1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM

68 1,5K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia TP.HCM
Chuyên ngành Khoa Học Xã Hội
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố thành phố hồ chí minh
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 649 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đều biết cuộc sống con người tồn tại trên nền tảng các nhu cầu cơ bản là ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, giải trí và ước muốn lưu lại cái gì đó cho đời sau

mà ta có Để có được bảy yếu tố cơ bản đó, con người phải đấu tranh với tự nhiên, và

cả trong cộng đồng xã hội Cuộc đấu tranh thể hiện trong lao động ở mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, trong các lĩnh vực nghiên cứu phát triển, sáng tạo ra cái mới, để không ngừng vươn lên, hay nói một cách khác mỗi người phải tìm cho mình một hoạt động thích hợp trong xã hội để tồn tại và vươn lên hướng tới ngày mai Từ đó ra đời

sự cạnh tranh và phát triển của cá nhân, của gia đình, của một cộng đồng xã hội Và mục tiêu đó trở thành động lực thúc đẩy xã hội phát triển

Sự tăng trưởng về kinh tế nước ta nói chung, đô thị nói riêng trong những năm vừa qua đã kéo theo sự phát triển về văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật… nhưng bên cạnh đó nó cũng tồn tại một số vấn đề xã hội, trong đó đặc biệt là vấn đề nhà ở

Một cá nhân có thể trở thành người tốt, có phẩm chất và nhân cách khi cá nhân có điều kiện thực hiện tốt quá trình xã hội hóa Nếu không được chăm sóc, giáo dục trong môi trường xã hội lành mạnh, tức là không có điều kiện để xã hội hóa bản thân, thì cá nhân đó có thể trở thành người xấu, bị tách khỏi chuẩn mực của xã hội.[9, 2006] Với sinh viên là bộ phận ưu tú về trí tuệ của thanh niên nói chung Họ là lớp người đang độ trưởng thành, lại được học tập, sinh hoạt ở thành phố, đô thị lớn nên

có cơ hội tiếp xúc sớm với những tiến bộ xã hội Sinh viên là nguồn bổ sung trực tiếp cho lực lượng trí thức của nước nhà Ngày nay, bước sang thế kỷ 21, khi mà khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì vai trò của sinh viên càng trở nên quan trọng Vì vậy, việc nâng cao đời sống cho sinh viên là việc quan trọng và hết sức cần thiết, đặc biệt là quan tâm đến nhà ở - đó là một cách quan tâm thiết thực hơn đến đời sống và sinh hoạt của sinh viên - những trí thức trẻ trong tương lai Bởi

lẽ, nhà ở là điều kiện đầu tiên để phất triển nguồn lực con người – là nơi sinh viên tự học tập, tự nghiên cứu sau những giờ lên lớp lên giảng đường, là nơi để sinh viên rèn luyện thể lực sức khoẻ, đảm bảo cho việc học tập Nếu sinh viên vẫn phải ăn ở trong

Trang 2

nhũng điều kiện tạm bợ, nhếch nhác, môi trường không tốt thì sẽ ảnh hưởng đến quá trình học tập, cũng như nhân cách của sinh viên

Vì thế, vấn đề nhà ở cho sinh viên là vấn đề thiết thực và cấp bách, cần được

sự quan tâm của mọi người, nhưng vấn đề này vẫn nhận được ít sự quan tâm từ nhiều phía: chính sách hỗ trợ từ nhà nước, lãnh đạo các cơ quan ban, nghành, chức năng, các cơ quan đơn vị trường học, địa phương nơi sinh viên đang sinh sống và học tập,

…hoặc đang nằm trên những dự án cho đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc chưa được giải quyết

Thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) hiện nay đang giữ một vai trò hết sức quan trọng, là một trung tâm đa chức năng của Việt Nam Không chỉ là một trung tâm dân cư lớn nhất cả nước (với số dân 6.650.942 Năm 2007) mà còn là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế: với tỷ trọng GDP của thành phó chiếm 1/3 GDP của cả nước

Đồng thời cũng là trung tâm giáo dục đại học, trung tâm khoa học công nghệ lớn thứ hai của cả nước, sau thủ đô Hà Nội Trên địa bàn Tp HCM hiện nay có trên khoảng 130 Trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau với số sinh viên khổng lồ, trong đó có tới 80% sinh viên là người ngoại tỉnh, tạo ra một sức ép lớn về chỗ ở, nhà trọ

Thêm vào đó, theo đề án quy hoạch hệ thống mạng lưới các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đến năm 2020 thì số lượng các trường đại học tại Tp HCM sẽ tăng dần lên, cụ thể năm 2010 là 45 trường Điều này càng khẳng định vị trí trung tâm giáo dục đào tạo, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của Thành phố và cũng cho chúng ta thấy rằng Tp HCM phải gánh vắc một phần trách nhiệm trong đào tạo nguồn nhân lực cho cả khu vực phía Nam nói chung và cho cả khu vực đồng bằng

Sông Cửu Long nói riêng [5, 2002]

Như vậy trong tương lai gần số lượng sinh viên đại học, cao đẳng sẽ tăng lên nhanh chóng, nhưng chỉ một số trường có ký túc xá cho sinh viên với số phòng trọ ít

ỏi, mỗi năm cũng chỉ có thể giải quyết được vài trăm xuất cho sinh viên vào ở với những chỉ tiêu ưu tiên xét chọn rất kỹ càng như con liệt sĩ, con thương binh, dân tộc

Trang 3

thiểu số, khuyết tật nặng, quá nghèo, con em vùng sâu vùng xa, hải đảo Số lượng lớn sinh viên còn lại - trong đó đa số là sinh viên ngoại tỉnh – là thuộc “trách nhiệm” của dân gần trường

Trong khi đó việc xây dựng nhà trọ cho sinh viên trong địa bàn dân cư vẫn còn mang tính manh mún, tự phát nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt của sinh viên là cần có một chỗ trọ mà chưa có một quy chế, quy định rõ ràng của chính quyền thành phố đối với việc giải quyết vấn đề nhà ở cho sinh viên Và một thực tế cho thấy nhà trọ của dân đa phần điều kiện không được tốt lắm, chủ yếu được cơ nới tận dụng diện tích sẵn có, xây dựng tạm bợ trên những nền đất yếu với những vật liệu thô sơ không đảm bảo an toàn, vệ sinh, về phòng cháy chữa cũng như sức khỏe cho sinh viên và môi trường tự học tập của sinh viên ở phòng trọ

Giá nhà trọ cho sinh viên thông thường rất cao và ngày càng leo thang do nhu cầu do nhu cầu sinh viên quá lớn Cộng với việc để giảm chi phí hầu như các chủ nhà hạn chế tối đa mức đầu tư, vì vậy mà các công trình nhà ở cho sinh viên thường được xây dựng rất nhanh với các vật liệu rẻ tiền nên chất lượng nhà rất kém, cũng do tận dụng tối đa nên trong những dãy nhà trọ này công trình phụ và kết cấu bố cục nhà thường thiếu hợp lý, khoảng không gian chật hẹp, kể cả điện nước sinh hoạt, và các tiện nghi tối thiểu cần có để phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày cũng không đảm bảo.Trong lúc các trường đại học và cao đẳng trên thành phố chưa có đủ ký túc xá thì việc sinh viên ở ngoài nhà dân là điều tất yếu

Vì thế, một vấn đề nan giải đặt ra là vấn đề nhà ở cho sinh viên Nên chúng tối quyết định chọn đề tài “Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM ”

Với mục đích tìm hiểu thực trạng nhà ở sinh viên hiện nay, nhu cầu ở của họ như thế nào? Thực trạng nơi ở như vậy có ảnh hưởng gì tới đời sống (sinh hoạt, quan

hệ cộng đồng) của sinh viên? Nhà trường, địa phương, các ban ngành chức năng đã quan tâm đến đời sống của sinh viên như thế nào? Từ đó góp phần định hướng cách nhìn nhận của xã hội đối với vấn đề nhà ở cho sinh viên, góp một tiếng nói cho lời giải câu hỏi giải quyết bài toán nhà ở cho sinh viên một chỗ ở để có thể an cư học tập

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Phần lớn các sinh viên trên đia bàn Tp HCM là những sinh viên ngoại tỉnh, bên cạnh đó đa phần trong số họ có cuộc sống ở trọ Rời xa mái ấm gia đình, họ phải tự lo toan mọi vấn đề trong cuộc sống của mình, từ việc ăn ở, sinh hoạt đến việc học tập, đi lại Gia đình, nhà trường, các tổ chức, chính quyền địa phương thường chỉ quan tâm đến việc học tập của họ mà ít quan tâm đến việc nâng cao chất lương cuộc sống cho sinh viên, cụ thể ở đây là vấn đề nhà ở của sinh viên Bởi lẽ, nhà ở là điều kiện đầu tiên để phát triển nguồn nhân lực – một yếu tố hết sức quan trọng, có ảnh hưởng ít nhiều đến kết quả học tập của sinh viên Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng nhà ở (nhà trọ, kí túc xá) của sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Tp.HCM, với mục đích tìm hiểu thực trạng nhà ở sinh viên hiên nay, ảnh hưởng của thực trạng nhà ở tới đời sống học tập của sinh viên, và qua đó thấy được nhu cầu ở của họ Đồng thời đề tài cũng tìm hiểu về thực trạng đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu ở của sinh viên Cũng qua việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích góp phần định hướng cách nhìn nhận của xã hội đối với vấn đề nhà ở của sinh viên Để từ đó

có những đề xuất mang tính khuyến nghị đối vấn đề nhà ở của sinh viên Những điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy sinh viên học tập tốt, nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài sẽ tập trung phân tích các nội dung chủ yếu sau:

Nghiên cứu mang tính lý thuyết qua các tài liệu có sẵn.

Phần nghiên cứu thực nghiệm

Đề tài tìm hiểu thực trạng nhà ở của sinh viên hiện nay trên địa bàn Tp HCM.Tìm hiểu về nhu cầu ở của sinh viên và thực trạng đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu ở của sinh viên hiện nay

Ảnh hưởng của chất lượng nhà ở đến đời sống của sinh viên (học tập, đời sống sinh hoạt, mối quan hệ cộng đồng)

Trang 5

Mong muốn, đề xuất của sinh viên về vấn đề ở hiện nay như thế nào? Để họ

có thể an tâm học hành, nâng cao chất lượng học tập

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài chỉ tập trung vào “thực trạng nhà ở” của sinh viên hiện nay, và qua đó tìm hiểu sự tác động của chất lượng nhà ở đến đời sống sinh hoạt cũng như học tập của sinh viên

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể cung cấp thông tin sơ cấp cho đề tài nghiên cứu là 240 sinh viên tại một số trường trên địa bàn Tp.HCM, ngoài ra khách thể của đề tài còn có các đơn

vị nhà trường mà các sinh viên đang theo học, chính quyền địa phương nơi sinh viên đang tạm cư, và người dân đang cho sinh viên thuê nhà

3.3 Giới hạn phạm vi khảo sát

Địa điểm được chọn để nghiên cứu trong đề tài là một số trường Đại học trên địa bàn Tp HCM

4 Nguồn dữ liệu và phương pháp phân tích thông tin

4.1 Nguồn dữ liệu

Nghiên cứu này có kế thừa một số nguồn dữ liệu thứ cấp từ các nghiên cứu trước đó có liên quan; đồng thời và chủ yếu là nguồn dữ liệu từ cuộc điều tra xã hội học độc lập của sinh viên được tiến hành trong tháng 3/2009

4.2 Phương pháp thu thập số liệu

Để đảm bảo tính đầy đủ và xác thực của thông tin, đề tài kết hợp sử dụng các phương pháp chủ yếu sau, cũng là trình tự của quy trình nghiên cứu

Để đảm bảo tính đầy đủ và xác thực của thông tin, đề tài kết hợp sử dụng các phương pháp chủ yếu sau, cũng là trình tự của quy trình nghiên cứu

Bước 1: Lấy ý kiến chuyên gia, thu thập và tóm tắt tài liệu có sẵn

Bước 2: Quan sát tham dự và không tham dự

+ Chọn một số khu nhà trọ điển hình để tiến hành quan sát không tham dự (cơ

sở vật chất phòng trọ, môi trường khu trọ…) Bên cạnh đó do là sinh viên cũng có

Trang 6

cuộc sống đi ở trọ nên bản thân người nghiên cứu đã có điều kiện quan sát, và cảm nhận về đời sống sinh hoạt và quá trình học tập của sinh viên.

+Kết hợp phỏng vấn tự do, chụp hình để chuẩn bị xây dựng các công cụ bảng hỏi

Bước 3: Khảo sát xã hội học (bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc)

+ Đối với bảng hỏi cấu trúc: đề tài sẽ điều tra một mẫu với dung lượng là 240 trường hợp Khách thể là các sinh viên thuộc một số trường đại hoc trên địa ban nghiên cứu của đề tài

Do tính chất của đề tài nghiên cứu nên chúng tôi chọn mẫu và phân chia như sau: phân tầng theo năm học: năm I, năm II, năm III, năm IV và chia đều số trường hợp cho nam và nữ

+ Đối với bảng hỏi bán cấu trúc: chúng tôi phỏng vấn sâu 7 trường hợp (trong

đó có 4 trường hợp là sinh viên đại diện cho 4 trường, 1 cán bộ trong ban điều hành

ký túc xá, 1 chủ nhà trọ, 1 cán bộ phụ trách sinh viên ở các trường)

4.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

- Đối với thông tin định tính: Xử lý bằng tay theo phương pháp phân tích – tổng hợp và so sánh

- Đối với thông tin định lượng: Xử lý bằng phần mềm tin học chuyên dụng trong nghiên cứu xã hội học SPSS Thông tin chủ yếu được phân tích theo phương pháp mô tả thống kê, tổng hợp và so sánh

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trước hết, thông qua đề tài nghiên cứu chúng tôi có cơ hội được làm quen với các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và giúp cho chúng tôi có điều kiện được trải nghiệm thực tế

Tiếp đến đề tài “Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại thành phố Hồ Chí Minh” cho chúng ta thấy được thực trạng về nhà ở của sinh viên hiện nay, tác động của chất lượng nhà ở đến đời sống sinh viên, nhu cầu về nhà ở của sinh viên hiện nay như thế nào? Thực trạng đáp ứng của xã hội đến với nhu cầu nhà ở của sinh viên hiện nay

Trang 7

Đồng thời, đề tài cũng góp phần cho xã hội nói chung, lãnh đạo các cơ quan ban, nghành chức năng, nhà trường, địa phương nơi sinh viên đang sống và học tập nói riêng thấy được thực trạng và nhu cầu về nhà ở của sinh viên để đề ra những chương trình, hành động cụ thể, rõ ràng, chất lượng hơn trong việc chăm lo đến đời sống của sinh viên đặc biệt là vấn đề nhà ở

Đề tài này còn giúp cho sinh viên đặc biệt là các sinh viên ngoại tỉnh nhìn lại vấn đề nhà ở của mình để có hướng điều chỉnh lựa chọn sao cho phù hợp từ đó phục

vụ tốt cho công tác học tập của họ

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.

Ở nước ta hiện nay trong giai đoạn đô thị hóa, hiện đại hóa đất nước, nhà ở đang là vấn đề bức bách, thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, và nó đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết bằng những giải pháp đồng bộ và hiệu quả nhất trong sự

phát triển chung của xã hội Nhà ở là vấn đề kinh tế - xã hội - nghệ thuật và khoa học

kỹ thuật rất rộng lớn, là nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, đồng thời là quyền cơ bản của con người, được nhà nước công nhận và chăm lo thông qua các chính sách, định hướng, hỗ trợ tạo điều kiện để nhân dân tạo lập chỗ ở cho phù hợp với nhu cầu và khả năng Chính vì thế nhà ở là một trong những đề tài mang tính cấp thiết, ở nước ta trong những năm qua có khá nhiều công trình, bài viết

về nhà ở Sau đây chúng tôi xin tiếp cận một số công trình nghiên cứu về nhà ở như:

Trong nhập môn xã hội học đô thị của TS Vũ Quang Hà – Th.S Tạ Minh có

đề cập đến một số khía cạnh xã hội học về vấn đề nhà ở quy hoạch xây dựng và quản

lý đô thị các tác giả có nêu: “Sự biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội đã tác động mạnh đến lĩnh vực nhà ở, quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị Lớp người giàu có, trung bình khá có khả năng hoạt động và chi phối thị trường nhà đất, lực lượng thiết

kế, xây dựng… làm ảnh hưởng đến công tác quy hoạch đô thị Lớp người nghèo phải đương đầu với những khó khăn do giá nhà đất tăng, tạo nên nhiều khu vực nhà ở có

chất lượng thấp kém…” [13, 2002]

Trang 8

Nghiên cứu về nhà ở trong “Phát triển kiến trúc nhà ở tại các đô thị Việt Nam đến năm 2010 03/03/2009” trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước của

GS.TS Nguyễn Mạnh Kiểm Tác giả đã đề cập đến quá trình phát triển kiến trúc nhà

ở đô thị của một số nước phát triển, đang phát triển, đặc biệt là các nước trong khu vực để rút kinh nghiệm, áp dụng cho công tác nghiên cứu phát triển kiến trúc nhà ở tại các đô thị Việt Nam Tiếp đến đánh giá hiện trạng hệ thống các kiểu mẫu nhà ở đã được xây dựng tại các đô thị Việt Nam qua các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng trong đề tài này tác giả cũng nghiên cứu các cơ sở khoa học cho việc

đề xuất tiêu chuẩn, quy chuẩn cho các khu ở, đơn vị ở, căn hộ ở cho các đối tượng ở, các thành phần ở trong các đô thị Việt Nam Nghiên cứu đề xuất các mẫu nhà ở thích hợp áp dụng cho các đô thị hiện tại và các năm tiếp theo cũng như nghiên cứu đề xuất

các chính sách quy định cho nhà ở tại các đô thị Việt Nam [24]

Nhưng trong khi có khá nhiều công trình nghiên cứu về nhà ở và đời sống cho các đối tượng như công nhân, người thu nhập thấp, người nghèo, giáo viên,…nhưng đối với sinh viên thì các nghiên cứu tương tự liên quan còn tương đối hạn chế ở Đây

là một khó khăn trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi Tuy vậy, chúng tôi xin tiếp cận một vài nghiên cứu có liên quan

Trong bài “kích cầu: tập trung cho công nhân và sinh viên”, đăng trên báo lao

động số 29 ngày 15/12/2008, cho biết trọng tâm của gói kích cầu 1 tỉ USD của chính phủ sẽ tập trung cho các dự án cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội cụ thể là: “sau thời kỳ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam đang trải qua thời kỳ khó khăn bởi suy giảm kinh

tế trên bình diện toàn cầu Chính phủ đã nhận định: cần chủ động ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, trong đó thủ tướng chính phủ chỉ đạo, trong giai đoạn này cần có những khởi động nhằm kích cầu về đầu tư và kích cầu tiêu dung Trong đó Bộ KH-ĐT đề xuất gói kích cầu cho các dự án kết cấu hạ tầng để vừa kích cầu đầu tư, đẩy mạnh tăng trưởng; đồng thời tập trung xây dựng các dự án nhà ở xã hội hướng đến đối tượng có nhu cầu lớn về nhà ở hiện nay là công nhân trong các KCX, KCN; học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, đồng thời tác giả cũng nêu lên một khó khăn là: mặc dù hiện nay đã có quy hoạch dành cho công nhân các KCX, KCN; nhà ở cho

Trang 9

HSSV, nhưng nguồn vốn đầu tư rất eo hẹp và không có cơ chế để các doanh nghiệp

bỏ tiền đầu tư cho các khu vực này Vì thế Với nguồn vốn kích cầu của chính phủ chúng tôi kiến nghị dành một phần thích đáng cho khu vực này, đồng thời đề xuất cơ chế hỗ trợ như cho người lao động, HSSV vay vốn không có lãi; nhà đầu tư các dự án

sẽ được hưởng cơ chế như miễn tiền sử dụng đất, vay vốn không phải trả lãi và có một số cơ chế “dài hơi”… [8, 2008]

Cũng đề cập đến vấn đề nhà ở của sinh viên trong bài viết “Nhọc nhằn chỗ trọ sinh viên” của Duy Thịnh, tác giả cho rằng sinh viên có nhu cầu rất lớn về chỗ ở,

việc đầu tư xây dựng nhà ở cho sinh viên hiện nay là một việc cấp bách Trong quá trình nhọc nhằn tìm chỗ trọ của mình, sinh viên vẫn rất trong chờ vào việc xã hội hóa trong xây dựng các khu ký túc xá được phát triển sâu rộng Ở đây tác giả đã nêu ra thực trạng là tại Tp HCM có khoảng 130 trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp với số sinh viên khổng lồ, trong đó có 80% sinh viên là người ngoại tỉnh, tạo ra một sức ép lớn về chỗ ở, nhà trọ Tuy nhiên, chỉ số ít sinh viên may mắn được ở trong làng sinh viên và ký túc xá hoạc tìm được chỗ ở phù hợp Và nguồn lực quan trọng giải quyết nơi ở cho sinh viên là từ các doanh nghiệp cũng đang gặp nhiều trở ngại lớn: giá vật liệu tăng, lãi xuất ngân hàng cao Nếu phải đi vay ngân hàng để xây dựng nhà và thu mỗi sinh viên 200.000 đồng/tháng thì nguồn thu cũng chỉ vừa đủ trả lãi, trong lúc đó, đầu tư cho chung cư cao tầng, khách sạn, nhà biệt thự chắc chắn

sẽ thu lời nhanh hơn nên các doanh nghiệp tỏ ra không mạn mà với việc xây dựng nhà ở cho sinh viên Vì vậy trong khi chính sách xây dựng nơi ở cho sinh viên chưa thu hút được các doanh nghiệp thì việc giải bài toán nhà ở, ký túc xá sinh viên về căn

cơ lâu dài là phải tư nhân hóa cơ sở hạ tầng giáo dục Để lấy dẫn chúng cho vấn đề này tác giả đã nêu vừa qua, ĐH Quốc gia Tp HCM và công ty cổ phần Hưng Á vừa đưa vào sử dụng và khai thác ký túc xá thuộc ĐH Quốc gia Tp HCM, với 176 phòng, giải quyết cho khoảng 1000 sinh viên Thế nhưng sinh viên ĐH Quốc gia hiện có tới khoảng 20.000, nên cả ký túc xá ĐH Quốc gia và ký túc xá xã hội hóa cũng giải quyết được ½, tức là khoảng 10.000 sinh viên [24]

Trang 10

Đề cập đến vấn đề xây dựng quy chế quản lý nhà trọ, ký túc xá sinh viên trong

bài viết: “Khó có thể, thậm chí không thể xây dựng được quy chế quản lý nhà trọ”

Nội dung bài viết cho biết, khó có thể, thậm chí không thể xây dựng được vì các bộ không trực tiếp quản lý sinh viên vì đó là nhu cầu riêng Hơn nữa phần lớn các trường chỉ đáp ứng 20-30% chỗ ở cho sinh viên còn 70-80% sinh viên tự tìm chỗ trọ bên ngoài do đó rất khó quản lý Tình trạng nhà trọ sinh viên rất phức tạp, lộn xộn, xuất hiện tệ nạn xã hội mà nhà trường, gia đình rất khó quản lý, nóng nhất là hai thành phố lớn Hà Nội, Tp HCM Đồng thời một thực trang đó là nhà trọ khó tìm giá thì cứ nhích lên dù đoàn trường đại học Cửu Long có tư vấn tới chỗ trọ cho tân sinh viên nhưng chỉ giải quyết cho một số nhỏ Sinh viên cứ mãi lao đao về chuyện chỗ ở thì không thể yên tâm học hành Việc xây dựng kí túc xá mới, mở rộng các khu kí túc

xá sẵn có là mong muốn của không ít sinh viên Thiết nghĩ, lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành chức năng, các cơ quan đơn vị trường học cũng nên quan tâm xây dựng kí túc xá cho sinh viên để tạo điều kiện cho sinh viên yên tâm học tập Đó cũng là một cách quan tâm thiết thực hơn đến đời sống và sinh hoạt của sinh viên-những trí thức trẻ trong tương lai không xa [24]

Như vậy các tác giả đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nhà ở đối với con người và đặc biệt là nhóm người có thu nhập thấp trong đó có sinh viên Xã hội ngày càng phát triển thì nhù cầu ở của con người càng nâng cao Nhà ở của con người không chỉ là nơi che nắng che mưa, ngả lưng một giấc để ngày mai còn đi làm tiếp

mà còn là biểu tượng tượng trưng cho đẳng cấp xã hội của người sở hữu ngôi nhà, nó còn hàm chứa cả một cách nhìn về thang bậc bảy yếu tố cơ bản của cuộc sống con người xã hội Ở Việt Nam, trong điều kiện kinh tế đất nước hiện nay vấn đề nhà ở là vấn đề cấp thiết cho nhiều đối tượng trong đó có công nhân và sinh viên nhưng việc đáp ứng các nhu nhà ở của xã hội nhìn chung chưa được chú trọng Dẫn đến đời sống của họ vẫn còn thiếu thốn về nhiều mặt đặc biệt là khía cạnh xã hội

1.2 Cách tiếp cận chính sử dụng trong đề tài

1.2.1 Các lý thuyết áp dụng trong đề tài

1.2.1.1 Hướng tiếp cận vĩ mô

Trang 11

Lý thuyết cấu trúc chức năng (đại diện gồm T Parson và R Merton): Lý thuyết này cho rằng, trong một hệ thống xã hội chứa đựng nhiều tiểu hệ thống với những cấu trúc và chức năng, địa vị, vai trò nhất định Các cấu trúc và chức năng có trật tự phụ thuộc và biến đổi lẫn nhau Đồng thời để tồn tại một hệ thống hay thiết chế xã hội nhất định thì nó phải có một cơ cấu vận hành tương thích, sự hỗ trợ cần thiết từ các thiết chế, tác nhân hành động khác [9, 2002]

Khác với đối tượng khác, chỗ ở của sinh viên không những là nơi diễn ra đời sống sinh hoạt (ăn, ở, ngủ, nghỉ) mà còn là nơi sinh viên tự học tập, tự nghiên cứu sau những giờ lên lớp lên giảng đường, đồng thời là nơi sinh viên rèn luyện sức khỏe sau những giờ học tập căng thẳng, tạo điều kiện cho sự phát triển về trí tuệ và đảm bảo kết quả học tập, cũng như nhân cách Trong đề tài này, lý thuyết cấu trúc chức năng được áp dụng để phân tích về vai trò của nhà ở đối với đời sống sinh viên và phân tích mối tương quan giữa các chủ thể chức năng (các cơ quan ban, nghành chức năng, các cơ quan đơn vị trường học) và vai trò đáp ứng nhu cầu ở cho sinh viên

1.2.1.2 Hướng tiếp cận vi mô

- Lý thyết lựa chọn hợp lý (Coleman): Hệ thống xã hội phải được lý giải bởi các yếu tố nội tại, cá nhân, trong đó các hành động của các cá nhân luôn hướng tới một mục đích, mục tiêu nhất định Mục tiêu đó (hành động) được định hình bởi giá trị, sở thích vì vậy các cá nhân cần có sự lựa chọn hợp lý giữa các mục tiêu trong phạm vi đi từ sự lựa chọn cá thể đến sự lựa chọn tập thể một cách có hệ thống [9, 2002]

Lý thuyết này được vận dụng nhằm phân tích: Việc sinh viên lựa chọn nhà ở thường dựa vào các tiêu chí: giá cả, chất lượng nhà ở; các mối quan hệ (đồng hương,

bà con, bạn cùng lớp, )… sao cho phù hợp với hoàn cảnh gia đình, cũng như phục

vụ tốt cho công tác học tập

- Lý thuyết hành vi (Homan): Hay còn gọi là lý thuyết hộp đen của Homan Theo ông, hành vi của con người phát sinh từ môi trường Chính môi trường tác động lên hành vi của con người tạo nên sự kích thích con người phản ứng Và hành vi con

Trang 12

người tác động ngược trở lại môi trường và từ đó lại tạo ra những hành vi khác của con người Môi trường này chủ yếu là môi trường xã hội [9, 2002]

Sơ đồ lý thuyết hộp đen của Homan như sau:

Lý thuyết này được vận dụng trong đề tài nhằm giải thích sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, chính sách nhà nước, đia phương… ảnh hưởng đến thực trạng nhà ở cũng như đời sống của sinh viên Nó còn phản ánh thực trang đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu ở của sinh viên hiện nay

.1.2.2 Một số cách tiếp cận cụ thể vấn đề nhà ở của sinh viên

1.2.2.1.Tiếp cận hệ thống

Hệ thống ở đây được hiểu là tổng hòa các thành tố, các thành phần, các bộ phận và các mối quan hệ giữa chúng theo một kiểu nào đó tạo thành một cấu thể toàn vẹn và hoàn chỉnh

Dù xem xét ở góc độ vi mô hay vi mô, xã hội bao giờ cũng tồn tại trong sự toàn vẹn hoàn chỉnh theo một cấu trúc của nó, mỗi sự kiện hiện tượng hay quá trình

xã hội của chủ thể xã hội cấu thành nên hệ thống xã hội đều nằm trên sự phụ thuộc lẫn nhau theo một cách chặt chẽ, mỗi yếu tố riêng lẻ chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong một tổng thể Tương tự như vậy, các mối quan hệ tương tác cơ cấu và trạng thái của

hệ thống cũng phải được đặt trong một tổng thể nếu muốn hiểu rõ các mối quan hệ này

Đề tài “Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại thành phố Hồ Chí Minh” xem xét đời sống của sinh viên như một tiểu hệ thống trong thể thống nhất

của một hệ thống lớn là hệ thống xã hội thành phố Hồ Chí Minh

Với tư cách là một bộ phận trong tổng thể xã hội hoàn chỉnh, đời sống của sinh viên có mối quan hệ qua lại, gắn bó chặt chẽ với đời sống của các thành phần khác trong xã hội như: công nhân, người dân địa phương, và cơ quan chính quyền nơi

họ đăng tạm trú… ở nhiều khía cạch khác nhau về kinh tế, văn hóa, an ninh, sức khỏe…và sự kết hợp này tạo điều kiện cho sinh viên có thể ổn định đời sống của mình cũng như học tập đạt được hiệu quả cao hơn, và chính sự ổn định trong đời

Trang 13

sống của họ cũng góp phần vào sự ổn định và phát triển của phường, quận cũng như toàn thể thành phố.

Xã hội luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống toàn vẹn, xã hội được xem như

là một hệ thống rộng lớn bao chứa các tiểu hệ thống và đến lượt chính các tiểu hệ thống lại chứa các tiểu hệ thống nhỏ hơn nằm trong hệ thống lớn khác, các bộ phận trong từng tiểu hệ thống đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau theo một kiểu cấu trúc định chính, vì vậy mỗi sự thay đổi của các bộ phận hay cấu trúc của hệ thống đều dẫn tới việc thay đổi của cả hệ thống đó

Là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống lớn là xã hội thành phố Hồ Chí Minh nên đời sống của sinh viên chịu sự tác động của sự thay đổi và phát triển của thành phố ở cả tầm vi mô và vĩ mô, nó chứa đựng hai dạng hoạt động chính là hoạt vật chất (học tập, sinh hoạt) và hoạt động tinh thần, các dạng hoạt động này chịu sự tác động của xã hội, đó có thể là quá trình CNH-HĐH đất nước, đó có thể là quá trình đô thị hóa và những chính sách giáo dục, xã hội với sinh viên… và các dạng hoạt động đều

có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Các dạng hoạt động vật chất và tinh thần giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của họ, sự biến đổi của các hoạt động này dẫn đến sự biến đổi của các hoạt động khác và ngược lại.Vì vậy tìm hiểu về đời sống sinh viên cần tìm hiểu mối liên hệ và sự tác động qua lại giữa các hoạt động trong đời sống của họ

1.2.2.2 Tiếp cận lối sống.

Lối sống được xem như một bức tranh toàn vẹn về cuộc sống của các cá nhân trong những điều kiện lịch sử cụ thể, nhất định Lối sống là một phạm trù thống nhất các nhân tố chủ quan và khách quan của điều kiện sống Nhân tố khách quan bao gồm điều kiện tự nhiên (địa lý, sinh học, sinh thái) và điều kiện xã hội (kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội, văn hóa - xã hội); nhân tố chủ quan bao gồm những nhân tố thuộc về tình cảm, quan niệm, nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị của con người [16, 2004]

Butenco đã từng nói: “lối sống là tổng hòa các phương thức hoạt động của cá nhân, nhóm xã hội hoặc toàn thể xã hội, được quy định trước hết bởi phương thức

Trang 14

sản xuất, mức sống, tổng hòa các điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử xã hội, hay bởi các định hướng giá trị… lối sống cho chúng ta biết con người sống như thế nào? Làm gì?

Và làm vì những mục đích gì?” [19, 2004]

Theo tiến sĩ M.N Rút-kê-vích thì “lối sống là một tổng thể, một hệ thống, những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội mà cụ thể là điều kiện sống, môi trường xã hội đô thị trong tiến trình phát triển xã hội hiện nay”,

vì vậy khi tìm hiểu về lối sống của sinh viên chúng ta phải đặt họ trong mối tương quan với các điều kiện chủ quan và điều kiện khách quan [19, 2004]

Khi lý giải về lối sống, người ta thường dựa trên việc tìm hiểu các lĩnh vực hoạt động sống của cá nhân, các nhóm, các dân tộc… để có thể làm nổi bật lên những đặc trưng trong lối sống của họ, và các hoạt động sống đó được xem là nền tảng cho

cơ cấu của lối sống đó, nó bao gồm lĩnh vực học tập, sinh hoạt, các hoạt động chính trị- xã hội và văn hóa – xã hội

Trong đề tài nghiên cứu này, tìm hiểu về lối sống của sinh viên là tìm hiểu các hoạt động sống của họ trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay, cụ thể là điều kiện kinh tế xã hội Tp HCM hiện nay, và các vấn đề đó bao gồm các hoạt động sinh hoạt, học tập, các hoạt động tinh thần, các hoạt động quan hệ… các hoạt động này đang bị chi phối và tác động bởi các biến đổi xã hội, trong quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ ở Tp HCM và trong bối cảnh CNH và HĐH ở nước ta hiện nay

1.4 Mô hình phân tích và các giả thuyết nghiên cứu

1.4.1 Mô hình phân tích:

Nhu cầu nhà ở

Trang 15

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên những cơ sở lý thuyết đã nêu ở trên, nghiên cứu của đề tài sẽ đi kiểm chứng một số giả thuyết như sau:

Thứ nhất: Hiện nay nhu cầu nhà ở của sinh viên là rất lớn, mặc dù vấn đề này

đang nhận được sự quan tâm từ nhiều phía (nhà trường, các cơ quan chức năng…), nhưng thực tế xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu ở của sinh viên Xây dựng ký túc xá cho sinh viên là một giải pháp lâu dài và một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học, cao đẳng trong thành phố, tuy nhiên số lượng các ký túc xá hiện nay vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của sinh viên

Thứ hai: Có nhiều yếu tố tác động đến sự lựa chọn nhà ở của sinh viên nhưng

các yếu tố về mối quan hệ xã hội như đồng hương, bà con họ hàng, bạn bè cùng

Mức

độ đáp đáp ứng

Nhà trường sinh viêntheo họcĐịa bàn nơi sinh viên sinh sống

Xã hội

Điều kiện sinh hoạt

Quan hệ cộng đồngĐời sống học tập của

sinh viên

Trang 16

trường cùng lớp là một trong những yếu tố quan trọng trong tiêu chí chọn chỗ ở của

họ Do nhu cầu cuộc sống và học tập phần lớn sinh viên khó có thể có được chỗ ở ổn định và có nhiều lý do để sinh viên chuyển nơi ở

Thứ ba: Như vậy giả thuyết thứ ba của chúng tôi được kiểm chứng: Đa số nhà

trọ của sinh viên hiện nay có điều kiện sinh hoạt thiếu thốn và thấp kém vẫn chưa thể đảm bảo một chỗ học tập, nghỉ ngơi tốt nhất cho sinh viên Chính vì thế mà chất lượng đời sống vật (sinh hoạt) của họ vẫn chưa cao

Thứ tư: Trong mối quan hệ cộng đồng, hầu hết sinh viên có mối quan hệ thân

thiết với bạn cùng phòng, nhưng lại có mối quan hệ bình thường với chủ nhà trọ, người dân địa phương… nơi họ ở

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

1.1 Giới tính, nơi sinh và năm theo học, và tình trạng kinh tế gia đình

Trong đề tài, đối tượng khảo sát là nam và nữ chiếm tỉ lệ ngang nhau là 50%

Vì đề tài có tiến hành phân tầng giới tính theo từng năm học và theo từng trường

Biểu đồ 2.1: Nơi xuất cư

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

Đa số sinh viên là đối tượng khảo sát của đề tài được sinh ra và lớn lên ở Duyên Hải Miền Trung chiếm tỉ lệ 31.7% Tiếp đến là Đông Nam Bộ chiếm tỉ lệ 27.9%, Tây Nguyên (17.1%), Tây Nam Bộ (13.7%) và ít nhất là ở miền Bắc (4.2%)

Trang 17

Điều này cho thấy rằng sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn nghiên cứu đến từ khắp vùng miền khác nhau của tổ quốc (Xem biểu đồ 1.1)

Trong số 240 trường hợp nghiên cứu thì thì có sự phân bổ đồng đều giữa các năm theo học, từ năm nhất đến năm tư là 25%

Để tìm hiểu thực trạng nhà ở của sinh viên, có hay không mối quan hệ giữa tình trạng nơi ở, tình trạng kinh tế gia đình sự lựa chọn nhà ở của sinh viên, đề tài cũng tiến hành tìm hiểu tình trạng nơi ở, tình trạng kinh tế gia đình của đối tượng khảo sát: Có 75.8% sinh viên xuất thân từ gia đình bình thường (đủ ăn, đủ mặc và chi trả cho cuộc sống), có tới 13.8% xuất thân từ gia đình khó khăn, 9.6% xuất thân từ gia đình khá và chỉ có 0.8% xuất thân từ gia đình giàu (2 trường hợp) Tuy không có tiêu chí cụ thể để đánh giá từng mức độ nhưng kết hợp với một vài câu hỏi khác như

số tiền gia đình gửi và các phương tiện đồ dùng sinh hoạt hiện có cũng thấy được sự chênh lệch về mức sống của những sinh viên là đối tượng khảo sát của đề tài (Xem phụ lục bảng 1.1)

1.2 Tiền gia đình gửi hàng tháng và tiền sinh viên tự kiếm

Hàng tháng, ngoài tiền học phí, sinh viên còn nhân được số tiền hàng tháng từ

gia đình gởi lên để trang trải cho cuộc sống sinh hoạt và học tập Kết quả khảo sát cho thấy số tiền trung bình hàng tháng sinh viên nhận 1.333.000 đồng/1 sinh viên/1 tháng, số tiền thấp nhất mà sinh viên được gửi từ gia đình là 500.000 đồng/ sinh viên/1 tháng, mức cao nhất là 2.500.000 đồng/1 sinh viên/1 tháng Đa số sinh viên thuộc địa bàn nghiên cứu được gia đình gửi từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng chiếm 45.4% Mức ít nhất là dưới 700.000 đồng chiếm 5.8% Từ 7.00.000 đồng đến 1.000.000 đồng là 30.8% (74 trường hợp) Trong tổng 240 người trả lời, số sinh viên được gia đình gửi trên 1.500.000 đồng hàng tháng chiếm tỉ lệ 17.9% (Xem bảng 1.1)

Bảng 1.1: Tiền gia đình gửi hàng tháng

Trang 18

Từ 1 triệu đến 1 triệu rưỡi 109 45.4

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

Ngoài khoản tiền gia đình gửi hàng tháng, sinh viên còn đi làm thêm để có thêm nguồn thu nhập trang trải cho cuộc sống học tập và sinh hoạt thường ngày của mình Trong tổng số 240 sinh viên thì có 61 sinh viên đi làm thêm (25.4%) Trung bình mỗi tháng sinh viên kiếm được 743.000 đồng, số tiền mà sinh viên kiếm được ít nhất là 200.000 đồng, mức tiền cao nhất là 2500.000 đồng/ 1 sinh viên / 1 tháng Trong 61 người có đi làm thêm thì có 50.8% có thu nhập từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng hàng tháng, 37.7% có thu nhập từ 500.000 đồng đến 1000.000 đồng

Có 2 trường hợp có thu nhập trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng chiếm 3.3% Thu nhập trên triệu rưỡi có 5 trường hợp chiếm 8.2% (Xem bảng 1.2)

Bảng 1.2: Tiền sinh viên tự kiếm (làm thêm)/đơn vị đồng

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

2 Vấn đề nhà ở của sinh viên

2.1 Vai trò của nhà ở

Nhà ở là vấn đề kinh tế - xã hội - nghệ thuật và khoa học kỹ thuật rất rộng lớn,

là nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, đồng thời là quyền cơ bản của con người, nó còn hàm chứa cả một cách nhìn về thang bậc bảy yếu tố cơ bản của cuộc sống con người xã hội, được nhà nước công nhận và chăm lo thông qua các chính sách, định hướng, hỗ trợ tạo điều kiện để nhân dân tạo lập chỗ ở cho phù hợp với nhu cầu và khả năng,

Do có mối quan hệ mật thiết của nhà ở đối với đời sống gia đình và với cơ

cấu xã hội, nó là rường cột của sự ổn định xã hội, liên quan đến phúc lợi xã hội và sự thỏa mãn của các nhóm Việc cung cấp nhà ở sẽ phản ánh hệ thống xã hội cơ bản của

Trang 19

quốc gia Vì vậy chính bản chất tự nhiên của nhà ở làm cho nó mang tính chính trị, và

do đó bị chi phối bởi những áp lực chính trị trên tất cả các bình diện sản xuất, tài chính và tiêu thụ Nhà ở biểu hiện bầu không khí chính trị và kinh tế của một xã hội cũng như trên bất kỳ bình diện nào của đời sống của quốc gia [12, 2004]

Nhà ở đô thị luôn là một vấn đề lớn, có ý nghĩa kinh tế - chính trị và xã hội quan trọng trong sự phát triển của một đô thị và của mỗi quốc gia Giải quyết thành công vấn đề này sẽ liên quan đến và tác động đến tới nhiều vấn đề kinh tế-xã hội khác Đặc biệt khi nước ta trong những năm qua dưới tác động của đường lối đổi mới, có thể nhận định rằng mọi sự thay đổi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đều bắt nguồn từ một sự thay đổi cơ bản nhất: chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ

kế hoạch hóa bằng mệnh lệnh hành chính sang phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bước chuyển căn bản này không chỉ tạo lập một cơ chế thị trường bao trùm lên mọi lĩnh vực mà đồng thời cũng tạo ra vô số các thị trường hàng hóa khác nhau Trong số các thị trường này, phải kể đến thị trường nhà đất, thị trường bất động sản Nhà ở đã trở thành một trong những loại hàng hóa đắt giá nhất [12, 2004]

Có thể đặt câu hỏi: vậy ta đã có một thị trường nhà ở chính thức hay chưa? Và chưa có thì khi nào sẽ có cơ chế hoạt động Sự điều tiết và can thiệp của nhà nước sẽ

dưới hình thức nào? Và một khi đã nói đến thị trường thì không thể bàn đến cung và cầu của loại hàng hóa này Chúng ta đã biết gì và làm gì để nắm bắt được hai yếu tố

quan trọng sống còn này của thị trường nhà ở tại các đô thị Cung hiện đòi hỏi ở mức nào, tính đa dạng của nó ra sao?Tiếp đó, để có cung lại cần có xuất, cần có các đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất nhà ở, các khu vực sản xuất nhà ở (nhà nước, tư nhân, liên doanh, cá thể hộ gia đình…) [12, 2004]

Và nhà ở của sinh viên cũng là một bộ phận của nhà ở đô thị, nhà ở của sinh viên cũng là một loại hàng hóa, một loại hàng hóa đặc biệt là bộ phận của nhà ở đô thị có tác động đến sự phát triển và ổn định đô thị Hiện nay nhu cầu nhà ở sinh viên

ở mức nào, xã hội đáp ứng ở mức nào? Sau đây sẽ là một số kết quả mà chúng tôi thu thập được

Trang 20

2.2 Nhu cầu nhà ở và chính sách của nhà nước về nhà ở

2.2.1 Nhu cầu nhà ở của sinh viên.

Thực trạng các nhà trọ, ký túc xá:

Hiện nay trên địa bàn Tp HCM có hơn 90 trường Đại học, cao đẳng với hơn 350.000 sinh viên đang học tập Trong số đó chiếm khoảng 70% là học sinh sinh viên ngoại tỉnh có nhu cầu về chỗ trọ; như vậy là có khoảng 230.000 học sinh sinh viên đang cần chỗ trọ hiện nay [1, 2009, 8]

Nâng cao điều kiện sống cho sinh viên là việc quan trọng và rất cần thiết, cần được sự quan tâm từ nhiều phía Trong lúc các trường đại học và cao đẳng trên thành phố chưa có đủ ký túc xá thì việc sinh viên thuê nhà ở ngoài nhà dân cũng là điều tất yếu Người dân đã gánh vác một phần trách nhiệm trong sự nghiệp chung của đất nước, thiết nghĩ các trường đại học cao đẳng và chính quyền thành phố cần có một chính sách phù hợp trong việc giải quyết bài toán nhà ở cho sinh viên nói chung và sinh viên khối ngoài công lập nói riêng

Hiện nay, trong các trường ngoài công lập chỉ quan tâm đến vấn đề hỗ trợ sinh viên trong việc tìm kiếm nhà trọ nhưng chỉ dừng ở việc giới thiệu nên hiệu quả không cao Nhưng công tác theo dõi và giám sát là chưa có mà hoàn toàn buông lỏng trong việc quản lý sinh viên ngoài giờ lên lớp ở giảng đường (Trong năm 2004, đại học dân lập Văn Lang là 1.200 sinh viên có nhu cầu tìm chỗ trọ trong tổng số 7500 sinh viên của trường nhưng trường cũng chỉ giải quyết được cho 60 sinh viên chiếm tỷ lệ 0.8% Đại học dân lập Hùng Vương giới thiệu được 200 địa chỉ, cao đẳng bán công Marketing 100 chỗ, năm 2008 Đại học Văn Hiến giới thiệu được khoảng 613 chỗ…)

Ký túc xá - giải pháp tốt nhất cho sinh viên trong thành phố hiện nay Xây dựng ký túc xá cho sinh viên là một giải pháp lâu dài và một trong nhiệm vụ trọng tâm của các trường Đại học, cao đẳng trong thành phố nhưng số lượng các ký túc xá hiện nay vẫn còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của sinh viên

Hiện nay trên toàn thành phố có khoảng trên 40 ký túc xá của các trường đại

học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Trong đó, riêng khu vực đại học Quốc gia

Tp HCM có khoảng 30.000 sinh viên đang theo học Tiếp tục chủ trương kêu gọi đầu

Trang 21

tư từ địa phương, năm 2004 vừa qua các tỉnh Tây Ninh, Bình Thuận, Khánh Hoà, Bình Phước tham gia xây dựng thêm 4 đơn nguyên ký túc xá, hai trong số này đã được đưa vào sử dụng trong năm học 2004 - 2005 Tính đến nay khu ký túc xá Đại học quốc gia đã có 11 toà nhà (1 của Đại học Quốc gia TP.HCM xây, 2 của UBND TPHCM tặng, 8 của các tỉnh thành gồm Vũng Tàu, Vĩnh Long, Bến Tre, An Giang, Bình Thuận, Khánh Hoà, Tây Ninh, Bình Phước xây dựng ký túc xá được gần 46.000

m2 sàn với tổng kinh phí hơn 80 tỷ đồng Giải quyết được 5.200 chỗ ăn ơ, sinh hoạt cho sinh viên thuộc các trường thành viên với giá thuê là 50.000đ/1 sinh viên/1 tháng

Trường Đại học Bách khoa Tp HCM đã tiến hành dự án xây dựng ký túc xá trên nền ký túc xá cũ với kinh phí xây dựng 80 tỷ đồng, và đã hoàn thành vào năm

2008 Trường Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh có dự án xây dựng

ký túc xá với sức chứa 2500 chỗ khu vực Thủ Đức

Chính phủ vừa phê duyệt dự án xây dựng ký túc xá Đại học Quốc gia Tp HCM từ nay đến năm 2020 với tổng số vốn đầu tư là 6.808 tỷ đồng, gồm hệ thống trung tâm điều hành trường học, thư viện, sân chơi theo tiêu chuẩn quốc tế phục vụ tốt nhu cầu ăn ở, học tập giải trí cho khoảng 60.000 sinh viên Ngày 6/5 ký túc xá đầu tiên nằm trong chương trình xây dựng 100.000 chỗ ở cho sinh viên của Chính phủ tại

Tp HCM đã được khởi công xây dựng tại khu quy hoạch Đại học Quốc Gia Tp HCM có tổng diện tích xây dựng 590m2, phục vụ 560-580 sinh viên Ngoài 117 phòng Ký túc xá còn có các công trình phụ như: phòng giặt ủi, phòng để sinh viên tự hâm nóng đồ ăn thức uống, phòng thu rác, hệ thống phòng cháy chữa cháy, phòng xem truyền hình, khu vui chơi thể thao…[24]

Nhưng tính cả các dự án Ký túc xá mà các trường hiện nay đang xây thì chỉ mới chỉ đáp ứng được hơn 17% nhu cầu chỗ ở của sinh viên Theo PGS TS Thái Bá Cần – Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm kỹ thuật cho biết “chúng ta chưa đầu tư cho ký túc xá đúng mức Cái khó chung là thiếu kinh phí” Những điều kiện ăn ở, sinh hoạt lý tưởng như trên chỉ đáp ứng một số lượng nhỏ nhu cầu của sinh viên các trường công lập, còn các trường ngoài dân lập thì sinh viên không còn cách nào khác hơn là dựa vào nhà trọ của dân

Trang 22

Nhu cầu nhà ở của sinh viên là rất cao biểu hiện cụ thể hiện nay vấn đề đang nhận quan tâm từ nhiều phía: nhà nước, cơ quan ban ngành chức năng, đặc biệt là chính bản thân của những sinh viên Cụ thể như sau:

Về phía nhà nước: Theo số liệu của Cục quản lý nhà (bộ Xây dựng), mỗi năm

diện tích nhà ở tăng thêm khoảng 30 triệu m2, riêng trong năm 2008 con số này là 50 triệu m2 Tuy nhiên, thị trường nhà ở chỉ chú trọng vào nhóm nhà ở cao cấp, chưa đáp ứng được nhu cầu ở của những người đang có mức số thấp, trong khi nhu cầu nhà ở của người dân ngày càng tăng Chỉ tính riêng khối sinh viên, trong khoảng 600 trường đại học và cao đẳng, dự kiến đến năm 2015, tổng số sinh viên có thể lên đến

con số gần 3 triệu [25]

Nhận thức được vai trò cũng như thực trạng và nhu cầu nhà ở của sinh viên hiện nay Chính vì thế, Quyết định của Chính phủ lần này sẽ tập trung đẩy mạnh xây nhà cho sinh viên thuê theo hướng xây dựng tập trung thành các cụm công trình Dự kiến ở Hà Nội sẽ xây dựng ở Hà Đông, và ở TP.HCM xây dựng phía Tây Bắc Nguồn vốn xây dựng sẽ huy động từ trái phiếu Chính phủ, ngân sách hàng năm của các địa phương, ngân sách địa phương trích từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

Trong 2 năm 2009-2011, Nhà nước sẽ đầu tư xây khoảng 200.000 chỗ ở cho sinh viên thuê, đến năm 2015 có thể đáp ứng được 60% chỗ ở cho sinh viên Chính phủ vừa ban hành Nghị Quyết số 18/NQ-CP ngày 20/4/2009 về cơ chế, chính sách cho chương trình nhà ở cho sinh viên, công nhân và người thu nhập thấp, cùng với ban hành Quyết định số 65/QĐ-TTg ngày 24/9/2009 về phát triển nhà ở cho sinh viên [24]

Quỹ đất xây dựng nhà ở cho sinh viên được xác định thông qua việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và được xây tập trung thành một khu, cụm các trường Đại học, Cao đẳng phù hợp với quy hoạch Có thể sử dụng quỹ đất 20% tại các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị để xây nhà cho sinh viên nếu hợp quy hoạch Nhưng đến năm 2015 cũng có thể đáp ứng được 60% chỗ ở cho sinh viên

Trang 23

Đối với thành phố Hồ Chí Minh: Lao động nhập cư và sinh viên các nơi khác

đến Tp HCM để học đã tạo nên 1 áp lực lớn cho chính quyền thành phố trong việc giải quyết chỗ ở, công ăn việc làm, lưu thông hàng hoá cũng như các vấn đề về an sinh xã hội Chính quyền thành phố có nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề này như: xây dựng nhà ở, xây dựng ký túc xá, mở rộng ĐH Quốc gia, cung cấp một số diện tích đất để di dời ra khỏi trung tâm thành phố Một trong những nội dung của chủ trương xã hội hoá giáo dục là huy động tài chính và con người để giải quyết vấn đề nhà ở cho sinh viên

“Thành ủy, UBND TP xác định Chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên là công tác trọng tâm trong Chương trình phát triển nhà ở trên địa bàn thành phố từ nay đến 2010 cũng như các năm tiếp theo…” Đó là kết luận của Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải và Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân [24]

Cụ thể, lãnh đạo Tp thống nhất cơ bản kế hoạch số 1960 (ngày 25.3.2009) của

Sở Xây dựng về triển khai thực hiện Chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên trên địa bàn thành phố; đồng thời giao Đại học Quốc gia Tp.HCM liên hệ các cơ quan chức năng để khẩn trương thực hiện điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500 khu đất dự trữ 5 ha tại khu A và khu B (nằm tại làng đại học Thủ Đức) để đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho sinh viên từ năm 2009 đến 2015 Giao Sở Quy hoạch - Kiến trúc khẩn trương hoàn thiện quy hoạch định hướng quỹ đất cho các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố theo hướng sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, theo từng cụm các trường đại học, không bố trí khu ký túc xá riêng lẻ cho từng trường Trước mắt, lãnh đạo Tp yêu cầu Sở Quy hoạch - Kiến trúc và UBND Q.9 và các cơ quan liên quan làm việc ngay với các trường đại học Luật, Kinh tế, Kiến trúc để xây dựng cụ thể kế hoạch, lịch trình di dời khỏi nội thành; hoàn thiện ngay quy hoạch các trường tại P.Long Phước (Q.9), với diện tích khoảng 16 ha; đồng thời tiến hành công tác xây dựng phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư cho người dân [24]

Lãnh đạo TP thống nhất chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn thành phố do ông Nguyễn Thành Tài, Phó chủ tịch thường trực

Trang 24

UBND TP làm trưởng ban; Giám đốc Sở Xây dựng và Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM làm phó trưởng ban; mời UBND tỉnh Bình Dương làm thành viên Trên cơ

sở ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương tại buổi làm việc với thành phố ngày 14.3.2009, TP giao Sở Xây dựng khẩn trương hoàn thiện

kế hoạch thực hiện Chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên trình UBND TP ban hành kế hoạch trong đầu tháng 4.2009 [24]

Theo kế hoạch của Sở Xây dựng, giai đoạn 2009 - 2010, TP sẽ hoàn thành 28 khối ký túc xá, đáp ứng khoảng 30.000 chỗ ở cho sinh viên (khoảng 7,5m2/chỗ ở), với tổng mức đầu tư 1.229 tỉ đồng (trong đó có 88,7 tỉ đồng do các tỉnh đầu tư); giai đoạn 2011 - 2015 sẽ xây dựng hoàn thành thêm 43 khối ký túc xá, đáp ứng khoảng 70.000 chỗ ở với tổng đầu tư 2.856 tỉ đồng

Nếu cộng thêm khoảng 10.000 chỗ ở cho sinh viên đã được xây dựng trong giai đoạn 2007 - 2009 (tổng vốn đầu tư khoảng 180 tỉ đồng) thì đến năm 2015, Tp sẽ

có khoảng 110.000 chỗ ở cho sinh viên của các trường thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM, như: Bách khoa, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và nhân văn và các trường đại học khác, như: Nông Lâm, Sư phạm kỹ thuật thuộc khu quy hoạch Đại học Quốc gia [24]

Về phía các nhà trường trên địa bàn nghiên cứu: Mặc dù cũng có những sự

cố gắng quan tâm đến đời sống sinh viên đặc biệt là vấn đề nhà ở cho sinh viên nhưng thực tế do nhu cầu sinh viên quá lớn, nên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn nghiên cứu chỉ có thể đáp ứng được lượng nhỏ nhu cầu chỗ ở cho các sinh viên đang theo học tại trường Đa số còn lại là trách nhiệm của dân gần trường và một số khu vực khác

Trường đại học Bách Khoa có 50.000 học sinh sinh viên đang theo học các bậc đào tạo Khánh thành vào tháng 3/2008, Ký túc xá Đại học Bách Khoa Có 307 phòng dành cho sinh viên Việt Nam, tổng sức chứa là 2.456 người Ngoài ra, ký túc

xá còn có 20 phòng ở tầng 11 dành cho sinh viên nước ngoài với sức chứa là 80 người, đầy đủ tiện nghi Như vậy cũng giải quyêt được khoảng 5% chỗ ở trong tổng

số sinh viên của trường

Trang 25

“Năm 2008 – 2009 theo thống kê chưa đầy đủ thì trường Đại học Văn Hiến

có khoảng trên 2000 tân sinh viên theo hoc, năm 2008 – 2009 vừa qua chúng tôi có

tủ chức đợt hỗ trợ tìm và giới thiệu được khoảng 600 chỗ ở cho sinh viên Tức là giải quyết khoảng 25% nhu cầu ở của sinh viên…”

“Tuy nhiên chúng tôi chỉ hỗ trợ cho sinh viên chỗ ở nếu sinh viên nào chịu ở thì thôi, nếu không đồng ý nơi ở đó thì sẽ quay lại trường chúng tôi sẽ giới thiệu cho nơi khác… còn chúng tôi không quản lý về sau việc sinh viên có tiếp tục ở nơi đó hay không”.

(N.T.P chủ tịch hội sinh viên trường Đại học Văn Hiến)

“Hiện trường có 6 cơ sở, trong đó có 3 cơ sở có ký túc xá sinh viện, Cơ sở chính nằm chính tại thành phố Hồ Chí Minh cũng có ký túc xá Ký túc xá hiện có 218 phòng (phòng có diện tích lớn thì cho 24 sinh viên ở, diện tích vừa thì cho 18 sinh viên ở, nhỏ thì có 16 sinh viên), cung cấp khoảng 5.000 chỗ ở cho sinh viên cho tất

cả các đối tượng, ưu tiên cho sinh viên năm nhất và sinh viên nữ… nhu cầu khoảng 15.000 sinh viên, như vậy chỉ đáp ứng khoảng 1/3 nhu cầu của sinh viên”.

(Thầy Hà, trưởng ban quản lý ký túc xá Đại học Công nghiệp)

Về phía sinh viên: Qua khảo sát ý kiến của sinh viên chúng tôi thấy rằng hiện

nay nhu cầu nhà ở đang trở nên bức thiết đối với sinh viên, nó phản ánh chính nhu cầu của họ chính vì thế họ rất quan tâm đến vấn đề này có 92.9% sinh viên trong mẫu nghiên cứu quan tâm đến nhu cầu nhà ở của họ và có 79.4% trong số họ cho rằng nhu cầu nhà ở của sinh viên rất cao Ngoài ra, họ còn cho rằng thực tế xã hội (nhà trường, địa phương, các đơn vị chức năng…) chưa có sự quan tâm đúng đắn cũng như chua đáp ứng được nhu cầu của họ Qua khỏa sát ý kiến của sinh viên thì có 80% sinh viên cho rằng xã hội chưa đáp ứng đủ cũng như chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề nhà

Trang 26

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng hiên nay nhu cầu nhà ở của sinh viên rất cao Tuy nhiên nhà nước, các cơ quan chức năng, các đơn vị trường học chưa có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề này Chính vì thế mà chưa thể đáp ứng được nhu cầu nhà ở của sinh viên

2.3.Thực trạng nhà ở của sinh viên

Trong 240 đơn vị mẫu mà chúng tôi tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi thì có

209 sinh viên chiếm tỉ lệ 87.1% ở phòng trọ, nhà thuê, ký túc xá Trong đó ở trọ chung với chủ là 24.2%, nhà trọ biệt lập là 29.6%, ký túc xá là 33.3% Có12.9% số sinh viên là ở nhờ nhà người quen, họ hàng (Xem bảng 2.1)

Bảng 2.1: Tình trạng nơi ở

Tình trạng nơi ở

Trường hợp

Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ tích lũy (%)

Ở tại gia đình bà con, họ hàng (không đóng tiền) 14 5.8 5.8

Ở tại gia đình bà con, họ hàng (đóng tiền) 17 7.1 12.9

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

2.3.1.Vấn đề lựa chọn chỗ ở của sinh viên.

2.3.1.1.Tiêu chí lựa chọn nơi ở.

Nếu là những người dân địa phương ở ngay Tp HCM thì có lẽ ít khi nào ra thuê ở riêng, trừ những ai không muốn tự lâp hay sống xa nơi làm việc Tuy nhiên, đối với sinh viên tỉnh đến đây thì một trong những thích nghi phải trải qua đầu tiên là cuộc sống nhà trọ, và mong muốn có chỗ ở ổn định hay nói cách khác lựa chọn được nơi ở phù hợp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chi phối tùy thuộc vào nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài như mối quan hệ, thời điểm, điều kiện nơi học, điều kiện nơi ở, điều kiện kinh tế gia đình

Tiêu chí thứ nhất khiến sinh viên chọn nơi ở là mối quan hệ xã hội như đồng hương, người quen biết họ hàng, bạn bè là một trong những yếu tố tác động đến vấn

đề lựa chọn chỗ ở của sinh viên Trong cuộc sống, ngoài những mối quan hệ gia đình,

Trang 27

người thân… thì mối quan hệ cộng đồng cũng rất quan trọng đối với sinh viên Xa nhà, xa người thân thì những người bạn, không ai khác chính những người bạn cùng lớp cùng trường, bà con họ hàng, cùng quê sẽ là những người chia sẻ, thông cảm và giúp đỡ họ trong học tập cũng như trong cuộc sống Vì thế qua kết quả nghiên cứu chúng tối thấy rằng đa số sinh viên hiện nay đang sống cùng bạn cùng lớp và cùng trường 38.1%, tiếp đến là 35.6% sinh viên sống với người thân hay bà con họ hàng, 18.1% là sống với người cùng quê (Xem bảng 2.2)

Bảng 2.2: Hiện nay sinh viên đang sống cùng

Người sinh viên sống cùng Trường hợp Tỉ lệ (%)

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

“Mình ở cùng bạn đồng hương, là bạn thân của mình ở ngoài quê, chúng mình chơi thân từ nhỏ nên rất hiểu nhau vào đây sống chung với nhau để có gì giúp

đỡ nhau Mình ghét ở với người lạ lắm, sống không hiểu tính nhau nên có xích mích”.

(Sinh viên Nữ, năm 4, Trường Kỹ thuật công nghệ).

Ngoài ra, qua khảo sát chúng tôi thấy rằng khoảng cách gần trường cũng là tiêu chí quan trọng để sinh viên chọn nơi ở Có 26.3% ý kiến trả lời rằng nơi ở hiện tại gần trường nên thuận tiện cho việc đi lại học tập, Có 17.9% ý kiến cho là nơi ở hiện tại có điều kiện sinh hoạt tốt, 17.4% ý kiến là nơi ở hiện tại có giá cả phù hợp, 14.1% là nơi ở gần chợ Ngoài ra các lý do như gần các trung tâm y tế, khu vui chơi giải trí thể thao, không kẹt xe cũng chiếm tỉ lệ đáng kể trong các yếu tố tác động đến việc lựa chọn chỗ ở của sinh viên

“Lý do mình chọn nơi ở hiện tại à? Mình là sinh viên ở tỉnh lên, cũng có người quen nhưng ở xa trường mình muốn kiếm nhà trọ gần trường để đi học cho tiện hơn, bạn biết đấy thành phố mình hay kẹt xe nữa ở gần trường chỉ cần đi bộ qua

Trang 28

trường là được không sợ bị kẹt xe…, Ngoài ra vì mình nấu ăn ở nhà nên mình cần nơi ở gần chợ để mình có thể vừa đi học về vừa đi chợ về nấu ăn cho tiện…”

(Sinh viên nam, năm 3, trường đại học Văn Hiến)

Như vậy ta có thể thấy rằng các yếu tố có ảnh hưởng đến sự lựa chọn nhà ở của sinh viên là yếu tố quan hệ cộng đồng Ngoài ra bị chi phối bởi 2 mục đích là nơi phục vụ tốt cho việc học tập và nơi ở có những điều kiện thuận lợi trong cuộc sống sinh hoạt của sinh viên

2.2.3.2 Số lần chuyển nơi ở

Có chỗ ở ổn định là điều mong muốn của tất cả mọi người nói chung và sinh viên nói riêng Để kiếm được một phòng trọ ưng ý không phải là chuyện dễ Vì thế, việc thay đổi nơi ở là không có gì là xa lạ đối với họ Kết quả điều tra số lần chuyển nơi ở sẽ cho chúng ta thấy điều đó (Xem bảng 2.3)

Bảng 2.3: Số lần chuyển nơi ở của sinh viên

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

Kết quả khảo sát chúng tôi thấy dù ít dù nhiều thì cũng có 69.2% sinh viên là thay đổi nơi ở của mình Ít nhất là một lần, và nhiều nhất là 20 lần, và tần suất trung bình chuyển nhà của sinh viên là trên 3 lần Trong ấy tập trung chủ yếu vào khoảng

từ 3 đến 5 lần và 1 đến 2 lần với tỉ lệ lần lượt là 31.3% và 30%

Hiện nay nhu cầu nhà ở sinh viên đang tăng cao và tình trạng khan hiếm nhà trọ và ký túc xá thì việc kiếm được một nơi ở phù hợp phục vụ tốt cho việc sinh hoạt, học tập và nghỉ nghơi không phải là chuyện đơn giản đối với sinh viên Do nhu cầu cuộc sống và học tập sinh viên khó có thể có được chỗ ở ổn định và có nhiều lý do để sinh viên chuyển nơi ở

Qua khảo sát chúng tôi thấy một trong những lý do chính khiến sinh viên thay đổi nơi ở là nơi ở cũ không phù hợp với nhu cầu cuộc sống và học tập Trong tổng số

Trang 29

165 sinh viên trả lời thì có 39.4% trả lời lý do chuyển nơi ở là chỗ ở cũ không phù hợp, không đủ điều kiện để sinh hoạt và học tập, và có 15.2% sinh viên trả lời chuyển nơi ở vì giá tiền nhà và tiền điện nước sinh hoạt tăng cao

“Tôi cũng thông cảm với hoàn cảnh của sinh viên, nhưng cũng phải tăng giá thuê nhà vì giá cả tiêu dùng hiện nay tăng quá cao Cháu nào chịu được thì ở tiếp, không thì đành phải kiếm chỗ khác…”

(Bà Nguyễn Thị Năm, chủ nhà trọ)

Xây dựng ký túc xá cho sinh viên là một giải pháp lâu dài và một trong nhiệm

vụ trọng tâm của các trường Đại học, cao đẳng trong thành phố nhưng số lượng các

ký túc xá hiện nay vẫn còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của sinh viên Ký túc xá với những điều kiện ăn ở, sinh hoạt lý tưởng đã đáp ứng được nhu cầu về cuộc sống và học tập cho sinh viên chính vì thế có 10.9% sinh viên trả lời lý do họ chuyển nơi ở là

ở ngoài nhà trọ chuyển vào ký túc xá giá cả hợp lý, gần trường, điều kiện học tập và giao lưu tốt hơn Bên cạnh đó có 12.7% trả lởi với là lý do nơi ở cũ của sinh viên xa trường học gây khó khăn cho việc đi lại và học tập Ngoài ra các lý do khác như chuyển nơi học, chuyển đến ở với người thân bạn bè chiếm tỉ lệ thấp

“Tổng cộng là mình chuyển nhà 7 lần”.

Xin bạn cho biết lý do?

“Lần đầu là khi mình mới vào bạn của mình tìm nhà hộ mình phải ở một mình, buồn nên ở được nửa tháng mình chuyển nhà đến ở cùng bạn Lần thứ hai là

do bọn mình thuê nhà nguyên căn lúc đầu ở 9 người nhưng ở được hơn 1 năm thì có

3 anh chị tốt nghiệp ra trường, tiền nhà quá cao nên mình phải kiếm nơi khác để ở Lần thứ 3 là do xung khắc với bạn cùng phòng nên chỉ ở được có 4 tháng Lần thứ 4

là do mình được nghỉ hè 2 tháng nên trả phòng về quê cho đỡ tốn tiền Lần thứ 5 là

do điều kiện an ninh tại nơi ở không an toàn nên mình chỉ ở được có 2 tháng Lần thứ 6 là do xung khắc với bạn cùng phòng hơn nữa chủ nhà lại tăng tiền nhà đột ngột nên mình chuyển đi”.

(Sinh viên Nữ, năm 4, Trường Kỹ thuật công nghệ).

Trang 30

Cũng qua kết quả nghiên cứu, khi xem xét tần suất chuyển chỗ ở thì chúng ta thấy rằng tính ổn định của việc chọn chỗ ở của sinh viên khá cao, chỉ có gần 70% có chuyển chỗ ở Điều này được thể hiện qua phần trả lời của sinh viên trong việc lựa chọn nơi ở hiện tại Bên cạnh đó, chúng tôi thấy rằng có 5.5% ý kiến trả lời rằng vì

họ không kiếm được chỗ nào nên ở đại Điều này có thể lý giải do nhiều lý do nhưng một trong lý do chính đó là sinh viên ngoại tỉnh, thường có tâm lý thụ động chính vì vậy họ không đòi hỏi nhiều, sinh viên chấp nhận điều kiện sống ấy bởi không còn sự lựa chọn nào khác, khi mà điều kiện kinh tế gia đình của đa số sinh viên còn rất khó khăn

Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi cũng thấy sự khác biệt về số lần chuyển nơi

ở và năm sinh viên theo học (Xem bảng 2.4)

Bảng 2.4: Tương quan giữa năm sinh viên theo học và số lần chuyển nơi ở.

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

Chưa chuyển lần nào có 51.7% sinh viên năm nhất, năm hai là 28.3%, năm ba

và năm tư chiếm tỉ lệ ngang nhau 21.7% Chuyển nhà từ 3 đến 5 lần sinh viên chiếm

tỉ lệ cao nhất 40%, tiếp đến là sinh viên năm ba 36.7%, sinh viên năm hai là 30% Số sinh viên chuyển nơi ở trên 5 lần tập trung ở các sinh viên năm ba và năm tư với tỉ lệ lần lượt là 15% và 11.7% còn năm hai và năm nhất chiếm tỉ lệ thấp Qua đó ta nhận thấy sinh viên có năm theo học càng cao thì có xu hướng thay đổi nơi ở nhiều hơn

Nguyên nhân của sự khác biệt là do đa số sinh viên trên địa bàn nghiên cứu là sinh viên tỉnh Mạng lưới xã hội đóng một vai trò quan trong việc tìm kiếm nhà ở Sự giúp đỡ của người khác là một nhân tố có tác động ảnh hưởng lớn đến việc tìm kiếm chỗ ở của sinh viên cũng như thời gian và kinh phí Chính vì thế, có được sự giúp đỡ

Chưa chuyển Từ 1-2 lần Từ 3-5 lần Trên 5 lần Tổng

Trang 31

của người khác như người trong gia đình, họ hàng, bạn bè hay nhà trường… là một thuận lợi lớn đối với sinh viên Đặc biệt là những sinh viên năm nhất và năm hai, rời

xa mái ấm gia đình chuyển đến một địa bàn mới với mọi điều kiện sống sinh hoạt bước đầu còn xa lạ, bắt đầu một cuộc sống tự lập họ phải tự lo toan mọi vấn đề trong cuộc sống của mình Vì vậy sinh viên thường tìm đến sự giúp đỡ từ những người thân và bạn bè với mong muốn họ có thể được giúp đỡ về nhiều mặt đặc biệt là chỗ ở

và cuộc sống sinh hoạt Theo kết quả nghiên cứu cho thấy khi mới lên thành phố có 69.6% sinh viên nhận được sự giúp đỡ trong việc tìm kiếm nhà ở, và 30.3% là tự kiếm nhà ở cho mình Và chủ yếu khi mới lên thành phố sinh viên thường nhận được

sự giúp đỡ từ bạn bè và người thân quen trong gia đình họ hàng của mình 86.8%, và còn lại là được sự giúp đỡ từ nhà trường nơi sinh viên theo học với 13.2% được trung tậm hỗ trợ sinh viên của trường giới thiệu chỗ ở

Còn đối với những sinh viên năm ba và năm tư khi mà họ đã có cơ hội trải nghiệm cuộc sống hơn, tự lập hơn, không còn bỡ ngỡ với điều kiện sống mới nữa vì

họ đã có một đến hai năm để làm quen với nó thì việc tìm kiếm cho mình một nơi ở phù hợp trở nên dễ dàng hơn so với những sinh viên năm dưới

Như vậy chúng ta có thể thấy biến số năm theo học học khác nhau thì có mức

độ chuyển nơi ở khác nhau Năm theo học càng cao thì tần suất chuyển nơi ở càng lớn

Nói tóm lại, trước nhu cầu của cuộc sống sinh viên di cư đến thành phố với nhiệm vụ chủ yếu là học tập, cần kiếm một nơi ở ổn định, điều kiện sinh hoạt tốt, đảm bảo cho việc học tập Vì vậy, khi nơi ở không đáp ứng được nhu cầu của họ lập tức chuyển nơi ở Nên đa số đa số sinh viên trong mẫu nghiên cứu đều không có chỗ

ở nhất định từ khi lên Tp HCM theo học đến nay

2.3.2 Thực trạng nhà ở sinh viên.

Như vậy theo kết quả nghiên cứu, đa số sinh viên trong mẫu nghiên cứu ở ký túc xá, phòng thuê hoặc nhà thuê Điều này có thể nhận thấy giá đất và nhà ở trên địa bàn Tp HCM luôn đứng đầu cả nước, với những sinh viên ở tỉnh rời xa nhà lên thành phố để học tập, với mức tiền mà sinh viên có hàng tháng là thấp và cư trú không ổn

Trang 32

định nên hầu hết không có đủ điều kiện mua đất, mua nhà, bên cạnh đó nếu có người quen có nhà cửa ở thành phố họ cũng không muốn đến ở nhờ vì việc ở nhờ thường hạn chế sự tự do trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của họ vì vậy cách duy nhất phù hợp với sinh viên là thuê phòng trọ, nhà trọ, hoặc ở ký túc xá Tuy nhiên họ cũng chỉ thuê những loại nhà ở bình thường có giá cả hợp với mức thu nhập hàng tháng của

họ, vì đa số sinh viên đều cho rằng nhà trọ chỉ đơn giản chỉ là nơi cho họ ngủ, nghỉ

về đêm và những lúc rảnh, và những hoạt động khác là không cần thiết, và phần lớn thời gian trong ngày họ cho hoạt động học tập trên trường trên lớp, họ không có yêu cầu cao về nhà ở như chất lượng, tiện nghi…

“Bạn biết đó mình là sinh viên tỉnh mà, kinh tế gia đình không phải là khá hàng tháng ba mẹ chỉ có đủ tiền cho tụi mình là trả tiền thuê nhà với lại ăn uống thôi, chứ làm sao có đủ tiền mà mua nhà”

(Sinh viên nam, năm 3, Trường Đại học Văn Hiến)

“Mình là sinh viên ở tỉnh, nhà mình không có đủ điều kiện để mua nhà ở thành phố này cho mình ở, mình lại không có người quen ở thành phố này nên phải đi ở trọ…”.

(Sinh viên nử, năm 4, Trường Đại học Kỹ thuật công nghệ)

2.3.2.1 Loại nhà ở

Thực ra việc khảo sát chất lượng nhà ở cũng khá phức tạp khi ranh giới giữa các loại nhà không được rõ rệt Tuy nhiên theo kết quả điều tra cộng với sự quan sát của nhóm nghiên cứu chúng tôi đã cho thấy loại nhà đúc (đổ bê tông) và nhà gạch (mái tôn) được sinh viên lựa chọn thuê ở nhiều nhất lần lượt chiếm tỉ lệ 49.4% và 44.4% trong tổng số 160 sinh viên, nhà tạm bợ và nhà gỗ ghép chiếm tỉ lệ thấp 6.3% (xem biểu đồ 2.1) Đối với Tp HCM, việc người dân ở loại nhà gạch mái tôn cũng là phổ biến, tuy nhiên trong nhà họ thường có trần nhà khá đẹp, còn đối với nhà trọ của sinh viên thì việc có trần nhà là hiếm thấy Nếu nhà nào có trần dù bán kiên cố hay kiên cố thì chúng tôi thì chúng tôi đều cho đó là loại nhà đúc

Trang 33

Những loại nhà trên với đặc trưng khí hậu miền Nam nắng nóng quanh năm sẽ không tránh khỏi tình trạng nóng bức đặc biệt là nhà gạch mái tôn điều này cũng hạn chế thời gian ngủ nghỉ, sức khỏe cũng như ảnh hưởng đến việc học tập cũng như sinh hoạt của sinh viên Tuy nhiên những loại nhà này có mức độ kiên cố cao và an toàn cao, và việc đảm bảo vệ sinh nơi ở cũng tốt hơn các loại nhà ở tạm bợ khác trong khi giá cả hợp lý với mức tiền sinh viên có hàng tháng.

Biểu đồ 2.2: Loại nhà ở (tỉ lệ %)

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

Như vậy nhìn chung theo kết quả nghiên cứu loại hình, nhà ở trong mẫu khảo sát không ở mức quá thấp kém, hay rơi vào tình trạng nhà tạm bợ, nhà ổ chuột

2.3.2.2 Giá tiền nhà.

Trong tổng 240 sinh viên của mẫu nghiên cứu thì chỉ có 5.4% sinh viên ở nhờ nhà người quen không phải đóng tiền nhà, còn lại là 94.6% sinh viên hàng tháng phải chi trả tiền nhà

Theo kết quả nghiên cứu thì có 23.7% có chi phí cho tiền nhà hàng tháng từ 50.000 - 150.000đồng/1 người/1 tháng (chủ yếu là sinh viên ở trong ký túc xá), còn lại là 46.% phải trả tiền nhà từ 170.000 – 300.000 đồng, 15% là phải trả tiền nhà từ 320.000 – 400.000 đồng, đặc biệt là có tới 9.2% sinh viên phải trả tiền trọ với mức trên 400.000 đồng (Xem biểu đồ 2.3)

Biểu đồ 2.2: Mức chi cho tiền nhà (đơn vị đồng)

Trang 34

Nguồn: kết quả khảo sát của chúng tôi tại các trường đại học – tháng 3/2009

Trong tổng số 237 sinh viên phải đóng tiền nhà hàng tháng thì số tiền thấp nhất sinh viên phải trả cho 1 tháng là 50.000 đồng và cao nhất là 800.000 đồng/1 người/1 tháng, như vậy ta có thể dễ dàng nhận thấy sinh viên thuê nhà trọ ở bên ngoài nhà dân hiện nay đang chịu một mức giá khá cao, trung bình là 274.000 đồng/1 tháng (Xem phụ lục bảng 1.6), tức là phải trả số tiền để thuê nhà ở là 9.133 đồng/1 người/1 ngày Trong khi đó điều kiện sinh hoạt ở nhà trọ vẫn chưa thể đảm bảo một chỗ học tập, nghỉ ngơi tốt nhất Chính vì thế có 34.1% (78 sinh viên) đánh giá số tiền thuê trọ không phù hợp với giá cả chung của thị trường hiện nay

Trong số 78 sinh viên trả lời giá tiền nhà chưa phù hợp thì đa số trong họ cho rằng tiền nhà nên ở mức từ 200.000 đồng trở xuống (59.5%), trong đó mức giá từ 100.000 đồng trở xuống có 22.8% sinh viên chon, mức giá từ 100.000 – 200.000 đồng có 36.7% Ở mức từ 200.000 – 300.000 đồng là 30.4%, và chỉ có 10.1% sinh viên chấp nhận mức giá trên 300.000 đồng (Xem bảng 2.5)

Bảng 2.5: Giá tiền nhà theo sinh viên là phù hợp.

Mức tiền Trường hợp Tỉ lệ (%) Tỉ lệ tích lũy (%)

Ngày đăng: 22/04/2013, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quang Phương, Dự án 100.000 chỗ ở cho sinh viên tại Tp. HCM, Báo Giáo dục ra ngày 7 – 5 – 2009 (tr.8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án 100.000 chỗ ở cho sinh viên tại Tp. HCM
2. Bảo Anh, Khó có thể, thậm chí không thể xây dựng được Quy Chế quản lý nhà trọ sinh viên, Báo Giáo dục ra ngày 22 – 10 - 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khó có thể, thậm chí không thể xây dựng được Quy Chế quản lý nhà trọ sinh viên
5. Tài liệu hội thảo khoa học :Liên kết và hợp tác phát triển giáo dục đại học tại thành phố Hồ Chí Minh; Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 10/ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết và hợp tác phát triển giáo dục đại học tại thành phố Hồ Chí Minh
6. Thế Gia, Chương trình nhà ở tại Tp. HCM, Tạp chí Sài Gòn và Xây Dựng, Số 9 – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nhà ở tại Tp. HCM, Tạp chí Sài Gòn và Xây Dựng
7. Nguyễn Văn Trịnh, Nhà ở công nhân các KCN – Thực trạng và một số giải pháp, Báo Lao động ra ngày 27-03 – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà ở công nhân các KCN – Thực trạng và một số giải pháp
8. Bài “kích cầu: tập trung cho công nhân và sinh viên”, Báo Lao động số 29 ngày 15/12/2008II.Tài liệu trên sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: kích cầu: tập trung cho công nhân và sinh viên”
10. Lê Ngọc Hùng, 2002. Lịch sử và lý thuyết xã hội học. Hà Nội: Nhà xuất bản Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Quốc gia
11. Nguyễn Sinh Huy, 1999. Xã hội học đại cương. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại hoc Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại hoc Quốc Gia
12. Thanh Lê, 2003. Từ điển xã hội học. Hà Nội: Nhà xuất bản khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
13. Trịnh Duy Luân, 2004. Xã hội học đô thị. Viện khoa học xã hội Việt Nam: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đô thị
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
14. Th.S.Tạ Minh – TS.Vũ Quang Hà , 2002. Nhập môn xã hội học. Viện nghiên cứu Thanh niên: Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
15. Nguyễn Quý Thanh, Phạm Văn Quyết, 2001. Phương pháp nghiên cứu xã hội học. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
16. Trần Hữu Quang, 2006. Xã hội học báo chí. Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: hội học báo chí
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
19. Nguyễn Thị Điệp, 2008. Khuôn Mẫu giải trí của sinh viên ở các trường Đại học trong khu vực Văn Thánh Bắc thành phố Hồ Chí Minh . Trường Đại học dân lập Văn Hiến. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuôn Mẫu giải trí của sinh viên ở các trường Đại học trong khu vực Văn Thánh Bắc thành phố Hồ Chí Minh
20. Nguyễn Văn Hồ, 2004 Tìm hiểu đời sống của dân nhập cư lao động tự do trên đường phố tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trường Đại học dân lập Văn Hiến. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đời sống của dân nhập cư lao động tự do trên đường phố tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
21. Nguyễn Thị Huê, 2006, Tìm hiểu đời sống của dân nhập cư lao động tự do trên địa bàn Quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh. Trường Đại học dân lập Văn Hiến. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đời sống của dân nhập cư lao động tự do trên địa bàn Quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh
22. Nguyễn Thị Oanh, 2008, Nhận diện quan niệm hiên đại của sinh viên. Trường Đại học dân lập Văn Hiến. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân xã hội học.IV.Tài liệu trên các trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện quan niệm hiên đại của sinh viên
3. Báo Thanh niên ra ngày 13 – 5 – 2009 (tr.13) 4. Phan Bá Mạnh, Báo Dân Trí ra ngày 23 – 4 – 2009 Khác
9. Đặng Cảnh Khanh, 2006. Xã hội học thanh niên. Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
17. Trần Thị Kim Xuyến, 2004 (chủ biên), Giáo trình xã hội học lối sống Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tiền gia đình gửi hàng tháng - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Bảng 1.1 Tiền gia đình gửi hàng tháng (Trang 17)
Bảng 1.2: Tiền sinh viên tự kiếm (làm thêm)/đơn vị đồng - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Bảng 1.2 Tiền sinh viên tự kiếm (làm thêm)/đơn vị đồng (Trang 18)
Bảng 2.1: Tình trạng nơi ở - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Bảng 2.1 Tình trạng nơi ở (Trang 26)
Bảng 2.3: Số lần chuyển nơi ở của sinh viên - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Bảng 2.3 Số lần chuyển nơi ở của sinh viên (Trang 28)
Bảng 2.5: Giá tiền nhà theo sinh viên là phù hợp. - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Bảng 2.5 Giá tiền nhà theo sinh viên là phù hợp (Trang 34)
Bảng 2.7: Nguồn nước sinh viên đang sử dụng - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Bảng 2.7 Nguồn nước sinh viên đang sử dụng (Trang 39)
Bảng 3.1.: Mức độ quan hệ cộng đồng của sinh viên - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Bảng 3.1. Mức độ quan hệ cộng đồng của sinh viên (Trang 52)
Bảng 3.2: Thái độ của bạn trọ cùng phòng đối với sinh viên. - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
Bảng 3.2 Thái độ của bạn trọ cùng phòng đối với sinh viên (Trang 53)
Biểu đồ 4.1: Hình thức ở sinh viên lựa chọn - Vấn đề nhà ở của sinh viên đang theo học tại Tp.HCM
i ểu đồ 4.1: Hình thức ở sinh viên lựa chọn (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w