1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang

79 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài “Vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng 1 phải 5 giảm ở Kiên Giang” chú trọng đến sự tham gia và quyết định của phụ nữ trong hoạt động sản xuất lúa, các hoạt động nôn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

- -

NGUYỄN VĂN TÀI

VAI TRÒ PHỤ NỮ TRONG CANH TÁC LÚA ÁP DỤNG

“1 PHẢI-5 GIẢM” Ở KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Mã ngành : 52 62 01 01

Cán bộ hướng dẫn ThS NGUYỄN THANH BÌNH

CẦN THƠ, 11-2014

Trang 2

LỜI CẢM TẠ



Con cảm ơn Cha, Mẹ người đã nuôi con khôn lớn cho con cuộc sống và dạy con nên người

Xin cảm ơn dự án canh tác lúa giảm phát khí thải (VLCRP) đã hỗ trợ tôi thu thập

số liệu trong nghiên cứu này

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc và chân thành đến:

Thầy Nguyễn Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành bài luận văn này

Cố vấn học tập Nguyễn Công Toàn đã dìu dắt em trong suốt chặng đường học Đại học

Quý thầy cô Viện nghiên cứu Phát triển ĐBSCL, trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập tại trường

Các bạn sinh viên lớp Phát triển Nông thôn K37 đã nhiệt tình hỗ trợ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Ngày ……tháng……năm 2014 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Văn Tài

Trang 3

THÔNG TIN CÁ NHÂN

LÝ LỊCH SƠ LƢỢC:

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Tài Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1991 Dân tộc: Kinh

Họ và tên cha: Nguyễn Văn Bé

Nguyễn Văn Tài

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tài

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Qua thời gian hướng dẫn sinh viên Nguyễn Văn Tài thực hiện đề tài tốt nghiệp,

tôi có nhận xét như sau:

Cần Thơ, ngày……tháng…….năm 2014 Giáo viên hướng dẫn

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày … tháng……năm 2014

Trang 7

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

THÔNG TIN CÁ NHÂN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN iv

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN v

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG vi

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH HÌNH x

DANH MỤC BẢNG xi

CÁC CHỮ VIẾT TẮT xiii

TÓM TẮT xiv

CHƯƠNG MỘT: MỞ ĐẦU 1

1.1ĐẶTVẤNĐỀ 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3CÂUHỎINGHIÊNCỨU 2

1.4PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊNCỨU 2

CHƯƠNG HAI: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1TỔNGQUANTÀILIỆU 3

2.1.1 Giới và giới tính 3

2.1.1.1 Giới 3

2.1.1.2 Giới tính 3

2.1.1.3 Sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới 3

2.1.1.4 Định kiến đối với phụ nữ bất bình đẳng giới 4

2.1.1.5 Trình tự phát triển của phụ nữ trong xã hội 5

2.1.1.6 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội 7

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo 9

2.1.2.1 Việt Nam 9

2.1.2.2 Đồng Bằng Sông Cửu Long 10

2.1.2.3 Kiên Giang 10

2.1.3 Chương trình 1 phải 5 giảm 11

2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp 13

2.1.4.1 Trong sản xuất thủy sản 14

Trang 9

2.1.4.2 Trong chăn nuôi 14

2.1.4.3 Trong sản xuất lúa 15

2.2TỔNGQUANĐỊABÀNNGHIÊNCỨU 15

2.2.1 Tỉnh Kiên Giang 15

2.2.1.1 Vị trí địa lý 15

2.2.1.2 Điều kiện tự nhiên 16

a Khí hậu và thủy văn 16

b Đặc điểm địa hình 16

c Tài nguyên thiên nhiên 17

a Kinh tế 17

2.2.2 Tổng quan xã Thạnh Đông A và HTX Kênh 7B 18

2.2.2.1 Xã Thạnh Đông A 18

2.2.2.2 HTX Kênh 7B 18

CHƯƠNG BA: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1PHƯƠNGPHÁPTHUTHẬPSỐLIỆU 20

3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 20

3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp 20

3.2PHƯƠNGPHÁPPHÂNTÍCHSỐLIỆU 20

CHƯƠNG BỐN: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21

4.1ĐẶCTÍNHNÔNGHỘ 21

4.1.1 Nhân khẩu và lao động 21

4.1.2 Tuổi và kinh nghiệm sản xuất lúa của nông hộ 22

4.1.3 Trình độ học vấn của nông hộ 23

4.1.5 Tham gia huấn luyện của nông hộ 23

4.2.VAITRÒCỦAPHỤNỮTRONGCANHTÁCLÚA1P5G 24

4.2.1 Các hoạt động sản xuất lúa 24

4.2.1.1 So sánh giữa trong và ngoài dự án 24

4.2.1.2 So sánh trước và sau dự án 25

4.2.2 Các hoạt động nông nghiệp khác 26

4.2.2.1 So sánh giữa trong và ngoài dự án 26

4.2.2.2 So sánh trước và sau dự án 27

4.2.3 Các hoạt động phi nông nghiệp 28

4.2.3.1 So sánh giữa trong và ngoài dự án 28

4.2.3.2 So sánh trước và sau dự án 29

4.2.4 Các hoạt động gia đình 29

4.2.4.1 So sánh giữa trong và ngoài dự án 29

4.2.4.2 So sánh trước và sau dự án 30

4.2.5 Các hoạt động xã hội 31

4.2.5.1 So sánh giữa trong và ngoài dự án 31

Trang 10

4.2.5.2 So sánh trước và sau dự án 32

4.2.6 Thu nhập 32

4.3.NHẬNTHỨCVÀỨNGDỤNGKỸTHUẬT1P5G 34

4.3.1 Nhận thức về 1P5G 36

4.3.2 Ứng dụng kỹ thuật 1P5G 39

4.3.2.1 Sử dụng giống 39

4.3.2.2 Lượng giống 40

4.3.2.3 Phân 40

4.3.2.4 Thuốc BVTV 41

4.3.2.5 Nước tưới 44

4.3.2.6 Thất thoát sau thu hoạch 45

4.4.THUẬNLỢI,KHÓKHĂN,ĐỀXUẤT 46

4.4.1 Thuận lợi 46

4.4.2 Khó khăn 47

4.4.3 Đề xuất 47

CHƯƠNG NĂM: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1KẾTLUẬN 48

5.2KIẾNNGHỊ 48

PHỤ LỤC 50

PHỤLỤC1 50

PHỤLỤC2 57

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang 16

Hình 2.2 Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh Kiên Giang năm 2012 17

Hình 2.3 Bản đồ hành chính xã Thạnh Đông A 18

Hình 4.1 Mức độ tham gia vào các lớp tập huấn của người dân 24

Hình 4.2 Các hoạt động sản xuất khác ngoài lúa 34

Hình 4.3 Mức độ tham gia tập huấn từ năm 2010 đến năm 2014 của người dân 35

Trang 12

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Một số đặc điểm khác nhau của phụ nữ và nam giới 4

Bảng 2.2 Thời gian phân công lao động theo giới 4

Bảng 2.3 Sử dụng thời gian và phân công lao động theo giới trong hộ gia đình ở nông thôn 8

Bảng 2.4: Tình hình sản xuất lúa của việt nam năm 2009-2013 9

Bảng 2.5: Tình hình sản xuất lúa của đbscl năm 2009-2013 10

Bảng 2.6: Tình hình sản xuất lúa của tỉnh kiên giang năm 2009-2013 11

Bảng 4.1 Nhân khẩu và lao động trong và ngoài dự án 21

Bảng 4.2 Lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp 21

Bảng 4.3 Tuổi chủ hộ của nông hộ trong và ngoài dự án 22

Bảng 4.4 Kinh nghiệm sản xuất lúa của nông hộ trong và ngoài dự án 22

Bảng 4.5 Tuổi và kinh nghiệm trung bình chung của nông hộ 23

Bảng 4.6 Trình độ học vấn của chủ hộ trong và ngoài dự án 23

Bảng 4.7 Hoạt động sản xuất lúa trong và ngoài dự án 25

Bảng 4.8 Hoạt động sản xuất lúa trước và sau dự án 26

Bảng 4.9 Các hoạt động nông nghiệp khác trong và ngoài dự án 27

Bảng 4.10 Các hoạt động nông nghiệp khác trước và sau dự án 27

Bảng 4.11 Các hoạt động phi nông nghiệp trong và ngoài dự án 28

Bảng 4.12 Các hoạt động phi nông nghiệp trước và sau dự án 29

Bảng 4.13 Các hoạt động gia đình trong và ngoài dự án 30

Bảng 4.14 Các hoạt động gia đình trước và sau dự án 31

Bảng 4.15 Các hoạt động xã hội trong và ngoài dự án 32

Bảng 4.16 Các hoạt động xã hội trước và sau dự án 32

Bảng 4.17 Mức độ đóng góp trong thu nhập từ lúa trong và ngoài dự án 33

Bảng 4.18 So sánh thu nhập từ lúa trong và ngoài dự án 33

Bảng 4.19 Mức độ đóng góp trong thu nhập khác ngoài lúa 33

Bảng 4.20 Các lớp tập huấn người dân đã tham gia trong 2010 đến 2014 36

Bảng 4.21 Nhận thức về 1P5G của nông dân trong và ngoài dự án 38

Bảng 4.22 Cách chọn giống của nông dân trong và ngoài dự án 39

Trang 13

Bảng 4.23 Lượng giống gieo sạ của nông dân trong và ngoài dự án 40

Bảng 4.24 Cách bón phân của nông dân trong và ngoài dự án 41

Bảng 4.25 Cách sử dụng thuốc bvtv của nông dân trong và ngoài dự án 42

Bảng 4.26 Cách quản lý thuốc bvtv của nông dân trong và ngoài dự án 43

Bảng 4.27 Cách quản lý nước của nông dân trong và ngoài dự án 44

Bảng 4.28 Tỷ lệ lúa đỗ ngã của người dân trồng lúa trong và ngoài dự án 45

Bảng 4.29 Nhận thức của việc bón thừa phân đạm và ngập khô xen kẽ 46

Trang 14

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

FAO: Food and Agriculture Organization (Tổ chức lương nông thế giới) GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)

HTX: Hợp tác xã

IPM: Integrated Pets Management (Quản lý dịch hại tổng hợp)

NDA: Ngoài dự án

NN: Nông nghiệp

NNPTNT: Nông nghiệp phát triển nông thôn

PTNT: Phát triển nông thôn

Trang 15

TÓM TẮT

Đề tài “Vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng 1 phải 5 giảm ở Kiên

Giang” chú trọng đến sự tham gia và quyết định của phụ nữ trong hoạt động sản xuất

lúa, các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp, gia đình và xã hội, so sánh giữa sự tham gia và quyết định của trong và ngoài dự án (năm 2014), (Vùng trong dự án là vùng canh tác lúa giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam (VLCRP) được tài trợ bởi

Cơ quan Hợp tác phát triển Úc (AusAID), vùng ngoài dự án là vùng canh tác lúa theo truyền thống), cũng như trước dự án (năm 2009) với sau dự án (năm 2014) Xác định vai trò của phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng 1 phải 5 giảm để đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong tương lai

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08/2014 đến tháng 11/2014 tại điểm nghiên cứu xã Thạnh Đông A (HTX Kênh 7B), huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Nghiên cứu

sử dụng phương pháp phỏng vấn nông hộ bằng bảng câu hỏi, được thực hiện với tổng

số mẫu điều tra là 70 mẫu, trong đó có 35 hộ ở trong dự án sản xuất lúa theo 1 phải 5 giảm, 35 hộ ngoài dự án Các phương pháp thống kê mô tả, T-test được sử dụng để phân tích

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong dự án và ngoài dự án số lao động nữ trong nông nghiệp, trình độ học vấn và kinh nghiệm sản xuất lúa của phụ nữ trong và ngoài

dự án có sự chênh lệch không đáng kể Các hoạt động sản xuất lúa mức độ tham gia và quyết định của phụ nữ trong dự án cao hơn phụ nữ ngoài dự án trên 10%, năm 2009 phụ nữ tham gia sản xuất lúa thấp hơn 2014 là 6,2%, tỷ lệ quyết định thấp hơn 13,5% Hoạt động nông nghiệp khác thì mức độ tham gia của nữ trong dự án nhỏ hơn ngoài

dự án, nhưng quyết định của phụ nữ trong dự án lớn hơn ngoài dự án Năm 2014 thì mức độ tham gia các hoạt động nông nghiệp khác của phụ nữ giảm so với năm 2009 Hoạt động phi nông nghiệp thì mức độ quyết định ngoài dự án cao hơn trong dự án 7,1% Năm 2014 mức độ tham gia và quyết định trong hoạt động phi nông nghiệp lớn hơn năm 2009 trên 20% Hoạt động gia đình trong dự án mức độ tham gia thấp hơn ngoài dự án nhưng mức độ quyết định lại cao hơn Năm 2014 các hoạt động gia đình giảm hơn so với năm 2009 Trong dự án các hoạt động xã hội cao hơn ngoài dự án đặc biết là đi dự tập huấn mức độ tham và quyết định cao hơn trên 25%, đi dự tập huấn năm 2014 cao hơn năm 2009 gần 20% Về kỹ thuật 1 phải 5 giảm trong dự án hiểu và đang ứng dụng chiếm 82,4%, ngoài dự án là 17,4% Phụ nữ trong dự án có vai trò cao hơn phụ nữ ngoài dự án

Trang 16

Chương một

MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân cư sống ở nông thôn, trong đó lực lượng lao động nữ chiếm trên 50% lao động nông thôn, họ đã có nhiều đóng góp to lớn cho nông nghiệp và phát triển nông thôn của nước ta Cũng như nhiều nước trên thế giới thì ở Việt Nam vẫn còn tồn tại bất bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực, vì vậy bình đẳng giới là mục tiêu phát triển nói chung và trong sản xuất lúa nói riêng

Đưa giới vào các hoạt động phát triển nông nghiệp nói chung và trong sản xuất lúa nói riêng là mục tiêu đúng đắn, nhưng trên thực tế khi chúng ta đưa các kỹ thuật mới vào trong sản xuất thì chúng ta thường định hướng theo hộ, theo cộng đồng mà chưa đi sâu vào định hướng cho giới, điều đó phần nào đã làm cản trở việc chuyển giao cũng như khai thác lợi ích của các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Hiện nay có các nghiên cứu nói về giới, nói về vai trò của phụ nữ trong sản xuất, như Nguyễn Thị Phượng Lê thì nói về vai trò của phụ nữ nông thôn Châu Á trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn; Lê Thị Chiêu Nghi thì nói về giới và dự án phát triển; Vương Thị Vân nói về vai trò phụ nữ trong kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên; còn Văn Trọng Thủy nói về giới trong các xã có áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) tại huyện Mỹ Đức-TP Hà Nội…Nhưng với nghiên cứu nói về vai trò của phụ nữ trong sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long thì chưa nhiều Đặc điểm của mỗi tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lúa là khác nhau nên khi áp dụng vào thực tế cũng có sự phân biệt về giới khác nhau Nghiên cứu này được tiến hành tại Kênh 7B, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang với những đặc điểm riêng nhằm có những đóng góp để biết được vai trò của phụ nữ trong áp dụng các kỹ thuật mới trong sản xuất lúa ở Kênh 7B nói riêng và phần nào đóng góp cho tổng kết đánh giá định hướng về vai trò của phụ nữ trong quá trình đưa các kỹ thuật mới vào trong sản xuất lúa để đạt hiệu quả cao nhất

Kênh 7B có thế mạnh về sản xuất lúa, trong giai đoạn hiện nay phát triển sản xuất lúa theo hướng sản xuất mới, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật là bước đi quan trọng Trong những năm gần đây có nhiều chương trình, dự án quốc gia tập trung vào nâng cao năng suất cho cây lúa và hướng tới sản xuất lúa giảm phát thải khí nhà kính Nhưng các nghiên cứu nói về vai trò của giới trong những nơi áp dụng sản xuất lúa theo chương trình 1 phải 5 giảm (1P5G) còn rất hạn chế Nên nghiên cứu đề tài

“Vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng 1 phải 5 giảm ở Kiên Giang” được thực hiện nhằm đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong sản xuất lúa, phát huy năng lực của phụ nữ nông thôn trong gia đình và đời sống kinh tế xã hội

Trang 17

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Xát định tầm quan trọng và sự đóng góp của phụ nữ trong sản xuất lúa nói chung và kỹ thuật 1P5G nói riêng để có những biện pháp nâng cao vai trò của họ trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

− Phân tích các đóng góp của phụ nữ trong sản xuất lúa

− Xác định vai trò của phụ nữ trong việc ứng dụng chương trình 1P5G trong sản xuất lúa

− Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

− Phụ nữ có những đóng góp gì trong sản xuất lúa?

− Trong sản xuất lúa theo chương trình 1P5G giảm thì phụ nữ có vai trò như thế nào?

− Có các giải pháp nào để nâng cao vai trò của phụ nữ trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất?

1.4 PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

− Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014

− Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại xã Thạnh Đông A (HTX Kênh 7B), huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang

− Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ đang canh tác lúa trên địa bàn nghiên cứu tỉnh Kiên Giang, gồm 2 nhóm: phụ nữ trong vùng dự án và phụ nữ ngoài vùng dự án

Trang 18

Chương hai LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.1 Giới và giới tính

2.1.1.1 Giới

Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ trong một môi trường xã hội cụ thể Nói cách khác, giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội (Lê Thị Chiêu Nghi, 2001)

Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh cụ thể Nói cách khác nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ gốc độ xã hội (Trần Thị Quế, 1999)

2.1.1.2 Giới tính

Giới tính (giống) là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y – sinh học (Lê Thị Chiêu Nghi, 2001)

Giới tính (trong một số tài lệu sử dụng thuật ngữ giống) chỉ sự khác biệt giữa phụ

nữ và nam giới từ gốc độ sinh lý học (cấu tạo hóc môn, nhiễm sắc thể các bộ phận sinh dục v.v.) sự khác biệt này liên quan chủ yếu tới quá trình tái sản xuất nòi giống (Trần Thị Quế, 1999)

2.1.1.3 Sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới

Phụ nữ và nam giới khác nhau ở hai phương diện: thể chất và xã hội

Theo Lê Thị Chiêu Nghi (2001), về sinh lý, tâm lý: Y học và tâm lý học… cho ta thấy bản sắc phụ nữ như một con người-sinh vật có năng khiếu về ngôn ngữ, có khả năng chống lại bệnh tật tốt hơn nam giới, nhưng phải gánh chịu tự nhiên chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng trong hai phần ba cuộc đời Nói đến phụ nữ là nói đến sự dịu dàng, duyên dáng, nết na và vẻ đẹp của tự nhiên

Sự khác biệt về mặt sinh lý học của phụ nữ và nam giới (như phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú; nam giới mang tinh trùng) gọi là sự khác biệt về giới tính và được thể hiện bằng thuật ngữ giới tính (đàn ông và đàn bà) còn sự khác biệt giữa nam

và nữ như nam giới quyết đoán, mạnh mẽ; phụ nữ kiên trì, dịu dàng… (Bảng 2.1) Về thực chất đó là do quan niệm xã hội về phụ nữ và nam giới gọi là sự khác biệt giới và được thể hiện bằng thuật ngữ giới (giới nam và giới nữ)

Trang 19

Bảng 2.1 Một số đặc điểm khác nhau của phụ nữ và nam giới

Dịu dàng

Kiên nhẫn

Mang thai, sinh con

Hay làm các việc thƣ ký, đánh máy, thừa

hành

Mạnh mẽ Quyết đoán Hay rƣợu bia Hay làm các việc quản lý, lãnh đạo, ra quyết định

(Nguồn: Trần Thị Quế, 1999)

Trong một số đặc điểm của phụ nữ và nam giới nêu trên chỉ riêng đặc điểm mang thai và sinh con là đặc thù về mặt sinh lý học của phụ nữ không thể đổi chỗ cho nam giới đƣợc (Trần Thị Quế, 1999)

2.1.1.4 Định kiến đối với phụ nữ bất bình đẳng giới

Cho đến ngày nay hầu hết mọi nơi điều tồn tại bất bình đẳng giới, thể hiện ở những công việc của nam giới và nữ giới thực hiện vai trò của mình, những quan niệm thái độ và sự đánh giá của xã hội đối với công việc mà mỗi giới thực hiện, thực tế là phụ nữ phải làm việc nhiều thời gian, phụ nữ có ít thời gian rảnh rỗi và có nhiều công việc cùng một lúc, công việc của phụ nữ hằng ngày bị xé lẻ Trong vai trò sinh sản và nuôi dƣỡng, phụ nữ làm nhiều gấp 2,3 lần nam giới, nhiều phụ nữ phải làm việc “đầu tắt, mặt tối” từ sáng sớm đến khuya

Bảng 2.2 cho thấy thời gian nghỉ ngơi của phụ nữ khoảng 1,5 giờ còn nam giới thời gian nghỉ ngơi là 4 giờ, đối với phụ nữ nông thôn công việc tái sản xuất rất cao chiếm tới 9,5 giờ, trong khi đó công việc tái sản xuất của nam giới ở nông thôn chỉ có

− Công việc sinh sản và nuôi dƣỡng

Trong khi đó nam giới chỉ tham gia chủ yếu vào hai vai trò:

Trang 20

− Công việc sản xuất;

− Công việc cộng đồng

Phụ nữ còn bị hạn chế về tham gia hoạt động chính trị Hiện nay số lượng đại biểu nữ trong Quốc hội Việt Nam đã giảm trong vòng mười năm qua Năm 1997, Việt Nam thuộc nhóm mười nước đứng đầu thế giới về tỷ lệ nữ trong Quốc hội Đến năm

2012, xếp hạng của Việt Nam giảm xuống thứ 44 trên thế giới, với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội là 24,4% Họ ít có quyền quyết định trong bộ máy nhà nước, trong cộng đồng, ngay cả trong gia đình (Lê Thị Chiêu Nghi, 2001)

2.1.1.5 Trình tự phát triển của phụ nữ trong xã hội

Lịch sử nhân loại ở các nền văn hóa khác nhau, trải qua nhiều hình thái kinh tế -

xã hội, từ thời kì cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến phân quyền rồi tập quyền, thời kì tiền tư bản, tư bản, hậu tư bản v.v Qua các thời đại nói về thân phận khốn cùng của người phụ nữ xưa kia và cả ngày nay điều giống nhau khi lột tả về cuộc sống bị lệ thuộc, bị đối xử bất bình đẳng của phụ nữ Phụ nữ Việt Nam đã trải qua 7 giai đoạn phát triển (Lê Thị Chiêu Nghi, 2001)

Phụ nữ Việt Nam trong thời kì nguyên thủy: Lịch sử ghi lại những bầy người nguyên thủy khoảng vài ba chục người, có một người “đầu đàn” lãnh đạo trong cuộc sống lang thang dọc theo núi rừng, triền sông con suối, họ sống chủ yếu là nhờ vào săn bắt hái lượm Phần đông những người “đầu đàn” của các bầy người nguyên thủy đều là

“phụ nữ” Với sự phát triển của lực lượng sản xuất đã cho phép và đòi hỏi sự ổn định tương đối của lực lượng lao động hay mối quan hệ chặt chẽ giữa các tập đoàn người,

có liên hệ với nhau theo huyết thống từ đó “chế độ thị tộc” hình thành Thị tộc phát triển với việc tập hợp các thành viên xung quanh người phụ nữ là “mẹ” Đó “là thị tộc mẫu hệ”; trên cơ sở xã hội ấy, “chế độ mẫu quyền” ra đời, đó là thời kì vàng son của phụ nữ Ở cuối thời kỳ chế độ mẫu quyền, nền sản xuất trồng trọt phát triển, chăn nuôi trở thành ngành sản xuất quan trọng Nam giới phải tham gia nhiều hơn vào việc trồng trọt và chăn nuôi, dần dần giữ vai trò chủ yếu trong các ngành sản xuất quan trọng này

Từ nhu cầu kinh tế và gia đình, vấn đề “quyền ra quyết định của nam giới” trở thành vấn đề xã hội Nam giới cần làm chủ gia tộc, thị tộc; nắm quyền phân phối tài sản cộng đồng tiến tới thâu tóm quyền lực trong một xã hội tiền sử

Phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước là chủ yếu, cần nhu cầu lớn về lao động Trong bối cảnh này người phụ nữ cần phải tham gia một cách tích cực vào mọi hoạt động quan trọng, quyết định trong nền sản xuất nông nghiệp Phát huy truyền thống cần cù, chịu khó, đảm đang sáng tạo, ngoài ra trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử phức tạp phụ nữ Việt Nam còn thể hiện tinh thần làm chủ và ý thức cộng đồng cao Người phụ nữ còn phải thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm làm con, làm vợ, làm mẹ, làm bà v.v Trong suốt

Trang 21

cuộc đời người phụ nữ Việt Nam thời kỳ phong kiến thật nặng nề, vất vả Trong gia đình, phụ nữ giữ vai trò trung tâm; là linh hồn chính yếu Trong chống giặc ngoại xâm phụ nữ tham gia đáng kể vào chiến tranh chống xâm lược ở Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, đối với công cuộc dựng nước và giữ nước Phụ nữ Việt Nam đã thực hiện xuất sắc vai trò sản xuất, sinh sản và nuôi dưỡng; đấu tranh chống xâm lược và giai cấp phong kiến lỗi thời; kế tục xứng đáng mầm mống truyền thống được khai sinh hàng vạn năm từ thời kỳ nguyên thủy

Phụ nữ Việt Nam dưới thời kỳ Pháp thuộc: Trong thời kỳ Pháp thuộc người nông dân Việt Nam bị mất đất canh tác, chế độ sử dụng ruộng đất của nông dân vẫn dựa trên quan hệ sở hữu phong kiến phát canh - thu tô là chủ yếu Người nông dân, trong đó có người phụ nữ nông thôn bị mất đất nhưng vẫn bị trói buộc vào ruộng đất, chỉ có cách

đi làm thuê cho địa chủ hoặc chủ đồn điền Tây, sống dỡ chết dỡ đời này qua đời khác Vào thế kỉ 19 xuất hiện tầng lớp công nhân đầu tiên, đã có mặt phụ nữ làm thợ; bởi khả năng lao động cần cù, nhẫn nại và sáng tạo của họ Người phụ nữ còn đứng lên đấu tranh, quyết tâm tìm đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng chính mình

Phụ nữ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ giành chính quyền (1930 – 1945): Ngay từ đầu Đảng cộng sản Đông Dương (1930) đã đánh giá đúng đắn vai trò và khả năng cách mạng của phụ nữ: “Lực lượng phụ nữ là một lực lượng rất trọng yếu Nếu phần lớn phụ nữ không tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể thắng lợi được” (Trích “Nghị quyết Trung ương toàn thể hội nghị, 1930”) Phụ nữ Việt Nam đã có mặt ngay từ đầu, dưới ngọn cờ đấu tranh của Đảng đã sát cánh cùng nam giới chống đế quốc phong kiến, cung cấp cho phong trào nhiều chiến sĩ cách mạng ưu tú, ghi vào lịch sử đấu tranh của nhân dân ta tấm gương chói lọi của biết bao anh hùng liệt sĩ và trải qua biết bao chặng đường gian khổ, đã góp phần vẻ vang vào thành công của cách mạng tháng Tám, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và toàn quốc kháng chiến lần thứ I (1945 – 1954): Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, cùng với sự thắng lợi của giải phóng dân tộc, công cuộc giải phóng phụ nữ đã có quyết định Phụ nữ ngang quyền với nam giới về mọi phương diện, tất cả các hoạt động chính trị của người phụ nữ ở thời kì này là ủng

hộ, bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng Lần đầu tiên trong lịch sử, tất cả phụ nữ-công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 18 tuổi trở lên được tham gia bầu cử và ứng cử trong cuộc tổng tiển cử Quốc hội đầu tiên (1946) Phong trào phụ nữ ngày càng lớn mạnh, trước yêu cầu và sự phát triển của phong trào phụ nữ trong tình hình mới thì “Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam’ được thành lập nhằm thống nhất và tập hợp lực lượng phụ nữ trong cả nước

Trang 22

Phụ nữ Việt Nam trong cách mạng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam (1954-1975): Trong giai đoạn này phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế văn hóa xã hội và gia đình Công việc làm như nhau phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới Người phụ nữ còn xứng đáng với 8 chữ vàng mà Bác Hồ đã tuyên dương “ANH HÙNG-BẤT KHUẤT-TRUNG HẬU-ĐẢM ĐANG” không chỉ tuyên dương công trạng, mà thực sự đã trở thành phẩm chất quý báu của phụ nữ Việt Nam

Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Xã hội sau khi thống nhất đất nước và trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa (1975 đến nay): Trải qua thăng trầm của đời sống kinh tế xã-hội, phụ nữ luôn tỏ ra là lực lượng quần chúng cách mạng kiên trì và trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp của dân tộc và vững bước đi lên dưới ánh sáng của thời kì đổi mới Phụ nữ Việt Nam là chiến sĩ trên mặt trận công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, thuộc mọi thành phần kinh tế, trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Phụ nữ Việt Nam đã phát huy phẩm chất truyền thống, đạo đức, tài năng, vững bước đi lên trên con đường giải phóng phụ nữ, được soi sáng bởi sự lãnh đạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại (Lê Thị Chiêu Nghi, 2001)

2.1.1.6 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội

Đời sống của mỗi cá nhân luôn được bắt đầu trước hết từ phạm vi gia đình, gia đình là môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng Nếu gia đình được coi là tế bào của xã hội thì người phụ nữ được coi là hạt nhân của tế bào này Đồng thời, gia đình là nơi thể hiện thực chất sự bình đẳng và nâng cao địa vị của người phụ nữ Để tạo được một gia đình hòa thuận, mọi thành viên trong gia đình điều phải có trách nhiệm đóng góp công sức nhưng người phụ nữ phải là người khéo léo sắp xếp làm sao để tất cả mọi người trong gia đình điều thấy được trách nhiệm của mình đối với gia đình Tuy nhiên bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại trong sử dụng thời gian và phân công lao động

và trong các hoạt động khác (Lê Thị Chiêu Nghi, 2001)

Người phụ nữ thường tỉnh dậy sớm hơn nam giới để thực hiện các công việc như:

Chuẩn bị thức ăn cho người, gà vịt, quét dọn nhà cửa, giặt giũ, vệ sinh cá nhân, cho các con

ăn sáng, chuẩn bị cho con đến trường, còn nam giới thì tỉnh dậy muộn hơn Trong một ngày công việc của phụ nữ được chia nhỏ ra và thực hiện rất nhiều công việc khác nhau từ nấu nướng, dẹp dọn, chăm lo con cái, lấy thức ăn cho gia súc, gia cầm, dọn dẹp chuồng trại…còn nam giới chủ yếu làm các công việc đồng án, chăm sóc vườn tược, thời gian nghỉ ngơi của phụ nữ cũng ít hơn nam giới (Bảng 2.3)

Trang 23

Bảng 2.3 Thời gian phân công lao động theo giới

− 5g: Tỉnh dậy

Chuẩn bị thức ăn cho người, gà vịt, quét

dọn nhà cửa, giặt giũ, vệ sinh cá nhân;

Cho các con ăn sáng, chuẩn bị cho con

− 14g: Ra đồng lấy thức ăn cho gia đình,

cho gia súc ăn

− 15g30: Lấy củi

− 16g30: Chuẩn bị cơm nước, cho lợn, gà

ăn, tắm rửa cho con cái

− 18g: Ăn cơm, dọn dẹp, lấy thức ăn cho

lợn, gà, dọn dẹp chuồng trại, xay xát gạo,

làm công việc vặt trong nhà, trông dạy

con

− 21g: Nghỉ ngơi, khâu vá

− 22g: Ngủ

− 6g: Tỉnh dậy Làm vệ sinh cá nhân, xem các chuồng trại gia súc

(Lê Thị Chiêu Nghi, 2001)

Ngày nay người phụ nữ không chỉ làm vợ, làm mẹ, chăm sóc gia đình mà còn tham gia giữ các vai trò khác nhau trong nhiều lĩnh vực của xã hội Người phụ nữ vừa phải lo hoàn thành nhiệm vụ xã hội vừa phải chăm lo cho gia đình chu đáo để giữ gìn hạnh phúc, phát huy các chuẩn mực gia đình người phụ nữ hiện đại phải là những người “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, để góp phần xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc Phụ nữ là một lực lượng trực tiếp để sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội góp phần sáng tạo nên nền văn hóa nhân loại là lực lượng không thể thiếu trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại (Nguyễn Thị Thủy, 2012)

Ở Việt Nam phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa như ngày nay thì ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong quốc hội; tỷ lệ tốt

Trang 24

nghiệp đại học là 36,2%; thạc sỹ 33,9%; tiến sỹ 25,6% Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có một vị trí quan trọng trong các lĩnh vực của xã hội (Vương Thị Vân, 2009) Phụ nữ luôn tham gia tích cực vào các hoạt động gia đình và xã hội, phụ nữ có những đóng góp quan trọng trong kinh tế gia đình cũng như ngoài xã hội Họ tham gia vào tất cả các công việc sản xuất, chăn nuôi, buôn bán, dịch vụ, trồng trọt cũng như trong sản xuất lúa thì không thể thiếu vai trò của người phụ nữ

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo

2.1.2.1 Việt Nam

Lúa gạo được xem là loại cây trồng và mùa vụ chính quan trọng nhất ở Việt Nam Sự hình thành và phát triển sản xuất lúa gạo ở nước ta có lịch sử truyền thống lâu đời và có ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân Việt Nam có khoảng 9,3 triệu ha đất nông nghiệp, phần lớn có diện tích đất dành cho trồng lúa là khoảng 4,3 triệu ha (chiếm khoảng 46% diện tích đất nông nghiệp) Năm 2009 diện tích canh tác lúa có khoảng 7,4 triệu ha, năm 2013 tăng lên 0,4 triệu ha (7,8 triệu ha) Năng suất bình quân năm 2009 là 5,3 tấn/ha vào năm 2013 đã tăng lên 5,7 tấn/ha đạt mức cao nhất từ trước đến nay Từ năm 2009 đến nay, sản lượng lúa gạo của Việt Nam liên tục tăng trưởng nhờ biện pháp kỹ thuật canh tác tốt, tăng năng suất và một phần mở rộng diện tích canh tác hàng năm Sản lượng lúa ở nước ta 38,9 triệu tấn (năm 2009) nhưng đến năm 2013 đã đạt được 44,1 triệu tấn (Bảng 2.4)

Bảng 2.4: Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam năm 2009-2013

Sản lượng ( Triệu tấn) 38,9 40,0 43,3 43,6 44,1 Năng suất (Tấn/ha) 5,3 5,4 5,6 5,7 5,7 Diện tích (Triệu ha) 7,4 7,4 7,7 7,7 7,8

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2013)

Từ năm 1989 Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Năm 2011 là năm đầu tiên Việt Nam vượt qua Thái Lan để trở thành nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới với sản lượng xuất khẩu là 7,1 triệu tấn đem về cho đất nước 3,5 tỷ USD Sản lượng lúa gạo của Việt Nam luôn tăng trong suốt từ năm 2009 đến năm 2013 Sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã cung cấp lương thực cho

120 nước trên toàn thế giới Trong nhiều năm xuất khẩu lúa gạo, Việt Nam luôn đứng

vị trí thứ 2 thế giới sau Thái Lan về sản lượng gạo xuất khẩu Thành công trong xuất khẩu gạo đã đem về cho đất nước hàng tỷ USD, bên cạnh đó còn có vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào việc đảm bảo an ninh lương thực trên thế giới Việt Nam đã

và đang chuyển dần từ việc mở rộng diện tích canh tác sang sản xuất lúa theo hướng

Trang 25

tăng chất lượng như: Xuất khẩu loại gạo có chất lượng cũng như có giá trị cao Xu hướng này đang được hưởng ứng và ngày càng tăng lên nhanh chóng về số lượng cũng như chất lượng hàng hóa xuất khẩu (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

2.1.2.2 Đồng Bằng Sông Cửu Long

Theo ngành nông nghiệp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), năm

2013, sản lượng lúa cả năm của vùng đạt 24,9 triệu tấn, nhờ trúng cả 3 vụ lúa đông xuân, hè thu, thu đông cùng với mở rộng diện tích lúa thu đông, hè thu Năm 2013, toàn vùng đã đưa 4,2 triệu ha đất vào trồng lúa, tăng 0,4 triệu ha so với năm 2009 (3,8 triệu ha) Năng suất lúa đạt 6,2 tấn/ha (năm 2013) tăng 0,8 tấn/ha so với năm 2009 chỉ

có 5,4 tấn/ha Sản lượng lúa ở ĐBSCL luôn tăng từ năm 2009 đến năm 2013, thấp nhất

là năm 2009 đạt 20,5 triệu tấn, cao nhất là năm 2013 đạt 24,9 triệu tấn (Bảng 2.5)

Bảng 2.5: Tình hình sản xuất lúa của ĐBSCL năm 2009-2013

Sản lượng (Triệu tấn) 20,5 21,6 23,2 24,3 24,9 Năng suất (Tấn/ha) 5,4 5,5 5,8 5,9 6,2 Diện tích (Triệu ha) 3,8 3,9 4,0 4,1 4,2

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2013)

Để đạt được hiệu quả sản xuất cao, các tỉnh ĐBSCL vận động người dân gia tăng

sử dụng giống lúa thích ghi với từng vùng sinh thái và đạt chuẩn xác nhận, cho năng suất, chất lượng cao, kháng sâu bệnh mạnh Các tỉnh mở rộng diện tích vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao thêm hàng chục nghìn ha với các giống lúa thơm, lúa có chứa hàm lượng chất dinh dưỡng chuyên biệt, lúa giàu protein, lúa dành riêng cho đối tượng nước ngoài thu mua v.v Ngoài ra vùng ĐBSCL có lợi thế về tài nguyên đất đai, sông ngòi, cũng như điều kiện khí hậu thuận lợi Nhìn chung, sản xuất lúa ở ĐBSCL

có xu hướng gia tăng về năng suất và sản lượng, các yếu tố góp phần cho sự gia tăng này tập chung vào khâu chọn giống lúa và bố trí thời vụ, các kỹ thuật canh tác (làm đất, bón phân, quản lý nước, bảo vệ thực vật) (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

Trang 26

Bảng 2.6: Tình hình sản xuất lúa của tỉnh Kiên Giang năm 2009-2013

Sản lượng (Triệu tấn) 3,4 3,5 4,1 4,3 4,5 Năng suất (Tấn/ha) 5,7 5,8 5,9 6,1 6,4 Diện tích (Triệu ha) 0,6 0,6 0,7 0,7 0,7

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2013)

Kiên Giang đang triển khai thực hiện sản xuất lúa theo chương trình 1P5G,

“Cánh đồng mẫu lớn” sản xuất theo hướng VietGAP Chương trình “Cánh đồng mẫu lớn” sản xuất theo hướng VietGAP ở Kiên Giang đã tạo được mối liên kết “4 nhà” tìm

“đầu ra” cho sản phẩm giúp nhà nông yên tâm sản xuất và bước đầu đã hình thành vùng sản xuất chất lượng cao tập trung Những kết quả đạt được trong xây dựng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” sản xuất theo hướng VietGAP ở các địa phương trong năm qua sẽ là nền tảng để Kiên Giang mở rộng diện tích sản xuất theo mô hình này trong những mùa vụ tới Những định hướng và giải pháp của ngành NNPTNT, sự nỗ lực của các ngành liên quan, các địa phương, nhà nông tăng thêm thu nhập, góp phần tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

2.1.3 Chương trình 1 phải 5 giảm

Mấy năm qua, việc sản xuất lúa theo tiến bộ kỹ thuật “1 phải 5 giảm” đang dần trở nên quen thuộc ở ĐBSCL Chương trình “1 phải 5 giảm” là mô hình kết hợp giữa các kỹ thuật tiến bộ hiện nay như: Kỹ thuật 3 giảm 3 tăng, ngập khô xen kẽ…Kỹ thuật

1 phải 5 giảm bao gồm: 1 phải là phải sử dụng giống xác nhận, nhằm có được giống lúa tốt, kháng được sâu bệnh giúp cho cây lúa khỏe mạnh và cho năng suất cao; còn 5 giảm bao gồm: giảm nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm lượng giống gieo

sạ, giảm phân đạm và giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Ngày nay vấn đề môi trường rất quan trọng cho nên sản xuất lúa theo hướng giảm phát thải khí nhà kính hay còn gọi là chương trình 1 phải 6 giảm (1P6G) đang được quan tâm (Bộ Nông Nghiệp

và PTNT, 2013)

Ngày 10/10, tại Trường Đại Học Cần Thơ, Viện Nghiên cứu và Phát triển ĐBSCL đã tổ chức Hội thảo báo cáo giữa kỳ về hợp tác đo lường khí phát thải nhà kính Hội thảo nhận định, ĐBSCL đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp

và an ninh lương thực quốc gia với hàng năm sản xuất lúa hơn 52% và đóng góp khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước Tuy nhiên hiện nay sự phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp hiện đang chiếm 50,5% tổng phát thải khí nhà kính của cả

Trang 27

nước Ước tính, phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp sẽ tăng đến 64,7% của tổng

phát thải ở nước ta (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

 So sánh hiệu quả giữa mô hình 1P5G và phương pháp canh tác truyền thống Trong những năm gần đây mô hình 1P5G đã được bà con nông dân áp dụng và mang lại hiệu quả rất lớn so với phương pháp canh tác truyền thống, điều này đã góp phần giúp nông dân tiết kiệm nhiều chi phí đầu tư gồm: giảm được giống, phân bón, giảm

số lần phun thuốc bảo vệ thực vật, giảm số lần bơm nước, tỷ lệ đổ ngã thấp, giảm phát thải khí nhà kính Cụ thể như sau:

 Giống:

− Lượng giống trung bình khi áp dụng mô hình đã tiết kiệm được khoảng trên 60%

− Sử dụng giống cấp xác nhận giúp bà con nông dân tiết kiệm được một lượng giống lớn, đồng thời khi sử dụng giống xác nhận thì cây lúa phát triển khỏe mạnh, hạn chế được sâu bệnh tấn công Bên cạnh đó, sản phẩm sau khi thu hoạch đạt được chất lượng cao (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

 Phân bón:

− Từ khi áp dụng mô hình, lượng phân đạm tiết kiệm trung bình từ 47-50 kg Urê/ha, 8-10 kg P2O5/ha, và Kali là 0,3-0,5 kg lượng phân đạm giảm khoảng 78%

− Việc giảm bón thừa phân đạm ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế còn góp phần giúp cây lúa phát triển cân đối, ít đỗ ngã, ít sâu bệnh và hạn chế ô nhiễm môi trường (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

− Kỹ thuật tưới nước “ngập khô xen kẽ” kết hợp với biện pháp kỹ thuật khác như:

sạ thưa, bón phân cân đối… cũng làm giảm tỉ lệ đổ ngã cho cây lúa đáng kể, đặc biệt trong điều kiện mưa bão nhiều của vụ hè thu (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

 Thất thoát sau thu hoạch:

Trang 28

Áp dụng các biện pháp kỹ thuật, cơ giới hóa như: thu hoạch đúng độ chín, sử dụng máy gặt đập liên hợp, gặt xếp dãy, máy sấy lúa nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch, nâng cao chất lượng lúa hàng hóa (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

 Năng suất:

Năng suất tăng so với mô hình truyền thống do: Sử dụng giống tốt (giống xác nhận) giúp cây lúa khỏe mạnh ngay từ đầu vụ, giảm áp lực dịch hại, sử dụng phân bón hợp lý cân đối hơn, lúa ít đổ ngã hơn, ứng dụng tốt công nghệ sau thu hoạch (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

 Giảm phát thải khí nhà kính:

Rơm rạ trên đồng ruộng không đốt mà được chuyển sang trồng nấm,100 kg rơm

có thể sản xuất được khoảng 10 kg nấm rơm Sở NN-PTNT Cần Thơ cũng đã thử nghiệm mô hình sử dụng rơm để sản xuất nấm Kết quả cho thấy khi sử dụng lượng rơm rạ thu gom trên 3 ha lúa, trong vòng 20 ngày dùng để trồng nấm, đã thu được lợi nhuận trên 20 triệu đồng Việc trồng nấm là một giải pháp đúng đắn, vừa góp phần quan trọng trong việc phát triển nghề trồng nấm cả nước, vừa làm giảm mạnh phát thải khí CO2 khi mà rơm rạ không còn bị đốt bừa bãi Sau khi trồng nấm, chỗ rơm rạ đó có thể dùng để chế biến phân bón hữu cơ Ngoài ra, còn có thể sử dụng rơm rạ vào các lĩnh vực khác như vật liệu xây dựng Vì thế, nếu biết tận dụng rơm rạ vào trồng nấm, làm phân bón hữu cơ, vật liệu xây dựng… còn góp phần vào gia tăng giá trị cho sản xuất lúa ở nước ta Lượng nước trên ruộng được điều tiết phù hợp (lúc ướt, lúc khô) với từng quá trình sinh trưởng của cây lúa, mà lượng phát thải khí nhà kính (CH4, CO2,

H2S) trên các ruộng tham gia mô hình đã giảm 20%-30% so với các ruộng đối chứng luôn để ngập nước trong suốt cả vụ (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

Mô hình 1P5G giúp nông dân cải tiến việc quản lý các số liệu theo dõi mực nước, sinh trưởng, nông học và sâu bệnh trên ruộng lúa tại nông hộ Bên cạnh đó, nông dân còn có thể tự hoạch toán chi phí sản xuất (lợi nhuận thu được/vụ) để có điều chỉnh quy trình canh tác nhằm giảm chi phí đầu tư, kỹ thuật 1P5G không chỉ đạt hiệu quả về kinh tế mà còn đạt hiệu quả thiết thực về môi trường, nhất là trong bối cảnh hiện nay chúng ta phải đối phó với tình hình biến đổi khí hậu xảy ra trên toàn cầu (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp

Qua nhiều nghiên cứu cho thấy cả nam và nữ điều tham gia vào sản xuất nông nghiệp, nhưng vai trò của họ thay đổi theo vùng, theo các điều kiện sinh thái, theo hệ canh tác, theo mối liên kết giữa trồng trọt và chăn nuôi và tùy theo cơ hội tìm việc làm

ở khu vực phi nông nghiệp Mặc dù có sự khác nhau như vậy nhưng hầu hết người phụ

nữ điều có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng lương thực-thực phẩm cho gia đình không chỉ bằng hoạt động sản xuất và chế biến sản phẩm mà còn thông qua các hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường (Nguyễn Phượng Lê, 2003)

Trang 29

Ở các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia và Philipines nơi mà sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu thì phụ nữ luôn đảm nhận hầu hết các công việc trong sản xuất lúa như: làm đất, gieo cấy, bón phân, làm cỏ, tưới nước, thu hoạch và các hoạt động sau thu hoạch (UNICEF) Ở Bhatan, trừ khâu cày bừa phụ nữ đảm nhận hầu hết các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp, ngoài ra họ còn kiếm tiền bằng các hoạt động bán sản phẩm và đi làm thuê Ngoài ra phụ nữ nông thôn còn chăm sóc gia súc, gia cầm để cải thiện chất lượng dinh dưỡng và nâng cao thu nhập cho gia đình

Ở Châu Á nghề làm vườn cũng rất phát triển, cùng với nghề chăn nuôi và sản xuất nông sản, nghề này đã góp phần quan trọng vào giải quyết nhu cầu lương thực-thực phẩm cho hộ gia đình Đối với nghề làm vườn người ta cũng thấy rằng phụ nữ thường trồng và chăm sóc rau, quả nhiều hơn nam giới (Women in rice farming, 1983)

2.1.4.1 Trong sản xuất thủy sản

Cá và các sản phẩm từ cá là một phần quan trọng trong toàn bộ khẩu phần ăn ở nhiều nước và cũng là một ngành kinh tế quan trọng ở một số nước Phụ nữ nông thôn tham gia vào cả hai lĩnh vực đó là chăn nuôi cá theo kiểu thủ công và chế biến thủy hải sản ở các xí nghiệp công nghiệp Bằng hoạt động của mình trong ngành thủy sản phụ

nữ không chỉ góp phần làm tăng thu nhập cho gia đình mà còn làm tăng thêm nguồn thu nhập ngoại tệ cho đất nước (Nguyễn Phượng Lê, 2003)

Ở Ấn Độ và Lào, phụ nữ đánh bắt tôm cá nước ngọt bằng lưới còn ở Philipines thì phụ nữ đánh cá bằng xuồng ở những vùng nước lợ ven biển Vai trò của người phụ

nữ đã xát định được tính đa dạng của lao động trong nghề thủy sản Ngoài vai trò làm

vợ, làm mẹ, là người quản lý gia đình, những ngư dân nữ còn tham gia vào thị trường

cá với vai trò của những người bán lẻ, người bán đấu giá hoặc các đại lý buôn bán, họ đan và sữa chữa lưới, ngoài ra họ còn là những công nhân chế biến tôm, phơi và ướp

cá chế biến ra hàng loạt các sản phẩm từ thủy sản (FAO, 1987)

2.1.4.2 Trong chăn nuôi

Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của nông nghiệp hiện đại, nuôi với số lượng lớn vật nuôi để sản xuất những sản phẩm như: thực phẩm, lông, và sức lao động Sản phẩm từ chăn nuôi cung cấp thực phẩm chủ yếu cho người dân Đây cũng là ngành kinh tế giúp cho nông dân tăng thu nhập, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động Ở nông thôn ngành chăn nuôi phát triển chủ yếu là nuôi trâu

bò, lợn, gà, vịt…để chăm lo phát triển kinh tế gia đình với sự tham gia chủ yếu của người phụ nữ vào các khâu như lựa chọn con giống, làm chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng gia súc, gia cầm, những công việc đó đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, sự tỷ mỉ

và khéo léo.Việc ra quyết định lựa chọn giống, kỹ thuật, quy mô nuôi, mua vật tư làm chuồng trại do người chồng quyết định với ý kiến đánh giá 52% Người vợ ra quyết định chính về bán sản phẩm, với ý kiến đánh giá 45,5% Ngoài ra phụ nữ còn tham gia

Trang 30

vào chế biến các sản phẩm từ chăn nuôi ở các nhà máy, xí nghiệp Tham gia vào việc trao đổi, buôn bán các sản phẩm từ chăn nuôi trên thị trường tạo nguồn thu nhập góp phần cải thiện và năng cao chất lượng cuộc sống (Nguyễn Thị Tuyết Lan, 2000)

2.1.4.3 Trong sản xuất lúa

Lúa là cây lương thực quan trọng của nước ta, trồng lúa là một nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam từ rất xa xưa Từ nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh như hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất

ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới Trong đó ngành trồng lúa nước ở nước ta là một trong những ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể Nền sản xuất lúa nước phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự đóng góp của phụ

nữ nông thôn, họ chiếm khoảng trên 60% so với phụ nữ cả nước, gần 50% dân số ở nông thôn và lao động nữ chiếm trên 50% lao động nông thôn Những người phụ nữ tham gia rất nhiều vào các hoạt động trong sản xuất lúa vào các khâu như việc sàn lọc, sấy khô, phân loại hạt giống, họ là người thường xuyên chịu trách nhiệm về việc lựa chọn các nhà máy để cung cấp hạt giống, để lưu trữ hạt giống và để thử nghiệm hạt giống nảy mầm Trước khi sạ phụ nữ tham gia vào việc cải tạo đất, dọn vệ sinh đồng ruộng Họ tham gia vào việc cấy lúa, làm cỏ và chịu trách nhiệm thuê mướn nhân công lao động và chi trả lao động Trong khâu thu hoạch, chế biến sau thu hoạch và bán sản phẩm phụ nữ là những người có quyết định chính Phụ nữ còn tham gia vào việc mua bán các sản phẩm từ lúa gạo trên thị trường trong nước và xuất khẩu, tạo nguồn thu nhập ổn định cuộc sống, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong nước (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2013)

2.2 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.2.1 Tỉnh Kiên Giang

2.2.1.1 Vị trí địa lý

Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam, với diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.269 km2 Phía Nam giáp với tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu, phía Tây giáp với Vịnh Thái Lan, phía Đông lần lượt giáp với các tỉnh là An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang ngoài ra Kiên Giang còn

có hơn 100 đảo lớn nhỏ ngoài biển Kiên Giang có vị trí chiến lượt quan trọng, nằm trong vùng vịnh Thái Lan, gần với các nước thuộc Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapo, chính vì vậy Kiên Giang có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực, đồng thời đóng vai trò cầu nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ với bên ngoài (Hình 2.1) (http://www.kiengiangvn.vn)

Trang 31

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang

(Nguồn: cổng thông tin điện tử chính phủ, 2013) 2.2.1.2 Điều kiện tự nhiên

a Khí hậu và thủy văn

Do nằm ở vĩ độ thấp và giáp biển nên Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.262,0 mm Mưa bão tập trung vào từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa cao nhất là vào tháng 6 khoảng 445,5 mm Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27,70

C tháng lạnh nhất là tháng 12 với nhiệt độ là 24,40C, tháng nóng nhất là tháng 5 thiệt độ là 29,70C Điều kiện khí hậu thời tiết của Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở phía Bắc không có được: ít thiên tai, không rét, không có bão đỗ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi phát triển (Niên giám thống kê Kiên Giang, 2014)

Trang 32

ngại nhiều tới sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh (http://www.kiengiangvn.vn)

c Tài nguyên thiên nhiên

Kiên Giang có 626.904 ha đất tự nhiên, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 402.644 ha chiếm 64,2% diện tích tự nhiên; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 122.774 ha chiếm 19,5%, diện tích đất chuyên dùng là 35.412 ha chiếm 5,6%; diện tích đất ở là 10.090 ha chiếm 1,8%; diện tích đất chưa sử dụng là 55.984 ha chiếm 8,9% ( Hình 2.2)

Hình 2.2 Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh Kiên Giang năm 2012

(Nguồn: Niên giám thống kê Kiên Giang, 2013) 2.2.1.3 Tình hình kinh tế xã hội

a Kinh tế

Năm 2012 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,8%, mục tiêu đề ra là 12,5% xếp hạng thứ 3 trong các tỉnh ĐBSCL GDP bình quân đầu người năm 2012 là 2026 USD/người/năm, sản lượng lương thực tỉnh đạt 4,2 triệu tấn cao nhất từ trước đến nay

và là năm thứ 2 đứng đầu cả nước về sản lượng lương thực Gía trị sản xuất công nghiệp năm 2012 ước đạt 16.055,3 tỷ đồng, đạt 99,1 % kế hoạch, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2011 Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ ước 41.710 tỷ đồng, tăng 18% cùng kỳ Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 620 triệu USD Tổng thu ngân sách nhà nước 4.406 tỷ đồng, đạt 97,9% (Niên giám thống kê Kiên Giang, 2013)

b Xã hội

Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Kiên Giang đạt gần 1.726.200 người, mật

độ dân số đạt 272 người/km2 Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 471.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.255.000 người Dân số nam đạt 867.900 người,

Trang 33

trong khi đó nữ đạt 858.300 người Tỷ suất sinh thô là 1,8%, tăng dân số tự nhiên là

1,2%, tỷ lệ tăng dân số theo địa phương 0,8% (Niên giám thống kê Kiên Giang, 2013)

2.2.2 Tổng quan xã Thạnh Đông A và HTX Kênh 7B

2.2.2.1 Xã Thạnh Đông A

Xã Thạnh Đông A nằm trong 5 xã thuộc vùng sản xuất 2 của huyện Tân Hiệp bao gồm 7 ấp Địa hình ở xã khá bằng phẳng được phân chia theo ba tuyến sông và kênh dẫn nước chính (sông Cái Sắn, kênh Đoàn Dong và sông Xáng Trưn Bầu) và 2 tuyến kênh dọc (kênh 7, kênh 8) đất đai chủ yếu của xã là đất phù sa Xã có tổng diện tích đất là 4.665,6 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 4.304,6 ha, chiếm gần hết đất sản xuất còn lại đưa vào việc sản xuất nuôi trồng thủy sản (hình 2.3) (Nguyễn Hồng Tín và ctv, 2012)

b Đặc điểm khí hậu thủy văn

Khí hậu kênh 7B chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng

11, mùa nắng bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình cả năm 26,50C-27,30C Điều kiện thủy văn chịu ảnh hưởng của thủy văn sông Hậu kết hợp với thủy triều biển Tây tạo mức thủy triều giao động 0,5-0,9 m

Trang 34

Bên cạnh đó biến động mực nước thủy văn chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều của Vịnh Thái Lan và chế độ thủy văn sông Hậu nên lượng nước trong các kênh, gạch biến thiên theo 3 giai đoạn: từ tháng 1 đến tháng 6 mực nước thấp, từ tháng 6 đến tháng 8 cao dần, từ tháng 8 đến tháng 11 kết hợp giữa mực nước sông Hậu và nước mưa nên mức nước rất cao (Nguyễn Hồng Tín và ctv, 2012)

Trang 35

Chương ba PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

− Tình hình tổng quan của tỉnh Kiên Giang qua niên giám thống kê của tỉnh

− Tham khảo các luận văn tốt nghiệp đại học, các sách báo và các nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài

− Tham khảo trên các website có liên quan đến các hoạt động sản xuất lúa có liên quan đến vai trò của phụ nữ

3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Nghiên cứu này thực hiện phương pháp chủ yếu là điều tra nông hộ

Điều tra nông hộ: Sử dụng bản câu hỏi soạn sẵn tiến hành thu thập thông tin để tìm hiểu những khó khăn, trách nhiệm, vị trí, vai trò và năng lực của phụ nữ trong sản xuât lúa theo chương trình 1 phải 5 giảm Đề tài đã chia địa bàn nghiên cứu ra thành 2 vùng đã thu mẫu, đó là vùng trong dự án và ngoài dự án Tổng số mẫu thu được trong

và ngoài dự án là 70 mẫu (Trong dự án 35 mẫu, ngoài dự án 35 mẫu), điều tra theo phỏng vấn ngẫu nhiên

3.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

Số liệu thu thập được từ các cuộc điều tra được kiểm tra mã hóa và nhập vào hệ thống cơ sở dữ liệu trên máy tính sử dụng phần mềm Excel và SPSS 16.0 để lưu trữ dữ liệu và phân tích số liệu Được sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê mô tả: Được sử dụng mô tả tổng quát các đặc điểm nông hộ, mức tham gia và quyết định của nữ giới trong các hoạt động sản xuất lúa, hoạt động phi nông nghiệp, hoạt động gia đình và hoạt động xã hội và thực trạng phụ nữ trong các hoạt động sản xuất lúa, tham gia quan hệ xã hội bao gồm: Giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, tần số xuất hiện các đối tượng nghiên cứu,…

Phương pháp kiểm định T-Test

Phương pháp kiểm định T-Test được sử dụng để kiểm định sự sai khác trung bình, so sánh mức độ trung bình tham gia và quyết định trước và sau dự án, so sánh sự sai khác giữa hai nhóm trong và ngoài dự án, trước và sau dự án

Trang 36

Chương bốn KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 ĐẶC TÍNH NÔNG HỘ

4.1.1 Nhân khẩu và lao động

Từ bảng 4.1 thể hiện được rằng với 70 nông hộ được điều tra về vai trò của phụ

nữ trong canh tác lúa “1 phải 5 giảm” thì số nhân khẩu trong DA là 175 nhân khẩu, ngoài DA là 170 nhân khẩu Nhân khẩu nữ trong DA chiếm 44% trong tổng số nhân khẩu, còn ngoài DA nhân khẩu nữ chiếm 45,3% trong tổng số nhân khẩu, số nhân khẩu nữ trong và ngoài DA chênh lệch rất thấp Lao động nữ trong DA chiếm 44,6% trong tổng lao động, còn ngoài DA lao động nữ chiếm 48,4% Nhìn chung thì tỷ lệ nhân khẩu và lao động nữ trong và ngoài DA khác nhau không nhiều

Bảng 4.1 Nhân khẩu và lao động của nông hộ trong và ngoài dự án

Nguồn: Điều tra năm 2014 (n=70)

Phần lớn họ tham gia lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp, lao động nông nghiệp trong DA nữ chiếm 45,5%, ngoài DA lao động nông nghiệp nữ chiếm 47,5% Còn lao động phi nông nghiệp trong DA nữ chiếm tỷ lệ 26,3% trong tổng lao động phi nông nghiệp, ngoài DA tỷ lệ lao động phi nông nghiệp nữ chiếm 56% Lao động nông nghiệp cũng như lao động trong sản xuất lúa thì tỷ lệ lao động nữ trong và ngoài DA trên lệch rất thấp (Bảng 4.2)

Bảng 4.2 Lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp của nông hộ

Lao động nông nghiệp Lao động phi nông nghiệp

Nguồn: Điều tra năm 2014 (n=70)

Từ số liệu phân tích ở trên, ta thấy được rằng lao động nữ đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động tạo ra nguồn tài chính cho nông hộ như phi nông nghiệp hay hoạt động nông nghiệp, trong đó có hoạt động sản xuất lúa

Trang 37

4.1.2 Tuổi và kinh nghiệm sản xuất lúa của nông hộ

Tuổi của chủ hộ thuộc nhóm từ 41 đến 60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 80% cả ở trong và ngoài DA Ở khu vực trong DA, nhóm tuổi 30 đến 40 chiếm ít nhất với 8,6%

và nhóm tuổi từ 61 đến 80 chiếm 11,4%, ngược lại ngoài DA tuổi từ 61 đến 80 là thấp nhất với 8,6% và từ 30 đến 40 tuổi chiếm 11,4% (Bảng 4.3)

Bảng 4.3 Tuổi chủ hộ của nông hộ trong và ngoài dự án

Nguồn: Điều tra năm 2014 (n=70)

Nhìn chung, độ tuổi của chủ hộ tham gia phỏng vấn có sự chênh lệch giữa các nhóm tuổi với nhau nhưng không có sự khác biệt nhiều giữa hai khu vực trong địa bàn nghiên cứu

Bảng 4.4 Kinh nghiệm sản xuất lúa của nông hộ trong và ngoài dự án

Nguồn: Điều tra năm 2014 (n=70)

Kinh nghiệm sản xuất lúa của người dân rất cao đa phần là họ có truyền thống sản xuất lúa lâu năm, nên kinh nghiệm tích lũy được rất nhiều Các hộ điều có kinh nghiệm sản xuất lúa từ 10 năm trở lên, trong DA kinh nghiệm sản xuất 10 đến 20 năm chiếm 45,7%, ngoài DA tỷ lệ này là 42,8%, kinh nghiệm 21 đến 30 năm trong DA là 25,7%, ngoài DA 28,6%, kinh nghiệm 31 đến 40 năm trong và ngoài DA tỷ lệ là 28,7% và 28,6% Kinh nghiệm sản xuất lúa của các chủ hộ trong và ngoài DA tương đương nhau, sự khác biệt rất thấp (Bảng 4.4)

Trang 38

Bảng 4.5 Tuổi và kinh nghiệm trung bình chung của nông hộ trong và ngoài dự án

Nguồn: Điều tra năm 2014 (n=70)

Bảng 4.5 cho biết tuổi trung bình trong DA là 51 tuổi, ngoài DA là 48 tuổi, còn kinh nghiệm sản xuất lúa trung bình trong DA là 25 năm, ngoài DA là 23 năm Nhìn chung thì tuổi và kinh nghiệm sản xuất lúa của nông hộ gần như giống nhau và không khác biệt

Nguồn: Điều tra năm 2014 (n=70)

Trình độ học vấn của chủ hộ được điều tra nằm trong DA và ngoài DA điều có tỷ

lệ học cấp II là cao nhất, trong DA tỷ lệ học cấp II là 42,8%, ngoài DA tỷ lệ học cấp II

là 48,6% Tỷ lệ học cấp III trong DA và ngoài DA bằng nhau chiếm 17,1% Tỷ lệ mù chữ trong DA là 5,7%, ngoài DA tỷ lệ mù chữ thấp hơn chỉ chiếm 2,9%, còn lại là tỷ

lệ học cấp I (Bảng 4.6) Trình độ học vấn trong và ngoài DA tương đối giống nhau, điều này cho thấy khả năng tiếp thu cũng như ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật

là như nhau

4.1.4 Tham gia huấn luyện của nông hộ

Góp phần thành công vào việc sản xuất lúa thì không thể không kể đến các kiến thức, kỹ thuật của người dân có được nhờ tham gia vào các lớp huấn luyện

Trang 39

Hình 4.1 Mức độ tham gia vào các lớp tập huấn của người dân

Nguồn: Điều tra năm 2014 (n=70)

Trong DA phần lớn người dân tham gia vào các lớp huấn luyện kỹ thuật 1P5G, 3G3T chiếm tỷ lệ rất cao 72,4%, người dân ngoài DA tham gia các lớp huấn luyện kỹ thuật 1P5G, 3G3T là 48,7%, thấp hơn trong DA tới 23,7% Kỹ thuật ngập khô xen kẽ được người dân trong DA tham gia với tỷ lệ là 15,5% cao hơn gấp 3 lần so với người dân ngoài DA (Hình 4.1) Người dân trong DA tham gia tập chung vào các kỹ thuật 1P5G, ngập khô xen kẽ, còn người dân ngoài DA tham gia chưa nhiều vào các kỹ thuật này

Lực lượng lao động nữ giới cũng như sự đóng góp của họ vào sản xuất lúa “1 phải 5 giảm” là không thể thiếu Nhận định này sẽ được làm rõ hơn qua sự tham gia và quyết định của nữ giới trong sản xuất lúa, các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác, cũng như hoạt động phi nông nghiệp, hoạt động gia đình và xã hội

4.2 VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CANH TÁC LÚA 1P5G

4.2.1 Các hoạt động sản xuất lúa

4.2.1.1 So sánh giữa trong và ngoài dự án

Sản xuất lúa là ngành sản xuất chính của người dân trong và ngoài DA, phụ nữ trong và ngoài DA có vai trò khác nhau trong các hoạt động sản xuất lúa, mức độ tham gia (TG) và quyết định (QĐ) trung bình các hoạt động sản xuất lúa của phụ nữ trong

và ngoài DA năm 2014, thì không khác nhau ở các hoạt động TG thu hoạch, TG quản

lý rơm rạ, TG bán lúa, còn tất cả các hoạt động khác thì khác nhau và có ý nghĩa (Bảng 4.7)

Ngày đăng: 13/11/2015, 11:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang (Trang 31)
Bảng 4.4 Kinh nghiệm sản xuất lúa của nông hộ trong và ngoài dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.4 Kinh nghiệm sản xuất lúa của nông hộ trong và ngoài dự án (Trang 37)
Hình 4.1 Mức độ tham gia vào các lớp tập huấn của người dân - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Hình 4.1 Mức độ tham gia vào các lớp tập huấn của người dân (Trang 39)
Bảng 4.8 Hoạt động sản xuất lúa trước và sau dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.8 Hoạt động sản xuất lúa trước và sau dự án (Trang 41)
Bảng 4.9 Các hoạt động nông nghiệp khác trong và ngoài dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.9 Các hoạt động nông nghiệp khác trong và ngoài dự án (Trang 42)
Bảng 4.11 Các hoạt động phi nông nghiệp trong và ngoài dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.11 Các hoạt động phi nông nghiệp trong và ngoài dự án (Trang 43)
Bảng 4.13 Các hoạt động gia đình trong và ngoài dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.13 Các hoạt động gia đình trong và ngoài dự án (Trang 45)
Hình 4.2 Các hoạt động sản xuất khác ngoài lúa - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Hình 4.2 Các hoạt động sản xuất khác ngoài lúa (Trang 49)
Hình 4.3 Mức độ tham gia tập huấn từ năm 2010 đến năm 2014 của người dân - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Hình 4.3 Mức độ tham gia tập huấn từ năm 2010 đến năm 2014 của người dân (Trang 50)
Bảng 4.21 Nhận thức về 1P5G của nông dân trong và ngoài dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.21 Nhận thức về 1P5G của nông dân trong và ngoài dự án (Trang 53)
Bảng 4.24 Cách bón phân của nông dân trong và ngoài dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.24 Cách bón phân của nông dân trong và ngoài dự án (Trang 56)
Bảng 4.25 Cách sử dụng thuốc BVTV của nông dân trong và ngoài dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.25 Cách sử dụng thuốc BVTV của nông dân trong và ngoài dự án (Trang 57)
Bảng 4.26 Cách bảo quản thuốc BVTV của người dân trong và ngoài dự án - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 4.26 Cách bảo quản thuốc BVTV của người dân trong và ngoài dự án (Trang 58)
Bảng 1: Kết quả phân tích T-test tham gia và quyết định của nữ trong sản xuất lúa - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
Bảng 1 Kết quả phân tích T-test tham gia và quyết định của nữ trong sản xuất lúa (Trang 65)
Bảng Codes - vai trò phụ nữ trong canh tác lúa áp dụng “1 phải 5 giảm” ở kiên giang
ng Codes (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w