Những lợi ích mang lại từ việc tái sử dụng rác thải sinh hoạt để sản xuất phân Compost ở Hà Nội
Trang 1Mở đầu
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá ở ViệtNam đã tăng mạnh mẽ và đang có xu hớng tiếp tục tăng mạnh trong nhữngnăm tới Đặc biệt ở thành phố Hà Nội, thủ đô của chúng ta đã từng đợc cộng
đồng quốc tế tôn vinh là “Thành phố xanh”, “Thành phố hoà bình” Hà Nội
là thành phố văn hiến có bề dày lịch sử lâu đời Hà Nội bây giờ đã phát triểnlớn lên , vơn cao cùng năm tháng Sự phát triển mãnh mẽ nh vậy là một điềucần thiết để cho Hà Nội phát triển , hội nhập với nền kinh tế trong nớc và trênthế giới Nhng chính sự phát triển cao nh vậy đã gây ra nhiều áp lực nặng nề
đối với môi trờng và cộng đồng Nhiều vấn đề nan giải , những thách thứclớn đangđặt ra trong công tác bảo vệ môi trờng nhằm phát triển ổn định vàbền vững thành phố Muốn vậy cần giải quyêt hài hoà các yếu tố kinh tế ,văn hoá , xã hội và môi trờng
Hơn lúc nào hết, vấn đề giữ gìn bảo vệ môi trờng đối với Hà Nội ngàycàng cấp thiết, đòi hỏi sự quan tâm từ các cơ quan quản lí chức năng đến mọi
tổ chức, đoàn thể và quần chúng Bên cạnh nhiều khó khăn, tồn tại trong việcgiải quyết các vấn đề liên quan đến nớc thải và ô nhiễm không khí, vấn đềrác thải rắn đang thực sự là một thách thức lớn, một mối đe doạ khủng khiếp
đối với môi trờng và sức khoẻ cộng đồng Giải quyết vấn đề rác thải đô thịthành phố Hà Nội là một bài toán phức tạp, từ khâu thu gom, vận chuyển và
xử lí rác Hiện nay có nhiều biện pháp kỹ thuật đợc áp dụng để xử lí rác thải
đô thị trong đó biện pháp xử lí rác thải chủ yếu vẫn là chôn lấp Nhng thựctrạng các bãi rác hiện nay đã quá tải và gây ô nhiễm môi trờng rất nghiêmtrọng Bên cạnh đó việc xử lí rác thải bằng phơng pháp sử dụng chúng làmphân Compost, một phơng pháp đợc nhiều nơi trên thế giới áp dụng đã manglại lợi ích to lớn về kinh tế cũng nh môi trờng Đó chính là nội dung của đề
tài Những lợi ích mang lại từ việc tái sử dụng rác thải sinh hoạt để sản“
xuất phân Compost ở Hà Nội” do nhóm sinh viên Kinh tế môi trờng K42
thực hiện
Nội dung
I Thực trạng của việc xử lý rác thải sinh hoạt ở Hà Nội
1 Tình trạng rác thải hiện nay
Nớc ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tậptrung sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa Do các chínhsách cơ chế khuyến khích đầu t đang dần dần trở nên hợp lý nên các thànhphần kinh tế đã có sự phát triển nhanh chóng Tình hình phát triển kinh tế n -
Trang 2ớc ta đang ngày càng có những bớc tiến bộ đáng khích lệ, các ngành sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ … đ ợc mở rộng và phát triển nhanh chóng Các đhoạt động này một mặt đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nớc, nhng mặt khác cũng tạo ra một khối lợng lớn chất thải mà nếukhông đợc quản lí một cách đúng đắn thì sẽ gây ra ô nhiễm môi trờngnghiêm trọng Nguy cơ ô nhiễm môi trờng do chất thải gây ra đang trở thànhmột trong những vấn đề cấp bách cuả công tác bảo vệ môi trờng của nớc tahiện nay So với các nớc trong khu vực và trên thế giới, tổng lợng chất thảirắn của Việt Nam hiện nay là không lớn Thế nhng, điều quan tâm ở đây làchất lợng của chất thải này, nhất là chất thải sinh hoạt và chất thải bệnh viện
ở hầu hết địa phơng và thành phố cha đợc xử lí hợp vệ sinh trớc khi thải ramôi trờng Các chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp hầu nh không đ-
ợc phân loại trớc khi chôn lấp Tất cả các loại đều đợc chôn lấp lẫn lộn Tỉ lệthu gom mới chỉ đạt 20-30%, lợng chất thải không đợc chôn lấp (70-80%)
đã và đang gây nên những tác động môi trờng, ảnh hởng không tốt không chỉtới đời sống, sinh hoạt mà còn cả tới hoạt động kinh tế
Ước tính hiện nay tổng lợng chất thải rắn thải ra ở Việt Nam khoảng49,3 nghìn tấn/ngày, trong đó chất thải rắn công nghiệp khoảng 27 nghìn tấn(54,8%), chất thải sinh hoạt 21,9 nghìn tấn (44,4%), và chất thải bệnh viện:0,4 nghìn tấn (0,8%)
Hà Nội là một trong những thành phố điển hình, tiêu biểu cho các đô thịcủa Việt Nam Hà Nội là thủ đô của nớc cộng hoà XHCNVN, là trung tâmvăn hoá, chính trị, kinh tế và khoa học kĩ thuật của cả nớc Thành phố Hà Nội
là một trong những thành phố lớn nhất của Việt Nam với diện tích 927,3 km2,dân số 2,3 triệu ngời, trong đócó 1,1 triệu ngời sống tập trung trong 4 quậnnội thành Hà Nội trên diện tích 43km2 Hàng ngày có 30-40 vạn ngời ở cáctỉnh qua lại và sinh sống ở Hà Nội Cùng với sự phát triển công nghiệp, dân
c trong thành phố, hệ thống dịch vụ, bệnh viện, chất thải rắn ở các nguồn trêncũng tăng lên nhanh chóng Ước tính hàng ngày nội thành thải ra khoảng3000m3 chất thải chất thải sinh hoạt chiếm 80% chất thải rắn công nghiệpchiếm 12% Công ty Môi trờng- Đô thị Hà Nội mới thu gom đợc 80% tổng
số rác trong nội thành
Lợng rác thải đô thị tập trung nhiều nhất ở các đô thị thuộc vùng kinh tếtrọng điểm phía Bắc và phía Nam Trong đó rác thải sinh hoạt chiếm tỉ lệ caonhất (khoảng 70%) trong tổng lợng rác thải Thành phần rác thải sinh hoạtgồm : rác hữu cơ,thực phẩm, lá cây, nilông, chất dẻo, các đồ dùng văn phòng
Trang 3phẩm và các chất vô cơ khác Trong các thành phần này, rác hữu cơ, thựcphẩm, lá cây chiếm khoảng 40-60% ( tại Hà Nội là 46%-năm 1996) Tỉ lệrác hữu cơ cao cho phép xử lí rác thải sinh hoạt bằng phơng pháp sử dụngchúng làm phân Compost, một phơng pháp đợc áp dụng ở nhiều nơi trên thếgiới để tránh mất diện tích chôn lấp.
Rác thải sinh hoạt theo số liệu của công ti SODEXEN.INC và URENCO
Hà Nội, khối lợng rác thải nội thành năm 1997 là:
Trang 4Chỉ tiêu
Khối lợng /ngày Thể tích/ngàyTổng(tấn)
BQđầungời(Kg)
Tổng(m3) BQđầu ngời
(m3)Chất thải sinh hoạt 1368 1140 2652 0,000221Chất thải công nghiệp 328 0,276 336 0.00028
Từ những số liệu và phân tích trên cho thấy vấn đề rác thải sinh hoạt (cảvô cơ và hữu cơ) đang là vấn nổi cộm hết sức bức xúc ở các đô thị hiện nay.Nhng một vấn đề thực tế đặt ra hiện nay là phơng thức thu gom, phân loại, xứ
lí, chế biến rác thải sinh hoạt cũng đang chứa đựng nhiều bất cập và ở vàotình trạng bế tắc Phơng pháp xử lí chủ yếu hiện nay là chôn lấp trực tiếp màkhông qua phân loại, xử lí tại nguồn nên đã gây ra ô nhiễm nặng nề ở khuvực bãi rác Mặt khác, rác hữu cơ vốn là loại rác có khả năng tự phân huỷ,thậm chí phân huỷ nhanh, nhng nay thanh phần lớn lại đợc bỏ vào túi nilonbuộc lại nên bị yếm khí, làm chậm quá trình phân huỷ, tăng thêm mức độ ônhiễm Nếu cứ giữ nguyên phơng thức thu gom, xử lí rác thải nh hiện nay thìquy mô bãi rác ngày càng tăng, chi phí cho xây dựng các bãi rác ngày cànglớn vì vậy phải giải quyết vấn đề từ gốc, từ nơi bắt đầu của sự ô nhiễm môitrờng do rác thải gây ra
2 Chôn lấp - hình thức xử lí rác thải chủ yếu hiện nay
Chính phủ Việt Nam đang gặp khó khăn trong nhiều lĩnh vực Trong đólĩnh vực y tế và môi trờng bao gồm nhiều vấn đề nghiêm trọng nh vệ sinh,thoát nớc, ô nhiễm không khí và nhiều vấn đề khác Vấn đề gay go nhấttrong lĩnh vực này là tìm ra giải pháp cần thiết và có hiệu quả để xử lí phếthải đô thị Các biện pháp quản lí chất thải hiện có cha đáp ứng đợc nhu cầu
đối với khối lợng phế thải cuả thành phố
Việc xử lí phế thải độc hại hầu nh cha đợc quản lí riêng, trong đó cácphế thải hoá chất độc hại nh pin, thuỷ ngân… đ Nghiên cứu, xác định phơngpháp xử lí phế thải đô thị phù hợp với điều kiện Việt Nam nói chung và môitrờng đô thị Hà Nội nói riêng là đề tài đang đợc nhiều chuyên gia trong nớc
và ngoài nớc quan tâm
Trang 5Hiện nay năng lực xử lí chất thải rắn của các thành phố và các cơ sơcông nghiệp không theo kịp đợc với nhịp độ tăng của sản xuất công nghiệpcũng nh của sinh hoạt Thực tế cho thấy mới khoảng 10-20% chất thải rắn ởcác đô thị đợc thu gom (ở Hà Nội và TP HCM cao hơn, khoảng 60%) thì sẽthấy rằng phải có sự nỗ lực về đầu t nh thế nào mới nâng cao đáng kể nănglực thu gom và xử lí chất thải rắn ở đô thị và khu công nghiệp.
Sự gia tăng dân số nhanh chóng ở các đô thị và khu công nghiệp là xuthế không thể cỡng lại nổi bới sự áp dẫn to lớn về công ăn, việc làm,thu nhập
và cả điều kiện sống đối với ngời lao động Sự phát triển với tốc độ cao củakinh tế đô thị kéo theo sự gia tăng đáng kể thu nhập và đồng thời kéo theo cả
sự tiêu dùng của dân c, trong đó có cả những tiện nghi đi lại (xe máy, ô tô) vàcác nhu cầu giải trí khác Từ đó đã dẫn đến sự gia tăng chất thải gây ô nhiễmkhông khí, tiếng ồn và cả chất thải rắn mà trong điều kiện năng lực quản lícủa Nhà nớc có đợc nâng cao đáng kể cũng không đủ sức ngăn chặn đà quaylớn của cỗ xe nhu cầu tiêu dùng ấy của ngời dân đô thị
Có thể nói phơng thức thu gom, vận chuyển và công nghệ xử lí rác ởViệt Nam vẫn còn thô sơ, lạc hậu Hệ thông kiểm tra, kiểm soát các chất thải
ở đô thị còn yếu kém Các cơ quan nghiên cứu, đánh giá môi trờng đô thị nóichung và chất thải rắn đô thị nói riêng cong thiếu đội ngũ chuyên gia vànghèo nàn về thiết bị nghiên cứu Đồng thời cũng rất thiếu vốn và thiếu khảnăng kỹ thuật để áp dụng các công nghệ xử lí chất thải đô thị Hệ thống thuhồi chất thải tái sinh trong các đô thị cha đợc hợp pháp hoá mà đợc “tổ chức”lỏng lẻo với một mạng lới gồm những ngời thu nhặt và thu mua tự phát Dovậy hiệu quả thu gom rất thấp Theo số liệu năm 1999, lợng chất thải rắn đôthị đợc thu gom, quản lí mới chỉ đạt khoảng 40 - 70% (Hà Nội : 65%) Nhiềuthị xã , tỷ lệ thu gom chất thải rắn trung bình chỉ đạt từ 20 - 40%, thậm chí cómột số thị xã và nhiều thị trấn cha có tổ chức thu gom chất thải rắn và cha cóbãi đổ rác chung của đô thị ở các đô thị lớn, chất thải từ các đờng phố đợccông ty môi trờng, dịch vụ công cộng hoặc công ty vệ sinh thu gom và vậnchuyển tới các bãi đổ rác hoặc xí nghiệp chế biến rác
Hiện nay có một số giải pháp xử lí phế thải sau :
- Làm phân ủ : đối với loại phế thải chứa các chất hữu cơ
- Chôn lấp hợp vệ sinh : đối với loại phế thải không thể chế biến đợcnữa
- Đốt : đối với một số loại phế thải độc hại
Trang 6Những biện pháp xử lí chất thải rắn đô thị ở Việt Nam hiện nay chủ yếu
là chôn lấp Tuy nhiên, cha có bãi chôn lấp chất thải rắn nào ở Việt Nam đạttiêu chuẩn kỹ thuật vệ sinh môi trờng mà chỉ là những bãi đổ rác lộ thiênkhông đợc chèn lót kỹ Vị trí chôn lấp chất thải hiện thời cha đợc thiết kếthích hợp, hầu hết các bãi rác đều nằm cách khu dân c từ 200-500 m, do đókhông đảm bảo yêu cầu vệ sinh Cũng cần nhấn mạnh là không đô thị nào cóphơng tiện đầy đủ và thích hợp để xử lí chất thải nguy hại từ công nghiệp và
y tế
ở Hà Nội hiện nay tuy có nhiều cố gắng trong việc thu gom chất thảisinh hoạt nhng xử lí còn gặp rất nhiều khó khăn, phát sinh nhiều vấn đề môitrờng và xã hội Nguyên nhân chủ yếu là cha có đủ cơ sở để xử lí tận gốcchất thải rắn Giải pháp hiện tại là chôn lấp nhng cha đáp ứng đợc yêu cầu vềmôi trờng và mất nhiều phí tổn : Hà Nội trớc đây đã sử dụng các bái rác ởvạn Phúc, Thủ Lệ, Ngọc Khánh, Thái Hà, Thành Công, Bồ Đề, Gia Lâm,Tam Hiệp, văn Điển, Mễ Trì, Tây Mỗ (Từ năm 1992 đến 7- 1997, toàn bộrác thải sinh hoạt của thành phố Hà Nội đợc chôn lấp tại bãi rác Mễ Trì Từngày 7-7-1997 , do tình trạng quá tải, nhân dân xung quanh phản đối, bãi rác
đã phải ngừng hoạt động Từ 8-1997, việc chôn lấp rác đợc tiến hành tại bãiphế thải Tây Mỗ) Các bãi này đều đã đầy và đóng cửa Hiện nay, Hà Nội
đang chôn lấp chất thải rắn chung ở đô thị ở bãi rác Tây Mỗ và chủ yếu là ởbãi Nam Sơn Tại bãi này, thành phố đã và đang tiến hành xây dựng “Khuliên hợp xử lí chất thải rắn” (Từ ngày 1-6-1999, việc chôn lấp rác đợc tiếnhành tại bãi Nam Sơn - Sóc Sơn khoảng 30%, Tây Mỗ 70% Từ 1-1-2000việc chôn lấp rác đợc tiến hành tại bãi Nam Sơn Ngoài ra cũng xuất hiện cácbãi rác lộ thiên tự phát của nhân dân các vùng dọc quốc lộ gây ảnh hởng đếnmôi trờng, gây mất mỹ quan
Việc xử lí rác thải chủ yếu bằng biện pháp chôn lấp chỉ giải quyết đợcnhu cầu rác thải trớc mắt ở Hà Nội Nhng chi phí vận chuyển rác đến bãichôn lấp rất lớn VD : Kinh phí vận chuyển rác từ nội thành đến bãi rác NamSơn tính cho 900 tấn/ngày có kết quả cụ thể :
+ Một ngày : 62,949 triệu đồng
+ Một tháng : 1.888,488 triệu đồng
+ Một quí : 5.728,414 triệu đồng
( Theo số liệu phân tích của JICA - dự thảo báo cáo cuối cùng)
Đồng thời các bãi rác chiếm diện tích đất rất lớn :
+ Diện tích bãi rác Nam Sơn : 150 ha
Trang 7+ Diện tích bãi rác Kiêu Kỵ (Gia Lâm) : 5,3 ha
+ Diện tích bãi rác Nguyên Khê (Đông Anh) :1,5 ha
+ Diện tích bãi rác Phú Ninh - Sóc Sơn : 1,2 ha
Ngoài thiệt hại về kinh tế nêu trên thì việc xử lí rác bằng chôn lấp còngây ra ô nhiễm môi trờng rất nghiêm trọng từ đó gây ra những ảnh hởng tớisức khoẻ của những ngời dân xung quanh Đặc biệt do lợng rác thải không đ-
ợc phân loại tại nguồn nên các rác thải sinh hoạt đợc chôn lấp lẫn với cácchất thải độc hại khác nên gây ô nhiễm nớc ngầm nghiêm trọng và gây độchại cho những ngời nhặt rác tại các bãi rác
Do vậy cần phải có những biện pháp cấp bách trong việc xử lí rác thải
để đảm bảo cho thành phố Hà Nội thoát khỏi tình trạng ùn tắc rác nh hiệnnay
3 Hiện trạng một số bãi rác hiện nay
Để giải quyết nhu cầu cấp bách về xử lí rác thải ở Hà Nội đã có rấtnhiều bãi rác đợc xây dựng nh khu xử lí chất thải Nam Sơn_Sóc Sơn, Tây
Mỗ, Kiêu kỵ (Gia Lâm), Nguyên Khê (Đông Anh) Nhng các bãi rác không
đợc xây dựng đúng tiêu chuẩn kĩ thuật Hầu hết các bãi rác đều xử lí rác theocác bớc: xe đổ xuống hố mỗi ngày sau khi đổ song rác xe nén rác đợc vậnhành để trải đều rác và nén chặt rác tiếp đó dùng xe rắc vôi bột nên bề mặtnhằm tẩy trùng sau đó dùng hai xe bồn để phun chế phẩm EM nhằm hạn chếmùi hôi.Cuối cùng dùng xe phủ cán một lớp đất mỏng 3-4 cm lên bề mặt.Với kết cấu và kĩ thuật chèn lấp rác nh trên, các bãi rác ở Hà Nội hiệnnay đã nảy sinh nhiều vấn đề nhức nhối, nguy hiểm về vệ sinh môi trờng, khókhăn trong khâu quản lí, phức tạp về mặt kinh tế xã hội:
-Đang tiếp nhận quá tải lợng rác thải hàng ngày của thành phố
Nguy hiểm về vệ sinh môi trờng với các yếu tố đặc thù:
+ Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc từ bãi rác (mặc dù đã giảm đáng kể sovới trớc đây khi cha phun chế phẩm EM) và mùi do những ngời nhặt rácphơi bao bì nilon dọc hai bên đờng nhựa
+ Các khí độc hại do rác phân huỷ không có lối thoát, phun trào tựnhiên trên khắp bề mặt bãi rác
+ Phát sinh ruồi, nhặng, muỗi, các loại côn trùng và các loài gặm nhấmkhác làm mầm gây bệnh lây lan rất nguy hiểm(dân quanh vùng phải giăngmùng để ăn cơm do có quá nhiều ruồi)
+ Do không đợc chống thấm nên nớc rò rỉ từ rác thải xuống đất gây ônhiễm các tầng nớc ngầm Rất nhiều giếng đào và giếng khoan của dân c
Trang 8xung quanh vùng này không còn sử dụng đợc vì nớc rất đen và bốc mùi hôithối.
+ Nớc rò rỉ từ bãi rác(chủ yếu là các hồ tích trữ nớc rác bố trí xungquanh tờng bao) ra ngoài hệ thống bờ bao gây thiệt hại nặng nề đến đời sốngsản xuất và sinh hoạt của nhân dân: cá nuôi bị chết, lợn gà vịt bị chết, năngsuất hoa màu tụt giảm
+ Nớc rác từ các hồ tích trữ cha đợc xử lí đạt yêu cầu và không có lốithoát, chỉ trông chờ vào khả năng bay hơi, còn lại là hầu nh bị thấm hếtxuống các tầng nớc ngầm Mộ nguy cơ khủng khiếp về ô nhiễm và suy thoáitài nguyên nớc ngầm đang đặt ra ở phía trớc
+Việc sử dụng chế phẩm EM ở bãi rác có an toàn về mặt sinh thái chavẫn còn là vấn đề cần nghiên cứu ( hiện nay ở Nhật Bản đã cấm sử dụng loạichế phẩm này vì có những hiệu ứng phụ đối với môi trờng và sinh thái)
Công tác xử lí chất thải sinh hoạt trong năm 1999 gặp khó khăn rất lớn
về địa điểm chôn lấp Các bãi rác bị ngừng hoạt động do gây ô nhiễm nặng
nề đối với môi trờng xung quanh nên ngời dân không đồng tình ủng hộ Cínhvấn đề này đã làm cho Hà Nội bị tồn đọng rác ngay trên đờng phố trong ngày19-20/9/1999 Hiện trạng các bãi rác này nh sau:
- Bãi rác Kiêu Kỵ (Gia Lâm): diện tích 5,3 ha đợc xây dựng từ năm
1997 và công trình đã đợc đa vào sử dụng tháng 9/1999 do bãi rác Tây Mỗ,Nam Sơn bị ngừng hoạt động Đến tháng 4/2000 do nhân dân xung quanhphản đối và cha giải quyết đợc trợ cấp môi trờng nên bãi rác phải ngừng hoạt
động Rác thải của xí nghiệp môi trờng đô thị Gia Lâm phải đa về bãi rácNam Sơn _ Sóc Sơn
-Bãi rác Nguyên Khuê (Đông Anh): diện tích khoảng 1,5 ha tiếp nhậnrác của huyện với khối lợng khoảng 40 m /ngày bằng hai xe 92A và một xe³/ngày bằng hai xe 92A và một xehuyndai của xí nghiệp môi trờng đô thị huyện Bãi rác Nguyên Khuê dựa trênmột số hố gạch do các chủ lò gạch khai thác để lại Việc tiếp nhận không đợc
đầm nén ngay, không đợc phủ đất thậm chí không có xe ủi để san ủi mặtbằng Bãi rác Nguyên Khuê cũng gây ảnh hởng tới môi trờng xung quanh nh-
ng với khối lợng nhỏ nhng vẫn còn đợc duy trì, mặc dù vậy nhng đây là bãirác không đúng tiêu chuẩn
-Bãi rác Phú Ninh_Sóc Sơn: diện tích khoảng 1,2 ha, hàng ngày tiếpnhận khoảng 50m cũng trong tình trạng không có xe ủi mặt bằng, đây cũng³/ngày bằng hai xe 92A và một xe
là bãi rác không đúng tiêu chuẩn
Trang 9-Bãi Nam Sơn: nằm trong tổng thề khu liên hợp xử lí chất thải rắn của
Hà Nội với diện tích 150 ha ở đây sẽ có các nhà máy xử lí chất thải bệnhviện, chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, phân loại và tái chế Diện tích
đã giải phóng giai đoạn một để thực hiện chôn lấp rác là 13,5 ha Đến nay đãtiến hành xây dựng xong hai lò và lò thứ ba đang tiếp tục thi công, hệ thông
II Lợi ích của việc sản xuất phân compost từ rác thải sinh hoạt
1 Lợi ích kinh tế.
Ngay từ những năm đầu của thập niên 80, nhận thấy thành phần hữu cơtrong rác thải Hà Nội rất cao 53%, công ty môi trờng đô thị Hà Nội đãnghiên cứu giải pháp làm phân ủ Năm 1990 đề án “VIE 186”_023 xử lí chấtthải cứng ở Hà Nội đã đợc chính phủ Việt Nam và chơng trình phát triển LiênHiệp Quốc chính thức phê duyệt và đợc khai triển thực hiện
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của đề án là xây dựng nhàmáy phân ủ thí điểm tại Cầu Diễn Từ 3/1993 nhà máy thí điểm phân ủ đầutiên sử dụng công nghệ ủ đống tĩnh, sục khí cỡng bức đã đi vào hoạt động để
xử lý 30000 m rác/ năm thành 7500 tấn phân hữu cơ Nhà máy phân ủ thí³/ngày bằng hai xe 92A và một xe
điểm Cầu Diễn đã đánh dấu một bớc tiến mới trong công nghệ xử lí phế thải
Để thấy đợc lợi ích kinh tế của việc sản xuất phân compost từ rác thải ta nênxem xét qui trình công nghệ của nhà máy:
Phân hầm cầu qua xử líNguyên liệu tơi
Cân điện tửSàn tập kết
Băng phân loại
Bể chứa
TrộnTái chế
Nghiền
Trang 10Thực tế qua quá trình hoạt động của nhà máy xử lí rác làm phân bónhữu cơ có những u việt về môi trờng, kĩ thuật và kinh tế xã hội do đó cần phảitiếp tục xử lí rác kết hợp với các bãi chôn lấp làm phân bón hữu cơ.
1.1 Tiết kiệm diện tích đất
Xét về mặt kinh tế thì việc sản xuất phân từ rác thải đã mang lại hiệuquả kinh tế cao từ việc tiết kiệm diện tích đất chôn lấp
Cùng với sự phát triển kinh tế, phát triển dân số thì quá trình đô thị hoángày càng nhanh, do đó dân c từ khắp các địa phơng đều có xu hớng tậptrung về Hà Nội để làm kinh tế, nên vấn đề đất đai ngày càng là vấn đề cầnphải quan tâm Đất đai đô thị hạn hẹp, nhu cầu nhà ở ngày càng tăng, lợngrác thải ngày càng tăng Vậy mà xử lí rác thải theo kiểu chôn lấp thì mỗi năm
Hà Nội phải bỏ ra một diện tích đất rất lớn để chôn lấp Nhng nếu có nhàmáy sản xuất làm phân compost thì nhà máy đã giúp cho Hà Nội tiết kiệm đ-
ợc một diện tích đất không nhỏ Diện tích đất đó có thể sử dụng vào việc khaithác, dùng làm đất ở cho nhân dân, dùng làm đất nông nghiệp
1.2 Tiết kiệm chi phí vận chuyển.
Ngoài việc tiết kiệm đợc diện tích đất chôn lấp thì chi phí vận chuyểncũng tiết kiệm đợc một khoản không nhỏ Thực tế nghiên cứu chi phí vậnchuyển dựa trên bảng giá sau:
Bảng giá thành vận chuyển rác từ thành phố đi bãi Nam Sơn
Kiểm tra tự động Lên men
ủ chín
Cung cấp độ ẩmThổi khí cỡng bức
Sàng phân loại
Tinh chế
Trọn phụ gia và chấtkích thích Đóng bao Sản phẩm
Trang 11Nguồn: nghiên cứu khả thi Dự án đầu t“ xây dựng khu liên hợp xử lí chất thải rắn tài Nam Sơn-Sóc Sơn- Hà Nội giai đoạn 1999-2000, tập 2”
-áp dụng bảng tính giá trên vào việc tính giá vận chuyển rác thải từ ờng Kim Liên đến bãi Nam Sơn ta có:
3 Cớc phổ thông đờng loại 3, hàng loại 3 928,2 đ/ T km
4 Cớc vận tải tính cho 1 tấn hàng:
38 km đờng loại 1
24 km đờng loại 3
43.525,3 đ/tấn22.362,3 đ/tấn21.163 đ/tấn
5 Các hệ số tính theo cớc cơ bản Phơng tiện có
thiết bị tự đổ (15%) Chở thiếu tải (10%)
6528,8 đ/tấn4352,5 đ/tấn
6 Các loại phụ phí
Cộng chi phí (4+5+6)
13,500 đ/tấn69906,6 đ/tấn
7 Trích quỹ khen thởng phúc lợi
Tổng cộng
Làm tròn
2037,2 đ/tấn69943,8 đ/tấn
69944 đ/tấn
Trang 12- Số lợng rác vận chuyển bình quân trong 1 tháng.
Khi đã phân loại rác tại nguồn, rác vận chuyển tới xí nghiệp gồm phânhữu cơ 22,7 tấn/tháng Do tác dụng của phế phẩm EM nên làm trọng lợngcủa loại rác hữu cơ giảm khoảng 50% Khối lợng thực tế rác thải vận chuyểntới xí nghiệp chế biến phân compost Cầu Diễn
Tổng khối lợng xấp xỉ 11,4 tấn/tháng tơng đơng với 0,38 tấn/ngày.Căn cứ vào kinh phí vận chuyển ở phần trên, bằng phơng pháp tính tỉ lệ,tổng chi phí vận chuyển tới xí nghiệp Cầu Diễn khoảng : 235,250
đồng/tháng
1.3 Cung cấp nguyên liệu tái chế.
Ngoài các vấn đề trên, việc vận tải gần giúp cho công tác thu gomkhông phải chờ đợi, tuổi thọ xe, máy kéo dài, tiết kiệm chi phí sửa chữa,đại
tu, an toàn giao thông đợc đảm bảo hơn, cung cấp một nguồn phân bón hữucơ phục vụ nông nghiệp theo hớng phát triển nền nông nghiệp bền vững
Xử lí rác thải ở Cầu Diễn ta đã tận dụng đợc nguồn tài nguyên rác, biếnrác thải từ phế thải gây ô nhiễm, phải mất tiền và công sức để xử lí, đổ đi trởthành nguồn nguyên liệu có ích là đầu vào của ngành công nghiệp phân bónhữu cơ vi sinh
Lợi ích đem lại là các kết quả sau:
-Kết quả thứ nhất: từ nguồn phế thải gây ô nhiễm có thể chuyển thành 3loại sản phẩm hữu ích cho ngành sản xuất rau sạch và hoa, phục vụ trở lạicho ngời dân đô thị đó là:
+ Từ nilon, đồ nhựa phế thải tái chế ra các loại đồ nhựa
+Từ mùn hữu cơ sản xuất ra một loại đất công nghiệp nhẹ, xốp, đủ dinhdỡng thay thế hoàn toàn đất tự nhiên
+Phân bón hữu cơ vi sinh
Giải pháp này có thể thực hiện theo hớng chế biến hoàn toàn thủ công,vốn đầu t thấp không tốn năng lợng và có hiệu quả kinh tế
-Kết quả thứ hai: giảm chi phí cho ngành xử lý rác thải nhờ:
+ Xoá bỏ đợc quy mô bãi rác và tăng tuổi thọ cho bãi rác
+ Giảm đợc khối lợng rác thải vận chuyển từ nguồn phát sinh
+ Giảm hẳn đợc sức ép phải thu gom và vận chuyển rác thải
Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm hai chế phẩm vi sinhnêu trên vào công việc xử lí , chế biến rác thkải sinh hoạt để làm phân bón,cho thấy có thể giải quyết đợc tình trạng ô nhiễm môi trờng do rác thải sinh