TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANHNGUYỄN THỊ YẾN NHI NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG HỐI LỘ CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ YẾN NHI
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG HỐI LỘ CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Kinh doanh quốc tế
Mã số ngành: 52340120
11-2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ YẾN NHI
MSSV: 4114860
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG HỐI LỘ CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
Mã số ngành: 52340120
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS VÕ VĂN DỨT
11-2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả thầy, cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh tạo điều kiện học tập, truyền đạt cho em nhiều kiến thức bổ ích trong những năm học vừa qua, làm nền tảng cho em thực hiện luận văn tốt nghiệp Đặc biệt, em cảm ơn thầy Võ Văn Dứt đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Người thực hiện Nguyễn Thị Yến Nhi
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Không gian 3
1.3.2 Thời gian 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Tham nhũng, những loại tham nhũng 4
2.1.2 Hối lộ, những loại hối lộ 6
2.1.3 Lý thuyết và giả thuyết 7
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 13
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 14
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THAM NHŨNG, HỐI LỘ Ở VIỆT NAM 21 3.1 Nguyên nhân 21
3.1.1 Nguyên nhân khách quan 21
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan 23
3.2 Thực trạng hối lộ, tham nhũng ở Việt Nam 23
3.3 Tác hại của hối lộ, tham nhũng 27
3.3.1 Về kinh tế 28
3.3.2 Về chính trị 28
3.3.3 Về xã hội 29
Trang 6CHƯƠNG 4: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG HỐI LỘ
CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN 30
4.1 Mô tả thống kê và ma trận tương quan 30
4.2 Thảo luận kết quả 34
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÒNG CHỐNG HỐI LỘ, THAM NHŨNG 41
5.1 Đối với Nhà nước 41
5.2 Đối với doanh nghiệp 42
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
6.1 Kết luận 45
6.2 Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 48
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Danh sách các biến và kỳ vọng tác động lên khả năng hối lộ của công ty cổ phần 18 Bảng 3.1 Xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam 2007-
2013 24 Bảng 4.1 Mô tả thống kê và ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình (n = 316) 32 Bảng 4.2 Mối quan hệ giữa hối lộ và sự tách biệt quyền sở hữu- quản lý 33 Bảng 4.3 Mối quan hệ giữa hối lộ và tỷ lệ cổ phần của cổ đông lớn nhất 34 Bảng 4.4 Mối quan hệ giữa hối lộ và giới tính nhà quản lý của công ty 34 Bảng 4.5 Các nhân tố tác động đến khả năng hối lộ của công ty cổ phần 35 Bảng 4.6 Các nhân tố tác động đến số tiền hối lộ của công ty cổ phần 38
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 13
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hiện nay đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Nhịp sống hiện đại và thời buổi kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong tất cả các lĩnh vực kinh tế- xã hội, khi con người phải tranh giành lợi ích
và quyền lực với nhau để giúp mình có thể tồn tại và phát triển Trong đó nạn tham nhũng, hối lộ là một hiện tượng xã hội, được Đảng ta xác định là “quốc nạn” và đang là tâm điểm của công luận trong thời gian qua
Hối lộ, tham nhũng diễn ra ở các hầu hết các lĩnh vực vực từ y tế, giáo dục, kinh tế, chính trị,…Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế, hiện tượng tham nhũng, hối lộ có phần nghiêm trọng hơn khi tiền bạc, vật chất là yếu tố được đặt lên hàng đầu trong tất cả công việc Tham nhũng, hối lộ trong kinh tế làm chi phí giao dịch tăng cao, tạo ra môi trường kinh doanh thiếu minh bạch, công bằng, ảnh hưởng đến tính linh hoạt, hiệu quả trong kinh doanh
Hiện nay, công tác phòng, chống hối lộ tham nhũng đang được thực hiện nghiêm ngặt ở nhiều quốc gia trên thế giới nhằm đẩy lùi tệ nạn này và Việt Nam cũng vậy Về mặt học thuật, có khá nhiều nghiên cứu về hối lộ, tham nhũng đã được thực hiện trong thời gian qua với mục tiêu đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp thỏa đáng góp phần phòng, chống tham nhũng Trong
đó phải kể đến là nghiên cứu “Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” (Phạm Xuân Sơn và Phạm Thế Lực, 2010) Nghiên cứu này đã chỉ ra đặc điểm, nguyên nhân của tham nhũng, hối
lộ ở Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu còn đánh giá được thực trạng và những vấn đề còn tồn tại trong công tác phòng, chống tham nhũng của nước ta và đề
ra phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng Một nghiên cứu khác có nội dung tương tự là “Phòng chống tham nhũng- nhiệm vụ quan trọng trong nền công vụ Việt Nam hiện nay” (Phạm Văn Trường và Nguyễn Thị Tường Duy, 2013) Nghiên cứu này cũng làm rõ
Trang 10quy mô, nguyên nhân, những biến thái của hiện tượng tham nhũng ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tham nhũng ở khu vực công Ngoài ra, nghiên cứu đã lý giải vì sao phải đấu tranh phòng chống tham nhũng
và đưa ra những giải pháp đột phá phòng chống, tham nhũng lúc bấy giờ Một nghiên cứu cũng không kém phần thiết thực là “Tham nhũng định nghĩa và phân loại” (Phan Anh Tú, 2013) với mục tiêu tóm tắt và thảo luận xung quanh các định nghĩa về tham nhũng và các loại tham nhũng Nghiên cứu này giúp người đọc hiểu rõ hơn về tham nhũng, phân biệt được loại hình tham nhũng, hối lộ Các nghiên cứu trên đều phân tích về thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng, chống tham nhũng hay làm rõ định nghĩa về tham nhũng, hầu như
ít quan tâm đến các chủ thể trong hoạt động tham nhũng, hối lộ
Như đã nói, kinh tế là một lĩnh vực thuận lợi cho tham nhũng, hối lộ hoạt động Tham nhũng trong kinh tế liên quan đến hai chủ thể là cán bộ, công chức Nhà nước và doanh nghiệp Quy mô tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế rất lớn, nhưng chưa được xác định chính xác và đầy đủ Sự câu kết giữa doanh nghiệp và một số quan chức bằng các nhóm lợi ích thân hữu đã tạo ra nhiều khó khăn trong việc phát hiện, đánh giá chính xác về mức độ tham nhũng của cán bộ và hối lộ của doanh nghiệp trong kinh doanh Bên cạnh đó, thực tế hiện nay có nhiều doanh nghiệp chủ động đưa hối lộ trước khi cán bộ Nhà nước yêu cầu để đạt được công việc như mong muốn Vì vậy, cần có những nghiên cứu về tham nhũng, hối lộ dưới góc nhìn từ phía doanh nghiệp Nghiên cứu
“Doanh nghiệp, bối cảnh, hối lộ bằng chứng các doanh nghiệp tư nhân ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam” (Phan Anh Tú, 2012) đã cho thấy ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp và ngữ cảnh đến hoạt động hối lộ của doanh nghiệp Nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa tác lực bên trong và tác lực bên ngoài đến xác suất hối lộ của doanh nghiệp, mẫu nghiên cứu bao gồm 54% doanh nghiệp tư nhân, 11% công ty trách nhiệm hữu hạn, 2% công ty cổ phần Đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, với xu hướng cổ phần hóa của các doanh nghiệp hiên nay, số lượng các công ty cổ phần ngày một tăng Với áp lực cạnh tranh gay gắt và phải kinh doanh hiệu quả để mang lại lợi nhuận, tăng giá trị công ty và thu hút các nhà
Trang 11đầu tư mua cổ phần của mình, công ty cổ phần cũng không thể tránh khỏi
“vòng xoáy” hối lộ với mục đích chiếm ưu thế trong cạnh tranh Do đó, cần có nghiên cứu làm rõ các yếu tố tác động đến khả năng hối lộ của các công ty cổ
phần ở Việt Nam Nghiên cứu “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng hối lộ của các công ty cổ phần ở Việt Nam” sẽ cho biết các nhân tố
nào có tác động đến khả năng hối lộ của các công ty cổ phần Dựa vào kết quả nghiên cứu này có thể đề ra các giải pháp góp làm giảm tình trạng hối lộ của các công ty cổ phần
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu 3: Đề xuất một số giải pháp để giảm tình trạng hối lộ của các công ty cổ phần
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian: toàn lãnh thổ Việt Nam
1.3.2 Thời gian: nghiên cứu sử dụng số liệu năm 2005
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu: các công ty cổ phần
Trang 12CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Tham nhũng, những loại tham nhũng
Tham nhũng là gì? Có thể có nhiều câu trả lời cho câu hỏi này Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi
Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định (tạiLuật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ
lợi.Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các
cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Còn một định nghĩa nữa về tham nhũng mà Ngân hàng Thế giới thường
sử dụng Theo đó, tham nhũng là “lạm dụng công quyền để tư lợi” Định nghĩa này cho rằng tham nhũng xuất phát từ công quyền và lạm dụng công quyền, tham nhũng gắn liền với Nhà nước và các hoạt động của Nhà nước, từ việc Nhà nước can thiệp vào thị trường và sự tồn tại của khu vực công Nói cách khác, khái niệm này loại trừ khả năng tham nhũng xảy ra trong khu vực tư nhân, và chỉ tập trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong khu vực công
Do đó, có thể nói nếu không có Nhà nước thì không có tham nhũng, nhưng điều này là không thể
Từ những định nghĩa trên cho thấy chủ thể tham nhũng phải là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước Họ sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như một phương tiện để mang lại lợi ích cho bản thân, cho gia đình hoặc cho người khác Mục đích của hành vi tham nhũng là nhằm vụ lợi Vụ lợi
ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng Hành vi mang đầy đủ những đặc điểm này thì mới được gọi là tham nhũng
Trang 13Tham nhũng có thể được phân thành hai loại là tham nhũng hành chính
và tham nhũng chính trị (Phan Anh Tú, 2013) Tham nhũng hành chính (quy
mô nhỏ) chỉ những khoản đút lót của các doanh nghiệp liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ công, chẳng hạn như xin cấp giấy phép kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu, thủ tục đất đai, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ,…Nói cách khác, tham nhũng hành chính nhằm để đạt được hay đẩy nhanh việc thực hiện một quyền cụ thể nào đó mà công dân hay pháp nhân đó có quyền được hưởng Cán bộ, công chức trong trường hợp này nhận tiền (quà cáp) đút lót thì mới thực hiện hoặc đẩy nhanh tiến độ công việc mà đáng lẽ ra họ phải làm
Tham nhũng hành chính thường phổ biến trong thực tế, mức độ thường xuyên
của nólà một bằng chứng rõ ràng chứng tỏ năng lực và mức độ hiệu quả của
bộ máy hành chính của Nhà nước
Một loại khác, tham nhũng chính trị có quy mô và sức ảnh hưởng lớn hơn, liên quan tới những quan chức cấp cao trong cơ quan Nhà nước Tham nhũng chính trị làm “bẻ cong” pháp luật hay làm việc thực thi pháp luật mang nặng tính thiên vị Trong tham nhũng chính trị, doanh nghiệp hướng đến mục
tiêu gây ảnh hưởng luật lệ, chính sách, quyết định của chính phủ, nhân viên Nhà nước nhằm mang lại lợi ích cho mình Chẳng hạn như việc các doanh nghiệp hối lộ cho các quan chức cấp cao để gây ảnh hưởng đến việc ban hành các chính sách có lợi cho hoạt động của một phận các doanh nghiệp này Hay cũng có thể là việc tham nhũng của nhân viên Nhà nước tạo ra sự thiên vị chọn nhà thầu trong các dự án đấu thầu sử dụng ngân sách Nhà nước Đôi khi giao dịch trong những vụ tham nhũng này vượt khỏi nội địa, liên quan đến yếu
tố nước ngoài với khối lượng tiền đút lót khổng lồ, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến các chính sách quốc gia Trong hai loại tham nhũng này, tham nhũng hành chính được cho là phổ biến hơn Nó được xem như một thủ tục bất thành văn
trong kinh doanh, giúp các doanh nghiệp có được một số thuận lợi nhất định
khi sử dụng dịch vụ công Ngược lại, tham nhũng chính trị ít phổ biến nhưng
hậu quả của nó lại rất nghiêm trọng
Trang 142.1.2 Hối lộ, những loại hối lộ
Hối lộ (đút lót) thường được đề cập đồng thời với tham nhũng Có nhiều định nghĩa khác nhau vềhối lộ Hốilộ, theo Từ điển Tiếng Việt, được hiểu là:“Lén lút đưa tiền của để nhờ kẻ có quyền làm điều trái với pháp luật nhưng
có lợi cho mình” Một định nghĩa khác, hối lộ là hành động biếu tặng, nài xin một sự ủng hộ, hứa hẹn, hay quà cáp có liên quan đến lợi ích bằng tiền bất hợp pháp hay những lợi ích khác đến các nhân viên Nhà nước nhằm mục đích ảnh hưởng đến hành động của nhân viên Nhà nước đi ngược lại với chức trách của
họ (Phan Anh Tú, 2013)
Tóm lại, với các quan điểm tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản đều thống nhất chung vềhốilộvới nội dung khái quát như sau: hối lộ là việc sử dụng một lợi ích nào đó tác động vào hành vi của người có chức vụ, quyền hạn để hành vi của người đó diễn ra theo cách người đưa hối lộ mong muốn Quan hệ hối lộ liên quan đến hai chủ thể chính là người đưa hối lộ và người nhận hối lộ Theo đó, nhất thiết phải có sự hiện diện của hai chủ thể này
mới phát sinh quan hệ hối lộ Ngoài ra, trong quan hệ hối lộ cũng có thể có
chủ thể khác như người trung gian (người làm môi giới hối lộ), bởi trong nhiều trường hợp nhờ có chủ thể này thì người hối lộ và người được hối lộ mới liên hệ với nhau và thực hiện hành vi hối lộ Trong hai chủ thể chính, người được hối lộ thuộc khu vực công và người đưa hối lộ lại thường thuộc khu vực tư Người đưa hối lộ thường là doanh nghiệp nhằm mục tiêu gây ảnh hưởng đến quyết định của cán bộ, công chức Nhà nước, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Chẳng hạn như, các doanh nghiệp có thể hối lộ cán bộ, công chức Nhà nước để được giảm thuế hay những khoản phí khác, xin giấy phép, tránh (tiềm năng) bị nhũng nhiễu hay phiền hà trong kinh doanh, cũng có thể nhằm làm giảm nhẹ kết quả của việc xử lý vi phạm pháp luật đối với doanh nghiệp
Căn cứ vào mục đích hối lộ (đút lót), có hai loại đút lót là đút lót cần thiết và đút lót thực sự (Phan Anh Tú, 2013) Theo đó, có thể hiểu đút lót cần thiết như là chi phí bôi trơn trong kinh doanh, mục tiêu của nó nhằm đạt được
những thuận lợi nhất định khi sử dụng các dịch vụ công Ví dụ như đút lót để
Trang 15giảm thời gian chờ đợi trong việc hoàn thành các thủ tục hành chính phức tạp Hành vi này không trái với pháp luật mà chỉ muốn có những thuận lợi hơn so
với thường lệ mà thôi Trái lại, đút lót thực sự nhằm mục đích gây ảnh hưởng
đến hành vi của cán bộ, công chức Nhà nước, với mong muốn các cán bộ này làm trái lại các quy định của Nhà nước Có thể kể đến là hành vi doanh nghiệp hối lộ cho cán bộ để miễn, giảm thuế phải nộp hay giảm nhẹ quyết định xử phạt so với thực tế theo pháp luật qui định
2.1.3 Lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu “Doanh nghiệp, bối cảnh, hối lộ bằng chứng các doanh nghiệp tư nhân ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam” (Phan Anh Tú, 2012)
đã từng phân tích tác động của đặc điểm doanh nghiệp và ngữ cảnh đến hoạt động hối lộ của các doanh nghiệp Trong nghiên cứu này, đối tượng của tôi là các công ty cổ phần Vì vậy, các nhân tố được phân tích liên quan đến những đặc trưng cơ bản của một công ty cổ phần Tôi xem xét tác động của các nhân
tố bao gồm: sự tách biệt quyền sở hữu- quản lý trong công ty, tỷ lệ cổ phần của cổ đông lớn nhất và giới tính nhà quản lý của công ty đến khả năng hối lộ của công ty Tôi mong đợi cả ba yếu tố này điều có ảnh hưởng đến khả năng hối lộ của công ty cổ phần
2.1.3.1 Sự tách biệt quyền sở hữu- quản lý
Công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân- một thực thể pháp lý độc lập, tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người- người quản lý công ty Cũng vì thế, công ty cổ phần luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Do công ty cổ phần thuộc sở hữu của nhiều cá nhân hay tổ chức nên việc chọn ra một người điều hành thường dẫn đến kết quả xung đột lợi ích vì một cổ đông khó có thể hành động vì lợi ích chung của tất cả các cổ đông khác Vấn đề này được đề cập đầu tiên trong tác phẩm “Của cải của các Dân tộc”, nhà kinh tế học nổi tiếng Adam Smith cho rằng với đặc tính của công việc quản lý, các cổ đông khác không nên kỳ vọng và tin tưởng rằng người quản lý công ty sẽ hành động như họ mong muốn, bởi lẽ người quản lý công ty luôn có xu hướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí
Trang 16của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho công ty Adam Smith đã có dự đoán về xu hướng phát triển của các công ty hiện đại với sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty Thật vậy, sự phát triển của thị trường chứng khoán và sự tăng lên nhanh chóng về số lượng các nhà đầu tư, vấn đề sở hữu vốn trong các công ty cổ phần ngày càng bị phân tán và cổ phần được sở hữu bởi nhiều chủ thể đa dạng hơn Vì vậy, để đảm bảo lợi ích cho các cổ đông đã dẫn đến sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty Đây là một hình thức mới về tài sản, mà tài sản đó được kiểm soát, quản lý bởi người quản lý công ty (người làm thuê) hơn là các
cổ đông (những chủ sở hữu thật sự của công ty)
Sự phát triển của các công ty cổ phần và xu hướng tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý xuất hiện sớm nhất ở các nước phương Tây và tạo ra tiền
đề cho việc xây dựng các lý thuyết giải thích về mối quan hệ giữa các cổ đông
và người quản lý công ty được thuê Đáng chú ý nhất là học thuyết đại diện (Agency theory) Theo học thuyết này, quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện hay quan hệ ủy thác Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông bổ nhiệm, chỉ định người khác làm người quản lý công ty, để thực hiện việc quản
lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty Lý thuyết đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở cho rằng người quản lý công ty sẽ không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho công ty, cho tất cả các cổ đông Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là có xu hướng tư lợi, cố gắng tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba chứ không phải cho công ty Lý thuyết đại diện cũng nhấn mạnh rằng, các cổ đông cần thường xuyên giám sát người quản lý công ty nhằm bảo vệ lợi ích của mình cũng như cần có cơ chế đãi ngộ thích hợp cho nhà quản lý tạo ra nguồn động lực cho họ làm việc hiệu quả hơn
Thật vậy, xu hướng tách biệt quyền sở hữu và quyền quản lý công ty rất phổ biến hiện nay trên thế giới và cả Việt Nam Sự tách biệt này có thể mang lại thuận lợi cho công ty khi thuê được nhà quản lý chuyên nghiệp không có
Trang 17mục đích tư lợi, đảm bảo thực hiện được các mục tiêu của doanh nghiệp Và việc chuyển nhượng quyền quản lý hoàn toàn không có ảnh hưởng đến quyền
sở hữu và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc tách biệt trên lại dẫn tới một vấn đề nổi bật là sự xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các chủ sở hữu Xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các chủ sở hữu (cổ đông) của doanh nghiệp được đề cập lần đầu tiên bởi Jensen và Meckling (1976) Như thuyết đại diện đã nói, do sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý hay tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, nên đã xuất hiện vấn đề khi một người hoạt động vì lợi ích của người khác, về bản chất người đại diện công ty luôn có xu hướng tư lợi cho họ hơn là hành động vì người chủ sở hữu hay các cổ đông Xung đột lợi ích thể hiện qua mục tiêu của các chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị thị trường của vốn cổ phần công ty, mang định hướng dài hạn Trái lại, các nhà quản lý lại hướng đến các mục tiêu trong ngắn hạn: tăng doanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận, nhằm tăng mức lương, thưởng hay uy tín của mình đối với doanh nghiệp
Bên cạnh đó, sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý còn tạo ra vấn
đề thông tin không cân xứng, người quản lý có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin liên quan đến mọi hoạt động công ty, nên luôn chọn cách giải quyết công việc sao cho có lợi cho mình Điều này thể hiện trong việc nhà quản lý
có xu hướng thích các dự án ngắn hạn hơn các dự án dài hạn, bởi các dự án ngắn hạn có thể mang lại kết quả nhanh chóng, giúp tăng uy tín của họ trước các cổ đông Không những thế, nhà quản lý còn có xu hướng chọn các dự án đầu tư ít rủi ro, lợi nhuận thấp, và một tỷ lệ nợ thấp để giảm xác suất bị phá sản Chính vì nhà quản lí e ngại trước những rủi ro, bao gồm cả hành vi bất hợp pháp như hối lộ nên có xu hướng né tránh điều này và tập trung xây dựng hình ảnh nhà quản lý chuyên nghiệp- quản lý công ty hoạt động ổn định Mặt khác, nhà quản lý chỉ là người được thuê để quản lý công ty và họ hoàn toàn không sở hữu cổ phần nên không có động cơ nào để tối đa hóa giá trị của công
ty mà chỉ tập trung hướng đến khoản lương, thưởng hay lợi ích cá nhân của mình mà thôi Trái lại, chủ doanh nghiệp- cổ đông khi nắm giữ vị trí quản lý
Trang 18vì muốn tối đa hóa lợi ích của công ty- tăng giá trị cổ phần nắm giữ nên họ có động cơ thực hiện hành vi hối lộ cao hơn với mục tiêu tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, mang lại lợi nhuận cao cho công ty, cũng như trực tiếp làm gia tăng lợi ích bản thân Từ những lý luận trên, tôi đặt ra giả thuyết rằng:
Giả thuyết 1: Công ty không có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà
quản lý có khuynh hướng thực hiện hối lộ nhiều hơn so với công ty có sự tách
biệt này
2.1.3.2 Tỷ lệ cổ phần
Một khía cạnh liên quan đến quyền sở hữu trong công ty cổ phần là sự tập trung hay phân tán quyền sở hữu cổ phần Jensen và Meckling (1976) từng chỉ ra những xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu- tức các cổ đông,
họ còn cho rằng phương thức hiệu quả giải quyết vấn đề này là nhà quản lý chính là cổ đông của công ty Nói cách khác, khi nhà quản lý sở hữu cổ phần của công ty, hay nhà quản lý chính là cổ đông thì lợi ích của các cổ đông cũng chính là lợi ích của nhà quản lý Vì vậy, nhà quản lý hành động theo lợi ích của mình cũng đồng thời mang lại lợi ích cho công ty, các cổ đông còn lại Đặc biệt, khi nhà quản lý sở hữu 75% vốn cổ phần trở lên, nhà quản lý này sẽ hành động như một người chủ thực thụ, lợi ích của nhà quản lý này gắn liền với lợi ích công ty và có quyền tự quyết định mọi việc của công ty, tránh những xung đột khi ra quyết định Do đó, chìa khóa giải quyết vấn đề đại diện
là tập trung quyền sở hữu cổ phần (Thomsen và Pedersen, 2000) Sự phân tán
cổ phần cho nhiều cổ đông khác nhau, việc quản lý công ty sẽ gặp những khó khăn nhất định Các cổ đông nhỏ bị hạn chế quyền ảnh hưởng đến quyết định của công ty, dẫn đến việc khó thống nhất trong việc đưa ra quyết định Trái lại, công ty có sự tập trung quyền sở hữu vào một chủ thể thì khác, chủ thể này có nhiều quyền lực chi phối quyết định của công ty và có khả năng yêu cầu các
cổ đông khác tuân theo lợi ích của mình Đồng thời, chủ thể này có động cơ giám sát, quản lý công ty chặt chẽ và hiệu quả hơn sao cho tối đa hóa giá trị công ty cũng như giá trị cổ phần họ nắm giữ Mặt khác, nếu có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý thì sự tập trung cổ phần vào tay một cổ đông cũng là động lực để cổ đông này giám sát chặt chẽ hành động của nhà
Trang 19quản lý vì bảo vệ lợi ích cho mình Nói chung, việc tập trung quyền sở hữu cổ phần vào một chủ thể có thể là một phương pháp để công ty được quản lý tốt hơn
Cổ đông sở hữu càng nhiều cổ phần thì nhận được càng nhiều lợi tức khi công ty kinh doanh sinh lời (Paramasiva và Subramanian, 2009) Như đã nói công ty thực hiện hành vi hối lộ luôn hướng đến mục tiêu mang lại lợi ích cho hoạt động kinh doanh của công ty Từ đó tạo ra lợi nhuận cho công ty mà người thụ hưởng không ai khác chính là các cổ đông Tuy nhiên, hành vi hối
lộ là bất hợp pháp và luôn đi kèm với chi phí hối lộ mà công ty phải gánh chịu Không những thế khi hành vi này bị phát hiện thì uy tín công ty chịu ảnh hưởng nghiêm trọng Giá trị công ty sẽ giảm khi thông tin công ty bất lợi lan truyền (Karpoff và Lott, 1993), điều này sẽ làm phương hại đến lợi ích của cổ đông, đặc biệt là cổ đông lớn nhất
Lợi ích và quyền lực của cổ đông lớn nhất luôn đi đôi với trách nhiệm Khi sở hữu càng nhiều cổ phần thì trách nhiệm đối với công ty càng cao và càng phải thận trọng khi ra bất cứ quyết định gì liên quan đến hoạt động công
ty Người sở hữu càng nhiều cổ phần thì họ có xu hướng muốn xây dựng danh tiếng công ty và đưa công ty phát triển theo hướng bền vững, né tránh bất ổn mang lại lợi ích lâu dài cho mình thay vì hành động vì món lợi lớn nhưng chỉ mang tính nhất thời Bên cạnh đó, chi phí hối lộ công ty phải chi cũng có ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông, ảnh hưởng đến quyết định có nên thực hiện hay không và hành vi bất hợp pháp này do người trực tiếp điều hành công ty quyết định nên phải chịu trách nhiệm pháp lý khi sự việc đổ vỡ Vì vậy, sự gia tăng tỉ lệ cổ phần mà cổ đông lớn nhất nắm giữ có thể làm tăng hay giảm khả năng hối lộ của công ty Điều này phụ thuộc vào lợi ích nhận được và chi phí mất đi của hành vi hối lộ Nếu lợi ích mang lại cao hơn chi phí hối lộ thì có thể
cổ đông lớn nhất sẽ ủng hộ hành vi này vì họ được hưởng lợi nhiều nhất Ngược lại, chi phí cao hơn lợi ích, họ không muốn thực hiên hối lộ vì chi phí, rủi ro phải gánh chịu Hành vi hối lộ mang theo nhiều rủi ro nên người điều hành luôn thận trọng khi đưa ra quyết định có nên thực hiện hành vi hối lộ hay không Sự cân nhắc giữa lợi ích đạt được và chi phí, rủi ro sẽ tác động đến
Trang 20quyết định của chủ sở hữu (cổ đông lớn nhất), công ty chỉ thực hiên hối lộ khi hành vi này mang lại lợi ích Do vậy, giả thuyết sau được đưa ra để kiểm chứng
Giả thuyết 2: Khả năng công ty thực hiện hành vi hối lộ tăng khi tỷ lệ cổ
phần mà cổ đông lớn nhất sở hữu tăng
2.1.3.3 Giới tính của chủ sở hữu- nhà quản lý
Ngoài những yếu tố trên, tôi còn cho rằng có mối quan hệ giữa giới tính nhà quản lý công ty và xác suất hối lộ của công ty Hối lộ là hành vi vi phạm pháp luật, người thực hiện nó cũng là tội phạm Để lý giải nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, giáo sư người Ý Cesare Beccaria đã đưa ra những khái niệm mới mang tính cách mạng trong lĩnh vực tâm lý học tội phạm Ông cho rằng con người là sinh vật có lý trí và hành vi của con người là kết quả của một quá trình suy luận logic Hành vi phạm tội đương nhiên cũng tuân theo quy luật trên Nối tiếp tư tưởng của Beccaria là triết gia người Anh Jeremy Bentham Theo ông, con người phạm tội bởi họ cho rằng lợi ích mà họ thu được từ hành động phạm tội lớn hơn những gì họ sẽ phải gánh chịu sau này
Lý giải này cũng phù hợp đối với hành vi hối lộ Chủ sở hữu công ty thực hiện hành vi hối lộ nhằm tìm kiếm ưu thế, cơ hội trong công việc với mục đích cuối cùng thu lợi cho mình
Có nhiều lý luận xung quanh vấn đề lý giải có hay không mối quan hệ giữa giới tính và hành vi phạm pháp Tâm lý học tội phạm cho rằng nam giới
có liên quan đến những hành vi phạm pháp nhiều hơn nữ giới, trong đó bao gồm hành vi hối lộ Nam giới được cho là có ít khả năng tự kiểm soát hơn so với nữ giới, vì vậy nam giới có xu hướng phạm tội nhiều hơn (Gottfredson và Hirschi, 1990) Thêm vào đó Tittle và Paternoster (2000) còn lý giải rằng, khả năng tự kiểm soát thấp của nam giới gây ra bởi sự giáo dục không hiệu quả đối với bé trai, điều này thường không xảy ra với bé gái Cụ thể là, sự khác nhau
về khả năng tự kiểm soát giữa nam và nữ là kết quả của sự khác biệt trong quá trình chăm sóc, giáo dục từ bé Trong nhiều xã hội, giới tính tạo ra sự khác biệt trong phương thức giáo dục trẻ em Cha mẹ có sự phân biệt trong cách đối
xử giữa con trai và con gái, họ cho con trai nhiều tự do hơn (Felson và
Trang 21Gottfredson, 1984) Thông thường, con gái gần gũi với bố, mẹ hơn vì chịu sự giám sát chặt chẽ của họ Điều này cho thấy nam giới được cho phép có nhiều
tự do phạm sai lầm và đối mặt với rủi ro Bởi nguyên nhân trên, đi đến kết luận rằng nam giới có nhiều động cơ vi phạm pháp luật hơn nữ (Tittle và Paternoster, 2000; Gottfredson và Hisschi, 1990) Giả thuyết sau được đưa ra
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu của Tổng cục thống kê Dữ liệu này là một phần của cuộc điều tra các doanh nghiệp khu vực Đông Á và Thái Bình Dương năm 2005 của Tổng cục thống kê Tuy bộ dữ liệu này không phải là bộ dữ liệu mới nhất, nhưng nó phù hợp trong nghiên này vì nó phân biệt rõ ràng các loại hình doanh nghiệp Vì vậy, bộ dữ liệu này tạo thuận lợi trong việc chọn các quan sát là công ty cổ phần, phục vụ cho việc phân tích dữ liệu
Để khảo sát các doanh nghiệp Việt Nam Tổng cục thống kê sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo nền công nghiệp, quy mô
H1 (+)
H3 (-)
Trang 22doanh nghiệp đối với các công ty trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ Các doanh nghiệp được khảo sát bao gồm tất cả các ngành sản xuất phi nông nghiệp theo phân loại nhóm của ISIC Revision 3.1: các ngành sản xuất (nhóm D), lĩnh vực xây dựng (nhóm F), khu vực dịch vụ (nhóm G và H), và lĩnh vực giao thông vận tải, lưu trữ, và truyền thông (nhóm I)
Khảo sát chỉ áp dụng với các doanh nghiệp có từ 5 lao động trở lên Quy mô doanh nghiệp trong khảo sát này được phân thành 3 nhóm: doanh nghiệp nhỏ có từ 5 đến 19 lao động, doanh nghiệp vừa có từ 20 đến 99 lao động và doanh nghiệp lớn có hơn 99 lao động (nhân viên làm việc toàn thời gian)
Việc khảo sát đảm bảo rằng số lượng doanh nghiệp được khảo sát phân
bố đều ở tất cả khu vực, quy mô và nền công nghiệp, không có sự tập trung vào một quy mô và nền công nghiệp nhất định Vì vậy, dữ liệu đại diện rất tốt cho tổng thể nghiên cứu
Đối tượng trong nghiên cứu của tôi chỉ là các công ty cổ phần Vì vậy, số liệu nghiên cứu được trích ra từ bộ dữ liệu này chỉ bao gồm các công ty cổ phần Việt Nam mà thôi Tổng số quan sát được trích ra từ bộ dữ liệu để sử dụng trong nghiên cứu này là 316 công ty cổ phần
Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng số liệu thứ cấp do Tổ chức Minh bạch quốc tế công bố về chỉ số tham nhũng của Việt Nam từ năm 2007 đến năm
2013
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Mục tiêu 1: Phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá thực trạng tham nhũng, hối lộ ở Việt Nam
- Mục tiêu 2: Sử dụng mô hình hồi quy Probit và Tobit để phân tích tác động của sự tách biệt quyền sở hữu- quản lý trong công ty, tỷ lệ cổ phần của
cổ đông lớn nhất và giới tính của nhà quản lý đến khả năng hối lộ của các
công ty cổ phần ở Việt Nam
2.2.2.1 Định nghĩa và đo lường các biến
Biến phụ thuộc là mức độ hối lộ của doanh nghiệp Trong nghiên cứu
của mình về việc hối lộ của các công ty, Ramdani và van Witteloostuijin
Trang 23(2012) đã đo lường hối lộ của các doanh nghiệp bằng câu hỏi: “Công việc kinh doanh thỉnh thoảng được yêu cầu cần có quà cáp hoặc phương thức chi trả thân mật cho cán bộ, công chức để có được những thuận lợi liên quan đến các vấn đề thuế, đăng kí độc quyền, cấp giấy phép xuất nhập khẩu, sử dụng dịch
vụ công,… Trung bình, hằng năm công ty bạn chi bao nhiêu phần trăm doanh thu cho chi phí bôi trơn liên quan đến các vấn đề trên?” Trong khảo sát của mình Tổng cục thống kê cũng sử dụng câu hỏi tương tự, khảo sát số tiền hối lộ thông qua doanh thu công ty Câu hỏi này được cho là phù hợp, việc không đề cập trực tiếp đến số tiền mà doanh nghiệp chi cho việc hối lộ cán bộ công chức
sẽ tạo tâm lý thoải mái cho doanh nghiệp đưa ra câu trả lời Trái lại, câu hỏi trực tiếp sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp né tránh, không trả lời đúng sự thật Trong nghiên cứu này, từ dữ liệu của Tổng cục thống kê tôi đo lường biến phụ thuộc mức độ hối lộ trong công ty cổ phần bằng hai phương pháp biến giả và biến liên tục Đồng thời, tiến hành hai mô hình ước lượng sao cho phù hợp với từng phương pháp đo lường biến phụ thuộc
+ Trường hợp biến phụ thuộc được đo lường bằng biến giả (có giá trị 1 hoặc 0) Xác suất hối lộ của doanh nghiệp có giá trị 1 nếu doanh nghiệp trả lời
có chi trả cho cán bộ công chức bằng quà cáp hay hình thức chi trả thân mật khác nhằm đạt mục đích như mong đợi và mang giá trị là 0 nếu nhận được câu trả lời không có chi trả kiểu này
+ Trường hợp biến phụ thuộc được đo lường bằng biến liên tục, nó cho biết số tiền hối lộ được tính theo phần trăm trong doanh thu của công ty Vì vậy, biến phụ thuộc này có giá trị nhỏ nhất là 0 (tương ứng công ty không có chi trả cho hoạt động hối lộ) và giá trị lớn nhất có thể là 100 (tương ứng công
ty chi trả 100% doanh thu hằng năm cho hoạt động hối lộ) Thực tế, trong bộ
dữ liệu được khảo sát, giá trị biến này chỉ thay đổi trong khoảng từ 0% đến 10% mà thôi
Các biến độc lập nghiên cứu này tập trung đánh giá tác động của sự tách
biệt quyền sở hữu- quản lý công ty, tỷ lệ cổ phần củ cổ đông lớn nhất và giới tính của nhà quản lý đến khả năng hối lộ của các công ty cổ phần ở Việt Nam
Trang 24Thứ nhất, sự tách quyền sở hữu- quản lý được xác định thông qua việc
xem xét có hay không sự khác biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý công ty Nói cách khác, chủ sở hữu có đồng thời là người trực tiếp quản lý công ty không ? Biến độc lập này được khảo sát bằng câu hỏi “Chủ sở hữu chính (tức
cổ đông lớn nhất) có phải cũng là người quản lý công ty hay không ?” Với
câu hỏi dạng này, sự tách quyền sở hữu- quản lý được đo lường bằng một
biến giả, có giá trị 1 nếu không sự khác biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý
và nhận giá trị 0 nếu có sự khác biệt này
Thứ hai, tỷ lệ cổ phần của cổ đông lớn nhất, được xác định dựa trên khảo
sát: “Cổ đông lớn nhất nắm giữ bao nhiêu phần trăm cổ phần của công ty?”
Tỷ lệ cổ phần được đo lường phần trăm cổ phần mà cổ đông lớn nhất trong công ty nắm giữ Giá trị của biến này trong dữ liệu nghiên cứu thay đổi từ 2,25% đến 100% Giá trị này càng lớn nghĩa là quyền lực của cổ đông lớn nhất trong công ty càng mạnh Nói cách khác cổ đông lớn nhất nắm giữ càng nhiều
cổ phần thì công ty có sự tập trung quyền lực vào một số ít cổ đông, đặc biệt là
cổ đông lớn nhất Trái lại, cổ đông lớn nhất nắm giữ một tỷ lệ nhỏ cổ phần của công ty tức là quyền sở hữu công ty có sự phân tán
Thứ ba, giới tính của chủ sở hữu được đo lường bằng một biến giả, nó
giá trị 1 nếu chủ sở hữu- người điều hành công ty là nữ và mang giá trị 0 nếu
là nam Giá trị biến độc lập này được ghi nhận bằng khảo sát: “Chủ sở hữu-
người điều hành công ty là nữ?”
Các biến kiểm soát được đưa vào mô hình để tối thiểu hóa các sai lệch
trong quá trình ước lượng Các biến kiểm soát bao gồm: xuất khẩu của công
ty, tuổi của công ty, quy mô công ty, kinh nghiệm của người quản lý và cảm nhận của doanh nghiệp về mức độ cạnh tranh
Thứ nhất, biến xuất khẩu cho biết hoạt động xuất khẩu mang lại bao
nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu của công ty Giá trị của nó thay đổi từ 0 đến 100%, cụ thể là khi công ty không có hoạt động xuất khẩu thì giá trị này là
0, giá trị 100% tương ứng với việc công ty chỉ hoạt động xuất khẩu mà không bán hàng hóa trong nội địa Công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu thường phải trải qua trình tự thủ tục phức tạp, mất nhiều thời gian khi xin giấy
Trang 25phép xuất khẩu Các doanh nghiệp luôn muốn công việc được giải quyết nhanh gọn nên thường hối lộ cho cán bộ hải quan Hải quan luôn là lĩnh vực
mà hoạt động hối lộ mang tính phổ biến và được báo chí phản ánh rất nhiều, hình ảnh cán bộ hải quan nhận hối lộ được đăng tải trên website VTV đã minh chứng cho điều này
Thứ hai, tuổi công ty thể hiện số năm hoạt động của công ty tính đến
năm 2005 Tuổi công ty trong nghiên cứu này có giá trị thay đổi từ 1 đến 99 năm Giá trị này càng lớn có nghĩa là công ty này được thành lập nhiều năm, giá trị này nhỏ tức là các công ty vừa mới thành lập không lâu, có thể gọi là doanh nghiệp trẻ Tuổi công ty thật sự có ảnh hưởng đến khả năng hối lộ của công ty Cụ thể là các doanh nghiệp trẻ có xu hướng hối lộ nhiều hơn các doanh nghiệp đã thành lập nhiều năm (Phan Anh Tú, 2012) Các doanh nghiệp mới thành lập đối mặt với nhiều áp lực trong việc vay vốn, xin cấp giấy phép
và phải nhanh chóng phát triển, kinh doanh có lợi nhuận Vì vậy, để nhận được những ưu đãi trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp này tìm đến hối lộ để công việc được thuận lợi
Thứ ba, quy mô công ty được đo lường bằng số nhân viên làm việc
thường xuyên Nghiên cứu này chỉ quan tâm đến các công ty có nhiều hơn 5 nhân viên Trong nghiên cứu, giá trị của biến này thay đổi từ 6 đến 8323 Quy
mô doanh nghiệp là yếu tố mà các cán bộ, công chức dùng làm cơ sở xem xét việc vòi vĩnh, đòi tiền hối lộ (Svensson, 2003) Các doanh nghiệp có quy mô lớn (thường có lợi nhuận cao) có xu hướng hối lộ nhiều hơn để giải quyết các vấn đề về thuế, giành hợp đồng thầu các công trình lớn,… Điều này ít có ảnh hưởng trong trường hợp các doanh nghiệp nhỏ
Thứ tư, kinh nghiệm của người quản lý được đo lường theo số năm
người quản lý này đã làm việc ở chức vụ quản lý công ty Giá trị của biến này thay đổi từ 0 đến 50 Giá trị này càng lớn nghĩa là nhà quản lý có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý công ty, khẳng định tốt cho năng lực nhà quản lý khi nhiều năm làm việc ở vị trí này Xét theo kinh nghiệm, nhà quản lý có ít kinh nghiệm, năng lực quản lý yếu có xu hướng tham gia vào hối lộ với mục tiêu giải quyết những trở ngại trong quá trình điều hành công ty (Martin,
Trang 262007) Trái lại, với các nhà quản lý có nhiều kinh nghiệm, họ có khả năng xử
lý công việc hiệu quả và nhanh chóng hơn, thay vì dùng đến hối lộ
Thứ năm, mức độ cạnh tranh được đo lường dựa trên số đối thủ cạnh
tranh trong cùng ngành nghề hay lĩnh vực kinh doanh Theo báo cáo của các doanh nghiệp, giá trị biến này thay đổi từ 0 đến 200 Giá trị này càng lớn nghĩa là công ty đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hay áp lực cạnh tranh cao Rõ ràng là cảm nhận của doanh nghiệp về mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng đến xác suất hối lộ Khi doanh nghiệp nhận thấy mình phải đối mặt với
áp lực cạnh tranh lớn từ nhiều đối thủ buộc doanh nghiệp phải tạo lợi thế cho mình Áp lực này quá lớn thúc đẩy doanh nghiệp lựa chọn việc hối lộ để đạt được mục tiêu (Bliss và Di Tella, 1997) Sau đây là bảng tổng hợp về các biến được ước lượng trong nghiên cứu này Bảng 2.1 tổng hợp lại biến phụ thuộc, các biến độc lập nghiên cứu xem xét và các biến kiểm soát; phương pháp đo lường các biến này và kỳ vọng về mối tương quan của các biến độc lập với biến phụ thuộc theo những lý thuyết mà nghiên cứu lập luận
Bảng 2.1 Danh sách các biến và kỳ vọng tác động lên khả năng hối lộ của công ty cổ phần
Y
Y
Biến giả Biến liên tục
(+)
(+) (-)
Biến kiểm soát:
(+) (-) (+) (-) (+)
Trang 272.2.2.2 Phương pháp ước lượng
Do biến phụ thuộc (xác suất hối lộ) trong nghiên cứu này được đo lường bằng một biến giả, nên mô hình hồi quy Probit được cho là phù hợp để phân tích tác động của các biến độc lập và biến kiểm soát đến xác suất hối lộ
Trong trường hợp này, biến phụ thuộc Y (xác suất hối lộ của công ty cổ phần) có giá trị bằng 1 hoặc bằng 0 Y = 1 khi công ty có thực hiện hành vi hối
lộ, Y = 0 khi công ty không hối lộ
Để xem xét tác động của các biến độc lập và biến kiểm soát nêu trên đến xác suất hối lộ của công ty cổ phần, tôi tiến hành ước lượng mô hình:
i
e X X
X X
X X
X X
Y 0 1 12 23 34 45 56 67 78 8 (2) trong đó:
X1, X2, X3 lượt là các biến độc lập mà nghiên cứu xem xét: sự tách biệt quyền sở hữu- quản lý, tỷ lệ cổ phần của cổ đông lớn nhất, giới tính nhà quản
lý Các hệ số β1,β2, β3 tương ứng là hệ số hồi qui cho các biến độc lập này Các hệ số này cho biết các biến độc lập này tác động như thế nào đến xác suất doanh nghiệp thực hiện hối lộ Các hệ số này làm cơ sở để kiểm định các giả
thuyết đã đặt ra
X4, X5, X6, X7, X8 lần lượt là các biến kiểm soát xuất khẩu của công ty, tuổi của công ty, quy mô công ty, kinh nghiệm của người quản lý và cảm nhận của doanh nghiệp về mức độ cạnh tranh Hệ số β4,β5, β6, β7, β8 tương ứng là
hệ số hồi qui cho các biến kiểm soát này
Tuy nhiên, trước khi đưa các biến độc lập vào mô hình, mô hình chỉ chứa các biến kiểm soát sẽ được ước lượng trước Việc này giúp ta xem xét việc các biến độc lập vào mô hình có làm tăng độ tin cậy của mô hình không? Hệ số R2
sẽ giải thích điều này Nếu sau khi đưa thêm các biến độc lập vào làm tăng hệ
số R2 tức là các biến độc lập có ý nghĩa giải thích cho biến phụ thuộc
Y = β 0 + β 4 X 4 + β 5 X 5 + β 6 X 6 + β 7 X 7 + β 8 X 8 + e i (1)
Ngoài ra, tôi còn phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến kiểm soát với số tiền hối lộ của các công ty cổ phần Trường hợp này tôi sử dụng hồi quy Tobit do giá trị của biến phụ thuộc trong trường hợp này được
Trang 28đo lường bằng biến liên tục Biến phụ thuộc số tiền hối lộ của công ty được đo lường theo phần trăm trong tổng doanh thu hằng năm nên có giá trị từ 0 đến 100% Vì vậy, mô hình Tobit dược cho là phù hợp trong trường hợp này Mục đích của công việc này nhằm tăng thêm tính thuyết phục cho kết quả nhận được ở mô hình Probit Việc ước lượng cũng tương tự như trường hợp sử dụng
mô hình Probit, ước lượng mô hình chỉ chứa các biến kiểm soát trước khi đưa các biến độc lập vào Biến phụ thuộc Y trong trường hợp này là biến liên tục, biểu thị cho số tiền hối lộ của doanh nghiệp (tính theo phần trăm trong doanh thu hằng năm) Cụ thể các mô hình cần ước lượng là:
Y = β 0 + β 4 X 4 + β 5 X 5 + β 6 X 6 + β 7 X 7 + β 8 X 8 + e i (3)
i
e X X
X X
X X
X X
Y 01 12 23 34 45 56 67 78 8 (4) Thêm vào đó, nghiên cứu còn thực hiện các thống kê mô tả với các chỉ tiêu nghiên cứu (giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, số trung bình, độ lệch chuẩn,…), phương pháp phân tích bảng chéo nhằm phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập với khả năng hối lộ của các công ty cổ phần Đồng thời
ma trận tương quan giữa biến phụ thuộc, các biến độc lập, biến kiểm soát cũng được xem xét Kết quả của công việc này cho biết có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến không
- Mục tiêu 3: căn cứ vào kết quả phân tích ở mục tiêu 1 và 2, sử dụng phương pháp suy luận để đề xuất giải pháp nhằm giảm tình trạng tham nhũng, hối lộ nói chung và giảm hối lộ trong các công ty cổ phần nói riêng
Trang 29CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THAM NHŨNG, HỐI LỘ Ở VIỆT NAM
Tồn tại từ lâu, tham nhũng là hiểm họa đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, bất kể chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế- xã hội Tham nhũng đã và đang là thách thức mang tính toàn cầu- một nhận định được cả thế giới thừa nhận Tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng ở những quốc gia đang phát triển và đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Việt Nam cũng không là ngoại lệ khi những năm vừa qua tham nhũng, hối lộ len lỏi ở nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội và có
xu hướng ngày càng tinh vi, phức tạp Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được rằng tham nhũng là một trở lực nghiêm trọng đối với chiến lược phát triển quốc gia, bởi nó làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước, xói mòn nguyên tắc pháp quyền, cản trở tăng trưởng kinh tế và làm biến dạng điều kiện cạnh tranh trong giao dịch kinh doanh Vì vậy nghiên cứu tham nhũng, hối lộ rất hữu ích, để hiểu rõ tình hình tham nhũng, hối lộ ở nước ta hiện nay cần tìm hiểu nguyên nhân, thực trạng và tác hại của nó
3.1 NGUYÊN NHÂN
3.1.1 Nguyên nhân khách quan
- Cơ chế kinh tế thị trường
Tham nhũng có thể diễn ra ở tất cả các lĩnh vực Đặc biệt, kinh tế luôn là lĩnh vực mà hối lộ, tham nhũng phổ biến nhất từ trước đến nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Sở dĩ tham nhũng, hối lộ có nhiều cơ hội hoành hành trong nền kinh tế ở Việt Nam một phần là do cơ chế kinh tế thị trường còn nhiều bất cập của Việt Nam Trong kinh doanh tất yếu có sự cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa, cạnh tranh thì phải có người thắng
và người thua, người được lợi và người bị thiệt hại Ai cũng phải cố gắng để
có được nhiều lợi nhuận nhất Đặc biệt, kinh tế thị trường khiến doanh nghiệp đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt hơn, không chỉ cạnh tranh với các đối thủ trong nước mà còn có các doanh nghiệp nước ngoài nên dễ xảy ra trường hợp cạnh tranh không lành mạnh Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường
Trang 30đồng tiền được đặt lên vị trí hàng đầu nên được dùng như một phương pháp hữu hiệu giải quyết mọi khó khăn Vì vậy, vấn nạn hối lộ, tham nhũng có điều kiện thuân lợi phát triển trong nền kinh tế thị trường
- Cơ chế quản lý, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập
Cơ chế quản lý và hệ thống pháp luật của Việt Nam còn nhiều thiếu sót
đã góp phần tạo điều kiện cho hối lộ, tham nhũng đụt khoét Qua 20 năm Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, bên cạnh những thành tựu đáng
kể về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói thì vẫn còn nhiều tồn tại, nhất là
cơ chế quản lý còn nhiều thiếu sót Phải đối mặt với nhiều vấn đề trong quá trình vận hành đất nước nhưng năng lực quản lý của bộ máy công quyền còn hạn chế nên khó mà kiểm soát tốt mọi việc, ngay cả việc quản lý nội bộ cũng chưa đạt hiệu quả Vì vậy, có nhiều cán bộ, công chức Nhà nước lạm dụng quyền hành để tham nhũng, chuộc lợi cho mình mà vẫn chưa bị phát giác
- Hệ thống trình tự, thủ tục rườm rà
Hệ thống các quy định, trình tự, thủ tục hành chính rườm rà mang lại nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp Cán bộ, công chức cũng lợi dụng điều này để nhũng nhiễu, vòi tiền từ các doanh nghiệp Vì vậy, để tránh phiền hà và giảm thời gian chờ đợi Doanh nghiệp thường chọn cách chi tiền “hối lộ” cho cán bộ, công chức để công việc thuận lợi và nhanh chóng hơn
- Môi trường kinh doanh thiếu minh bạch
Thiếu công khai, minh bạch trong môi trường kinh doanh là nhân tố quan trọng tạo ra hối lộ, tham nhũng Thực tế chứng tỏ rằng, ở đâu tính công khai, minh bạch được đề cao, thì ở đó ít có những vấn đề tiêu cực phát sinh
Có thể lý giải điều này như sau: vì công khai buộc người ta phải làm nó ở mức
độ trung thực cao nhất có thể, và vì công khai mà những thông tin không những được minh bạch hơn mà còn buộc chủ thể của hành động phải tự giác kiểm soát và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tích cực hơn Môi trường kinh doanh thiếu minh bạch nên khả năng tiếp cận cơ hội, thông tin kinh tế của các doanh nghiệp không tương đồng Doanh nghiệp có nhiều thông tin hơn sẽ có ưu thế hơn trong kinh doanh và xác suất thành công cao hơn Ví
dụ như việc đấu thầu xây dựng các công trình, tuy bề ngoài thông tin đấu thầu
Trang 31được công khai nhưng bên trong các doanh nghiệp trúng thầu thường hối lộ cho cán bộ, công chức có quyền quyết định chọn thầu Vì vậy, chọn lựa của cán bộ, công chức không còn mang tính khách quan mà bị lợi ích cá nhân chi phối Qua đó cho thấy, sự thiếu công khai, minh bạch trong kinh doanh tạo ra cho môi trường cạnh tranh không công bằng nên áp lực cạnh tranh gay gắt dẫn đến hành vi hối lộ của doanh nghiệp để tìm ưu thế cho mình
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan
Trên đây là những nguyên nhân khách quan tác động đến việc đưa hối lộ của doanh nghiêp Về phương diên chủ quan của doanh nghiệp thì sao Vì sao doanh nghiệp “thích” đưa hối lộ?
Trước tiên, việc “mua” quan chức rẻ hơn mối lợi thu về Lý do chính mà doanh nghiệp “thích” đưa hối lộ là vì không có hối lộ thì sẽ hỏng việc, hối lộ
là cách để doanh nghiệp giải quyết công việc nhanh, hiệu quả và chi phí
“mua” quan chức rẻ hơn so với lợi ích mang về cho doanh nghiệp Khi doanh nghiệp muốn thực hiện hành vi hối lộ hiển nhiên có cân nhắc giữa chi phí và lợi ích nhận được Vì vậy, doanh nghiệp chỉ hối lộ khi lợi ích lớn hơn chi phí
bỏ ra
Đồng thời, khoản chi hối lộ điều được doanh nghiệp tính vào chi phí cấu thành giá thành sản phẩm nên người tiêu dùng mới là người gánh chịu Khoản chi phí hối lộ được chia thành nhiều phần nhỏ cho số lượng lớn sản phẩm nên hầu như không có sự gia tăng đáng kể về giá, không ảnh hưởng nhiều đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Vì những lý do trên mà hối lộ đã trở thành một hoạt động bình thường và phổ biến trong kinh doanh ở Việt Nam
3.2 THỰC TRẠNG HỐI LỘ, THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam cũng như các nước khác, việc đánh giá chính xác về tình hình tham nhũng, hối lộ diễn ra trong thực tế là rất khó khăn Chúng ta chỉ có thể nhìn nhận về tình hình tham nhũng, hối lộ theo bề nổi, dựa vào đánh giá của các tổ chức quốc tế và kết quả xử lý các vụ việc tham nhũng, hối lộ Dựa vào đó, có thể thấy tình hình tham nhũng, hối lộ ở Việt Nam là rất nghiêm trọng