THỬ NGHIỆM DÙNG HORMON ĐỰC Ở GIÁP XÁC THUỘC BỘ MƯỜI CHÂN DECAPODA ĐỂ ĐỰC HÓA HẬY ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA SINH HỌC
CHUNG QUANG TRÍ
THỬ NGHIỆM DÙNG HORMON ĐỰC Ở GIÁP XÁC THUỘC BỘ MƯỜI CHÂN DECAPODA ĐỂ ĐỰC HOÁ HẬU ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
Macrobrachium rosenbergii de Man
KHOÁ LUẬN CỬ NHÂN KHOA HỌC
NGÀNH: SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH: ĐỘNG VẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TƯỜNG ANH
Trang 2Lời Cảm Tạ
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Tường Anh, người đã cung cấp nhiều kiến thức quí báu cũng như tài liệu giúp em làm cơ sở khoa học, để em thực hiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn thầy Phan Kim Ngọc đã giúp đỡ em nhiều trong quá trình em thực hiện đề tài Thầy đã gợi
ý cho em nhiều khúc mắc trong quá trình em thực hiện đề tài
Em cũng xin chuyển lời cảm ơn đến anh An người đã cung cấp những tài liệu quan trọng cho đề tài, cũng như nguồn tôm để em tiến hành những thí nghiệm
Rất cảm ơn bạn Quân người đã cùng tôi thực hiện đề tài này cùng các bạn khoa sinh đã giúp đỡ tôi trong lúc thực hiện đề tài
Cuối cùng con xin cám ơn ba mẹ đã luôn động viên chia sẻ, và tạo điều kiện thuận lợi để con có thể hoàn thành chương trình học
Xin cảm ơn!
Trang 3Mục Lục
Trang phụ bìa i
Lời cảm tạ ii
Mục luc iii
Mở đầu 1
Chương I: tổng quan tài liệu 3
1.1 Phân loại và phân bố tôm càng xanh 4
1.2 Đặc điểm hình thái sinh học, và chu kỳ sống của tôm càng xanh 5
1.3 Đặc điểm sinh sản của tôm càng xanh 8
1.4 Phụ bộ đực 13
1.5 Tuyến đực 13
1.6 Hormon tuyến đực 15
1.7 Một số thí nghiệm liên quan đến tuyến đực 16
1.7.1 Hiệu ứng của việt cắt bỏ tuyến đực 16
1.7.2 Hiệu ứng của việc cấy tuyến đực cho tôm cái 18
1.8 Một số giải pháp công nghệ có triển vọng ứng dụng 19
1.8.1 Kỹ thuật chuyển giới tính 19
1.8.2 Tạo tôm cái giả ZZ bằng hormon 19
1.8.3 Kỹ thuật cắt tuyến androgenic tạo tôm cái giả ZZ 19
1.8.4 Kết quả nghiên cứu ở nước ta 20
1.13 Kỹ thuật dùng siêu âm đưa hơp chất vào trong động vật dưới nước 22
Chương II: PHƯƠNG PHÁP VÀ THÍ NGHIỆM
2.1 Địa điểm thí nghiệm 24
2.2 Vật liệu thí nghiệm 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Thu nhận hormon từ tuyến đực 26
2.3.2 Thử nghiệm trên tôm càng xanh 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3 Tỷ lệ đực cái 30
Chương IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - Kết luận 35
- Kiến nghị 35
Trang 4Danh Sách Bảng
Báng 1: Bảng phân biệt tôm càng xanh đực và cái 5
Bảng 2: Bảng phân biệt các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh 11
Bảng 3: Tính xác xuất ở bể 1 30
Bảng 4: Tính xác xuất ở bể 2 30
Bảng 5: Tính xác xuất ở bể 3 31
Bảng 6: Tính xác xuất ở bể A 31
Bảng 7: Tính xác xuất ở bể B 31
Bảng 8: Tính xác xuất ở bể C 32
Biểu đồ 1: so sánh tỷ lệ đực cái ở 3 bể nuôi (Lô thí nghiệm) 32
Biểu đồ 1: so sánh tỷ lệ đực cái ở 3 bể nuôi (Lô đối chứng) 33
Danh Sách Hình Hình 1: Ba kiểu hình ở tôm càng xanh đực 6
Hình 2: Hình thái bên ngoài tôm càng xanh 7
Hình 3: Vòng đời tôm càng xanh 8
Hình 4: Ảnh đặc điểm các giai đoạn của ấu trùng tôm càng xanh 12
Hình 5: Chân bơi thứ 2 ở con tôm càng xanh đực 13
Hình 6: Tuyến đực ở tôm càng xanh có hình kim tự tháp ở cuối ống dẫn tinh 14
Hình 7: Tuyến đực ở Cherax quadricarinatus trước khi cắt cuống mắt 15
Hình 8: Tuyến đực ở Cherax quadricarinatus sau khi cắt cuống mắt 15
Hình 9: Cấu trúc phân tử hormon tuyến đực 16
Hình 10: Buồng trứng ở tôm càng xanh cái bình thường 17
Hình 11: Buồng trứng của tôm càng xanh đực bị cắt tuyến đực 18
Hình 12: Tôm càng xanh dùng trong thí nghiệm 24
Hình 13: Cua đồng dùng trong thí nghiệm 25
Trang 5MỞ ĐẦU
Tôm càng xanh có thịt ngon, giá trị xuất khẩu cao, có kích thước lớn nhất trong 100 loài thuộc giống Macrobrachium (Nguyễn Việt Thắng, 1993) Con tôm càng xanh đóng vai trò rất quan trọng, đối với sự phát triển thuỷ sản ở khu vực nước ngọt Năm 2005, vùng ĐBSCL có diện tích nuôi tôm càng xanh trên 6.000ha, sản lượng ước đạt 1.400 tấn/năm.Theo ngành thuỷ sản, đến năm 2010, diện tích nuôi tôm càng xanh trong vùng sẽ lên đến 32.000ha, ước sản lượng sẽ đạt khoảng 60.000 tấn Chính vì vậy, ngày 8 tháng 12 năm 1999 Thủ tướng chính phủ có quyết định số 224/1999/QĐ phê duyệt chương trình phát triển nuôi thuỷ sản thời kỳ 1999 – 2010, phấn đấu đến năm 2010 tổng sản lượng nuôi thuỷ sản đạt trên 2.000.000 tấn, giá trị kim nghạch xuất khẩu đạt trên đạt trên 4,5 tỷ USD, trong
đó diện tích nuôi tôm càng xanh 32.000 ha, nhu cầu về giống 1,5 – 2 tỷ con và sản lượng đạt khoảng 60.000 tấn
Để đạt được mục đích này, giải pháp về giống là khâu đột phá quan trọng và vì thế kỹ thuật sản xuất giống phải càng hoàn thiện, bảo đảm cung cấp giống, không chỉ đạt về số lượng mà cả về chất lượng
Để chất lượng giống cũng như việc sản xuất tôm được phát triển người ta chú ý đến việc đánh giá chất lượng tôm giống, đặc điểm sinh học giữa tôm đực và tôm cái.Trong đặc điểm sinh học tôm càng xanh, người ta nhận thấy rằng tôm đực có tốc độ phát triển cao hơn nhiều so với tôm cái cùng lứa
Tôm đực có thể đạt trọng lượng 450g, trong khi tôm cái nhỏ hơn nhiều chỉ vào khoảng 60g Hiện nay ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long giá tôm nguyên liệu khoảng 80.000- 90.000 đồng /kg
Các nhà nghiên cứu Arập Xêut đã so sánh việc nuôi tôm càng xanh toàn đực, nuôi chung đực cái và nuôi
toàn cái (Siddiqui et al., 1997) Tôm được nuôi trong bể ximănga mật độ 5 con/m2 Sau 112 ngày nuôi, bể nuôi toàn đực cho năng suất 159g/m2, bể nuôi chung đực cái cho 132g /m2 và bể toàn cái cho năng suất 108g/m2 Tỷ lệ tôm thương phẩm (> 20g) ở bể nuôi toàn đực chiếm 99%, 90% bể chung đực cái, 75% ở bể toàn cái Ngoài ra ở bể nuôi toàn đực hệ số thức ăn là thấp nhất
Các vấn đề liên quan đến điều khiển giới tính ở tôm càng xanh luôn là đề tài được nhiều tác giả quan tâm, hiện nay đã
có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chưa mang lại kết quả khả quan hay chưa phù hợp với thực tế sản xuất, nếu thành công và đưa vào sản xuất đại trà được thì nó sẽ mang lại lợi ích kinh tế rất lớn giúp cải thiện đời sống của nhiều
hộ dân
Hiện nay việc sử dụng hormon để điều khiển sự sinh sản ở cá đã được thực hiện nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam, mang lại nhiều lợi ích kinh tế to lớn Nhằm tìm một cách khả thi để đực hoá tôm càng xanh
Chúng tôi thực hiện đề tài:
“Thử nghiệm dùng hormon đực ở giáp xác thuộc bộ mười chân Decapoda để đực hoá hậu ấu trùng
tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii de Man”
Trang 6Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.2 Phân loại và phân bố
Tôm càng xanh có tên khoa học là Macrobrachium rosenbergii được de Man đặt tên vào năm 1897, có vị trí
phân loại sau:
Bộ phụ chân bơi: Natantia
Phân bộ: Caridea
Họ: Palaemonidae
Họ phụ: Palaemoninae Giống: Macrobrachium Loài: Macrobrachium rosenbergii de Man (1879)
Tôm càng xanh phân bố rộng ở khu vực Nam Á, Trung và Nam Mỹ, Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương, Bắc châu Úc, Nam Trung Quốc, Đài Loan, từ vùng nhiệt đới đến cận nhiệt đới Trong tự nhiên, tôm càng xanh phân
bố ở các vùng nước ngọt lẫn nước lợ Chúng phân bố hầu hết các thuỷ vực như sông, hồ, kênh, rạch, ao…và vùng ở gần cửa sông Ở Việt Nam tôm càng xanh phân bố từ Khánh Hoà trở vào, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng Bằng Song Cửu Long, mặc dù hiện nay tôm càng xanh đã được di giống ở nhiều nơi ở Việt Nam, đặt biệt là ở các tỉnh phía Bắc (Nguyễn Thị Thanh Thuỷ Kỹ thuật sản xuất giống Tôm Càng Xanh Nhà xuất bản Nông Nghiệp)
1.2 Đặc điểm hình thái sinh học, và chu kỳ sống của tôm càng xanh
Ấu trùng tôm càng xanh có tập tính sống trôi nổi, bơi lội tích cực, đuôi hướng về phía trước, bụng ngữa lên trên Ấu trùng sống ở nước lợ từ 1 – 2 tháng, khi trưởng thành sống trong nước ngọt Tôm bột vừa mới biến thái có đặc điểm tương tự như tôm trưởng thành về cách di chuyển và bơi lội (New và Singhlka, 1985)
Báng 1: Phân biệt tôm càng xanh đực và cái:
Lỗ sinh dục Nằm ở gốc chân bò thứ 5 Tại gốc chân bò thứ 3
Phần phụ sinh dục (Appendage masculina) Ở chân bơi thứ 2 Không có
Tôm càng xanh trưởng thành có màu xanh ở thân, con đực có đôi càng to màu xanh đậm, con cái có đôi càng nhỏ hơn Tôm càng xanh trưởng thành không những dễ dàng phân biệt đực và cái qua đôi chân bò thứ hai (càng) mà
Trang 7còn qua cơ quan sinh dục như lỗ sinh dục đực nằm ở gốc đôi chân bò 5, lổ sinh dục cái nằm ở gốc đôi chân bò 3 (Nguyễn Việt Thắng, 1993)
Con đực trưởng thành, có thể có ba kiểu hình (morphotype) là kiểu đực nhỏ, kiểu có càng màu cam và kiểu
có càng màu xanh dương Tôm đực nhỏ có thể phát triển thành tôm đực có càng màu cam và tôm càng màu cam phát triển trội thành tôm có càng màu xanh dương
Mỗi một kiểu trong số ba kiểu hình nói trên có tập tính sinh sản và đặc điểm sinh dục thứ cấp nổi bật
Hình 1: Ba kiểu hình ở tôm càng xanh đực
Theo Ling (1962) con cái tiết ra chất kích thích con đực sau khi lột xác tiền giao vĩ Sự giao vĩ xảy ra giữa tôm đực có vỏ cứng và tôm cái thành thục vừa mới lột xác tiền giao vĩ (pre- moult) Quá trình đẻ trứng xảy ra vài giờ sau khi giao vĩ, trứng đi ngang túi tinh và xảy ra sự thụ tinh Các trứng thụ tinh được giữ ở bụng tôm mẹ và được giữ lại nhờ các tuyến tiết chất dính ở các phụ bộ chân bơi Nó được giữ ở đây cho đến khi nở Thời gian ấp trứng có thể thay đổi nhưng thường không quá 3 tuần Các trứng được cung cấp oxy nhờ sự hoạt động tích cực của chân bụng và được vệ sinh nhờ đôi chân ngực thứ nhất (New và Singlka, 1985) Con cái di cư ra cửa sông nơi có nồng độ muối từ 6 – 18%0 để trứng nở thành ấu trùng bơi lội phù du trong nước Giai đoạn ấu trùng thường kéo dài 4 – 6 tuần, tuỳ thuộc nhiệt độ nước, chất lượng nước và thức ăn (Aquacop, 1977) Hậu ấu trùng có tập tính bám, chuyển sang sống ở tầng đáy và bắt đầu di cư ngược dòng vào khu vực nước ngọt
Đốt bụng thứ 2 Chân ngực III - V
Chân bụng Râu Mắt
Hình 2: Hình thái bên ngoài tôm càng xanh
Trang 81.3 Đặc điểm sinh sản của tôm càng xanh
Giao vĩ
Con đực thành thục có thể trạng khoẻ mạnh (vỏ cứng) có thể giao vĩ, trong khi con cái chỉ tiến hành giao vĩ ngay sau khi lột xác (premounting – moult) (Nguyễn Việt Thắng, 1993)
Đẻ trứng
Sau khi giao vĩ từ 6 – 20 giờ, con cái bắt đầu đẻ trứng, ở những con cái thành thục nhưng không giao vĩ vẫn
đẻ trứng sau khoảng 24 giờ sau khi lột xác, tuy nhiên trứng không được thụ tinh sẽ thoái hoá sau 2 – 3 ngày (Nguyễn Việt Thắng, 1993) Trong điều kiện nuôi tốt, trứng vẫn phát triển trong buồn trứng, trong khi con cái vẫn mang trứng (O’Donovan et al., 1984)
Ấp trứng
Quá trình ấp trứng kéo dài 19 – 23 ngày ở nhiệt độ 25 – 310C (Ling, 1962) Trong thời gian ấp trứng, màu trứng sẽ chuyển dần từ vàng sang cam, rồi xám hay nâu đậm khi nở Sự ấp trứng liên quan trực tiếp đến nhiệt độ và tôm cái rất nhạy cảm với những biến động trong thời gian mang trứng Khi gặp trong những biến động trong lúc ấp trứng, hoạt động chân bụng thường giảm, làm trở ngại đến nở trứng và tỷ lệ sống của ấu trùng Đặc điểm của các giai đoạn phát triển trứng tôm càng xanh có thể chia thành bốn giai đoạn sau:
- Giai đoạn I: Trứng chưa chín Buồng trứng nhỏ, trong suốt, nằm ở vùng chót sau của khoang
giáp đầu ngực Trứng có hình cầu với nhân rõ ràng và nguyên sinh chất trong suốt Đường kính trứng đạt 0,0064 – 0,128 mm
- Giai đoạn II: Chớm chín Buồng trứng chiếm khoảng ¼- ½, chiều dài của khoang giáp đầu
ngực và có màu vàng Trứng hơi ngà do có noãn hoàng trong nguyên sinh chất Nhân không thấy rõ Đường kính trứng từ 0,191- 0,447 mm
- Giai đoạn III: Trứng chín Buồng trứng phát triển hơn và chiếm hơn ¾ chiều dài khoang giáp
đầu ngực, có màu vàng cam Trứng hơi đục, nhân không thấy được do hình thành noãn hoàng Đường kính trứng 0,3192 – 0,545 mm
Hình 3: Vòng đời tôm càng xanh (Arrignon, 1994)
Aáu truøng Stage II Postlarva
Gioáng
Trang 9- Giai đoạn IV: Chín muồi Buồng trứng chiếm toàn bộ chiều dài khoang giáp đầu ngực, màu
vàng sậm Trứng có hình cầu, đục do noãn hoàng tích tụ nhiều Đường kính trứng đạt 0,4468 - 0,7661 mm
Mùa vụ sinh sản
Tôm càng xanh sinh sản quanh năm ở hồ Balgoda (Sri Lanka) với 2 mùa vụ sinh sản cao điểm rộ nhất từ tháng 5 – 7 sau đó tháng 11 – 1 (Jinadasa, 1985) Theo Phan Hữu Đức (1988), tôm càng xanh sinh sản tập trung vào tháng 4 – 6 và tháng 8 – 10 Tôm cái đẻ 4 – 6 lần trên năm, mỗi lần cách nhau từ 19 – 45 ngày tùy điều kiện nhiệt độ
và dinh dưỡng (Nguyễn Việt Thắng, 1995)
Sức sinh sản
Sức sinh sản tuyệt đối của tôm càng xanh là số trứng trên khối lượng cơ thể con cái, số lượng trứng thường phụ thuộc vào kích thước tôm cái, tôm cái càng lớn số trứng càng nhiều (Nguyễn Việt Thắng, 1995) Sức sinh sản của tôm tự nhiên dao động 60.000 – 130.000 trứng / con cái (Patra, 1976)
Sự phát triển của ấu trùng
Ấu trùng trải qua 11 giai đoạn khác nhau, và giai đoạn sau rất khác giai đoạn trước khi biến thái (Uno và Soo, 1968) Mỗi giai đoạn có những đặc điểm khác nhau Ấu trùng giai đoạn I dài không quá 2mm, trong khi giai đoạn XI chúng đạt chiều dài 7mm
Bảng 2: Bảng phân biệt các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh (Uno và Soo, 1969)
Giai đoạn ấu trùng Đặc điểm lưu ý
Mầm chân bụng xuất hiện Chân bụng có hai nhánh và chưa có lông tơ Chân bụng có lông tơ
Nhánh trong của chân bụng có nhánh phụ trong Chủy có 3 - 4 răng ở đầu cạnh trên
Chủy có nhiều răng ở cạnh trên Chủy có răng ở cạnh trên và dưới
Trang 10Hình 4: Ảnh đặc điểm các giai đoạn của ấu trùng tôm càng xanh (Uno và Soo, 1969)
1.4 Phụ bộ đực
Phụ bộ đực là cơ quan giao cấu ở tôm càng xanh đực nó xuất hiện ở chân bơi thứ 2
Chồi của phụ bộ đực bắt đầu xuất hiện vào giai đoạn khoảng 70 ngày tuổi sau giai đoạn postlarve (trọng lượng 0,38 g, tổng chiều dài 3,7cm) đến giai đoạn 94 ngày tuổi thì phụ bộ đực phát triển đầy đủ
Tơ
Phụ bộ đực Nhánh chân
trong
Nhánh chân ngoài
Hình 5: Chân bơi thứ 2 ở con tôm càng xanh đực
Trang 111.5 Tuyến đực
Những tế bào thuộc tuyến đực được quan sát đầu tiên bởi Faxon (1884) trong tôm nước ngọt Cambarus montanus Tuyến hormon đã được xác định sau đó ở giáp xác Orchestia gammarellus vào 1953, và mô đó được gọi là
tuyến đực (Charniaux- Cotton, 1953) Những nghiên cứu sau này đã cho thấy rõ hơn về tuyến đực, nó là một lớp mô
mỏng gắn ở phần cuối ống dẫn tinh của tôm nước ngọt Procambarus blandingii, P viae – viridis, Camb.bartonni and Camb.diogenes (Puckett, 1964), có chiều dài vài milimet (Warnock, 1975) Những cấu trúc tương tự cũng đã được
quan sát ở cua (King, 1964; Thampy and John, 1970; Andiyodi, 1984;Joshi and Khanoh, 1987; Minagawa et al., 1994 ) tôm pan đan (Carlish, 1959; Hoffman ,1968,1969,…)
Theo Sagi ở giáp xác tinh sào là nơi tạo tinh trùng còn cơ quan tạo hormon là tuyến đực Nếu ở con đực động vật có xương sống, tuyến sinh dục (tinh sào) có hai chức năng căn bản là tạo tinh trùng và nội tiết như
testosterone thì ở tôm càng xanh (và có thể ở nhiều động vật giáp xác thuộc bộ mười chân Decapoda khác) hai chức
năng này thực hiện bởi hai cơ quan riêng rẽ Tinh sào ở tôm càng xanh chuyên tạo tinh, còn tuyến đực (androgenic gland) - một cơ quan biệt lập khác có chức năng tiết ra hormon, tham gia vào sự biệt hoá giới tính và phát triển những đặc điểm sinh dục thứ cấp, ảnh hưởng lên kích thước và sự tăng trưởng
Ở những tôm đực lớn người ta có thể thấy được tuyến đực tương đối rõ Đó là một khối tế bào có hình kim
tự tháp, dính với phần sau ống phóng tinh
Cũng như tuyến sinh dục và ống dẫn tinh, tuyến đực chịu sự ức chế của một tuyến nội tiết nằm ở cuống mắt tôm
Hình 6: Tuyến đực ở tôm càng xanh có hình kim tự tháp ở cuối ống dẫn tinh
Hình 7: Tuyến đực ở Cherax quadricarinatus trước khi cắt cuống mắt