1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long

76 366 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ------ Xác nhận của cán bộ hướng dẫn về đề tài Phân tích năng suất và phẩm c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CẦN THƠ – 12/2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

- -

LÊ THỊ THU HIỀN

PHÂN TÍCH NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT NGUỒN DÒNG LAI TRIỂN VỌNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2013 – 2014 ĐÁP ỨNG CHO

CÔNG TÁC CHỌN GIỐNG Ở CÁC CỘNG ĐỒNG

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phát Triển Nông Thôn – Khóa 37

Mã ngành: 52 62 01 01

Cán bộ hướng dẫn ThS ÔNG HUỲNH NGUYỆT ÁNH

CẦN THƠ – 12/2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Cần Thơ, Ngày … Tháng … Năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Thu Hiền

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

- -

Xác nhận của cán bộ hướng dẫn về đề tài Phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ Đông Xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng Đồng bằng sông Cửu Long do sinh viên Lê Thị Thu Hiền – Mã số sinh viên: 4114913 – Lớp Phát triển Nông thôn Khóa 37 thực hiện với sự hướng dẫn của Thạc sĩ Ông Huỳnh Nguyệt Ánh Ý kiến của cán bộ hướng dẫn:

Cần Thơ, Ngày … Tháng … Năm 2014

Cán bộ hướng dẫn

Ths Ông Huỳnh Nguyệt Ánh

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN

- -

Đề tài Phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ Đông Xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng Đồng bằng sông Cửu Long do sinh viên Lê Thị Thu Hiền – Mã số sinh viên: 4114913 – Lớp Phát triển Nông thôn Khóa 37 thực hiện với sự hướng dẫn của Thạc sĩ Ông Huỳnh Nguyệt Ánh Ý kiến của cán bộ phản biện:

Cần Thơ, Ngày … Tháng … Năm 2014

Cán bộ phản biện

Trang 6

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

XÁC NHẬN VÀ NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG

- -

Đề tài Phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ Đông Xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng Đồng bằng sông Cửu Long do sinh viên Lê Thị Thu Hiền – Mã số sinh viên: 4114913 – Lớp Phát triển Nông thôn Khóa 37 thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá mức:

Ý kiến của hội đồng:

Cần Thơ, Ngày … Tháng … Năm 2014

Chủ tịch hội đồng

Trang 7

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Họ và tên: LÊ THỊ THU HIỀN Ngày sinh: 09/02/1993

Giới tính: Nữ

Mã số sinh viên: 4114913 Nơi sinh: Xã Hòa Long – huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp

Quê quán: Xã Tân An – huyện Càng Long – tỉnh Trà Vinh

Nơi cư trú: Số 14 – khóm 9 – phường 4 – thành phố Trà Vinh – tỉnh Trà Vinh

Quá trình học tập:

 Tiểu học (1999 – 2004): Học tập tại Trường Tiểu học Tân Bình C

 Trung học (2004 – 2008): Học tập tại Trường Trung học cơ sở Tân An

 Phổ thông (2008 – 2011): Học tập tại Trường Trung học phổ thông Tân An

 Đại học (2011 – 2015): Sinh viên Phát triển Nông thôn Khóa 37 – Viện

Nghiên Cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long – Trường Đại học Cần Thơ

Họ tên cha: LÊ VĂN HƠN Năm sinh: 1967

Nghề nghiệp: Thợ mộc

Nơi cư trú: Số 14 – khóm 9 – phường 4 – thành phố Trà Vinh – tỉnh Trà Vinh

Họ tên mẹ: NGUYỄN THỊ CÚC HOA Năm sinh: 1967

Nghề nghiệp: Nội trợ

Nơi cư trú: Xã Tân Bình – huyện Càng Long – tỉnh Trà Vinh

Cần Thơ, Ngày … Tháng … Năm 2014

Người khai

Lê Thị Thu Hiền

Trang 8

LỜI CẢM TẠ

Con kính dâng đến cha mẹ người đã sinh thành, nuôi dưỡng con nên người và suốt cuộc đời tận tụy lo lắng cho con, luôn luôn quan tâm và chia sẻ với con, sẵn sàng hi sinh tất cả vì tương lai của con

Xin chân thành biết ơn cô Ông Huỳnh Nguyệt Ánh đã tận tình hướng dẫn, nhắc nhở, chỉnh sửa, góp ý và động viên tôi trong suốt thời gian làm đề tài luận văn tốt nghiệp Xin gửi lời cảm tạ và chân thành biết ơn cố vấn học tập, thầy Nguyễn Công Toàn đã luôn quan tâm và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập tại Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long – Trường Đại học Cần Thơ

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô của Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và quý Thầy Cô trường Đại học Cần Thơ nói chung đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báo cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Cần Thơ

Xin gửi lời cảm ơn đến thầy Trương Hồng Võ Tuấn Kiệt, anh Nguyễn Hoàng Nhi, các bạn Phạm Thị Thúy An, Trần Hoàng Khoa, Lê Thị Huỳnh My, Phạm Hoàng Sang, Trần Quốc Thiện, Dương Duy Vũ, cùng tất cả sinh viên lớp Phát triển Nông thôn Khóa 37 – Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong thời gian làm luận văn và trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn mọi người!

Trang 9

TÓM LƯỢC

Việc tuyển chọn giống lúa mới được tiến hành hằng năm nhằm tăng cường sự đa dạng

giống lúa để phục vụ yêu cầu sản xuất Đề tài Phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ Đông Xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng Đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện với mục

tiêu cụ thể là chọn ra các dòng lúa triển vọng có các đặc tính tốt như năng suất cao và phẩm chất tốt đáp ứng cho nhu cầu sản xuất của người dân trồng lúa ở ĐBSCL

Đề tài thực hiện bằng cách kết hợp phương pháp phỏng vấn trực tiếp và tiến hành thí nghiệm Phỏng vấn trực tiếp thực hiện với nông dân mua lúa giống tại Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL bằng bảng hỏi soạn sẵn để xác định nhu cầu về đặc tính giống lúa mới Thí nghiệm được tiến hành tại Nông trại Khu II – Trường Đại học Cần Thơ trên các dòng lúa thuộc các tổ hợp lai L516, L518, L520, L526, L550 và giống đối chứng OM1490 nhằm chọn ra các dòng lúa triển vọng nhất về năng suất và phẩm chất Thu thập các chỉ tiêu của các dòng lúa ngoài đồng và trong phòng theo phương pháp đánh giá của IRRI (1988, 1996) Phân tích số liệu bằng các phương pháp thống kê mô

tả, phép thử F và so sánh Duncan, phân nhóm theo phương pháp K – Trung bình Kết quả đề tài cho thấy người nông dân có nhu cầu thay đổi giống lúa mới thường xuyên và 100% ý kiến cho rằng năng suất cao và phẩm chất tốt là đặc tính cần thiết nhất của giống lúa mới vì từ đó dễ bán và bán được giá cao Kết quả đánh giá về năng suất và phẩm chất cho thấy bộ dòng lúa thí nghiệm có năng suất thực tế trung bình 7,4 tấn/ha Số bông/m2 trung bình là 372 bông, số hạt chắc/bông trung bình 90 hạt, tỷ lệ hạt chắc trung bình 77,5% Tỷ lệ gạo nguyên của bộ dòng lúa được đánh giá cao với trung bình là 58,3%, hạt có dạng thon và có 6 dòng mùi thơm cấp 2 Kết quả thí nghiệm đã chọn lọc được ba dòng lúa có năng suất cao và phẩm chất tốt là dòng số 4 (L526-2-5-1-1-1-1-1), dòng số 7 (L520-6-20-2-2-2-1-1) và dòng số 8 (L526-2-12-2-2-2-1-1) Một số dòng khác đáp ứng về năng suất cao là dòng số 14 (L520-2-9-5-4-2-1-1) và dòng số 29 (L550-1-1-7-4-1-1-1) Các dòng đáp ứng về phẩm chất tốt là dòng số

9 (L526-2-12-3-3-2-1-1), dòng số 11 (L520-2-9-1-4-3-1-1), dòng số 27 1-1-1-1), dòng số 33 (L550-6-4-1-1-1-1-1) và dòng số 35 (L518-5-1-1-1-3-1-1)

Trang 10

(L550-5-1-2-MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN II NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN III XÁC NHẬN VÀ NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG IV

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH CÁ NHÂN V LỜI CẢM TẠ VI TÓM LƯỢC VII MỤC LỤC VIII DANH MỤC BẢNG XI DANH MỤC HÌNH XIII DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT XIV

CHƯƠNG 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2

1.3.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi thời gian và địa điểm nghiên cứu 2

1.4 PHẠM VI ỨNG DỤNG KẾT QUẢ ĐỀ TÀI 2

CHƯƠNG 2 3

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 3

2.1.1 Cơ cấu mùa vụ trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long 3

2.1.2 Cơ cấu giống lúa và các vùng sinh thái ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long 3

2.1.3 Đặc tính các giống lúa chủ lực ở Đồng bằng sông Cửu Long 4

2.2 NHU CẦU ĐỐI VỚI GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG CAO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 7

2.2.1 Nhu cầu về giống lúa 7

Trang 11

2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHỌN TẠO GIỐNG LÚA 10

2.3.1 Khái niệm về nguồn vật liệu phân ly 10

2.3.2 Tiến trình chọn tạo giống lúa 11

2.4 CÁC ĐẶC TÍNH QUAN TRỌNG TRONG CHỌN TẠO GIỐNG LÚA 12

2.4.1 Chọn giống có thời gian sinh trưởng đáp ứng cơ cấu mùa vụ 12

2.4.2 Chiều cao cây lúa và độ cứng rạ đáp ứng cơ giới hóa khâu thu hoạch 13

2.4.3 Chọn giống có chiều dài bông thích hợp 13

2.4.4 Chọn giống có năng suất cao 13

2.4.5 Đặc điểm phẩm chất hạt gạo 16

2.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ GIỐNG LÚA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 19

CHƯƠNG 3 21

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 21

3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 22

3.2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.2.2 Cơ cấu giống/dòng lúa được sử dụng trong thí nghiệm 22

3.2.3 Các dụng cụ và vật liệu phục vụ cho thí nghiệm 22

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.3.1 Phương pháp quản lý thí nghiệm 22

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 23

3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 28

CHƯƠNG 4 29

KẾT QUẢ THẢO LUẬN 29

4.1 NHU CẦU VỀ GIỐNG LÚA VÀ LƯỢNG GIỐNG CUNG ỨNG HÀNG NĂM 29

4.1.1 Tình hình cung ứng giống hằng năm tại Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long 29

4.1.2 Thông tin cơ bản về nông dân được phỏng vấn 29

4.1.3 Đặc điểm giống lúa đã và đang trồng 31

4.1.4 Đặc tính mong muốn đối với những giống lúa mới 31

4.1.5 Tần suất thay đổi giống 32

4.2.1 Tổng quan về bộ giống/dòng lúa thí nghiệm 33

4.2.2 Kết quả đặc tính nông học 33

Trang 12

4.2.3 Năng suất và các thành phần năng suất 35

4.2.4 Phẩm chất của bộ dòng lúa thí nghiệm 37

4.3 PHÂN NHÓM NHỮNG DÒNG LÚA CÓ ĐẶC TÍNH TỐT 40

4.3.1 Chọn dòng lúa có năng suất cao 40

4.3.2 Chọn dòng lúa có phẩm chất gạo tốt 42

4.3.3 Chọn dòng lúa vừa năng suất cao vừa phẩm chất tốt 43

CHƯƠNG 5 45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

5.1 KẾT LUẬN 45

5.2 KIẾN NGHỊ 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ CHƯƠNG 1 50

PHỤ CHƯƠNG 2 52

PHỤ CHƯƠNG 3 58

Trang 13

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Sự đóng góp của các thành phần năng suất vào năng suất lúa 14

Bảng 2.2: Phân loại gạo theo dạng hạt 17

Bảng 2.3: Tương quan giữa nhiệt độ hóa hồ và độ tan rã của gạo trong môi trường kiềm 18

Bảng 3.1: Nguồn gốc các tổ hợp lai/giống 22

Bảng 3.2: Thời điểm bón phân và lượng phân bón sử dụng 23

Bảng 3.3: Lịch canh tác thí nghiệm vụ Đông Xuân 2013 – 2014 tại Trường Đại học Cần Thơ 23

Bảng 3.4: Phân nhóm theo thời gian sinh trưởng 24

Bảng 3.5: Phân cấp mức độ đổ ngã theo IRRI (1988) 25

Bảng 3.6: Phân cấp tỷ lệ xay chà theo IRRI (1996) 26

Bảng 3.7: Phân loại kích thước, hình dạng hạt gạo theo tiêu chuẩn IRRI (1996) 26

Bảng 3.8: Phân loại cấp bạc bụng dựa theo % vết đục của hạt theo IRRI (1988) 27

Bảng 3.9: Thang đánh giá độ trở hồ của hạt gạo trắng theo IRRI (1996) 27

Bảng 3.10: Đánh giá mùi thơm theo thang điểm đánh giá IRRI (1996) 27

Bảng 4.1: Lượng giống lúa mới cung ứng qua các năm tại Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL 29

Bảng 4.2 Độ tuổi và kinh nghiệm sản xuất của người được phỏng vấn 30

Bảng 4.3: Tỷ lệ người mua lúa giống được phỏng vấn đến từ các tỉnh ĐBSCL 30

Bảng 4.4: Ưu khuyết điểm về đặc tính của các giống lúa đã sản xuất 31

Bảng 4.5: Mong muốn của người sản xuất theo mức độ ưu tiên về đặc tính giống mới 32

Bảng 4.6: Nguồn gốc bộ giống/dòng lúa thí nghiệm vụ Đông Xuân 2013 – 2014 33

Bảng 4.7: Tham số thống kê về đặc tính nông học 34

Bảng 4.8: Tham số thống kê về năng suất và các thành phần năng suất 35

Bảng 4.9: Phân nhóm các dòng lúa cho từng chỉ tiêu năng suất và thành phần năng suất 36

Bảng 4.10: Tham số thống kê về tỷ lệ xay chà 38

Bảng 4.11: Tham số thống kê về đặc tính kích thước hạt gạo và tỷ lệ bạc bụng 38

Bảng 4.13: Phân nhóm các dòng lúa cho từng chỉ tiêu phẩm chất 39

Bảng 4.12: Tham số thống kê về đặc tính độ trở hồ và mùi thơm 40

Trang 14

Bảng 4.14: Số trọng tâm phân nhóm chọn dòng lúa có năng suất cao theo K – Trung bình 41 Bảng 4.15: Đặc tính năng suất và thành phần năng suất của các dòng lúa có năng suất cao 42 Bảng 4.16: Số trọng tâm phân nhóm chọn dòng lúa có phẩm chất tốt theo K – Trung bình 42 Bảng 4.17: Đặc tính về phẩm chất các dòng lúa có phẩm chất gạo tốt 43 Bảng 4.18: Số trọng tâm phân nhóm chọn dòng lúa vừa có năng suất cao vừa phẩm chất tốt theo K – Trung bình 43 Bảng 4.19: Đặc tính về năng suất và phẩm chất của các dòng lúa vừa năng suất cao vừa phẩm chất gạo tốt 44

Trang 15

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Hệ thống phân phối giống lúa ở ĐBSCL 10 Hình 3.1: Sơ đồ tổng quát phương pháp tiếp cận của đề tài 21 Hình 4.1: Tần suất thay đổi giống 32

Trang 16

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

IRRI International Rice Research Institute – Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế NSKC Ngày sau khi cấy

MTL Miền Tây Lúa

NSTT Năng suất thực tế

ĐC Đối chứng

TGST Thời gian sinh trưởng

Trang 17

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam Trong hệ thống các loại cây trồng nông nghiệp, cây lúa luôn giữ vị trí trọng yếu và là cây lương thực chính nuôi sống người dân Việt Nam Cây lúa còn là nguồn sinh kế của hơn 60% dân

số cả nước và mang lại cho con người rất nhiều giá trị như giá trị dinh dưỡng, giá trị

sử dụng và giá trị kinh tế Bên cạnh đó, với dân số hơn 90 triệu người cây lúa còn giữ vai trò đảm bảo vấn đề an ninh lương thực của đất nước

Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo sang các quốc gia khác khi đã hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực và lượng gạo xuất khẩu liên tục tăng trưởng trong những năm vừa qua Đến năm 2013, sản lượng lúa của Việt Nam ước đạt 44,1 triệu tấn, khối lượng gạo xuất khẩu ước đạt 6,61 triệu tấn, đem lại tổng giá trị là 2,95 tỷ USD (Thảo Nguyên, 2013) Tuy là một nước xuất khẩu gạo lớn nhất nhì thế giới nhưng nếu so với các quốc gia khác về chất lượng gạo thì chất lượng gạo của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp Do đó, việc sản xuất những giống lúa vừa có năng suất cao vừa có phẩm chất gạo tốt để phục vụ cho thị trường hiện nay trở thành một yêu cầu rất cấp thiết

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm của cả nước về sản xuất lúa gạo và là vùng an ninh lương thực của quốc gia Với diện tích tự nhiên gần 3,96 triệu

ha, diện tích đất canh tác lúa chiếm hơn 1,8 triệu ha (Quốc Khánh và Quốc Trung, 2014), hằng năm đóng góp hơn 53% sản lượng lúa và 90% tổng lượng gạo xuất khẩu cho đất nước (Thu Hà, 2009) Với quy mô sản xuất lớn nhưng phần lớn bà con nông dân lại sử dụng những giống lúa có chất lượng trung bình và thấp như IR50404, OM576 Các giống này chiếm tỷ lệ cao ở nhiều tỉnh như Đồng Tháp, Trà Vinh, Tiền Giang Trong đó, IR50404 là giống đạt diện tích siêu trội chiếm tới 20 – 25% diện tích

so với các giống khác trong cả 3 vụ (Hữu Đức, 2014) Bên cạnh đó, nông dân thường chọn giống theo nhu cầu thị trường lệ thuộc nhiều vào thương lái và tự lấy giống lúa của vụ trước hay mua lúa của nông dân khác để làm giống cho vụ sau Điều này dẫn đến nhiều giống lúa được tung ra thị trường không có quy hoạch và ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng lúa gạo

Trước những vấn đề trên, việc tuyển chọn ra các dòng lúa triển vọng có các đặc tính tốt như năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng nhu cầu sản xuất của người dân trồng lúa

ở ĐBSCL là vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách hiện nay Vì vậy đề tài Phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ Đông Xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng Đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện

Trang 18

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài Phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ Đông Xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng Đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện với mục tiêu tổng quát nhằm tăng cường sự đa dạng các giống lúa để phục vụ cho sản xuất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

 Xác định nhu cầu của người dân trồng lúa về những đặc tính mong muốn của các giống lúa trong sản xuất

 Đánh giá năng suất và phẩm chất gạo của 35 dòng lúa triển vọng

 Chọn ra được các dòng lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng cho nhu cầu người sản xuất

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

 Nội dung xác định nhu cầu về giống lúa được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp người mua lúa giống tại Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Trường Đại học Cần Thơ

 Nội dung chọn giống lúa bằng thực nghiệm nhằm tập trung đánh giá đặc tính nông học (thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, chiều dài bông, độ cứng cây), năng suất và thành phần năng suất (năng suất thực tế, số bông trên đơn vị diện tích, số hạt chắc trên bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng 1000 hạt) và phẩm chất gạo (tỷ lệ xay chà, kích thước và hình dạng hạt gạo, tỷ lệ bạc bụng, độ trở hồ và mùi thơm) của 35 dòng lúa

triển vọng tại Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL

1.3.2 Phạm vi thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian phỏng vấn nông dân tại Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL vào tháng 11/2013 Thí nghiệm chọn giống thực hiện tại Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 4 – 7/2014 Phân tích số liệu và viết báo cáo từ tháng 8 – 11/2014

1.4 PHẠM VI ỨNG DỤNG KẾT QUẢ ĐỀ TÀI

Sau khi hoàn thành đề tài, kết quả của đề tài sẽ được ứng dụng như sau:

 Sử dụng trong công tác tuyển chọn giống/dòng lúa mới của Bộ môn Tài nguyên Cây trồng – Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Trường Đại học Cần Thơ

 Các dòng lúa được chọn sẽ được ứng dụng và chuyển giao tại các Trạm, Trại giống thuộc các tỉnh ĐBSCL và cộng đồng nông dân có nhu cầu về giống lúa mới ở

Trang 19

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.1.1 Cơ cấu mùa vụ trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long

Sau khi có các giống lúa cao sản ngắn ngày, cơ cấu mùa vụ ở ĐBSCL tăng lên chủ yếu hai vụ trong năm là vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu Hiện nay có thể nói rằng về cơ bản có 4 vụ lúa cao sản ở ĐBSCL Thực tế ở những vùng thuận lợi, nông dân cũng chỉ làm tối đa ba vụ trong năm Cơ cấu mùa vụ ở ĐBSCL như sau:

Vụ Đông Xuân được sản xuất hầu hết ở các tỉnh Thời vụ xuống giống khoảng tháng

11 đến tháng 12 Có một số nơi làm sớm hơn như vùng đất có cao trình trên thềm lục địa cổ giáp ranh miền Đông Nam Bộ hoặc ven chân núi vùng Thất Sơn Nông dân gieo sớm trong cuối tháng 10 đầu tháng 11 để đảm bảo còn đủ nước ngọt trước thu hoạch Còn ở vùng ven biển, vụ Đông Xuân cũng được gieo sạ sớm để tránh nước mặn xâm nhập làm cho lúa háp cuối vụ

Vụ Hè Thu xuống giống khi mùa mưa thật sự bắt đầu Nguồn nước dưới sông dồi dào

do mưa tại chỗ cũng như nước ở thượng nguồn đổ về Vụ này gieo sạ trong tháng 5 – 6

và thu hoạch vào khoảng tháng 8 – 9

Vụ Thu Đông với giống ngắn ngày khoảng 90 ngày Ở những vùng có đê bao lửng, nông dân sạ lúa Thu Đông vào khoảng tháng 6 và thu hoạch trong khoảng tháng 8 – 9 trước khi lũ về Ở những vùng đê bao khép kín, vụ Thu Đông không phải chạy lũ nên trồng muộn hơn, gieo sạ trong cuối tháng 8 đầu tháng 9 và thu hoạch vào cuối tháng 11 đầu tháng 12

Vụ Mùa ở các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang đã không còn sản xuất Đây là vụ lúa tương đối phức tạp vì có nơi xuống giống bằng giống lúa mùa địa phương gọi là mùa đặc sản Có nơi sử dụng giống trung mùa, có nơi lại dùng giống ngắn ngày khoảng 90 – 100 ngày gọi là mùa cao sản và thống kê vào diện tích lúa Thu Đông

2.1.2 Cơ cấu giống lúa và các vùng sinh thái ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long với 6 tiểu vùng sinh thái là Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, Phù sa giữa sông Tiền và sông Hậu, Ven biển Nam bộ, Bán đảo Cà Mau Mỗi vùng sinh thái có các đặc điểm về điều kiện tự nhiên về đất đai, thời tiết, khí tượng thủy văn, hệ canh tác, kỹ thuật, tập quán canh tác khác nhau Do

đó thích hợp với những giống lúa khác nhau vì vậy đòi hỏi phải có những giống phù hợp để sản xuất được tốt nhất và cho năng suất tốt nhất Theo Cục trồng trọt cơ cấu

Trang 20

các giống lúa được đề xuất cho từng tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL vào vụ Đông Xuân

2012 – 2013 như sau:

 Vùng bán đảo Cà Mau rộng 1,6 triệu ha gồm thành phố Cần Thơ, các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và một phần tỉnh Kiên Giang Là một trong 3

vùng phèn lớn ở ĐBSCL Giống chủ lực: OM2517, IR50404, OM6162, OM4900,

OM6976, Jasmine85, BTE – 1 Giống bổ sung: OM6161, OM6600, OM5472, OM5954, ST5, OMCS2000

Vùng Tây sông Hậu và Tứ giác Long Xuyên: Tứ giác Long Xuyên gồm ba tỉnh

Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ với diện tích tự nhiên khoảng 489.000 ha Đất

thuộc loại phèn và bị ngập nước thường xuyên vì đây là vùng trũng Giống chủ lực:

OM4900, OM6976, OM5451, OM2517, OM6162, OM5472, IR50404, Jasmine85

Giống bổ sung: OM2717, OM2514, OM1490, OM576, OM3536, OMCS2000

Vùng phù sa ngọt dọc sông Tiền, sông Hậu là địa bàn thể hiện rõ rệt nhất sự giao

thoa, tranh chấp và đi đến một thế cân bằng giữa hai quá trình sông và biển Giống

chủ lực: OM4900, OM6976, OM6162, OM5451, Jasmine85, OM4218, OM5472, OM2517, VNĐ95 – 20 Giống bổ sung: OM7347, IR50404, OM2717, OM2514,

OM2395, Nàng Hoa 9, TNĐB100, OM6561, VD20, Nếp

Vùng Đồng Tháp Mười có diện tích tự nhiên khoảng 696.946 ha, gồm 3 tỉnh Long

An, Đồng Tháp và Tiền Giang, trong đó hơn 50% diện tích thuộc tỉnh Long An Đây

là vùng đất phèn, chiếm khoảng 39,27%, ngoài ra còn một số ít là loại đất phù sa cổ, đất phù sa ven sông, có địa hình trũng, thấp, rất thích hợp cho cây lúa nước sinh

trưởng, phát triển Giống chủ lực: OM2517, OM5451, OM6976, OM4900, VNĐ95 –

20, OM3536, OM6561, OM6162, IR50404, Jasmine85 Giống bổ sung: OM4218,

OM4498, OM2514, OM 576, OM5472, VD20, OMCS2000

Vùng ven biển Nam Bộ là vùng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nước mặn nên chủ yếu

canh tác một vụ lúa nhờ nước trời, một số nơi giữ nước tốt thì có thể canh tác 2 vụ lúa trong năm là Hè Thu và lúa Mùa Giống chủ lực: OM2517, OM576, OM2395,

OM4900, OM6162, OM6561, IR50404, OM5472 Giống bổ sung: OM3536,

OM4498, ST5, OM4059, OM6976, Jasmine85, OM4101, OM7347, B – TE1, OMCS2000, Một bụi đỏ

2.1.3 Đặc tính các giống lúa chủ lực ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trong các giống lúa chiếm diện tích rộng nhất vùng ĐBSCL thì giống lúa IR50404 đứng đầu cả ba vụ, giống OM576 được xếp kế tiếp Một số giống lúa thường được lấy hạt giống cho vụ tiếp theo là OM2517, Jasmine85, OM1490, VNĐ95 – 20, OM2717, OM3536, OM4498, OMCS2000

Trang 21

IR50404

Giống lúa IR50404 có nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) được nhập vào Việt Nam đầu năm 1990 Giống IR50404 do Bộ môn Cây Lương thực – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn lọc và phát triển Giống IR50404 được công nhận chính thức vào năm 1992

Giống IR50404 có thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 90 ngày, chiều cao cây thấp 85 – 90 cm, đẻ nhánh khá, số hạt/bông trung bình 65 – 70 hạt, tỷ lệ hạt chắc cao, trọng lượng 1000 hạt khoảng 22 – 23 gam Tuy nhiên, giống có hàm lượng amylose cao 26% nên cứng cơm, độ bạc bụng lớn, hạt dài trung bình 6,74 mm Giống có khả năng chịu phèn mặn khá, dễ tính, thích ứng rộng, có thể gieo trồng và đạt năng suất cao trong cả hai vụ, Đông Xuân đạt 6 – 8 tấn/ha, Hè Thu khoảng 5 – 6 tấn/ha

OM576

Giống lúa OM576 được lai tạo tại Viện Lúa ĐBSCL bằng phương pháp chọn lọc từ tổ

hợp lai Hungary/IR48

OM576 có thời gian sinh trưởng cực ngắn, khoảng 90 ngày trong điều kiện sạ thẳng,

95 ngày khi gieo mạ cấy, chiều cao cây trung bình 90 – 95 cm, có hạt gạo hơi ngắn, chiều dài hạt gạo trung bình 6,5 mm, trọng lượng 1000 hạt khoảng 24 gam, tỷ lệ bạc bụng thấp, cơm mềm, ngon

Năng suất trung bình của giống OM576 đạt khoảng 4,5 – 5,5 tấn/ha, có khả năng kháng rầy nâu trung bình, hơi nhiễm bệnh đạo ôn, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn

OM2517

Giống lúa OM2517 có nguồn gốc từ tổ hợp lai OM1325/OMCS94 Được công nhận giống Quốc gia vào năm 2004 theo Quyết định số 2182 QĐ/BNN – KHCN ngày 29/7/2004

Giống có thời gian sinh trưởng ngắn 90 – 95 ngày, chiều cao cây 90 – 100 cm, khả năng đẻ nhánh khá, trọng lượng 1000 hạt 26 – 28 gam, hàm lượng amylose khoảng 24 – 25%, độ bạc bụng cấp 1 – 5, chiều dài hạt gạo từ 7,0 – 7,3 mm Năng suất của giống trong vụ Hè Thu đạt 5,0 tấn/ha và vụ Đông Xuân đạt 8 tấn/ha Giống kháng rầy nâu và bệnh đạo ôn ở cấp 5

Trang 22

cơm mềm, dẻo có mùi thơm đặc trưng, số hạt chắc trên bông 90 – 105 hạt, tỷ lệ hạt lép 14 – 15%, trọng lượng 1000 hạt là 27 gam Giống có năng suất khoảng 7 – 9 tấn/ha Giống Jasmine85 có khả năng nhiễm rầy nâu, đạo ôn và bệnh cháy bìa lá, ít chịu phèn, hạn và ngập úng

OM1490

Giống lúa OM1490 là giống được chọn lọc từ tổ hợp lai OM606/IR44592 – 62 Được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 3493 QĐ/BNN – KHCN, ngày 09 tháng 9 năm 1999 của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn

Giống có thời gian sinh trưởng khoảng 85 – 90 ngày, chiều cao cây 85 – 90 cm, đẻ nhánh trung bình, có hạt gạo dài, thon nhỏ, ít bạc bụng, chiều dài hạt trung bình 7,23

mm, trọng lượng 1000 hạt khoảng 24,5 – 25,5 gam, hàm lượng amylose 25,1% Năng suất trung bình vào vụ Đông Xuân là 6 – 7 tấn/ha, vụ Hè Thu là 4 – 5 tấn/ha Giống

nhiễm nặng với bệnh đạo ôn, nhiễm nhẹ với bệnh khô vằn, nhiễm rầy nâu Chịu phèn

và chịu mặn khá

VNĐ95 – 20

Giống lúa VNĐ95 – 20 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam lai tạo bằng phương pháp chọn tạo đột biến, trên giống IR64 và chọn lọc phả hệ Được công nhận giống Quốc gia năm 1999 theo Quyết định số 3493 QĐ/BNN – KHCN ngày 09/9/1999

Giống lúa VNĐ95 – 20 có thời gian sinh trưởng ở vụ Đông Xuân khoảng 90 – 95 ngày,

vụ Hè Thu khoảng 95 – 102 ngày, chiều cao cây 85 – 90 cm, thấp cây, ít đổ ngã, nảy chồi khá và tỷ lệ hạt chắc cao, trọng lượng 1000 hạt ở mức 25 – 27 gam Hạt gạo dài 7,2 – 7,4 mm, không bạc bụng, độ trở hồ cấp 5 – 6, hàm lượng amylose 20 – 22%, cơm mềm, dẻo

Năng suất trung bình của giống lúa VNĐ95 – 20 vào vụ Đông Xuân khoảng 6 – 8 tấn/ha, Hè Thu 5 – 7 tấn/ha, giống có tính ổn định cao Có khả năng kháng rầy nâu, ít nhiễm bệnh đạo ôn, ít nhiễm vàng lá, đốm, chịu phèn, chịu gió khá tốt

OM4498

Giống lúa OM4498 được Viện Lúa ĐBSCL lai tạo và phát triển từ tổ hợp lai IR64/OMCS2000//IR64 Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận tạm thời năm 2005

Thời gian sinh trưởng khoảng 90 – 95 ngày, chiều cao cây đạt 95 – 100 cm, có tỷ lệ xay chà cao (gạo lức 79 – 80 %, gạo trắng 68 – 69 %, gạo nguyên 50 – 55 %) Hạt gạo thon dài 7,0 – 7,1 mm, bạc bụng thấp, hàm lượng amylose trung bình khoảng 24,5%

Trang 23

Năng suất đạt khoảng 6 – 8 tấn/ha Giống hơi nhiễm rầy nâu vào khoảng cấp 5, bệnh đạo ôn ở cấp 3 nhưng chịu phèn khá

OMCS2000

Giống lúa OMCS2000 được lai tạo tại Viện Lúa ĐBSCL, được tạo ra từ tổ hợp lai OM1723/MRC19399 bằng phương pháp chọn tạo lai cổ truyền, chọn lọc theo phương pháp phả hệ và đưa vào khảo nghiệm Theo Quyết định số 5310 QĐ/BNN – KHCN ngày 29/11/2002 giống lúa OMCS2000 được công nhận là giống Quốc gia

Giống lúa OMCS2000 có thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày, chiều cao cây khoảng

95 – 110 cm, thân rạ cứng trung bình, đẻ nhánh khá Có phẩm chất gạo tốt, hạt gạo dài 7,3 mm, ít bạc bụng, hàm lượng amylose khoảng 25,6% Năng suất vụ Đông Xuân từ

6 – 8 tấn/ha và Hè Thu 4,0 – 5,5 tấn/ha Giống lúa OMCS2000 nhiễm bệnh đạo ôn cấp

7 và hơi nhiễm rầy nâu cấp 5, chịu phèn khá

So với các giống lúa khác thì giống lúa IR50404 được nông dân sản xuất nhiều năm qua trên một diện tích rộng và luôn dẫn đầu về diện tích so với các giống lúa khác ở ĐBSCL Mặc dù giống lúa này có hàm lượng amylose cao và độ bạc bụng lớn, tỷ lệ gạo nguyên thấp nhưng được nông dân chuộng trồng là do có thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 90 – 95 ngày, năng suất cao, nhẹ phân, ít tốn chi phí, ít sâu bệnh Bên cạnh đó lại có thị trường cho nhà sản xuất như làm bún và bánh tráng Các giống còn lại được chuộng trồng nhiều là do phần lớn các giống này có thời gian sinh trưởng ngắn 90 – 95 ngày, khả năng đẻ nhánh khá, chiều cao cây phần lớn trong khoảng 90 –

100 cm, có khả năng chịu mặn, phèn khá và đặc biệt là cho năng suất khá cao, thường cho năng suất rất cao trong vụ Đông Xuân

2.2 NHU CẦU ĐỐI VỚI GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG CAO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.2.1 Nhu cầu về giống lúa

Trong điều kiện sản xuất ngày nay, giống lúa chất lượng cao được xem là tiền đề của

sự thành công, là vấn đề quan trọng số một trong sản xuất Khi bắt đầu một vụ sản xuất, người nông dân thường nghĩ ngay đến việc lựa chọn loại giống lúa phù hợp để

canh tác Một số yêu cầu đối với giống lúa luôn được quan tâm đó là:

 Giống lúa phải có khả năng cho năng suất cao và ổn định Đây là yêu cầu quan trọng nhất vì năng suất luôn là vấn đề được người sản xuất quan tâm đầu tiên, là cả một quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa Ngoài ra việc đảm bảo tính ổn định năng suất của một giống là một yếu tố cũng không kém phần quan trọng trong sản xuất Phải đảm bảo cho sản lượng thu hoạch không bị biến động, nhất là không bị giảm đi trong khi canh tác

Trang 24

 Giống lúa phải có khả năng chống chịu được các điều kiện ngoại cảnh bất lợi và có khả năng thích nghi rộng Ở các vùng sinh thái khác nhau giống có thể có các đặc tính như chịu hạn, chịu ngập, chịu phèn, chịu mặn, không đổ ngã để đảm bảo cho lúa có năng suất ổn định

 Giống lúa phải có khả năng kháng một số sâu, bệnh chính trong vùng Sâu bệnh thường gây ra những thiệt hại lớn đến năng suất, có khi bị mất trắng như trường hợp lúa bị bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá Khi xử lý bằng thuốc hóa chất thường rất tốn kém

và ảnh hưởng đến môi trường Do đó đưa vào sản xuất các giống lúa có khả năng kháng sâu bệnh sẽ mang lại hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp

 Giống lúa phải có phẩm chất tốt, đáp ứng được yêu cầu của thị trường Bên cạnh giống có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích nghi cao thì vấn đề đầu ra sau khi sản xuất cũng được chú trọng và quan tâm rất nhiều

Ngày nay nhu cầu về giống lúa cho năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu được điều kiện tự nhiên của người nông dân là rất lớn Hằng năm theo như tính toán thì nhu cầu về lượng giống xác nhận ở ĐBSCL khoảng 400.000 tấn/năm nếu tính mỗi ha diện tích gieo trồng cần 100kg lúa giống và 490.000 tấn/năm nếu tính theo mức 120 kg/ha lúa giống nhưng trong thực tế có thể còn cần nhiều hơn và tổng nhu cầu về giống lúa của nông dân vùng ĐBSCL cho từng tỉnh bình quân một năm hơn 37,7 ngàn tấn (Báo Nông nghiệp VN, 2013)

Tỉnh An Giang có Công ty Cổ phần Bảo vệ Thực vật An Giang và 200 tổ sản xuất, cung ứng giống chất lượng cao Các tỉnh còn lại có Trung tâm Giống có thể cung ứng được 3.000 – 5.000 tấn lúa giống hằng năm Năng lực sản xuất, cung ứng lúa giống của các địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 10%, phần còn lại nông dân phải tự chủ động nguồn giống của mình theo kiểu làm vụ này để lại cho vụ sau Phần lớn các tỉnh

ở ĐBSCL không cung cấp đủ nhu cầu giống lúa chất lượng cho nông dân

Tại tỉnh Hậu Giang mỗi năm nông dân cần khoảng 24.000 tấn lúa giống để gieo sạ cho diện tích trên 200.000 ha (Báo Nông nghiệp VN, 2013) Tuy nhiên, Trung tâm Giống của tỉnh chỉ có khả năng đáp ứng một số lượng rất hạn chế so với nhu cầu

Tỉnh Vĩnh Long có nhu cầu về giống lúa để sản xuất với khoảng gần 9.000 tấn giống trong vụ Hè Thu thế nhưng Trung tâm Giống Nông nghiệp tỉnh chỉ có thể cung cấp được 5.000 tấn lúa giống, số còn lại phải lấy từ các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp và nguồn giống được cung cấp từ nguồn giống của các tỉnh trong vùng nhất là

từ Viện Lúa ĐBSCL

Riêng tại tỉnh Trà Vinh, mỗi năm cần lượng giống phẩm chất tốt vào khoảng 23.000 tấn nhưng thực tế chỉ đáp ứng được khoảng 26% yêu cầu này

Trang 25

Ngày nay nhu cầu giống chất lượng cao không ngừng tăng lên Tại Cần Thơ trước năm 2000 nhu cầu về giống xác nhận dưới 10% nhưng đến năm 2010 thì nhu cầu này cũng đã tăng lên đến 60 – 70%

Theo Viện Lúa ĐBSCL dù công tác giống đã đạt rất nhiều sự tiến bộ, song hiện vùng ĐBSCL vẫn còn thiếu nguồn cung cấp giống Hiện chỉ mới có hơn 30% giống cấp xác nhận được sử dụng trong sản xuất

2.2.2 Hệ thống cung cấp giống lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trong những năm qua, sản xuất giống lúa ở ĐBSCL tăng nhanh với nhiều tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh giống lúa Theo số liệu thống kê của Cục Trồng trọt năm 2013, toàn vùng ĐBSCL có 271 tổ chức, cá nhân đăng ký sản xuất, kinh doanh giống lúa, tăng 5,4 lần so với năm 2007 và các tổ chức, cá nhân này được chia làm 3 hệ thống cung cấp giống lúa là hệ thống giống cộng đồng, nông hộ, hệ thống giống Nhà nước và hệ thống giống công ty – doanh nghiệp tư nhân Trong đó, hệ thống giống Nhà nước và hệ thống giống công ty – doanh nghiệp tư nhân được coi là

hệ thống chính thống, hệ thống giống cộng đồng, nông hộ là hệ thống không chính thống Hệ thống giống nông hộ, cộng đồng có vai trò rất quan trọng, cung cấp hầu hết nhu cầu giống thực tế tại cộng đồng, hệ thống giống chính thống chỉ điều phối thị phần rất nhỏ chủ yếu là giống cấp cao như siêu nguyên chủng và nguyên chủng

Hệ thống giống cộng đồng, nông hộ

Hệ thống giống cộng đồng, nông hộ gồm các Câu lạc bộ/Tổ giống, Hợp tác xã, Tổ hợp tác và hàng trăm hộ nông dân tham gia sản xuất lúa giống với mục đích tự để lại lúa giống cho mình để sản xuất vào vụ sau hoặc trao đổi, mua bán với các hộ khác trong cộng đồng Chất lượng lúa giống của hệ thống giống cộng đồng, nông hộ được nông dân chấp nhận vì có giá bán thấp và tính thích nghi cao Hệ thống sản xuất giống nông

hộ phát triển rất mạnh ở ĐBSCL trong nhiều năm qua, đặc biệt ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ Lượng giống tương đương cấp xác nhận do hệ thống nông hộ sản xuất đạt xấp xỉ 140.000 tấn/năm, đủ cung cấp cho 25% nhu cầu giống của vùng

Trang 26

Giống cây trồng vật nuôi, Hợp tác xã nông nghiệp, Đại lý vật tư nông nghiệp Nhà nước và tư thương Hệ thống giống Nhà nước có nhiều giống có nhiều ưu điểm như chất lượng hạt giống tốt, không lẫn tạp, năng suất giống cao

Hệ thống giống công ty – doangh nghiệp tư nhân

Hệ thống công ty – doanh nghiệp tư nhân gồm các công ty, doanh nghiệp cung cấp giống lúa và phần lớn các công ty này thường gắn liền với dịch vụ thuốc bảo vệ thực vật như Công ty Cổ phần Giống cây trồng miền Nam, Công ty Bayer, Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang

Hệ thống phân phối giống lúa ở ĐBSCL có thể tóm tắt qua Hình 2.1

Hình 2.1: Hệ thống phân phối giống lúa ở ĐBSCL

(Nguồn: Nguyễn Hồng Tín, 2005; Huỳnh Ngọc Vân, 2010)

2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHỌN TẠO GIỐNG LÚA

2.3.1 Khái niệm về nguồn vật liệu phân ly

Nguồn vật liệu phân ly là tập hợp tất cả các dòng lúa có nguồn gốc từ các tổ hợp lai cha mẹ qua các thế hệ con lai F1, F2, F3, F4, F5, F6 trong quá trình chọn giống theo phương pháp truyền thống Trong đó, thế hệ F2 có mức độ phân ly và thể hiện ưu thế lai mạnh nhất (Jennings et al., 1979) Mỗi thế hệ được thực hiện trong vòng một vụ và đơn vị của nguồn vật liệu phân ly được gọi là dòng Các dòng này là một cá thể ở vụ trước áp dụng theo phương pháp cấy một tép và cho ra một quần thể ở vụ sau có kiểu hình phân ly khác nhau Các thế hệ sau mức độ phân ly giảm dần và các quần thể tiến gần đến độ thuần về đặc điểm hình thái Theo Nguyễn Hồng Cúc và Huỳnh Quang Tín (2007), thông thường số quần thể sẽ rất lớn ở thế hệ đầu, giảm dần ở thế hệ sau đó

và sản phẩm cuối cùng là các giống lúa mới

Nông dân sản xuất lúa thương phẩm

Cộng đồng/nông dân khác

Trạm, Trại giống

Tỉnh khác

Viện, Trường Trung tâm Khuyến Nông, Trung tâm Giống,

Công ty giống, Chi cục Bảo vệ thực vật

Nông dân sản xuất giống

Trang 27

2.3.2 Tiến trình chọn tạo giống lúa

Mọi tiến trình cải tiến giống lúa được bắt đầu bằng việc xác định mục đích, yêu cầu, mục tiêu dài hạn và trước mắt của nó Mục đích phải rõ ràng, chính xác nhằm đáp ứng được yêu cầu cụ thể của thực tiển sản xuất ở một vùng, một khu vực, một tiểu vùng sinh thái Mục đích càng cụ thể càng dễ dàng trong việc chọn nguồn vật liệu ban đầu, phương pháp lai tạo và mục tiêu có thể là năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng sâu đục thân, kháng bệnh cháy lá, đốm vằn, chịu phèn mặn, ngập, khô hạn Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), tiến trình chọn tạo giống lúa được thực hiện qua các bước sau:

Bước 1: Chọn vật liệu khởi đầu

Chọn những cá thể tốt nhất làm cha mẹ từ nhiều nguồn để phù hợp với mục tiêu lai tạo như giống lúa nhập từ nước ngoài, giống lúa từ các Ngân hàng Gen trong nước, giống lúa thích nghi và ổn định với vùng sinh thái từng địa phương

Bước 2: Lai tạo và chọn lọc

Cần chọn phương pháp thích hợp cho mục đích, yêu cầu của chương trình cải tiến giống lúa đã đề ra Có được phương pháp đúng và phù hợp sẽ giúp ta dễ dàng và nhanh chóng đạt được kết quả

Bước 3: Quan sát sơ khởi

Sau khi lai tạo và chọn lọc được các dòng thuần mong muốn Công việc tiếp theo là tổ chức đánh giá sơ khởi các đặc tính thích nghi, chống chịu, khả năng cho năng suất Trong bước này có thể sử dụng hàng trăm dòng mới cùng với 2 – 3 giống đối chứng nhiễm, kháng hoặc năng suất cao và thường không cần phải lặp lại

Bước 4: Trắc nghiệm hậu kì

Từ các thí nghiệm quan sát sơ khởi, các dòng tốt được trồng so sánh với giống đối chứng trong nhiều điều kiện khác nhau tùy mục đích chọn giống Trắc nghiệm hậu kỳ đòi hỏi kích thước lô lớn hơn thường là 10 – 15 m2 cho mỗi giống trên mỗi lần lặp lại

Số lượng các dòng để đánh giá trong trắc nghiệm hậu kỳ ở bước này trung bình là 50

và thường được tiến hành ở Trạm, Trại Nghiên cứu nơi có điều kiện quản lý và đánh giá tốt

Bước 5: So sánh năng suất

Các dòng tốt được chọn từ trắc nghiệm hậu kỳ được đưa đi so sánh năng suất nhiều nơi trên ruộng nông dân trong điều kiện sản xuất thực tế Số lượng giống/dòng ít hơn khoảng 10 – 20 giống/dòng, diện tích lô lớn hơn khoảng 20 – 30 m2, được lặp lại 3 – 4 lần và hầu hết các điều kiện canh tác giống như nông dân đang áp dụng trong khu vực Năng suất là chỉ tiêu được lưu ý nhiều nhất trong giai đoạn này

Trang 28

Bước 6: Thí nghiệm khu vực hóa

Các giống nổi bật ở từng khu vực trong thí nghiệm so sánh năng suất được chọn ra và

so sánh trên diện tích lớn hơn tại nhiều điểm có điều kiện môi trường và canh tác tương tự như điểm so sánh năng suất, có hoặc không có lặp lại ở mỗi điểm Trong bước này, bộ giống thử nghiệm có thể khác nhau theo từng điều kiện cụ thể của từng khu vực và cần khoảng 5 – 10 giống/dòng

Bước 7: Sản xuất thử

Từ kết quả thử nghiệm khu vực hóa, chọn được 2 – 3 giống/dòng tốt nhất để sản xuất thử, đồng thời tiếp tục theo dõi tính thích nghi và chống chịu của giống Các giống tốt

sẽ được phổ biến đại trà

Bước 8: Sản xuất đại trà

Đây là bước cuối cùng trong chương trình chọn tạo giống mới Nông dân sẽ trồng đại trà trên các nông trại, cả cánh đồng, cả khu vực các giống/dòng lúa đã thông qua sản xuất thử và được kết luận tốt hoặc chấp nhận được

2.4 CÁC ĐẶC TÍNH QUAN TRỌNG TRONG CHỌN TẠO GIỐNG LÚA

2.4.1 Chọn giống có thời gian sinh trưởng đáp ứng cơ cấu mùa vụ

Các giống có thời gian sinh trưởng quá ngắn không thể tạo ra được năng suất cao vì thời gian sinh trưởng dinh dưỡng bị hạn chế và các giống có thời gian sinh trưởng quá dài cũng không thể cho năng suất cao vì thời gian sinh trưởng dinh dưỡng quá thừa có thể gây ra lốp đổ (Yosida, 1985)

Việc phân loại giống lúa thành các nhóm theo thời gian sinh trưởng được phân chia khác nhau ở mỗi tác giả như sau:

Các giống lúa ngắn ngày, thời gian sinh trưởng từ khi gieo hạt đến chín trong khoảng

từ 100 – 130 ngày, các giống lúa trung bình thời gian sinh trưởng từ 130 – 140 ngày, còn các giống lúa dài ngày thời gian sinh trưởng từ 150 ngày trở lên (Đinh Văn Lữ, 1978)

Bên cạnh đó, theo Nguyễn Thành Hối (2011) các giống lúa được chia thành bốn nhóm dựa vào thời gian sinh trưởng như sau:

 Nhóm A0: Cực ngắn ngày (thời gian sinh trưởng nhỏ hơn 90 ngày)

 Nhóm A1: Ngắn ngày (thời gian sinh trưởng từ 90 – 105 ngày)

 Nhóm A2: Tương đối ngắn ngày (thời gian sinh trưởng từ 106 – 120 ngày)

 Nhóm B: Trung mùa (thời gian sinh trưởng từ 120 – 140 ngày)

Trang 29

Với cơ cấu mùa vụ của ĐBSCL được nêu ở Mục 2.1.1 thì các giống lúa có thời gian sinh trưởng dưới 100 ngày được cho là phù hợp Vùng cơ cấu 2 – 3 vụ lúa thì thời gian sinh trưởng khoảng 90 – 100 ngày là khá phù hợp để đáp ứng mùa vụ

2.4.2 Chiều cao cây lúa và độ cứng rạ đáp ứng cơ giới hóa khâu thu hoạch

Chiều cao cây là khoảng cách dài nhất tính từ gốc lúa đến đỉnh của lá cao nhất hay bông tùy cái nào dài hơn (Yosida, 1985) và chiều cao cây phụ thuộc vào đặc tính của từng giống Ngoài ra, chiều cao cây còn do gen quy định bên cạnh đó nó cũng phụ thuộc vào một số yếu tố khác như lượng phân bón và nước (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005) Nếu ruộng có nhiều nước, sạ dày, thiếu ánh sáng, bón nhiều phân đạm thì lóng có khuynh hướng vươn dài và mềm yếu làm cho lúa dễ đổ ngã và giảm năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Theo Vũ Anh Pháp và ctv., (2011) chiều cao cây lúa thấp hơn 100 cm thì những giống

có chiều dài lóng ngắn, độ cứng thân lớn sẽ giúp cho cây chống chịu đổ ngã tốt hơn Theo Trần Ngọc Chủng (2010), sự đổ ngã xảy ra ở thời kỳ sau trổ dẫn đến tình trạng hạt lép, lửng có thể làm giảm năng suất từ 50 – 75% Cây lúa có năng suất cao phải có chiều cao trung bình từ 80 – 110 cm và kháng đổ ngã (Võ Tòng Xuân, 1986)

2.4.3 Chọn giống có chiều dài bông thích hợp

Chiều dài bông được tính từ đốt cổ bông đến chót bông Chiều dài bông do đặc tính di truyền quyết định nhưng chịu ảnh hưởng mạnh của điều kiện môi trường, nhất là điều kiện dinh dưỡng trong giai đoạn đầu hình thành bông (Trương Thị Ngọc Sương, 1991)

Nghiên cứu của Trần Hoài Phúc (2011) về năng suất và phẩm chất của 15 giống/dòng lúa triển vọng cao sản ngắn ngày chịu phèn được lai tạo tại Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL đem thí nghiệm vào vụ Đông Xuân tại Hòa An thì chiều dài bông biến thiên trong khoảng từ 17,6 – 22,5 cm, chiều dài bông trung bình là 20,6 cm Phần lớn chiều dài bông của bộ giống ở mức từ 20 cm trở lên, chỉ có 3 giống trong 15 giống/dòng có chiều dài bông thấp hơn 20 cm

Bên cạnh đó, theo Lâm Hồng Đào (2013) khi nghiên cứu tuyển chọn giống phẩm chất tốt vào vụ Hè Thu tại Trung tâm Giống tỉnh An Giang cho thấy chiều dài bông của 12 giống lúa thí nghiệm MTL dao động từ 22,0 – 25,8 cm, chiều dài bông trung bình

là 23,8 cm Nhìn chung, bộ giống có chiều dài bông tương đối dài có khả năng cho năng suất cao đáp ứng được nhu cầu chọn giống

2.4.4 Chọn giống có năng suất cao

Theo dự báo của các nhà khoa học thế giới, Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu Trong đó, vùng ĐBSCL sẽ bị giảm thiểu đất trồng trọt do bị xâm nhập mặn, sự suy giảm tài nguyên đất và nước tác

Trang 30

động trực tiếp tới an ninh lương thực Quốc gia (Lê Văn Bảnh, 2011) Trước những khó khăn đó đòi hỏi phải có những giống lúa có năng suất cao và ổn định để đảm bảo cung cấp đủ lương thực cho 90 triệu người

Năng suất thực tế

Năng suất lúa khi được thu hoạch trên một đơn vị diện tích ngoài đồng sau đó được làm sạch và quy về độ ẩm 14% được gọi là năng suất thực tế Năng suất thực tế là yếu

tố quan trọng đối với các nhà nghiên cứu cũng như nông dân sản xuất lúa

Theo nhận xét của Nguyễn Thành Công (2013) khi chọn giống lúa ngắn ngày năng suất cao cho vùng phù sa ngập lũ tại tỉnh An Giang vào vụ Đông Xuân 2012 – 2013 cho thấy trong 20 giống lúa OM thí nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất giống tỉnh An Giang năng suất thực tế dao động từ 4,4 – 6,8 tấn/ha với năng suất trung bình của các giống lúa thí nghiệm là 5,7 tấn/ha

Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Phan Việt Anh (2014) về 12 giống lúa MTL vào vụ

Hè Thu 2013 tại Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất giống tỉnh An Giang thì năng suất thực tế của các giống lúa MTL thí nghiệm trung bình đạt 5,2 tấn/ha, biến thiên từ 4,27 – 5,98 tấn/ha

Năng suất lý thuyết và các thành phần năng suất

Năng suất lúa được hình thành và chịu ảnh hưởng trực tiếp của 4 yếu tố được gọi

là 4 thành phần năng suất đó là số bông trên đơn vị diện tích, số hạt chắc trên bông,

tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt

Năng suất lúa = số bông/m2 x số hạt/bông x tỷ lệ hạt chắc x trọng lượng 1000 hạt

Bảng 2.1: Sự đóng góp của các thành phần năng suất vào năng suất lúa

Tương đối Tuyệt đối

Nguồn: Yoshida và Parao, 1976 (trích bởi Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Các thành phần năng suất này có liên quan chặt chẽ với nhau Trong phạm vi giới hạn, bốn thành phần này càng gia tăng thì năng suất lúa càng cao, cho đến lúc bốn thành phần này đạt cân bằng tối hảo thì năng suất lúa sẽ tối đa Nếu vượt trên mức cân bằng

Trang 31

này, một trong bốn thành phần tăng lên nữa sẽ ảnh hưởng xấu đến các thành phần còn lại dẫn đến việc làm giảm năng suất lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Số bông trên đơn vị diện tích

Số bông trên một đơn vị diện tích hình thành dựa vào hai yếu tố chủ yếu là mật độ cấy

và tỷ lệ đẻ nhánh của cây lúa Mật độ cấy thưa, ánh sáng đầy đủ, dinh dưỡng nhiều thì lúa đẻ nhánh mạnh và cuối cùng đạt được một số lượng bông nhất định trên một đơn

vị diện tích Mật độ cấy dày, lúa đẻ nhánh ít và cuối cùng cũng đạt được một số bông tương đương nhất định trên một đơn vị diện tích

Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cũng cho rằng số bông trên đơn vị diện tích phụ thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa Hai yếu tố này thay đổi tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón nhất là phân đạm và chế độ nước

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Huỳnh Giao (2012) khi tuyển chọn các dòng lúa triển vọng đáp ứng nhu cầu gạo phẩm chất tốt cho sản xuất ở ĐBSCL cho thấy trong tổng số 20 giống/dòng lúa vào vụ Đông Xuân thì số bông/m2 biến thiên trong khoảng

từ 245 – 353 bông/m2, trung bình có 300 bông/m2 Qua đó thấy được những giống này

có khả năng nhảy chồi khá tốt

Ngoài ra, yếu tố mùa vụ cũng ảnh hưởng đến số hạt chắc trên bông ở mỗi điểm Số hạt chắc trên bông ở các điểm trong vụ Đông Xuân luôn cao hơn vụ Hè Thu (Lê Xuân Thái, 2003)

Tỷ lệ hạt chắc

Tỷ lệ hạt chắc phụ thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý và điều kiện ngoại cảnh, khi số hoa trên bông quá nhiều dễ dẫn tới tỷ lệ hạt chắc thấp Các giống có khả năng quang hợp, tích luỹ và chuyển vị các chất mạnh với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, chất dinh dưỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Số hạt tối đa được xác định bởi sự phân hoá các nhánh và hạt (Yoshida, 1981) Muốn lúa có năng suất cao thì tỷ lệ hạt chắc phải đạt trên 80% (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 32

Trọng lượng 1000 hạt

Trọng lượng 1000 hạt là đặc tính ổn định của giống vì kích thước hạt bị kiểm tra chặt chẽ bởi kích thước vỏ trấu Trong một số trường hợp, trọng lượng 1000 hạt của một vài giống không đổi nhưng không có nghĩa là từng hạt có cùng trọng lượng Trọng lượng từng hạt thay đổi ở vài trường hợp nhưng giá trị trung bình không đổi nên trọng lượng 1000 hạt không đổi Ở phần lớn các giống lúa, trọng lượng 1000 hạt thường biến thiên tập trung trong khoảng 20 – 30 gam (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Theo Lê Xuân Thái (2003) thì việc chọn giống có trọng lượng 1000 hạt cao là rất cần thiết trong việc gia tăng năng suất nhưng không nên chọn giống có trọng lượng 1000 hạt quá cao vì như thế sẽ kèm theo độ bạc bụng nhiều làm giảm giá trị xuất khẩu Nghiên cứu của Lê Vĩnh Thôn (2012) trên 16 dòng lúa vào vụ Đông Xuân tại Nông trại khu II – Trường Đại học Cần Thơ thì trọng lượng 1000 hạt của bộ giống thí nghiệm biến thiên trong khoảng từ 24,1 – 28,4 gam, trung bình khoảng 26 gam Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nhận định của Nguyễn Ngọc Đệ (2008) về trọng lượng

1000 hạt

2.4.5 Đặc điểm phẩm chất hạt gạo

Tỷ lệ xay chà

Tỷ lệ xay chà bao gồm tỷ lệ gạo lức, tỷ lệ gạo trắng và tỷ lệ gạo nguyên Theo Khush

et al (1979), (trích bởi Nguyễn Thành Công, 2013) tỷ lệ vỏ trấu trung bình của các giống lúa từ 20% đến 22%, có thể biến động từ 18% đến 26%, cám và phôi hạt chiếm

từ 8% đến 10% Do đó, tỷ lệ gạo trắng thường khoảng 70%, tỷ lệ gạo nguyên chỉ khoảng 50%

Tỷ lệ gạo lức là tỷ lệ hạt gạo sau khi được tách vỏ trấu và hạt gạo chưa được chà trắng Tỷ lệ gạo lức thường chiếm khoảng 80% trọng lượng hạt lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) và tỷ lệ gạo này cho biết vỏ trấu dày hay mỏng và nếu tỷ lệ gạo lức lớn thể hiện khả năng vận chuyển chất khô của cây lúa vào hạt ở giai đoạn vào chắc là đầy đủ (Lê Xuân Thái, 2003) Tỷ lệ gạo lức ít biến động và nó phụ thuộc vào môi trường (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2011)

Tỷ lệ gạo trắng là tỷ lệ gạo sau khi chà trắng gạo lức để tách cám và mầm ra, tỷ lệ này thường chiếm khoảng 70% trọng lượng hạt lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Cũng tương

tự như tỷ lệ gạo lức, tỷ lệ gạo trắng cũng ít biến động và nó cũng phụ thuộc vào môi trường (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2011)

Theo Khush et al (1979), (trích bởi Nguyễn Thành Công, 2013) tỷ lệ gạo nguyên biến động rất lớn, đây là tính trạng di truyền và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường, đặc biệt là trong suốt thời kỳ hạt chín, kéo dài đến sau thu hoạch Theo Bùi Chí Bửu

Trang 33

phơi sấy và bảo quản Bên cạnh đó cũng cho rằng tỷ lệ gạo nguyên biến động rất lớn

và chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ của môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và ẩm độ trong suốt thời gian chín, kéo dài đến lúc sau thu hoạch

Kích thước và hình dạng hạt gạo

Kích thước và hình dạng hạt gạo là hai thông số quan trọng trong việc phân biệt loại

gạo xuất khẩu và phụ thuộc rất lớn vào thị hiếu người tiêu dùng của nhiều quốc gia

Kích thước hạt gạo

Chiều dài hạt gạo là tính trạng ổn định nhất, ít bị ảnh hưởng bởi môi trường, được điều khiển bởi đa gen Thứ tự mức độ tính trội được ghi nhận như sau: Hạt dài > hạt trung bình > hạt ngắn > hạt rất ngắn Thị hiếu của người tiêu dùng về dạng hạt rất thay đổi, có nơi thích hạt tròn, có nơi thích dạng hạt gạo trung bình, nhưng dạng hạt gạo thon dài được tiêu thụ nhiều nhất trên thị trường quốc tế (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2011)

Theo Lâm Hồng Đào (2013) khi nghiên cứu trên 12 giống lúa MTL vào vụ Hè Thu tại Trung tâm Giống tỉnh An Giang cho thấy các giống thí nghiệm của bộ giống có chiều dài hạt gạo biến thiên từ 6,5 – 7,2 mm, trung bình là 6,9 mm, bộ giống thí nghiệm thuộc hình dạng hạt thon, dài phù hợp với nhu cầu xuất khẩu, góp phần làm tăng giá trị thương phẩm cho hạt gạo

Trang 34

Độ bạc bụng

Bạc bụng là phần đục của hạt gạo Khi nấu thì bạc bụng sẽ biến mất và không ảnh hưởng đến mùi vị của cơm Tuy nhiên, nó làm giảm cấp của gạo và giảm tỷ lệ xay chà Bạc bụng là do sự trục trặc trong quá trình tạo hạt và phơi sấy Có 3 dạng bạc bụng phổ biến là bụng trắng, gan trắng và lưng trắng, tùy vị trí của vết đục nằm về phía mầm hạt, ở giữa hạt hay ở phía đối diện Để đánh giá độ bạc bụng, người ta phân thành các cấp 0, cấp 1, cấp 5 và cấp 9 dựa vào thể tích vết đục so với thể tích của cả hạt gạo (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Theo Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang (2011) sự thay đổi khí hậu có ảnh hưởng đáng

kể đến việc tăng độ bạc bụng Các thí nghiệm thực hiện tại vùng lúa IRRI cho thấy, ở thời kỳ lúa trổ đến chắc nếu điều kiện nhiệt độ đêm/ngày vào khoảng 20/300C lúa sẽ đạt 80% số hạt chắc, tuy nhiên độ bạc bụng khá cao 80% Trong khi đó, trong điều kiện nhiệt độ đêm/ngày ở mức 15/250C tỷ lệ hạt chắc đạt rất thấp nhưng tỷ lệ bạc bụng của hạt gạo lại rất thấp, thấp hơn 20%

Một nghiên cứu về việc khảo sát tính trạng bạc bụng theo các vị trí khác nhau trên giống lúa thơm MTL250 của Nguyễn Thành Tâm và Nguyễn Dịu Tánh (2012) thì có

sự khác nhau về tỷ lệ bạc bụng giữa các bông trên cùng một bụi hoặc giữa các bụi khác nhau Tỷ lệ bạc bụng cao nhất ở phần cổ bông kế đến là phần giữa bông và thấp nhất ở phần chót bông

Độ trở hồ

Nhiệt độ hóa hồ hay độ trở hồ là nhiệt độ mà ở đó 90% hạt tinh bột bị hóa hồ hoặc phồng lên trong nước nóng không thể trở lại dạng cũ được

Bảng 2.3: Tương quan giữa nhiệt độ hóa hồ và độ tan rã của gạo trong môi trường kiềm

Các tiêu chuẩn về chất lượng gạo thì nhiệt độ trở hồ cũng là một tiêu chuẩn rất quan trọng vì hàm lượng amylose của tinh bột liên quan mật thiết với nhiệt độ trở hồ, là yếu

tố chính quyết định đến phẩm chất gạo lúc nấu

Trang 35

Từ nghiên cứu của Lâm Hồng Đào (2013) trong 12 giống lúa MTL vào vụ Hè Thu tại Trung tâm Giống tỉnh An Giang cho thấy độ trở hồ biến thiên từ cấp 2 đến cấp 7 Trong đó có 5 giống có độ trở hồ ở mức trung bình từ cấp 3 đến cấp 5, phù hợp với tiêu chí chọn giống cho phẩm chất gạo ngon khi nấu

Mùi thơm

Mùi thơm là một đặc tính quan trọng về phẩm chất gạo của lúa chất lượng cao, nó cũng là một trong những tiêu chí thu hút người tiêu dùng nhất là ở những quốc gia giàu và các quốc gia phát triển Mùi thơm được xác định là do chất 2-acetyl-1-pyrroline tìm thấy trong thành phần dầu dễ bay hơi của cơm Gạo Thái nhập vào Hongkong là loại gạo cao cấp và được ưa thích vì mùi vị thơm ngon của nó (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Ngoài chịu ảnh hưởng của điều kiện canh tác, điều kiện môi trường thì tính thơm của gạo còn chịu sự ảnh hưởng bởi nhiệt độ, thời gian thu hoạch và thời gian bảo quản gạo (Phạm Thị Phấn, 2010; Nguyễn Thành Tâm, 2008)

Theo Phan Việt Anh (2013) khi tuyển chọn giống lúa phẩm chất tốt vào vụ Hè Thu

2013 tại Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất giống tỉnh An Giang cho thấy chỉ có một giống không thơm có tổ hợp lai MTL250/Jasmine85, những giống còn lại đều có mùi thơm từ thơm nhẹ đến thơm Nghiên cứu cho thấy những giống có mùi thơm thuộc các tổ hợp lai MTL250/Jasmine85, MTL250/MTL463, IR50404/MTL372, MTL145/MTL250 nên những giống thơm đó rất phù hợp với yêu cầu xuất khẩu

2.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ GIỐNG LÚA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Trong nhiều năm qua đã có rất nhiều nghiên cứu về giống lúa từ các cơ quan nghiên cứu, trong đó trường Đại học Cần Thơ, Viện Lúa ĐBSCL (huyện Ô Môn – thành phố Cần Thơ) và trường Trung học Nông nghiệp Long Định (Tiền Giang), Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam (Thành phố Hồ Chí Minh) là những cơ quan đã đóng góp rất nhiều vào công tác nghiên cứu và phát triển giống lúa ở ĐBSCL Tại đây không những chỉ có cán bộ mà cả sinh viên từ các Viện, Trường cũng góp phần tham gia vào việc nghiên cứu với mục đích chung là nhằm chọn tạo ra các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt góp phần vào việc cung cấp cho người dân những giống lúa mới có hiệu quả kinh tế cao hơn, bên cạnh đó cũng góp phần đáp ứng nhu cầu của thị trường Trong những năm qua Viện Lúa ĐBSCL đã nghiên cứu và chuyển giao được 132 giống lúa mới mang tên OM, năm 2012 Viện đã đề xuất công nhận 36 giống và đang chờ được chuyển giao Trong đó, Viện Lúa ĐBSCL đã chọn tạo ra được những giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt như OM1490, OM2517, OM3536, OM2717, OM2718, OM3405, OM4495, OM4498, OM2514 trồng rộng rãi ở vùng sản

Trang 36

xuất ngập lũ ĐBSCL Tuyển chọn các giống lúa ngắn ngày có khả năng chịu phèn và mặn cho năng suất cao như: OM2395, OM2431, OM5490, OM10041, OM7347 (Đoàn Mạnh Tường, 2012)

Năm 2006 – 2009, Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Trường Đại học Cần Thơ

đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Kết quả chọn tạo giống lúa chất lượng cao cho Đồng bằng sông Cửu Long” kết quả thu được 23 giống có phẩm chất cao và có chất lượng gạo đạt điều kiện xuất khẩu và 8 giống lúa kháng rầy nâu và vàng lùn cho năng suất cao, 10 giống lúa kháng bệnh đạo ôn, 8 giống lúa chống chịu phèn mặn và 7 giống thích nghi điều kiện thâm canh cao Đề tài được thực hiện bởi các cán bộ Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL (Phạm Thị Phấn và ctv., 2009)

Bằng việc sử dụng phương pháp gây đột biến, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã chọn tạo bằng phương pháp đột biến trên giống lúa IR64 đã tạo ra giống lúa VNĐ95 – 20 và được công nhận là giống lúa Quốc gia vào năm 1999 Bên cạnh

đó cũng bằng phương pháp đột biến nhưng gây đột biến trên giống Nàng Hương, Viện

đã tạo ra thêm giống lúa VNĐ99 – 3, giống này được công nhận vào năm 2004 Đây

là hai giống lúa có chất lượng khá cao

Trang 37

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

Đề tài được thực hiện bằng việc kết hợp hai phương pháp: Phỏng vấn trực tiếp và tiến hành thực nghiệm Xác định nhu cầu của người dân về đặc tính giống lúa mới bằng cách tiến hành phỏng vấn nông dân mua lúa giống tại Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL Sau đó, tiến hành chọn giống bằng thí nghiệm năng suất ngoài đồng và thí nghiệm phẩm chất trong phòng Ứng dụng phương pháp thống kê mô tả, phép thử F

và so sánh Duncan, phân nhóm theo phương pháp K – Trung bình để phân tích số liệu Sau đây là sơ đồ nghiên cứu của đề tài (Hình 3.1)

Nội dung Phương tiện phương pháp Chỉ tiêu đánh giá Kết quả

Hình 3.1: Sơ đồ tổng quát phương pháp tiếp cận của đề tài

 Thời gian sinh trưởng

 Chiều cao và độ cứng cây

 Chiều dài bông

phẩm chất

trong

phòng

 Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi

 Phương pháp thống kê mô tả

 Đặc tính giống lúa đã canh tác

 Đặc tính mong muốn ở giống lúa mới

 Đánh giá các chỉ tiêu theo phương pháp của IRRI (1988 và 1996)

 Phương pháp thống kê mô tả, phép thử F và so sánh Duncan

Chọn ra dòng lúa có các đặc tính năng suất cao

và phẩm chất tốt

Chọn giống

 Tổng hợp số liệu

 Phương pháp K – Trung bình

 Năng suất

 Phẩm chất

Trang 38

3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

3.2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Phỏng vấn nông dân mua lúa giống thực hiện tại Viện Nghiên

cứu Phát triển ĐBSCL Thí nghiệm ngoài đồng thực hiện tại Nông trại thực nghiệm Khu II – Trường Đại học Cần Thơ Thí nghiệm trong phòng thực hiện tại phòng thí nghiệm Sinh Hóa – Trường Đại học Cần Thơ

Thời gian nghiên cứu: Phỏng vấn nông dân thực hiện vào tháng 11/2013 Thí nghiệm

ngoài đồng thực hiện vào vụ Đông Xuân 2013 – 2014, thí nghiệm trong phòng thực hiện từ tháng 4 – 7/2014

3.2.2 Cơ cấu giống/dòng lúa được sử dụng trong thí nghiệm

Thí nghiệm sử dụng các dòng lúa có nguồn gốc từ các tổ hợp lai L516, L518, L520, L526, L550 được lai tạo năm 2009 tại Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Trường Đại học Cần Thơ và sử dụng giống lúa OM1490 làm giống đối chứng năng suất cao

và ngắn ngày, Jasmine85 làm giống đối chứng phẩm chất gạo thơm

3.2.3 Các dụng cụ và vật liệu phục vụ cho thí nghiệm

Giấy, viết, thước, thanh tre, túi đựng mẫu để ghi nhận các chỉ tiêu ngoài đồng như chiều cao cây, chiều dài bông

Máy tách chắc lép, máy đo độ ẩm, máy đếm 1000 hạt, cân điện tử, máy xay lúa, máy lau bóng gạo, kính lúp, đĩa petri, hộp nhựa, dung dịch KOH 1,7% để ghi nhận và đánh giá các chỉ tiêu về năng suất và phẩm chất

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.3.1 Phương pháp quản lý thí nghiệm

Phân bón: Lượng phân sử dụng theo công thức bón 90N – 60P2O5 – 60K2O/ha, tương

Ngày đăng: 13/11/2015, 10:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hệ thống phân phối giống lúa ở ĐBSCL - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Hình 2.1 Hệ thống phân phối giống lúa ở ĐBSCL (Trang 26)
Hình 3.1: Sơ đồ tổng quát phương pháp tiếp cận của đề tài - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Hình 3.1 Sơ đồ tổng quát phương pháp tiếp cận của đề tài (Trang 37)
Bảng 3.7: Phân loại kích thước, hình dạng hạt gạo theo tiêu chuẩn IRRI (1996) - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 3.7 Phân loại kích thước, hình dạng hạt gạo theo tiêu chuẩn IRRI (1996) (Trang 42)
Bảng 3.8: Phân loại cấp bạc bụng dựa theo % vết đục của hạt theo IRRI (1988) - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 3.8 Phân loại cấp bạc bụng dựa theo % vết đục của hạt theo IRRI (1988) (Trang 43)
Bảng 3.10: Đánh giá mùi thơm theo thang điểm đánh giá IRRI (1996) - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 3.10 Đánh giá mùi thơm theo thang điểm đánh giá IRRI (1996) (Trang 43)
Bảng 4.3: Tỷ lệ người mua lúa giống được phỏng vấn đến từ các tỉnh ĐBSCL - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 4.3 Tỷ lệ người mua lúa giống được phỏng vấn đến từ các tỉnh ĐBSCL (Trang 46)
Bảng 4.2 Độ tuổi và kinh nghiệm sản xuất của người được phỏng vấn - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 4.2 Độ tuổi và kinh nghiệm sản xuất của người được phỏng vấn (Trang 46)
Bảng 4.5: Mong muốn của người sản xuất theo mức độ ưu tiên về đặc tính giống mới - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 4.5 Mong muốn của người sản xuất theo mức độ ưu tiên về đặc tính giống mới (Trang 48)
Bảng 4.13: Phân nhóm các dòng lúa cho từng chỉ tiêu phẩm chất - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 4.13 Phân nhóm các dòng lúa cho từng chỉ tiêu phẩm chất (Trang 55)
Bảng 1: Danh sách các tổ hợp lai sử dụng trong thí nghiệm vụ Đông Xuân 2013 – 2014 - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 1 Danh sách các tổ hợp lai sử dụng trong thí nghiệm vụ Đông Xuân 2013 – 2014 (Trang 68)
Bảng 2: Đặc tính nông học của các giống/dòng lúa thí nghiệm vào vụ Đông Xuân 2013- - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2 Đặc tính nông học của các giống/dòng lúa thí nghiệm vào vụ Đông Xuân 2013- (Trang 69)
Bảng 4: Phẩm chất xay chà của các giống/dòng lúa thí nghiệm vào vụ Đông Xuân 2013 – - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 4 Phẩm chất xay chà của các giống/dòng lúa thí nghiệm vào vụ Đông Xuân 2013 – (Trang 71)
Bảng  6:  Tỷ  lệ  bạc  bụng  của  các  giống/dòng  lúa  thí  nghiệm  vào  vụ  Đông  Xuân  2013  – - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
ng 6: Tỷ lệ bạc bụng của các giống/dòng lúa thí nghiệm vào vụ Đông Xuân 2013 – (Trang 73)
Bảng 1: Phân tích phương sai trọng lượng 1000 hạt của các giống/dòng lúa thí nghiệm - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 1 Phân tích phương sai trọng lượng 1000 hạt của các giống/dòng lúa thí nghiệm (Trang 74)
Bảng 3: Phân tích phương sai số hạt chắc trên bông của các giống/dòng lúa thí nghiệm - phân tích năng suất và phẩm chất nguồn dòng lai triển vọng vụ đông xuân 2013 – 2014 đáp ứng cho công tác chọn giống ở các cộng đồng vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 3 Phân tích phương sai số hạt chắc trên bông của các giống/dòng lúa thí nghiệm (Trang 74)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w