Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của mình thì FDI cũng bộc lộ không ít điểm tiêu cực như sự nhập khẩu ô nhiễm môi trường vào trong nước, các ngành kinh tế non trẻ trong nước dễ bị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ MỸ TIÊN CẢI CÁCH THUẾ VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ HÀNH VI CHUYỂN GIÁ TẠI
Trang 2KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ MỸ TIÊN MSSV:4114883
CẢI CÁCH THUẾ VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ HÀNH VI CHUYỂN GIÁ TẠI
VIỆT NAM
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
ĐINH THỊ LỆ TRINH
Tháng 12-2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình hoàn thành luận văn ngoài sự cố gắng hết mình của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của tất cả mọi người Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc của mình đến:
Đầu tiên, tôi xin cám ơn cô Đinh Thị Lệ Trinh, tuy cô luôn bận rộn với công việc của mình song cô vẫn dành cho tôi cũng như các bạn trong nhóm cô hướng dẫn luận văn sự quan tâm, giúp đỡ tận tình từ buổi đầu lập đề cương cho đến khi hoàn thành luận văn Cô không chỉ đóng vai trò là một người hướng dẫn mà còn là một người chị, một người đi trước truyền dạy lại cho chúng em những kinh nghiệm quý báu của bản thân mình
Và toàn thể quý thầy cô khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh đã cung cấp những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học cũng như sự hỗ trợ về mặt kinh nghiệm, tài liệu tham khảo và đã chỉ bảo tận tình về mặt lý thuyết để tôi nhận thức đúng và rõ hơn về đề tài tôi đang nghiên cứu
Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ba mẹ, những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh động viên và tạo mọi điều kiện học tập tốt nhất cho tôi
Sau cùng tôi xin kính chúc Quý Thầy Cô, gia đình, bạn bè luôn dồi dào sức khỏe, luôn thành công trong công việc và cuộc sống Đặc biệt , tôi kính chúc cô Đinh Thị Lệ Trinh luôn trẻ, khỏe, thành công này tiếp bước thành công khác trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trong cuộc sống
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014 Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THỊ MỸ TIÊN
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết đề tài này do chính tôi thực hiện và các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi thu thập, tìm hiểu và phân tích một cách trung thực, phù hợp với thực tiễn
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THỊ MỸ TIÊN
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Giáo viên phản biện
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.3.1 Không gian nghiên cứu 3
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .8
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 8
2.1.1 Khái quát về hành vi chuyển giá 8
2.1.2 Động cơ của hành vi chuyển giá trong các công ty 9
2.1.2.1 Động cơ của hành vi chuyển giá từ bên ngoài 9
2.1.2.2 Động cơ của hành vi chuyển giá từ bên trong 10
2.1.3 Những hình thức chuyển giá chủ yếu hiện nay ở các doanh nghiệp 11
2.1.3.1 Nâng giá trị vốn góp 11
2.1.3.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ, thương hiệu…(tài sản vô hình) 12
2.1.3.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường 12
2.1.4 Tác động của hành vi chuyển giá đến các công ty, nước xuất khẩu đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư 13
2.1.4.1 Tác động của hành vi chuyển giá đến các công ty 13
Trang 72.1.4.2 Tác động của hành vi chuyển giá đối với các quốc gia liên quan nước xuất khẩu vốn đầu tư (nơi có công ty mẹ của tập đoàn đa quốc gia)
14
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 16
2.2.1 Mô hình động cơ chuyển giá của Swenson (2000) 16
2.2.2 Mô hình đề xuất 21
2.2.3 Các biến số trong mô hình 22
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.2.1 Phương pháp mô tả, so sánh số tuyệt đối, số tương đối 27
2.2.2 Phương pháp hồi quy 28
2.2.2.1 Hồi quy mô hình theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) 28 2.2.2.1 Hồi quy mô hình theo phương pháp Mô-men tổng quát (GMM) 28 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM 32
3.1 TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY 32
3.1.1 Số lượng vốn FDI đăng ký trong những năm gần đây 32
3.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo đối tác đầu tư 34
3.1.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo hình thức đầu tư 35
3.1.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo các ngành và lĩnh vực chủ yếu 36
3.1.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu nước ta 38
3.3.THỰC TRẠNG HÀNH VI CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2008- 2013……… 39
3.4 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC THANH TRA XỬ LÝ HÀNH VI CHUYỂN GIÁ Ở NƯỚC TA HIỆN………44
3.3.1 Những điểm thuận lợi 44
3.3.2 Những khó khăn 46
Trang 83.4 NHỮNG VĂN BẢN PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI CHUYỂN GIÁ
TẠI VIỆT NAM HIỆN HÀNH 47
3.4.1 Những văn bản pháp lý điều chỉnh hành vi chuyển giá ở Việt Nam hiện hành trước 2006 47
3.4.2 Những văn bản pháp lý điều chỉnh hành vi chuyển giá ở Việt Nam hiện hành từ năm 2006 đến năm 2009 47
3.4.3 Những văn bản pháp lý điều chỉnh hành vi chuyển giá ở Việt Nam hiện hành năm 2010 đến nay 48
CHƯƠNG 4: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ HÀNH VI CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM 50
4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN 50
4.2 KẾT QUẢ HỒI QUY 54
4.2.1 Kết quả hồi quy theo phương pháp phương bé nhất (OLS) 54
4.2.1 Kết quả hồi quy theo phương pháp Mô-ment tổng quát (GMM)… 56
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO………63
Trang 9Bảng 3.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2011 – 2013
phân theo hình thức đầu tư……… 35
Bảng 3.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2011- 2013
phân theo ngành kinh tế……… 37
Bảng 3.5 Kim ngạch xuất, nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI giai
đoạn 2008-2013……… 39
Bảng 3.6 Kết quả thanh tra doanh nghiệp FDI cả nước năm 2013…………42
Bảng 4.1: Thống kê mô tả trung bình chênh lệch thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu……… 50
Bảng 4.2 Thống kê mô tả trung bình của biến số ∆TPI – thay đổi trong
động cơ chuyển giá và ∆P –thay đổi trong giá báo cáo trong từng nhóm mặt hàng………52
Bảng 4.3 trình bày kết quả hồi quy mô hình đa biến theo phương pháp
bình phương bé nhất (OLS)……….54
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy theo phương pháp Mô – men tổng quát……… 56
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.2 Các doanh nghiệp hạch toán lỗ trong 3 năm liền………40 Hình 3.2 Các hình thức chuyển giá tiêu biểu tại Việt Nam………43
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
CEPT Hiệp định về Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực Chung ATIGA Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN
ACFTA Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc
AKFTA Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN-Hàn Quốc
AJCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản VJCEP Hiệp định song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản AIFTA Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN-Ấn Độ
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, nước ta đã có rất nhiều cột mốc quan trọng đánh dấu sự hội nhập sâu rộng nhưng trong đó cột mốc được nhắc đến nhiều nhất là Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 Đây là một sự kiện trọng đại mở ra một kỷ nguyên mới cho con đường hội nhập và phát triển của đất nước Bên cạnh đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào nước ta không ngừng gia tăng mạnh mẽ qua từng năm Năm 2007, khi Việt Nam hoàn tất đàm phán gia nhập WTO thì dòng vốn FDI đăng ký tăng lên 12 tỷ USD, con số cao nhất trong 18 năm Việt Nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đến cuối năm 2013, theo thống
kê của Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 21,6 tỷ USD (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Dòng vốn FDI đổ vào nước ta tạo điều kiện phát triển đất nước, là một hoạt động chiếm vị trí này càng quan trọng đối với cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho nền kinh tế, hiện chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư xã hội (Tổng cục Thống Kê), khơi dậy và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tính đến cuối năm 2013 các doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 61,2% tổng kim ngạch xuất khẩu (Tổng cục Thống Kê), góp phần mở rộng thị trường quốc tế, bên cạnh thị trường truyền thống, thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng dần tỷ trọng hàng chế biến, đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách, năm 2013 các doanh nghiệp này đã đóng góp khoảng 3,7 tỷ USD ( Xuân Thân, 2013) Bên cạnh đó, thông qua hợp tác đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã tăng cường mối quan hệ chính trị, đối ngoại, phát triển hữu nghị với nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, đối tác trên thế giới Ngoài ra, FDI còn tạo ra tính năng động và cạnh tranh cho thị trường Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của mình thì FDI cũng bộc lộ không ít điểm tiêu cực như sự nhập khẩu ô nhiễm môi trường vào trong nước, các ngành kinh tế non trẻ trong nước dễ bị chi phối bởi các tập đoàn lớn trên thế giới và các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp hoạt động từ nguồn vốn FDI nhằm mục đích tránh thuế để gia tăng tổng lợi ích cuối cùng nên họ đã áp dụng chuyển giá như một phương pháp tối ưu, chính hành vi này đã gây thất thu ngân sách Nhà nước cũng như gây không ít thiệt hại cho các doanh nghiệp trong nước Cụ thể, theo số liệu trong đợt kiểm tra sơ bộ của ngành thuế Việt Nam tính đến tháng 9 năm 2013,
có 122 doanh nghiệp tại 23 tỉnh, thành phố bị phát hiện có hành vi chuyển giá
Trang 13Các doanh nghiệp trên buộc phải điều chỉnh giảm lỗ phát sinh và giảm chuyển
lỗ với tổng số tiền là 2.252 tỷ đồng Trong đó, giảm lỗ phát sinh 1.870 tỷ đồng, giảm số lỗ được chuyển vào kỳ tính thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra là
335 tỷ đồng Tổng số tiền thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp này tăng lên là 2.599 tỷ đồng (Tổng Cục Thuế) Đặc biệt, có 529 doanh nghiệp báo cáo
lỗ nhưng vẫn tăng trưởng doanh thu Cuộc thanh tra cũng phát hiện thấy nhiều dấu hiệu chuyển giá ở các tập đoàn lớn khác, mặc dù chưa có bằng chứng trực tiếp
Các hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp hiện nay vẫn đang tiếp tục gây ảnh hưởng tiêu cực đến ngân sách Nhà nước cũng như môi trường cạnh tranh bình đẳng tại Việt Nam, đồng thời có biểu hiện lan rộng cùng nhiều thủ thuật tinh vi hơn Hành vi chuyển giá đã và đang là một thực trạng đáng báo động ở Việt Nam hiện nay Trong khi các nước phát triển trên thế giới đã
có những kinh nghiệm trong công tác chuyển giá thì ở Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế Nhận thấy được những tác hại to lớn như trên và xuất phát từ thực tế là ở nước ta đề tài hành vi chuyển giá vẫn còn mới mẻ, chưa có nhiều
bài nghiên cứu chuyên sâu Do đó tôi quyết định chọn đề tài “Cải cách thuế
và bằng chứng thực nghiệm về hành vi chuyển giá tại Việt Nam” dựa trên
nền tảng mô hình lý thuyết của Deborah L Swenson (2000) với mong muốn tìm ra tìm ra những bằng chứng về chuyển giá thông qua phân tích định lượng
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm ra bằng chứng thực nghiệm về hành vi chuyển giá tại Việt Nam thông qua phân tích định lượng nhằm ngăn chặn hành vi này, tránh thất thu ngăn sách nhà nước và tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp
Trang 141.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hành vi chuyển giá ở mức độ các nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tại Việt Nam
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
- Số liệu sử dụng phân tích trong bài nghiên cứu được thu thập trong vòng 6 năm từ năm 2008 đến năm 2013
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2013
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về hành vi chuyển giá ở mức độ các nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của nước ta trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Việc nghiên cứu về hành vi chuyển giá đã được các nhà khoa học quan tâm từ rất lâu về trước Các nghiên cứu về hành vi chuyển giá đầu tiên được
thực hiện bởi các học giả về định giá chuyển giao như Dean (1955),
Hirshleifer (1956), Argyris (1957), Heflebower (1960) nhưng chủ yếu là các
nghiên cứu mang tính chất lý thuyết phục vụ cho các mục đích quản trị doanh nghiệp, càng về sau những nghiên cứu này càng nhiều và phong phú hơn Trái với sự lâu đời và phong phú trong hướng nghiên cứu cũng như số lượng các bài nghiên cứu về lý thuyết, những bài nghiên cứu mang tính chất thực tế, những bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá chỉ mới xuất hiện trong những thập kỷ gần đây, cụ thể như sau:
Jenkins, Gordon P and Brian D Wright, (1975) “Taxation of Income of Multinational Corporations: The Case of the United States Petroleum Industry,” Review of Economics and Statistics
Đây là một trong những bài nghiên cứu đầu tiên về chuyển giá theo hướng thực nghiệm Đối tượng nghiên cứu là việc phân phối lợi nhuận của các công ty con ở nước ngoài của các công ty đa quốc gia Mỹ trong ngành dầu mỏ giai đoạn 1966 và 1970 Bài nghiên cứu sử dụng sử dụng thước đo dựa trên thu nhập được báo cáo, các khoản thanh toán thuế hoặc hàng hóa xuất khẩu trong nội bộ các công ty này và tác giả hồi quy các biến trong mô hình theo phương pháp OLS Kết quả cho thấy các công ty con ở những quốc gia có thuế suất thấp thì có lợi nhuận cao hơn Theo tính toán tổng hợp của các tác giả, các công ty Mỹ tránh được 2/3 nghĩa vụ thuế mà lẽ ra họ phải nộp cho các nước tiêu thụ dầu trong khoảng thời gian trên
Trang 15Alan Rugman and Lorraine Eden (1985) “A Comparison of Import Pricing by Foreign and Domestic Firms in Brazil” in Alan Rugman and Lorraine Eden, eds., Multinationals an Transfer Pricing, (London: Croom Helm Ltd., 1985)
Bài nghiên cứu này tác giả đã tập trung vào định giá chuyển giao sử dụng giá thị trường và các giao dịch quốc tế trong nội bộ công ty thông qua phương pháp so sánh giá của một vài hàng hóa nhập khẩu trong nội bộ công ty với giá thế giới Đối tượng của bài nghiên cứu này 127 sản phẩm của 141 công ty sản xuất trong và ngoài nước ở Brazil trong năm 1979 Tác gả đã giả định rằng giá được chi trả bởi những công ty trong nước phản ánh giá thị trường thế giới và sử dụng mức giá này như là điểm chuẩn để so sánh với giá nhập khẩu mà các công ty nước ngoài chi trả
Bằng cách kiểm định giá trị trung bình theo cặp, ông tìm thấy rằng các công ty đa quốc gia chi trả cho việc nhập khẩu nhiều hơn các doanh nghiệp nội địa với giá trên hóa đơn từ 21% đến 39%; giá nước ngoài cũng biến động nhiều hơn giá trong nước Các kết quả ủng hộ giả thuyết thao túng giá chuyển giao để tránh các quy định của chính phủ Và ông cũng nói thêm rằng, chênh lệch giá cũng có thể là do các nhân tố khác chứ không hoàn toàn là do thao túng giá chuyển giao; ví dụ, hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp đa quốc gia
có thể có được chất lượng cao hơn so với nhập khẩu trong nước
Deborah L Swenson (2000) “Tax Reforms and Evidence of Transfer Pricing”, National Tax Journal, 2001
Điềm nổi bật của bài nghiên cứu này là tác giả đã xây dựng nên mô hình động cơ chuyển giá, một trong những mô hình có độ tin cậy rất cao Mô hình động cơ chuyển giá được xây dựng với giá chuyển giao báo cáo chính là một hàm số theo giá thị trường, chi phí của hành vi né tránh thuế (bao gồm chi phí phạt khi bị cơ quan thuế phát hiện và chi phí thuế quan tăng thêm trong trường hợp tăng giá chuyển giao báo cáo), thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế quan tương ứng với cấu trúc thuế của từng quốc gia Để kiểm tra mối liên hệ của các biến tác giả hồi quy mô hình theo phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS) Bộ dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu sản phẩm nhập khẩu hàng năm của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1981-1986
Kết quả của bài nghiên cứu là tác giả tìm thấy một sự sụt giảm 5% trong thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nước ngoài gây ra một sự gia tăng nhỏ trong giá hàng hóa nhập khẩu của Hoa Kỳ Đóng góp mới trong mô hình của Swenson chính là việc có xem xét đến các chi phí phạt mà các công ty đa
Trang 16quốc gia phải gánh chịu nếu bị cơ quan thuế phát hiện ra hành vi chuyển giá Điều này có ý nghĩa to lớn đối với các cơ quan thuế trong việc tìm ra giải pháp tối ưu nhằm chống lại hành vi chuyển giá
Eden, L (2003) The internalization benefits of transfer price manipulation Bush School Working Paper # 315, Texas A&M University
Trong khi hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ xem xét tác động các chính sách của chính phủ lên giá chuyển giao, tác giả đã lần đầu tiên tập trung vào các đặc tính sản phẩm và cấu trúc thị trường ảnh hưởng như thế nào đến chuyển giá đối với dữ liệu nhập khẩu ở mức độ giao dịch của Mỹ Kết quả cho thấy:
Thứ nhất, chuyển giá có nhiều khả năng xảy ra ở những nơi mà sự trao đổi có tổ chức và giá tham chiếu không tồn tại, tức là khi sản phẩm được phân biệt
Thứ hai, chuyển giá có nhiều khả năng xảy ra đối với các sản phẩm chứa hàm lượng tri thức cao như hàng hóa được sản xuất theo công nghệ cao
Thứ ba, đầu vào càng quan trọng hơn đầu ra, thì độ co giãn giá hàng hóa nhập khẩu càng lớn đối với việc chuyển giao nội bộ so với chuyển giao theo thị trường
Thứ tư, quy mô cũng có vấn đề: công ty đa quốc gia lớn thì càng có nhiều khả năng thực hiện chuyển giá hơn các công ty đa quốc gia nhỏ
Như vậy, tác giả đã tìm thấy một bằng chứng trực tiếp về việc chuyển giá mạnh mẽ để đáp lại sự không hoàn hảo của cả thị trường và chính phủ
Bernard, Andrew B.; Jensen, J.Bradford; and Peter K.Schott (2006) Transfer Pricing by U.S.-Based Multinational Firms Economic Journal
Đây là tác giả đầu tiên xem xét ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên quyết định định giá bên trong và bên ngoài đối với các công ty đa quốc gia có trụ sở tại Mỹ Ngoài sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái tác giả còn quan tâm đến cấu trúc thị trường, thuế, thuế quan Tác giả đã kiểm tra mối liên hệ giữa sự thay đổi của mức giá chuyển giao với các biến độc lập thông qua hồi quy theo phương pháp OLS Đối tượng nghiên cứu cũa bài là các công ty đa quốc gia
có trụ sở tại Mỹ
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy giá phản ứng với chuyển động của
tỷ giá hối đoái thực: sự tăng giá của đồng USD kết hợp với một sự thu hẹp lớn của nêm giá Kết quả này ủng hộ giả thuyết rằng giao dịch nội bộ đóng vai trò trong việc xác định chỉ số giá xuất khẩu tổng hợp Quan trọng hơn, điều này
Trang 17cho thấy giao dịch nội bộ có thể đóng một vai trò trong việc cách ly các công
ty đa quốc gia khỏi biến động tỷ giá
Trang 18CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Khái quát về hành vi chuyển giá
Hoạt động chuyển giá ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp hơn do đó những định nghĩa về nó cũng không ngừng được điều chỉnh, bổ sung sao cho phù hợp với bản chất mỗi giai đoạn, mỗi cách tiếp cận Một trong những định nghĩa đầu tiên về chuyển giá của Lall (1979, p.3), ông cho rằng trong giao dịch với các bên có liên quan thì các mối quan hệ thương mại cũng như tài chính có thể không bị ảnh hưởng trực tiếp theo lực thị trường, hay nói cách khác nó sẽ không tuân theo quan hệ cung cầu Kết quả là giá chi trả cho hàng hóa chuyển giao nội bộ có thể khác với giá mà được giao dịch với các bên không liên quan (độc lập) với cùng một hàng hóa có thể so sánh Nếu lợi nhuận tổng thể của các công ty đa quốc gia tăng hay chi phí của chúng giảm, khi đó các công ty mẹ có động cơ để dịnh giá chệch khỏi mức giá thực sự của hàng hóa, dịch vụ, và đó là hành vi chuyển giá
Theo thời gian định nghĩa về chuyển giá cũng có nhiều thay đổi OECD (1995) đã ban hành hướng dẫn về thực hành chuyển giá với nhìn nhận về chuyển giá như sau: “Chuyển giá là cơ chế được thông qua bởi các công ty đa quốc gia để xác định giá trị hàng hóa và dịch vụ giao dịch với các công ty con hoặc công ty liên kết ở nước ngoài nhằm mục đích làm giảm nghĩa vụ thuế phải nộp và tối đa hóa lợi nhuận Thước đo có thể chấp nhận giá chuyển nhượng là "Giá theo nguyên tác thị trường" - đại diện cho các giá trong các giao dịch có thể so sánh giữa các bên độc lập”
Và gần đây nhất Võ Thanh Thu và Ngô Thị Ngọc Huyền (2011, trang 240) đã có định nghĩa về chuyển giá là một hành vi thông đồng giữa các công
ty trong cùng một tập đoàn để thực hiện dàn xếp áp đặt về mặt giá cả giữa các công ty không dựa trên giá thị trường nhằm chuyển lợi nhuận từ nước này sang nước khác, tránh nộp thuế đầy đủ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của cả tập đoàn
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau trong từng giai đoạn nhưng nhìn chung chuyển giá có những đặc điểm chính như sau:
Giá cả mua bán không được xác định dựa vào thị trường, mà dựa trên tính toán của các nhà quản lý của các tập đoàn đa quốc gia
Định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định
Trang 19 Các công ty thực hiện chuyển giá với nhau có mối quan hệ cộng sinh đặc biệt về quyền lợi tài chính và tổ chức
2.1.2 Động cơ của hành vi chuyển giá trong các công ty
Hành vi chuyển giá có hai nhóm động cơ chính đó là động cơ từ bên
ngoài và động cơ từ bên trong (Viện nghiên cứu tài chính, 2001, trang 17)
2.1.2.1 Động cơ của hành vi chuyển giá từ bên ngoài
Sự chênh lệch thuế suất giữa các quốc gia
Thuế là lĩnh vực thu hút sự chú ý nhiều nhất của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách khi nghiên cứu về chuyển giá Đây cũng là lĩnh vực
mà chính phủ thường ban hành luật về chống chuyển giá Quy tắc cơ bản của việc tối thiểu hóa số thuế phải nộp của các công ty có hoạt động ở hai quốc gia
là tối đa hóa chi phí báo cáo tại nước có thuế suất cao và thu nhập báo cáo tại nước có thuế suất thấp Vì vậy, các công ty thực hiện thủ thuật chuyển giá bằng cách tăng giá hàng xuất khẩu nội bộ đến và giảm giá hàng nhập khẩu từ quốc gia có thuế suất thấp hơn Như vậy, các công ty có thể giảm số thuế phải nộp và do đó tăng số lợi nhuận
Kỳ vọng tỷ giá và chi phí cơ hội của việc đầu tư
Việc tồn tại các loại đồng tiền khác nhau và các điều chỉnh tỷ giá ngoại
tệ tạo nên rủi ro cao đối với bất kỳ các công ty có giao dịch nội bộ Tuy nhiên, rủi ro có thể giả bằng cách thay đổi thời gian thanh toán thông qua việc sử dụng phương thức “trả trước” và “trả sau” Với mục đích là bảo toàn và phát triển nguồn vốn đầu tư ban đầu, các MNC sẽ tiến hành đầu tư vào một quốc gia nếu họ dự đoán rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ mạnh lên, nghĩa là số vốn đầu tư ban đầu của họ được bảo toàn và phát triển, ngược lại họ sẽ rút đầu tư ra khỏi một quốc gia nếu họ dự đoán rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ bị yếu đi, nghĩa là vốn đầu tư ban đầu của họ bị giảm đi
Chi phí cơ hội cũng là vấn đề quan trọng khi các công ty xem xét quyết định chuyển giá Công ty mẹ thường nhận lợi nhuận chuyển về từ các công ty con sau một năm tài khóa và sau khi các cơ quan thuế quan và cơ quan quản lý ngoại hối kiểm tra tính hợp pháp Bằng việc định giá cao công ty mẹ tự do chuyển thu nhập torng suốt một năm và không phải đợi đến cuối năm Hơn nữa, các công ty phải xem xét chi phí cơ hội của số vốn đầu tư trong nước có lạm phát cao Chi phí này phản ánh việc tăng thêm thu hồi ròng của công ty bằng cách chuyển thu nhập sớm hơn thông qua chuyển giá trước khi lạm phát tăng cao xảy ra Rõ ràng thu nhập từ chuyển giá không bị đánh thuế trong khi
Trang 20đó lợi nhuận chuyển về chính là chi phí mất đi do phải trả nợ phần thuế ở nước chủ nhà
Môi trường kinh doanh và các áp lực chính trị xã hội
Đứng trên góc độ của công ty, khi các số lượng pháp quyền gia tăng thì chi phí và rủi ro cũng gia tăng Công ty đối mặt với chi phí giao dịch cao hơn, chi phí quan hệ vớ cơ quan chính phủ cao hơn và rủi ro chính trị cao hơn Nếu công ty hoạt động ở những nước có rủi ro cao, công ty có thề chuyển lợi nhuận
ra khỏi đất nước đó thông qua chuyển giá Nếu bất kỳ quốc gia nào kiểm soát hoạt động của các MNC thì quốc gia này có thể buộc các MNC này thực hiện chuyển giá vì lý do an toàn dài hạn mà không lưu tâm đến các yếu tố ngắn hạn
ví dụ như sự chênh lệch về thuế suất
Hơn nữa chuyển giá trở nên phổ biến ở các nước đang phát triển hơn là
ở các nước phát triển Lý do là các quy định pháp luật về chống chuyển giá tại các nước này còn yếu kém, các chuyên gia về chuyển giá để xác định giá thị trường và theo dõi hành vi này cũng thiếu
2.1.2.2 Động cơ của hành vi chuyển giá từ bên trong
Ngoài những yếu tố bên ngoài đã nêu trên, thì hoạt động chuyển giá còn được thực hiện do các yếu tố thúc đẩy từ bên trong:
Khi các hoạt động sản xuất kinh doanh của MNC tại chính quốc bị thua
lỗ hay tại các công ty thành viên trên các quốc gia khác Lý do dẫn đến sự thua
lỗ có thể là do sai lầm trong kế hoạch kinh doanh, sai lầm trong việc nghiên cứu và đưa sản phẩm mới vào thị trường, các chi phí quản lý hay chi phí quảng cáo, quảng bá sản phẩm quá cao dẫn đến kết quả kinh doanh bị thua lỗ
Để tạo ra một bức tranh tài chính tươi sáng hơn cho công ty khi đứng trước các cổ đông và các bên hữu quan khác thì chuyển giá như là một cứu cánh để thực hiện ý đồ trên Chuyển giá giúp cho các MNC san sẻ thua lỗ giữa các thành viên với nhau từ đó làm giảm các khoản thuế phải nộp và tạo nên bức tranh kết quả kinh doanh giả tạo vi phạm pháp luật của các quốc gia
- Các MNC khi thâm nhập vào một thị trường mới thì điều quan trọng trong giai đoạn này là phải chiếm lĩnh thị trường, chiếm lĩnh thị phần nhằm xây dựng nền móng ban đầu cho hoạt động kinh doanh sau này Vì vậy mà các MNC trong giai đoạn này sẽ tăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm làm cho giai đoạn này MNC sẽ bị lỗ nặng và kéo dài Trong các mối liên kết kinh doanh hay hợp tác kinh doanh thì các MNC sẽ dựa vào tiềm lực tài chính hùng hậu của mình mà thực hiện các hành vi chuyển giá bất hợp pháp để làm cho hoạt động kinh doanh thua lỗ kéo dài và chiếm lấy quyền
Trang 21quản lý và kiểm soát công ty Tồi tệ hơn là đẩy các đối tác ra khỏi hoạt động kinh doanh và chiếm toàn bộ quyền kiểm soát và chuyển quyền sở hữu công
ty Tình trạng này thường xảy ra phổ biến tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam khi mà trình độ quản lý còn yếu kém Sau khi đánh bật các các đối thủ và những bên liên kết kinh doanh ra khỏi thị trường thì MNC sẽ chiếm lĩnh thị trường và nâng giá sản phẩm để bù lại phần chi phí trước đây đã bỏ ra
- Do được hưởng các đặc quyền, đặc lợi trong quá trình kêu gọi đầu tư của nước chủ nhà và nắm trong tay các quyền về kinh tế chính trị và xã hội mà MNC xem công ty con đặt trên quốc gia này như là trung tâm lợi nhuận của cả MNC và thực hiện hành vi chuyển giá để lại hậu quả đáng kể cho nước tiếp nhận đầu tư
- Ngoài ra chuyển giá còn được thực hiện do việc chuyển giao các sản phẩm và dịch vụ có tính đặc thù cao, độc quyền và tính bảo mật cao như trong các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, y dược… nhằm giảm các rủi ro khi giao dịch các sản phẩm này thì chuyển giá là phương pháp được các MNC lựa chọn
2.1.3 Những hình thức chuyển giá chủ yếu hiện nay trong các doanh nghiệp.(Võ Thanh Thu và Ngô Thị Ngọc Huyền, 2011, trang 245-248)
2.1.3.1 Nâng giá trị vốn góp
Các MNC có máy móc thiết bị công nghệ hiện đại nên tận dụng những lợi thế của mình các MNC sẽ tiến hành góp vốn bằng máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại Do phía Việt Nam chưa có đủ năng lực và trình độ để thẩm định giá các loại thiết bị công nghệ hiện đại này nên thường sẽ bị các đối tác nước ngoài định giá các thiết bị, công nghệ cao hơn giá trị thực tế của chúng Việc định giá cao sẽ làm nâng giá trị vốn góp trong liên doanh của bên đối tác và chiếm lấy quyền quản trị công ty Về phía đối tác Việt Nam đa phần chỉ góp vốn bằng giá trị sử dụng đất nên giá trị vốn góp trong liên doanh thường rất thấp Việc định giá cao thiết bị máy móc đầu tư ban đầu đã giúp cho các MNC chuyển một lượng tiền đi ngược trở ra cho công ty mẹ ngay từ lúc đầu tư ban đầu
Tình trạng nâng giá tài sản góp vốn trên mang lại sự thiệt hại cho cả 3 đối tượng là phía liên doanh góp vốn Việt Nam, chính phủ Việt Nam và cả người tiêu dùng Việt Nam Bên liên doanh Việt Nam bị thiệt trong phần vốn góp, làm cho tỷ lệ góp vốn nhỏ lại; Chính phủ Việt Nam bị thất thu thuế; còn người tiêu dùng Việt Nam phải tiêu dùng sản phẩm với giá cả đắt hơn giá trị thực tế của sản phẩm Do nâng giá trị tài sản góp vốn nên tỷ lệ vốn cao hơn
Trang 22phía Việt Nam, vì vậy bên đối tác nước ngoài thường sẽ nắm quyền kiểm soát
và điều hành doanh nghiệp
Đối tác nước ngoài sẽ điều hành công ty theo mục đích của họ để cho tình hình thua lỗ kéo dài và bên liên doanh Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt động đành phải bán lại phần vốn góp và hàng loạt các công ty liên doanh trở thành công ty 100% vốn nước ngoài
2.1.3.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ, thương hiệu…(tài sản vô hình)
Đây là hành vi chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ và thu phí tiền bản quyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản cố định vô hình Việc định giá chính xác được tài sản vô hình của các nhà đầu tư hết sức khó khăn, lợi dụng việc này mà các công ty góp vốn chủ ý thổi phồng phần vốn góp bằng thương hiệu, công thức pha chế, chuyển gia công nghệ nhằm tăng phần vốn góp của mình lên
Trong tình hình công ty liên doanh thường xuyên thua lỗ, phía liên doanh Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề nhưng ngược lại phía liên doanh nước ngoài vẫn không hề hấn gì vì họ vẫn nhận đủ tiền bản quyền từ nhãn hiệu và tiền bản quyền lại có xu hướng ngày càng tăng ngày càng tăng
2.1.3.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường
Các công ty đa quốc gia khi vào thị trường một quốc qia nào đó, mục tiêu ưu tiên của họ là giành lấy thị phần của các công ty nội địa đang hoạt động trong lãnh vực mà họ kinh doanh Với mục tiêu này các MNC thường sẽ liên doanh với một công ty nội địa hơn là vào đầu tư thẳng là công ty 100% vốn nước ngoài Nguyên nhân là các MNC này muốn sử dụng hệ thống phân phối và thị phần có sẵn của các công ty nội địa Sau một thời gian liên doanh thì các MNC này sẽ dùng các thủ thuật khác nhau, trong đó có thủ thuật chuyển giá để đẩy công ty nội địa ra và chuyển công ty liên doanh thành công
ty 100% vốn nước ngoài
Với những thủ thuật này, một mặt các MNC sẽ chiếm lĩnh được thị trường của các công ty nội địa ở quốc gia đó, đồng thời việc đẩy đối tác ra khỏi liên doanh, các MNC sẽ giành được toàn bộ phần lợi nhuận thu dược tử hoạt động kinh doanh ở quốc gia đó mà vẫn không tốn nhiều chi phí và thời gian cho việc tìm hiểu thị trường và quản bá hình ảnh
Trang 232.1.4 Tác động của hành vi chuyển giá đến các công ty, nước xuất khẩu đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư (Võ Thanh Thu và Ngô Thị Ngọc Huyền, 2011, trang 249-253)
2.1.4.1 Tác động của hành vi chuyển giá đến các công ty
Hoạt động chuyển giá dưới góc độ của MNC sẽ được nhìn nhận theo hai hướng khác nhau, đó là có thể giúp cho MNC dễ dàng thực hiện kế hoạch
và mục tiêu kinh doanh của mình về lợi nhuận và thuế Nhưng một mặt khác, chuyển giá lại mang lại nguy cơ MNC phải gánh chịu những hình phạt nặng
nề của quốc gia sở tại và các quốc gia có liên quan
Dựa vào các lợi thế về tiềm lực tài chính, những ưu đãi mà các quốc gia đặc cách cho các MNC khi kêu gọi thu hút đầu tư như thuế suất, hạn ngạch, lĩnh vực đầu tư… thì các MNC có thể thực hiện việc chuyển giá nhằm giảm thiểu việc thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với quốc gia mà mình đặt trụ
sở
Thực hiện việc chuyển giá sẽ giúp cho MNC dễ dàng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và thực hiện những kế hoạch kinh doanh một cách nhanh chóng, không bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh Trường hợp này thường được các MNC thực hiện tại các quốc gia có chính sách tiền tệ thắt chặt
Việc chuyển giá còn giúp cho các MNC nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường nội địa, đánh bật và thâu tóm các công ty nhỏ lẻ trong nước dựa vào nguồn lực tài chính dồi dào của mình Khi thực hiện việc xâm chiếm thị trường thì chi phí sẽ được chia sẻ cho các công ty con khác và cả công ty mẹ
Vì vậy đứng trên phương diện tài chính thì MNC sẽ không bị áp lực nhiều về tình trạng thua lỗ
Các MNC sẽ xây dựng một kế hoạch về thuế trên qui mô tổng thể sao cho có lợi nhất và từ đó dựa vào sự chênh lệch về mức lãi suất giữa các quốc gia để thực hiện việc mua bán nội bộ, chuyển giá nếu cần thiết nhằm đạt mục tiêu về thuế
Thông qua việc bán các tài sản, thiết bị lỗi thời với giá cao thì một mặt giúp các công ty tại chính quốc thay đổi được công nghệ với chi phí thấp, một mặt lại thu hồi vốn đầu tư nhanh tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư
Thông qua việc mua bán qua lại thì các MNC có thể tránh được các rủi ro trong hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm vì các hoạt động này thường tốn nhiều chi phí và khả năng thành công cũng không cao MNC sẽ giảm được một số các rủi ro về tỷ giá, rủi ro về thị trường tiêu thụ sản phẩm,
Trang 24rủi ro về tính ổn định của nhà cung cấp nguyên vật liệu và chất lượng nguyên vật liệu và một số rủi ro khác
Bên cạnh những lợi ích của việc chuyên giá mang lại cho MNC thì MNC sẽ phải gánh chịu những hình phạt rất nghiêm khắc nếu việc chuyển giá
bị cơ quan thuế của các quốc gia mà các MNC có mặt phát hiện được MNC
sẽ bị phạt một số tiền rất lớn, có khả năng bị rút giấy phép kinh doanh và chấm dứt mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tại quốc gia đó Bên cạnh đó uy tín của MNC trên thương trường quốc tế cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và là tâm điểm chú ý của các cơ quan thuế của các quốc gia khác mà MNC có trụ
sở
2.1.4.2 Tác động của hành vi chuyển giá đối với các quốc gia liên
quan nước xuất khẩu vốn đầu tư (nơi có công ty mẹ của tập đoàn đa quốc gia)
Tác động của chuyển giá đối với quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư
Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC định giá cao các yếu tố đầu vào từ đó các MNC này rút ngắn thời gian thu hồi vốn, vì vậy mà các luồng vốn có xu hướng chảy ngược ra khỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư Các hành động chuyển giá nhằm thu hồi vốn nhanh hơn so với kế hoạch đầu tư ban đầu sẽ làm cho thay đổi cơ cấu vốn của nền kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư Hậu quả là tạo ra sự phản ánh sai lệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, tạo ra một bức tranh kinh tế không trung thực
Trong một số trường hợp, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn nên trở thành người được hưởng lợi từ hoạt động chuyển giá của các MNC Vì vậy mà các quốc gia này cố ý làm lơ để các MNC tha hồ thực hiện hành vi chuyển giá và các quốc gia này không sẵn lòng hợp tác với chính quốc để ngăn chặn hành vi chuyển giá Về lâu dài, khi mà có
sự chuyển biến của môi trường kinh doanh quốc tế thì các quốc gia này từng được xem là “thiên đường về thuế” sẽ đến lượt gánh chịu những hậu quả do việc thả lỏng và thờ ơ trong công tác quản lý trước đây gây ra Lúc này các quốc gia này sẽ phải đương đầu với khó khăn về tài chính do các nguồn thu không bền vững đã phản ánh không chính xác sức mạnh của nền kinh tế và khủng hoảng kinh tế sẽ xảy ra
Thông qua hoạt động chuyển giá nhằm xâm chiếm thị phần khi mới tham gia vào thị trường, các MNC sẽ tiến hành các chiêu thức quảng cáo và khuyến mãi quá mức, và hậu quả là lũng đoạn thị trường Các doanh nghiệp trong nước không đủ tiềm lực tài chính để cạnh tranh vì vậy mà dần dần sẽ bị
Trang 25phá sản hoặc buộc phải chuyển sang kinh doanh trong các ngành khác Các MNC sẽ dần trở nên độc quyền và thao túng thị trường trong nước, kiểm soát giá cả và mất dần tính tự do cạnh tranh của thị trường tự do Chính phủ của quốc gia này sẽ gặp khó khăn trong quá trình hoạch định các chính sách kinh
tế vĩ mô và không thể thúc đẩy ngành sản xuất trong nước phát triển
Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC sẽ thực hiện kế hoạch thôn tính các doanh nghiệp trong nước Với tiềm lực tài chính mạnh, các MNC
sẽ tiến hành liên doanh với các doanh nghiệp trong nước với tỷ lệ vốn góp cao
để nắm quyền quản lý Khi đã nắm được quyền quản lý các MNC sẽ thực hiện hành vi chuyển giá nhằm làm cho kết quả kinh doanh thua lỗ kéo dài Khi kết quả hoạt động kinh doanh bị thua lỗ thì bắt buộc phải tăng vốn góp lên, nếu các đối tác trong nước không đủ tiềm lực tài chính sẽ phải bán lại phần vốn góp của mình và như vậy là từ công ty liên doanh chuyển thành công ty 100% vốn nước ngoài Kế hoạch thôn tính doanh nghiệp trong nước đã thành công
Các hoạt động chuyển giá sẽ làm phá sản kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân của các quốc gia tiếp nhận đầu tư Nếu không bị ngăn chặn kịp thời thì về lâu dài các quốc gia tiếp nhận đầu tư sẽ phải phụ thuộc về mặt kinh tế và tiếp theo sau đó là sự chi phối về mặt chính trị Hoạt động chuyển giá sẽ gây ra tình trạng mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế của quốc giá đó
Tác động đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư
Xem xét toàn bộ quá trình thực hiện hành vi chuyển giá thì chúng ta có thể nhận ra là các MNC là người được hưởng lợi nhiều nhất vì tối thiểu được khoản thuế phải nộp Quốc gia nào có thuế suất thấp hơn sẽ được hưởng lợi, trong ví dụ trên chính quốc là quốc gia bị thiệt thòi nhất và chính quốc cũng chính là quốc gia xuất khẩu đầu tư Chuyển giá làm thất thu thuế của quốc gia xuất khẩu đầu tư nếu thuế suất ở quốc gia này cao hơn thuế suất của quốc gia tiếp nhận đầu tư, làm mất cân đối trong kế hoạch thuế của quốc gia này Trong một số trường hợp nghiệm trọng hơn thì các quốc gia này còn bị các MNC
“móc túi” tiền thuế thu được từ các công ty làm ăn lương thiện khác đã nộp
Hoạt động chuyển giá sẽ làm cho dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chính phủ của quốc gia xuất khẩu đầu tư, vì vậy mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô sẽ gặp nhiều khó khăn
Tuy hành vi chuyển giá của MNC mang lại những tác động không tốt
cả cho nước tiếp nhận đầu tư và nước xuất khẩu đầu tư nhưng có một số quốc gia vì lợi ích riêng của mình và tạo điều kiện thuận lợi cho các MNC thực hiện
Trang 26hành vi chuyển giá nhằm chuyển lợi nhuận của MNC tại các quốc gia khác về Các quốc gia này xây dựng các mức thuế suất thật thấp, thậm chí bằng không
và tạo thành các “thiên đường về thuế” để các MNC thực hiện việc chuyển giá thông qua việc thành lập chi nhánh tại những quốc gia này và mang những tài sản có giá trị như bí quyết công nghệ, bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu phát minh sản phẩm mới, chi phí quảng cáo và khai lợi nhuận phát sinh tại đây
là cao nhất Các quốc gia này với các mục tiêu khác nhau như kêu gọi đầu tư, tạo công ăn việc làm cho dân cư trong nước… Ví dụ như các quốc gia Puerto-Rico và Bahamas với việc thực hiện “thiên đường về thuế” đã thu hút được các MNC đóng trụ sở chính tại các quốc gia này và chuyển tài sản, lợi nhuận, các luồng vốn từ Mỹ về đã gây khó khăn trong công tác quản lý các nguồn vốn, quản lý vĩ mô về kinh tế tại Mỹ
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.2.1 Mô hình động cơ chuyển giá của Swenson (2000)
Các số liệu sẽ được làm rõ thông qua phân tích định lượng dựa trên nền tảng lý thuyết của Swenson(2000), sở dĩ tôi chọn áp dụng phương pháp của Swenson là vì lý do sau:
Khi quá trình hội nhập ngày càng phát triển, việc mở rộng đầu tư sang môi trường bên ngoài trở thành chiến lược tất yếu của các công ty Họ tiến hành thiết lập các công ty con, các chi nhánh của mình nhằm mở rộng địa bàn kinh doanh, tận dụng các cơ hội cùng các lợi thế so sánh ở từng quốc gia nơi công ty đặt trụ sở để góp phần gia tăng lợi nhuận Việc tối đa hóa lợi nhuận ở khâu cuối cùng là một vấn đề mà tất cả các công ty quan tâm và bằng mọi cách đạt được Thực tế thì hiện tượng xuất hiện các khoản lỗ bất thường trong khi nơi khác lại có lợi nhuận vượt trội trong nội bộ công ty là tín hiệu cho thấy bất thường nhằm phục vụ cho mục đích trên Khi quốc gia tiếp nhận đầu tư có bất kỳ thay đổi nào đều nhận lại những phản ứng từ các công ty đầu tư mà đặc biệt là sự thay đổi về thuế suất Khi mà không thể gia tăng lợi nhuận từ các hoạt đông khác được nữa thì việc tìm kiếm lợi nhuận dựa trên thuế suất đang dần thu hút sự quan tâm của các công ty đầu tư mà cụ thể hơn là áp dụng hành
vi chuyển giá Vậy liệu hành vi chuyển giá mà đại diện cho nó là giá chuyển giao báo cáo có mối tương quan nào đến thuế suất hay không? Xuất phát từ ý tưởng đó tôi quyết định chọn lý thuyết của Swenson (2000), lý thuyết của ông
là một trong những lý thuyết đầu tiên tiếp cận tiếp cận vấn đề chuyển giá theo phương pháp trực tiếp, tức là tìm ra bằng chứng chuyển giá một cách rõ ràng thông qua xem xét trực tiếp mối quan hệ giữa giá chuyển giao ở mức độ sản phẩm (không phải lợi nhuận) với các mức thuế suất thuế thu nhập doanh
Trang 27nghiệp và thuế quan khác nhau giữa các khu vực Điều đó rất phù hợp với những ý tưởng ban đầu mà tôi đặt ra
Mô hình của các động cơ chuyển giá bắt đầu với một công ty đa quốc gia hoạt động tại nước mẹ và có một công ty con hoạt động tại nước ngoài Thu nhập kinh tế của công ty đa quốc gia này trong nước cũng như nước ngoài được xác định bởi các quyết định thực tế Công ty tìm kiếm được một thu nhập 𝝆𝒉 đối với những hoạt động tại nước mẹ và kiếm được thu nhập là 𝝆𝒇cho những hoạt động tại nước ngoài Giả định rằng công ty mẹ chuyển cho công ty con những sản phẩm chưa hoàn chỉnh nhằm mục đích lắp ráp hoặc những sản phẩm đã hoàn chỉnh để bán ra tại thị trường nước ngoài Nếu công
ty mẹ chọn giá chuyển giao phản ánh đúng nguyên tắc thị trường (arm’s length standard) thì thu nhập thực tế của công ty cũng chính là thu nhập chịu thuế mà công ty dựa trên đó để đóng thuế tại nước mẹ và nước ngoài Mặc dù vậy, nếu công ty đa quốc gia thao túng giá chuyển giao, gây nên việc giá chuyển giao
báo cáo p R (reported transfer price) bị lệch khỏi giá thị trường p (arm’s length
price) thì sẽ làm thay đổi thu nhập chịu thuế của công ty tại nước mẹ và nước
ngoài Trong khi công ty có thể định giá chuyển giao p R thấp hơn giá thị
trường p thì công ty sẽ không chọn mức giá chuyển giao báo cáo thấp hơn
hoặc bằng 0 Ngoài ra, mô hình của Swenson (2000) cũng giả định rằng thu nhập của công ty con đủ lớn để lợi ích của việc thao túng giá chuyển giao không bị giới hạn
Việc định giá chuyển giao cao hay thấp hơn giá thị trường được đại diện bởi một biên định giá chuyển giao:
𝛿𝑓 = 𝑝𝑅− 𝑝 (2.1)
Một giá trị dương của 𝛿𝑓chỉ ra rằng công ty mẹ tính cho công ty con một mức giá cao hơn so với giá thị trường đối với những sản phẩm mà công ty con nhập khẩu từ công ty mẹ và ngược lại Khi công ty định giá chuyển giao cao hơn giá thị trường, thu nhập báo cáo tại công ty mẹ sẽ tăng lên với sự đánh đổi là sự giảm xuống trong thu nhập của công ty con tại nước ngoài Việc này
sẽ được cụ thể hóa ngay sau đây Những quyết định định giá chuyển giao của công ty đa quốc gia bị tác động theo một số cách nhất định Do thành tố
𝛿𝑓đại diện cho phần giá bị định cao hơn hoặc thấp hơn so với giá thị trường trên mỗi đơn vị sản phẩm mà công ty mẹ bán cho công ty con nên phần thu
nhập được chuyển phụ thuộc vào lượng hàng hóa nhập khẩu nội bộ M từ công
ty mẹ sang công ty con Giá chuyển giao cao làm gia tăng thu nhập chịu thuế của công ty mẹ một khoản bằng 𝛿𝑓*M đồng thời giảm thu nhập chịu thuế của công ty con một khoản đúng bằng 𝛿𝑓*M Một vấn đề nữa ảnh hưởng đến
Trang 28quyết định định giá chuyển giao của công ty đa quốc gia là giá chuyển giao cao cũng làm tăng phần thuế nhập khẩu mà công ty con phải trả tại nước ngoài dẫn đến thu nhập chịu thuế của công ty đa quốc gia tại nước ngoài giảm xuống một khoản bằng với khoản chi trả thuế nhập khẩu tăng lên TARf*𝛿𝑓*M, trong đó TARf là thuế suất thuế nhập khẩu tại nước ngoài nơi công ty con hoạt động
Ngoài những vấn đề phải đối mặt nói trên, những công ty đa quốc gia
có ý định thao túng giá chuyển giao còn phải đối mặt với một số chi phí Những chi phí này trước hết là chi phí thiết kế, bao gồm việc thuê những nhà
tư vấn cho việc định giá chuyển giao Ngoài ra, những công ty này còn phải đối mặt với những khoản phạt từ chính phủ nếu bị phát hiện có hành vi thao túng giá chuyển giao Hai tham số đại diện cho những chi phí cũng như những khoản phạt mà công ty đa quốc gia phải gánh chịu cho việc thao túng giá
chuyển giao lần lượt tại nước mẹ và nước ngoài là a h và a f Ngoài ra, Swenson (2000) còn giả định rằng những chi phí này là không âm, tăng tuyến tính theo khối lượng hàng hóa nhập khẩu nội bộ từ công ty mẹ sang công ty con và bình phương của biên giá chuyển giao (𝛿𝑓) Điều này hàm ý rằng việc phát hiện sự thao túng giá chuyển giao là khó có thể với những sự định giá chênh lệch khá nhỏ, nhưng xác suất phát hiện sẽ tăng cùng với sự gia tăng biên giá chuyển giao
Thông thường, mục đích cuối cùng của việc thao túng giá chuyển giao của công ty đa quốc gia là nhằm tối đa hóa thu nhập tổng thể Để thực hiện điều này, công ty đa quốc gia cần định ra biên giá chuyển giao tối ưu nhằm tối
đa hóa thu nhập tổng thể E, là một hàm số của giá trị sau thuế của thu nhập
công ty tại nước mẹ và nước ngoài, được cho cụ thể như sau:
2
𝑀 𝛿 𝑓 2
𝑝 đại diện cho lợi nhuận được báo cáo tại nước ngoài Không giống như τh – chắc chắn là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước mẹ, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng
Trang 29cho công ty con, τa , phụ thuộc vào hình thức đánh thuế tại nước mẹ và có khả năng phụ thuộc vào thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tương đối áp dụng trong nước mẹ và ở nước ngoài
Có hai phương thức đánh thuế thu nhập doanh nghiệp khác nhau ở các quốc gia, cụ thể là đánh thuế theo nơi tạo ra thu nhập (territorial method of taxation) và đánh thuế theo nơi cư trú (residential method of taxation) Những công ty đa quốc gia đặt trụ sở tại những nước sử dụng phương pháp đánh thuế theo nơi tạo ra thu nhập chỉ chi trả phần thuế tính trên thu nhập kiếm được tại nước ngoài và theo thuế suất nước ngoài Những công ty mẹ bị đánh thuế theo nơi tạo ra thu nhập không chi trả thuế tại nước mẹ cho những hoạt động của chúng được thực hiện ở nước ngoài Ngược lại, những công ty mẹ bị đánh thuế theo nơi cư trú phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập kiếm được tại mọi nơi, bao gồm thu nhập kiếm được tại nước ngoài Trên thực
tế, thuế suất liên quan đến hoạt động của các công ty đa quốc gia mà có nước
mẹ sử dụng phương pháp đánh thuế theo nơi cư trú là thuế suất cao nhất giữa thuế suất tại nước mẹ và nước ngoài Với đặc điểm nói trên, có thể dễ dàng thấy được τa nhận giá trị là τf trong trường hợp công ty mẹ bị đánh thuế theo nơi tạo ra thu nhập hoặc công ty mẹ bị đánh thuế theo nơi cư trú và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước mẹ thấp hơn thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước ngoài; τa nhận giá trị là τh khi công ty mẹ bị đánh thuế theo nơi cư trú và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước mẹ cao hơn thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước ngoài
Trường hợp 1: Với những công ty mẹ bị đánh thuế theo nơi tạo ra thu
nhập hoặc những công ty mẹ bị đánh thuế theo nơi cư trú và thuế suất tại nước
mẹ thấp hơn thuế suất tại nước ngoài, thay τa = τf và thực hiện đạo hàm với Max E (𝛿) để tìm ra 𝛿𝑓 tối ưu như sau:
𝜏: thuế suất thuế TNDN của quốc gia mẹ
𝜏𝑓: thuế suất thuế TNDN ở nước ngoài
Trang 30𝑇𝐴𝑅𝑓: thuế suất thuế nhập khẩu
𝑎: chi phí và các hình phạt áp dụng tại quốc gia mẹ
𝑎𝑓: chi phí và các hình phạt áp dụng tại nước ngoài
Công thức trên cho thấy giá chuyển giao báo cáo bằng với giá thị trường cộng với một biên giá chuyển giao Quyết định của công ty đa quốc gia định giá chuyển giao cao hay thấp hơn so với giá thị trường là tùy thuộc vào
sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu giữa các quốc gia Về cơ bản, công ty đa quốc gia sẽ so sánh lợi ích của việc chuyển thu nhập ra khỏi công ty con ở nước ngoài và chi phí của việc này Cụ thể, lợi ích của việc chuyển thu nhập ra khỏi nước nhận đầu tư phụ thuộc vào sự khác biệt thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa hai quốc gia (τf – τh), còn chi phí của việc này chính là chi phí sau thuế thu nhập của thuế quan TARf(1 - τf) Công ty sẽ chọn giá chuyển giao cao hơn giá thị trường trong trường hợp chi phi sau thuế thu nhập của thuế quan thấp hơn lợi ích về thuế nhận được từ việc tái phân bổ thu nhập về nước mẹ, nơi có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn Tử số trong công thức nói trên được gọi là
động cơ chuyển giá (transfer pricing incentive) TPI; TPI = 𝜏𝑓− 𝜏 −𝑇𝐴𝑅𝑓(1 − 𝜏𝑓) Động cơ chuyển giá xác định thu nhập của công ty đa quốc gia sẽ tăng hoặc giảm bao nhiêu khi công ty định giá chuyển giao cao hơn giá thị trường 1 USD Nếu TPI dương, công ty có thể gia tăng thu nhập toàn cầu bằng cách định giá chuyển giao cao hơn giá thị trường Chẳng hạn, nếu TPI = 0.11 thì điều này có nghĩa rằng thu nhập toàn cầu của công ty sẽ tăng 11 cent với mỗi đồng USD bị định giá chuyển giao cao hơn so với giá thị trường Ngược lại, nếu TPI âm, công ty sẽ gia tăng thu nhập toàn cầu bằng cách định giá chuyển giao báo cáo thấp hơn so với giá thị trường Với một vài trường hợp trong đó thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước mẹ và nước ngoài
là như nhau và thuế suất thuế nhập khẩu tại nước ngoài bằng 0 thì TPI = 0, khi
đó công ty không có động cơ dịch chuyển thu nhập vào hoặc ra khỏi nước nhận đầu tư
Trường hợp 2: những công ty đa quốc gia bị đánh thuế theo nơi cư trú và thuế
suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước mẹ cao hơn thuế suất tại nước ngoài, thay τa = τh và thực hiện đạo hàm với Max E (𝛿) để tìm ra 𝛿𝑓 tối ưu như sau:
𝛿𝑓 = − 𝑇𝐴𝑅𝑓( 𝑝
𝑎+𝑎𝑓) (2.5)
Trang 31Sắp xếp lại hàm biên giá chuyển giao và sử dụng định nghĩa về biên giá chuyển giao 𝛿𝑓 sẽ xác định được giá chuyển giao báo cáo của công ty nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận như sau:
𝑝𝑅 = 𝑝[1 − 𝑇𝐴𝑅𝑓 1
𝑎+𝑎𝑓 ] (2.6) Trong trường hợp này, động cơ chuyển giá của các công ty đa quốc gia
là TPI = - TARf Với những công ty bị đánh thuế theo nơi cư trú, giá chuyển giao báo cáo trùng khớp với giá thị trường nếu quốc gia nhận đầu tư không đánh thuế nhập khẩu số hàng hóa mà công ty con nhập từ công ty mẹ
Trong hai trường hợp trên, mặc dù thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế quan là hai yếu tố trực tiếp dẫn đến hành vi thao túng giá chuyển giao của các công ty đa quốc gia Tuy nhiên, nếu chi phí bị phạt là cao và khả năng bị phát hiện có chuyển giá là gần như chắc chắn thì lợi ích từ việc chuyển giá giảm xuống và không còn ý nghĩa
Như vậy, hàm ý của mô hình nói trên là giá chuyển giao báo cáo là một hàm số của giá thị trường có thể so sánh được, chi phí của việc tránh né sự phát hiện của chính phủ và một nhân tố về thuế bao gồm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế suất thuế nhập khẩu và những đặc điểm của hệ thống thuế tại nước mẹ
Tóm lại, giá báo cáo của một công ty có thể được coi như một hàm số của giá thị trường và là một hàm số nhằm xác định việc định giá chuyển giao cao hay thấp hơn so với giá thị trường mà phụ thuộc vào động cơ chuyển giá (TPI) và bất kỳ chi phí bị phạt hay chi phí nào có liên quan của việc chuyển giá
𝑝𝑖𝑡𝑅 = 𝑝𝑖𝑡 ∗ 𝑓(𝑇𝑃𝐼𝑖𝑡; 𝑎) (2.7)Trong đó:
𝑝𝑖𝑡𝑅: giá chuyển giao báo cáo của sản phẩm i tại thời gian t
𝑝𝑖𝑡: giá thị trường của sản phẩm I tại thời gian t
𝑇𝑃𝐼𝑖𝑡: lợi ích chuyển giá của sản phẩm I tại thời gian t
𝑎: hình phạt hoặc chi phí chuyển giá
2.2.2 Mô hình đề xuất
Sau khi đã tìm hiểu mô hình động cơ chuyển giá của Swenson (2000)
để làm rõ hơn mục tiêu cụ thể đã nêu ở phần trên là phân tích mối liên hệ giữa mức giá chuyển giao báo cáo ở mức độ các nhóm mặt hàng với chênh lệch
Trang 32thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa Việt Nam và các quốc gia xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam, cũng như với mức thuế suất thuế nhập khẩu của các nhóm mặt hàng được nghiên cứu tại Việt Nam, tôi tiến hành hồi quy
sự thay đổi trong giá báo cáo PR (∆𝑃𝑅) theo sự thay đổi trong động cơ chuyển giá TPI (∆𝑇𝑃𝐼) và sự thay đổi trong GDP bình quân đầu người (∆𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃) trong giai đoạn 6 năm từ năm 2008 đến năm 2013 Sở dĩ mô hình chọn mốc thời gian đó do trong thời gian này thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như thuế quan ở Việt Nam có nhiều cải cách Với chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu
tư nước ngoài trong đó nổi bật bằng hành động nới lỏng hàng rào thuế quan, tăng cường chính sách thuế ưu đãi cũng như ưu đãi đặc biệt làm giảm thuế suất thuế nhập khẩu của nhiều hàng hóa Bên cạnh đó, thuế thu nhập doanh nghiệp có bước thay đổi đáng kể khi giảm từ 28% xuống 25% năm 2009 Cụ thể mô hình hồi quy được thiết lập như sau:
∆𝑃𝑖𝑐𝑡𝑅 = 𝛼 + 𝛽1∆𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐𝑡 + 𝛽2∆𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃𝑖𝑐𝑡 + 𝜀 (2.8)
Trong đó biến phụ thuộc là biến giá chuyển giao PR
, i đại diện cho sản phẩm, c đại diện cho quốc gia và t đại diên cho năm Hệ số 𝛽1 nhằm kiểm tra xem có tồn tại mối quan hệ nào giữa sự thay đổi trong giá chuyển giao báo cáo
và động cơ chuyển giá hay không Trong bài này, tôi chỉ dừng lại ở mức tìm hiểu sự tác động của thuế suất thuế TNDN và thuế suất thuế nhập khẩu ảnh hưởng như thế nào đến giá báo cáo thông qua động cơ chuyển giá TPI mà bỏ qua các chi phí khác ảnh hưởng đến giá báo cáo cũng như thu nhập của các công ty đa quốc gia
Sau khi đã xác định được mô hình hồi quy cụ thể ở trên là hồi quy sự thay đổi trong giá báo cáo PR (∆𝑃𝑅) theo sự thay đổi trong động cơ chuyển giá TPI (∆𝑇𝑃𝐼) và sự thay đổi trong GDP bình quân đầu người (∆𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃) trong giai đoạn 6 năm từ năm 2008 đến năm 2013 Cụ thể mô hình hồi quy được thiết lập như sau:
∆𝑃𝑖𝑐𝑡𝑅 = 𝛼 + 𝛽1∆𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐𝑡 + 𝛽2∆𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃𝑖𝑐𝑡 + 𝜀 (2.9)
Trong đó biến phụ thuộc là biến giá chuyển giao PR
, i đại diện cho sản phẩm, c đại diện cho quốc gia và t đại diên cho năm Để hiểu rõ hơn về mô hình chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu các biến trong mô hình
2.2.3 Các biến số trong mô hình
Các biến độc lập bao gồm: sự thay đổi trong động cơ chuyển giá TPI (∆𝑇𝑃𝐼); sự thay đổi trong GDP bình quân đầu người (∆𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃)
Trang 33 Sự thay đổi giá chuyển giao báo cáo
Theo như mô hình của Swenson(2000) khuyến khích xem xét giá chuyển giao báo cáo được xem xét ở mức độ mặt hàng ,tuy nhiên, việc thu thập số liệu này là không thể ở Việt Nam Do đó, tôi sử dụng giá nhập khẩu của từng nhóm mặt hàng được chọn theo tiêu chí được giao dịch nhiều nhất và có vai trò quan trọng trong hoạt động nhập khẩu tại Việt Nam là đại diện cho giá chuyển gia báo cáo của từng nhóm mặt hàng Những nhóm mặt hàng được chọn bao gồm:
- Ô tô nguyên chiếc các loại
- Cao su
- Chất dẻo nguyên liệu
- Sắt thép các loại
- Phân bón các loại
- Kim loại thường khác
- Xơ sợi dệt các loại
- Bông các loại
Lý do chọn các nhóm mặt hàng trên:
Thứ nhất, các nhóm mặt hàng này nằm trong nhóm những mặt hàng có giá trị nhập khẩu nhiều nhất, số lượng ổn định qua các năm và có vai trò quan trọng trong hoạt động nhập khẩu của nước ta do đó rất phù hợp với tiêu chí đặt
ra ở trên
Thứ hai, những nhóm mặt hàng trên có chứa các mặt hàng có nguy cơ độc quyền cao từ đó dẫn đến nguy cơ chuyển giá cao hơn những nhóm mặt hàng khác Trong số những mặt hàng có hiện tượng chuyển giá của các công
ty đa quốcgia, ô tô là một ví dụ điển hình Hiện nay giá ô tô ở Việt Nam luôn nằm trong nhóm có mức giá cao nhất thế giới và trong khu vực So sánh với Thái Lan thì giá ô tô ở Việt Nam cao hơn 48%, còn Philippin có chi phí thấp hơn một nửa so với Việt Nam (Viện Nghiên cứu và Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, 2010) Các công ty sản xuất ô tô sử dụng thủ đoạn chuyển giá để tăng chi phí đầu vào, nâng giá sản phẩm cao hơn nhiều so với giá trị thật của
nó Bên cạnh đó, nước ta vẫn chưa thể độc lập sản xuất ra các loại ô tô chỉ chủ yếu là nhập khẩu hoặc gia công lắp ráp tư các công ty nước ngoài mà đa số là các tập đoàn đa quốc gia Do đó, giá thành thật sự của một chiếc xe hoặc giá trị công nghệ chứa đựng trong chiếc xe đó vẫn luôn là một ẩn số Chính vì vậy
dù được sản xuất bởi nhiều công ty nhưng ô tô vẫn mãi là sản phẩm mang tính độc quyền cao, và các công ty có thể sử dụng thủ thuật chuyển giá để nâng cao giá thành từ đó làm gia tăng lợi nhận cho bản thân Cụ thể như một doanh
Trang 34nghiệp sản xuất xe hơi tại Thái Lan với giá vốn 9.000 USD, bán ra với giá bán
là 10.000 USD, và thu lời 1000 USD tại Thái Lan Tại thị trường Việt Nam, công ty Thái Lan cũng bán xe cho công ty liên kết với giá 10.000 USD, tuy nhiên công ty liên kết tại Việt Nam kê chi phí để quảng cáo và bán chiếc xe đó tại Việt Nam là 1.000 USD, từ đó giá vốn cũng là 10,000 USD, công ty liên kết không thu được lợi nhuận tại thị trường Việt Nam và không phải nộp thuế
Về tổng thể, công ty đã có lời 1.000 USD và phải đóng thuế tại Thái Lan thay
vì Việt Nam Nếu tại Thái Lan công ty đang được ưu đãi thuế, thì khoản lãi này sẽ được miễn thuế toàn bộ Như vậy, nếu giá mua linh kiện cao, lợi nhuận của công ty tại Việt Nam sẽ giảm và Nhà nước Việt Nam sẽ thất thu thuế Tuy nhiên lợi nhuận của cả tập đoàn sẽ không đổi (vì lợi nhuận tại Việt Nam đã được chuyển sang cho công ty con khác ở Thái Lan) Do đó là giao dịch nội
bộ giữa các công ty có liên kết với nhau nên không thể nào kiểm soát được mức giá chính xác của họ Do đó việc nghiên cứu để tìm ra bằng chứng thực
về hành vi chuyển giá trong các nhóm mặt hàng này là rất cần thiết
Ngoài lý do trên thì các nhóm mặt hàng đó tập trung trong ngành công nghiệp sản xuất mà sản xuất tạo nhu cầu nhập khẩu từ công ty mẹ nhiều hơn vì vậy nó gần với thực tế hơn
Với từng nhóm mặt hàng, giá báo cáo được tính như sau:
𝑃𝑖𝑐𝑡𝑅 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑛ậ𝑝 𝑘ẩ𝑢 𝑛ó𝑚 𝑚 ặ𝑡 à𝑛𝑔 𝑖 𝑡ừ 𝑞𝑢 ố𝑐 𝑔𝑖𝑎 𝑐 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑛ă𝑚 𝑡
𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 đơ𝑛 𝑣ị 𝑠ả𝑛 𝑝ẩ𝑚 𝑛ậ𝑝 𝑘ẩ𝑢 𝑐ủ𝑎 𝑛ó𝑚 𝑚 ặ𝑡 à𝑛𝑔 𝑖 𝑡ừ 𝑞𝑢 ố𝑐 𝑔𝑖𝑎 𝑐 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑛ă𝑚 𝑡(USD)
(2.10) Khi đã có giá báo cáo của từng nhóm mặt hàng (𝑃𝑖𝑐𝑡𝑅 ) sau đó tính sự thay đổi trong giá báo cáo(∆𝑃𝑖𝑐𝑡𝑅 )
∆𝑃𝑖𝑐𝑡𝑅 =∆𝑃𝑖𝑐𝑡
𝑅 −∆𝑃𝑖𝑐 ,𝑡−1𝑅
∆𝑃𝑖𝑐 ,𝑡−1𝑅 (2.11) Như vậy ∆𝑃𝑖𝑐𝑡𝑅 chính là phần trăm tăng hoặc giảm của giá báo cáo khi
so sánh giá báo cáo của năm t so với năm trước đó là t – 1, đối với từng quốc gia và trong mỗi nhóm mặt hàng được xem xét
Số liệu của biến này được thu thập từ các báo cáo, số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam và Tổng cục Thống Kê
Trang 35
Sự thay đổi động cơ chuyển giá
Theo như mô hình động cơ chuyển giá của Swenson (2000), động cơ chuyển giá TPI được tính toán dựa trên kiểu đánh thuế của quốc gia mà công
ty mẹ đặt trụ sở Yếu tố quyết định cách tính TPI là sự chênh lệch giữa thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước mẹ 𝜏𝑓− 𝜏 𝜏𝑓 là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, 𝜏 là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước mẹ Nếu 𝜏𝑓 − 𝜏 > 0 hay thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước mẹ thấp hơn thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam thì TPI = [ 𝜏𝑓 − 𝜏 −𝑇𝐴𝑅𝑓 1 − 𝜏𝑓 ] với 𝜏𝑓 là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam,
𝜏 là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước mẹ và TAR f là thuế suất
thuế nhập khẩu của nhóm mặt hàng đang xem xét tại Việt Nam Nếu 𝜏𝑓 − 𝜏
< 0 hay thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước mẹ cao hơn thuế suất
thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam thì TPI = - TAR f
Khi đã tính được giá trị TPI, tiến hành tính toán giá trị của biến số
∆𝑇𝑃𝐼 Do TPI có thể nhận giá trị âm nên để phản ánh đúng phần trăm thay đổi trong TPI qua các năm nên tôi chia tử số của công thức trên cho giá trị tuyệt đối của 𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐 ,𝑡−1 Cụ thể như sau :
∆𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐𝑡 = 𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐𝑡 −𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐 ,𝑡−1
𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐 ,𝑡−1 (2.12) Trong đó, TPIict là động cơ chuyển giá đối với các công ty mẹ được xem xét trong nhóm mặt hàng i, đặt trụ sở tại quốc gia c vào năm t Tương tự, 𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐 ,𝑡−1 là động cơ chuyển giá đối với các công ty mẹ được xem xét trong nhóm mặt hàng i, đặt trụ sở tại quốc gia c vào năm t – 1 Như vậy,
∆𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐𝑡 chính là phần trăm tăng hoặc giảm trong động cơ chuyển giá khi so sánh động cơ chuyển giá của năm t so với năm trước đó là t – 1, đối với từng quốc gia và trong mỗi nhóm mặt hàng được xem xét TPI dương hay TPI > 0
có nghĩa là lợi ích nhận được từ chênh lệch thuế suất là dương thì khi công ty con nhập khẩu, giá chuyển giao báo cáo sẽ được điều chỉnh tăng lên cao hơn
so với giá thị trường nhằm mục đích tăng thu nhập cho công ty mẹ - nơi chịu thuế suất thấp và tăng chi phí đối với công ty con – nơi chịu thuế suất cao Nếu TPI âm hay TPI < 0 , nguồn thu nhập có xu hướng chảy ngược vào công
ty con, tuy nhiên do đây là hàng nhập khẩu – sản phẩm đầu vào cho quá trình sản xuất nên công ty mẹ ở nước ngoài sẽ tiến hành định giá thấp giá chuyển giao báo cáo so với giá thị trường nhằm giảm doanh thu của công ty mẹ - nơi chịu thuế suất cao và giảm chi phí cho công ty con – nơi chịu thuế suất thấp
Trang 36Để tính toán được biến này thì cần thu thập số liệu của thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại từng quốc gia được thu thập từ dữ liệu của các cơ quan thuế có thẩm quyền thuộc Chính phủ các quốc gia được xem xét trong từng nhóm mặt hàng
Thuế suất thuế nhập khẩu Như đã đề cập ở trên, tôi tiến hành nghiên cứu hành vi thao túng giá chuyển giao ở mức độ nhóm mặt hàng nên giá nhập khẩu của từng nhóm mặt hàng quan trọng được dùng làm đại diện cho giá chuyển giao báo cáo cho từng nhóm mặt hàng Khi nghiên cứu dữ liệu về từng nhóm mặt hàng, tôi không tiếp cận được với số liệu của Hải quan Việt Nam về số lượng đơn vị sản phẩm cũng như giá trị nhập khẩu chi tiết mỗi mặt hàng được bao gồm trong từng nhóm mặt hàng Do đó, thuế suất thuế nhập khẩu đại diện cho từng nhóm mặt hàng được tính toán một cách trung bình từ những mức thuế suất thuế nhập khẩu của các mặt hàng chi tiết trong từng nhóm mặt hàng mà không có trọng
số theo tỷ trọng giá trị nhập khẩu hay tỷ trọng số lượng hàng nhập khẩu
Đối với những mặt hàng nhập khẩu có xuất xứ từ những nước thực hiện
ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam (có thoả thuận ưu đãi đặc biệt với Việt Nam) theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác (hiệp định thương mại), tôi tiến hành thu thập thuế suất thuế nhập khẩu từ các văn bản của Việt Nam điều chỉnh các hiệp định CEPT, ATIGA, ACFTA, AKFTA, AJCEP, VJCEP, AIFTA Đối với những mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ những nước mà chỉ được áp dụng mức thuế suất ưu đãi thì nhóm tác giả thu thập trong những văn bản điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi có liên quan
Sự thay đổi thu nhập bình quân đầu người
Biến thu nhập bình quân đầu người (GDP/CAP) được đưa vào mô hình nhằm xem xét yếu tố thu nhập ảnh hưởng như thế nào đến giá báo cáo và để kiểm soát sự khác biệt đo lường được giữa các quốc gia Cụ thể, biến số này được tính toán như sau:
∆𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃𝑖𝑐𝑡 =𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃𝑖𝑐𝑡−𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃𝑖𝑐 ,𝑡−1
𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃𝑖𝑐 ,𝑡−1 (2.13)
Trang 37Trong đó, GDPict và GDPic,t-1 lần lượt là thu nhập bình quân đầu người của quốc gia c, được xét xem trong mẫu dữ liệu của nhóm mặt hàng i vào năm
t và năm t – 1, được tính theo giá đô – la Mỹ hiện hành
Số liệu về thu nhập bình quan đầu người của các quốc gia được thu thập thông qua Báo cáo cáo tổng quan kinh tế thế giới ( World Economic Outlook) của World Bank
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp mô tả, so sánh số tuyệt đối, số tương đối
Trong bài tôi sử dụng phương pháp mô tả, phương pháp so sánh số tuyệt đối, số tương đối để phân tích thực trạng hành vi chuyển giá tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2013
Phương pháp mô tả số liệu: Nêu lên ý nghĩa của các thông số để từ đó đưa
ra những nhận xét, đánh giá các yếu tố đang xem xét hoặc phân tích
Phương pháp so sánh số tuyệt đối: Là kết quả phép trừ giữa trị số kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế Kết quả so sánh phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch, sự biến động về quy mô, khối lượng của hiện tượng kinh
tế
ΔY = Y1 – Y0 (2.14)
Trong đó:
Y0: Chỉ tiêu năm gốc
Y1: Chỉ tiêu năm phân tích
ΔY : Phần chênh lệch tăng/giảm của các chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp so sánh số tương đối: Là kết quả của phép chia giữa giá trị chênh lệch của kỳ phân tích và kỳ gốc với giá trị kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh
tế
Trong đó:
ΔY=𝑌1−𝑌0
𝑌0 *100% (2.15) Y0: Chỉ tiêu năm gốc
Y1: Chỉ tiêu năm phân tích
ΔY : Phần chênh lệch tăng/giảm của các chỉ tiêu kinh tế
Trang 38Phương pháp này dùng để làm rõ tình hình biến động của mức độ của các chỉ tiêu kinh tế trong thời gian nào đó So sánh tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu giữa các năm và so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục.
2.2.2 Phương pháp hồi quy
2.2.2.1 Hồi quy mô hình theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS)
Để nghiên cứu về mối liên hệ giữa mức giá chuyển giao và động cơ chuyển giá được đề cập trong mô hình, tôi tiến hành đo lường mô hình thực nghiệm như sau:
∆𝑃𝑖𝑐𝑡𝑅 = 𝛼 + 𝛽1∆𝑇𝑃𝐼𝑖𝑐𝑡 + 𝛽2∆𝐺𝐷𝑃/𝐶𝐴𝑃𝑖𝑐𝑡 + 𝜀 (2.16)
Tuy nhiên, vì một số lý do liên quan đến dữ liệu, mô hình thực nghiệm
có thể mắc phải hai vấn đề chính làm vi phạm các giả thuyết trong mô hình hồi quy truyền thống OLS, dẫn đến các ước lượng bị chệch và không vững
Thứ nhất, mức giá chuyển giao được xác định trong mô hình lý thuyết chịu sự tác động của các nhân tố trừng phạt ở quốc gia có chi nhánh của công
ty mẹ khi hành vi chuyển giá bị phát hiện Vì vậy, việc thiếu sót các biến số này trong mô hình thực nghiệm đã làm cho mô hình bị thiếu biến giải thích Kết quả là các biến số bị thiếu này sẽ bị bao gồm trong phần dư của mô hình hồi quy OLS, gây ra hiện tượng tương quan giữa biến độc lập TPI và phần dư, điều này vi phạm giả thuyết rằng phần dư của mô hình hồi quy OLS phải độc lập với các biến số hồi quy, được thể hiện qua công thức E(𝑥𝑖𝑢𝑖 ) = 0
Thứ hai, việc nghiên cứu hành vi chuyển giá của các công ty ở các quốc gia khác nhau qua các năm thông qua dữ liệu dạng bảng (Panel Data) có thể gây ra hiện tượng phương sai thay đổi (Heteroskedasticity) và tương quan giữa các quan sát theo năm trong từng quốc gia, có nghĩa là cov(𝑢𝑖𝑡, 𝑢𝑖𝑠) # 0 (within-group correlation hay intra-cluster correlation)
2.2.2.1 Hồi quy mô hình theo phương pháp Mô-men tổng quát (GMM)
Để xử lý các vấn đề nêu trên, trong điều kiện không thể đo lường các biến số đại diện cho các nhân tố trừng phạt cụ thể là chi phí bị phạt khi công ty
bị phát hiện chuyển giá, và sử dụng dữ liệu dạng bảng, tôi sử dụng phương pháp ước lượng Mô-men tổng quát (GMM) GMM là phương pháp tổng quát của rất nhiều phương pháp ước lượng phổ biến như OLS, GLS, MLE,….Ngay
cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị vi phạm, phương pháp GMM cho ra các
hệ số ước lượng vững, không chệch, phân phối chuẩn và hiệu quả
Trang 39Theo phương pháp Mô-men tổng quát được đề cập trong Hansen (1982), ta có ước lượng của hệ số 𝛽 và phương sai tiệm cận ở dạng tổng quát lần lượt như sau:
𝛽𝐺𝑀𝑀 = (𝑋′𝑍𝑊𝑍′𝑋)−1𝑋′𝑍𝑊𝑍′𝑦 (2.17) 𝑉(𝛽 𝐺𝑀𝑀) =1
𝑛 (𝑄’𝑋𝑍𝑊𝑄𝑋𝑍)−1 𝑄’𝑋𝑍𝑊𝑆𝑊𝑄𝑋𝑍 (𝑄’𝑋𝑍𝑊𝑄𝑋𝑍)−1 (2.18) Trong đó: X là ma trận các biến độc lập, Z là ma trận các biến công cụ,
W là ma trận vuông trọng số để đưa các hệ phương trình trực giao (Orthogonal Conditions) về dạng vuông, có nghiệm duy nhất Ngoài ra:
số khác nhau sẽ cho kết quả ước lượng hệ số 𝛽 và phương sai tiệm cận khác nhau Vì vậy, để đạt được phương sai tiệm cận nhỏ nhất, ma trận vuông trọng
số được tính như sau: 𝑊 = 𝑆−1 Do đó, ta có:
𝛽 𝐸𝐺𝑀𝑀 = (𝑋′𝑍𝑆−1𝑍′𝑋)−1𝑋′𝑍𝑆−1𝑍′𝑦 (2.21)
𝑉 𝛽 𝐸𝐺𝑀𝑀 = 1
𝑛 (𝑄′𝑋𝑍𝑆−1𝑄𝑋𝑍)−1 (2.22) Trong điều kiện xuất hiện phương sai thay đổi và tương quan trong nhóm các quan sát của một quốc gia theo thời gian như đã đề cập ở trên Các ước lượng GMM trong phương trình (2.21) này không hiệu quả mặc dù là ước lượng vững Vì vậy, để khắc phục tình trạng này, cần dùng phương pháp GMM hai bước để điều chỉnh thành phần tự do 𝛺 trong công thức (2.21) và (2.22) Trong đó bước một hồi quy phương trình với các biến công cụ Sau đó, phương pháp này tiếp tục sử dụng phần dư trong mô hình các biến công cụ để tính toán thành phần Ω trong ước lượng GMM ở công thức (2.21) và (2.22) để lần lượt xử lý hiện tượng phương sai thay đổi và tương quan giữa các quan sát theo năm của cùng một quốc gia
Trang 40Ma trận Ω một ma trận vuông có kích thước (n x n) với n là số quan sát trong mẫu, có đường chéo là phần dư trong mô hình hồi quy các biến công
cụ ở bước một, được sử dụng để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi
Ma trận Ω được sử dụng để khắc phục tình trạng tương quan giữa các 𝐶quan sát trong một quốc gia theo các năm Ma trận Ω𝐶 là một ma trận vuông
có kích thước (M x M) , với M là số quốc gia Trong đó, 𝑚 là ma trận hiệp phương sai có kích thước t x t trong quốc gia thứ (intra-cluster covariance matrix), với t là số năm được quan sát trong một quốc gia, 𝑚 = 𝑢 𝑢𝑚 với 𝑚′
𝑢 là vector các phần dư của các quan sát trong một quốc gia thứ m qua t năm 𝑚trong phương trình hồi quy các biến công cụ
Bằng cách chọn các ma trận Ω như trên để đưa vào phương trình (2.21)
và (2.22) ta nhận được các ước lượng GMM vững và hiệu quả trong trường hợp có hiện tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity) và tương quan giữa các quan sát trong một quốc gia qua các năm (intra-cluster correlation)
Biến công cụ tối ưu trong trường hợp có phương sai thay đổi
Theo Alastair R Hall (2005), biến công cụ tối ưu Z là biến số làm cho phương sai tiệm cận của ước lượng GMM là nhỏ nhất, đồng thời các biến số này phải có tương quan với các biến nội sinh và phải thỏa mãn các phương trình trực giao, có nghĩa là không có tương quan với các phần dư của mô hình theo Baum, Schaffer và Stillman (2003) Trong trường hợp phương trình hồi quy tuyến tính có hiện tượng phương sai thay đổi, biến công cụ được xác định như sau:
𝑍∗ = 𝑧1, 𝑧1, … … , … 𝑧𝐾 (2.23)
𝑧𝑘 = 𝑥𝑘
𝜎2(𝑥𝑘) (2.24)
Trong đó K là số biến độc lập trong mô hình hồi quy bao gồm cả biến
số tung độ gốc (biến số này có giá trị bằng 1 với mọi quan sát)