1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác thực hiện BHXH cho người lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

38 580 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hơn Nữa Công Tác Thực Hiện Bhxh Cho Người Lao Động Trong Các Doanh Nghiệp Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 168,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác thực hiện BHXH cho người lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Trang 1

LờI NóI ĐầU

BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc ta Đây là một chínhsách mang tính xã hội và nhân đạo cao cả thể hiện sự quan tâm của Nhà nớc đốivới đời sống của ngời dân đặc biệt là đối với ngời lao động.Tuy nhiên đối tợngtham gia bắt buộc (trớc năm 1995) chỉ giới hạn trong các lao động thuộc thànhphần kinh tế Nhà nớc Vì vậy, mở rộng đối tợng tham gia BHXH bắt buộc làmong mỏi của đông đảo ngời lao động trong các thành phần kinh tế của cả nớc.Bắt đầu từ năm 1995, đối tợng tham gia BHXH bắt buộc đã mở rộng chotới những ngời lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việc mởrộng đối tợng tham gia BHXH đã động viên ngời lao động yên tâm làm việc ởcác thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy thị trờng lao động phát triển, đồngthời cũng tạo nên sự công bằng trong sản xuất kinh doanh giữa các doanhnghiệp của các thành phần kinh tế

Nhng hiện nay, việc thực hiện BHXH cho ngời lao động trong các doanhnghiệp đang là một vấn đề nan giải, thu hút đợc sự quan tâm của nhiều ngành,nhiều cấp Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề, vì vậy em đã chọn đề tài

“Thực hiện BHXH trong các doanh nghiệp Việt Nam-Thực trạng và giải pháp” Với mục đích nêu lên đợc toàn cảnh của tình hình thực hiện BHXH cho

ngời lao động trong các doanh nghiệp Từ đó thấy đợc những nguyên nhân vàrút ra những giải pháp cơ bản, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác thực hiệnBHXH cho ngời lao động

Để đảm bảo tính lôgic của một công trình nghiên cứu, ngoài lời nói đầu vàphần kết luận, đề án đợc chia thành 3 phần sau:

Chơng I BHXH cho ngời lao động một nhu cầu tất yếu khách quan Chơng II Thực trạng BHXH trong các doanh nghiệp Việt Nam

Chơng III Các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác thực hiệnBHXH cho ngời lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng trong đề án là những phơng pháp cơbản của phơng pháp nghiên cứu khoa học nh: so sánh, phân tích, tổng hợp dựatrên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lich sử

Do sự phức tạp và rộng lớn của hệ vấn đề, cũng nh sự hạn chế trong kiếnthức và kinh nghiệm thực tế cho nên bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếusót Em mong nhận đợc sự thông cảm và giúp đỡ của thầy và các bạn

Hà Nội Tháng 12/2002.

Ch ơng I

BHXH cho ngời lao động một nhu cầu tất yếu khách quan

I. Sự cần thiết của BHXH đối với ngời lao động

Con ngời muốn tồn tại và phát triển trớc hết phải ăn, mặc, ở và đi lại Đểthoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó con ngời, ngời ta phải lao động để làm ranhững sản phẩm cần thiết Khi sản phẩm làm ra ngày càng nhiều thì đời sốngcon ngời ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Nhvậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con ngời phụ

Trang 2

thuộc vào chính khả năng lao động của họ Nhng trong thực tế, không phải lúcnào con ngời cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinhsống bình thờng Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫunhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc cho ngời ta bị mất thu nhập hoặccác điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao

động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ

bị suy giảm Khi rơi vào những trờng hợp này, các nhu cầu cần thiết trongcuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuấthiện thêm một số nhu cầu mới nh: cần đợc khám chữa bệnh và điều trị khi ốm

đau; tai nạn thơng tật nặng cần phải có ngời chăm sóc nuôi dỡng Bởi vậy,muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra vàthực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau nh: san sẻ, đùm bọc lẫn nhautrong nội bộ cộng đồng; đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nớc

Rõ ràng, những cách đó hoàn toàn thụ động và không chắc chắn

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mớn lao động trở nên phổbiến Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng về sau đã phải camkết cả việc bảo đảm cho ngời làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trangtrải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản Trongthực tế, nhiều khi các trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải chi

ra một đồng nào Nhng cũng có khi xảy ra một cách dồn dập, buộc họ phải bỏ

ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn Vì thế, mâu thuẫn chủ- thợphát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết Cuộc đấutranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có mâu thuẫn nhiều mặt đến đời sốngkinh tế xã hội Do vậy, Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâuthuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng đợc vai trò của Nhà nớc, mặt khácbuộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một số tiền nhất định hàng tháng đ-

ợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác xuất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê

Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tập trung trên phạm viquốc gia Quỹ này còn đợc bổ sung từ ngân sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm

đảm bảo đời sống cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi Chínhnhờ những những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động

và gia đình họ ngày càng đợc đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi

và đợc bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thờng, tránh đợc những xáotrộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc thiết lập ngàycàng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngàycàng đảm bảo

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên

đợc thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động Nh vậy,BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời lao

động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mấtviệc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một một quỹ tiền tệ tập trung nhằm

đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toànxã hội

II BHXH ở Việt Nam

Trang 3

Còn ở nớc ta BHXH là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nớc tanhằm đảm bảo an sinh xã hội và quyền lợi về BHXH cho ngời lao động khi gặpphải rủi ro phải tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khả năng lao động Cùng với sự đổimới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, từ năm

1995, công tác BHXH ở nớc ta cũng đã chuyển sang một cơ chế thực hiện cácchế độ BHXH hoàn toàn mới so với trớc đây Những nội dung chủ yếu của sự

đổi mới chính sách BHXH là: mở rộng đối tợng tham gia BHXH; hình thànhmột quỹ BHXH tập trung, độc lập do ngời lao động và chủ sử dụng lao động

đóng góp để chi trả các chế độ BHXH cho ngời lao động: thành lập hệ thốngBHXH Việt Nam từ Trung ơng đến cấp quận, huyện, thị xã để thực hiện côngtác BHXH

Qua hơn 7 năm thực hiện, đến nay có thể khẳng định rằng những quan

điểm, nội dung và phơng pháp đổi mới chính sách BHXH của Đảng và Nhà nớc

ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với mục tiêu đổi mới toàn diện đất nớc Côngtác BHXH đã từng bớc khẳng định tầm quan trọng và vị thế của mình đối vớiviệc phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc cũng nh việc đảm bảo quyền lợi vềBHXH cho ngời lao động bằng những kết quả cụ thể, to lớn trong thực tiễn xãhội Trớc hết, là việc đối tợng tham gia BHXH ngày một mở rộng Nếu trớc kia,chỉ những ngời trong biên chế Nhà nớc mới đợc hởng các chế độ BHXH thìhiện nay ngời lao động trong các thành phần kinh tế khác (theo quy định của bộlao động) cũng có quyền tham gia BHXH Cụ thể là số lao động tham giaBHXH năm 1999 so với năm 1996 là 18,2% Thứ hai, số thu BHXH hàng nămngày càng tăng năm sau cao hơn năm trớc Từ tháng 6 năm 1995 đến ngày31/12/1999 đã thu đợc 14.868 tỷ đồng tiền BHXH, số thu năm 1999 lớn hơngấp 10 lần số thu của năm 1994 (trớc khi thực hiện cơ chế mới) Thứ 3, do hìnhthành đợc quỹ BHXH tập trung độc lập nên tính tính đến ngày 31/12/1999 quỹ

đã đầu t đợc trên 10.628 tỷ đồng tiền tạm thời nhàn rỗi vào việc đầu t, phát triểncác lĩnh vực kinh tế- xã hội cần thiết của đất nớc Và cuối cùng, là việc giảiquyết các chế độ BHXH cho ngời lao động thờng xuyên đợc cải tiến theo hớngthuận tiện, chính xác hơn, hạn chế tối đa việc vi phạm pháp luật về BHXH vàthực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực này

Tuy nhiên, việc thực hiện chế độ chính sách BHXH theo cơ chế mới cũnggặp phải không ít khó khăn, vớng mắc cần tháo gỡ Một trong những khó khănlớn nhất là việc ngời lao động, chủ sử dụng lao động cha nhận thức đầy đủ ýnghĩa và tầm quan trọng của chính sách BHXH Từ đó, họ cha có đợc thái độ

và hành vi đúng đắn trong việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH theo quy

định của pháp luật Chính vì vậy, hiện tợng né tránh, trốn nộp BHXH cho ngờilao động còn khá phổ biến, nhất là khu vực các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh Số tiền nợ đọng BHXH của các đơn vị, doanh nghiệp cũng không nhỏ.Trong trờng hợp nh vậy, cơ quan BHXH có quyền từ chối cha giải quyết cácchế độ BHXH cho ngời lao động theo nguyên tắc “có đóng có hởng” Rất nhiềutrờng hợp chủ sử dụng lao động đã thu tiền BHXH của ngời lao động nhngkhông nộp cho cơ quan BHXH Ngời lao động bị lợi dụng, vi phạm quyền lợicủa mình về BHXH từ phía chủ sử dụng lao động mà vẫn không biết, khôngdám đấu tranh, bảo vệ quyền lợi của mình Nguyên nhân đơn giản là vì họ

Trang 4

không biết đúng đắn, đầy đủ về chế độ, chính sách BHXH do pháp luật quy

định

Chính vì vậy, cần phải có một cái nhìn khách quan về việc thực hiệnBHXH cho ngời lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó có nhữngbiện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác thực thi BHXH cho ngời lao

động Đây là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng và cấp bách trong giai

đoạn chuyển đổi cơ chế thực hiện chế độ, chính sách BHXH hiện nay Thiếtnghĩ, đây không chỉ là công việc của ngành BHXH mà là nhiệm vụ chung củacủa nhiều ngành, nhiều cấp, của toàn xã hội Bởi vì đây là việc thực hiện mộtchính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nớc, một nội dung quan trọng của BộLuật lao động và quan trọng hơn nữa là việc góp phần vào việc đảm bảo quyềnlợi về BHXH của ngời lao động trong các doanh nghiêp Việt Nam

Ch ơngII

THựC TRạNG BHXH trong các doanh nghiệp Việt NamBắt đầu từ năm 1995, sự phân biệt giữa ngời trong biên chế Nhà nớc vớingời ngoài biên chế Nhà nớc đã bị xoá bỏ Tất cả những ngời lao động thuộc

đối tuợng quy định đều đợc quyền tham gia BHXH Việc mở rộng các đối tợngtham ra BHXH đã động viên mọi ngời lao động yên tâm làm việc ở các thànhphần kinh tế khác nhau, thúc đẩy thị trờng lao động phát triển, đồng thời cũngtạo nên sự cân bằng trong sản xuất kinh doanh giữa các thành phần kinh tế.Chính vì mở rộng đối tợng tham gia BHXH, nên số ngời đóng ngày càngtăng Nêú năm 1995 có 2,2 triệu ngời tham gia,thì đến năm 1999 đã tăng lên 4triệu ngời: (tăng 51%) Số thu BHXH từ 788.486 triệu đồng (năm 1995) lên gần

4 nghìn tỉ đồng (năm 1999) Việc hình thành quỹ BHXH thống nhất , tâptrung, do BHXH Việt Nam quản lý, ghi nhận một bớc cải cách BHXH rất hiệuquả và nhiều ý nghĩa Theo đó số thu vào quỹ ngày càng tăng, nguồn chi từNgân sách Nhà nớc giảm dần, số thu trong 5 năm qua luôn lớn hơn số chi, phầnquỹ tạm thời nhàn rỗi đã đợc đầu t có hiệu quả theo chỉ đạo của Thủ tớng Chínhphủ Riêng năm 1999, tiền lãi do đầu t quỹ mang lại khoảng 600 tỷ đồng

Có thể nói hoạt động BHXH trong những năm qua là rất đáng kể Nóghi nhận nỗ lực lớn lao của CBCC ngành BHXH ý nghĩa an sinh xã hội thôngqua hoạt động giàu tính nhân văn này càng làm sáng rõ bản chất u việt của chế

độ ta, thể hiện sự quan tâm chu đáo của Đảng và Nhà nớc đối với lợi ích chính

đáng, hợp pháp của ngời lao động

Tuy nhiên, một số vấn đề bất cập đang tồn tại trong quá trình triểnkhai chính sách BHXH đã hạn chế hiệu quả chung Trớc hết, trình độ hiểu biết

về pháp luật chính sách BHXH của chủ sử dụng lao động và ngời lao động còn

bị hạn chế Công tác thông tin tuyên truyền làm cha sâu, cha kỹ, nên cả chủ sữdụng lao và ngời lao động cha hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của mình trongviệc tham gia BHXH Một số đối tợng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, nh-

ng lẩn trốn, đặc biệt là các doanh nghiệp khối ngoài quốc doanh Lơng của ngờilao động nói chung còn thấp, cha đáp ứng nhu cầu cuộc sống, lơng khi nghỉ hucàng thấp hơn Việc mở rộng các đối tợng tham gia BHXH lại cha kịp thời Các

Trang 5

tổ chức bán công dân lập của các nghành: giáo dục, văn hoá, du lịch có thuêmớn lao động: các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh có thuê mớn dới 10 lao động tới đây cần đợc bổ sung vào diện bắtbuộc tham gia BHXH Luật BHXH khi ra đời sẽ tạo hành lang pháp lý quantrọng cho việc triển khai rộng rãi và hiệu quả chính sách BHXH.

Mặt khác, sau 5 năm thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Chính phủ giaomặc dù đã cố gắng rất nhiều và đạt đợc nhiều thành tựu, song trớc yêu cầu củathiên niên kỷ mới, nghành BHXH cần đợc hoàn thiện thêm về chức năng nhiệm

vụ Thí dụ: vấn đề bổ sung thành viên của hội đồng quản lý, thay đổi hiện đạihoá hoạt động thu, chi, quản lý quỹ

I

Tổng quan về tình hình BHXH trong các doanh nghiệp Việt Nam

1 Trong khối doanh nghiệp quốc doanh

Các đơn vị sản xuất kinh doanh các ngành hàng độc quyền: Bu điện, điệnlực, xăng dầu có doanh thu cao, nên thực hiện tốt chính sách BHXH Quyềnlợi của ngời lao động trong các doanh nghiệp này đợc đảm bảo

Còn với các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng không phải là độcquyền Trong số các doanh nghiệp thực hiện tốt chính sách BHXH: có cácdoanh nghiệp làm ăn phát triển và cả các doanh nghiệp làm ăn khá chật vật nh-

ng vẫn có nhận thức tốt về chính sách BHXH và quan tâm, chăm sóc quyền lợingời lao động Điển hình nh công ty Bia rợu ong Thái Bình với150 lao động, l-

ơng trung bình cha đạt nổi 400.000 đồng/ngời/tháng nhng tiền đóng BHXH chongời lao động thì doanh nghiệp luôn trích nộp đúng đủ kịp thời

Những tởng các doanh nghiệp các doanh nghiệp quốc doanh thì thực hiệntốt chính sách BHXH cho ngời lao động, việc thu BHXH trong các đơn vị nàythì không cần phải bàn đến, mọi ngời vẫn coi nh một hoạt động suôn sẻ đơngnhiên Vậy mà sự việc lại không hẳn thế, vẫn còn các doanh nghiệp cha thựchiện tốt chính sách này nh nộp phí chậm hoặc không có khả năng nộp phí Kểcả những doanh nghiệp mà trớc đây nổi tiếng một thời, sản phẩm đợc xuất khẩu

ra nớc ngoài Trong nền kinh tế thị trờng với nhiều lý do khác nhau, chặng đờngkinh doanh tiếp nối của doanh nghiệp không suôn sẻ nh mong muốn, chựng lạirồi suy sụp Sản phẩm làm ra ế ẩm, lãi vay ngân hàng tăng liên tục với số nợ lêntới hàng tỷ đồng, buộc doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, giảm đồngloạt hàng ngàn lao động

Tình hình này xuất hiện ở nhiều địa phơng trong đó có thể nói đến TháiBình Với 183 doanh nghiệp Nhà nớc với 16000 lao động trong tỉnh thì có 1/2

số doanh nghịêp làm ăn hiệu quả, thực hiện tốt chính sách BHXH; 1/2 hoạt

động “cầm chừng” và 1/4 số doanh nghiệp còn lại thì cùng chung số phận đứngbên bờ vực của sự tan rã Ngỡ những cánh chim đầu đàn của tỉnh Thái Bình nh:Công ty Điện tử Thái Bình, Công ty cơ khí Thái Bình, Nhà máy đay Thái Bình,Nhà máy tơ Thái Bình, Nhà máy thuộc da Thái Bình (nay là Công ty Giày da),Công ty xây dựng I, II, III Thái Bình, Công ty sứ Tiền Hải vẫn đang sải cánhtung bay nh ngày nào, hoá ra bây giờ chỉ hoạt động cầm chừng, sản phẩm sản

Trang 6

xuất ra tiêu thụ chậm do giá thành, chất lợng, mẫu mã không đáp ứng đợc nhucầu thị trờng Hoạt động ít hiệu quả, doanh thu kém thì việc thực hiện chínhsách BHXH cho ngời lao động là việc xa vời lắm! Nhiều đơn vị nợ cả lơng côngnhân thì nghĩ gì đến việc tham gia BHXH.

Đến nay, các đơn vị trong tỉnh nợ đọng tiền BHXH đã lên tới con số 7 tỷ

đồng, trong đó nhiều doanh nghiệp 3- 4 năm không nộp đợc tiền BHXH Những

đơn vị nợ tiền BHXH dây da, kéo dài với số lợng lớn là: Công ty điện tử, Công

ty Giày da xuất khẩu, Công ty đay Thái Bình theo quy định của pháp luật15% tiền trích nộp BHXH cho ngời lao động đợc hạch toán vào giá thành sảnphẩm, nhng sản phẩm sản xuất ra còn nằm đó, cha tiêu thụ đợc thì lấy tiền đâu

mà đóng BHXH

Một minh chứng nữa cho tình hình nộp chậm, nộp thiếu phí BHXH ở trên

đó là một thực trạng đáng lo ngại ở Tuyên Quang với 50% số các doanh nghiệpNhà nớc nợ tiền BHXH

Tính đến cuối năm 1999, BHXH Tuyên Quang quản lý 915 đầu mối, thì có

64 doanh nghiệp Nhà nớc và 7 doanh nghiệp cổ phần với 11.208 lao động thamgia Nếu chỉ tính riêng 71 doanh nghiệp này thì kế hoạch 1999 phải nộp là 84 tỷ

đồng Ngoài 32 đơn vị thờng xuyên trích nộp đầy đủ đúng kế hoạch, 50% trong

số 71 doanh nghiệp chắc chắn không thể hoàn thành kế hoạch năm với số tồnhàng tỷ đồng (riêng 10 đơn vị của các ngành lớn nh : đờng, chè đã nợ trên 1,1

tỷ đồng) đó là cha kể đến số nợ của 38 doanh nghiệp tồn đọng từ 1993 đến nay8,5 tỷ đồng Nợ cao nhất là Công ty chè Sông Lô có 2000 công nhân song số nợ

từ 1993 đến nay lên đến 2 tỷ đồng, bình quân mỗi công nhân nợ 1 triệu đồngBHXH Giám đốc Công ty cho biết hiện nay Công ty đang “có hớng” trả dần(?) Song, ông cũng lấp lửng tuyên bố: Nếu mỗi năm giỏi lắm cũng trả đợc 100triệu thì cũng phải 20 năm sau mới hết nợ đợc

Một nguyên nhân cơ bản là nền kinh tế và các ngành sản xuất ở TuyênQuang không phát triển đợc Là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển nông-lâm-công nghiệp, hàng năm toàn tỉnh cần có 300 tỷ đồng cho hoạt động bộ máysong chỉ đáp ứng đợc 1/4 (khoảng 85 đến 90 tỷ đồng) còn 3/4 phải chờ đợi cấp

từ ngân sách Nhà nớc Sản xuất bị đình đốn Ngay nh việc phát triển cơ sở hạtầng nhiều thị xã thành phố phát triển khá sôi động, song thị xã Tuyên Quangvẫn cứ khép mình giản dị nh hàng chục năm trớc Nhiều doanh nghiệp muốn

đầu t công nghệ, phát triển sản xuất song sợ xé rào đành phải nằm im NgànhNgân hàng không giải ngân đợc Lợng hàng hoá cho các cơ sở sản xuất rakhông tiêu thụ đợc Công ty đờng Sơn Dơng, đờng Tuyên Quang hạ giá bán còn4000đồng/kg nay vẫn tồn đọng 2800 tấn; Xí nghiệp vật liệu xây dựng tồn 7triệu viên gạch 7 doanh nghiệp giấy (2000 lao động) và hàng chục xí nghiệpvật liệu xây dựng, cơ khí, sửa chữa, may công nhân sống thoi thóp với đồng l-

Trang 7

chịu lửa chiếm 46% tiền nộp BHXH Cũng do những khó khăn nh vậy, việccấp sổ BHXH trong các doanh nghiệp hết sức chậm chạp Triển khai suốt 3 nămnay, cấp sổ BHXH mới chỉ đạt 73% so với tổng số lao động; Công ty chè TânTrào có 600 lao động, cha năm nào hoàn thành chỉ tiêu thu BHXH nên đến naycha cấp đợc một sổ nào? Công ty đờng Tuyên Quang và đờng Sơn Dơng cũngmới chỉ cấp đợc sổ BHXH cho khối văn phòng công ty

Và còn có thể liệt kê ra đây rất nhiều doanh nghiệp khác nợ đọng phíBHXH nh: các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty dâu tằm Việt Nam: Xí nghiệpliên doanh tơ tằm Bảo Lộc (VISINTEX) đang nợ 532 triệu đồng hoạc công tyDệt may lụa tơ tằm nợ 254,5 triệu đồng, xí nghiệp ơm tơ tháng Tám nợ 261triệu đồng (số liệu năm 2001) Công ty ong Nam Định, quý 3-4/1999 toàn công

ty nợ 541 triệu đồng: 2 quý đầu năm 2000 nợ nguyên 40 triệu đồng, vị chi trên

70 các bộ CNV nợ xấp xỉ 100 triệu đồng tiền BHXH

Đối mặt với thực trạng trên việc đi tìm giải pháp nhằm vực dậy cácngành kinh tế, thúc đẩy sản xuất là việc làm cơ bản và cần thiết Song chúng tacũng không nên ngồi chờ sản suất phát triển rồi mới quan tâm đến quyền lợingời lao động, vì đây là hai mặt của một vấn đề, có tác động với nhau hết sứcchặt chẽ: ngời lao động không thể làm việc tốt, sản suất không thể phát triển,nếu quyền lợi và đời sống của không đợc quan tâm

Mặt khác, cần phải tăng cờng tính pháp lý của các quy phạm pháp luật

điều chỉnh quan hệ khi nộp BHXH Trong luật BHXH, luật phá sản doanhnghiệp cũng cần phải có điều khoản qui định về thu nộp BHXH có cơ chếkhuyến khích cho cán bộ BHXH phát hiện và chi thu xử lí nghiêm khắc và truythu BHXH, đồng thời xử lý nghiêm khắc các trờng hợp vi phạm luật BHXH dây

da, nợ tồn đọng tiền BHXH Vấn đề này cần phải nhìn nhận một cách đầy đủhơn và có chế tài mạnh, phải xác định thu nộp BHXH tồn nợ đọng BHXHkhông đơn thuần là góc độ kinh tế, mà chính nó làm gia tăng nhanh chóng sốlao động đợc đảm bảo về chế độ BHXH

2 Trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

2.1 Trong các doanh nghiệp trong nớc

Những năm qua, Đảng và Nhà nớc đã có nhiều chính sách khuyếnkhích phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Khi thực hiện sắp xếp lạidoanh nghiệp Nhà nớc, nhiều doanh nghiệp đã đợc cổ phần hoá, bán khoán, chothuê , khu vực hành chính sự nghiệp cũng đang từng bớc giảm thiểu 15% côngchức Nhà nớc nên lực lợng lao động khu vực ngoài quốc doanh cũng có xu h-ớng tăng cao Trong tình hình ấy, Bộ Chính Trị đã có chỉ thị số 15/ CT-TƯ ngày26/5/1997 về “Tăng cờng lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH”, Thủ tớngChính phủ đã có nhiều ý kiến chỉ đạo hệ thống BHXH Việt Nam phải tổ chứcthực hiện tốt chính sách BHXH để đảm bảo sự công bằng xã hội đối với ngờilao động ở khu vực này

Theo quy định tại điều 141 và điều 3 BHXH ban hành kèm theo Nghị

định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ thì “đối tợng tham gia BHXH là

Trang 8

ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên”.

Thực hiện sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam, BHXH các tỉnh thànhphố đã cố tìm những biện pháp sáng tạo thực hiện BHXH khu vực ngoài quốcdoanh và thu đợc một số kết quả ban đầu

+ Năm 1997 có 2.305 đơn vị với 83.578 ngời lao động tham gia BHXH.+ Năm 1998 có 3.136 đơn vị với 112.223 ngời lao động tham gia BHXH.+ Năm 1999 có 3.900 đơn vị với 147.855 ngời lao động tham gia BHXH + Năm 2000 đã có 4.735 đơn vị với 197.983 ngời lao động tham gia BHXH Công tác tuyên truyền giáo dục đã có tác động tốt không chỉ với ngời lao

động đã tham gia BHXH mà còn giúp những ngời cha tham gia hiểu và nângcao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách của

Đảng và Nhà nớc Ngời lao động ngoài quốc doanh cũng dần nhận ra: Tham giaBHXH không chỉ đợc công bằng, bình đẳng với các thành phần kinh tế và loạihình lao động khác mà còn thuận lợi khi di chuyển từ thành phần kinh tế nàysang thành phần kinh tế khác và quyền lợi vẫn đợc bảo đảm

Nhng đó chỉ là bớc khởi đầu tốt vẫn còn những chớng ngại vật mà nghànhBHXH cần phải vợt qua Tính đến cuối năm 2000, trên 80% doanh nghiệp với73% lao động khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thuộc diện BHXH bắt buộc,nhng vẫn cha tham gia Nói cách khác, nghĩa vụ và quyền lợi của ngời lao độngtrong khu vực kinh tế này cha đợc thực hiện

Theo số liệu thống kê, năm 1997 có 24.571 đơn vị với 560.000 lao độngvào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì chỉ có 9,4% số lao động tham giaBHXH Năm 1998 có 12,8%; năm 1999 có 16% và năm 2000 có 26,5% và chủyếu tập trung ở một số tỉnh, thành phố lớn nh : Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, BìnhDơng, Đồng Nai, Hải Phòng, Bà Rịa-VũngTàu, Tp Đà Nẵng, Long An, CầnThơ, Quảng Ninh Chỉ tính riêng 10 tỉnh, thành phố này năm 1999 đã thu bằng91,58% (121,9 tỷ đồng trong tổng số 133,1 tỷ đồng) số thu BHXH ngoài quốcdoanh của cả nớc Cũng năm 1999, Tp Hồ Chí Minh có 76.180 lao động ngoàiquốc doanh tham gia BHXH (bằng 51,52%) số thu đạt 81,231 tỷ đồng bằng61% so với số thu BHXH ngoài quốc doanh của cả nớc Thậm chí, một số địaphơng đến nay vẫn cha có doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia BHXH, đólà: Hng Yên, Bắc Cạn, Lai Châu… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh ởSơn La, Yên Bái, Hà Tĩnh… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh

Thực trạng trên cho thấy nguồn thu BHXH ở khu vực ngoài quốc doanhcòn rất lớn Số nợ BHXH ở khu vực ngoài quốc doanh khá cao Đầu năm 2000,các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nợ 14,987 tỷ đồng BHXH trên tổng số phảithu là 132,466 tỷ đồng (mới thu đợc 11,3%) Nhiều tỉnh, thành phố nợ đọngBHXH ở khu vực ngoài quốc doanh hàng tỷ đồng, nh Thành phố Hồ Chí Minh,

Hà Nội, Bình Dơng, Long An, Đồng Nai

Việc thực hiện BHXH khu vực ngoài quốc doanh còn nhiều hạn chế cónhiều nguyên nhân của tất cả các bên tham gia:

Trang 9

- Các văn bản quy phạm Nhà nớc về thực BHXH ngoài quốc doanh cha

đầy đủ, kịp thời, cha bao quát cụ thể hoá trong các quy định về hợp đồng lao

động, tiền lơng, xử phạt… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh Các quy định về thực hiện BHXH có trong nhiều vănbản luật, Nghị định của Chính phủ thông t hớng dẫn của các bộ ngành có liênquan, nhng mỗi văn bản lại điều chỉnh một mối quan hệ về BHXH giữa Nhà n -

ớc với các cơ quan, ngành cấp riêng, trong các loại hình doanh nghiệp, ngànhnghề riêng, nên chủ sở dụng lao động và ngời lao động khó nắm bắt và khó thựchiện

- Khả năng quản lý, đôn đốc thu nộp BHXH của cơ quan BHXH cha đápứng nhu cầu thực tế Bởi thời gian qua thực hiện BHXH khu vực ngoài quốcdoanh thiếu về cán bộ, cơ sở vật chất, phơng tiện hoạt động nghiệp vụ và nhất làthiếu cơ chế khuyến khích cán bộ công chức ngành BHXH làm công việc khókhăn này

- Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ có giấy phép chứ thực tếkhông hoạt động

- Hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha có tổ chức công đoàn vànếu có cũng chỉ là hình thức Công đoàn ở đây cha làm đợc chức năng bảo vệquyền lợi ngời lao động vì bản thân họ cũng là ngời lao động có tâm trạng vàhoàn cảnh tơng tự

- Chủ doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh cha thực sự tôn trọng quyềnlợi hợp pháp của ngời lao động, tìm cách trốn tránh tham gia BHXH của ngờilao động bằng cách đăng ký lao động ít hơn 10 lao động hoặc ký hợp đồng dới

3 tháng Doanh nghiệp chỉ thực hiện các hoạt động “Tự bảo hiểm một số quyềnlợi không thể không đáp ứng để động viên ngời lao động Cơ quan BHXHkhông có chức năng kiểm tra, yêu cầu các doanh nghiệp phải tham gia BHXH

- Do trình độ hiểu biết về chính sách BHXH của ngời lao động còn thấp

đồng thời nhu cầu tìm việc làm là mục tiêu bức thiết, nên ngời lao động khôngchú ý đến quyền lợi vè BHXH, không đốc thúc việc đóng BHXH của chủ sửdụng lao động, nên cũng ảnh hởng đến việc mở rộng BHXH

Vì vậy, cách giải quyết vấn đề tham gia BHXH nói riêng và các chínhsách lao động khác ở khu vực ngoài quốc doanh phải bắt đầu từ việc tổ chức lạidoanh nghiệp ngoài quốc doanh đúng với nghĩa của nó Ngành kế hoạch đầu t

từ bộ đến địa phơng (Sở) cần xiết chặt hơn các điều kiện bảo đảm cho mộtdoanh nghiệp đợc thành lập và hoạt động Trong đó, rất quan trọng là việc chấphành Luật Lao Động và chính sách đối với ngời lao động

Một địa phơng đại diện cho các nguyên nhân trên đó là tỉnh Phú Thọ,giống nh thực trạng chung của cả nớc, BHXH khối ngoài quốc doanh của tỉnhnày cũng đang đứng trớc tình trạng bị thất thu nghiêm trọng

Là vùng trung du bán sơn địa, có khu công nghiệp Việt Trì với hàngchục nhà máy, công ty lớn; nên tuy là tỉnh mới tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú, khốicác doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh Phú Thọ đã sớm hình thành và pháttriển mạnh Tính đến cuối năm 1999, Phú Thọ đã có xấp xỉ 100 đơn vị ngoàiquốc doanh đa ngành đa nghề với hàng chục nghìn lao động Nếu chỉ tính các

Trang 10

đơn vị có 10 lao động trở lên và hợp đồng từ 3 tháng trở lên, Phú Thọ cũng có66/100 đơn vị thuộc diện đóng BHXH bắt buộc với số lợng 3.625 ngời Nhng

đến nay, ngành BHXH Phú Thọ mới chỉ quản lý đợc 10 đơn vị với vẻn vẹn… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh

218 lao động Nếu tận thu đúng, thu đủ của 66 đơn vị này, số thu hàng năm đạtxấp xỉ 1 tỷ đồng; song hiện nay đến hết tháng 9/1999 mới thu đợc 115 triệu

đồng/160 triệu đồng kế hoạch cả năm; và nếu có thu đủ thì tổng thu khối ngoàiquốc doanh cũng chỉ bằng từ 3% - 4% kế hoạch thu toàn tỉnh Thất thu nghiêmtrọng ở Thành phố Việt Trì: có 42 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thì có tới 39

đơn vị chậm nộp BHXH Huyện Thanh Sơn có 8 đơn vị, thì chỉ có 1 đơn vị thamgia với số lợng 3 ngời là XNXD Xuân Thuỷ Huyện Phong Châu có 7 đơn vị thìmới có 1 đơn vị tham gia là công ty TNHH Việt Đức với 118 lao động YênLập, Hạ Hoà, Thanh Ba… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh mỗi huyện có 1 doanh nghiệp ngoài quốc doanh,song vẫn trắng BHXH khối ngoài quốc doanh ở Việt Trì, có 39 đơn vị ngoàiquốc doanh đăng ký tham gia BHXH, song vẻn vẹn chỉ có 3 đơn vị với 104 ngờitham gia là xí nghiệp xâp lắp điện nớc Hải Hà (19), xí nghiệp thực phẩm ViệtAnh (20), và công ty bông vải sợi Nghĩa Hng (65), 39 đơn vị còn lại chỉ thamgia mồm

ở các tỉnh khác nh Hà Tây, Hà Nội, Đồng Tháp, Thanh Hoá… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh việc cácchủ sử dụng lao động không đóng BHXH cho công nhân phần lớn với lý do: dới

10 ngời, và hợp đồng dới 3 tháng(!) Song việc ở Phú Thọ có 66/100 đơn vị có

10 lao động trở lên và ký hợp đồng 3 tháng trở lên mà chỉ có bấy nhiêu đơn vị

và lao động tham gia BHXH cho thấy: việc viện cớ dới 10 ngời và dới 3 thángchỉ là “chiêu bài” để các giới chủ trốn BHXH! Các chủ doanh nghiệp ngoàiquốc doanh phần lớn không qua đào tạo, không có quy hoạch, không có tổchức; ai có tiền là đứng ra kinh doanh theo kiểu chụp giựt, đợc năm nào haynăm ấy nên họ chỉ “tận thu” mà không “tận nghĩa” với ngời lao động Ngời lao

động trong các doanh nghiệp ở tứ xứ, họ chỉ cần việc làm, đồng lơng làm đến

đâu hay đến đó, đâu lơng cao thì đến, đâu thấp thì bỏ đi, nếu đòi hỏi BHXH vớichủ doanh nghiệp sợ mất việc làm Đó là bản chất của việc ngời sử dụng lao

động thì trốn tránh, ngời lao động thì thờ ơ với BHXH Một ví dụ điển hình làCông ty TNHH Việt Hng (Viêt Trì): Theo dự án từ năm 1998, Công ty này đăng

ký 42 lao động (thực chất có hàng trăm lao động): đây là một công ty ngoàiquốc doanh lớn nhất tỉnh Phú Thọ, kinh doanh đa ngành nghề, phát triển mạnhnhất là kinh doanh vận tải, xe buýt, taxi với hàng chục đầu xe khác nhau… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh Trụ

sở Công ty to hơn trụ sở BHXH tỉnh Phú Thọ Thậm chí, Công ty này còn có cả

hệ thống công đoàn, còn thực hiện cả việc bù lỗ cho xe buýt, làm công tác từthiện… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh Song suốt từ khi thành lập đến nay, Công ty cha đóng một đồng BHXHnào cho công nhân, vậy mà cũng không thấy tổ chức công đoàn này nói gì?.Các công ty Thơng mại Mai Khánh (23 lao động), Sơn Ngọc (35 lao động) Việt

Hà (15 lao động), Công ty bao bì Thơng mại Quế Hải (52 lao động), Công tydựng Hoà Phong (25 lao động)… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh cũng không hề có ngời nào tham gia BHXH?

Xí nghiệp sản xuất bao bì Tân Phong (Lâm Thao) có hàng trăm lao động,chuyên kinh doanh bao bì cho Công ty Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao,

Trang 11

bà chủ xí nghiệp là uỷ viên UBMTTQ tỉnh, sẵn sàng bỏ ra hàng chục triệu đồng

để làm “từ thiện”, song thực hiện nghĩa vụ nộp BHXH cho công nhân thìkhông! Xí nghiệp vật liệu xây dựng Trung Thành (Việt Trì) có 36 lao động, cócả cần cẩu, băng chuyền với nhiều thuyền bè khai thác cát trên sông Lô, sảnxuất phát triển, BHXH tỉnh mời dự Hội nghị về công tác BHXH cũng tham gia

đầy đủ, nhng khi yêu cầu đóng BHXH cho công nhân thì cũng đánh bài… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nhlờ!Công ty chè Đắc Nhân Tâm (Hạ Hoà) chuyên sản xuất kinh doanh chè, theo dự

án cũng có trên 30 lao động, doanh thu mỗi năm hàng tỷ đồng song cũng khôngnộp bảo hiểm cho ai? Thậm chí, xí nghiệp mộc-xây dựng 30/4 (Việt Trì) còn cócả công văn gửi BHXH tỉnh tuyên bố “không có điều kiện tham gia!” Trong khi

đơn vị này cũng là đối tợng tham gia bắt buộc

Đó chỉ là một trong số nhiều địa phơng ở nớc ta, quyền lợi hợp pháp củangời lao động không đợc đảm bảo Có thể thấy đợc ở mỗi địa phơng, các chủdoanh nghiêp sử dụng lao động đều tìm thấy cho mình những lý do, nhữngnguyên nhân để không thực hiện nghĩa vụ với ngời lao động Tình trạng trênkhông thể để kéo dài vì nó sẽ làm ảnh hởng đến quyền lợi của ngời lao động khicần đến sự trợ giúp của quỹ BHXH Để đảm bảo quyền lợi cho ngời lao độngtrong các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh cần tăng cờng công tác tuyên truyềnchính sách BHXH đối với ngời lao động bằng nhiều hình thức, thông qua cơquan báo đài, tổ chức đoàn thể, cơ quan đơn vị để ngời lao động hiểu đợc quyềnlợi khi tham gia BHXH tự giác tham gia Trong khi chờ ban hành luật BHXH,trớc mắt đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung những điều bất hợp lý của Nghị

định 38/CP về xử phạt vi phạm pháp luật lao động về BHXH Đồng thời, có sựchỉ đạo đồng bộ đối với các nghành, các cấp về lĩnh vực này Tăng cờng sự phốikết hợp giữa cơ quan BHXH với Sở Lao Động-Thơng binh và Xã hội, Liên đoànlao động tỉnh và các cơ quan hữu quan để tuyên tuyền giáo dục, vận động và cóbiện pháp hành chính làm cho ngời sử dụng lao động và ngời lao động thực thi

Điều lệ BHXH nghiêm túc Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phơng để cóbiện pháp hỗ trợ cho các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh tham gia BHXH

2.2 Trong các đơn vị có vốn đầu t nớc ngoài.

Xuất khẩu lao động không chỉ là việc đa ngời lao động Việt Nam ra nớcngoài làm việc mà vấn đề còn là xuất khẩu lao động tại chỗ (ngời lao động làmviệc trong các đơn vị có vốn đầu t nớc ngoài tại Việt Nam) Nhng vấn đề đợcquan tâm hơn cả là quan hệ lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh

Tháng 12/1987, Luật đầu t nớc ngoài vào Việt Nam đợc ban hành Đếnnay, đã có gần 2000 dự án đợc cấp giấy phép đầu t tại Việt Nam với số tiền đầu

t trên 30 tỷ USD Các khu chế xuất công nghiệp tập trung đợc hình thành Trên

4 vạn lao động thờng xuyên làm việc trong các cơ sở đã đi vào hoạt động nềnnếp, cha kể nhiều vạn ngời lao động của nghành xây dựng thi công các côngtrình Đầu t sản xuất và dịch vụ có đợc mở rộng thì ngời lao động mới có thêmviệc làm, đợc rèn luyện về kỷ luật lao động, tác phong làm việc, biết thêm ngoạingữ và điều quan trọng hơn là con ngời trở nên năng động sáng tạo hơn trongviệc sủ dụng sức lao động của mình

Trang 12

Tuy nhiên, đã có không ít vớng mắc diễn ra trong quan hệ lao động ởkhu vực này Đó là vấn đề điều hành sản xuất kinh doanh (mua bán vật t, tiêuthụ sản phẩm… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh), ngời nớc ngoài nói thế nào, ngời ta biết vậy, bởi việc mua bánnguyên liệu, vật t, máy móc, thiết bị diễn ra ở nớc ngoài Hơn thế, trong banlãnh đạo Công ty, ngời Việt Nam chiếm tỷ lệ ít hơn, ít giữ các vai trò, vị trítrọng trách hơn, cấp bậc cũng thấp hơn (chỉ là phó giám đốc, còn giám đốc làngời nớc ngoài) Vốn đóng góp về phía Việt Nam cha đến 50% Mục tiêu caonhất của chủ đầu t nớc ngoài là lợi nhuận, nên việc thuê công nhân Việt Namvới giá càng thấp càng tốt, ngoài ra còn thiết lập kỷ luật lao động, phạt nặnghơn những sơ suất do công nhân Việt Nam gây ra… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh gây nên sự phản đối bấtbình Cán bộ lãnh đạo và công nhân Việt Nam luôn chịu một tâm lý đi làm thuêcho ngời nớc ngoài, coi họ là kẻ bóc lột, coi trọng lợi nhuận nên quan hệ lạicàng trở nên khó gần gũi, gắn bó Ngôn ngữ bất đồng, dễ dẫn đến hiểu lầm hoặcmâu thuẫn trong lao động Trong những năm gần đây, tiền lơng trong các đơn

vị có vốn đầu t nớc ngoài cũng không hấp dẫn mạnh, bởi thu nhập và tiền lơngcủa ngời lao động ở một số ngành nghề của doanh nghiệp Việt Nam tăng lên.Mặt khác, các đơn vị có vốn đầu t nớc ngoài làm việc thờng không ổn định,tháng này làm, tháng sau nghỉ Ngời lao động có mục tiêu trớc mắt, không cómục tiêu lâu dài, nên tâm lý không muốn tham gia BHXH, BHYT Theo quy

định hiện hành cứ một năm đóng BHXH (12 tháng) khi nghỉ việc đợc trợ cấp 01tháng lơng, nhng nếu ngời lao động mới đóng 11 tháng thì không đợc trợ cấp,

mà bảo lu kết quả đóng BHXH để sau này cộng dồn thời gian đóng BHXH thìkhông biết bao giờ ngời lao động mới đủ điều kiện để hởng trợ cấp hàng tháng?

Sự bất hợp lý này không khuyến khích ngời lao động trong đơn vị có vốn đầu tnớc ngoài tích cực tham gia BHXH và không đòi hỏi giới chủ phải đóng BHXHcho họ

Để giảm bớt vớng mắc trong quan hệ lao động, trong đó quan hệ BHXH ởcác đơn vị có vốn đầu t nớc ngoài, thiết nghĩ phải làm cho ngời nớc ngoài điềuhành sản xuất tại Việt Nam Các cơ quan chức năng Việt Nam cần giải quyếtkịp thời những hành vi vi phạm Bộ Luật Lao động Mặt khác, cần tuyên truyềngiáo dục lao động Việt Nam nhận thức đúng về vị trí của mình trong sản xuất

II Vấn đề hởng trợ cấp BHXH của ngời lao động

Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) các nớc trên Thếgiới nên thực hiện trợ cấp 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu trong Công ớc 102tháng 6/1952 tại Giơnevơ:

1 Chăm sóc y tế

2 Trợ cấp ốm đau

3 Trợ cấp thất nghiệp

4 Trợ cấp tuổi già

5 Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

6 Trợ cấp gia đình

7 Trợ cấp sinh đẻ

8 Trợ cấp khi tàn phế

Trang 13

9 Trợ cấp cho ngời còn sống

Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Tuỳ điềukiện kinh tế-xã hội mà mỗi nớc tham gia công ớc Giơnevơ thực hiện khuyếnnghị ở mức độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện 3 chế độ Trong đó, ítnhất phải có 1 trong 5 chế độ: (3); (4), (5), (8), (9)

Theo điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nớc ta hiện nay baogồm 5 chế độ: Chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hu trí và chế độ tử tuất

Năm 2000 đẵ có trên 1 triệu lao động nghỉ hởng chế độ ốm đau, với trên

6 triệu ngày công đợc ngành BHXH thanh toán trên 80,2 tỷ đồng 6 tháng đầunăm 2001 có hơn 523 nghìn lợt ngời hởng chế độ ốm đau với trên 3 triệu ngàycông, số tiền thanh toán gần 44.8 tỷ đồng

Trong khối hành chính sự nghiệp, ngời lao động hởng mức lơng cố địnhtheo thang, bậc lơng do Nhà nớc quy định và đó cũng chính là quỹ tiền lơngtham gia BHXH, đợc cấp bởi ngân sách Nhà nớc Ngoài những trờng hợp thaisản, điều trị bệnh dài ngày trong các bệnh viện, ngời lao động thờng hạn chếviệc nghỉ ốm, nếu có đầy đủ chứng từ nghỉ ốm, họ cũng chỉ đợc thanh toán 75%mức lơng tham gia BXHX do ngành BHXH chi trả theo quy định, do vậy thanhtoán nghỉ ốm không có lợi cho họ Năm 2000, với trên 1,5 triệu lao động thamgia BHXH, chỉ có 70.000 lợt ngời nghỉ ốm với 760.000 ngày công, chi trả 9,68

tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2001, cũng với số lao động trên 1,5 triệu ngời, có32.000 lợt ngời nghỉ ốm, với 444.000 ngày công, chi trả trên 5,2 tỷ đồng

Khối doanh nghiệp Nhà nớc, có số lao động tham gia BHXH xấp xỉHCSN, cũng trên 1,5 triệu ngời, nhng số ngời nghỉ ốm năm 2000 lên đến770.000 lợt ngời, với trên 4,7 triệu ngày công và số tiền chi trả từ quỹ BHXHlên đến 52,4 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2001 đã có gần 400 lợt ngời nghỉ ốm với2,3 triệu ngày nghỉ và số tiền phải chi từ quỹ BHXH là 29,88 tỷ đồng, so vớikhối HCSN, mỗi chỉ số trong nghỉ ốm tăng gấp nhiều lần

Hiện nay trong các doanh nghiệp, thu nhập thực tế của ngời lao động ờng cao hơn quỹ lơng tham gia đóng BHXH, thậm chí gấp nhiều lần Thu nhậpnày phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vào khối lợngsản phẩm khoán, vào công việc đợc doanh nghiệp giao cho Với những doanhnghiệp sản xuất kinh doanh phát đạt và ổn định, thu nhập thực tế của ngời lao

th-động khá cao, họ chỉ quan tâm đến việc làm, đến thời gian sản xuất trong doanhnghiệp Do vậy đối với ngời lao động trong các doanh nghiệp này, ngoài nghỉthai sản và điều trị bệnh dài ngày bắt buộc tại Bệnh viện, việc thanh toán ngàycông ốm qua cơ quan BHXH trở nên không cần thiết

Trang 14

Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, việc trả

đủ lơng cho ngời lao động cũng trở thành vấn đề nan giải, chứ cha nói đến đóng

đủ BHXH cho ngời lao động Nhiều lao động tại các đơn vị này luân phiên nhaunghỉ ốm để đợc cơ quan BHXH thanh toán, nh là một biện pháp tăng thu nhậphoặc lấy tiền từ BHXH để quay lại đóng BHXH Xí nghiệp gạch Tuy-nen (LàoCai), có số lao động tham gia BHXH là 153 ngời, quý 1 năm 2001 có 144 lợtngời nghỉ ốm với 1017 ngày công; Xí nghiệp Dệt len Sài Gòn có 587 lao động,

số ngời nghỉ ốm trong quý 1 năm 2001 là 638 lợt ngời với 1881 ngày, Công tycao su Phớc Hoà (Bình Phớc), chỉ trong thời điểm quý 1 năm 2001 đã thanhtoán cho 2336 lợt ngời nghỉ ốm với số ngày công là 9287 ngày công; Công tyDệt Thanh Sơn (Đà Nẵng) có 238 lao động, chỉ trong quý 1 năm 2001 đã có

395 ngời nghỉ ốm với số ngày nghỉ là 2786 ngày, Xí nghiệp gạch ngói Lai Nghi(Đà Nẵng) cũng trong quý 1 năm 2001 chỉ với 53 lao động đã có số lợt ngờinghỉ là 123 lợt ngời… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh Trong những doanh nghiệp đang gặp khó khăn, việc cấpcác chứng từ nghỉ ốm dễ dàng hơn với những doanh nghiệp lớn có hệ thống Y

tế trực thuộc, dễ dàng có sự thoả thuận hay chỉ đạo của chủ sử dụng lao động.Vậy trong các thí dụ nhỏ trên, khi số lợng ngời nghỉ ốm lớn nh vậy, thử hỏi còn

có bao nhiêu lao động làm việc trong ngày? Cá biệt có đơn vị có số chi chế độnày quá cao, chiếm gần 8% so với tổng quỹ lơng khi tham gia bảo hiểm

Để đảm bảo cho sự chính xác, đòi hỏi ngành Y tế cần kiên quyết trớc hiệntợng ốm giả có trách nhiệm với những giấy tờ, hồ sơ đã cấp Có thể chi trả chế

độ BHXH ngắn hạn có thể thay đổi cách làm nh hiện nay và thực hiện thí điểm

ở một số doanh nghiệp, một số vùng để xác định hiệu quả chắc chắn của nó,

tr-ớc khi đa vào luật BHXH thành cơ sở pháp lý Đó là với khối hành chính sựnghiệp với đặc điểm tập trung tại các thành phố, đô thị, trung tâm hành chínhquận huyện, nơi tập trung hệ thống Y tế thuận tiện cho việc khám bệnh điều trị,việc chi trả chế độ vẫn áp dụng nh hiện nay, thanh toán trên cơ sở hồ sơ, bệnh

án và do cơ quan BHXH thực hiện; với nhiều doanh nghiệp, nhất là với nhữngdoanh nghiệp lớn, doanh nghiệp hoạt động phân tán, lu đông nh ngành dệt may,xây dựng, cầu đờng, địa chất… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh, có thể khoán chi chế độ này cho doanh nghiệp

Điều đó tạo thuận lợi cho doanh nghiệp không mất nhiều thời gian thanh toánBHXH, chủ động chi ốm đau và đó cũng chính là mong mỏi của nhiều doanhnghiệp, thuận lợi cho cơ quan BHXH, và khi đó nhiều doanh nghiệp sẽ khốngchế tỷ lệ ngời ốm của ngời lao động

2 Chế độ trợ cấp thai sản

Chế độ này nh hiện nay đã giúp lao động nữ có đợc khoản trợ cấp thay thếcho phần thu nhập bị mất do không làm việc vì sinh con Đối tợng trợ cấp củachế độ này là lao động nữ trong thời gian mang thai, sinh con và nuôi con và cảlao động nữ nuôi con sơ sinh

Theo số liệu thống kê năm 2000, có gần 160.000 ngời nghỉ hởng chế độthai sản với số tiển bảo hiểm xã hội trên 228,6 tỷ đồng 6 tháng đầu năm 2001,

có 150.000 ngời nghỉ chế độ thai sản đợc thanh toán từ quỹ BHXH với số tiềngần 179 tỷ đồng

Trang 15

Đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao đông nữ, đặc biệt là các doanhnghiệp kinh doanh các mặt hàng may mặc thời trang… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh Số lao động nữ nghỉsinh con đợc hởng chế độ thai sản của BHXH thờng cao hơn các doanh nghiệpkhác nh: Công ty Dệt Thanh Sơn (Đà Nẵng) có 238 lao động, chỉ trong quý 1năm 2001 có số ngời nghỉ thai sản là 23 ngời… hoặc có từ 1-2 đơn vị tham gia BHXH nh

Hầu hết các trờng hợp này đều đợc quỹ BHXH thực hiện chi trả đầy đủ.Tuy nhiên tại các doanh nghiệp vẫn còn hiện tợng doanh nghiệp không thựchiện đóng BHXH cho ngời lao động do đó quyền lợi về thu nhập, nghỉ dỡng sứccủa ngời lao động nữ không đợc đảm bảo

Với khối doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, đặc điểm nổi bật là ngờilao động đóng BHXH với mức lơng cao và khi thanh toán các chế độ BHXH họcũng đợc hởng cao Nhiều doanh nghiệp loại hình này đã nhận vào làm việcnhững ngời đang có thai, đóng BHXH vài tháng để sau đó đợc hởng BHXH với

số tiến lớn Cá biệt nh trờng hợp bà Lê Thị Hồng Vân, làm việc tại văn phòngBTR POWER SYSTEM, đóng BHXH đợc 7 tháng, với mức đóng là 344USD/tháng thì nghỉ thai sản, đợc cơ quan BHXH thanh toán trên 120 triệu

đồng, sau đó bỏ việc không tham gia BHXH

Chế độ thai sản đợc quy định cụ thể trong Nghị định 93/1998 NĐ-CPngày12/11/1998 bổ sung một số điều kèm theo Nghị định 12 CP, d luận rất

đồng tình ủng hộ Tuy nhiên cũng còn có một số điều còn cha hợp lý: đối với ờng hợp thai có bệnh lý, thai không bình thờng mà trong suốt quá trình mangthai chỉ đợc nghỉ việc để khám thai 3 lần , mỗi lần 2 ngày là cha bảo đảm.Trong thực tế có rất nhiều trờng hợp để bảo vệ đứa con, ngời mẹ phải hạn chếlàm một số công việc hoặc phải nghỉ việc một thời gian đẻ dỡng thai nhi Và đểtránh trờng trờng hợp nh bà Vân cần quy định điều kiện và thời gian tham giaBHXH ít nhất là 9 tháng trớc khi sinh con mới đợc hởng trợ cấp thai sản Trongthực tế hiện nay, đa số lao động đều thoát ly để đi làm việc, vì vậy chỉ có 2 vợchồng, khi sinh con ngời chồng phải có trách nhiệm và bổn phận chăm sóc vợcon, lo toan cuộc sống gia đình trong một khoản thời gian nhất định Do đó, cầnxem xét cho ngời chồng đợc nghỉ việc, có thể là 2 tuần?

tr-3 Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp BNN).

Chế độ này nhằm đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống cho ngời lao

động không may bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp Ngời lao động sẽ

đợc trợ cấp một lần nếu nh khi hồi phục sức khoẻ mà bị suy giảm khả năng lao

động dới 31% và đợc trợ cấp hàng tháng nếu ngời lao động bị suy giảm sức lao

động từ 31%-100%, ngoài ra nếu tỷ lệ mất sức lao động từ 81% trở lên thì còn

đợc hởng trợ cấp tự phục vụ bằng 80% lơng tối thiểu Mức trợ cấp phụ thuộcvào mức suy giảm khả năng lao động Trong trờng hợp ngời lao động bị chếtBHXH phải trợ cấp một lần cho gia đình ngời lao động 24 tháng lơng tối thiểu

và thực hiện trợ cấp tuất theo quy định

3.1 Tai nạn lao động

Trang 16

Nền kinh tế nớc ta trong những năm qua đã có sự tăng trởng đáng kể.

Do những nhu cầu bức thiết về xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và sinhhoạt xã hội, nguồn kinh phí, nguồn vốn đầu t cho những công trình trọng điểmnày đã chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng Ngân sách Nhà nớc Đông đảo lựclợng công nhân lao động đợc huy động vào lĩnh vực xây dựng Song có mộtthực tế đáng buồn đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội: Số vụ TNLĐmỗi năm một gia tăng, chiếm tỷ lệ cao nhất ở ngành xây dựng và tai nạn giaothông đờng bộ Thực trạng tình hình trên không những gây những hậu quảnghiêm trọng về tính mạnh, sức khoẻ của ngời lao động mà còn ảnh hởng xấu

đến vấn đề an sinh xã hội Nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng số vụTNLĐ đó là:

- Chế độ ATLĐ đã bị vi phạm hoặc bị xem thờng từ phía ngời SDLĐ vàchính bản thân ngời lao động Nhiều quy định về ATLĐ, các quy trình kỹ thuật

an toàn trong quá trình lao động sản xuất đã không đợc tuân thủ một cáchnghiêm ngặt

- Nhiều doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận tối đa nên hạn chế chi phí muasắm hoặc cải tiến các trang thiết bị bảo hộ lao động

- Bản thân ngời lao động, nhất là bộ phận công nhân hợp đồng lao độngtheo thời vụ, cha đợc hớng dẫn một cách tờng tận các biện pháp an toàn lao

động, nên rất dễ chủ quan, mắc sai phạm

- Các cơ quan giám sát, kiểm tra tiêu chuẩn an toàn lao động thực sự ch a

có biện pháp chế tài, xử lý nghiêm khắc những trờng hợp vi phạm

NTLĐ, nhất là TNLĐ trong nghành xây dựng, theo số liệu thống kê ởThành phố Hồ Chí Minh, từ năm 1992 đến năm 1998, chiếm 4% tổng số ngờichết so với tổng số ngời thiệt mạng trong các ngành nghề lao động khác nhaugây ra Số lợng ngời có tỷ lệ thơng tật từ 31% trở lên còn cao hơn nhiều so với

số bị tử vong Tình hình TNLĐ ở tỉnh Thừa Thiên- Huế nói chung và TNLĐtrong ngành xây dựng nói riêng tuy cha đến mức báo động nhng mỗi năm số vụTNLĐ có hởng chế độ trợ cấp BHXH đều tăng Từ tháng 10/1995 đến tháng6/1998, BHXH tỉnh đã giải quyết trợ cấp hàng tháng cho 54 trờng hợp TNLĐ,trong đó tai nạn giao thông chiếm đến 20 trờng hợp; giải quyết trợ cấp 1 lần cho

71 trờng hợp, trong dó tai nạn giao thông có 26 trờng hợp

Còn biết bao nhiêu vụ việc TNLĐ khác xảy ra cho những công nhân không

đợc tham gia BHXH thì cha có số liệu cụ thể! Đã xảy ra nhiều trờng hợp TNLĐ

đáng thơng cho những ngời lao động ở dạng hợp đồng ngắn hạn hoặc lao độngthời vụ chỉ đợc ngời sử dụng lao động chi cấp cho một khoản tiền nhỏ hoàntoàn không tơng ứng với mức độ tổn thơng Tình cảnh của những đối tợng nàyrất thê thảm, bản thân bị mất sức lao động, nhiều khi kéo dài, gia đình phải chịunhiều phí tổn y tế Đời sống kinh tế càng lâm vào cảnh bế tắc! Điều gì sẽ xảy racho gia đình, xã hội một khi ngời ta cùng đờng, tuyệt vọng? BHXH là phơng ántối u để đảm bảo sự ổn định cho ngời lao động trong những trờng hợp nh thế.Nhng thực tế còn rất nhiều đối tợng lao động ở khu vực doanh nghiệp ngoàiquốc doanh đã bị chủ doanh nghiệp đẩy ra ngoài “hành lang an toàn” Tình

Trang 17

trạng “rơi tự do” của ngời lao động lại bắt nguồn từ những cú “lách” của ngời

sử dụng lao động với những lý do: lao động theo thời vụ, đơn vị sử dụng dới 10lao động!

3.2 Bệnh nghề nghiệp

Bệnh nghề nghiệp (BNN) là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hạicủa nghề nghiệp tác động tới ngời lao động Từ năm 1976 đến nay, tại ViệtNam đã có 21 bệnh đợc Nhà nớc công nhận là BNN, đợc BHXH thực hiện trảtrợ cấp Tổng số ca mắc BNN và đợc giám định qua 10 năm 1991 đến 2000 là

9977 trờng hợp Số công nhân bị BNN đợc giám định trong giai đoạn 1996

-2000 đã tăng gấp 3 lần so với giai đoạn 1991- 1995, từ 2553 lên 7424 trờnghợp Trên Thế giới, chi phí cho TNLĐ và BNN ớc tính chiếm tới 4% tổng sảnphẩm quốc nội của một số nớc ở Việt Nam các chi phí này cha đợc ớc tính.Trong số 21 BNN, nhóm các bệnh phổi nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất(73%), rồi đến các bệnh do yếu tố vật lý (18,5%), các bệnh nhiễm độc nghềnghiệp (4,5%), cuối cùng nhóm các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp (0,9%).Những địa phơng có số ngời lao động mới mắc BNN cao chủ yếu tập trung vàocác thành phố và tỉnh có các ngành công nghiệp phát triển nh: Thái Nguyên,Quảng Ninh, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đồng Nai

Nhìn chung, BNN có xu hớng tăng ở tất cả các nhóm BNN, đặc biệt là cácbệnh bụi phổi silic và điếc do tiếng ồn Tính tới tháng 6/2001, số trờng hợp bịbệnh bụi phổi silic đã đợc giám định và đợc hởng trợ cấp là 7125 trờng hợp(chiếm trên 70% so với tổng số các BNN) Số trờng hợp điếc do tiếng ồn với

1868 trờng hợp (chiếm trên 18%) Các BNN khác có số mắc cao là nhiễm độcthuốc bảo vệ thực vật nghề nghiệp (214 trờng hợp) bệnh sạm da nghề nghiệp(212 trờng hợp), bệnh nhiễm độc chì (166 trờng hợp) Bệnh nhiễm độc nicôtinnghề nghiệp đợc công nhận từ năm1998 nhng cũng đã có 131 trờng hợp phảigiám định

Số lợng nêu trên vẫn cha phản ánh đúng thực tế tình hình BNN ở nớc ta.Trong những năm gần đây, đặc biệt là giai đoạn 1996- 2000, công tác khámbệnh nghề nghiệp đã và đang đợc các địa phơng cũng nh các Bộ, nghành chútrọng và quan tâm Công tác khám BNN đợc triển khai rộng rãi do vậy số pháthiện mắc BNN cũng đã tăng lên một cách đáng kể, Mặc dù vậy, số công nhân

đợc khám BNN mới chỉ đạt khoảng 1-5% trong tổng số công nhân tiếp xúc vớinguy cơ Tỷ lệ phát hiện BNN chiếm 14,7% tổng số khám và tỷ lệ đợc giám

định là 37,5% Tỷ lệ phát hiện số ngời mới mắc bệnh bụi phổi silic trên tổng sốcông nhân đợc khám trung bình hàng năm là 15,75% trên tổng số đợc giám

định là 43% Với sự đóng góp tích cực của cơ quan BHXH, Bảo hiểm Y tế, ngờilao động bị BNN đã đợc hởng các chế độ theo đúng quy định của Nhà nớc Tuynhiên, số công nhân đợc khám bệnh nghề nghiệp quá thấp so với tổng số lao

động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ Công tác giám định còn phức tạp vàthiếu cán bộ nên mới giám định đợc 40% số đã phát hiện bệnh Các bệnh chakhám phát hiện trong 10 năm qua là nhiễm độc asen, mangan và bệnh giảm ápnghề nghiệp Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng BNN là:

Trang 18

- Môi trờng lao động bị ô nhiễm nặng Dây chuyền công nghệ sản xuấtnhiều nơi còn lạc hậu, trang thiết bị bảo hộ lao động cũ, hỏng, hoặc thiếu làmcho môi trờng lao động bị ô nhiễm bởi: bụi, tiếng ồn, ánh sáng, hơi khí độc Hiện nay số mẫu đo môi trờng vợt tiêu chuẩn cho phép vẫn còn cao (chiếmkhoảng 23%).

- Cơ cấu sản xuất mới, dây chuyền công nghệ mới, hình thành nhữngngành sản xuất mới làm nảy sinh yếu tố có hại đến sức khoẻ ngời lao động vàhình thành những bệnh nghề nghiệp cha có trong danh mục

- Sức khoẻ ngời lao động cha đợc quan tâm đúng mức cả từ phía ngời sửdụng lao động và ngời lao động Tại nhiều tỉnh, các doanh nghiệp cha quan tâm

đến công tác giám sát môi trờng lao động, khám sức khoẻ định kỳ và khámbệnh nghề nghiệp cho công nhân Ngời lao động ít hiểu biết về quyền lợi vàphòng chống các tác hại trong môi trờng độc hại Việc không thực hiện thờngxuyên công tác giám sát môi trờng lao đông, khám sức khoẻ định kỳ dẫn tớikhó khăn khi làm hồ sơ thủ tục cho ngời bị BNN đi giám định và hởng trợ cấp

- Chi phí để giám sát môi trờng lao động và phát hiện BNN cha đợc đa vào

kế hoạch thờng xuyên của các doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp làm ăn kémhiệu quả không chú trọng đến công tác này Chỉ có hơn 20% đối tợng sau bịbệnh bụi phổi nghề nghiệp đợc chụp lại phim và đo chức năng hô hấp, theo dõitiến triển

- Công tác tổ chức khám, phát hiện và giám định cho những công nhân saukhi đã nghỉ hu phát triển bệnh cha đợc thực hiện kể cả phía doanh nghiệp và cơquan Nhà nớc

- Một số chế độ chính sách cha phù hợp với ngời lao động bị BNN Nhữngdoanh nghiệp không đóng BHXH, BH Y tế thì việc khám phát hiện và giám

định bệnh nghề nghiệp càng không đợc chủ sử dụng lao động quan tâm và làmmất quyền lợi của ngời lao động

- Một số văn bản của Nhà nớc cha cụ thể, vì vậy việc thực hiện đối vớituyến dới còn lúng túng

3.3 Một số giải pháp

Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp của ngời lao động nh hiện nay larất đáng báo động, nó không những ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ, quyền lợicủa ngời lao động mà còn làm ảnh hởng đến việc bảo toàn quỹ BHXH do đócần phải:

+Bổ sung điều kiện về thời gian tham gia BHXh ít nhất là 6 tháng trớc khixảy ra tai nạn lao động mới đợc hởng trợ cấp tai nạn lao động (cũng nh ốm đauthuộc các bệnh dài ngày và trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động hiện naykhông khống chế thời gian đóng BHXH sẽ dẫn đến việc điều chỉnh dễ dàngtheo chủ quan của ngời lao động và ngời lao động để đợc hởng BHXH) Trongkhoảng thời gian 6 tháng trớc khi hởng trợ cấp tai nạn lao động do BHXH chitrả, nếu xảy ra tai nạn lao động thì chủ sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chiphí điều trị và phải trả trợ cấp tai nạn lao động cho ngời lao động Có nh vậy,mới ràng buộc ngời sử dụng lao động trong việc sắp xếp, bố trí công việc cho

Trang 19

ngời lao động mới vào làm việc một cách phù hợp và thực hiện tốt công táchuấn luyện an toàn vệ sinh lao động, trang bị bảo hộ lao động.

+Thay đổi lại trợ cấp thơng tật theo hớng cứ mất 1% sức lao động do thơngtật thì đợc trợ cấp một mức tơng ứng Thay cho quy định: mất sức lao đông từ31% đến 40% đợc trợ cấp nh nhau, bằng 0,4 tháng tiền lơng tối thiểu

+Bỏ quy định khi bị tai nạn lao động trên tuyến đờng đi và về từ nơi ở đếnnơi làm việc đợc xác định là tai nạn lao động, vì chế độ BHXH hiện nay khôngcòn gới hạn trong cán bộ, công chức, viên chức Nhà nớc mà đã đợc mở rộng

đến ngời lao động làm việc có tham gia BHXH ở các thành phần kinh tế, đồngthời loại bỏ kẽ hở dễ dàng lạm dụng

Đối với việc giải quyết chế độ tiền tuất cho thân nhân ngời lao động bị tainạn lao động, BNN chết nên áp dụng thống nhất nh ngời đang làm việc chết dobệnh tật, rủi ro

4 Chế độ hu trí

Đây là chế độ nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thunhập không đợc nhận nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hu Ngời lao động đợc hởngtrợ cấp hu trí nếu nh có thời gian đóng BHXH ít nhất là 20 năm Cứ 15 năm

đóng BHXH thì đợc lĩnh 45% lơng bình quân 5 năm cuối, cứ thêm 1 năm đóngBHXH thì đợc cộng thêm vào lơng hu 2% tháng lơng làm căn cứ Tức là ngờilao động đóng BHXH 30 năm thì đợc hởng lơng hu 75% tháng lơng làm căn cứ,nếu công tác lớn hơn 30 năm thì cứ 1 năm tăng thêm đợc cộng thêm 1/2 thánglơng căn cứ đóng BHXH (nhng không quá 5 tháng)

Ngời lao động về hu và đợc hởng trợ cấp hu trí thì thời gian tối thiểu thamgia BHXH là 20 năm và tài liệu làm căn cứ chứng tỏ số năm đóng BHXH đóchính là sổ BHXH Một trong những chính sách BHXH là ngời lao động dợcbảo lu quá trình đóng BHXH từ nơi này sang nơi khác để cộng đủ thời gian, đủ

điều kiện hởng chế độ BHXH hàng tháng Đây cũng là mục tiêu nhằm bảo đảmcho ngời lao động khi hết tuổi lao động đợc hởng chế độ đãi ngộ, an sinh xãhội Nhng hiện nay, ngời lao động không muốn bảo lu sổ BHXH, vấn đề này cóthể là do một số nguyên nhân sau:

- Trong nền kinh tế thị trờng, việc làm không ổn định, bản thân ngời lao

động vẫn còn nặng tâm lý “ngời đâu của đó” sợ chính sách thay đổi

- Các doanh nghiệp không muốn tiếp nhận giải quyết chế độ cho ngời lao

động, nên cha quan tâm việc chuyển sổ BHXH hay các chế độ khác của ngờilao động

- Nhiều doanh nghiệp còn tìm cách né tránh không nộp BHXH, các cơ sởsản xuất không thuộc diện bắt buộc, nếu ngời lao động chuyển sổ BHXH sẽkhông đợc giải quyết

- Theo quy định hồ sơ hởng chế độ do ngời sử dung lao động lập thờngkhông còn mối quan hệ mật thiết Vì vậy, nếu ngời lao động bảo lu qua nhiều

đơn vị, nhng đến đơn vị cuối cùng không nộp BHXH, muốn trở về đơn vị cũ đểlàm thủ tục liệu có đợc thuận lợi hay không hay là lại lý do thay đổi thủ trởng,

Ngày đăng: 22/04/2013, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w