Tổ chức phối hợp thực hiện đề tài, dự án:Nội dung tham gia chủ yếu Sản phẩm chủ yếu đạt được Ghi chú * 1 Viện Dầu khí Viện Dầu khí - Phân tích địa chấn thăm dò Địa tầng địa chấn, các sơ
Trang 1Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2010
BÁO CÁO THỐNG KÊ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I.THÔNG TIN CHUNG
1 Tên đề tài: Nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng biển nước sâu (trên 200m)
Nam Việt Nam làm cơ sở khoa học để tìm kiếm khoáng sản liên quan (Đến vĩ tuyến 160N và kinh độ 1130E)
- Mã số KC09.18/06-10
- Thuộc Chương trình: Khoa học và Công nghệ biển phục vụ phát triến
bền vững kinh thế-xã hội, Mã số KC09/06-10
2 Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thế Tiệp
- Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên cao cấp
- Chức vụ: Viện trưởng
- Điện thoại: 04.38363980 Fax: 04.37561647
- Đơn vị công tác: Viện Địa chất và Địa vật lý - Viện KH&CN VN
3 Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Địa chất và Địa vật lý biển - Viện Khoa học và
công nghệ Việt Nam
- Địa chỉ: 18 - Hoàng Quốc Việt - Nghĩa Đô - Cầu Giấy - Hà Nội
- Điện thoại: 04.38363980 Fax: 04 37561647
Trang 2II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
1 Thời gian thực hiện:
- Theo Hợp đồng ký kết từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 10 năm 2010
- Thực tế thực hiện: từ tháng 8/năm 2008 đến tháng 10/năm 2010
- Được gia hạn (nếu có): Không
- Lần 1 từ tháng… năm… đến tháng… năm….
2 Kinh phí và sử dụng kinh phí:
a) Tổng số kinh phí thực hiện: 6020 triệu đồng, trong đó:
+ Kính phí hỗ trợ từ NSKH: 6020 triệu đồng.
+ Kinh phí từ các nguồn khác: không triệu đồng.
+ Tỷ lệ và kinh phí thu hồi đối với dự án (nếu có): Không
Thời gian
(Tháng,
năm)
Kinh phí (Tr.đ)
Thời gian (Tháng, năm)
Kinh phí (Tr.đ)
Trang 3c) Kết quả sử dụng kinh phí theo các khoản chi:
Trang 44 Tổ chức phối hợp thực hiện đề tài, dự án:
Nội dung tham gia chủ yếu
Sản phẩm chủ yếu đạt được
Ghi chú
*
1 Viện Dầu khí Viện Dầu khí - Phân tích
địa chấn thăm dò
Địa tầng địa chấn, các sơ
đồ cấu trúc các tầng
2 Đại học Mỏ
Địa chất
Đại học Mỏ Địa chất
Nghiên cứu cấu trúc địa chất
Sơ đồ cấu trúc móng, mái trầm tích
Kết quả phân tích
độ hạt, hóa
4 Liên đoàn địa
chất biển
Tổng Hội Địa chất Việt Nam
Xây dựng bản đồ địa chất và khoáng sản
Bản đồ địa chất, sơ đồ
dự báo khoáng sản
Phân tích mẫu silicat và quặng
Kết quả phân tích silicat, quặng
Trang 56 Viện Địa chất
VKHCNVN
Hội Khoa học Kỹ thuật biển Việt nam
Thu thập phân tích và tổng hợp tài liệu đo sâu
Tài liệu độ sâu, địa hình, trầm tích tầng mặt
biên vẽ hải đồ và nghiên cứu biển -
Bộ TL Hải Quân
Khảo sát địa chất khu vực trọng điểm
Số liệu đo sâu
Địa chất Nam Bộ
Phân tích tuổi tuyệt đối C14
Tuổi tuyệt đối của trầm tích đáy biển
5 Cá nhân tham gia thực hiện đề tài, dự án:
(Người tham gia thực hiện đề tài thuộc tổ chức chủ trì và cơ quan phối hợp, không quá 10 người kể cả chủ nhiệm)
Nội dung tham gia chính
Sản phẩm chủ yếu đạt được
Gh i ch ú
1 TS Nguyễn
Thế Tiệp
TS Nguyễn Thế Tiệp
Thành lập bản đồ địa mạo
Bản đồ địa mạo
BC tổng hợp
Bách
Nghiên cứu kiến tạo
BC kiến tạo
Trang 63 TS Phùng
Văn Phách
TS Phùng Văn Phách
Xây dựng bản
đồ cấu trúc
Bản đồ cấu trúc
4 TS.Hoàng
Văn Quý
TS Nguyễn Ngọc Anh
Phân tích mẫu địa chất
Kết quả phân tích
5 TS Nguyễn
Văn Vượng
TS Trịnh Thế Hiếu
Thu thập mẫu
và phân tích
Kết quả phân tích mẫu
6 TS Phạm
Tích Xuân
TS Trần Tuấn Dũng
Xây dựng bản
đồ trọng lực
Bản đồ trọng lực
7 TSKH.
Nguyễn Biểu
TSKH Nguyễn Biểu
Bản đồ địa chất
- Sơ đồ dự báo khoáng sản
Bản đồ địa chất
- Sơ đồ dự báo khoáng sản
8 TS Nguyễn
Thế Hùng
TS Nguyễn Thế Hùng
Phân tích địa chấn 2D
Địa tầng địa chấn.
- các sơ đồ cấu trúc các tầng
9 KS Lê Đình
Nam
KS Lê Đình Nam
Xây dựng bản
đồ độ sâu
Bản đồ độ sâu
Khắc Lam
Phân tích mẫu silicat
Kết quả phân tích
Xây dựng bản
đồ từ khu vực
Bản đồ từ khu vực
Trang 7Phân tích địa chấn và sơ đồ phân bố dầu khí và băng cháy
Các sơ đồ cấu trúc, sơ đồ phân bố dầu khí và băng cháy
Bản đồ địa mạo
Yến
Tham gia nghiên cứu KTHT
Các báo cáo chuyên đề
6 Tình hình hợp tác quốc tế:
+) Viện Hải dương học Thái Bình dương thuộc Viện hàn lâm khoa học CHLB Nga - Tại Viễn Đông (POI-FEB RAS)
Trao đổi tài liệu về địa chất, địa vật lý, mẫu địa chất.
- Ứng dụng phương pháp từ trong tìm kiếm khoáng sản.
- Đào tạo cán bộ
- Đã thành lập được phòng thí nghiệm liên danh Việt- Nga về địa chất và địa vật lý biển
+)Viện Địa chất và khoáng sản Hàn Quốc (KIGAM ), TAIJON - KOREA
- Trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu thăm dò khoáng sản biển sâu.
Trang 87 Tình hình Hội thảo
- Hội thảo lần thứ nhất: tháng 10 năm 2008 tại TP Hạ Long
Nội dung về: Địa chất, kiến tạo, cấu trúc khu vực nghiên
cứu
- Hội thảo lần 2: tháng 9 năm 2010 tại Thanh Thủy - Phú Thọ
Nội dung: Địa mạo, địa chất, cấu trúc, tiềm năng khoáng sản
8 Tóm tắt nội dung công việc chủ yếu của đề tài:
- Tổng hợp, đánh giá các tài liệu địa chất và địa vật lý khu vực nghiên cứu
- Phân tích bổ sung tài liệu địa chấn thăm dò 2D khu vực biển sâu
- Khảo sát khu vực trọng điểm thuộc sườn lục địa Nam Trung Bộ (Đông
- Dự báo tiềm năng khoáng sản biển sâu.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất địa vật lý biển sâu.
- Tổng hợp tài liệu viết báo cáo khoa học.
Trang 9III SẢN PHẨM KHCN ĐỀ TÀI
1 Sản phẩm KH&CN đã tạo ra:
a- Sản phẩm khoa học và công nghệ dạng kết quả III:
Dạng III: Sơ đồ, bản đồ, số liệu, cơ sở dữ liệu, báo cáo phân tích, tài
liệu dự báo ( phương pháp , qui hoạch, mô hình ), Đề án, qui hoạch,Luận chứng kinh tế kỹ thuật, báo cáo nghiên cứu khả thi, các loại khác
TT Tên sản phẩm Yêu cầu khoa học cần đạt Ghi chú
I Luận chứng khoa học kỹ
thuật về tiềm năng
khoáng sản biển sâu và
và khai thác khoáng sản trong thời gian tiếp theo
đủ các thành tạo địa chất, tuổi, quy luật phân bố theo không gian và thời gian và các loại khoáng sản đi kèm
Trang 10Nội dung phản ảnh đầy đủ các cấu trúc, các quá trình vận động kiến tạo, quy luật phân bố không gian, thời gian và lịch sử tiến hoá liên quan đến quá trình hình thành khoáng sản của vùng biển sâu, độ chính xác cao.
1.4 - Sơ đồ dự báo tiềm
năng khoáng sản tỷ lệ
1/1.000.000
Tỷ lệ 1:1.000.000: Mới và có giá trị sử dụng, đưa ra một bức tranh mới tổng quan về tiềm năng khoáng sản khu vực biển sâu, làm tiền đề cho tìm kiếm, thăm dò các năm tiếp theo.
1.5 Bản đồ dị thường từ tỷ
lệ 1:1.000.000
Bản đồ chi tiết, cập nhật các tài liệu mới từ vệ tinh, từ đo trên biển
Trang 11II Báo cáo tổng kết đề tài Đầy đủ các nội dung và sản
phẩm nêu trên III Cơ sở dữ liệu về cấu
1.Bản đồ cấu trúc đẳng sâu móng âm học khu vực Phú Khánh tỷ lệ 1:500.000
2 Bản đồ cấu trúc đẳng sâu của nóc Oligocen Phú Khánh tỷ lệ 1:500.000
3 Bản đồ đẳng sâu nóc Miocen thượng khu vực Phú Khánh tỷ lệ 1:500.000 4.Bản đồ cấu trúc đẳng sâu móng âm học khu vực Tư Chính - Vũng Mây tỷ lệ 1:500.000
5.Bản đồ cấu trúc đẳng sâu của nóc Oligocen khu vực Tư Chính - Vũng Mây tỷ
lệ 1:500.000
6.Bản đồ đẳng sâu nóc Miocen thượng khu vực Tư Chính - Vũng Mây tỷ lệ 1:500.000
7 Bản đồ cấu trúc tầng móng trước Đệ tam khu vực biển sâu tỷ lệ 1:1.000.000
8 Bản đồ cấu trúc sâu tầng nóc Miocen giữa khu vực biển sâu tỷ lệ 1:1.000.000
9 Bản đồ cấu trúc tầng nóc Miocen trên khu vực biển sâu tỷ lệ 1:1.000.000
10 Bản đồ các hệ thống đứt gẫy khu vực biển sâu tỷ lệ 1:1.000.000
11 Bản đồ các yếu tố kiến tạo khu vực biển sâu tỷ lệ 1:1.000.000
12 Bản đồ phân bố các cấu tạo có triển vọng khu vực biển sâu tỷ lệ 1:1.000.000
Trang 1213 Sơ đồ khoanh vùng tiếm năng dầu khí và hydrate gas khu vực biển sâu tỷ lệ 1:1.000.000
b- Sản phẩm khoa học dạng kết quả IV
TT Tên sản phẩm Nơi công bố Tạp chí, Nhà xuất bản
1 Đặc điểm địa mạo và cấu trúc
địa chất Trường Sa - Tư
3 Bàn về cấu trúc kiến tạo khu
vực biển nam Trung Bộ
Các công trình nghiên cứu địa chất và Địa vật lý biển ISN 1859-3070, Tập
6 Tập Atlas các điều kiện tự
nhiên và môi trường vùng
biển Việt Nam và kế cận.
Nhà xuất bản Khoa học và Công nghệ, năm 2010
7 Đặc điểm kiến trúc hình thái
vùng biển sâu
Các công trình nghiên cứu địa chất và Địa vật lý biển.ISN 1859-3070, Tập 11,
2010 NXB Khoa học và Công nghệ
8 Đặc điểm cấu trúc địa chất vùng
nước sâu Biển Đông Việt Nam
trên cơ sở luận giải địa chấn
Tạp chí Địa chất, Loạt A số 320, 9- 10/2010 Trang 120-133 ISSN 0866- 7381
Trang 139 Địa chất và tiềm năng khoáng
sản Biển Đông
TT BC Khoa học 35 ngày thành lập Viện KHCN VN, 10/2010
c - Kết quả đào tạo:
Hỗ trợ đào tạo 1TS: Trần Anh Tuấn Trường Đại học KHTN
2 Đánh giá về hiệu quả của đề tài:
- Đề tài đã hoàn thành đầy đủ các nội dung nghiên cứu và đã vượt mức về
khối lượng sản phầm đặt ra (13 sản phẩm)
- Chất lượng sản phầm tốt đạt mức độ chi tiết và có độ tin cậy cao hơn các công trình đã có vì có thêm hơn 13.000km tuyến địa chấn 2D được phân tích bổ sung Điều đó có thể thấy qua các loạt bản đồ về kiến trúc hình thái, bản đồ địa chất khoáng sản, bản đồ cấu trúc của các móng, các tầng Oligocen, Miocen bản
đồ cấu trúc kiến tạo
- Sơ đồ dự báo tiềm năng khoáng sản, sơ đồ phân bố các cấu tạo có triển vọng khoáng sản khu vực biển sâu lần đầu tiên được thành lập.
- Sản phẩm của đề tài là cơ sở khoa học cho dự báo, thăm dò và tìm kiếm khoáng sản biển sâu, do đó nó có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
3 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo, kiểm tra của đề tài, dự án:
Ghi chú
(Tóm tắt kết quả, kết luận chính, người chủ trì…)
Trang 14Chủ nhiệm Đề tài Thủ trưởng tổ chức chủ trì
TS Nguyễn Thế Tiệp
Trang 15MỞ ĐẦU
Đề tài Nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng biển nước sâu (trên 200m) Nam
Việt Nam làm cơ sở khoa học để tìm kiếm khoáng sản liên quan có phạm vi
nghiên cứu từ vĩ độ 7o - 16oN và 109o - 113oE, đây là một khu vực tương đốihiếm về tài liệu vì rất ít các công trình nghiên cứu
Tận dụng các kết quả nghiên cứu biển trong hơn ba thập kỷ qua của các
chương trình nghiên cứu biển cấp Nhà nước: Thuận Hải-Minh Hải (1976-1980),
CT.48.06(1981-1986), 48B(1986-1990), KT.03(1991-1995), 2000), KC.09(2001-2005) tập thể tác giả phân tích bổ sung thêm tài liệu mẫukhảo sát của nước ngoài như tàu Nauka,1980, Nhesmianov, 1987, Lavrenchev,
KHCN.06(1996-1987, Bogorov, 1988, Oparine, 2007, 2010 (Nga), Atalante, 1993 (Pháp), tàusone 1999, 2007, 2008 (Đức), và mẫu của tàu Biển Đông, 1999, tàu HQ, 2001,
2008, 2009 (Việt Nam), tài liệu 2 chuyến khảo sát ở hai vùng trọng điểm là vùngbiển Phú Khánh, Tư Chính - Vũng Mây, phân tích bổ sung thêm 20.000km tuyếnđịa chấn 2D, và gần 4000km tuyến địa chấn nông phân giải cao, 7000km tuyến
từ và trọng lực làm cơ sở để thành lập các loạt bản đồ kiến trúc hình thái, địachất cấu trúc và tiềm năng khoáng sản
Toàn bộ kết quả nghiên cứu được thể hiện trong báo cáo tổng hợp gồm 5chương: Lịch sử nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, Đặc điểm kiến trúchình thái đáy biển, Đặc điểm địa chất, Đặc điểm cấu trúc và Dự báo tiềm năngkhoáng sản, với 24 bản đồ, 128 mặt cắt, bảng biểu và sơ đồ đã cho một bức tranhtương đối chi tiết và đầy đủ hơn so với các công trình nghiên cứu trước đây
Những điểm mới mà đề tài đạt được là:
- Các kiến trúc hình thái cơ bản của đáy biển khu vực nước sâu đã đượcxác lập tương đối chi tiết từ bậc II đến bậc III về mặt không gian và lịch sử pháttriển, góp phần quan trọng cho tìm kiếm khoáng sản
Trang 16- Lần đầu tiên bản đồ địa chất đáy biển được thành lập theo phương pháphình chiếu đáy các trầm tích Kainozoi, đã thể hiện tương đối đầy đủ các thànhtạo địa chất có tuổi từ Tiền Cambri đến Đệ tứ với cột địa tầng tổng hợp chi tiếtnhất từ trước tới nay đối với vùng biển nước sâu.
- Các đơn vị cấu trúc kiến tạo, các đới địa động lực và các pha kiến tạovùng biển nước sâu được xác lập đã góp phần làm sáng tỏ lịch sử hình thành vàphát triển của Biển Đông liên quan đến điều kiện hình thành các loại hìnhkhoáng sản
- Các cấu trúc bề mặt móng trước Kainozoi, nóc Miocen giữa, nóc Miocentrên và sơ đồ cấu trúc tiềm năng là nhưng cơ sở khoa học cho việc dự báo tiềmnăng khoáng sản dầu khí, hydrate gas, kết hạch sắt mangan của khu vực nghiêncứu
- Sơ đồ dự báo tiềm năng khoáng sản, trên đó đại diện là tiềm năng dầukhí, hydrate gas, sắt, mangan khu vực biển nước sâu là một sản phẩm mới, vừa
có ý nghĩa khoa học và có ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả đạt được bước đầu có thể đóng góp một phần cho việc địnhhướng nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò khoáng sản biển sâu
Tuy nhiên việc nghiên cứu tiếp theo ở mức độ chi tiết hóa tập trung vàocác khu vực có tiềm năng khoáng sản là hết sức cần thiết
Ban chủ nhiệm đề tài xin trân trọng cảm ơn Bộ Khoa học và Công nghệ,cám ơn Viện Địa chất và Địa vật lý biển, các cơ quan phối hợp, Văn phòng cácchương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước, Chương trình KC.09/06-10 đã tạođiều kiện cho đề tài hoàn thành nhiệm vụ, cảm ơn các tác giả tham gia đã cónhiều đóng góp để đề tài đạt được kết quả tốt nhất
Trang 17CHƯƠNG I TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÙNG BIỂN SÂU 1.1.1 Tình hình nghiên cứu về địa mạo
Nghiên cứu địa mạo đáy Biển Đông chỉ mới được bắt đầu từ nhữngnăm 1980 trở lại đây, kết quả đạt được phản ảnh bằng những sản phẩm sau:
Bản đồ địa mạo khái lược nhất của biển Nam Trung Hoa tỷ lệ1:2.000.000 do tác giả Xue Wanjun (Trung Quốc) thành lập năm 1987 trongtập Atlas “Địa chất - Địa vật lý biển Nam Trung Hoa” do nhà xuất bản QuảngĐông ấn hành Bản đồ đã phản ánh những đặc điểm chung của địa hình đáybiển Nam Trung Hoa, về mặt hình thái chính ví dụ địa hình thềm lục địa sườnlục địa và đồng bằng biển thẳm Tác giả đã dùng lý thuyết kiến tạo mảng đểgiải thích về nguồn gốc địa hình đáy biển
Bản đồ phân vùng kiến trúc hình thái và bản đồ địa mạo thềm lục địaViệt Nam và kế cận tỷ lệ 1:1.000.000 của tác giả Nguyễn Thế Tiệp thành lậpnăm 1990, trong khuôn khổ đề tài KT- 02- 01
Bản đồ phân vùng đã phân các đơn vị kiến trúc hình thái theo các bậckhác nhau Bản đồ địa mạo tỷ lệ 1:1.000.000 của tác giả Nguyễn Thế Tiệpđược xây dựng theo nguyên tắc kiến trúc hình thái đã phản ánh một bức tranhtương đối đầy đủ về các kiểu hình thái và kiến trúc của đáy biển diễn giải cơchế thành tạo cũng như thời gian thành tạo của chúng
Bản đồ địa mạo dải ven bờ delta sông Hồng tỷ lệ 1:200.000 của tác giảNguyễn Thế Tiệp năm 1994 đã phân chia chi tiết các kiểu, dạng địa hình theonguyên tắc hình thái động lực Tác giả quan niệm ứng với mỗi một điều kiệnđộng lực có một kiểu địa hình đặc trưng được hình thành Đây là phươngpháp phân loại địa hình lần đầu được áp dụng để vẽ bản đồ đáy biển ở Việt
Trang 18Nam Nguyễn Văn Tạc (năm 1996), đã phân loại địa hình theo nguyên tắc nguồn gốc hình thái.
Vùng biển nông ven bờ (từ 0-30m nước) từ Móng Cái đến Hà Tiên,Nga Sơn đã được các tác giả Nguyễn Thế Tiệp, Phạm Khả Tùy, Vũ Văn Phái,phản ánh khá chi tiết các kiểu hình thái nguồn gốc của địa hình và quá trìnhtiến hoá của chúng trong phạm vi dải nước nông ven bờ
Các số liệu khảo sát địa hình, địa chất của các tàu Gagarinxki 1991, tàuAtalante (pháp) 1997-1998, tàu Vulcanalog (Nga) 1987
Như vậy quá trình nghiên cứu địa mạo khu vực Biển Đông trong haithập kỷ gần đây đó được nghiên cứu về các mặt nguồn gốc, hình thái và quátrình động lực thành tạo địa hình ở tỷ lệ bộ 1:1.000.000 cho toàn khu vực và
tỷ lệ 1:500.000 cho một số khu vực biển ven bờ hoặc các quần đảo Trường Sa
và Hoàng Sa duy nhất chỉ có một vài bản đồ địa mạo có tỷ lệ 1:200.000 ở khuvực ven biển sông Hồng Đối với địa hình đáy biển, nguyên tắc thành lập bản
đồ đó và đang được sử dụng là: nguồn gốc hình thái, động lực hình thái vàkiến trúc hình thái trong đó áp dụng nguyên tắc kiến trúc hình thái phục vụtìm kiếm khoáng sản tỏ ra có hiệu quả hơn cả Một điều rất đáng tiếc là tất cảcác nghiên cứu địa mạo mới phản ảnh địa hình đáy biển tương đối chi tiết làvùng biển ven bờ (từ 0-200m nước) còn khu vực biển sâu còn ở mức độ kháiquát vì quá thiếu tài liệu
1.1.2 Tình hình nghiên cứu địa chất
Nhìn chung, các nghiên cứu khoa học khu vực Biển Đông Việt Nam(hay còn gọi Biển Nam Trung Hoa), được rộ lên vào giữa những năm 1960
Giai đoạn đầu ưu thế nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số nước cóthế mạnh nghiên cứu biển truyền thống, như Mỹ, Anh, Nhật Bản Đặc biệtcác cơ quan như Viện Hải Dương học Woods Hole (Woods HoleOceanographic Institution), Trạm nghiên cứu Lamont-Doherty EarthObservatory (LDEO), Cục nghiên cứu hải dương và khí quyển Hoa Kỳ
Trang 19(National Oceanic and Atmospheric Administration, NOAA), Cục nghiên cứuĐịa vật lý Nhật Bản (Japan Geophysic Department), Cơ quan nghiên cứuThuỷ văn Anh (United Kingdom Hydrographic Office-UKHO) Các tổ chứctrên đã tiến hành nghiên cứu Biển Đông Việt Nam và phụ cận chủ yếu bằngcác phương pháp đo sâu hồi âm, từ trường, trọng lực, địa chấn
Người Pháp vào điều tra nghiên cứu ở khu vực Biển Đông từ rất sớm,bắt đầu bằng việc đưa tàu De Lanessan năm (1927) và tàu La Malicieuse(1930)
Năm từ 1940 đến những năm 1960 - 1962 các tàu khảo sát địa chất đáybiển ở khu vực miền Trung và Biển Đông được thực hiện Trong thập kỷ 90,tàu Atalante có hai đợt khảo sát địa chất và địa động lực Biển Đông, trong đó
đã tiến hành thăm dò địa chấn, từ, trọng lực ở khu vực thềm và sườn lục địamiền Trung Năm 1986, Tapponier P Peltzer G đã nghiên cứu cơ chế vachạm giữa mảng Ấn Độ và mảng Châu Á Năm 1994 Hay P HuChon, LePichon đã nghiên cứu cấu trúc kiến tạo Biển Đông Năm 1994, Le Pichon X.Rangin C nghiên cứu các thành tạo rìa thềm lục địa Biển Đông Năm 1986,Pautot G., Rangin C., hướng tách giãn của Trũng sâu Biển Đông Năm 1993,tàu khảo sát Atlante đã khảo sát khu vực sườn lục địa miền Trung (từ 200mnước đến hơn 3000m nước) và đã phát hiện được nhiều các núi lửa bazandưới đáy biển Các tác giả người Pháp đã nghiên cứu địa động lực và cơ chếhình thành Biển Đông
Mỹ đã có nhiều khảo sát địa chấn trên thềm lục địa Việt Nam với mụcđích tìm kiếm dầu khí, tuy nhiên phần biển sâu trên 200m nước chỉ mới tiếnhành ở khu vực bể Phú Khánh và phần Tây Nam Hoàng Sa của Công tyWestern Geophysical Co (năm 1972) và đã tiến hành khảo sát địa chấn vớitổng chiều dài 5000km tuyến Các tác giả Hoa Kỳ như Taylor,B & Hayes,D.E , 1983, đã nghiên cứu kiến tạo và lịch sử tiến hoá các biển và các đảo ởChâu Á Wirrasantosa, S (1992) Nghiên cứu địa tầng địa chấn và cấu trúc của
Trang 20rìa lục địa Biển Đông Năm 1996, Watkins đã cho công bố bản đồ trọng lực
vệ tinh Năm 1976-1984, Công ty AMOCO (Mỹ) cùng với công ty SALEN(Thụy Điển) khoan 7 giếng khoan tại Reed Bank (Bãi Cỏ Rong) Năm 1996Công ty CONOCO (Mỹ) thăm dò lô 133 và 124 và năm 1998 đo bổ xung2.000km tuyến địa chấn 2D
Từ những năm 1980 các nước khác như Nga, Trung Quốc, Việt Nam,Inđonexia, Malaixia, Pháp, Đức cũng bắt đầu triển khai rầm rộ công cuộcnghiên cứu trên Biển Đông Đặc biệt các Công ty tư nhân và quốc gia tìmkiếm thăm dò dầu khí đã tiến hành ký kết hợp đồng và tìm kiếm thăm dò trênthềm lục địa Biển Đông Một khối lượng lớn đo địa vật lý và khoan thăm dò
đã được thực hiện Hàng loạt mỏ dầu và khí đã được phát hiện, thăm dò vàkhai thác ở đây
Đặc biệt các nhà khoa học Nga (Liên Xô trước đây) đã triển khainghiên cứu một cách mạnh mẽ và toàn diện về đại dương Thế giới, trong đó
có vùng Biển Đông Việt Nam
Trong khuôn khổ các hợp tác thoả thuận với Việt Nam sau năm 1975,các nhà khoa học Nga đã có những bước đi rất cơ bản trong nghiên cứu BiểnĐông, với sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học và các chuyến tàunghiên cứu khoa học có trang thiết bị hiện đại, đầu tư lớn, như các tàu mangtên Viện sĩ Lavrentiev, tàu mang tên Viện sĩ A.Nhesmeianov, tàu mang tênViện sĩ A Vinogradov, tàu mang tên Giáo sư Gagarinski (1990, 1991, 1992),tàu “Kallisto”, tàu Volcanolog (1989), Godenko, Socalxiki (1993-1994),Bogorov (1994, 1996) Phần lớn các chuyến khảo sát đều do Phân viện HànLâm Khoa học Viễn Đông thực hiện
Đặc biệt sau năm 1982 các nhà khoa học Viễn Đông Nga đã triển khai
đề án nghiên cứu “Biển Nam Trung Hoa” dưới sự chủ trì của RuslanGrigorievich Kulinhich (Viện Hải dương học Thái Bình Dương, Phân việnHàn lâm Viễn Đông Nga) Đề án chủ yếu nhằm vào nghiên cứu khu vực phía
Trang 21Tây Biển Đông, thuộc thềm lục địa Việt Nam và một phần vùng trũng nướcsâu Biển Đông Các phương pháp đo vẽ nghiên cứu chủ yếu được sử dụngtrong các chuyến khảo sát gồm: đo các mặt cắt địa chấn phản xạ liên tục, đođịa chấn điểm tại các trạm đáy biển, đo trọng lực thành tàu, đo từ, đo dòngnhiệt, đo sâu hồi âm, lấy mẫu địa chất, mẫu khí và mẫu nước Bằng tài liệucủa đề án thu được, các tài liệu của các tàu Liên Xô khác, cũng như thamkhảo tài liệu nước ngoài khác Kulinhich R.G và các cộng sự đã phân tích, xử
lý số tiệu công phu và đã cho công bố những tư liệu qúy báu dưới dạng cácbài báo, chuyên khảo và năm 1994 Kulinhich R.G bảo vệ thành công luận ánTiến sĩ về đề tài “ Sự hình thành Biển Nam Trung Hoa và sự tiến hoá ĐôngNam Á trong Kainozoi”
Hợp tác nghiên cứu về tài nguyên khoáng sản Biển Đông từ sau nhữngnăm Việt Nam thống nhất đất nước chủ yếu tập trung vào dầu khí trên thềmlục địa Biển Đông
Nghiên cứu về địa chất và địa vật lý toàn bộ khu vực như cấu trúc sâuđịa động lực biển Nam Trung Hoa của R.G Kulinhic (1994), nghiên cứu địatầng trầm tích sườn lục địa Biển Đông của A.C, Actakov, C.A, Gorbapenco(1986), nghiên cứu về quá trình tích tụ sunphit trong trầm tích Đệ tứ phần TâyNam của Biển Đông của H.B, Actkhova (1990)
Liên doanh dầu khí Việt-Nga Vietxopetro đo thăm dò địa chấn sâu khuvực biển Tư Chính - Vũng Mây (CT-93) năm 1993 tàu M/V A Gamburxevcủa DMNG tiến hành khảo sát 9.500 km tuyến địa chấn
Đặc biệt các nhà khoa học Đức đã triển khai nghiên cứu mãnh mẽ BiểnĐông, trong các đề án hợp tác với Trung Quốc, Philippin, Việt Nam, NhậtBản Các chuyến khảo sát của tàu SONNE: các chuyến SONNE-115 (1996-1997), SONNE-132 (1998); SONNE-140 (1999) và gần đây nhất là chuyếnSONNE -187-3 khảo sát vùng biển ngoài khơi đồng bằng Sông Cửu Long, từngày 20-4-2006 đến 12-5-2006 đã có những đóng góp rất lớn trong việc
Trang 22nghiên cứu Biển Đông Đã đo được hàng ngàn km mét tuyến đo địa chấnnông phân giải cao bằng thiết bị hiện đại Parasound, đo sâu quét đáy bằng cácthiết bị Multi Beam, đã tiến hành lấu mẫu địa chất khu vực biển sâu từ 100 mđến 4300 mét nước
Trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Bộ KHCN Việt Nam vàDFG của CHLB Đức đã triển khai nghiên cứu được một loạt vấn đề về BiểnĐông, trong đó đề tài “Tiến hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quátrình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen ở thềm lục địa vùngbiển giữa châu thổ Mêkông và Nha Trang, Đông Nam - Việt Nam” giao choViện Địa chất và Địa vật lý biển (2004, 2005) Đã đo được hàng nghìn kmtuyến đo địa chấn nông phân giải cao, đo sâu hồi âm, tiến hành lấy hàng trămmẫu địa chất bằng các thiết bị ống phóng trọng lực, boxcore Hiện nay ViệnĐịa Chất và Địa Vật lý biển đang có một khối lượng mẫu địa chất và tài liệuđịa chấn nông phân giải cao lớn về Biển Đông, đặc biệt trong đó trên 40 mẫuđược lấy từ khu vực biển thẳm
Năm 1999, chương trình khoan sâu đại dương (ODP) đã tiến hànhkhoan 6 lỗ khoan tại khu vực Biển Đông bao gồm các giếng khoan 1143 (tạiTrường Sa), 1144, 1145, 1146, 1147-1148 (thuộc khu vực Đông Bắc BiểnĐông), lần đầu tiên cấu trúc địa chất được phản ánh đến độ sâu 500m tính từđáy biển
Các nước trong khu vực thuộc khối Asean như Philippin, Malaysia,Thái lan, Indonesia, Việt Nam cũng triển khai đáng kể công tác nghiên cứuBiển Đông
Năm 2003 Viện khoa học biển của Philippin đã nghiên cứu địa chấtBiển Đông và đã phác họa lịch sử phát triển địa chất của Biển Đông thành 6giai đoạn (giai đoạn 55 triệu năm, 45, 32, 22, 10 và giai đoạn hiện tại).Philippin đã tiến hành nghiên cứu và khoan thăm dò dầu khí khu vực ĐôngBắc quần đảo Trường Sa Hiện tại Việt Nam cùng với Philippin, Trung Quốc,
Trang 231983, 1990); Holloway, N.H., (1982); Gatinski Yu.G (1980, 1981, 1984), K.Hinz and H.U Schlater, (1985 ), K Hinz, E.H.K Kempter, and H.U.Schlater, (1985), Tapponnier, P., Peltzer, G., Armijo, R., (1986), Ru Ke vàJ.D Pigott ( 1986), A Briais, P Patriat, P Tapponnier (1993), Wu Jinmin,(1988, 1994), G Pautot, Cl Rangin, et al (1986, 1990), Lacassin, R., Leloup,P.H., Tapponnier, P (1993), Robert Hall (1996, 2000), Tung-Y Lee and L.A.Lawver (1995), Manuel Pubellier (1999, 2000, 2005), Watkins, J.S., Lee,G.H (1998, 2001), Morley, C.K.(2001, 2002)…
Năm 1987 Trung Quốc đã cho xuất bản tập địa chất - địa vật lý biểnNam Trung Hoa tỷ lệ 1:2.000.000, trong đó tác giả Liang Dehua chủ biên bản
đồ Địa chất, Wu Jimin chủ biên bản đồ các Bể trầm tích Kainozoi, HeLiansheng là tác giả của bản đồ Kiến tạo, Năm 1988, họ đã hoàn thành bản
đồ địa chất biển thuộc lãnh hải Trung Quốc, năm 1991 thành lập bản đồ địachất và bản đồ địa vật lý biển Nam Trung Hoa tỷ lệ 1/500.000 với ý đồ tìmkiếm và khai thác khoáng sản ở Biển Đông Năm 2006 trung Quốc đã hợp tácvới Đức tiến hành khoan lấy mẫu hydrate gas (còn gọi là thuỷ mêtan hay làbăng cháy) tại thềm lục địa phía Nam biển Hoa Nam Theo đó họ cũng đã
Trang 24phát hiện một trữ lượng lớn băng cháy tại Biển Đông của Việt Nam bao gồmkhu vực Vịnh Bắc Bộ và Hoàng Sa, Trường Sa, diện tích băng cháy tại BiểnĐông ước tính chiếm 10% diện tích của biển tương đương 40 triệu métvuông Trong 10 năm tới (2010 - 2015) Trung Quốc đầu tư 100 triệu USDcho khoan thăm dò và khai thác thí điểm Theo các nhà nghiên cứu trungQuốc thì trữ lượng dầu khí tại khu vực Trường Sa đạt 30 tỷ tấn
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của nước ngoài ở vùng biển ViệtNam và kế cận chủ yếu là các nghiên cứu cơ bản và mang tính chất khái lược.Những nghiên cứu chi tiết tập trung vào thăm dò, khai thác dầu khí ở các bồntrũng Kainozoi trên thềm lục địa (giới hạn ở độ sâu nhỏ hơn 200m nước) Các
đề án đo đạc thăm dò địa chấn ở các vùng nước sâu như khu vực Tư Vũng Mây, thềm Phú Khánh và khu vực bắc Trung Bộ- Hoàng Sa mới đượctriển khai trong những năm gần đây
Chính-Vấn đề về kiến tạo địa động lực Biển Đông thường được nghiên cứugắn với khu vực Đông Nam Á và Thế giới, do đó các kết quả nghiên cứu chủyếu mang tính mô hình và được thể hiện ở các tỷ lệ nhỏ Các nghiên cứu chitiết cho từng khu vực, liên kết chặt chẽ với các khu vực khác, trong một quanđiểm kiến tạo nhất quán còn nhiều hạn chế
Từ những năm 1976 đến nay Việt Nam đã triển khai 6 chương trìnhbiển trọng điểm cấp Quốc gia, đó là: Chương trình Thuận Hải Minh Hải, 48-
06, 48B, KT.03, KHCN 06, KC.09, tuy nhiên các công trình nghiên cứu địachất và địa vật lý tập trung chủ yếu ở khu vực biển ven bờ và vùng thềm lụcđịa Biển Đông Một số công trình nghiên cứu có không gian bao trùm toàn
bộ cả khu vực biển sâu
Bản đồ địa chất và trầm tích tầng mặt Biển Đông Việt Nam tỷ lệ1:6.000.000 1984 Trong Atlas Quốc Gia do GS.TS Nguyễn Văn Chiển chủbiên (Nguyễn Giao, nnk 1996) Trên bản đồ nêu tài liệu lúc bấy giờ vẽ đẳngdày trầm tích Kainozoi, và trầm tích tầng mặt Năm 2005 các tác giả Trần
Trang 25Văn Trị, Nguyễn Biểu, nnk, đó chỉnh lý, bổ sung và vẽ lại, với sự sử dụnghàng loạt các mặt cắt địa chấn địa tầng, “Bản đồ địa chất biển Đông và kế cận
tỷ lệ 1: 5.000.000” và bản đồ dự kiến in trong thời gian tới
Bản đồ địa chất Pliocen-Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000(Nguyễn Biểu, nnk), trong đề tài KHCN 06-06 do GS TSKH Mai Thanh Tânchủ nhiệm Trên bản đồ này các trầm tích Đệ tứ lần đầu được chia thành 7phân vị và nêu được đẳng dày trầm tích Pliocen-Đệ tứ
Địa chất Đệ tứ Biển Đông và kế cận của các tác giả Trần Nghi, 2003),
đã thể hiện các thành tạo Đệ tứ trên bản đồ đã phản ánh bức tranh khái quátcác thành tạo Đệ tứ của Biển Đông
Địa chất Pliocen-Đệ Tứ vùng thềm lục địa Đông Nam được tác giảNguyễn Biểu, (2005), các trầm tích Pliocen -Đệ tứ chia theo sequence địatầng và gồm có nhiều phân vị đo vẽ và thể hiện các lòng sông cổ
Địa chất quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa được phản ánh trong “Tập bản
đồ các điều kiện tự nhiên và môi trường vùng Hoàng Sa và Trường Sa phục
vụ thực thi chủ quyền và quy hoạch phát triển kinh tế biển” NCKH thuộcchương trình Biển Đông hải đảo do TS Nguyễn Thế Tiệp làm chủ nhiệm.Đây là bản đồ thành lập theo sự phân bố các kiểu mặt cắt địa chất nên đưa lạinhiều điểm hiểu biết mới về cấu trúc địa chất và tiềm năng tài nguyên khoángsản của vùng
Bản đồ địa chất Biển Đông và kề cận tỷ lệ 1:1.000.000 của tác giả TrầnNghi, 2007, đã khái quát được các thành tạo địa chất, đặc biệt là các thànhtạo Kainozoi cho toàn Biển Đông, các thành tạo địa chất cổ hơn được phảnánh chi tiết chủ yếu ở phần ven bờ
Nhìn chung việc nghiên cứu địa chất trong và ngoài nước ở khu vựcBiển Đông trong hơn ba thập kỷ qua là rất đáng kể, song các công trìnhnghiên cứu chủ yếu tập trung trên khu vực thềm lục địa (nông hơn 200m nướctrở trở vào bờ)
Trang 26Về mặt địa chất khu vực biển sâu mới chỉ nghiên cứu có tính chất kháiquát một số đặc điểm các thành tạo tầng mặt Ví dụ bản đồ trầm tích tầng mặtcủa tác giả Nguyễn Thế Tiệp, bản đồ trầm tích đáy của Trần Nghi ở tỷ lệ nhỏ1/1.000.000.
Các thành tạo địa chất tầng sâu có niên đại từ Cambri đến hiện đại đượcthể hiện trên các bản đồ tỷ lệ nhỏ (Liang Dehua 1987, Trần Nghi 2007) Tuynhiên trên các bản đồ này bản đồ này phân chi tiết nhất lại là các khu vực ven
bờ và trên lục địa, phần biển sâu còn sơ lược
Các nghiên cứu về khoáng sản biển sâu hầu như chưa có, trừ một vàitài liệu nghiên cứu của nước ngoài như Nga, Trung Quốc và chỉ nghiên cứuhạn chế một số khu vực Bản đồ khoáng sản năng lượng tỷ lệ 1/2.000.000toàn vùng Biển Đông (Trần Văn Trị, Nguyễn Thế Tiệp, 2006), tuy nhiên phầnchi tiết chủ yếu vùng ven bờ
Các nghiên cứu cấu trúc địa chất làm cơ sở đánh giá tiềm năng dầu khí
ở khu vực biển sâu xa bờ chỉ mới tiến hành ở 2 khu vực bể Phú Khánh và TưChính - Vũng Mây, của Nguyễn Huy Quý (2004) Phạm vi nghiên cứu một sốnơi đến độ sâu 2000-2500m nước Kết quả đạt được là đã phân ra được cáccấu trúc các tầng trầm tích Kainozoi, các móng kết tinh của bể và bước đầuđánh giá tiềm năng dầu khí (300-700 triệu mét khối dầu qui đổi ở bể PhúKhánh và 750-970 triệu mét khối dầu quy đổi ở bể Tư Chính-Vũng Mây)
Các tài liệu khoan sâu chỉ mới có 5 giếng khoan đạt đến độ sâu 500mnước ở khu vực Trường Sa và bắc Hoàng Sa; 7 lỗ khoan tại bãi Cỏ Rong Tàiliệu địa chấn thăm dò còn rất hạn chế ở một số tuyến của các tàu khảo sátnước ngoài tại khu vực Vũng Mây - Tư Chính và Bắc Trung Bộ - Hoàng Sa
có tổng chiều dài khoảng 22.000 km tuyến
Trang 271.1.3 Tình hình nghiên cứu địa vật lý
Biển Đông Việt Nam là một khu vực có cấu trúc địa chất khá đa dạng
và phức tạp, nó thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong nước vàngoài nước trong nhiều thập niên qua Nhiều đề án nghiên cứu về nhiều lĩnhvực biển đó được thực hiện và nhiều tài liệu được công bố Trong đó có mộtloạt các công trình thành lập bản đồ địa chất, địa vật lý… có thể kể ra một sốtiêu biểu như sau:
Trong các năm 1970-1980 các nhà nghiên cứu của Mỹ và phương Tây(Hayes, Taylor…) đó cho xuất bản tập Atlas địa chất, địa vật lý các vùng biểnĐông Nam Á, tỷ lệ 1: 5.000.000 và nhỏ hơn
Từ năm 1973-1979 nhiều công ty dầu khí nước ngoài của các nước:Anh, Pháp, Ý, Na Uy, Liên Xô cũ đó tiến hành các khảo sát địa vật lý theocác lô trên các cấu tạo được dự đoán là có triển vọng dầu khí, và trên toàn bộthềm lục địa Việt Nam
Năm 1987, Đoàn khảo sát biển thuộc Bộ Địa chất và khoáng sản TrungQuốc đó thực hiện các khảo sát địa vật lý trên toàn vùng biển Nam Trung Hoa(biển Đông Việt Nam) bao gồm trọng lực, từ, địa chấn Kết quả đó xuất bảnđược tập Atlas Địa chất và Địa Vật lý biển (do nhà xuất bản tỉnh Quảng ĐôngTrung Quốc ấn hành), bao gồm 13 bản đồ tỷ lệ 1:2.000.000 Nhưng trong cáctài liệu này cũng có những mảng trống hoặc số liệu sơ lược trên các vùngthềm lục địa Việt Nam hoặc ở các sườn lục địa kế cận
Từ các năm 1986-1990, đề tài nghiên cứu thuộc chương trình biển 48B
“Đặc điểm các trường địa vật lý thềm lục địa Việt Nam và vùng biển kế cận”
do Bùi Công Quế và Nguyễn Hiệp chủ trì, đó thành lập được các bản đồ trọnglực, từ và địa chấn cho toàn vùng thềm lục địa Việt Nam
Tàu khảo sát biển Gagarinsky vào hai năm 1990 và 1992 đó khảo sátcho toàn biển Đông Việt Nam với hàng ngàn kilomet tuyến đo địa vật lý, đo
Trang 28sâu và địa chất Số liệu đo trên tuyến được thực hiện ở tỷ lệ khá lớn Mạng lưới đo trong khu vực nghiên cứu được thực hiện theo phương vĩ tuyến.
Đề án hợp tác giữa Việt Nam với cộng hoà Pháp do tầu khảo sát biểnAttalan thực hiện vào năm 1993, phạm vi khảo sát cho vùng biển Đông ViệtNam với hàng ngàn kilomet tuyến đo địa vật lý, đo sâu và lấy mẫu địa chất
Số liệu đo trên tuyến được lấy khá là đều đặn, chính xác và thực hiện ở tỷ lệ
Năm 2003, Đỗ Chiến Thắng, Doãn Thế Hưng và nnk., Thành lập bản
đồ dị thường từ Ta vùng biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1:1.000.000 Báo cáochuyên đề trong đề tài mã số KC-09-02 Phân viện Hải dương học tại Hà Nội.Năm 2004, Doãn Thế Hưng và nnk Xây dựng bản đồ dị thường từ Tatại khu vực Tây Nam quần đảo Trường Sa Báo cáo chuyên đề trong đề ánĐịa chất, địa vật lý và khí tượng hải dương khu vực quần đảo Trường Sa giaiđoạn 2002-2004 Phân viện Hải dương học tại Hà Nội
Năm 2004, M Green Christopher, Derek Fairhead and Stefan Maus.GETECH, University of Leeds, UK., nghiên cứu về trọng lực vệ tinh
Đỗ Chiến Thắng, Doãn Thế Hưng và nnk, 2004 Biên tập và chỉnh lýbản đồ dị thường từ Ta vùng biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1:1.000.000 Báocáo chuyên đề
Trang 29Năm 2001-2005, đề tài cấp nhà nước KC-09-02 “Xây dựng tập bản đồnhững đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên và môi trường vùng biển Việtnam và kế cận” do Bùi Công Quế chủ nhiệm đã xây dựng bản đồ dị thườngtrọng lực ở tỷ lệ 1:1.000.000.
Đỗ Chiến Thắng, Doãn Thế Hưng và nnk, 2005 Xây dựng bản đồ dịthường từ Ta khu vực quần đảo Hoàng Sa Báo cáo chuyên đề trong đề tàiXây dựng tập bản đồ các điều kiện tự nhiên và môi trường vùng quần đảoHoàng Sa và Trường Sa Viện Địa chất - Địa vật lý Biển Hà Nội
Năm 2006, Doãn Thế Hưng và nnk, Xây dựng bản đồ dị thường từ
Ta tại khu vực đảo Trường Sa và khu vực bãi Vũng Mây Báo cáo chuyên
đề trong đề tài Xây dựng tập bản đồ các điều kiện tự nhiên và môi trườngvùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Viện Địa chất - Địa vật lý Biển, HàNội
Đỗ Chiến Thắng, Doãn Thế Hưng và nnk, 2006 Xây dựng bản đồ dịthường từ Ta khu vực quần đảo Trường Sa Báo cáo chuyên đề trong đề tàiXây dựng tập bản đồ các điều kiện tự nhiên và môi trường vùng quần đảoHoàng Sa và Trường Sa Viện Địa chất - Địa vật lý Biển Hà Nội
Năm 2008, Đỗ Chiến Thắng, Hoàng Văn Vượng, Doãn Thế Hưng vànnk, Minh giải tài liệu từ, trọng lực tại khu vực thềm lục địa Đông Nam ViệtNam ( Báo cáo kết quả thực hiện hợp đồng 09/HĐ-PVEP-IMGG trong dự ánCSL07 Hà Nội
Quá trình nghiên cứu các trường địa vật lý Biển Đông chủ yếu là trọnglực và từ đó được nghiên cứu ở mức độ khái quát ở các tỷ lệ bản đồ đượcthành lập là 1:1.000.000 cho toàn vùng và tỷ lệ 1:500.000 cho một số khu vựcnhư: Tư Chính, Trường Sa Bên cạnh các tài liệu khảo sát của các tàu nướcngoài và trong nước, các số liệu vệ tinh cũng được sử dụng
Trang 30Kết quả nghiên cứu đó vạch ra được những đặc trưng cơ bản về các dịthường trọng lực, dị thường từ khu vực phục vụ cho nghiên cứu địa chất vàtìm kiếm thăm dò khoáng sản.
1.1.4 Tình hình nghiên cứu kiến tạo
Nghiên cứu kiến tạo Biển Đông được đề cập khá sớm, tuy nhiên trướcnhững năm 1980 nghiên cứu kiến tạo chưa có gì sâu sắc, ít các công trìnhmang tính khu vực chuyên sâu Những nghiên cứu kiến tạo thường được gắnliền với các nghiên lãnh thổ ở tầm cỡ châu lục Âu-Á hoặc sự vận động của vỏTrái Đất giữa lục địa và đại dương
Năm 1980, với việc ký kết hợp tác Việt Nga trong thăm dò dầu khí trênthềm lục địa Việt Nam, một loạt các khảo sát thăm dò các bồn trũng Kainoiđược triến khai và trên cơ sở các tài liệu đó đã có nhiều các công trình nghiêncứu kiến tạo nhằm xác định quy luật hình thành và phát triển các thành tạodầu ở Biển Đông
Năm 1982, Holloway N.H., đã nghiên cứu mối liên hệ giữa khối BắcPalawan, Philipin với phần lãnh thổ đất liều của chúng với lịch sử tiến hóaBiển Đông (AAPG Bulletin 66, p 1355-1383)
Hai tác giả B Taylor, D.E Hayer, năm 1983 đã nghiên cứu nguồn gốc
và lịch sử hình thành Biến Nam Trung Hoa (Tectonic and geology evolution
of SE Asia seas and islands Part 2, Am Geophysical Union)
Năm 1986, Hồ Đắc Hoài và Trần Lê Đông đã phân vùng kiến tạo mô tảcác cấu trúc định hướng cho tìm kiếm dầu khí ở trũng Cửu Long và bể NamCôn Sơn Cùng trong thời gian đó tác giả Lê Trọng Cán nghiên cứu lịch sửphát triển các bồn trũng và phân chia các đơn vị kiến tạo từ bậc II đến bậc IIIthềm lục địa Việt Nam
Năm 1990, Hồ Đắc Hoài đã xác lập mô hình phân vùng kiến tạo với tỷ
lệ bản đồ 1:1.000.000 thềm lục địa Việt Nam
Trang 31Năm 1993, Brias A., Patriat & Tapponnier P trên cơ sở minh giải dịthường từ đã khôi phục lại tiến hóa của biển Đông Nam Á trong Đệ tam.
Kulinhic R.G, 1994 đã công bố quá trình hình thành và phát triển vỏTrái Đất biển Nam Trung Hoa và các biển Đông Nam Á (tiếng Nga) Nh XB
KH, Mockova
Năm 1994, Wu, J., đã tính toán và mô hình hóa quá trình lắng đọngtrầm tích Kainozoi của biển Nam Trung Hoa Evaluation (Tectonophysics 235,77-98.) Trong thời gian này tác giả Xia K., C.Huang, và nnk, 1994 đã sosánh kiến tạo địa vật lý của các dải cấu trúc chính giữa rìa lục địa phía Bắc vàNam của biển Nam Trung Hoa (Tectonophysics 235(1-2): 99-116)
Năm 1996, Hall R., đã nghiên cứu kiến tạo mảng Kainozoi của biểnĐông Nam Á (Petroleum Geology of SE Asia, Geological Society, SpecialPublication, N0 126, p.)
Võ Năng Lạc, 1996 đã chính xác hóa bản đồ kiến tạo toàn thềm lục địaViệt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 và cho các bồn trầm tích ở tỷ lệ 1:500.000
Trong khi đó tiến hóa kiến tạo Đông Nam châu Á cũng được RobertHall, Derek Blundell, nhắc đến (Geological Society, Special Publication, N0
106, London)
Năm 1997, Robert Hall, không chỉ nghiên cứu kiến tạo Kainozoi củaĐông Nam Á mà còn gắn với mảng Châu Úc ( Procceding of the PetroleumSystems of Asia and Australasia Conference, May 1997)
Tác giả Phan Văn Quýnh, 1997 đã có mối liên hệ kiến tạo trong hệthống biến dạng Ailaoshan - Kalimantan (Tạp chí Địa chất, A/239)
Năm 1998, Gwang H.Lee và Joel S.Watkin, đã giải thích quá trình tạorift và nâng trồi khu vực thềm Đà Nẵng, Phú Khánh, và thềm Phan Rang
Năm 1999, Simons đã nghiên cứu vận động của Sundaland so với Âu-Á Năm 2000, 2001 Phạm Văn Thục nghiên cứu động đất và sóng thần ởBiển Đông
Trang 32Năm 2001, Lê Như Lai, Phùng Văn Phách & nk đã tập hợp các số liệu
và thành lập bản đồ cấu trúc kiến tạo vùng biển Việt Nam và kế cận (Đề tàiKHCN-06-12)
Năm 2002, tác giả Hall R., đã nghiên cứu địa chất Kainozoi và tiến hóakiến tạo mảng của châu Á và Tây Thái Bình Dương (J Asian Earth Science20/4.)
Lê Như Lai, Phùng Văn Phách, 2002, 2006 Xây dựng bản đồ cấu trúckiến tạo vùng biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1: 2.000.000 ( Đề tài KC.09.24.)
Đến năm 2003, Trần Hữu Thân, Ngọ Văn Hưng và nnk Đã lập lại lịch
sử tiến hóa kiến tạo và nhận dạng các bẫy chứa dầu khí trong bể trầm tích PhúKhánh (Hội nghị khoa học công nghệ Viện Dầu khí 25 năm xây dựng vàtrưởng thành, tr.268-282 NXB KH & KT)
Nguyễn Đình Xuyên, 2004 Danh mục động đất Việt Nam, từ năm 114đến năm 2003 trong phạm vi 5-240N, 100-1180E; Báo cáo tổng kết Đề tài độclập cấp nhà nước “Nghiên cứu dự báo động đất và dao động nền ở Việt Nam”,Lưu trữ tại Viện VLĐC (Bulletin of the International Seismological CenterDatabase Access Program)
Năm 2006 Cao Đình Triều đã đưa ra các chu kỳ hoạt động động đấtcủa vùng biển Nam Trung Bộ
Nguyễn Văn Lương, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Văn Dương; 2007 Tínhđịa chấn và nguy cơ sóng thần khu vực Biển Đông và các vùng ven biển ViệtNam; Báo cáo tổng kết chuyên đề thuộc Đề tài KHCN cấp nhà nước “Luậnchứng khoa học cho việc xây dựng hệ thống đài trạm quan trắc các điều kiện
tự nhiên và môi trường vùng Quần đảo Trường Sa”; Chương trình Biển ĐôngHải đảo; Viện Địa chất và Địa vật lý Biển”
Năm 2008 Chun-Fen Li, đã tiến hành nghiên cứu hệ thống các cấu trúckiến tạo Biển Đông trên cơ sở từ và tài liệu địa chấn
Trang 33Nguyễn Văn Vượng, Trần Nghi & nnk, nghiên cứu cấu trúc kiến tạo vàđịa động lực khu vực Tây Nam Biển Đông (TT BC Hội nghị địa chất biểntoàn quốc lần 1, Hạ Long, 2008).
1.1.5 Tình hình nghiên cứu khoáng sản
Vào năm 1987, các nước trong khối XHCN (cũ) đứng đầu là Liên Xô,
đã thành lập Liên doanh tìm kiếm thăm dò và khai thác khoáng sản biển sâu,với tên gọi Interoceanmetal (IOM) Liên doanh đã đạt được những thành tựuđáng kể trong lĩnh vực tìm kiếm và thăm dò các kết hạch sắt-mangan đáy đạidương Thế giới và đã nhận được sự công nhận và cổ vũ của Liên hiệp Quốc.Dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc vào năm 1992 tổ chức này đã nhận đượcvùng đặc quyền khảo sát trên vùng biển Thái Bình Dương, với diện tích150000km2, tại đới đứt gãy Clarion-Clipperton (phía Đông Nam quần đảoHawaii) Tiếp sau đó, vào năm 1997 IOM đã đi đầu trong việc ký kết thăm dòkhoáng sản biển sâu với ủy Ban Đáy đại dương Thế Giới (InternationalSeabed Authority), với diện tích thăm dò 75.000km2 (Ngoài IOM các nướckhác như CHLB Nga, Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc cũng
đã ký kết các thoả thuận tương tự với ủy Ban Đáy đại dương Thế Giới) ViệnKigam của Hàn Quốc đang triển khai một chương trình nghiên cứu dài hạn vềkhai thác các kết hạch đa kim và đã xây dựng được các phòng thí nghiệm và
mô hình mô phỏng quá trình khai thác
Hiện nay IOM bao gồm 6 nước là: Nga, Balan, Tiệp, Slovak, Bulgari,Cuba Đáng tiếc là vào những năm 1988-1989, Việt Nam và Cu Ba là 2 nướcđược mời tham dự IOM với rất nhiều ưu tiên đặc biệt, nhưng do nhiều hoàncảnh khách quan nước ta đã không tham dự được Trong năm 2007 IOM tổchức kỷ niệm 20 năm ngày thành lập tại trụ sở của mình, nằm tại thành phốcảng Szczecin của Ba Lan
Các kết quả nghiên cứu về kết hạch đa kim đã được thể hiện trên Atlas
về các kiểu kết hạch sắt mangan của đại dương thế giới (B.X Egiazrovm
Trang 341990) Năm 2002, hai tác giả S.I.Andrev và I.S.Gramber đã công bố kết quả
nghiên cứu quặng coban của các đại dương thế giới
Băng cháy là thường gặp trong tự nhiên là hydrat của khí methan vàethan (vì vậy, nhiều nhà khoa học Việt Nam đề nghị gọi tên chính xác loạihình khoáng sản này là hydrat methan, thay vì gọi là băng cháy) Hiện nayhydrat được coi là một nguồn năng lượng mới rất tiềm tàng, đủ cung cấp chonhu cầu nhân loại hàng trăm năm Theo đánh giá tổng quan trữ lương hydratmethan có thể gấp 2 lần tổng trữ lượng than - dầu - khí tự nhiên của thế giới 1m3 hydrat methan có thể chứa 164m3 khí methan (CH4) và 0,87m3 nước
Các nước tiên tiến trên thế giới hiện nay đang ráo riết triển khai tìmkiếm, thăm dò và thu hồi thử hydrat methan Những nước đã có những nghiêncứu cụ thể về vấn đề này bao gồm: Australia, Indonesia, Ireland, Mexico, MỹNorway, Nam Phi, New Zealand, Nhật Bản, Chile, Brazin, Hàn Quốc,TrungQuốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraina, Tây Phi (Công Gô)
Từ 1982-1992 Bộ Năng lượng Hoa kỳ chi 8 tỷ USD cho chương trìnhtìm kiếm và nghiên cứu hydrat methan Kết quả là họ đã hoàn thành nghiêncứu cho 15 bể trầm tích ngoài khơi, xác định được sự tồn tại của khí hydratmethan ở Alaska, xác định sơ bộ lượng khí tại chỗ chứa trong trầm tích,nghiên cứu phát triển mô hình khai thác sơ bộ Tiếp theo các năm 1999 - 2002
Bộ Năng lượng Hoa Kỳ lại chi 30 triệu USD cho nghiên cứu hydrat methan
để tiếp tục hoàn thiện công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu và khảo sát nghiêncứu ngoài thực địa
Canada cũng đang đi tiên phong trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò vàkhai thác hydrat methan Những năm 1970 Canada đã phát hiện được sự tồntại của hydrat methan trong 250 giếng khoan dầu khí Từ những năm 1990 họ
đã triển khai một loạt các công trình nghiên cứu Kết quả năm 1997 với sựtham gia của nhiều công ty đa quốc gia (Canada, Nhật, Mỹ, Ấn Độ) họ đã tiến
Trang 35hành khai thác hydrat methan thử thành công tại mỏ Mallik, thuộc đồng bằng châu thổ Mackenzie.
Nga đã sớm nhận ra tiềm năng năng lượng của hydrat methan từ nhữngnăm 1960 Vào năm 1974 họ đã thu hồi được hydrat methan tại Biển Đen.Hiện nay họ cũng đang có những chương trình, dự án tìm kiếm và thăm dò ởcác nơi khác Nghiên cứu các mỏ băng cháy dưới đáy biển của G.D.Grinsburg
và V.A Soloviev (1998), đặc biệt trên bản đồ phân bố khoáng sản đáy đạidương được thành lập sau năm 2004 đã thể hiện mỏ băng cháy ở khu vựcHoàng Sa của Biển Đông của Việt Nam
Tại Nhật Bản từ những năm 1990 đã bắt đầu nghiên cứu hydrat methan
và cho rằng “Hydrat methan có thể là nguồn năng lượng nội địa sản xuấttrong thập niên tới” Riêng trong năm 2004 Nhật Bản đã chi 100 triệu USDcho Tổng Công ty Dầu khí Nhật Bản (Jogmec) nghiên cứu và khảo sát địachất tìm kiếm các mỏ hydrat methan thương mại, và đã thu hồi thành côngmẫu hydrat methan tại trũng Nankai
Trung Quốc cũng nhanh chóng tiếp cận và triển khai quyết liệt việcnghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò hydrat methan từ những năm 1990 Vào tháng6-2007 họ đã tuyên bố thu hồi được mẫu hydrat methan tại khu vực HoàngSa
Ở khu vực Biển Đông, từ thời kỳ Pháp thuộc thực dân Pháp dó đó để ýđến nghiên cứu tài nguyên khoáng tại Biển Đông Trong đó đáng chú ý cáccông bố trong các năm 1984 (Hays và Taylor, Dalmuh), 1988-1989 (công tyTotal (Pháp), BP (Anh), Shell - Fina (Hà Lan - Bỉ)…) Đã khoan thăm dò dầukhí trong diện tích thềm lục địa và nghiên cứu Photphorit ở các đảo Hoàng Sa
va Trường Sa
Từ những năm 60 đã có nhiều công ty nước ngoài tìm kiếm dầu khí ởthềm lục địa Nam Việt Nam Sau khi nước nhà thống nhất có nhiều chuyếnkhảo sát địa chất, địa vật lý của các công ty dầu lửa các nước Liên Xô, Trung
Trang 36Năm 1981 titan và zircon ven biển lần đầu tiên được điều tra khá đầy
đủ từ Bắc vào Nam (Nguyễn Kim Hoàn Cb, 1981)
Năm 1985, Nguyễn Biểu, Nguyễn Thị Kim Hoàn đã nghiên cứu vàtổng hợp toàn bộ tài liệu về địa chất và mô tả gần 30 loại khoáng sản rắn venbiển Việt Nam
Năm 1988 xuất bản bản đồ khoáng sản biển Trung Quốc và thuyếtminh kèm theo (Tan Xiqin, nnk, 1988)
Từ 1991-1995 có chương trình nghiên cứu biển KT 03-02 đề tài: "Địachất, địa động lực và tiềm năng khoáng sản vùng biển Việt Nam" tỷ lệ1/1.000.000 đã làm sáng tỏ địa tầng trầm tích Đệ tam cũng như đá móng trướcKainozoi ở vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (Bùi Công Quế, Trần Nghi,Phạm Huy Tiến, 1995)
Có rất nhiều công trình về tiềm năng và triển vọng dầu khí thềm lục địaViệt Nam nói riêng (nhất là chuyên khảo gần đây của Ngành Dầu khí,Nguyễn Hiệp,Cb,2006) và toàn Biển Đông nói chung
Năm 1990, Actakhova H.B, Actakhov, nghiên cứu quá trình tích tụsulphit trong trầm tích Đệ tứ phần Tây Nam biển Nam Trung Hoa (tiếngNga) Tạp chí núi lửa và địa chấn số 4-1990
Dehua L and Liu Z.1990, Nghiên cứu nguồn gốc hình thành biển NamTrung Hoa và tiềm năng dầu khí Th.( Journal of Petroleum geology 13):
Năm 1993, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Giao, Hà Quốc Quân Đặc điểm địachất và tiềm năng dầu khí vùng quần đảo Trường Sa Lưu trữ Viện Dầu Khí
Năm 1995, Nguyễn Hiệp, Trần Ngọc Toản Đặc điểm địa chất và tiềmnăng dầu khí vùng đảo Trường Sa Lưu trữ Viện Dầu khí
Trang 37Năm 2000, Lê Văn Dung và nnk Minh giải tài liệu địa chấn SEAS-95nhằm liên kết đối sánh tiềm năng dầu khí các bể trầm tích thuộc thềm lục địaViệt Nam với các bể trầm tích kế cận của Malaysia và Indonesia (Lưu trữTổng công ty Dầu khí Việt Nam)
Năm 2000, Ngô Xuân Vinh Địa chất và tiềm năng dầu khí đới nâng
Tư Chính, Tây Nam quần đảo Trường Sa Tạp chí Dầu khí, Số 4+5
Từ tháng 5 đến tháng 8/2001, công ty Timah (Indonesia) đã hợp táccùng với Trung tâm Địa chất Khoáng sản Biển khoan tìm kiếm thiếc sakhoáng ở vùng biển Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế và Bình Thuận Đây là nhữngtài liệu rất quý dùng để liên kết và đối sánh giữa các tài liệu địa chất và địavật lý, đặc biệt là đối với các mặt cắt địa chấn nông độ phân dải cao
Năm 2001, Đề án: "Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biểnven bờ Việt Nam (0-30m nước) tỷ lệ 1/500.000" do Trung tâm Địa chấtKhoáng sản Biển thực hiện (Nguyễn Biểu, nnk, 2001) hoàn thành mang lạinhiều thông tin giá trị về địa chất và môi trường biển, trong đó có phầnkhoáng sản được sử dụng trong bản đồ và báo cáo này
Năm 2002, Kazuo Nakayma, Janyong Akio Hara Arata Katoh, NguyễnHuy Quý đã đánh giá tiềm năng dầu khí trong trầm tích Đệ tam của bể PhúKhánh (Final Report, VPI/JGI cooperative work)
Lê Văn Dung và nnk, 2002 Đánh giá tiềm năng dầu khí một số cấu tạothuộc trầm tích Đệ tam ở bể Phú Khánh Báo cáo tổng kết đề án hợp tácVPI/JGI, Lưu trữ Viện Dầu khí Việt Nam
Năm 2003, Trần Hữu Thân, Ngọ Văn Hưng và nnk Lịch sử tiến hóakiến tạo và nhận dạng các bẫy chứa dầu khí trong bể trầm tích Phú Khánh.Hội nghị Khoa học Công nghệ Viện Dầu khí 25 năm xây dựng và trưởngthành, tr.268-282 NXB KH & KT
Phan Thị Kim Văn, Phân tích tài liệu từ với mục đích tìm kiếmhydrocacbon Hội nghị Dầu khí 2003
Trang 38Vũ Văn Kính, Nguyễn Văn Đắc và nnk 2003 Đánh giá kết quả tìmkiếm thăm dò dầu khí ở Việt Nam đến năm 2000 và phương hướng hoạt độngtiếp theo Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học - Công nghệ “Viện Dầu khí:
25 năm xây dựng và trưởng thành”, Viện Dầu khí Việt Nam NXB Khoa học
và kỹ thuật, tr 35-65
Năm 2004, Yu X., Z Zhang, et al, Nhiều cứu thành tạo gas hydrate vàquy luật phân bố ở biển Nam Trung Hoa (Abstract simposium on gas hydrate-
a new potential energy source for the new millennium Beijing 12/24/2003.)
Năm 2005, Trần Văn Trị, Nguyễn Biểu, & nnk Về địa chất và tàinguyên liên quan Báo cáo Hội nghị 60 năm Địa chất Việt Nam
Năm 2006, Đào Mạnh Tiến, Tài nguyên khoáng sản biển ven bờ đãđược điều tra bổ sung ở vùng biển Hà Tĩnh Ngô Thường San và nnk Tiếnhóa kiến tạo Kainozoi: Sự hình thành các bể chứa hydrocacbon ở Việt Nam.T.T.BC Hội nghị DK 2005 Lê Văn Dung, Nguyễn Huy Quý và nnk, Nghiêncứu cấu trúc địa chất và địa động lực làm cơ sở đánh giá tiềm năng dầu khícủa các vùng biển sâu xa bờ của Việt Nam Báo cáo tổng kết Đề tài Nhà nướcKC-09-06 (2001-2005), Lưu trữ tại Trung tâm Thông tin và Công nghệ Quốcgia Trần Văn Trị, Nguyễn Thế Tiệp, 2006 Bản đồ khoáng sản và nănglượng vùng biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1: 2.000.000 Đề tài KC.09.24
Wang, S., W Yen, and H Song Thành lập bản đồ chiều dày đới ổnđịnh của gas hydrate ở vựng biển Nam Trung Hoa (Terr Atmos Ocean Sci
17, 815-828.) Lin, S., W C Hsieh, et al, nhiền cứu sự dịch chuyển của khímetan và ảnh hưởng của nó tới việc tái tạo sulfat ở khu vực nâng cao, trầmtích ven rìa thềm lục địa biển Nam Trung Hoa (Terr Atmos Ocean Sci., 17,883-902.)
Wang, X., S Wu, N Xu, and G Zhang: Tính toán gas hydrate phầnphía Bắc biển Nam Trung Hoa (Terr.Atmos.Ocean Sci., 17, 799-813)
Trang 39Yan, P., H Deng, and H Liu, 2006: Nghiên cứu cấu trúc địa chất vàtiềm năng gas hydrate ở sườn ngoài của Dongsha, biển Nam Trung Hoa (Terr.Atmos Ocean Sci., 17, 645-658) Trần Hữu Thân và Lã Thuý Hằng, 2006.Lịch sử phát triển các dạng bẫy có khả năng tích tụ dầu khí ở bể Phú Khánh.Tập chí dầu khí.
Năm 2007, Nguyễn Hiệp Công bố về Tài nguyên địa chất dầu khí ViệtNam Tập đoàn Dầu khí Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam” TrầnNgọc Toản, Nguyễn Hồng Minh 2007 Bể trầm tích Phú Khánh và tài nguyêndầu khí Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam, tr.241-267 NXB KH &
KT Trần Ngọc Toản, Nguyễn Hồng Minh, 2007 Bể trầm tích Phú Khánh vàtài nguyên dầu khí Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam, tr.241-267
Zhang, H., S, Yang, et al, 2007 Công bố kết quả của khoan thăm dò gashydrate, (Fire In The Ice, NETL Methane Hydrates R&D)
Nguyễn Biểu, Vũ Trường Sơn, 2008, Hydrat methan và triển vọng ởsườn và chân lục địa Biển Đông Việt Nam và kế cận Trần Châu Giang, 2008.Cập nhật thông tin TKTDKT hydrat khí trên thế giới và dự báo tiềm nănghydrat khí ở Việt Nam Viện Dầu Khí Việt Nam
Như vậy việc nghiên cứu khoáng sản chủ yếu chỉ tập trung trên thềmlục địa Biển Đông, trong khi đó khoáng sản dầu khí được nghiên cứu chủ yếutại các bồn trũng Kainozoi Các khoáng sản rắn chỉ mới tập trung nghiên cứu
ở các vùng biển ven bờ chưa ra khỏi độ sâu 100m nước Có lẽ vùng sườn lụcđịa có độ sâu từ 200-1500m, là nơi duy nhất bắt đầu nghiên cứu gas hydratetrong những năm gần đây, tuy nhiên đánh giá tiềm năng của chúng vẫn cũng
là vấn đề phải chờ đợi trong tương lai Các khu vực biển sâu có chứa khoángsản như kết hạch sắt, mangan, sulfite đa kim hầu như chưa có công trìnhnào đưa ra
Trang 401.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong nhiều cứu địa chất để đạt được hiệu quả cao chúng tôi phải dùngmột tổ hợp các phương pháp nghiên cứu đó là phương pháp địa mạo, đo sâuquét sườn các phương pháp địa chất, các phương pháp địa vật lý bao gồmphương pháp từ, trọng lực, địa chấn sâu, địa chấn nông phân dải cao, cácphương pháp phân tích, phương pháp xác định tuổi, phương pháp kiến tạo,các phương pháp xây dựng các bản đồ
1.2.1 Các phương pháp nghiên cứu địa mạo
- Phương pháp phân tích kiến trúc hình thái địa hình:
Phân tích quy luật hình thành các kiến trúc hình thái địa hình với quyluật hình thành các loại khoáng sản
Bằng cách phân tích kiến trúc hình thái địa hình đặc trưng của đáy biểnbao gồm các địa hình dương như các khối nâng, các địa luỹ, các vòm nâng,các địa hình âm như các địa hào, các trũng, cho ta biết mối tương quan giữavận động kiến tạo với địa hình trong quá trình hình thành khu vực biển sâu.Phương pháp này còn cho phép vạch ra quy luật hình thành địa hình và cácđiều kiện và quy luật phân bố khoáng sản
- Phương pháp thành lập bản đồ địa mạo
Bản đồ địa mạo khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi từ vĩ độ 70
-160N và kinh độ 1090-1130E nằm trọn và khu vực biển sâu với độ sâu từ200m đến 4500m nên việc chọn phương pháp và nguyên tắc thành lập bản đồphải phù hợp với mục đích của đề tài là nghiên cứu cấu trúc địa chất và dựbáo tiềm năng khoáng sản và do vậy lựa chọn nguyên tắc kiến trúc hình thái
để phản ánh địa hình đáy biển là hợp lý nhất
Nguyên tắc được áp dụng để phân chia địa hình là trên bản đồ địa mạocác phức hệ kiến trúc hình thái là những tập hợp nhóm các dạng địa hình,chúng được liên kết với nhau bằng những đặc điểm về hình thái, cấu trúc tânkiến tạo và lịch sử phát sinh của địa hình Những phức hệ hình thái kiến trúc