1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác đánh giá rủi ro trong hoạt đông kinh doanh ở Bảo Việt nhân thọ Hà Nội

76 662 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 392,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của ngành Bảo hiểm Việt Nam là sự ra đời của Nghị định 568TCTCCB ngày 2261996 cho phép thành lập Công ty Bảo hiểm nhân thọ (gọi tắt là Công ty Bảo Việt Nhân thọ) trực thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và là một trong những doanh nghiệp được Nhà nước xếp hạng đặc biệt.Việc triển khai Bảo hiểm Nhân thọ ở Việt Nam là nhằm mở rộng, tăng cường vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kết hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm khác hình thành một thị trường bảo hiểm đa dạng, năng động tại Việt Nam để từng bước hoà nhập vào thị trường Bảo hiểm khu vực và Thế giới.Bản chất của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ là kinh doanh một loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt gắn liền với các rủi ro liên quan đến tuổi thọ của con người như: tử vong hay sống đến một độ tuổi nhất định...Vì thế Công ty Bảo hiểm nhân thọ phải sử dụng số liệu thống kê của cộng đồng nói chung hoặc của các Công ty Bảo hiểm nói riêng để tính toán xác suất rủi ro đối với người được bảo hiểm như: tỷ lệ chết trong dân số, tỷ lệ thương tật, chi phí y tế phẫu thuật...Thông thường tỷ lệ chết trong số những người được bảo hiểm sẽ khác với tỷ lệ chết trong dân số; tỷ lệ chết thực tế khác với tỷ lệ chết giả định để tính phí. Chênh lệch dương giữa tỷ lệ chết đưa vào tính phí và tỷ lệ chết thực tế sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cho Công ty Bảo hiểm nhân thọ, trong đó công cụ chính để đạt được là công tác đánh giá rủi ro.Đánh giá rủi ro là công tác hết sức quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ. Ý nghĩa nổi bật của công tác này là ngăn ngừa sự trục lợi từ phía khách hàng chuẩn bị tham gia bảo hiểm và đảm bảo sự công bằng giữa những người đang được bảo hiểm. Đây là trách nhiệm của Công ty bảo hiểm nhân thọ và bằng cách thực hiện công tác này một cách thoả đáng, Công ty Bảo hiểm nhân thọ sẽ có được uy tín trên thị trường, tránh thua lỗ về tài chính đồng thời đảm bảo được khả năng thanh toán cho khách hàng. Với mong muốn công tác đánh giá rủi ro thực sự phát huy được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Nhân thọ, tôi quyết định chọn đề tài “công tác đánh giá rủi ro trong hoạt đông kinh doanh ở Bảo Việt nhân thọ Hà Nội” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.Luận văn tốt nghiệp này được hoàn thiện với sự quan tâm giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của Ban Giám đốc Công ty, phòng Phát hành hợp đồng, cán bộ trong Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà nội và cô giáo hướng dẫn tốt nghiệp chính Tô Thiên Hương. Tôi vô cùng biết ơn Công ty Bảo Việt Nhân thọ, cô giáo Tô Thiên Hương vì những giúp đỡ quý báu trong quá trình thực tập để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.Tôi xin cảm ơn PGS.PTS Hồ Sỹ Hà, PGS.PTS Nguyễn Cao Thường, PTS Nguyễn Văn Định đã giảng dạy tôi trong quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà nội những kiến thức cơ bản về bảo hiểm nói chung và về bảo hiểm nhân thọ nói riêng. Tuy nhiên với một thời gian thực tập ngắn, lại chưa được tiếp xúc nhiều với thực tế kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ, mặc dù tôi rất say mê ngành bảo hiểm nhân thọ, luôn cố gắng hết sức học hỏi và tự nghiên cứu nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong được sự thông cảm và chỉ bảo tận tình của Ban Giám đốc Công ty, phòng Phát hành hợp đồng và các thầy cô giáo để tôi khắc phục được những yếu kém của bản thân, và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình.Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn Công ty Bảo Việt Nhân thọ và các thầy cô giáo mặc dù rất bận rộn nhưng đã cố gắng tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập. Xin chúc các đồng chí trong Ban Giám đốc, các anh chị trong phòng Phát hành hợp đồng và toàn thể các anh chị trong Công ty Bảo Việt nhân thọ lời chúc sức khoẻ và thành đạt, chúc các thầy cô luôn mạnh khoẻ và hạnh phúc.

Trang 1

Nam là sự ra đời của Nghị định 568/TC/TCCB ngày 22/6/1996 cho phép thànhlập Công ty Bảo hiểm nhân thọ (gọi tắt là Công ty Bảo Việt Nhân thọ) trực thuộcTổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và là một trong những doanh nghiệp đợc Nhànớc xếp hạng đặc biệt.

Việc triển khai Bảo hiểm Nhân thọ ở Việt Nam là nhằm mở rộng, tăng c ờngvai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm,kết hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm khác hình thành một thị tr ờng bảo hiểm

đa dạng, năng động tại Việt Nam để từng bớc hoà nhập vào thị trờng Bảo hiểmkhu vực và Thế giới

Bản chất của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ là kinh doanh mộtloại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt gắn liền với các rủi ro liên quan đến tuổi thọ củacon ngời nh: tử vong hay sống đến một độ tuổi nhất định

Vì thế Công ty Bảo hiểm nhân thọ phải sử dụng số liệu thống kê của cộng

đồng nói chung hoặc của các Công ty Bảo hiểm nói riêng để tính toán xác suấtrủi ro đối với ngời đợc bảo hiểm nh: tỷ lệ chết trong dân số, tỷ lệ thơng tật, chiphí y tế phẫu thuật

Thông thờng tỷ lệ chết trong số những ngời đợc bảo hiểm sẽ khác với tỷ lệchết trong dân số; tỷ lệ chết thực tế khác với tỷ lệ chết giả định để tính phí.Chênh lệch dơng giữa tỷ lệ chết đa vào tính phí và tỷ lệ chết thực tế sẽ đem lạihiệu quả kinh doanh cho Công ty Bảo hiểm nhân thọ, trong đó công cụ chính để

đạt đợc là công tác đánh giá rủi ro.

Đánh giá rủi ro là công tác hết sức quan trọng trong lĩnh vực kinh doanhBảo hiểm nhân thọ ý nghĩa nổi bật của công tác này là ngăn ngừa sự trục lợi từphía khách hàng chuẩn bị tham gia bảo hiểm và đảm bảo sự công bằng giữanhững ngời đang đợc bảo hiểm Đây là trách nhiệm của Công ty bảo hiểm nhânthọ và bằng cách thực hiện công tác này một cách thoả đáng, Công ty Bảo hiểmnhân thọ sẽ có đợc uy tín trên thị trờng, tránh thua lỗ về tài chính đồng thời đảmbảo đợc khả năng thanh toán cho khách hàng

Với mong muốn công tác đánh giá rủi ro thực sự phát huy đợc hiệu quảtrong hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Nhân thọ, tôi quyết định chọn đề tài

“công tác đánh giá rủi ro trong hoạt đông kinh doanh ở Bảo Việt nhân thọ HàNội” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

Luận văn tốt nghiệp này đợc hoàn thiện với sự quan tâm giúp đỡ và chỉ bảotận tình của Ban Giám đốc Công ty, phòng Phát hành hợp đồng, cán bộ trongCông ty Bảo Việt Nhân thọ Hà nội và cô giáo hớng dẫn tốt nghiệp chính TôThiên Hơng Tôi vô cùng biết ơn Công ty Bảo Việt Nhân thọ, cô giáo Tô Thiên

Trang 2

Hơng vì những giúp đỡ quý báu trong quá trình thực tập để tôi có thể hoàn thànhtốt luận văn tốt nghiệp này.

Tôi xin cảm ơn PGS.PTS Hồ Sỹ Hà, PGS.PTS Nguyễn Cao Thờng, PTSNguyễn Văn Định đã giảng dạy tôi trong quá trình học tập tại trờng Đại họcKinh tế quốc dân Hà nội những kiến thức cơ bản về bảo hiểm nói chung và vềbảo hiểm nhân thọ nói riêng Tuy nhiên với một thời gian thực tập ngắn, lại ch a

đợc tiếp xúc nhiều với thực tế kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ, mặc dù tôi rất say

mê ngành bảo hiểm nhân thọ, luôn cố gắng hết sức học hỏi và tự nghiên cứu

nh-ng chắc chắn khônh-ng thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy tôi rất monh-ng đợc sự thônh-ngcảm và chỉ bảo tận tình của Ban Giám đốc Công ty, phòng Phát hành hợp đồng

và các thầy cô giáo để tôi khắc phục đợc những yếu kém của bản thân, và hoànthiện luận văn tốt nghiệp của mình

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn Công ty Bảo Việt Nhân thọ và cácthầy cô giáo mặc dù rất bận rộn nhng đã cố gắng tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôitrong quá trình thực tập Xin chúc các đồng chí trong Ban Giám đốc, các anh chịtrong phòng Phát hành hợp đồng và toàn thể các anh chị trong Công ty Bảo Việtnhân thọ lời chúc sức khoẻ và thành đạt, chúc các thầy cô luôn mạnh khoẻ vàhạnh phúc

Hà Nội, tháng 6 năm 2000

Phần I

lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ

I- Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm nhân thọ

1 Sự cần thiết:

Trong những năm qua, Thế giới đã chứng kiến tốc độ tăng trởng nhanhchóng của ngành Bảo hiểm thơng mại nói chung và lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọnói riêng Ngoài vai trò chủ yếu là giúp dân c khôi phục đợc tình hình tài chínhkhi họ gặp những rủi ro liên quan đến cuộc sống của mình, Bảo hiểm nhân thọcòn là phơng tiện hữu hiệu nhất để tập trung nguồn vốn khổng lồ trong dân c để

đầu t phát triển nền kinh tế

Bảo hiểm nhân thọ bao gồm nhiều loại khác nhau: Đó có thể là hình thứctiết kiệm kết hợp với rủi ro (VD hai loại hình bảo hiểm đang đợc triển khai ở nớc

ta là An sinh giáo dục và Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp 5,10 năm), hoặc chỉ mangtính chất rủi ro (Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn ) hoặc là hình thức trợ cấp (Niênkim nhân thọ)

Bảo hiểm nhân thọ nớc ta mới ra đời vào năm 1996, nhng trên Thế giới Bảohiểm nhân thọ đã ra đời từ năm 1853 Thực tế từ ấy đến nay đã chứng minh đợc

Trang 3

rằng Bảo hiểm nhân thọ chính là một hình thức tiết kiệm tốt nhất để đảm bảo choviệc đối phó với rủi ro đe doạ cuộc sống con ngời Chả thế mà ở Nhật Bản bìnhquân mỗi năm tiền đóng bảo hiểm nhân thọ là 1909USD/ ngời, tiếp đến là Anh1141USD/ngời/năm, ở Mỹ 838USD/ngời /năm, ở Pháp 826 USD/ngời /năm Cácnớc Châu á cũng không kém phần, năm 1990 phí bảo hiểm nhân thọ của Châu áchiếm 33,8% tổng số phí trên toàn thế giới và năm 1993 chỉ riêng phí bảo hiểmnhân thọ của các nớc Đông á cũng đã là 45,1tỷ USD trên tổng số phí bảo hiểmtoàn ngành là 61,6 tỷ USD

Sở dĩ có đợc kết quả nh vậy là vì: Mua Bảo hiểm nhân thọ vẫn đảm bảo đợctính chất tiết kiệm mà nghĩa vụ của ngời tham gia lại rất đơn giản Nếu một gia

đình ngay từ khi sinh con ra, muốn dành cho con đến năm 18 tuổi có một khoảntiền là 10 triệu đồng thì mỗi tháng gia đình ấy chỉ phải đóng 39400 đồng (tơng tự

nh tiền tiết kiệm bỏ ống vậy)

Tuy cũng là tiết kiệm, nhng việc tiết kiệm ở đây hoàn toàn khác với việc gửitiết kiệm ở Ngân hàng để lấy lãi Khi gửi tiền ở Ngân hàng, thờng ngời ta phải

đem theo một khoản tiền lớn và đến tận Ngân hàng để gửi Vả lại chẳng có Ngânhàng nào nhận tiền gửi với số lợng ít (cụ thể nh hiện nay thì chẳng có Ngân hàngnào nhận khoản tiền gửi vài chục nghìn đồng) Còn tham gia Bảo hiểm nhân thọ,cũng là để dành tiết kiệm nhng ngời mua bảo hiểm nhân thọ chỉ cần có một sốtiền nhỏ và đóng đều đặn hàng tháng mà thôi Thậm chí nếu do công việc bậnrộn họ chỉ cần gọi điện cho cơ quan bảo hiểm biết ý định là sẽ có ngời đến phục

vụ tận nơi

Mục đích của ngời gửi tiền là sau một thời hạn nào đó sẽ nhận đợc cả vốnlẫn lãi Nhng nếu gửi ngân hàng thì việc rút lãi và vốn chỉ đợc thực hiện khi đếnhạn ghi trên sổ tiết kiệm Khi cha đến hạn, nếu rút tiền ra ngời gửi tiền sẽ không

đợc hởng lãi và đặc biệt là nếu chẳng may ngời gửi tiền gặp rủi ro bất hạnh thìcũng chẳng đợc thêm khoản tiền nào nữa Hơn hẳn thế, Bảo hiểm nhân thọ khôngnhững đem lại cho gia đình một kế hoạch tài chính dài hạn nh nói trên mà còntạo cho các gia đình sự ổn định về kinh tế, ngay cả khi một thành viên nào đótrong gia đình (kể cả ngời tham gia mua bảo hiểm hay ngời đợc bảo hiểm) chẳngmay gặp nỗi bất hạnh dẫn đến tử vong hoặc thơng tật vĩnh viễn

Thật vậy, nếu ngời đi mua bảo hiểm nhân thọ là ngời cha hoặc ngời mẹ,chẳng may bị thơng tật vĩnh viễn, hay bị tử vong do những rủi ro nêu trong hợp

đồng bảo hiểm hoặc khi ngời đợc hởng quyền lợi bảo hiểm bị thơng tật vĩnh viễn

do tai nạn thì không những gia đình ấy đợc lĩnh tiền trợ giúp tai nạn ngay để cóthể trang trải những chi phí nằm viện, điều trị hoặc phẫu thuật mà điều quantrọng nhất là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của họ vẫn tiếp tục có hiệu lực đến khihết hạn để ngời tham gia mua bảo hiểm nhân thọ và ngời thừa hởng của họ vẫn đ-

ợc lĩnh đủ số tiền họ mong muốn (theo quy định cụ thể) và đặc biệt hơn kể từ khi

Trang 4

rủi ro xảy ra, không ai trong gia đình họ phải đóng thêm phí bảo hiểm nhân thọnữa

Ngời mua Bảo hiểm nhân thọ ngoài việc đợc nhận toàn bộ số tiền của mìnhkhi đến hạn, ngoài việc đợc trợ giúp khi họ không may gặp rủi ro nh đã nói trên,

họ còn đợc nhận một khoản tiền lãi thông qua việc đầu t của Công ty Bảo hiểmnhân thọ và các khoản lãi này đợc lĩnh vào các kỳ 5 năm, 10 năm, 15 năm kể từkhi ký kết hợp đồng hoặc sau khi hết hạn hợp đồng

Rõ ràng ngoài tính chất hỗ trợ rủi ro thì hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ cònmang tính tiết kiệm, Nó thực sự mang lại cho các tầng lớp dân c sự ổn định về tàichính Bảo hiểm nhân thọ còn giúp họ tích cóp đợc những khoản tiền lớn trongtrờng hợp không có rủi ro xảy ra để họ có thể sử dụng cho nhu cầu ngày mộtnâng cao nh: dành cho con cái một khoản tiền lớn đến tuổi trởng thành, giúp chongời già có thêm khoản tiền bổ sung vào khoản lơng hu trí

Có thể nói rằng: Để đối phó với rủi ro chúng ta có nhiều cách nh tiết kiệm,lập quỹ dự phòng, kêu gọi viện trợ của ngời thân hay sự quyên góp, hoặc thamgia bảo hiểm Nhng cho đến nay tham gia Bảo hiểm nhân thọ vẫn là phơng thức

đối phó với những rủi ro đe doạ cuộc sống của mình và ngời thân một cách u việtnhất Nó bao hàm toàn bộ những u điểm của các phơng pháp khác, thể hiện đợccả tính kinh tế và xã hội

Tuy nhiên, đóng góp không phải là cầu nối xảy ra bất hạnh để đợc hởng, vì

ai cũng cảm thấy “ ngời sống là đống vàng “ Sức khoẻ là vốn quý, ai cũng muốntránh điều không hay, chỉ cần ta sống thêm bình yên sức khoẻ đã là hạnh phúcrồi Vì thế đóng góp một phần nhỏ mọn của mình giúp cho ngời không may trêntinh thần mình vì mọi nguời cũng là một việc đúng lơng tâm

Nói tóm lại, trong nền kinh tế thị trờng sự xuất hiện các dịch vụ bảo hiểmnói chung và Bảo hiểm nhân thọ nói riêng là rất cần thiết, là tất yếu của quá trìnhphát triển kinh tế của mỗi quốc gia

2- Tác dụng của bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ có rất nhiều tác dụng khác nhau đối với đời sống kinh tếxã hội Tuy vậy chúng ta có thể khái quát những tác dụng chủ yếu của Bảo hiểmnhân thọ đó là :

2.1- Đối với mỗi cá nhân, gia đình và doanh nghiệp

* Trớc hết nó thể hiện sự quan tâm lo lắng của ngời chủ gia đình đối với bảnthân mình và những ngời phụ thuộc, của ông chủ đối với công nhân Đồng thời

nó còn đóng vai trò là giá đỡ về tài chính cho ngời tham gia hay ngời đợc bảohiểm khi không may gặp phải rủi ro

Thật vậy: Có rất nhiều nhân tố ảnh hởng đến cuộc sống của con ngời, trong

đó có những nhân tố mà chúng ta có thể kiểm soát đợc, nhng cũng không ít nhân

tố chúng ta không thể kiểm soát đợc, đó là những rủi ro bất ngờ Khi cuộc cách

Trang 5

mạng khoa học kỹ thuật phát triển thì ngoài những yếu tố về thiên nhiên, nhữngyếu tố về kỹ thuật cũng tác động không nhỏ đến cuộc sống của con ngời Máymóc kỹ thuật do bàn tay, khối óc con ngời tạo ra làm cho năng xuất lao độngtăng lên, sản phẩm ngày càng dồi dào và cuộc sống con ngời dần đợc cải thiện.Nhng trên thực tế, đó cũng chính là nguồn gốc gây ra biết bao tai nạn bất ngờ khi

mà con ngời sử dụng những phơng tiện kỹ thuật đó Vì thế mà ngời xa có nói

“Sinh hữu hạn ,tử bất kỳ “ (Sinh ra có kỳ hạn, chết không định kỳ là vậy)

Hơn nữa, con ngời là một yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinhdoanh, không gì có thể thay thế vai trò của con ngời trong hoạt đông kinh doanh

đợc Cho nên khi rủi ro xảy đến với con ngời thì không chỉ gây thiệt hại cho bảnthân họ mà còn làm ảnh hởng đến quá trình sản xuất kinh doanh và mọi hoạt

động liên quan đến họ

Nói tóm lại, khi rủi ro bất ngờ xảy ra đối với bất kỳ một thành phần kinh tếnào đều dẫn đến gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh đồng thời kèm theothiệt hại, tổn thất về ngời và của Nếu tổn thất đó nhỏ thì các thành phần kinh tế

có thể khôi phục lại đợc, nhng nếu tổn thất thiệt hại lớn vợt quá khả năng tàichính thì ai sẽ là ngời đứng ra cáng đáng, giúp đỡ họ

Đây là nỗi lo lắng mà bất kỳ cá nhân gia đình hay doanh nghiệp đều phảiquan tâm Vì vậy, từ khi Bảo hiểm nhân thọ ra đời nó đã giải toả đợc nỗi lo lắngcủa mỗi cá nhân, gia đình hay doanh nghiệp đối với ngời phụ thuộc, làm cho họyên tâm sản xuất hơn và sự thật là Bảo hiểm nhân thọ đã khẳng định đ ợc rằng nóluôn luôn là ngời sẵn sàng cùng đối phó với bất kỳ rủi ro nào đe doạ cuộc sốngcủa con ngời, cụ thể là :

+ Trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm không may gặp rủi ro thì gia đình cómột khoản tiền để chi trả các khoản vay nợ, chi phí về viện phí và khám chữabệnh, các khoản chi phí về mai táng và chôn cất

+ Nhiều ngời mua Bảo hiểm nhân thọ với mục đích cung cấp tài chính chonhững ngời phụ thuộc khi không may họ gặp rủi ro hay chi phí về sinh hoạt, nuôidỡng và chăm sóc con cái, cung cấp khoản tiền trợ cấp cho các thành viên tronggia đình trong thời gian họ tìm kiếm kế sinh nhai khác hoặc có thêm thu nhập

* Thứ hai: Tham gia Bảo hiểm nhân thọ cũng có nghĩa là tiết kiệm một

cách thờng xuyên có kế hoạch Khi quyết định mua một hợp đồng bảo hiểm nhânthọ thì những khoản phí nhỏ phải nộp hàng tháng trích từ ngân sách của mỗi gia

đình có thể coi nh những khoản tiền điện, tiền nớc Trong điều kiện kinh tế pháttriển và ổn định, những gia đình có thu nhập và chi tiêu ở mức cao thì trích mộtkhoản tiền nhỏ mua mua bảo hiểm nhân thọ không ảnh hởng lớn đến toàn bộ quátrình chi tiêu trong tháng của gia đình và nh vậy hàng tháng họ còn tiết kiệm đợcmột khoản tiền nhất định Khoản tiền tiết kiệm này thực chất đã tạo lập đợc một

Trang 6

nguồn quỹ nhất định cho gia đình, góp phần tạo quỹ giáo dục con cái và có tiền

để chi dùng khi về hu

Ngày nay khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định thì việc học hànhcủa con cái trở lên rất quan trọng đối với hầu hết các bậc cha mẹ Một trongnhững mục tiêu hàng đầu của các bậc làm cha, làm mẹ là có đủ khả năng tàichính để gửi con họ vào các trờng đại học cũng nh đầu t tạo điều kiện cho việchọc tập của con cái mình

Tuy nhiên, nh chúng ta đã biết, chi phí cho giáo dục và đào tạo ngày càngcao, nó chiếm một phần rất lớn trong tổng chi phí của gia đình Vì thế khi conngời còn khả năng làm việc, còn khả năng tích luỹ thì việc dành mỗi tháng mộtkhoản tiền nhỏ để lo cho tơng lai con cái sau này là việc ai cũng muốn làm

Rủi ro bất ngờ có thể khiến chúng ta lâm vào tình trạng bất hạnh: Cái chết củangời cha hoặc ngời mẹ đang làm việc là đồng nghĩa với việc giảm nguồn ngânsách gia đình và do đó ảnh hởng đến tơng lai của con cái Loại hình bảo hiểmcho con đến tuổi trởng thành hay Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp sẽ cùng gánh vác locho con cái của ngời tham gia bảo hiểm khi họ gặp rủi ro

Trên Thế giới có rất nhiều chơng trình quốc gia đợc thiết lập để đảm bảocho các cá nhân có nguồn thu nhập khi về hu Mặc dù vậy, số thu nhập này thờngkhông đủ đảm bảo cho cuộc sống của ngời về hu Bởi vậy nhiều ngời đã mua Bảohiểm nhân thọ hỗn hợp trong những năm họ đang làm việc hay hợp đồng bảohiểm trợ cấp hu trí để có thêm thu nhập khi về hu

* Thứ ba: Hiện nay có rất nhiều đối tợng có tiền nhàn rỗi và muốn đầu t

theo phơng thức dàn trải rủi ro Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ rất phù hợp và trởlên rất hấp dẫn các đối tợng này Sở dĩ họ mua sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ

là vì: Mặc dù tỷ lệ lãi xuất đợc trả có thể thấp hơn lãi xuất của một số loại hình

đầu t khác nhng nó có một số u việt mà một số loại hình đầu t khác không có đó

+ Các sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ không những mang tính chất tiết kiệm

mà còn chứa đựng tính chất rủi ro: Nghĩa là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đảmbảo hỗ trợ khó khăn về tài chính cho thân nhân và gia đình ng ời đợc bảo hiểmkhi ngời đợc bảo hiểm gặp rủi ro bằng một khoản tiền lớn ngay cả khi họ mới kịptiết kiệm đợc một khoản tiền rất nhỏ

+ Chính sách thuế thu nhập của các loại hình bảo hiểm nhân thọ u việt hơn cácloại hình đầu t khác

Trang 7

+ Đảm bảo tính chất tích luỹ một khoản tiền lớn với số tiền tiết kiệm nhỏ vàthờng xuyên.

* Thứ t : Nh chúng ta đã biết, sự thiệt hại về kiến thức chuyên môn và sự

cống hiến của ngời chủ chốt có thể ảnh hởng nặng nề đến hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp: VD, một ngời bán hàng chủ chốt hoặc vài ngời ký hợp đồngkinh doanh quan trọng gặp rủi ro dẫn đến thiệt hại về tính mạng hay thơng tật thìdoanh nghiệp sẽ mất đi một ngời chủ chốt giỏi, hoạt động kinh doanh có thể bịxáo trộn Hơn nữa công việc kinh doanh bắt buộc phải tính đến chi phí đào tạohoặc tìm kiếm ngời thay thế Hợp đồng bảo hiểm cho cá nhân chủ chốt sẽ đảmbảo những chi phí cho doanh nghiệp trong khi tìm kiếm hoặc đào tạo ngời thaythế

Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật phát triển thì mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh đều đợc chuyên môn hoá, mỗi công nhân đóng vai trò hết sức quan trọngtrong từng khâu của quá trình sản xuất Nếu một công nhân hay một nhóm côngnhân bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ làm gián đoạn quá trình sảnxuất, điều đó cũng đồng nghĩa với việc làm giảm doanh thu của doanh nghiệp,tiếp đó doanh nghiệp còn phải tuyển nhân viên thay thế, chi phí cho việc tuyểndụng và đào tạo mới, trợ cấp tai nạn lao động Có thể nói rằng trong nền kinh tếthị trờng, một ông chủ biết kinh doanh là ngời biết lo xa, biết lờng trớc những rủi

ro bất ngờ Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhóm sẽ đáp ứng đợc nguyện vọng đócủa họ

Bên cạnh đó thì Bảo hiểm nhân thọ còn góp phần nâng cao sức khoẻ củanhân dân, vì trong quá trình kinh doanh để đạt hiệu quả cao, Công ty luôn tìmcách bảo vệ sức khoẻ cũng nh tính mạng của ngời đợc bảo hiểm nhằm tối thiểuhoá rủi ro ở các nớc trên thế giới, trớc khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, ngờitham gia phải trải qua một đợt kiểm tra sức khoẻ tại các trung tâm y tế do công tybảo hiểm chỉ định Nếu đủ tiêu chuẩn mới đợc tham gia bảo hiểm Nh vậy, ngờitham gia bảo hiểm nhân thọ còn đợc lợi là kiểm tra sức khoẻ không mất tiền, Mặtkhác, khi ngời đợc bảo hiểm gặp rủi ro ốm đau, phẫu thuật, tàn tật Công ty Bảohiểm cũng chi trả một số tiền để họ phục hồi sức khoẻ nhanh chóng ở Pháp năm

1995 chi phí chăm sóc y tế và thuốc men đạt 682 tỷ France(12,4tỷ USD) Trong

đó, các Công ty Bảo hiểm tham gia thanh toán 3,1% cũng vào năm 1995:78 tỷFrance(14,2 tỷ USD) đợc chi bởi các tổ chức hỗ trợ, trong đó 32% là bởi cácCông ty Bảo hiểm

2.2- Đối với nền kinh tế

Bảo hiểm nhân thọ góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nớc vàcác cơ quan xí nghiệp Bởi lẽ ở bất kỳ quốc gia nào cũng có hệ thống bảo trợ xãhội, hệ thống y tế công cộng hay tổ chức nhân đạo để bảo vệ con ngời Vì thếhàng năm ngân sách nhà nớc phải chi ra một khối lợng vốn lớn để trợ cấp cho các

Trang 8

cá nhân hay tổ chức khi họ gặp rủi ro Ngay ở mỗi xí nghiệp cũng luôn có mộtquỹ đề phòng cho các trờng hợp rủi ro nh bệnh tật, tai nạn bệnh nghề nghiệp cho nhân viên của họ Ngày nay, mỗi cá nhân mua bảo hiểm nhân thọ là mộtcách tự bảo vệ mình, chủ động đối phó với rủi ro đồng thời còn tạo ra một khoảntiết kiệm Cuối cùng tham gia bảo hiểm nhân thọ không những đã làm giảm bớtgánh nặng cho ngân sách nhà nớc mà còn tạo ra một khoản tiết kiệm cho bảnthân và cho xã hội

Hơn nữa, với chức năng huy động số lợng tiền nhỏ từ nhiều cá nhân nhằmhình thành một quỹ bảo hiểm tập trung để đầu t vào nhiều lĩnh vực của nền kinh

tế Công ty Bảo hiểm đặc biệt là Công ty Bảo hiểm Nhân thọ đã trở thành một tổchức, một nhà đầu t chuyên nghiệp và chủ chốt trên thị trờng vốn của nhiều nớc.Tổng đầu t của các Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Mỹ lên tới 1408 tỷ USD năm

1990, 1551 tỷ USD năm 1991, 1839 tỷ USD năm 1993 và 1977 tỷ USD năm

1994 đứng thứ ba sau các ngân hàng thơng mại và các quỹ tơng hỗ, đầu t của cáccông ty bảo hiểm nhân thọ Pháp là 2638 tỷ France năm 1995 và 3089 tỷ Francenăm 1996

Nếu trong một thời kỳ dài trên thế giới,hoạt động đầu t của các Công ty Bảohiểm phi nhân thọ đợc xem nh hoạt động bổ trợ nhằm gia tăng thêm lợi nhuậnngoài phần lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm thì ngay từ khi loại hình bảo hiểmnhân thọ đợc đa ra trên thị trờng, đầu t đã trở thành một hoạt động hết sức quantrọng không thể tách rời và có thể nói nó quyết định đến sự sống còn của Công tyBảo hiểm nhân thọ

ở Việt Nam, với đội ngũ nhân viên và đại lý hoàn toàn mới, kinh nghiệm vềbảo hiểm nhân thọ còn rất ít ỏi nhng tính đến 31/12/1999, nghĩa là sau hơn banăm hoạt động Bảo Việt nhân thọ đã ký đợc hơn 37607 hợp đồng với tổng số phítrên 120 tỷ đồng Dự kiến đến năm 2000 tổng số phí sẽ lên tới trên 200 tỷ đồng,với những tiến triển nh hiện nay chúng ta có thể hy vọng đến con số hàng ngàn tỷ

đồng trong những thập kỷ tới

Với đặc điểm nguồn vốn lớn, thời hạn dài và thờng xác định đợc tơng đối chắcchắn trách nhiệm phải thanh toán, quỹ bảo hiểm nhân thọ sẽ là một nguồn vốnrất quan trọng nhằm thoả mãn cơn khát về vốn của Việt Nam cho đầu t phát triểntrong nhiều thập kỷ tới

2.3- Đối với xã hội

Bảo hiểm Nhân thọ góp phần tạo lập nên một phong cách, tập quán sốngmới Tham gia Bảo hiểm Nhân thọ thể hiện một nếp sống đẹp đó là tự biết lo lắngcho tơng lai của mình và quan tâm đến tơng lai của ngời thân, đồng thời gópphần giáo dục cho con em mình về đức tính tiết kiệm, cần cù và sống có tráchnhiệm với ngời khác

Trang 9

Bảo hiểm nhân thọ góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội nh góp phầnxoá đói giảm nghèo bù đắp những tổn thất, bất hạnh trong cuộc sống và góp phầngiải quyết gánh nặng trách nhiệm cho xã hội đối với ngời lao động về hu và ngờigià.

Bên cạnh đó, Bảo hiểm nhân thọ góp phần to lớn vào việc giải quyết việclàm cho xã hội Bảo hiểm nhân thọ là ngành thu hút nhiều lao động hơn cả vì nócần có một mạng lới nhân viên đại lý khai thác bảo hiểm, máy tính, tài chính, kếtoán rất lớn

Vì vậy, việc phát triển Bảo hiểm nhân thọ sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làmcho ngời lao động Tại Việt Nam trong khi vấn đề lao động thất nghiệp đang trởthành vấn đề bức xúc đợc cả xã hội quan tâm thì sự ra đời và phát triển của Bảohiểm nhân thọ sẽ là một giải pháp rất có ý nghĩa Điều này có thể suy đoán từlĩnh vực bảo hiểm nhân thọ của các nớc khác: Chỉ tính riêng Công ty Bảo hiểmnhân thọ Manulife của Canada đã tuyển dụng tới 8000 ngời làm việc ở châu á,công ty Colonial Ltd của Autralia đã thu hút 17000 nhân viên khai thác, Đài loan

có dân số 21triệu ngời thì có 1% dân số làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm nhânthọ Thái Lan có 100000 ngời làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, HồngKông với dân số 6 triệu ngời có tới 30000 ngời làm đại lý bảo hiểm nhân thọ.Việt Nam đến cuối năm 1998 Bảo Việt nhân thọ đã tuyển 3785 cán bộ bán bảohiểm trực tiếp

Nói tóm lại: Qua những con số cụ thể chúng ta thấy rất rõ tác dụng của Bảohiểm nhân thọ và chắc chắn trong thời gian tới nó sẽ phát huy hết tính u việt gópphần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của nớc ta

II- Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ

trên thế giới và ở Việt Nam

1- Trên thế giới

Nh chúng ta đã biết, đối với các nớc trên Thế giới nhất là các nớc phát triển thì Bảo hiểm Nhân thọ không còn là vấn đề mới mẻ, nó đã đợc biết đến từ lâu và đợc triển khai một cách rộng rãi

Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đợc cấp cho một công dân ngời Anhvào năm 1583, đó là ông Willam Gybbons Ông chỉ phải đóng 32 bảng phí bảohiểm và khi ông chết (trong năm đó ) ngời thừa kế của ông đợc hởng số tiền 400bảng Hợp đồng đã kết thúc với lời cầu nguyện “Chúa hãy ban cho ông sức khoẻ

và cuộc sống lâu dài “

Công ty Bảo hiểm tơng hỗ đầu tiên là Hội bảo hiểm nhân thọ và hu trí, hộinày do các nhà buôn bán vải lụa thành lập ngày 4/10/1699 Nhng chỉ ít năm sau

đó đã bị thất bại, chìm đắm trong nợ nần Bảy năm sau, Công ty Bảo hiểm nhânthọ suốt đời đợc thành lập Nó giới hạn chỉ gồm 200 thành viên và quyền lợi bảo

Trang 10

hiểm theo một mức duy nhất và không quy định trớc, phụ thuộc vào số ngời chếttrong năm Trên cơ sở số tiền để dành đợc họ chia đều cho những ngời thừa kếcủa những ngời bị chết trong năm đó

Vào năm 1762 Công ty Bảo hiểm nhân thọ ở Anh đợc thành lập và bán hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ cho tất cả nhân dân, lần này họ tỏ ra thận trọng hơntrong việc quản lý các hợp đồng bảo hiểm Khi cần thiết họ đã sử dụng việc đánhgiá rủi ro đối với ngời tham gia bảo hiểm Vì vậy hợp đồng Bảo hiểm nhân thọcủa họ đảm bảo hơn trong tơng lai Đây là lần đầu tiên Bảo hiểm nhân thọ đợcthực hiện dựa trên nguyên tắc bảo hiểm hiện đại

ở Châu Mỹ, hội bảo hiểm tơng hỗ đầu tiên đợc thành lập là hội giúp đỡ

ng-ời nghèo, các mục s giáo hội trởng lão bị khốn cùng, những ngng-ời goá chồng, trẻcon của mục s Tổ chức này do hội nghị tôn giáo của các nhà thờ đề nghị và đã

đợc thành lập năm 1759 ở Philadephia Đây là Công ty Bảo hiểm nhân thọ lâu

đời nhất tồn tại trên thế giới mặc dầu ngày nay ngời ta chỉ đợc biết với cái tênngắn gọn: Quỹ của các mục s giáo hội trởng lão hay là quỹ nhân từ của các mục

s giáo hội trởng lão

Tại Châu Âu Bảo hiểm nhân thọ không thịnh vợng cho đến khi chủ nghĩa tbản đợc thừa nhận và toán học phát triển

Năm 1787 Công ty Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của pháp ra đời nhng đến 1792thì bị phá sản Vào tháng 12 năm 1819 Công ty Bảo hiểm nhân thọ khác đợcthành lập

ở Đức năm 1828, Công ty Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đợc ra đời và pháthành bảo hiểm tồn tích (tích luỹ)

Công ty Bảo hiểm nhân thọ Prudential của Anh đợc thành lập năm 1853 Nó làCông ty đi đầu trong công nghiệp bảo hiểm

Tại Châu á, Nhật Bản là nớc có Công ty Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên hoạt

động dới hình thức kinh doanh là Công ty Meij Sau bảy năm độc quyền, đếnnăm 1889 hai Công ty Bảo hiểm lớn ra đời đó là Công ty Bảo hiểm nhân thọTeikoku và Nippon

Các Công ty Bảo hiểm nhân thọ của Anh và Nhật đóng vai trò quan trọngtrong việc phát triển Bảo hiểm nhân thọ ở các nớc Châu á khác VD ở TriềuTiên, các Công ty Bảo hiểm nhân thọ của Anh hoạt động hầu hết trên khắp đất n-

ớc, cho đến năm 1905 thì Nhật Bản giành lại hoàn toàn quyền quản lý Bảo hiểmnhân thọ Trên đất nớc Triều Tiên, Công ty Bảo hiểm nhân thọ Sim đợc thành lậpnăm 1929, là Công ty duy nhất do ngời Triều Tiên quản lý Đến những năm củathập kỷ 60 nền công nghiệp Bảo hiểm nhân thọ hiện đại của Triều Tiên thực sựbắt đầu phát triển

ở Singapore, các Công ty Bảo hiểm nhân thọ của Anh đóng vai trò chính trongviệc phát triển kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, Công ty Bảo hiểm nhân thọ trong

Trang 11

nớc của Singapore ra đời năm 1908, công nghiệp Bảo hiểm nhân thọ củaSingapore thực sự phát triển vào năm 1965.

Nh vậy, Bảo hiểm nhân thọ trên thế giới ra đời từ rất lâu và nó đã trở thànhmột ngành dịch vụ không thể thiếu đợc trong cuộc sống của ngời dân

Thị trờng Bảo hiểm nhân thọ trên thế giới hiện nay phát triển mạnh nhất làNhật Bản, Mỹ, Tây âu Những nớc nh Mỹ, Nhật có hàng trăm công ty Bảo hiểmnhân thọ lớn hoạt động và cung cấp một khối lợng vốn rất lớn cho nền kinh tế.Hiện nay có rất nhiều công ty bảo hiểm nhân thọ nh John-Handcock (Mỹ),Prudential (Anh), Colonial (úc), Nippon (Nhật) có đội ngũ nhân viên hùng hậu

và hoạt động trên khắp các châu lục Các sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ rấtphong phú và đa dạng với hàng trăm tên gọi khác nhau, sự cạnh tranh trong thịtrờng này khá gay gắt, đôi khi quá đáng gây rắc rối khó chịu cho khách hàng.Ngày nay, mỗi Công ty Bảo hiểm nhân thọ đều thiết kế những sản phẩm mangtính đặc thù riêng để đáp ứng yêu cầu tài chính của từng khu vực dân c và phùhợp với chính sách kinh tế xã hội của từng quốc gia

Trên thế giới, cho tới thời điểm này doanh số của bảo hiểm nhân thọ chiếmkhoảng 50% tổng doanh số của toàn ngành bảo hiểm

Năm 1990, phí bảo hiểm nhân thọ ở Châu Mỹ chiếm 34,85%; Châu âu chiếm31,4%; Châu á là 33,8% so với tổng số phí bảo hiểm nhân thọ trên toàn thế giới Năm 1993, tổng số phí bảo hiểm của các nớc Đông á là 61,1 tỷ USD trong đóphí bảo hiểm nhân thọ là 45,1tỷ USD chiếm 73,8%, phí bảo hiểm phi nhân thọ là

16 tỷ USD chiếm 26,2%

Chúng ta có thể nhìn thấy sự lớn mạnh của Bảo hiểm nhân thọ so với Bảo hiểmphi nhân thọ và sự đóng góp của nó vào nền kinh tế của một số nớc đặc trng quabiểu sau :

Trang 12

Phí bảo hiểm của một số nớc trên thế giới năm 1993

Tên nớc

Tổng số phí bảo hiểm (triệu USD)

Cơ cấu phí bảo hiểm (%) Phí BHNT trên

đầu ngời (USD/

1000 ngời)

Tỷ lệ phí BHNT trên GDP (%)

Tỷ lệ phí BH phi NT trên GDP (%) Nhân

thọ

Phi nhân thọ

Nguồn: Swiss Re/3/1995

Nh vậy, ta thấy các nớc trong khu vực Đông Nam á mà nền kinh tế cónhững nét tơng đồng nh nớc ta: Thái Lan, Philippin, Malaisia, ở đó Bảo hiểmnhân thọ của họ có doanh số ngang bằng với Bảo hiểm phi nhân thọ Vì vậy,chúng ta có thể tin tởng rằng Bảo hiểm nhân thọ ở nớc ta chắc chắn sẽ phát triểnmạnh trong thời gian tới

2- ở Việt Nam

Sự ra đời của Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam đợc biết đến qua một số sựkiện sau:

Trớc năm 1954, ở Miền Bắc những ngời làm việc cho Pháp đã đợc bảo hiểm

và một số gia đình đã đợc hởng quyền lợi của các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọnày Các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ này đều do các Công ty Bảo hiểm củaPháp trực tiếp thực hiện

Trong những năm 1970, 1971 tại Miền Nam, Công ty Hng Việt đã triển khaimột số loại hình bảo hiểm nh : An Sinh Giáo Dục, Bảo hiểm trờng sinh (Bảohiểm nhân thọ trọn đời) Bảo hiểm tử kỳ với thời hạn 5,10,20 năm Công ty nàyhoạt động trong một thời gian ngắn nên hầu hết mọi ngời dân cha biết nhiều vềloại hình bảo hiểm này

Năm 1987, Bảo Việt đã tổ chức nghiên cứu đề tài : “Lý thuyết về bảo hiểmnhân thọ và sự vận dụng thực tế vào Việt Nam “ và đã đợc Bộ Tài chính côngnhận là đề tài cấp bộ Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp những lýthuyết cơ bản mà ngành Bảo hiểm nhân thọ trên Thế giới đã áp dụng, đồng thờinghiên cứu phân tích các điều kiện triển khai Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Namtrong điều kiện kinh tế xã hội những năm cuối thập kỷ 80 Việc triển khai Bảohiểm nhân thọ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà ở Việt Nam vào nhữngnăm cuối thập kỷ 80 cha có đợc nh:

+ Tỷ lệ lạm phát lúc đó rất cao và không ổn định

Trang 13

+ Thu nhập của nhân dân thời gian đó rất thấp Hơn thế nữa tỷ lệ lạm phátcao nên thu nhập của đa số nhân dân chỉ đủ để chi tiêu cho những nhu cầu tốithiểu thờng ngày, phần dành ra để tiết kiệm rất ít

+ Cha có điều kiện để đầu t phí bảo hiểm thu đợc Công ty Bảo hiểm lúc đócha đợc phép sử dụng phí bảo hiểm đi đầu t, môi trờng đầu t cha phát triển

+ Cha có những quy định mang tính chất pháp lý để điều chỉnh mối quan hệgiữa Công ty Bảo hiểm và khả năng thanh toán của Công ty Bảo hiểm

Với những phân tích trên, việc vận dụng đề tài này chỉ dừng lại ở mức độtriển khai Bảo hiểm sinh mạng cá nhân thời hạn 1năm (Bắt đầu triển khai từtháng 2 năm 1990) So với loại hình Bảo hiểm con ngời mà Bảo Việt triển khai tr-

ớc đây thì phạm vi bảo hiểm đã đợc mở rộng (Chết do mọi nguyên nhân ) Thực

tế triển khai bảo hiểm sinh mạng cá nhân cho thấy :

+ Việc lo xa cho gia đình khi không may ngời chủ gia đình bị mất đi mà chỉtính đến trong vòng một năm là không hấp dẫn Tâm lý ngời tham gia loại hìnhbảo hiểm này cũng không thoải mái Do đó loại hình bảo hiểm này chỉ đáp ứngnhu cầu của những ngời già

+ Mọi ngời tham gia bảo hiểm đều thắc mắc là sau 5,10 năm tham gia bảohiểm mà không có rủi ro thì có nhận lại đợc gì không ?

Với thực tế trên, cùng với việc đánh giá các điều kiện kinh tế xã hội ViệtNam trong những năm đầu thập kỷ 90, Bảo Việt đã bắt đầu tiến hành nghiên cứutriển khai Bảo hiểm nhân thọ vào cuối năm 1993 Ngày 20/3/1996 Bộ Tài chính

ký quyết định cho phép Bảo Việt triển khai hai loại hình Bảo hiểm nhân thọ đầutiên là:Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5,10 năm và Bảo hiểm trẻ em

Ngày 22/6/1996 Bộ Tài chính đã ký quyết định số 568/QĐ/TCCB cho phépthành lập Công ty Bảo hiểm nhân thọ trực thuộc Bảo Việt Sự kiện đó đánh dấumột bớc ngoặt mới trong sự phát triển của ngành Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam

Nh vậy, kể từ khi đợc triển khai loại hình Bảo hiểm nhân thọ đến năm 1999 thìBảo Việt vẫn là doanh nghiệp Bảo hiểm duy nhất đợc phép kinh doanh nghiệp vụnày Qua gần 4 năm hoạt động ta thấy Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam phát triểntơng đối mạnh Điều này đợc thể hiện qua một số chỉ tiêu mà Bảo hiểm nhân thọcủa Bảo Việt đã đạt đợc từ khi thành lập tới nay

Kết quả hoạt động bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt

Trang 14

Nguồn: Tổng hợp báo cáo tổng kết của Bảo Việt Nhân thọ từ 1996 đến 1999

Năm 1999 đã có dấu hiệu phục hồi của các nền kinh tế khu vực sau cuộckhủng hoảng tài chính Đặc biệt cùng với tiến trình hội nhập, Chính phủ đã chophép một số Công ty Bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài hoạt động tại Việt Nam

Sự có mặt của các Công ty Bảo hiểm nớc ngoài đã làm cho thị trờng Bảo hiểmViệt Nam trở lên sôi động hơn, đồng thời cũng đặt các Công ty bảo hiểm trong n -

ớc những thách thức không nhỏ trong đó có Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà Nội Năm 2000 là năm khởi đầu của thiên niên kỷ mới với nhiều thuận lợi nhngcũng đầy khó khăn: Bảo Minh đã liên kết với Công ty Bảo hiểm nhân thọColonial Ltd của Australia để thành lập một liên doanh bảo hiểm nhân thọ,Prudential là một công ty đi đầu trong công nghiệp bảo hiểm nói chung và Bảohiểm nhân thọ nói riêng đã rầm rộ triển khai chiến lợc quảng cáo Vì vậy từ năm

2000 công ty Bảo Việt nhân thọ cần phải năng động hơn, tích cực hơn, có những

đối sách kịp thời để đáp ứng tốt cho sự phát triển trong điều kiện cạnh tranh

III Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm nhân thọ

1- Đặc trng của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

độ tuổi nhất định nào đó Do đó Công ty Bảo hiểm phải sử dụng các số liệu thống

kê của cộng đồng nói chung hoặc của các Công ty Bảo hiểm nói riêng để tínhtoán các xác suất về thơng tật, rủi ro chết, chi phí y tế bệnh viện Dựa vào sựphát triển kinh tế, xã hội mà Công ty Bảo hiểm còn đa ra các giả thiết về lãi suất

Trang 15

kỹ thuật để tính toán khả năng đảm bảo cho những trờng hợp ngời đợc bảo hiểmsống đến hết hạn hợp đồng Việc tính toán nói trên đòi hỏi cán bộ tính toán phải

có kiến thức nhất định mới đảm bảo cho Công ty Bảo hiểm không bị thua lỗ và

đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng

Chúng ta có thể nhận thấy đặc trng của Bảo hiểm nhân thọ qua sự phân biệtgiữa Bảo hiểm nhân thọ và Bảo hiểm phi nhân thọ dới đây: (Trang sau)

Trang 16

Bảng phân biệt giữa Bảo hiểm nhân thọ với Bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ

1 Phạm vi bảo hiểm:

Con ngời

2 Thời hạn bảo hiểm:

5, 10, 20 năm hoặc suốt đời

3 Phí bảo hiểm:

a Nhân tố ảnh hởng:

- Thời gian tham gia

- Số tiền bảo hiểm

- Tỷ lệ lãi kỹ thuật

- Xác suất tử vong

b Đóng phí: Có thể đóng theo

tháng, quý, nửa năm, một năm

4 Quyền lợi bảo hiểm:

Đợc chi trả tiền bảo hiểm trong

Vừa mang tính chất rủi ro vừa mang

tính chất tiết kiệm

- Xác suất rủi ro

- Số tiền bảo hiểm

- Chế độ bảo hiểm

b Đóng phí: Thờng là đóng phí mộtlần ngay sau khi ký hợp đồng

4 Quyền lợi bảo hiểm:

Chỉ đợc bồi thờng tổn thất trong giớihạn hợp đồng khi có tổn thất xảy ra

5 Tính chất:

Hoàn toàn mang tính rủi ro

Trên đây là những khác biệt chung nhất giữa Bảo hiểm nhân thọ và Bảohiểm phi nhân thọ Song để công tác đánh giá rủi ro có hiệu quả và sát thực cần

phải có những điểm lu ý trong Bảo hiểm nhân thọ

1.1- Những ngời có mặt trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

- Công ty Bảo hiểm (nhà Bảo hiểm)

- Ngời ký (ngời tham gia) tức là ngời đã ký hợp đồng với nhà bảo hiểm ờng thì đó là ngời đợc bảo hiểm nhng đôi khi không phải thế Ví dụ, bố mẹ thamgia cho con cái

th Ngời đợc bảo hiểm là ngời mà cuộc sống của họ gắn liền với hợp đồng Bảohiểm nhân thọ

- Một hoặc nhiều ngời đợc hởng quyền lợi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Trang 17

Khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đợc ký kết nhà bảo hiểm phải gắn với hợp

đồng mà không đợc từ bỏ trớc khi hết hạn hợp đồng, còn ngời tham gia thì khôngbắt buộc phải nh vậy Bởi lẽ, các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trong trờng hợpsống thờng là các hợp đồng dài hạn đợc các cá nhân ký kết Nguồn thu nhập củagia đình họ có thể thay đổi do vậy họ có thể không tiếp tục duy trì hợp đồng cho

Trong Bảo hiểm nhân thọ các mối quan hệ giữa ngời ký hợp đồng, ngời đợcbảo hiểm, ngời thừa hởng quyền lợi bảo hiểm là phức tạp và mang tính chấtnguyên tắc hơn rất nhiều so với các loại hình bảo hiểm khác

1.3- Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ rất nhậy cảm với các thông số mà chúng phụ thuộc nh:

Các khoản lợi tức tài chính sinh ra bởi các khoản tiền mà nhà bảo hiểm đã

đợc nhận Tuổi thọ của con ngời và biến động của chúng theo thời gian

1.4- Trong bảo hiểm con ngời hầu hết các trờng hợp không áp dụng nguyên tắc bồi thờng và nguyên tắc khoán vì:

Thứ nhất là: Trong Bảo hiểm trờng hợp tử vong, nhà bảo hiểm sẽ trả số tiền

bảo hiểm khi ngời đợc bảo hiểm chết Liệu có thể xác định đợc số tiền này mộtcách khách quan không? chắc chắn khái niệm giá cả không thể áp dụng cho conngời đợc, tính mạng của con ngời là vô giá

Thứ hai là: Một ngời đợc bảo hiểm muốn gia đình hay ngời thân của anh ta

hởng một khoản tiền nhất định nào đó còn tuỳ thuộc vào thu nhập, hoàn cảnh gia

đình của mình Anh ta có quyền ấn định một khoản tiền bồi thờng vào thời điểm

ký hợp đồng với nhà bảo hiểm Nh vậy bảo hiểm trong trờng hợp tử vong khôngnhằm vào việc bồi thờng một thiệt hại và trong phạm vi một thiệt hại Hơn nữa,trong nhiều loại hình bảo hiểm con ngời nh bảo hiểm hu trí chẳng hạn, biến cốdẫn đến nghĩa vụ của ngời bảo hiểm không có bản chất thiệt hại Cho nên kháiniệm thiệt hại không thể sử dụng trong bảo hiểm con ngời

Nhìn chung, việc giải quyết tổn thất trong bảo hiểm con ngời là một số tiền

đợc ấn định trớc và tách biệt với khái niệm bồi thờng Đó là nguyên tắc khoán

đ-ợc áp dụng trong hầu hết các loại hình bảo hiểm con ngời, loại trừ trờng hợp hoàn

Trang 18

trả các khoản chi phí y tế, khi bị bệnh hoặc tai nạn Bảo hiểm ở đây mang tínhchất bồi thờng vì nhà bảo hiểm bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm giá của sự chămsóc thuộc trách nhiệm của anh ta.

1.5- Không có sự thế quyền trong Bảo hiểm nhân thọ

Cùng một lúc khách hàng có thể tham gia nhiều loại hình Bảo hiểm conngời và nếu có xảy ra sự cố nào đó thuộc phạm vi bảo hiểm của nhiều hợp đồngthì họ đợc nhận tất cả các khoản bồi thờng từ các hợp đồng khác nhau Ngời đợchởng quyền lợi từ ngời từ bảo hiểm con ngời có thể đồng thời nhận đợc cáckhoản bồi thờng từ các hợp đồng mà chính họ tham gia và khoản bồi thờng củangời gây ra thiệt hại

Nh vậy, nếu bảo hiểm nhân thọ có những điểm tơng đồng với những loạihình bảo hiểm con ngời thì nó lại có những khác biệt rất lớn với các loại hình bảohiểm phi nhân thọ khác Chính điều này đã làm cho việc đánh giá rủi ro trongbảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng có những điểm khác biệt 2- Các loại hình bảo hiểm nhân thọ.

ở các nớc trên Thế giới, hầu hết các Công ty Bảo hiểm nhân thọ đều đangbán 4 loại sản phẩm chính là:

- Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn

- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời

- Bảo hiểm trợ cấp hu trí

- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

2.1- Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn.

Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn đúng nh tên gọi của nó: Nhà bảo hiểmnhận bảo hiểm đối với ngời tham gia trong một thời gian nhất định gọi là thờihạn bảo hiểm Số tiền bảo hiểm chỉ đợc thanh toán trong trờng hợp ngời đợc bảohiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm Nếu ngời đợc bảo hiểm sống qua thời hạnbảo hiểm sẽ không đợc thanh toán bất cứ khoản gì Độ dài của thời hạn bảo hiêmrất khác nhau Tuy nhiên, ngày nay thời hạn bảo hiểm của loại sản phẩm này ítkhi dới 1 năm

a) Đặc điểm cơ bản của loại sản phẩm bảo hiểm sinh mạng có thời hạn là:

+ Số tiền bảo hiểm trả một lần khi ngời đợc bảo hiểm chết trongthời hạn bảo hiểm

+ Thời hạn bảo hiểm đợc xác định theo năm hoặc theo tuổi

+ Phí bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm và đóng

định kỳ

+ Không có giá trị giải ớc: Nếu còn sống qua thời hạn bảo hiểm thìkhông đợc hởng quyền lợi bảo hiểm hoặc huỷ bỏ hợp đồng trớc khi kết thúc hợp

đồng sẽ không nhận đợc bất cứ một khoản nào Chính vì vậy mà phí bảo thấp

+ Cung cấp một số tiền bảo hiểm lớn với phí bảo hiểm thấp

Trang 19

+ Phù hợp với ngời có thu nhập thấp nhng cần đảm bảo trách nhiệmcao.

b)Các sản phẩm thông thờng của loại hình này đợc các công ty trên thế giới

đang triển khai đó là:

+ Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn với số tiền bảo hiểm cố định (Bảohiểm tử kỳ)

+ Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn có số tiền bảo hiểm giảm dần + Bảo hiểm tiền vay

+ Bảo hiểm cho những ngời chủ chốt trong doanh nghiệp

2.2- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời

Đây là loại hình có thời hạn bảo hiểm không xác định và số tiền bảo hiểmchỉ đợc trả khi ngời đợc bảo hiểm chết Bảo hiểm nhân thọ trọn đời kết hợp yếu

tố tiết kiệm với rủi ro và không trả thêm bất cứ quyền lợi nào

a) Đặc điểm chính của loại hình bảo hiểm này có thể rút ra là:

+ Số tiền bảo hiểm trả một lần khi ngời đợc bảo hiểm chết + Thời hạn không xác định

+ Phí bảo hiểm đợc đóng định kỳ và không thay đổi b) Các sản phẩm của loại hình này là:

+ Hợp đồng bảo hiểm trọn đời trong đó phí bảo hiểm đóng đến khi

ng-ời đợc bảo hiểm bị chết (Hợp đồng đóng phí liên tục)

+ Hợp đồng bảo hiểm trọn đời trong đó phí bảo hiểm đóng định kỳ và

đến một độ tuổi nhất định (Hợp đồng đóng phí hạn chế)

+ Hợp đồng có số phí bảo hiểm thay đổi

+ Hợp đồng có số tiền bảo hiểm thay đổi

+ Hợp đồng bảo hiểm trọn đời có chia lãi

+ Hợp đồng bảo hiểm trọn đời không chia lãi

2.3- Bảo hiểm trợ cấp hu trí

Là loại hình mà phí bảo hiểm đợc đóng ngay một lần Sau đó, Công ty Bảohiểm có trách nhiệm trả trợ cấp định kỳ cho ngời đợc bảo hiểm từ khi ngời đợcbảo hiểm về hu cho đến khi chết

Ngời ta thờng kết hợp dạng bảo hiểm trợ cấp hu trí với bảo hiểm hu trí Khi về

hu, ngời đợc bảo hiểm nhận số tiền bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm hu trí vàmua ngay hợp đồng trợ cấp hu trí để đảm bảo cuộc sống khi về hu cho đến khichết

2.4- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp đảm bảo rằng số tiền bảo hiểm đ ợctrả mà không quan tâm đến việc ngời đợc bảo hiểm có bị chết trong thời hạn bảohiểm hay không với điều kiện ngời đợc bảo hiểm phải đóng phí theo nh quy định.Mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp đều quy định ngày hết hạn bảo hiểm

Trang 20

Vào ngày đó công ty bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm nếuanh ta còn sống Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc khi hết hạn hợp đồng thì sốtiền bảo hiểm sẽ đợc trả cho ngời đợc hởng quyền lợi vào ngày ngời đợc bảohiểm chết

Nh vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp trả số tiền bảo hiểm ấn định dùngời đợc bảo hiểm vẫn còn sống đến ngày đáo hạn của hợp đồng hoặc chết trớckhi hết hạn hợp đồng Ngày hết hạn hợp đồng có thể là ngày cuối cùng của mộtthời hạn nào đó ví dụ sau 5,10,20 năm Phí bảo hiểm đóng cho loại bảo hiểm nàycũng không đổi trong suốt thời hạn hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thểhiện rõ sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm

a) Đặc điểm chính của loại hình bảo hiểm này có thể rút ra là:

Số tiền bảo hiểm đợc trả khi :

+ Hết hạn hợp đồng

+ Ngời đợc bảo hiểm chết trong thời hạn bảo hiểm

+ Thơng tật toàn bộ vĩnh viễn

+ Thời hạn bảo hiểm xác định ,thờng là 5,10,20 năm

+ Phí bảo hiểm đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm + Có giá trị giải ớc

b)Các sản phẩm của loại hình này thông thờng là:

+ Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thời hạn và có chia lãi

+ Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thời hạn và không chia lãi

+ Bảo hiểm chi phí giáo dục cho trẻ em

+ Bảo hiểm hu trí

+ Bảo hiểm hôn nhân

3- Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ là một văn bản ghi nhân sự cam kết giữa Công

ty Bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm trong đó Công ty Bảo hiểm có tráchnhiệm trả số tiền bảo hiểm khi xảy ra những sự kiện quy định trớc: Thơng tật,chết, hết hạn hợp đồng, sống đến một độ tuổi nhất định, kết hôn Ngời tham giabảo hiểm có trách nhiệm đóng phí đầy đủ và đúng hạn

Từ đây, ta có thể phân biệt giữa hợp đồng bảo hiểm và đơn bảo hiểm để tránh

sự nhầm lẫn

+ Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận hợp pháp giữa các bên có liên quan.+ Đơn bảo hiểm là một bằng chứng về một hợp đồng bảo hiểm do ngời bảohiểm cấp ra trên cơ sở nội dung của hợp đồng bảo hiểm

Theo quy định thì đối tợng của Bảo hiểm nhân thọ là tất cả những ngờitrong độ tuổi từ 1 đến 60 Với đối tợng trên thì ngời tham gia bảo hiểm nhân thọ

có thể tham gia bất cứ loại hình nào theo nguyện vọng và yêu cầu của mình Khitham gia bảo hiểm thì ngời tham gia phải viết giấy yêu cầu bảo hiểm Giấy này là

Trang 21

một bộ phận của hợp đồng bảo hiểm, trong giấy này ngời tham gia phải kê khai

đầy đủ: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật Và đây là căn

cứ để Công ty Bảo hiểm có chấp nhận bảo hiểm hay không?

Để tìm hiểu về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì chúng ta cần làm rõ một loạt các vấn đề sau có liên quan đến hợp đồng

* Ng ời đ ợc bảo hiểm ,ng ời đ ợc h ởng quyền lợi bảo hiểm và ng ời tham gia bảohiểm

Ngời đợc bảo hiểm: Là ngời mà sinh mạng và cuộc sống của họ đợc bảo hiểm

theo điều khoản của hợp đồng và có tên trong giấy yêu cầu bảo hiểm, phụ lục củahợp đồng bảo hiểm

Ngời tham gia bảo hiểm: Là ngời kê khai giấy yêu cầu bảo hiểm, ký kết hợp

đồng bảo hiểm và nộp phí bảo hiểm

Tuy vậy, trong các hợp đồng cá nhân, ngời tham gia bảo hiểm và ngời đợc bảohiểm là hai ngời khác nhau, chỉ khi ngời đợc bảo hiểm cha đến tuổi thành niên(Hợp đồng An Sinh Giáo Dục )

Ngời đợc hởng quyền lợi bảo hiểm: Là ngời đợc nhận số tiền bảo hiểm hoặc

các khoản trợ cấp do khác do công ty bảo hiểm thanh toán Ngời đợc hởng quyềnlợi bảo hiểm thông thờng là: Ngời đợc bảo hiểm, những ngời thân thích, ngời dongời đợc bảo hiểm chỉ định, ngời thừa kế hợp pháp của ngời đợc bảo hiểm

Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ).

Hiệu lực của hợp đồng này đợc tính từ ngày nộp phí bảo hiểm đầu tiên Nếunộp phí theo tháng thì phí bảo hiểm đầu tiên là số phí của tháng đầu tiên Nếunộp theo quý, nửa năm, một năm thì phí bảo hiểm đầu tiên là số phí của quý, nửanăm, năm đầu tiên Ngày nộp phí này phải đợc ghi vào hợp đồng

Tai nạn và thơng tật toàn bộ vĩnh viễn.

Tai nạn là bất kỳ một thiệt hại thân thể nào do hậu quả duy nhất và trực tiếpcủa một lực mạnh bất ngờ từ bên ngoài tác động lên ngời đợc bảo hiểm

Chính vì vậy, một loạt các sự cố sau không thuộc khái niệm này: ngộ độc thức

ăn, trúng gió bất ngờ, viêm nhiễm do virus

Thơng tật toàn bộ vĩnh viễn là trờng hợp mà ngời đợc bảo hiểm bị mất hoàntoàn và không thể phục hồi chức năng của :

+ Hai tay: hoặc + Hai chân: hoặc+ Một tay,một chân:hoặc+ Hai mắt:hoặc

+ Một tay và một mắt:hoặc+ Một chân và một mắt

Do vậy, những trờng hợp sau không thuộc phạm vi của thơng tật toàn bộ vĩnhviễn và không phải nguyên nhân gây ra thơng tật toàn bộ vĩnh viễn

Trang 22

+ Hành động cố ý của ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời tham gia bảohiểm

+ Anh hởng của rợu, bia, ma tuý

+ Hành động tội phạm của ngời đợc bảo hiểm

+ Chiến tranh,nội chiến,nổi loạn,bạo động

Số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là số tiền ngời tham gia bảo hiểm đăng ký, lựa chọn màcũng là số tiền bảo hiểm mà Công ty Bảo hiểm thanh toán cho ngời đợc hởngquyền lợi bảo hiểm khi có sự cố xảy ra đối với ngời đợc bảo hiểm

Tuy vậy, trong bảo hiểm nhân thọ còn có hai khái niệm liên quan đến số tiềnbảo hiểm đó là:

* Số tiền bảo hiểm giảm:

Khi hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến một khoảng thời gian nào đó theo quy

định của mỗi Công ty Bảo hiểm, ngời tham gia bảo hiểm có thẻ dừng đóng phí vàhợp đồng bảo hiểm vẫn tiếp tục có hiệu lực với số tiền bảo hiểm mới nhỏ hơn sốtiền tham gia bảo hiểm ban đầu Số tiền bảo hiểm này gọi là số tiền bảo hiểmgiảm

Số tiền bảo hiểm giảm trong các trờng hợp sau

+ Ngời kê khai tuổi tham gia bảo hiểm có sự sai lệch nhất định sovới giấy khai sinh

+ Vì một lý do nào đó mà ngời tham gia không có khả năng nộp phítrong một thời gian nhất định

+ Do mức phí bảo hiểm quá cao, ngời tham gia chỉ đáp ứng đợcnhững tháng, quý đầu, sau đó xin phép yêu cầu giảm phí

và là một trong những điều kiện cơ bản để tính phí bảo hiểm

Cơ sở để tính tuổi là giấy khai sinh, chứng minh th hoặc sổ hộ khẩu

VD1:

Ngày sinh 25/07/1992Ngày đợc nhận bảo hiểm 02/08/1998Tuổi: 5 tuổi (Tính theo ngày sinh nhật của năm 1997)VD2:

Ngày sinh 15/08/1953Ngày đợc nhận bảo hiểm 10/03/1996

Trang 23

Tuổi: 43 tuổi (Tính theo ngày sinh nhật của năm 1996) Tr

ờng hợp công ty bảo hiểm phát hiện khai nhầm tuổi thì sẽ xử lý nh sau :_ Nếu tuổi thật nhiều hơn tuổi đã khai, nhng tính tại thời điểm bắt đầu đợcnhận bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm vẫn ở trong độ tuổi đợc nhận bảo hiểm thìCông ty Bảo hiểm sẽ tính lại số tiền bảo hiểm và giữ nguyên mức phí bảo hiểm.Lúc đó giá trị của số tiền bảo hiểm sẽ bị giảm đi Nếu tại thời điểm bắt đầu nhậnbảo hiểm mà ngời đợc bảo hiểm đã ở ngoài độ tuổi nhận bảo hiểm thì hợp đồngbảo hiểm bị huỷ bỏ và công ty bảo hiểm chỉ hoàn lại cho ngời tham gia bảo hiểmmột tỷ lệ phí nhất định đã nộp

_ Nếu tuổi thật ít hơn tuổi đã khai Nh vậy,ngời tham gia bảo hiểm đã nộp phícao hơn mức phí theo tuổi đúng Lúc đó công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại số phí thừa

đã nộp và giữ nguyên mức số tiền bảo hiểm Mức phí định kỳ sẽ nộp trong nhữnglần sau đợc tính theo tuổi đúng

* Phí bảo hiểm nhân thọ

Phí bảo hiểm nhân thọ đợc tính dựa trên bốn yếu tố sau:

+ Tỷ lệ tử vong + Chi phí + Đầu t+ Các trờng hợp đột biến

Tỷ lệ tử vong có liên quan tới điều mà chúng ta gọi là rủi ro chết Các chuyênviên tính phí bảo hiểm đã soạn thảo ra một bảng tỷ lệ tử vong tổng hợp chonhững ngời có độ tuổi khác nhau Các bảng này cho chúng ta biết số ngời trongnhóm còn sống qua một số năm nhất định Những bảng này đã dựa trên nhữngcon số rất lớn và chính xác khi sử dụng cho nhiều ngời Theo cách này,khai thácviên bảo hiểm nhân thọ sẽ có thể xác định rủi ro phải thanh toán Đó có thể là rủi

ro khiếu nại phát sinh khi một ngời chết hay rủi ro phải thanh toán cho một khiếunại theo hợp đồng nhân thọ hỗn hợp có kỳ hạn do ngời đợc bảo hiểm còn sốngsau một số năm nhất định

phần II công tác phân loại, lựa chọn và đánh giá

rủi ro trong bảo hiểm nhân thọ

Trang 24

I Phân loại rủi ro

1- Các khái niệm

1.1: Định nghĩa rủi ro:

Đối với hầu hết mọi ngời rủi ro ám chỉ một số hình thức không chắc chắn vềhậu quả của một số tình huống nhất định, tạm thời cha nói đến ý nghĩa của từ

“không chắc chắn “, chúng ta thờng hiểu rõ mình định nói gì khi dùng thuật ngữrủi ro trong câu chuyện hàng ngày Nghĩa là một sự kiện có thể xảy ra, nếu đãxảy ra hậu quả của nó có thể không có lợi cho chúng ta, hoặc không phải là kếtquả mà chúng ta mong đợi Từ rủi ro không những ám chỉ mối ngờ vực trong t-

ơng lai mà còn ám chỉ cả một thực tế là hậu quả có thể khiến chúng ta sẽ lâm vàohoàn cảnh khó khăn hơn so với hiện tại

Xung quanh định nghĩa rủi ro có rất nhiều khái niệm khác nhau Cụ thể cáckhái niệm đó đợc phát biểu nh sau:

-Rủi ro là khả năng xảy ra của một sự cố không may

-Rủi ro là tập hợp các hiểm hoạ

-Rủi ro là sự không thể đoán trớc đợc một khuynh hớng dẫn đến kết quả thực

tế khác với kết quả dự đoán

-Rủi rolà sự không chắc chắn về tổn thất

-Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất

Khi nghiên cứu định nghĩa này dờng nh có mối quan hệ giữa chúng với nhau

Thứ nhất: Các định nghĩa này đều đề cập đến sự không chắc chắn mà chúng ta

coi là mối ngờ vực đối với tơng lai

Thứ hai: ở đây ngời ta cũng ám chỉ rằng những cấp độ hay mức độ rủi ro là

khác nhau Việc sử dụng những từ nh: khả năng và không thể đoán trớc đợc dờng

nh để chỉ ra mức độ nào đó không chắc chắn do có mối ngờ vực nói trên

Thứ ba: Các định nghĩa đều nói đến hậu quả do một hay nhiều nguyên nhân

gây ra.Điều này dờng nh có mối quan hệ chặt chẽ với định nghĩa mà chúng ta đã

sử dụng trớc đó, theo định nghĩa này rủi ro là sự không chắc chắn về hậu quảtrong một tình huống cụ thể

Vậy: Trong bảo hiểm nói chung: Rủi ro là một sự kiện có thể xảy ra hoặckhông xảy ra xuất phát từ ý tởng là sự ngờ vực đối với tơng lai Sự kiện đó có thểxảy ra ở mức độ khác nhau do hậu quả của một hay nhiều nguyên nhân Có hoặckhông có tổn thất mà ngời ta không thể dự đoán đợc chính xác Cũng có thể nóirủi ro là sự kiện không chắc chắn có liên quan đến tổn thất phải gánh chịu trongtơng lai

Rủi ro trong bảo hiểm nhân thọ: là những thiệt hại về tính mạng và thơng tậtcủa ngời đợc bảo hiểm, ngời tham gia bảo hiểm mà Công ty Bảo hiểm phải trảtiền theo những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng bảo hiểm

Trang 25

1.2: Mức độ rủi ro:

Sẽ không hợp lý nếu chúng ta cho rằng khả năng xảy ra của mọi rủi ro là nhnhau Khi nghiên cứu mức độ rủi ro chúng ta cần xem xét hai nhân tố:

- Xác suất rủi ro (tần số rủi ro)

- Tính khốc liệt của tổn thất (mức độ nghiêm trọng của rủi ro)

Xác suất rủi ro: là khả năng xảy ra của một sự kiện Nó có thể đợc xác địnhtheo ba cách:

* ấn định trớc: đợc xác định khi biết đợc tổng số sự kiện có thể xảy ra

VD: khi lắc con xúc xắc, xác suất có đợc mặt 5 chấm là 1/6

* Dựa vào thực nghiệm: đợc xác định trên cơ sở các dữ liệu theo thời gian Cóthể đợc xác định một cách tơng đối chính xác theo quy luật số đông

VD: Một công ty vận tải điều hành 1000 chiếc xe, trung bình mỗi năm gặpphải 50 vụ tai nạn, tức là xác suất xảy ra là 50/1000

* Dựa vào phán quyết: Đợc xác định dựa trên cơ sở dự đoán của một ngời vềkết quả xảy ra Phơng pháp này dùng đến khi thiếu các dữ kiện lịch sử hay các dữkiện thống kê tin cậy Trên thực tế các Công ty Bảo hiểm sử dụng các khả năngdựa vào thực nghiệm và khả năng dựa vào phán quyết để dự đoán các tổn thất cóthể xảy ra trong tơng lai Nh vậy để đánh giá rủi ro ngời ta dùng hai tiêu thức:tần số lặp lại và mức độ nghiêm trọng của rủi ro

a Tr ờng hợp thứ nhất : Tần số cao nhng mức độ thiệt hại không nghiêm trọng

VD: Hàng năm có nhiều tai nạn giao thông, nhng không phải tai nạn nào cũngdẫn đến tử vong Mức độ thiệt hại trong trờng hợp này đợc đánh giá thấp và cóthể chấp nhận bảo hiểm đợc

Biểu đồ tam giác Heinrich- sau khi thống kê vài nghìn vụ thiệt hại và nghiêncứu cho ra kết quả nh sơ đồ (Theo sách của David Bland)

Tần số thấp nhng mức độ thiệt hại lớn

VD: Máy bay là một phơng tiện giao thông hoàn hảo, kỹ thuật tối tân , rất ítxảy ra tai nạn, nhng một khi xảy ra tai nạn thì thiệt hại về ngời và vật chất rất lớn

Trang 26

Đối với các trờng hợp này, khi nhận bảo hiểm các nhà bảo hiểm nghĩ ngay đếnvấn đề phân tán và chia sẻ rủi ro thông qua tái bảo hiểm.

1.3: Những khái niệm liên quan đến rủi ro:

Chúng ta thờng dùng từ rủi ro để chỉ cả sự cố gây ra tổn thất và những nhân

tố có thể làm ảnh hởng đến hậu quả của tổn thất Vì thế khi “đánh giá tổn thấthay đánh giá rủi ro “ cần phải nhớ rằng có ít nhất hai khía cạnh cần quan tâm đó

là hiểm hoạ và nguy cơ

Điều này sẽ đợc làm sáng tỏ khi xem xét ví dụ về 2 ngôi nhà nằm trên bờsông cũng nh khả năng xảy ra tổn thất khi có lụt lội

Ví dụ: Giả sử có một ngôi nhà nằm trên bờ một con sông và con sông này nổitiếng là hay bị tràn bờ khi lũ lụt xảy ra Hậu quả trong tơng lai hoàn toàn khôngchắc chắn đợc bởi vì không ai có thể khẳng định liệu nớc sông có tràn bờ và gâythiệt hại cho ngôi nhà hay không Điều đáng nói ở đây là rủi ro chính là thiệt hại

do lụt lội gây ra, và lụt lội là nguyên nhân gây ra tổn thất

Trong trờng hợp này, lụt lội đợc gọi là hiểm hoạ Vậy hiểm hoạ là nhân tốcấu thành rủi ro, là nguyên nhân chính gây ra tổn thất

Thông thờng hiểm hoạ nằm ngoài tầm kiểm soát của ngững ngời có liênquan, chẳng hạn nh bão, lụt lội, hoả hoạn, trộm cắp, tai nạn xe cộ, bệnh tật, tửvong, động đất, núi lửa phun đều là những hiểm hoạ

Hiểm hoạ có thể gây thiệt hại đến một lĩnh vực lớn hoặc cho nhiều ngời.Các hiểm hoạ cùng loại có thể kết hợp dẫn đến thảm hoạ

Những nhân tố có thể làm ảnh hởng đến hậu quả của tổn thất đợc coi lànhững nguy cơ Bản thân nguy cơ không phải là nguyên nhân dẫn đến tổn thấtsong chúng có thể làm tăng hoặc giảm khi hiểm hoạ xảy ra

Quay trở lại ví dụ trên chúng ta thấy: Việc dòng sông nổi tiếng nay bị tràn

bờ làm gia tăng khả năng xảy ra thiệt hại khi có lũ lụt Nh vậy thuật ngữ “cónguy cơ gặp rủi ro “ có thể dùng để chỉ khả năng gia tăng này

Để rõ hơn, ta hãy hình dung có một ngôi nhà thứ hai nằm trên quả đồi dốc,cách xa bờ sông hơn so với ngôi nhà đã nói trên Ngôi nhà thứ hai này đ ợc coitrong tình trạng ít “có nguy cơ gặp rủi ro “hơn Khả năng dòng sông tràn bờ vẫngiữ nguyên trong khi khả năng thiệt hại gây ra cho ngôi nhà thấp hơn nhiều.Nói tóm lại, nguy cơ (Hazard) là thuật ngữ dùng để ám chỉ những điều kiệnphối hợp có tác động làm tăng hoặc giảm khả năng xảy ra tổn thất Vì vậy việcxem xét nguy cơ có một ý nghĩa quan trọng khi một Công ty Bảo hiểm quyết

định có nên nhận bảo hiểm một số rủi ro hay không và nếu có thì mức phí bảohiểm là bao nhiêu

Nguy cơ có thể là nguy cơ “vật chất “ hoặc nguy cơ “tinh thần “

Trang 27

Nguy cơ vật chất (physical hazard) liên quan tới khía cạnh vật chất Chẳnghạn nh phơng thức xây dựng một toà nhà, bảo vệ an ninh trong một cửa hàng,việc các ngôi nhà nằm cạnh bờ sông hay bị tràn bờ khi lụt lội

Nguy cơ tinh thần (moral-hazard) liên quan tới một số khía cạnh mang tínhcon ngời có thể làm ảnh hởng đến hậu quả, thông thờng nguy cơ tinh thần đợcdùng để chỉ thái độ hay cách c xử của ngời tham gia bảo hiẻem và ngời đợc bảohiểm

1.4: Phân loại rủi ro:

Rủi ro có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân, có thể gây ra hậu quả hoặckhông Mức độ có thể nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng, tổn thất có thể vềvật chất hoặc về tinh thần Vì vậy cần phân loại rủi ro

Trong bảo hiểm nói chung: Rủi ro thờng đợc chia thành những loại sau:

b Rủi ro phi tài chính:

Là những rủi ro gây sự ảnh hởng chủ yếu về mặt tinh thần và những vấn đềxã hội, vì thế việc xác định hậu quả bằng một giá trị tài chính là không thể thựchiện đợc

VD: Việc lựa chọn phải món ăn không đạt yêu cầu, hay chỗ ngồi xem không ngý đều có thể tạo cho ta những tình huống mà hậu quả không phải là cái ngời tamong đợi ở đây điều chủ yếu là hậu quả không thể đo lờng đợc về mặt tài chính.Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, ngời ta chủ yếu quan tâm đến nhữngrủi ro mà hậu quả của chúng có thể tính toán đợc bằng các phơng tiện tài chính

1.4.2: Căn cứ vào nguồn gốc của rủi ro có thể phân thành:

- Rủi ro thuần tuý

- Rủi ro đầu cơ

a.Rủi ro thuần tuý:

Trang 28

Rủi ro thuần tuý tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhng không có cơ hộikiếm lời, nghĩa là hậu quả chỉ có thể bất lợi cho chúng ta hoặc đặt chúng ta ởnguyên vị trí nh trớc khi sự cố xảy ra

VD: Ngời chủ một chiếc xe có rủi ro tổn thất tiềm ẩn liên quan đến một vụ đụng

xe Nếu có đụng xe, ngời đó sẽ bị thiệt hại về tài sản Nếu không tình trạng tàichính của ngời đó sẽ vẫn nh cũ Trong trờng hợp này không hề có yếu tố thu lợi

b Rủi ro đầu cơ ( rủi ro suy đoán):

Rủi ro đầu cơ tồn tại khi có có một cơ hội kiếm lời đợc cũng nh một nguycơ tổn thất

Ví dụ: Đầu t vào một dự án vốn có thể có lợi nhuận hoặc có thể thất bại

Có thể nói rằng: Những rủi ro thuần tuý thì luôn làm ngời ta khó chịu nhngnhững rủi ro suy đoán có mặt hấp dẫn nào đó

Cần phân biệt rủi ro đầu cơ và rủi ro thuần tuý nhằm nêu bật một thực tế làrủi ro thuần tuý thông thờng có thể đợc bảo hiểm, còn rủi ro đầu cơ thì không đ-

ợc bảo hiểm Nhng trong bảo hiểm hàng hoá ngời ta lại chấp nhận bảo hiểm110% giá trị hàng hoá điều đó có nghĩa là có thể bảo hiểm cho những rủi ro bấtngờ trong quá trình thực hiện đầu cơ

Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng thông thờng không ai muốn bảo hiểm cácloại rủi ro trong đó hậu qủa có thể là một món lời Có thể dễ dàng nhận thấy lý

do tại sao nh vậy Ngời ta sẽ tự nguyện mua bảo hiểm cho những rủi ro đầu cơvới hy vọng sẽ kiếm đợc lời Động lực thúc đẩy họ cố gắng đạt lợi nhuận này sẽ

là rất nhỏ nếu nh họ biết đợc Công ty Bảo hiểm sẽ trả tiền bất kể họ có cố gắnghay không Về phơng diện nguy cơ chúng ta có thể nói rằng nguy cơ tinh thần làrất cao

1.4.3: Căn cứ vào hậu quả chúng ta có thể phân rủi ro thành:

* Rủi ro có thể phân tán ( rủi ro riêng biệt)

* Rủi ro không thể phân tán ( rủi ro cơ bản)

Một vài rủi ro có ảnh hởng hầu nh toàn bộ nhân loại vào cùng một lúc ví dụ

nh rủi ro của một sự trì trệ nền kinh tế toàn cầu Nhng có những rủi ro khác đợc

đối phó hầu nh độc lập, ví dụ nh rủi ro về tai nạn xe cộ hay bị mất trộm tài sảnriêng Ngoại trừ sự biểu lộ của rủi ro ảnh hởng đến những tổ chức hay cá nhântheo cùng một cách và cùng một lúc, những thực thể bị ảnh h ởng có thể khôiphục thông qua những thoả hiệp đóng góp và chia sẻ rủi ro

Một rủi ro có thể phân tán nếu ta có thể giảm bớt rủi ro thông qua nhữngthoả hiệp đóng góp tiền bạc và chia sẻ rủi ro

Một rủi ro không thể phân tán nếu những thoả hiệp đóng góp tiền bạckhông có tác dụng gì đến việc giảm bớt rủi ro cho những ngời tham gia vào quỹgóp chung này

Trang 29

VD: Những thoả hiệp đóng góp sẽ không có ảnh hởng đến phơng diện rủi ro về

sự trì trệ nền kinh tế toàn cầu bởi vì rủi ro này có ảnh h ởng đến tất cả những ngờitham gia gần nh cùng một cách thức và cùng một thời điểm

Nhìn chung những “rủi ro riêng biệt “ ( rủi ro có thể phân tán ) có thể bảohiểm đợc trong khi “rủi ro cơ bản “ (rủi ro không thể phân tán ) thì không đợcbảo hiểm ở đây một lần nữa rất có thể tìm hiểu một cách chính xác hay chi tiết

do thị trờng bảo hiểm thay đổi thờng xuyên Chúng ta có thể nói rằng, không thểkiểm soát đợc sự lan rộng của những rủi ro cơ bản và rủi ro cơ bản không loại trừ

ai cho nên mọi ngời đều cảm thấy rằng những rủi ro này phải thuộc trách nhiệmcủa toàn xã hội Nhân tố địa lý thông thờng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là

đối với các hiểm hoạ “tự nhiên “ nh: lụt lội và động đất ở nhiều vùng trên thếgiới, các Công ty Bảo hiểm cũng coi loại rủi ro này là rủi ro cơ bản vì thế khôngnhận bảo hiểm

2- Nguồn rủi ro

Có nhiều cách khác nhau trong việc phân loại các nguồn rủi ro, tuỳ thuộcvào rủi ro ta đang quan tâm Một cách tổng quát ta có thể xem xét các nguồn sau

đây

2.1: Môi trờng vật chất:

Rõ ràng, một trong những nguồn rủi ro cơ bản nhất là môi trờng vật chấtxung quanh ta Động đất, hạn hán, ma dầm đều có thể dẫn đến tổn thất Sự bấtlực của chúng ta trong việc hiểu biết môi trờng chúng ta đang sống, các ảnh hởngcủa chúng ta đối với nó cũng nh của nó đối với chúng ta là nguyên nhân chủ yếucủa nguồn rủi ro này

Môi trờng vật chất cũng có thể là nguồn phát sinh các rủi ro đầu cơ (rủi rosuy đoán), chẳng hạn đối với nông nghiệp, du lịch, đầu t bất động sản

2.2: Môi trờng xã hội

Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con ngời, cấu trúc xã hội, các

định chế là nguồn rủi ro thứ hai Nhiều nhà kinh doanh Mỹ đã thất bại ê chềkhi nhảy vào môi trờng quốc tế Chẳng hạn sự khác biệt về các chuẩn mực xã hội

ở Nhật đã cho thấy đây là một nguồn bất định quan trọng đối với các doanh nhânphơng tây và Mỹ ở Mỹ, tình trạng bất ổn trong dân chúng do cuộc bạo độngnăm 1922 ở Los Angeles cũng cho thấy sự quan trọng của nguồn rủi ro này Sựthay đổi các chuẩn mực giá trị cũng có thể tích cực, chẳng hạn quan điểm về phụnữ trong lực lợng lao động đã mở ra một năng lực mới

2.3: Môi trờng chính trị

Trong một đất nớc, môi trờng chính trị có thể là một nguồn rủi ro rất quantrọng Chính sách của một tổng thống mới có thể có ảnh hởng nghiêm trọng lêncác tổ chức ( cắt giảm ngân sách các địa phơng, ban hành các quy định mới về xử

lý chất thải độc hại )

Trang 30

Trên phơng diện quốc tế, môi trờng chính trị còn phức tạp hơn Không phảitất cả các quốc gia trên Thế giới đều dân chủ trong cách điều hành, nhiều nơi cóthái độ và chính sách rất khác nhau về kinh doanh Tài sản nớc ngoài có thể bị n-

ớc chủ nhà tịch thu hoặc chính sách thuế thay đổi liên tục Môi tr ờng chính trịcũng có thể có tác động tích cực thông qua các chính sách tài chính và tiền tệ,việc thực thi pháp luật, giáo dục cộng đồng

2.4: Môi trờng luật pháp:

Có rất nhiều s bất định và rủi ro phát sinh từ hệ thông pháp luật Luật phápkhông phải chỉ đề ra các chuẩn mực và các biện pháp trừng phạt, vấn đề là bảnthân xã hội có sự tiến hoá và các chuẩn mực này có thể không tiêu liệu đợc hết

ở phạm vi quốc tế còn phức tạp hơn vì các chuẩn mực luật pháp có thể thay đổirất nhiều từ nơi này sang nơi khác Môi trờng luật pháp cũng tạo ra các kết quảtích cực nh cung cấp môi trờng xã hội ổn định, bảo vệ các quyền công dân

2.5: Môi trờng hoạt động:

Quá trình hoạt động của tổ chức có thể làm phát sinh rủi ro và bất trắc Cáctiến trình khuyến mãi, tuyển dụng, sa thải nhân viên có thể gây ra các rủi ro vềpháp lý? Điển hình là vụ sa thải 56 công nhân tại Công ty liên doanh ABB ở ViệtNam vừa qua Quá trình sản xuất có thể đa công nhân đến các tổn hại vật chất,các hoạt động của tổ chức có thể gây tổn hại cho môi trờng Kinh doanh quốc tế

có thể gặp các rủi ro và bất trắc do hệ thống giao thông vận chuyển không tincậy Về khía cạnh rủi ro suy đoán ( rủi ro đầu cơ) thì môi trờng hoạt động cuốicùng sẽ đa ra một sản phẩm hay dịch vụ mà từ đó tổ chức sẽ thành công hay thấtbại

2.6: Môi trờng kinh tế:

Mặc dù môi trờng kinh tế thờng vận động theo môi trờng chính trị, sự pháttriển rộng lớn của thị trờng toàn cầu đã tạo ra một môi trờng kinh tế chung chotất cả nớc Mặc dù các hoạt động của một chính phủ có thể ảnh hởng đến thị tr-ờng vốn thế giới, nhng hầu nh mỗi quốc gia không thể kiểm soát nổi thị trờngnày Tình trạng lạm phát, suy thoái, đình đốn hiện nay là các yếu tố của các hệthống kinh tế mà không một quốc gia nào có thể kiểm soát nổi

ở một phạm vi hẹp, lãi suất và hoạt động tín dụng có thể áp đặt các rủi rothuần tuý và rủi ro suy đoán đáng kể lên các tổ chức

2.7: Vấn đề nhận thức:

Khả năng của một nhà quản lý trong việc hiểu, xem xét đo lờng, đánh giácha phải là hoàn hảo Một nguồn rủi ro quan trọng hầu hết các tổ chức là sự nhậnthức và thực tế hoàn toàn khác nhau Môi trờng nhận thức là nguồn rủi ro đầythách thức trong việc nhận diện và phân tích rủi ro vì những phân tích đó đòi hỏitrả lời những câu hỏi nh “làm sao hiểu đợc ảnh hởng của sự bất định lên tổ chức”hay ”làm sao biết đợc cái mình nhận thức là đúng với thực tế”

Trang 31

3- Các rủi ro trong bảo hiểm nhân thọ

Với đặc tính là loại hình bảo hiểm con ngời, trong công tác đánh giá rủi rongời ta thờng xem xét các rủi ro chính sau:

3.1: Rủi ro sức khoẻ ( Y tế ):

Là những rủi ro liên quan đế sức khoẻ của con ngời đợc bảo hiểm, chúngbao gồm: tiểu sử bệnh tật, những khiếm khuyết của con ngời hiện tại, thơng tật

3.2: Rủi ro môi trờng ( environmental risk ):

Rủi ro môi trờng bao gồm các nhân tố nh: nghề nghiệp và tính chất côngviệc của ngời đợc bảo hiểm Chẳng hạn môi trờng làm việc của ngời đợc bảohiểm có nguy hiểm không, mức độ rủi ro nh thế nào

3.3: Rủi ro đạo đức:

Rủi ro đạo đức là thái độ của ngời đợc bảo hiểm hay ngời yêu cầu bảo hiểm.Rủi ro này chủ yếu xuất phát từ bản thân ngời đợc bảo hiểm hay ngời thamgia bảo hiểm Khai thác viên bảo hiểm cần phải xem xét khía cạnh này khi đánhgiá rủi ro

* Thông thờng có những giới hạn sau đây để khống chế rủi ro đạo đức:

- Giới hạn tuổi tham gia bảo hiểm VD: trong bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp vàbảo hiểm nhân thọ chọn đời giới hạn đến 60-70 tuổi

- Giới hạn số tiền bảo hiểm: Mức độ giới hạn tuỳ thuộc từng Công ty Bảohiểm

- Giới hạn loại bảo hiểm và thời hạn bảo hiểm: Thông thờng tỷ lệ chết của loạihình Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp ngắn hạn thấp hơn loại hình Bảo hiểm nhân thọhỗn hợp dài hạn, ngợc lại tỷ lệ chết của loại hình Bảo hiểm tử kỳ ngắn hạn lại caohơn dài hạn

- Giới hạn kiểm tra sức khoẻ: Ngời yêu cầu bảo hiểm sẽ phải thanh toán chiphí kiểm tra sức khoẻ cho ngời đợc bảo hiểm nếu Công ty chấp nhận mà ngời yêucầu bảo hiểm lại không tham gia bảo hiểm

- Giới hạn khác, hạn chế những chuyến du lịch nớc ngoài, hạn chế trên hợp

đồng với bên thứ ba VD: bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm chủ sở hữu là nhữnghợp đồng đối với ngời thứ ba, ngời thừa hởng quyền lợi bảo hiểm là một ngời thứ

ba ngoài thành viên gia đình

II công tác lựa chọn và đánh giá rủi ro trong bảo hiểm nhân thọ

1- Lựa chọn rủi ro

Lựa chọn rủi ro là quá trình xác định có chấp nhận bảo hiểm hay không saukhi Công ty Bảo hiểm nhân thọ nhận đợc giấy yêu cầu bảo hiểm Quá trình lựachọn rủi ro đợc bắt đầu từ đại lý, ngời có trách nhiệm chỉ nhận những giấy yêu

Trang 32

cầu bảo hiểm của những ngời cần và “có vẻ nh đủ tiêu chuẩn “ để đợc nhận bảohiểm Cán bộ đánh giá rủi ro của Công ty tiếp tục công việc lựa chọn rủi ro bằngcách thu thập, phân tích các thông tin cần thiết để xác định giấy yêu cầu bảohiểm có đợc chấp nhận hay không.

1.1: Sự cần thiết

Lựa chọn rủi ro là công tác hết sức quan trọng trong lĩnh vực kinh doanhBảo hiểm nhân thọ ý nghĩa nổi bật của công tác này là ngăn ngừa sự trục lợi từphía khách hàng chuẩn bị tham gia bảo hiểm và đảm bảo sự công bằng giữanhững ngời đang đợc bảo hiểm Đây là trách nhiệm của Công ty Bảo hiểm nhânthọ và bằng cách thực hiện công tác này một cách thoả đáng, Công ty Bảo hiểmnhân thọ sẽ có đợc uy tín trên thị trờng

Thông thờng tỷ lệ chết trong số những ngời đợc bảo hiểm sẽ khác với tỷ lệchết trong dân số, tỷ lệ chết thực tế sẽ khác với tỷ lệ chết giả định dể tính phí.Chênh lệch dơng giữa tỷ lệ chết đa vào tính phí và tỷ lệ chết thực tế sẽ mang lạihiệu quả kinh doanh cho Công ty Bảo hiểm nhân thọ, trong đó công cụ chính để

đạt đợc là công tác lựa chọn rủi ro

Theo kinh nghiệm của các Công ty Bảo hiểm nhân thọ Nhật bản, kết quảkinh doanh từ hoạt động đầu t có khi bị thay đổi bất thờng ngoài sự chủ động củachính Công ty và bị phụ thuộc nhiều vào thị trờng tài chính Nhng kết quả từ hoạt

động kinh doanh bảo hiểm (chênh lệch dơng giữa tỷ lệ rủi ro giả định và thực tế)

là một con số đáng kể và chủ yếu phụ thuộc vào công tác lựa chọn rủi ro

1.2: Quy trình lựa chọn rủi ro:

Quy trình lựa chọn rủi ro bao gồm hai bớc

B

ớc 1 : Lựa chọn ban đầu của khai thác viên bảo hiểm.

B

ớc 2 : Đánh giá rủi ro.

Những điểm chính trong sự lựa chọn đầu tiên

* Khi cán bộ khai thác tiếp xúc với khách hàng (ngời tham gia hay ngời đợcbảo hiểm) yêu cầu phải quan sát cẩn thận điều kiện sức khoẻ và môi trờng sốngcủa ngời đợc bảo hiểm và ngời chủ hợp đồng để:

- Chuẩn đoán hình thức thái độ, thói quen của chủ hợp đồng và ng ời đợc bảohiểm

- Phát hiện những bất lợi về tay, chân hay đã phẫu thuật lần nào cha?

- Quan sát kết cấu của nhà ở môi trờng nơi cu trú

- Quan sát sơ bộ tình trạng sức khoẻ của ngời đợc bảo hiểm thông qua sự biểuhiện trên nét mặt

Có thể nói sự lựa chọn đầu tiên này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phán

đoán và kinh nghiệm của khai thác viên bảo hiểm Nếu làm tốt bớc này sẽ tiết

Trang 33

kiệm đợc chi phí cho hoạt động kinh doanh của Công ty đồng thời tạo ra cơ sở tốtphục vụ cho bớc tiếp theo của quy trình lựa chọn rủi ro đó là đánh giá rủi ro Thực ra sự lựa chọn rủi ro đầu tiên rất quan trọng, song đánh giá rủi ro mới

là khâu quyết định rủi ro có đợc lựa chọn để bảo hiểm hay không Vì vậy trongkhuôn khổ luận văn này chỉ đề cập tới những vấn đề liên quan đến công tác đánhgiá rủi ro

2- Công tác đánh giá rủi ro

2.1- Công tác đánh giá rủi ro có từ bao giờ:

Công tác đánh giá rủi ro đợc quan tâm đến ngay từ khi xuất hiện ngành Bảohiểm nhân thọ Năm 1762, khi Công ty Bảo hiểm nhân thọ Equiptable bắt đầuhoạt động ở Anh, ngời ta đã tiến hành phỏng vấn tất cả các khách hàng có yêucầu bảo hiểm và thực tế không phải ai có yêu cầu bảo hiểm cũng đợc chấp nhậnbảo hiểm Trong khi phỏng vấn, ngời tham gia bảo hiểm phải cam kết rằng họnói đúng sự thật về tuổi và tình trạng sức khoẻ của mình tại thời điểm phỏng vấn.Cho đến khi số lợng ngời tham gia bảo hiểm quá lớn, hình thức phỏng vấn đợcthay thế bằng hình thức bản khai của ngời tham gia bảo hiểm Cho đến năm

1850, các Công ty Bảo hiểm nhân thọ ở Đức và ở Anh đã bắt đầu tổ chức kiểmtra sức khoẻ Năm 1858 Công ty Bảo hiểm nhân thọ Equipable tuyển bác sĩ đầutiên Một thời gian dài sau đó khi các Công ty có bác sĩ thì mọi quyết định cóchấp nhận bảo hiểm hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý kiến của bác sĩ củacông ty, do đó trong thực tế đã có sự không công bằng giữa các khách hàng Từthực tế đó, bác sĩ Roger và Actuary Hunter cùng làm việc tại Công ty Bảo hiểmnhân thọ New York đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu số liệu thống kê của Công

ty và năm 1903 đã công bố kết quả trong cuốn sách “ đánh giá một cách khoa họcnhững ngời tham gia bảo hiểm” Trên cơ sở kết quả này, ngời ta đã chuẩn hoá cácchỉ tiêu phục vụ cho công tác đánh giá rủi ro dới dạng các chỉ số và đa vào ápdụng từ năm 1904 Sau một thời gian áp dụng hệ thống này, ngời ta có điều kiệnnghiên cứu tỷ lệ chết cẩn thận hơn và các Công ty Bảo hiểm nhân thọ không chỉxem xét đến khả năng có chấp nhận bảo hiểm hay không mà còn có thể quyết

định chấp nhận bảo hiểm tuỳ theo từng trờng hợp cụ thể bằng cách tính thêm phítuỳ thuộc vào mức độ gia tăng rủi ro

2.2: Mục đích của công tác đánh giá rủi ro

- Đảm bảo công bằng giữa các khách hàng tham gia bảo hiểm: Nghĩa là vớimột mức phí ngang nhau thì quyền lợi bảo hiểm đợc hởng là tơng đối nh nhauhoặc tuỳ thuộc vào nghề nghiệp nh làm ở những chỗ độc hại thì mức phí bảohiểm sẽ cao hơn, sự công bằng giữa nam và nữ

- Có lợi cho Công ty Bảo hiểm trong việc chi trả khi xảy ra bồi th ờng vì cáckhoản bồi thờng này đã nằm trong quỹ dự phòng, nằm trong vung xác xuất đãtính toán Giảm khả năng xảy ra bồi thờng ngoài mức tính toán do sự trục lợi, lựa

Trang 34

chọn hay vô tình của khách hàng, tránh tình trạng mất khả năng thanh toán củaCông ty Bảo hiểm.

2.3: Quy trình đánh giá rủi ro

2.3.1: Kiểm tra những điểm loại trừ đối với rủi ro đạo đức:

Khi nhận đợc giấy yêu cầu bảo hiểm, cán bộ khai thác sẽ loại trừ những rủi

ro đạo đức không hợp lý để bảo vệ quyền lợi công bằng giữa các chủ hợp đồnghoặc có những trùng lặp trên giấy yêu cầu , cụ thể nh sau:

- Kiểm tra trên giấy yêu cầu bảo hiểm xem ngời yêu cầu bảo hiểm và chủhợp đồng có cùng một ngời không hoặc chủ hợp đồng có phải là ngời đóng phíkhông

- Mối quan hệ giữa chủ hợp đồng, ngời đợc bảo hiểm và ngời thừa hởngquyền lợi bảo hiểm: Ngời thừa hởng bảo hiểm có đúng là bên thứ ba hay không

- Mục đích của ngời tham gia bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm Trong trờnghợp hai ngời này là một thì đơn giản hơn Khi hai ngời này khác nhau thì phảixem xét quan hệ giữa họ là gì Bố, mẹ, vợ chồng con cái, ngời chủ doang nghiệp

và nhân viên Chỉ khi có những mối quan hệ này yều cầu bảo hiểm mới có thiệnchí và muốn tiến hành vì mục đích bảo hiểm

- Có thể ngời yêu cầu biết rõ khả năng xảy ra rủi ro của mình hay của ngời

đợc bảo hiểm nên đã tiến hành vay mợn để mua bảo hiểm hoặc hy vọng có đợcthu nhập tốt hơn trong tơng lai

- Kiểm tra xem nếu ngời yêu cầu bảo hiểm không có nghề nghiệp thì sao,hoặc nếu ngời yêu cầu bảo hiểm quản lý một doanh nghiệp mà không có giấyphép kinh doanh (đối với loại hình Bảo hiểm nhân thọ nhóm)

2.3.2: Kiểm tra những điểm loại trừ đối với rủi ro tài chính:

- Ngời tham gia thực sự có quyền lợi cần bảo hiểm, có khả năng về tài chínhkhi tham gia bảo hiểm, có thể đóng phí thờng xuyên đầy đủ theo mức phí đã quy

định trong hợp đồng bảo hiểm hay không?

- So sánh giữa khả năng và nhu cầu bảo hiểm của ngời tham giam có tơngxứng hay không

- Kiểm tra xem thu nhập của ngời yêu cầu bảo hiểm có ổn định không, nghềnghiệp nh thế nào

2.3.3: Kiểm tra những điểm loại trừ đối với rủi ro sức khoẻ:

- Kiểm tra dựa trên giấy yêu cầu bảo hiểm

Trong nhiều trờng hợp các thông tin đa ra trong giấy yêu cầu là đầy đủ.Thỉnh thoảng có những câu trả lời mơ hồ hoặc không tự nguyện khai báo sự thậtthì cán bộ đánh giá rủi ro phải tìm kiếm thêm thông tin bằng cách tham khảo ýkiến bác sĩ riêng của ngời đợc bảo hiểm hay cho đi khám sức khoẻ, ghi điện tâm

đồ hoặc khám một số chuyên khoa khác Tất nhiên tất cả những việc này làm

Trang 35

tăng chi phí khai thác hợp đồng vì vậy khai thác viên bảo hiểm phải chú trọng

đến những bằng chứng mà anh ta có: mức độ rủi ro và tuổi của ngời yêu cầu bảohiểm, để từ đó phối hợp hặt chẽ với cán bộ đánh giá rủi ro để đảm bảo quá trình

đánh giá rủi ro đợc nhanh chóng

- Dựa trên báo cáo về tình trạng sức khoẻ của bác sĩ thờng khám bệnh chongời yêu cầu bảo hiểm Bác sĩ sẽ đợc hỏi những câu hỏi cụ thể về bệnh nhân của

họ và đợc trả lệ phí hoàn thành mẫu đơn Tuy nhiên, bác sĩ không cần gặp ng ờiyêu cầu bảo hiểm mà chỉ cần trả lời các câu hỏi bằng cách tham khảo hồ sơ củamình

- Bản trả lời câu hỏi về nghề nghiệp sẽ cho biết nghề nghiệp và quá trìnhthay đổi của họ

Nghề nghiệp đợc phân loại theo các nhóm A, B, C

+ Nhóm A: Không thêm phí nhng hạn chế số tiền bảo hiểm kể cả hợp đồngchính và điều khoản phụ, loại này gồm các nghề sau:

Phi công lái máy bay chở khách

Những ngời đua thể thao chuyên nghiệp đua ô tô, mô tô, đua thuyền, đấmbốc

+ Nhóm C: Là những nghề không đợc chấp nhận

Những ngời lái tàu đánh cá hạng nặng

Thợ đào mỏ

Thuỷ thủ của tàu khách và tàu chở hàng hoá đi nớc ngoài

Những ngời đào tạo súc vật dữ, nghề vật chuyên nghiệp

Quản lý hàng hoá nguy hiểm

Ngời làm nghề cứu hộ

Thành viên của hội chống tội phạm

- Bản trả lời câu hỏi về lối sống báo cáo mật của đại lý, của thám tử để cónhững thông tin cần thiết đầy đủ và chính xác giúp cho ngời đánh giá rủi ro thấy

đợc nhiều vấn đề từ ngời yêu cầu bảo hiểm VD: Ngời đợc bảo hiểm có thói quen

Trang 36

sử dụng bia rợu, các chất kích thích Và nh vậy xác suất rủi ro của ngời đó sẽcao hơn.

- Những trờng hợp đặc biệt

+ Những ngời có sức khoẻ không tốt ( có vấn đề), nếu tham gia số tiềnbảo hiểm cao hơn hoặc tuổi cao thì cần phải kiểm tra sức khỏe và kiểm tra lịch sửbệnh tật của họ

+ Phụ nữ có thai, trong trờng hợp này cần giới hạn số tiền bảo hiểm vàkhông nhận bảo hiểm cho điều khoản bổ sung về điều khoản điề trị và phẫuthuật

+ Khi khách hàng yêu cầu số tiền bảo hiểm cao cần áp dụng hợp đồng

đặc biệt nhng phải kiểm tra sức khoẻ báo cáo cho Công ty để Công ty đánh giárủi ro thật kỹ

- Mức phí đợc giả định theo tỷ lệ tử vong

- Tiêu chuẩn về khả năng chấp nhận bảo hiểm Những ngời có yêu cầu đợcchấp nhận bảo hiểm có thể là một trong những trờng hợp sau:

+ Đợc chấp nhận bảo hiểm theo tỷlệ phí chuẩn

+ Đợc chấp nhận theo tỷ lệ phí dới chuẩn

+ Không đợc chấp nhận theo các điều khoản hay các điều kiện

* Trờng hợp trả thêm phí bảo hiểm vì xác suất tử vong cao

Xác suất tử vong của con ngời tăng thêm thờng rơi vào các trờng hợp sau:

+ Tăng lên theo độ tuổi

+ Chuyển đến nơi làm việc độc hại hơn

* Giới hạn không phải kiểm tra sức khoẻ:

Không phải tất cả những ngời mua bảo hiểm phải kiểm tra sức khoẻ Chi phíkiểm tra sức khoẻ là rất cao và thậm chí ảnh hởng đến việc thanh toán bồi thờng.Vì thế nhà bảo hiểm thờng đa ra những giới hạn không phải kiểm tra sức khoẻ,trên mức đó thì phải kiểm tra sức khoẻ

Giới hạn không phải kiểm tra sức khoẻ đợc quy định theo:

1 Tuổi của ngời tham gia bảo hiểm: Thờng thì tuổi thấp không phải kiểmtra sức khoẻ

2 Loại hình bảo hiểm

Trang 37

3 Kinh nghiệm của đại lý: các đại lý có kinh nghiệm thờng nhận xét bằngcách đánh giá khách hàng qua tiếp xúc, nói chuyện, trao đổi

4 Loại bệnh tật hay khuyết tật

5 Phạm vi bảo hiểm

6 Loại công việc

Để quyết định giới hạn không phải kiểm tra sức khoẻ: Công ty bảo hiểmphải cân nhắc những điểm nh: số tiền bảo hiểm trung bình, loại rủi ro, khả năngchịu đựng rủi ro

* Những tiêu thức kiểm tra sức khoẻ

Yêu cầu phải kiểm tra sức khoẻ cho những trờng hợp có số tiền bảo hiểmcao và tuổi tại thời hạn bảo hiểm dài kết hợp với giới tính, những trờng hợp tăng

số tiền bảo hiểm trong hai năm đầu của hợp đồng, tình trạng sức khoẻ hiện tạisuy yếu, thuộc nhóm rủi ro cao ( nh bệnh di truyền)

Kiểm tra sức khoẻ đợc thực hiện nh: kiểm tra mắt, khám sức khoẻ, kiểm tra sứckhoẻ theo yêu cầu

Một cuộc thử nghiệm định kỳ là rất cần thiết để đánh giá chất l ợng của cuộckiểm tra nh: kỹ năng đặt vấn đề, kỹ năng chuẩn đoán bệnh và phát hiện tình trạngsức khoẻ yếu

Các loại giấy tờ để làm căn cứ kiểm tra nh: giấy chứng nhận sức khoẻ đợclàm theo nhóm, báo cáo của một ngời kiểm tra sức khoẻ, báo cáo của một ngờikiểm tra y tế, bản kê khai sức khoẻ của một ngời đợc bảo hiểm

2.4 Yêu cầu đối với quy trình đánh giá rủi ro:

- Đánh giá rủi ro tốt cần có kinh nghiệm và sự phán đoán Những nhân tố

ảnh hởng đến quy định của ngời đánh giá rủi ro hầu nh là vô tận Ngời đánh giárủi ro buộc phải quen với: những cách lựa chọn rủi ro, rủi ro liên quan đến sứckhoẻ, nhân tố tính toán phí bảo hiểm, những luật lệ ảnh hởng đến bảo hiểm nhânthọ, những trục lợi bảo hiểm và những yếu tố chống lại sự lựa chọn rủi ro

Do vậy, quyền hạn của sự đánh giá rủi ro đợc hình thành từ những nhân tốnh: số tiền bảo hiểm, hoạt động đánh giá rủi ro, miễn khám sức khoẻ hoặc phảikhám sức khoẻ

- Cách tiến hành và những chuẩn mực đánh giá rủi ro của các Công ty thờngkhác nhau Mỗi Công ty có những mục tiêu và lý luận riêng nh: mức tối đa tiếpcận đánh giá rủi ro, phạm vi tiêu chuẩn, mức dới tiêu chuẩn, phạm vi độ tuổi, ng-

ời nớc ngoài c trú

Từ việc kiểm tra sức khoẻ, ngời đánh giá rủi ro có thể yêu cầu thêm vàonhững xét nghiệm để đánh giá ngời tham gia bảo hiểm nh: chụp X quang ngực,

điện tâm đồ, phân tích nớc tiểu, thử máu, siêu âm, biểu đồ tim, chụp cắt lớp

- Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực pháp lý thì cần phải có các yếu tố:

+ Phải có sự đồng ý của cả hai bên ( đề nghị và chấp thuận)

Trang 38

+ Các đối tác phải là ngời có đủ năng lực

+ Hợp đồng phải đợc coi là văn bản pháp lý

+ Phải có sự cân nhắc và xem xét của các bên

+ Phải trên cơ sở quyền lợi có thể đợc chấp nhận bảo hiểm

Trờng hợp cố ý làm sai: Thờng thì nhà bảo hiểm không có trách nhiệm để

điều tra những thông tin đợc cung cấp bởi ngời kê khai giấy yêu cầu bảo hiểm,trừ khi có một vài yếu tố hoặc những yếu tố quá rõ ràng hoặc bao hàm rằng ai làngời mà nhà bảo hiểm sẽ có lý do chính đáng để tiến hành kiểm tra các thông tin

do ngời yêu cầu bảo hiểm cung cấp

Đa ra tài liệu về sự nhầm lẫn cố ý, sự chấp nhận của ngời đánh giá rủi ro phải

đúng với quy đinh nêu ra trong hợp đồng bảo hiểm và nếu sự việc đợc biết đếnthì có thể sẽ không chấp nhận bảo hiểm

Để huỷ bỏ hợp đồng nhà bảo hiểm phải đa ra những thông tin chính xác có thểlàm thay đổi về văn bản quyết định xem xét đánh giá rủi ro

Công ty bảo hiểm phải đối mặt với hàng loạt những khó khăn mà ngời đợc bảohiểm đã gặp phải, công ty bảo hiểm không biết liệu có rủi ro hay không và nếu

có rủi ro thì cũng khó có thể dự đoán một cách chính xác mức độ thiệt hại của

nó Công ty có đợc sự bảo vệ rằng công ty nhận đợc một số lợng lớn các rủi ro

t-ơng tự và biết rằng không phải rủi ro nào cũng dẫn đến khiếu nại Tuy nhiên,ngay cả Công ty Bảo hiểm cũng không loại trừ các khả năng xảy ra tổn thất nhiềuhơn so với dự kiến hoặc số tổn thất lớn hơn dự định Họ phải thu phí vào đầu nămbảo hiểm, lý do đó khó lờng trớc đợc sự việc xảy ra sau khi đã thu phí và phảichịu hậu quả Nh vậy bất luận hậu quả thực ra sao thì khi xem xét các rủi ro củaCông ty bảo hiểm, sẽ không có gì ngạc nhiên là chính bản thân các Công ty Bảohiểm cũng đi tìm sự bảo vệ cho họ thông qua hình thức tái bảo hiểm

Việc giữ lại bao nhiêu, tái đi bao nhiêu là tuỳ thuộc vào tầm cỡ Công ty, khảnăng vốn liếng và khả năng chấp nhận xác suất rủi ro

Thực ra phân tán rủi ro thông qua tái bảo hiểm sẽ giúp các đại lý ký thêm đ

-ợc hợp đồng, rủi ro cao thì phí cao, do đó hoa hồng sẽ cao Công ty tái bảo hiểm

có thể tuỳ ý quyết định những rủi ro có thể chấp nhận đợc và đợc tham gia đánhgiá các thông tin để bổ trợ công tác đánh giá rủi ro

Phân tán rủi ro cũng nhằm tích luỹ kinh nghiệm trong công tác đánh giá rủi

ro để từ đó cạnh tranh đợc với nhiều đối thủ trên thơng trờng

Trên thế giới còn tồn tại cả những dịch vụ đánh giá rủi ro, các dịch vụ đàotạo kỹ thuật, nghiệp vụ đánh giá rủi ro Điều này rất có lợi cho việc hoàn thiệncông tác đánh giá rủi ro ngày một tốt hơn

Ngày đăng: 13/11/2015, 10:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân biệt giữa Bảo hiểm nhân thọ với Bảo hiểm phi nhân thọ - Công tác đánh giá rủi ro trong hoạt đông kinh doanh ở Bảo Việt nhân thọ Hà Nội
Bảng ph ân biệt giữa Bảo hiểm nhân thọ với Bảo hiểm phi nhân thọ (Trang 16)
Sơ đồ quá trình đánh giá tình trạng sức khoẻ - Công tác đánh giá rủi ro trong hoạt đông kinh doanh ở Bảo Việt nhân thọ Hà Nội
Sơ đồ qu á trình đánh giá tình trạng sức khoẻ (Trang 58)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w