Hợp tác xã Gạch Gốc, hợp tác xã Đồng Đại Lợi…Đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cung cấp giống và thúc đẩy phát triển mô hình quảng canh cải tiến cả về diện tích và năng suất nuôi cho huyện Phú Tân cụ thể là từ năm 2010 tổng diện tích nuôi của huyện là 1.100 ha đến năm 2013 tăng lên 10.500 ha trong đó thì xã Phú Tân
có diện tích nuôi cao
Qua khảo sát nông hộ thì đối với mô hình này thì người dân nuôi bổ sung giống với mật độ khác nhau tùy vào kích thước mô hình mà có số lượng giống phù hợp và nuôi với mùa vụ liên tục quanh năm
Hình 2: Diện tích nuôi tôm QCCT của các xã năm 2010 (a) và năm 2013 (b)
Kết quả cho thấy có sự tăng diện tích giữa năm 2010 và năm 2013 (Hình 2) Trong
đó xã Phú Tân có diện tích nuôi tôm mô hình QCCT lớn nhất
3.2 Năng suất nuôi và hiệu quả kinh tế giữa các xã trên huyện
Hình 3: Năng suất (kg/ha/năm) (a); và chi phí và lợi nhuận của các xã (b) năm
2013
Trang 7Kết quả cho thấy năng suất nuôi tôm của 3 xã ổn định trong năm 2010 và 2013(Hình 3a), điều này khẳng định mô hình nuôi tôm QCCT chỉ tăng diện tích (Hình 2) chứ không tăng năng suất (kg/ha) trong thời gian qua, Mặc dù năng suất nuôi so với các
mô hình khác như thâm canh, bán thâm canh hiệu quả kinh tế thấp hơn, nhưng người nuôi còn thu được cua và tôm cá tự nhiên
Mô hình QCCT là mô hình được người dân ưa chuộng ứng dụng nuôi nhiều bởi do chi phí đầu tư thấp mà lợi nhuận thu hoạch mang lại nhiều hiệu quả cao thường thường lời đến 5-6 lần chi phí bỏ ra (Hình 3b), doanh thu và lợi nhuận cao nhất từ 40-45 triệu/ha/năm, năng suất lợi nhuận thấp nhất là xã Tân Hưng Tây từ 30-35 triệu/ha/năm năm 2010 và 2013 Tuy nhiên, năng suất và lợi nhuận còn phụ thuộc vào kích cỡ lúc khi thu hoạch và giá cả thị trường (Bảng 1)
Bảng 1: Trung bình kích cỡ - giá bán khi thu hoạch của hộ nuôi
3.3 Nguồn giống và tiêu thụ trên địa bàn khảo sát
Huyện Phú Tân là huyện có nhiều cơ sở sản xuất giống nhiều nhất trong tỉnh Cà Mau, do vị trí gần biển nên có nhiều lợi thế hiện nay huyện Phú Tân đã thành lập 2 hợp tác xã (HTX) sản xuất giống chính là HTX Gạch Gốc và HTX Đồng Đại Lợi Bên cạnh đó còn có nhiều nguồn giống được nhập về từ các tỉnh khác như các tỉnh ở ĐBSCL hay miền trung, nhu cầu con giống NTTS trong mô hình QCCT (2010 – 2015) từ 132-360 triệu con (Phòng NN&PTNT huyện Phú Tân, 2013)
Tỷ lệ các hộ nuôi tôm mô hình QCCT sử dụng tôm có nguồn gốc trong tỉnh cao nhất
ở (Hình 4a), các địa phương sản xuất tôm giống ở Cà Mau như: Năm Căn, Gạch Gốc, tôm hầm đất, Đồng Đại Lợi Theo người nuôi thì giống ở Cà Mau rẻ, có nguồn gốc cùng nơi nuôi nên môi trường thích hợp hơn so với tôm ở các đia phương khác như các tỉnh miền trung hay Bạc Liêu Ngoài ra, giá tôm ở các địa phương khác cũng cao hơn do chi phí vận chuyển
Hình 4: Nguồn tôm giống (a) sử dụng và số lượng tiêu thụ của các xã (b) năm
2013
Số lượng tôm giống tiêu thụ ở xã Tân Hưng Tây là cao nhất (Hình 4b) mặc dù diện tích nuôi tôm lớn nhất là xã Phú Tân, do vị trí xã Phú Tân gần biển nên lượng tôm
Trang 8giống tự nhiên nhiều hơn mặc dù lượng tôm giống ít nhưng thu nhập cao hơn các xã khác, điều này khẳng định là mật độ tôm trong mô hình QCCT không quyết định đến năng suất (Hình 3a) và thu nhập (Hình 3b)
Hình 5: Diện tích trung bình hộ nuôi qua các năm
Tùy vào diện tích nuôi và diện tích kênh mương trong vuông nuôi, độ sâu và rộng của kênh mà có sự đầu tư giống hợp lý, diện tích trung bình của các hộ nuôi từ 1,7 – 2.0 ha (Hình 5), độ sâu và rộng của các vuông nuôi ở (Bảng 3) Diện tích, độ sâu và
độ rộng của kênh mương trong vuông có vai trò quan trọng nó phản ánh không gian sống của thủy vực, vì vậy trong cùng diện tích vuông nhưng diện tích kênh mương trong vuông khác nhau thì diện tích thật cho nuôi tôm cũng khác nhau, ảnh hưởng đến mật độ, năng suất và hiệu quả của nuôi tôm
Bảng 3: Độ Sâu và rộng của vuông nuôi mô hình quảng canh cải tiến
3.4 Tình hình nuôi QCCT của các hộ khảo sát ở 3 xã
Diện tích hộ nuôi của nông dân ở 3 xã và diện tích nuôi của xã năm 2010 ở (Hình 6a)
và năm 2013 ở (Hình 6b), xã Phú Tân, Tân Hưng Tây có sự phân bố nuôi tập trung với mật độ nuôi cao, còn xã Tân Hải thì nuôi có sự xen kẽ với các mô hình khác Diện tích của các hộ nuôi không có sự biến động nhiều trong giai đoạn 2010 – 2013 diện tích nuôi của hộ 0.3 ha - 5 ha, nhưng biến động về diện tích nuôi của toàn các xã thì lại cao, do chuyển đổi dần từ lúa sang tôm của các xã (Hình 6)
Tuy vậy, các hộ có diện tích nuôi lớn 3,5-5,0 ha thì tập trung nhiều ở xã Tân Hải còn
ở xã Tân Hưng Tây và Phú Tân thì diện tích nuôi của xã lớn, nhưng diện tích hộ nuôi 2.2 - 3.5 ha
-0.5 1.0 1.5 2.0 2.5 3.0 3.5 4.0
3 Độ sâu của chảng
(m)
Trang 9Hình 6: Diện tích hộ nuôi tôm của xã năm 2010 (a) và năm 2013(b)
Do xã Tân Hải, thì mô hình QCCT thu nhập từ tôm chiếm 100%, trong 3 xã nuôi thì
xã Phú Tân nuôi tôm gặp nhiều rủi ro nhất và người nuôi có xu hướng chuyển sang kinh tế khác, do những ứng dụng kĩ thuật nuôi thì người dân tiếp thu còn hạn chế, chủ yếu nuôi dựa trên kinh nghiệm có sẵn là chính
3.5 Năng suất hộ nuôi và năng suất /ha
Năng suất hộ nuôi có sự khác biệt giữa các xã, xã có hộ nuôi năng suất cao tập trung
ở xã Tân Hải vì đa số xã này những hộ dân sở hữu diện tích nuôi cao, diện tích cao dẫn đến năng suất và lợi nhuận cao (Hình 7) Ngược lại xã Phú Tân và Tân Hưng Tây tuy người nuôi rất nhiều nhưng năng suất thấp hơn do diện tích của mỗi hộ thấp hơn
ở xã Tân Hải
Hình 7: Năng suất hộ nuôi tôm của các xã năm 2010 (a) và năm 2013(b)
Trang 10Giai đoạn 2010 – 2013 ở (Hình 7) năng suất trên hộ không có sự biến động là do rủi
ro nghề nuôi có chuyển biến mạnh tôm bệnh, tôm chết,…Bên cạnh đó qua điều tra người dân do trong những năm nay có sự chuyển biến khí hậu với lại nguồn nước xu hướng bị nhiễm do các chất thải từ nuôi tôm công nghiệp thải ra ngoài nguồn nước cho nên nghề nuôi tôm QCCT gặp rất nhiều khó khăn, nguồn lợi thủy sản tự nhiên suy giảm nghiêm trọng vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến các hộ nuôi Tuy nhiên, năng suất cao tập trung nhiều nhất ở xã Tân Hải từ 901 - 1500 kg/hộ/năm trong khi 2 xã
còn lại các hộ nuôi có năng suất từ 121 - 900 kg/hộ/năm tập trung nhiều hơn
Hình 8: Năng suất hộ nuôi tôm của các xã năm 2010 (a) và năm 2013(b)
Không có sự biến động lớn năng suất/ha của 3 xã (Hình 8a và 8b), tuy nhiên mô hình nuôi tôm QCCT mang lại hiệu quả cho người nuôi ở 3 xã là do dễ làm, đầu tư thấp mặc dù có rủi ro nhưng vẫn thấp hơn các mô hình khác, mô hình này mang lại cho người nuôi cuộc sống ổn định do giá thị trường con tôm cao từ 180 - 300 ngàn đồng/kg Tuy nhiên mô hình này cũng còn gặp rất nhiều trở ngại như năng suất thấp
và giá không ổn định, ngoài ra người nuôi ở đây có xu hướng nuôi theo phong trào bắt đầu chuyển hướng sang nuôi tôm công nghiệp để đạt năng suất cao, tuy nhiên đa
số là thiếu kinh nghiệm và đầu tư nên hiệu quả thấp rủi ro cao, gây ô nhiễm môi trường do thuốc hóa chất sử dụng nhiều làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản tự nhiên và làm ảnh hưởng đến các mô hình khác trong đó có mô hình QCCT
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Có sự biến động lớn về diện tích nuôi của các xã, nhưng không có sự biến động về diện tích của từng nông hộ, năng suất và sản lượng ổn định từ năm 2010-2013 Việc ứng dụng GIS giúp xác định tình hình nuôi tôm QCCT nhanh chóng, giúp nhà quản lý có cơ sở để định hướng phát triển thủy sản trong vùng
Tuy nhiên, nghiên cứu cần được thực hiện trên các mô hình khác để đánh giá tình