1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT

47 656 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Ảnh Hưởng Của Chế Phẩm Ah Lên Sự Tăng Trưởng Và Sức Đề Kháng Bệnh Đốm Trắng Ở Tôm Sú Thịt
Tác giả Trương Văn An
Người hướng dẫn GS.TSKH Lê Huy Bá, Th.S Đỗ Quang Tiền Vương
Trường học Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Sinh Học
Thể loại Khóa Luận Cử Nhân
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 714,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA SINH HỌC

…………#…………

TRƯƠNG VĂN AN

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM AH LÊN SỰ TĂNG TRỌNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BỆNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT

(PENAEUS MONODON)

KHÓA LUẬN CỬ NHÂN KHOA HỌC

NGÀNH SINH HỌC

CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC ĐỘNG VẬT

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : GS.TSKH LÊ HUY BÁ

Th.S ĐỖ QUANG TIỀN VƯƠNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2004

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC HÌNH, BẢNG 4

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 6

PHẦN II: TỔNG QUAN 8

I Tình hình nuôi tôm sú và vấn đề dịch bệnh ở nước ta 9

I.1 Tình hình nuôi tôm sú và vấn đề dịch bệnh ở Miền Bắc 9

I.2 Tình hình nuôi tôm sú và vấn đề dịch bệnh ở Miền Trung 10

I.3 Tình hình nuôi tôm sú và vấn đề dịch bệnh ở Miền Nam 11

II Một số đặc điểm sinh học của tôm sú 12

II.1 Phân loại 12

II.2 Chu kì đời sống và các giai đoạn phát triển của tôm sú 12

II.3 Tập tính lột xác của tôm sú 13

II.4 Đặc điểm dinh dưỡng 15

II.5 Cơ chế kháng bệnh của tôm sú 15

III Một số bệnh thường gặp ở tôm sú 18

III.1 Bệnh do virus 18

III.2 Bệnh do vi khuẩn 18

III.2.1 Đại cương về vi khuẩn Vibrio 19

III.2.2 Một số bệnh liên quan đến nhóm vi khuẩn Vibrio 20

IV Thức ăn và vai trò của thức ăn trong quản lý sức khỏe tôm 22

IV.1 Thức ăn và tiêu chuẩn thức ăn tổng hợp dạng viên cho tôm sú 22

IV.1.1 Thức ăn tổng hợp nhân tạo 22

IV.1.2 Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp dạng viên cho tôm sú 22

IV.2 Vai trò thức ăn trong quản lý sức khỏe tôm 25

IV.2.1 Vai trò của các chất bổ dưỡng đối với sức khỏe tôm 25

IV.2.2 Sản phẩm kích thích khả năng kháng bệnh ở tôm 26

Trang 3

PHẦN III: NỘI DUNG - ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

I Nội dung 31

II Đối tượng 31

III Dụng cụ - Thiết bị - Hóa chất 32

III.1 Dụng cụ - Thiết bị 32

III.2 Hóa chất 32

IV Phương pháp nghiên cứu 33

IV.1 Phương pháp tạo viên thức ăn chứa chế phẩm AH 33

IV.2 Phương pháp khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm AH đến sự gia tăng kích thước và trọng lượng của tôm sú 34

IV.2.1 Mô hình bể kính 34

IV.2.2 Mô hình bể Composit 35

IV.2.3 Mô hình ao tự nhiên 39

IV.3 Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm AH đến khả năng tăng cường sức đề kháng bệnh cho tôm sú trên mô hình bể xi măng 40

IV.3.1 Mô hình bể kính 40

IV.3.2 Mô hình bể xi măng 40

IV.3.3 Phương pháp thu dịch virus đốm trắng và gây nhiễm cho tôm 41

IV.4 Phần mềm xử lý thống kê 42

PHẦN IV: KẾT QUẢ - BIỆN LUẬN 43

I Ảnh hưởng của chế phẩm AH đến sự gia tăng kích thước và trọng lượng của tôm sú 44

I.1 Mô hình bể kính 44

I.1.1 Gia tăng kích thước 44

I.1.2 Gia tăng trọng lượng 45

I.2 Mô hình bể Composit 46

I.2.1 Gia tăng kích thước 46

I.2.2 Gia tăng trọng lượng 47

Trang 4

I.3 Mô hình ao tự nhiên 49

I.3.1 Gia tăng kích thước 49

I.3.2 Gia tăng trọng lượng 50

II Ảnh hưởng của chế phẩm AH đến khả năng tăng cường sức đề kháng bệnh cho tôm sú 51

II.1 Mô hình bể kính 51

II.2 Mô hình bể xi măng 52

PHẦN V: KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 54

I Kết luận 55

II Đề nghị 55

PHẦN VI: TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

- Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đặc

biệt là tôm sú Penaeus monodon ngày càng tăng cao Do nhu cầu tiêu dùng trong và

ngoài nước ngày càng tăng và tôm lại mang về nguồn lợi kinh tế rất lớn nên nước

ta đã có kế hoạch tăng diện tích nuôi tôm từ 446.000ha (năm 2002) lên 500.000ha (năm 2005) Cùng với việc gia tăng diện tích nuôi tôm thì vấn đề dịch bệnh cũng tăng theo cả về chủng loại lẫn mức độ nghiêm trọng Con tôm sú có thể giúp người nuôi phất lên nhanh chóng nhưng cũng khiến không ít người trắng tay, nợ nần chồng chất

- Để nghề nuôi tôm sú phát triển bền vững cho người nông dân thì phải giải quyết được hai vấn đề lớn, đó là tạo điều kiện cho tôm lớn nhanh đồng thời giảm thiểu mọi nguy cơ nhiễm bệnh cho tôm

- Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng giúp cho tôm sú phát triển tốt, nhưng nếu các chất dinh dưỡng quá dư thừa sẽ gây ra tác động ngược lên con tôm, gây ô nhiễm nguồn nước và đây chính là nguyên nhân chủ yếu của dịch bệnh Vậy vấn đề quan trọng ở đây là làm sao cung cấp các chất dinh dưỡng phù hợp với đặc điểm tiêu hóa của tôm nhằm kích thích khả năng bắt mồi, qua đó hạn chế việc dư thừa không cần thiết

- Một vấn đề có thể được coi như quan trọng hàng đầu trong nuôi tôm sú là dịch bệnh Dịch bệnh là nguyên nhân gây tổn thất to lớn nhất cho ngành nuôi trồng thủy sản, vì thế việc nghiên cứu nhằm giảm nhẹ nguy cơ mắc bệnh cho tôm sú là một việc làm hết sức cấp thiết Trên cơ sở đó, hàng loạt các chế phẩm sinh học đã lần lượt ra đời, nhưng chỉ có một số ít là có hiệu quả Thị trường chế phẩm sinh học rất đa dạng và phong phú cũng gây không ít khó khăn cho người nông dân trong việc lựa chọn để sử dụng cho vuông tôm của mình, nhiều người đã mua phải những chế phẩm kém chất lượng, chẳng những không có hiệu quả mà ngược lại còn gây tổn thất cho con tôm

- Để có một chế phẩm sinh học chất lượng tốt đến được tay người nuôi tôm thì việc đầu tiên là phải khảo sát và thử ngiệm nó ở những mô hình khác nhau Chỉ khi nào chế phẩm có hiệu quả tốt ở những mô hình thử nghiệm thì mới có thể hi vọng là được sử dụng rộng rãi, nhằm giúp người nông dân cải thiện dần cuộc sống nhờ con tôm sú Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm “AH” lên sự tăng trọng và sức đề kháng bệnh ở tôm sú thịt

Penaeus monodon”

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 7 năm 2004

TRƯƠNG VĂN AN

Trang 6

TỔNG QUAN

I TÌNH HÌNH NUÔI TÔM SÚ VÀ VẤN ĐỀ DỊCH BỆNH Ở NƯỚC TA

- Bờ biển Việt Nam trải dài 3.200km suốt từ Bắc vào Nam là tiềm năng lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản Năm 2002, Việt Nam đứng thứ hai khu vực Châu Á về sản lượng tôm nuôi Năm 2003, Việt Nam đã có sản lượng tôm nuôi là 205.000 tấn (trong đó sản lượng tôm sú đạt hơn 170.000 tấn) đứng thứ ba Thế giới sau Trung Quốc (370.000 tấn) và Thái Lan (280.000 tấn) [15]

Hình 1: Biểu đồ sản lượng tôm nuôi của các nước

- Ở nước ta, các tỉnh miền Nam là khu vực có diện tích nuôi tôm sú và sản lượng lớn nhất, kế đó là miền Trung và thấp nhất là miền Bắc

I.1 Tình hình nuôi tôm sú và vấn đề dịch bệnh ở Miền Bắc

- Miền Bắc nước ta có những điều kiện khí hậu khắc nghiệt đối với tôm sú: mùa đông lạnh, làm cho nhiệt độ của nước thấp hơn 200C, nằm ngoài khoảng thích nghi của tôm sú (22-350C) và nhiệt độ giữa các mùa có sự biến động khá lớn

Trang 7

Bắc như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh [14]

- Năm 2004, Thái Bình có tổng diện tích nuôi tăng lên 1.200ha, ước đạt sản lượng trên 1.200 tấn

- Ngành nuôi tôm sú ở các tỉnh Miền Bắc luôn bị dịch bệnh đe dọa Theo các số liệu của Trung tâm Môi trường và Dịch bệnh (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I):

+ Thanh Hóa có hơn 40% diện tích nuôi tôm bị dịch bệnh, thường là bệnh virus đốm trắng, tập trung ở các vùng nuôi tôm công nghiệp (khu công nghiệp Hoằng Phụ với 70/110 ha nuôi tôm bị nhiễm bệnh)

+ Nghệ An có 9,1-47,8% diện tích nuôi tôm bị bệnh virus đốm trắng, 25,6-30,4% bị bệnh MBV và 25-54,5% bị bệnh đầu vàng

+ Ở Hà Tĩnh, trong số 150ha nuôi tôm bị bệnh có 67ha bị bệnh virus đốm trắng, trong đó 27ha có tôm nuôi bị chết [14]

I.2 Tình hình nuôi tôm sú và vấn đề dịch bệnh ở Miền Trung

- Miền Trung có mực nước ven bờ sâu, nền đáy cát và có ít sông lớn, nước biển trong và ít bị ô nhiễm, các chỉ tiêu thủy, lý, hóa thuận lợi cho sản xuất giống tôm sú nuôi

- Các tỉnh phát triển nghề nuôi tôm sú là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận

- Tại các tỉnh miền Trung, theo Phòng Bệnh học Thủy sản (Trung tâm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III), địa phương có tỷ lệ diện tích nuôi tôm bị bệnh thấp nhất là Khánh Hòa (14,3%), cao nhất là Ninh Thuận (52,4%) Tỷ lệ nhiễm bệnh virus đốm trắng ở tôm nuôi tại khu vực này tuy có giảm nhưng bệnh phân trắng, teo gan lại xảy ra ở hầu hết các vùng nuôi trọng điểm như Ninh Hải, Phan Rang, Ninh Phước, có những nơi lên tới 90-95% tôm bị nhiễm bệnh, đặc biệt là ở những vùng nuôi trên cát [14]

- Hiện tại, toàn tỉnh Quảng Trị có trên 30ha ở các vùng nuôi tôm sú trọng điểm như Triệu Phong, Gio Linh, Vĩnh Linh đã bị bệnh đốm trắng chết hàng loạt, nguyên nhân là do mầm bệnh có trong nguồn tôm giống và những tác động của thời tiết, khí hậu [4]

- Riêng Thừa Thiên Huế:

Trang 8

+ Đến ngày 21/04/2004 toàn tỉnh đã có hơn 800ha/tổng diện tích đã thả nuôi (3.281,6ha) bị dịch bệnh Đặc biệt, huyện Phong Điền có gần 10ha nuôi tôm công nghiệp trên cát cũng bị nhiễm bệnh [14]

+ Đến ngày 29/05/2004, Thừa Thiên Huế có gần 1.200ha diện tích ao nuôi tôm bị dịch đốm trắng, cụ thể như xã Vĩnh Hưng (huyện Phú Lộc) có khoảng 490/500ha tôm nuôi bị bệnh đốm trắng; xã Vinh Giang có 208/215ha tôm nuôi bị chết và xã Vinh Hiền có 40/58ha diện tích ao nuôi bị thiệt hại [3]

- Nằm ở ven biển duyên hải Nam Trung bộ, Bình Định có đủ điều kiện tự nhiên để phát triển nghề nuôi tôm sú Nếu năm 1998 diện tích nuôi tôm của toàn tỉnh chỉ có 2.346ha, năng suất bình quân 440 kg/ha thì năm 2001 tăng lên 2.513ha, năng suất 1.000 kg/ha (tăng gấp đôi), đặc biệt diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh cũng tăng gấp 4 lần [23]

- Đến tháng 5/2004, toàn tỉnh Bình Định có gần 500ha tôm nuôi bị nhiễm bệnh, chủ yếu là dịch thân đỏ đốm trắng, chiếm 29.2% diện tích mặt nước đã thả tôm giống trong toàn tỉnh Trong đó, thành phố Qui Nhơn có diện tích nuôi tôm bị dịch bệnh chiếm nhiều nhất với 212,9ha [5]

- Theo Sở thủy sản Phú Yên (5/2004), toàn tỉnh có đến 17.000ha, chiếm hơn 50% diện tích các đìa nuôi tôm sú tại các cánh đồng tôm trọng điểm thuộc các huyện Sông Cầu, Tuy Hòa và Tuy An, bị bỏ hoang Cho đến nay, toàn tỉnh đã có hơn 1/3 diện tích nuôi tôm sú đã thả nuôi được 30-60 ngày tuổi bị dịch bệnh đốm trắng, phân trắng… gây tổn thất cho người dân hơn 10 tỷ đồng, và đây là năm mà người nuôi tôm sú ở Phú Yên bị thiệt hại nặng nề nhất từ trước tới nay [6]

I.3 Tình hình nuôi tôm sú và vấn đề dịch bệnh ở Miền Nam

- Miền Nam có điều kiện thời tiết khí hậu và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi tôm sú, với các tỉnh nuôi tôm sú như Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Thành Phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang

- Chỉ trong những tháng đầu năm 2004, tại huyện Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra hai đợt dịch lớn: dịch phân trắng lây lan làm tôm sú chết hàng loạt (con tôm đột nhiên xuất hiện hiện tượng mềm thân và có phân trắng) và dịch bệnh đốm trắng làm hơn 620ha tôm sú bị nhiễm (tôm bị đỏ thân, trên lớp vỏ có những đốm trắng nhỏ) [14]

- Theo số liệu của Phòng Kinh tế huyện Cần Giờ, trong số hơn 1000ha nuôi tôm hiện nay đã có gần 570ha tôm bị dịch bệnh Tuy nhiên, nhiều người nuôi tôm tại Cần Giờ cho rằng con số thực tế có thể còn cao hơn nhiều [26]

Trang 9

- Từ năm 2001-2003, tại Bạc Liêu mỗi năm số tôm sú nuôi bị chết trên diện tích từ 35.000-42.000ha, chiếm gần phân nửa diện tích nuôi [26]

- Từ đầu năm đến nay (5/2004), sản lượng tôm sú nuôi của tỉnh Cà Mau đạt 25.500 tấn, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước, bằng 32,7% kế hoạch năm [1]

- Nhằm phát triển các đối tượng nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, UBND tỉnh Bến Tre vừa ban hành quyết định phê duyệt qui hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản ở huyện Ba Tri đến năm 2010 sẽ có tổng diện tích 8.224ha (trong đó 2.000ha nuôi tôm sú công nghiệp) với sản lượng thủy sản thu được 35.780 tấn (sản lượng tôm sú là 9.813 tấn) [1]

- Năm 2004, tỉnh Trà Vinh đã nâng cấp, mở rộng và phát triển với diện tích nuôi tôm sú lên hơn 18.000ha Trong đó, diện tích nuôi tôm sú công nghiệp được thả nuôi hơn 1.200ha, tăng hơn 1,8 lần so với năm trước [1]

- Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, tại các tỉnh Nam bộ (khu vực nuôi tôm lớn nhất của cả nước) tỷ lệ nhiễm bệnh virus đốm trắng trên mẫu tôm có biểu hiện bệnh được thu ở đầm nuôi quảng canh cải tiến là 56%, còn bệnh MBV là 50%

II MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM SÚ

II.1 Phân loại

Động vật không xương sống Invertebrata

Giống Tôm he Penaeus

- Tôm sú Penaeus monodon còn có tên thường gọi là tôm sú sắt, tôm cỏ, tôm

giang, tôm he… và tên thương mại là Black Tiger Prawn, Giant Tiger Prawn, Jumpo Tiger Prawn, Black Tiger Shrimp, Grass Shrimp… [16]

II.2 Chu kì đời sống và các giai đoạn phát triển của tôm sú

- Chu kì đời sống của tôm sú có thể chia thành 5 giai đoạn: trứng, ấu trùng, ấu niên, thiếu niên và trưởng thành Tôm sú trưởng thành mang trứng (khoảng 1 năm tuổi) thường di chuyển ra khơi xa và đẻ trứng ở đó Mỗi con cái tùy theo kích

Trang 10

cỡ khác nhau mà có thể đẻ từ 300.000-1.200.000 trứng và sau 12-14 giờ, trứng nở thành ấu trùng Ấu trùng sống trôi nổi trong nước và được thủy triều đưa vào ven bờ

- Ấu trùng qua nhiều lần lột xác với các giai đoạn như: Nauplius, Zoae, Mysis mất 12-14 ngày để trở thành hậu ấu trùng hay còn gọi là tôm bột (Post larvae) Tôm bột sống bám vào vật bám ở ven bờ có độ mặn thấp, thường là ở cửa sông Vào thời kì ấu niên, tôm sú bắt đầu chuyển sang sống ở đáy và đến giai đoạn thiếu niên tôm tìm đường di chuyển ra bãi đẻ ở vùng biển khơi

Hình 2: Chu kì đời sống của tôm sú [16]

II.3 Tập tính lột xác của tôm sú

- Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên một mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên

- Sự lột xác thường xảy ra vào ban đêm Sự lột xác thường đi đôi với việc tăng thể trọng, nhưng cũng có trường hợp lột xác nhưng không tăng thể trọng

- Khi quan sát tôm nuôi trong bể, hiện tượng lột xác xảy ra như sau:

+ Lớp biểu bì giữa khớp đầu ngực và phần bụng nứt ra

+ Các phần phụ của đầu ngực rút ra trước, theo sau là phần bụng và các phần phụ phía sau, rút ra khỏi lớp vỏ cứng với động tác uốn cong mình toàn cơ thể

+ Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại sau 1-2 giờ đối với tôm nhỏ và 1-2 ngày

Trang 11

- Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất nhạy cảm với môi trường sống thay đổi đột ngột Trong quá trình nuôi tôm , thông qua hiện tượng này, có thể điều chỉnh môi trường nuôi kịp thời [25]

- Hormone hạn chế sự lột xác (MIH_molt-inhibiting hormone) được tiết ra

do các tế bào trong cơ quan của cuống mắt, truyền theo sợi trục tuyến xoang, chúng tích luỹ lại và chuyển vào trong máu, nhằm kiểm soát chặt chẽ sự lột xác Các yếu tố bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn đều có ảnh hưởng tới tôm đang lột xác

- Chanratchakool (1994) cho biết tần số lột xác đối với tôm sú có khối lượng 2-5g là 7-8 ngày/lần, tôm có khối lượng 23-40g là 14-16 ngày/lần Tác giả còn cho biết tôm đực và tôm cái có tần số lột xác khác nhau, tôm cái có khối lượng 50-70g là 18-21 ngày/lần, trong khi tôm đực có cùng khối lượng là 23-30 ngày/lần [18]

Hình 3: Cơ chế điều hòa lột xác ở tôm sú

MOIH: Mandibular Organ Inhibiting Hormone Ecd: Ecdysone

Cơ quan ngàm

Hormon ức chế cơ

Trang 12

II.4 Đặc điểm dinh dưỡng

- Tôm nuôi thích ăn thức ăn là tôm, cá, mực tươi băm nhỏ hơn thức ăn tổng hợp Nhưng khi đói, tôm ăn tất cả những gì có thể bắt được như rong, rêu, mùn bã hữu cơ… Đặc biệt chúng rất thích ăn thịt những con tôm mới lột vỏ, con khoẻ mạnh tấn công và ăn thịt những con yếu

- Tôm sú hoạt động bắt mồi mạnh ở giai đoạn tôm giống Cường độ bắt mồi ban đêm lớn hơn ban ngày Tôm sú bố mẹ nuôi trong bể nuôi có hoạt động bắt mồi chậm chạp khi buồng trứng đang phát tiển

- Đôi khi, tôm đói vẫn nằm yên nhưng nếu dùng que gạt từng viên thức ăn vào gần miệng, tôm đưa chân bò ra gắp và ăn ngay Số lượng và chủng loại thức ăn cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tuyến sinh dục của tôm sú [9]

II.5 Cơ chế kháng bệnh của tôm

- Cơ chế kháng bệnh của tôm bị hạn chế so với động vật có xương sống do sự khác biệt về tiến hóa biểu hiện ở chỗ không có và không tạo ra được kháng thể đáp ứng lại kháng nguyên lạ xâm nhập

- Tôm có hệ tuần hoàn mở và không có sự phân tách giữa hệ tuần hoàn và hệ bạch huyết Chất lỏng bên trong hệ tuần hoàn được gọi là haemolymph (huyết tương), còn các tế bào bên trong haemolymph được gọi là haemocytes (huyết bào)

- Trong các tài liệu, đã có nhiều ý kiến về việc phân loại những tế bào haemocyte của tôm he Martine và Graves (1985) đã tìm thấy 3 dạng tế bào haemocyte khác nhau của tôm he:

+ Haemocyte không hạt là những haemocyte nhỏ nhất (12,4x7,8µm),

hình trứng, không hạt, chỉ chiếm khoảng 5-10% những haemocyte tuần hoàn, và không khúc xạ khi quan sát bằng kính hiển vi quang học

+ Haemocyte hạt nhỏ là dạng phổ biến của haemocyte (chiếm 75%

toàn bộ các haemocyte) Chúng có hình trứng, dài và rộng hơn không đáng kể so với haemocyte không hạt (14,8x8,3µm), không khúc xạ, và chứa một lượng hạt có thể thay đổi (từ 1 đến 40 hạt)

+ Haemocyte hạt lớn chiếm 10-20% tổng số haemocyte Chúng có hình

trứng đến hình cầu và có kích thước tương đương với kích thước của haemocyte hạt nhỏ (13,6x9,5µm) Chúng được làm đầy với những hạt có khả năng khúc xạ cao khi quan sát bằng kính hiển vi quang học [19]

Trang 13

- Theo Van de Braak:

+ Có 2 dòng tế bào khác nhau gọi là haemocyte hạt lớn và haemocyte hạt nhỏ Những tế bào hyaline (tế bào thủy tinh) là những tế bào non và chưa trưởng thành của cả 2 dòng tế bào trên

+ Những tế bào hạt của dòng tế bào hạt lớn trưởng thành và tích trữ trong mô liên kết và dễ dàng được phóng thích vào huyết tương Nó không xuất hiện ở những nơi có dòng tế bào hạt nhỏ trưởng thành

+ Năm dạng tế bào khác nhau được tìm thấy như tế bào hyaline (tế bào thủy tinh), small-granular semigranulocyte (tế bào bán hạt nhỏ), large-granular semigranulocyte (tế bào bán hạt lớn), small-granular granulocyte (tế bào hạt nhỏ), large-granular granulocyte (tế bào hạt lớn) [19]

Hình 4: Hệ tuần hoàn của tôm sú

- Sự thực bào là một cơ chế bảo vệ tế bào quan trọng hàng đầu của loài giáp xác Những huyết bào semigranular (tế bào bán hạt) là những tế bào liên quan đến sự thực bào của tôm (Soderhall and Cerenius, 1992; Bachère et al., 1995)

- Những tế bào hyaline (tế bào thủy tinh) cũng được nhận biết như là những bạch huyết cầu (Soderhall and Cerenius, 1992)

- Những tế bào hạt đã được chứng minh là có vai trò quan trọng trong hệ thống bảo vệ của tôm do hoạt động kháng khuẩn của chúng (Chisholm and Smith, 1995) [19]

Bảng 1: Tóm tắt một số đặc điểm sinh học của huyết bào tôm [19]

Trang 14

Hoạt động Tế bào thủy tinh Tế bào bán hạt Tế bào hạt

Hoạt động

Sự thực bào

Đáp ứng với

Đáp ứng với

- Haemocytes chính là các tế bào bảo vệ nguyên thuỷ của tôm, có khả năng thực bào các tác nhân lạ; các phân tử lectin có hoạt tính miễn dịch Lectin là các phân tử glycoprotein có khả năng gắn với tiểu phần đường của các phân tử khác, đặc biệt ở các tác nhân lạ

- Vi khuẩn, virus hay độc tố cũng có thể có lectin bề mặt Các phân tử lectin này một mặt có thể giúp nối kết tác nhân lạ với huyết bào tôm, hoạt hóa chúng, làm tăng hoạt động thực bào và hoạt tính kháng khuẩn; mặt khác vi khuẩn hay virus cũng có thể sử dụng lectin để sáp nhập vào tế bào tôm ở vị trí các thụ thể (receptor), khởi đầu cho quá trình nhiễm

- Tóm lại tôm cũng có sự đáp ứng tế bào và thể dịch đối với tác nhân virus nhưng không có tế bào tạo ra kháng thể và không có sự bảo vệ đặc hiệu chống lại tác nhân gây bệnh Vì vậy, sự nhiễm virus tồn tại dai dẳng trong đời sống của tôm và con tôm có khả năng kém trong việc chống trọi với bệnh truyền nhiễm do virus [8]

III MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở TÔM SÚ

III.1 Bệnh do virus

Trang 15

- Hiện nay, các bệnh ở tôm sú do virus gây ra chủ yếu là: hội chứng đốm trắng (WSSV-White Spot Syndrom Virus), hội chứng đầu vàng (YHV-Yellow Head Virus), bệnh virus Monodon Baculovirus (MBV)

- Các mầm bệnh (virus) có thể ẩn trong các giai đoạn sống của vật chủ (tôm nuôi) nhưng có thể gây phát bệnh và làm chết tôm nuôi khi điều kiện môi trường quá xấu hoặc thay đổi đột ngột gây sốc cho tôm nuôi, ảnh hưởng đến sức đề kháng của tôm, tạo cơ hội cho virus xâm nhập và lây lan rất nhanh, gây chết hàng loạt

Bảng 2: Một số bệnh thường gặp ở tôm sú do virus gây ra [16]

Bệnh Nguyên nhân Giai đoạn

- Post larvae 15-40 gram - Có đốm trắng 2-3mm trên vỏ

kitin, toàn thân hơi đỏ

- Tôm bị bệnh trong vòng 7 ngày

YHV

Yellow

Head Virus

- Do virus gây bệnh đầu vàng

- Sau khi thả giống 20 ngày

-Mang và gan tụy có màu vàng nhạt Khi gần chết có màu xám xanh

-Tôm chết trong vòng 3-

5 ngày sau khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên

-Từ ấu trùng đến trưởng thành

- Tôm lừ đừ, ăn

ít, toàn thân có màu xanh xám đến xanh đen

-Trong vòng 2 tuần sau khi xuất hiện dấu hiệu bệnh

III.2 Bệnh do vi khuẩn

- Vi khuẩn là một trong những tác nhân gây bệnh chủ yếu cho vật nuôi thủy sản Theo thống kê của C Sindermann và D Lightner (1988) cho thấy bệnh tôm do

vi khuẩn gây ra chiếm tới 45,3% tổng số các loại bệnh ở tôm sú nuôi, trong khi bệnh do virus chiếm 25,3% , bệnh do nấm chiếm 2,7% và bệnh do ký sinh trùng chiếm 26,7% [7]

Trang 16

Hình 5: Tỷ lệ nhiễm bệnh do các tác nhân gây ra trên tôm sú

- Theo các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy: có thể có tám giống vi khuẩn có liên quan đến bệnh tôm, nhưng trong đó có hai giống gây tác hại lớn đến tôm , đó là giống vi khuẩn dạng sợi (Leucothrix) và giống vi khuẩn Vibrio [22]

- Vi khuẩn dạng sợi thường gây ra sự cảm nhiễm ở các cơ quan bên ngoài (phần phụ, mang và vỏ) Ngược lại, Vibrio có khả năng cảm nhiễm cả bên trong lẫn bên ngoài [22]

- Sự cảm nhiễm bên ngoài của Vibrio thể hiện ở một số dấu hiệu của bệnh mòn vỏ, sự xuất hiện một số điểm trắng và điểm đen trên vỏ, một số thương tổn và hoại tử của phần phụ và đuôi tôm Sự cảm nhiễm bên trong thường gặp ở một số trường hợp bệnh cấp tính, khi đó có thể phân lập được vi khuẩn Vibrio từ máu, cơ, gan và ruột của tôm [20, 21]

III.2.1 Đại cương về vi khuẩn Vibrio

- Vibrio là vi sinh vật Gram âm, hình que, hai đầu không đều nhau nên có dạng hình dấu phẩy, di động, sống kị khí tùy nghi

- Tất cả các loài trong giống Vibrio đều cần muối để phát triển (trừ Vibrio cholerae) Vì đây là các vi khuẩn ưa mặn nên chúng thường xuyên được phân lập

từ các vùng nước ven biển hoặc trong các loài động vật sống ở biển [13]

Ký sinh trùng

Virus

Vi khuẩn Nấm

45,30%

25,30%

2,70%

26,70%

Trang 17

III.2.2 Một số bệnh liên quan đến nhóm vi khuẩn Vibrio

- Các loài vi khuẩn thuộc nhóm Vibrio gây bệnh trên thủy sản nuôi nước

mặn và nước lợ: V.alginolyticus, V.parahaemolyticus, V.anguillarum, V.haveyi, V.damsela, V.vulnificus, V.penaeicida

Bảng 3: Một số bệnh tôm liên quan đến nhóm Vibrio [16]

Bệnh Nguyên nhân Giai đoạn

- Ấu trùng di chuyển hoặc chết đáy mang ánh sáng xanh Phần lớn ấu trùng bơi bình thường, một số bơi không định hướng Khi sắp chết, ấu trùng chìm dần xuống đáy và phát sáng toàn thân (Lavilla-Pitogo, 1990)

- Có thể xảy ra

ở bất kì giai đoạn nào trong chu kì đời sống của tôm sú

- Ăn kém, phản ứng yếu với những kích thích và bơi mất thăng bằng Một số tôm mang những đốm đen lõm sâu xuống vỏ

kì đời sống của tôm sú

- Mang tôm có thể có màu nâu, xanh hoặc vàng Các vi sinh vật bám đầy ở chân bơi Khi bị nhiễm nặng, tôm giảm hoạt động, ăn ít, lột xác kém, hô hấp bị cản trở

- Tôm mang những đốm đen lõm sâu xuống vỏ, chân bò, chân bơi bị ăn mòn Tốc độ sinh trưởng kém

Trang 18

Bệnh đốm trắng

Bệnh đốm đen

Bệnh đen mang

Bệnh đứt mòn phụ bộ

Hình 6: Một số bệnh ở tôm sú

IV THỨC ĂN VÀ VAI TRÒ CỦA THỨC ĂN TRONG QUẢN LÝ SỨC KHỎE

TÔM

IV.1.Thức ăn và tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp dạng viên cho tôm sú

IV.1.1 Thức ăn tổng hợp nhân tạo

- Các loại thức ăn tươi sống khi cho tôm ăn thường bị phân giải một cách

nhanh chóng, các chất dinh dưỡng trong thức ăn tan vào trong môi trường nuôi Nếu

lượng thức ăn quá nhiều mà tôm không sử dụng hết sẽ sản sinh ra một lượng chất

hữu cơ thối rữa, làm cho môi trường bị nhiễm bẩn, tôm dễ mắc bệnh, làm ảnh

Trang 19

- Để giải quyết vấn đề trên, xu hướng hiện nay là tăng cường sử dụng thức ăn tổng hợp có giá trị dinh dưỡng cao cho tôm, khi chế biến thường lấy bột cá, bột tôm làm nguồn protein chính, kết hợp với các phế phụ phẩm của công nghiệp chế biến thực phẩm như bột mì, bột ngô, cám gạo và khô dầu các loại… giảm dần việc sử dụng các loại thịt cá tươi không qua chế biến

- Các nguyên liệu dùng để tổng hợp thức ăn nhân tạo phải đảm bảo các giá trị dinh dưỡng, không có nấm mốc, không có độc tố ảnh hưởng đến sức khỏe tôm, có cỡ hạt đủ độ mịn để tôm tiêu hóa tốt

- Một điều quan trọng là thức ăn phải được kiểm nghiệm trước khi xuất xưởng để đảm bảo chất lượng thức ăn, nhằm tránh gây thiệt hại cho người nuôi tôm

- Thông thường nếu sử dụng thức ăn nhân tạo kết hợp với thức ăn tươi sống là các loại hải sản thì kết quả thu được rất khả quan (tỷ lệ thức ăn tươi sống trong khẩu phần từ 10-25% là thích hợp)

- Hiệu quả sử dụng thức ăn tổng hợp không chỉ phụ thuộc vào hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thức ăn mà còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng của tôm đối với các loại thức ăn đó

- Khả năng sử dụng thức ăn của tôm liên quan nhiều tới tính chất vật lý và kích thước của thức ăn Ngoài ra, đối với thức ăn tổng hợp cần phải chú ý tới mùi vị và khả năng trương nước của viên thức ăn Thức ăn có mùi vị hấp dẫn và khả năng trương nước cao sẽ tạo điều kiện cho tôm bắt mồi tốt hơn [10]

IV.1.2 Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp dạng viên cho tôm sú

(Tiêu chuẩn ngành 28 TCN 102:2004)

- Đối tượng và phạm vi áp dụng:

+ Tiêu chuẩn này qui định các yêu cầu về chất lượng và an toàn vệ sinh thú y của thức ăn hỗn hợp dạng viên (gọi tắt là thức ăn viên); được phối chế từ nhiều loại nguyên liệu đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng, sử dụng để ương giống và nuôi tôm sú thương phẩm

+ Tiêu chuẩn được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với cơ sở sản xuất và kinh doanh thức ăn viên cho tôm sú [24]

- Phân loại: Thức ăn viên cho tôm sú gồm 6 loại sử dụng cho các giai đoạn

phát triển của tôm

Bảng 4: Các loại thức ăn viên cho từng giai đoạn của tôm sú [24]

Số Dạng thức ăn Trọng lượng tôm

Trang 20

1 Mảnh Post larva 15 (0,01-0,20 gram/ con)

3 Mảnh hoặc viên 1,00-5,00 gram/ con

- Các chỉ tiêu:

+ Các chỉ tiêu cảm quan của thức ăn viên phải theo đúng yêu cầu quy định trong bảng 5

Bảng 5: Một số chỉ tiêu cảm quan của thức ăn viên [24]

TT Chỉ tiêu Yêu cầu

1 Hình dạng bên ngoài - Viên hình trụ hoặc mảnh đều nhau

- Bề mặt mịn

- Kích cỡ theo đúng số liệu của từng loại thức ăn quy định trong bảng 6

2 Màu sắc - Đặc trưng của nguyên liệu phối chế

- Thông thường là nâu vàng đến nâu

3 Mùi vị - Đặc trưng của nguyên liệu phối chế

- Không có mùi men mốc và mùi lạ khác

+ Các chỉ tiêu lý, hóa của thức ăn viên phải theo đúng mức được quy định trong bảng 6

Bảng 6: Các chỉ tiêu lý, hóa của thức ăn viên [24]

- Đường kính viên (hoặc mảnh)

tính bằng mm, không lớn hơn

- Chiều dài so với đường kính

1,5-2,5

Trang 21

khối lượng, không lớn hơn

3 Độ bền, tính theo số giờ quan

4 Năng lượng thô, tính bằng kcal

cho 1 kg thức ăn, không nhỏ hơn 3400 3400 3200 3200 3000 3000

5 Độ ẩm, tính bằng tỷ lệ % khối

6 Hàm lượng protein thô, tính bằng

tỷ lệ % khối lượng, không nhỏ

hơn

42 40 39 38 37 35

7 Hàm lượng lipid thô, tính bằng tỷ

lệ % khối lượng, trong khoảng 6-8 6-8 5-7 5-7 4-6 4-6

8 Hàm lượng xơ thô, tính bằng tỷ

9 Hàm lượng tro, tính bằng tỷ lệ %

10 Các sạn (tro không hòa tan trong

HCl 10%), tính bằng tỷ lệ %

khối lượng, không lớn hơn

1 1 2 2 2 2

11 Hàm lượng Canxi, tính bằng tỷ

13 Hàm lượng NaCl, tính bằng tỷ lệ

14 Hàm lượng Lyzin, tính bằng tỷ lệ

15 Hàm lượng Methionin, tính bằng

tỷ lệ % khối lượng, không nhỏ

hơn

0,9 0,9 0,8 0,8 0,7 0,7

IV.2 Vai trò thức ăn trong quản lý sức khỏe tôm

- Thức ăn và quản lý thức ăn đóng một vai trò thiết yếu trong quản lý sức khỏe tôm:

+ Thức ăn phải không có các sinh vật mang bệnh

+ Trong quá trình cho ăn, thức ăn được sử dụng với lượng thích hợp, tránh lãng phí để các chất hữu cơ dư thừa tích tụ ở mức thấp nhất

+ Điểm quan trọng nhất trong quản lý sức khỏe cho tôm là việc cung cấp các chất dinh dưỡng và sản phẩm giúp tăng cường và kích thích khả năng tự vệ của tôm

Trang 22

- Chế phẩm sinh học đóng một vai trò hiệu quả trong việc tăng cường khả năng tự vệ Các chất bổ dưỡng được tìm thấy trong nuôi tôm gồm có: Vitamin C,

acid béo w-3, nucleotide, Vitamin E và selenium, phosphotidyl choline và

astaxanthin Hợp chất kích thích hệ miễn dịch của tôm phần lớn được chiết suất từ màng tế bào của những sinh vật đơn bào [6]

IV.2.1 Vai trò của các chất bổ dưỡng đối với sức khỏe tôm

- Phản ứng miễn nhiễm cần nhiều năng lượng cho tôm Đây là kết quả của sự phân chia dinh dưỡng và chuyển biến chất bổ dưỡng cho hệ miễn dịch Do vậy, nhu cầu các chất bổ dưỡng đối với một con tôm khỏe mạnh sẽ cao hơn

- Ngoài ra, một vài chất bổ dưỡng đặc biệt sử dụng để tăng cường hệ miễn

dịch cho tôm, bao gồm một vài Vitamin, chất khoáng, acid béo w-3, photpholipid,

carotenoid và nucleotide

- Theo Merchie (1998), lượng Vitamin C tăng từ 100 lên 3.400mg/kg trong khẩu phần sẽ làm giảm tức thời tỷ lệ chết đối với tôm sú Post-larva do bị sốc thấm lọc Ngoài ra, tác giả còn cho thấy nếu liều Vitamin C hay astaxanthin cao sẽ làm tăng sức đề kháng với sốc mặn

- Một nghiên cứu cho thấy bổ sung khẩu phần với astaxanthin (80g/kg) sẽ tăng khả năng sống của tôm sú trong một môi trường bị ô nhiễm amoniac cao

- Những tác dụng tốt của Vitamin C hay astaxanthin tới hệ miễn dịch của tôm liên quan tới tính chống oxi hóa Ngoài ra, Viatmin C còn giúp làm mau lành các vết thương

- Lavens và Sorgeloos (2000) ghi nhận rằng, khi cho tôm giống Post-larva ăn Artemia nauplii đã được làm giàu với acid béo chưa bão hòa sẽ làm tăng khả năng chống lại sốc mặn

- Coutteau (2000) cho thấy nếu đưa thêm phosphotidyl choline nồng độ 1,5% vào khẩu phần ăn sẽ làm tăng đáng kể sức đề kháng stress của tôm Phospholipid đóng vai trò quan trọng trong bảo toàn màng tế bào, một yếu tố quan trọng hàng đầu để phản ứng lại các kháng nguyên trong tất cả các sinh vật

- Vitamin E, selenium và nucleotides có thể có các tác động hữu ích tới hệ miễn dịch của tôm

+ Vitamin E sẽ lọc hết các gốc tự do hình thành trong giai đoạn đầu của quá trình tiền oxi hóa chất béo trong màng tế bào

+ Selenium là một thành phần của sự tiền oxi hóa glutathione, mà sẽ làm giảm quá trình tiền oxi hóa chất béo trong tế bào

Trang 23

trình oxi hóa, do vậy việc cung cấp bổ sung các Vitamin E và selenium trở nên rất quan trọng

- Sự tổng hợp nội sinh các nucleotide xảy ra bên trong tế bào và là một quá trình tiêu hao nhiều năng lượng Ngoài ra, các tế bào tham dự vào các phản ứng miễn nhiễm không tổng hợp được nucleotides Nucleotide từ các nguồn thức ăn thường được dùng vào thời kì phát triển nhanh chóng hay bị stress sinh lý Các chất có thành phần acid nhân, vi khuẩn, bột cá dễ hòa tan, bột thịt dễ hòa tan, chất chiết từ men… có hiệu quả kích thích tăng trưởng cho tôm [25]

IV.2.2 Sản phẩm kích thích khả năng kháng bệnh ở tôm

- Sản phẩm kích thích hệ miễn dịch là những hợp chất kích thích cơ chế miễn dịch không đặc hiệu của tôm Đối với tôm, yếu tố chính kích thích hệ miễn dịch là những dạng protein đã được tìm ra và liên kết với các phân tử đặc trưng trên các sinh vật xâm nhiễm

- Carbohydrate của các màng tế bào đặc biệt của vi khuẩn và nấm đã được xác định như là những phân tử đã được nhận diện qua các mẫu protein Các phân tử này được sử dụng rộng rãi như các chất kích thích hệ miễn dịch

- Có 3 sản phẩm đã được thử nghiệm trên con tôm như là những chất kích thích hệ miễn dịch, đó là lipopolysaccharide (LPS), glucan và peptidoglycan (PG) LPS và PG là những carbohydrate có trong màng tế bào vi khuẩn, trong khi glucan là một tập hợp các phân tử glucose polymeric được tìm thấy trong màng tế bào nấm:

+ Lipopolysaccharide: là thành phần màng tế bào của vi khuẩn Gram âm

và bao gồm lipid và carbohydrate Các tế bào Vibrio chết lơ lửng trong nước phần lớn ở dạng LPS Hơn 20 thí nghiệm với LPS cho thấy LPS giúp tăng sức đề kháng dịch bệnh cho tôm, tăng độ lớn, tăng sức đề kháng stress và tỷ lệ sống [25]

+ Glucan: được tìm thấy trong màng tế bào nấm Glucan đã được thử

nghiệm nhiều và glucan đã được áp dụng rộng rãi trong nuôi tôm như là chất kích

thích hệ miễn dịch Các thử nghiệm cho thấy glucan chiết suất từ Schizophyllum commune có hiệu quả cao hơn so với được chiết suất từ men bánh mì (Saccharomyces cerevisiae)

Một nghiên cứu ghi nhận glucan β-1,3/1,6 là phần tử được thấy trong hệ miễn nhiễm và được tách ra từ men Tuy nhiên, các loài giáp xác có khả năng ăn glucan, do vậy có thể giải thích trong một vài trường hợp glucan không đem lại hiệu quả như mong đợi

Ngày đăng: 22/04/2013, 16:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Biểu đồ sản lượng tôm nuôi của các nước. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Hình 1 Biểu đồ sản lượng tôm nuôi của các nước (Trang 6)
Hình 2: Chu kì đời sống của tôm sú. [16] - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Hình 2 Chu kì đời sống của tôm sú. [16] (Trang 10)
Hình 3: Cơ chế điều hòa lột xác ở tôm sú. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Hình 3 Cơ chế điều hòa lột xác ở tôm sú (Trang 11)
Hình 4: Hệ tuần hoàn của tôm sú. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Hình 4 Hệ tuần hoàn của tôm sú (Trang 13)
Hình 5: Tỷ lệ nhiễm bệnh do các tác nhân gây ra trên tôm sú . - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Hình 5 Tỷ lệ nhiễm bệnh do các tác nhân gây ra trên tôm sú (Trang 16)
Bảng 3: Một số bệnh tôm liên quan đến nhóm Vibrio. [16] - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Bảng 3 Một số bệnh tôm liên quan đến nhóm Vibrio. [16] (Trang 17)
Hình 6: Một số bệnh ở tôm sú. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Hình 6 Một số bệnh ở tôm sú (Trang 18)
Bảng 5: Một số chỉ tiêu cảm quan của thức ăn viên. [24] - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Bảng 5 Một số chỉ tiêu cảm quan của thức ăn viên. [24] (Trang 20)
Bảng 6: Các chỉ tiêu lý, hóa của thức ăn viên. [24] - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Bảng 6 Các chỉ tiêu lý, hóa của thức ăn viên. [24] (Trang 20)
1  Hình dạng bên ngoài - Viên hình trụ hoặc mảnh đều nhau. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
1 Hình dạng bên ngoài - Viên hình trụ hoặc mảnh đều nhau (Trang 20)
Hình 7: Chu kì chuyển hóa chất bã trong ao nuôi tôm. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Hình 7 Chu kì chuyển hóa chất bã trong ao nuôi tôm (Trang 25)
Hình 11: Qui trình tạo viên thức ăn chứa chế phẩm AH - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Hình 11 Qui trình tạo viên thức ăn chứa chế phẩm AH (Trang 28)
Hỡnh 12: Moõ hỡnh beồ kớnh nuoõi toõm. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
nh 12: Moõ hỡnh beồ kớnh nuoõi toõm (Trang 30)
Bảng 7: Sơ đồ thí nghiệm mô hình bể Composite. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
Bảng 7 Sơ đồ thí nghiệm mô hình bể Composite (Trang 30)
Hỡnh 13: Moõ hỡnh beồ Composite. - KHẢO SAT ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ BUẾN AH LÊN SẸ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG BÊNH ĐỐM TRẮNG Ở TÔM SÚ THỊT
nh 13: Moõ hỡnh beồ Composite (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w