1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác quản lý, khai thác và phát huy tác dụng di tích đền Đào Động

27 504 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác quản lý, khai thác và phát huy tác dụng di tích đền Đào Động
Trường học Trường Đại Học Thái Bình
Thể loại tiểu luận
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 100,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác quản lý, khai thác và phát huy tác dụng di tích đền Đào Động

Trang 1

lời mở đầu

Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khá sôi động của sự phát triểnxã hội, dới tác động của một nền kinh tế theo cơ chế thị trờng Nhịp sốngkhẩn trơng và sức hấp dẫn của các hoạt động nhằm mang lại lợi ích kinh tế,nhiều khi đã làm mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp mà bao thế hệtiền thân đã chắt chiu, hun đúc lên, đồng thời nó phá vỡ sự cân bằng vốn cócủa cơ cấu vật chất - tinh thần Di tích lịch sử văn hoá của mỗi dân tộc lànơi lu giữ các giá trị truyền thống và những sinh hoạt văn hoá tại các di tích

là sự ôn lại truyền thống đo, hớng ngời ta tìm về với cội nguồn dân tộc và

đ-a con ngời tđ-a trở về với Chân - Thiện - Mỹ Việc nghiên cứu để bảo vệ, tôntạo, phát huy tác dụng của các di tích lịch sử văn hoá là nhằm vào việc làmsáng tỏ cái giá trị văn hoá tinh thần của nhân dân ta góp phần vào việc xâydựng nếp sống văn hoá mới

Từ thời xa xa ngời Việt ta đã rất tin vào thần thánh Ngời vùng cao thìthờ thần núi, thần hổ, ngời đồng bằng thì thờ thần đất, thần sông, dân vạnchài thì thờ thần sông biển Lại có tập tục thờ những anh hùng dân tộc

"Những ngời sinh vì tớng tử vi thần" Sự tin cậy đến mức dân đi lập nghiệptrên vùng đất mới đều thỉnh thần quê nhà đi theo làm điểm tạ tinh thần Mỗikhi có việc hệ trọng đều đến cúi xin thần chỉ bảo, phù trợ Thần và ngời vừacao xa, vừa gần gũi Đôi khi dân chủ dễ tính nh ngời cùng cảnh ngộ, không

đòi hỏi, chỉ cần hai chữ "lòng thành" Chính vì thế đền, miếu nhiều nh nấm,làng nào cũng có

Đền Đào Động thuộc làng Đào Động (dân gian quen gọi là Đồng bình

đọc chệch là Đồng Bằng thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh TháiBình) Trong đền có nhiều cổ vật quí hiếm đợc trng bày phong phú, đặc biệtnơi đây chứa đựng giá trị đặc sắc về lịch sử văn hoá và nghệ thuật

Ngày 22/12/1986, Bộ Văn hoá thông tin ra Quyết định số 225VH/QĐ,công nhận đền Đào Động là di tích lịch sử văn hoá kiến trúc quốc gia

Tìm hiểu về di tích lịch sử văn hoá đền Đào Động, với lòng nhiệtthành em muốn đợc nâng cao kiến thức, sự hiểu biết về đền nói riêng và các

di tích lịch sử Việt Nam nói chung

Trang 2

Vào thời Trần, Đào Động nằm trong trung tâm căn cứ lu vực sông hoácủa Quốc công tiết chế Hng Đạo Vơng Vơng sai tớng Phạm Ngũ Lão vàphò mã Nguyễn Chế Nghĩa về đắp thành luỹ lập căn cứ ở thôn Đào, thônLãng (Đào Động), đền thờ hai ông vẫn còn, dấu vết chiến luỹ vẫn còn, đây

là hậu cứ vững nh "thánh đồng" nên làng Đào Động còn có tên gọi "ĐồngBình" - bức chắn bằng kim loại trên phòng tuyến chống quân xâm lợcNguyên Vì không căn cứ vào tự dạng và nội dung chữ, các quan chức thờihiện đại (năm 1975) cho chữ Bình (bức chắn) đồng nghĩa với chữ bình(Đồng Bằng) nên tên làng ghi trên bản đồ địa chính từ năm (1975) có tên là

II- Vị trí địa lý đền đào động.

1 Một vài nét về lịch sử chiến lợc của trang Đào Động thời cổ đại và cận đại.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí: Làng Đào Động xa chung rẻo đấttỉnh Nam Định, thời Hùng Vơng thuộc về Bộ Thang Truyền, thời tiền Lê(giữa thế kỷ X) thuộc phủ Thái Bình, thời Lý thuộc phủ Long Hng, cuối đờiTrần thuộc huyền Cà Côi, phủ An Tiêm, thời Lê thuộc tổng Vọng Lỗ,huyện Phụ Thợng, phủ Thái Bình Năm 1969 UBND tỉnh Thái bình sát nhập

Đào Động vào xã An Lễ, thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

Theo tài liệu điền dã lu tại bảo tàng Thái Bình và tập tài liệu "hớng dẫntham quan đền Động Bằng" của tác giả Vũ Đức Thơm cho rằng: Đào Động

là một làng cổ nằm trong khu vực đất cổ phía Bắc tỉnh Thái Bình, có niên

đại khoảng cuối sơ kỳ đồ sắt, cách ngày nay khoảng trên dới 2.000 năm.Trong tài liệu của UBND xã An Lễ trang 1 "phần mảnh đất và con ng-

ời Đào Động" viết "Trên đôi bờ dòng sông Đồng Bằng xuất hiện nhiều

đống, đờng… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đờng" Đúngvậy, tại các địa điểm trên hiện đang bảo lu hàng trăm tiêu bản gạch mộ hìnhlỡi búa, mặt trong khắc nổi hoa văn trám lồng, rất nhiều mảnh gốm xốp vớihoa văn kẻ vạch thuộc nhóm gốm Đờng Cồ Vơn khỏi Đào Động về phíaBắc từ 2 đến 5 km ta gặp nhiều mộ Hán ở các xã An Quí, An Thái tại làng

Ô Cách, xã Quỳnh Xá, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Thái Bình tìm

đợc hàng trăm mũi tên đồng, 2 mũi giáo đồng, 2 lục lạp đồng, nhiều rìu

đồng đợc các chuyên gia khảo cổ xếp vào nhóm đồng Đông Sơn muộn lùi

Trang 3

xuống phía biển xa thêm 7km, ngời ta tìm thấy nhiều mẫu gạch xây mộ cổtơng tự nh trên Có thể nói làng Đào Động đợc hình thành cách chúng tangày nay khoảng 2.000 năm, hoặc trên dới 2.000 năm một chút

Ngời công dân đợc ghi vào sự tích thần điển làng là ông già cất vó trênbến sông Vĩnh (có công nuôi dỡng Thành Hoàng), tên là Nguyễn Minh.Lớp c dân ban đầu dựa vào các cồn cao nh đống Phan, đống Hng, đống He

để dựng lều trại Nghe nói thời ấy cá he vào tận bến sỗng vì thể còn địadanh Đống He truyền đến ngày nay Sông Vĩnh bây giờ đã hình thành songsông sâu nớc cả hơn bây giờ bội phần Hai địa bàn c trú đầu tiên là xóm

Đào (nớc dậy sóng), xóm Lãng (sóng lớn) Đến giữa thiên niên kỷ thứ nhấtthì dân xóm đã động, bớc đầu hình thành hơng Đào Động (làng đầy sónggió)

Từ đầu triều Lý (1010), với chính sách khuyến nông của Vơng triều,dân trong Đào Động có bớc vơn mình, chuyển hẳn ng nghiệp sang nôngnghiệp Sự kiện chính biến: Quách Bốc đánh chiếm kinh thành Thăng Long,gia đình Trần Lý, Trần Th Độ, Trần Tự Khánh, Trần Liễu mộ hơng dũngLong Hng (Thái Bình) Thiên trờng (Nam Định) cất quân đát dẹp, rớc LýCao tôn về kinh, tiếp đến năm 1211 phù Lý Huệ Tôn lên ngôi, thanh thế họTrần càng mạnh Để chuẩn bị cho việc lớn, Trần Thị Dung mở ấp ở vùngKhuông Phù, Phù Ngự (xã Liên Hiệp) Trần Thừa đặt phủ đệ ở Tinh Cơng(vùng xã Tiến Đức, bắc Hng Hà)… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ Trần Liễu về tị nhậm vùng Hà Côi -Phụ Phợng (sách ngàn năm đất và ngời Thái Bình)

A Sào cách Đào Động 6 km xa là bản doanh của Phụng Kiền vơngTrần Liễu, ông đã xây dựng 4 trang: Đào Động, Lộng Khê, Tô Đê, ASàoven lu vực sông Hoá, sông Vĩnh Thành 4 trung tâm kinh tế phồn thịnh đợccoi là: "Tứ cố cảnh triều Lý"

Từ giữa thế kỷ XIII Đào Động là địa điểm đợc Trần Hng Đạo rất quantâm Sách ngàn năm đất và ngời Thái Bình chép: "Theo lệnh quốc công tiếtchế Trần Hng Đạo, yết kiêu đã da cả đội quân thuỷ lừng danh dới tớng về

đóng ở ngã ba sông Nông (Hng Hà)… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ xuôi dòng Luộc, Hoá xa hơn nữa vềphía Đông lại có cả một khu căn cứ lớn của nhà Trần: Đào Động, lộng Khê,Tô đê, ASào phụ phợng tứ cố cảnh triều Lý,4 nơi có cảnh sắc phongquang, dân c trú một đều đợc xây dựng thành nơi tập trung quân lơng quantrọng ASào với một bên là sông Luộc, một bên là sông Hoá - nơi điền trang

xa của Phụng Kiền Vơng đã đợc lấy làm đại bản doanh chính của vịquốccông tiết chế đố Mặt phía Bắc có tiền đồn là Lộng Khê, chệch về phía Namcách ASào 6km là căn cứ thuỷ bộ Đào Động đợc giao cho Phạm Ngũ Lão -

vị tớng nổi tiếng quê làng Phù Đổng (Hải Dơng) cai quản và dùng làm nơitập luyện cả hai đạo bình thuỷ và bộ"

Trang 4

Trên địa bàn thuộc Đào Động và xã An Lễ tìm thấy miếu ông thời

điện tiền tớng quân Phạm Ngũ Lão và quân phu nhân Anh Nguyên (tởngtruyền bà quê làng này, đợc Trần Hng Đạo nhận làm con nuôi, sau gả choPhạm Tớng quân Lại tìm đợc bài vị "Trần Triều phò mã đô uý Nguyễn ThếNghĩa" Tơng truyền: Phạm Ngũ Lão coi luyện quân thuỷ, Nguyễn ChếNghĩa coi bộ, các điểm tập trung ngày xa nh: đình Rất, đình Sinh, đình Bến,

đình Bơi, đình Đào đều là bến đón quân về, tiễn quân đi Khi trừ xong giặpBắc dân lập đình để thờ các vị quan tớng thời Trần và các vị Thành Hoàng

cũ thuộc trong ấp

Cách đền Đồng Bằng 600m hiện còn đoạn luỹ thời Trần dài 200m, có

địa danh cổng Tây Trớc đây còn cổng Đông, cổng Nam, cổng Bắc Đào

Động từng đợc mệnh danh là bức thành đồng, tên làng Đồng Bình có từ sựkiện này Xuôi cần Vật 100m là cánh dầm Bà, thực ấp của Hoa đào AnhNguyên - quận chúa, xa là bãi đỗ thuyền của đại quân nhà Trần Cầu Vậtvốn là sới vật và bãi tập của quân thánh Dực do Trần Hng Đạo quản lĩnh,Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa phụ trách Từ niên hiệu Trung Hng(1285 - Trần Nhân Tông) đến các triều Anh Tôn (1293 - 1314), Minh Tôn(1314 - 1329)… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ Để tri ân dân bình Đào Động đã nhờng cơm sẻ áo nuôiquân, nhà nhà là trại lính, xóm xóm là quân doanh Trần triều phò mã Đô

Uy và Phạm Điện Soái đã u tiên hỗ trỡ việc khẩn điền Nhiều binh sỹ trongcác quân doanh trở lại làm dâu rẻ đa ngời thân về xây dựng quê mới từ đó

đất đai đợc khẩn hoang từ các thôn: Đào Lãng, Cúi Dất… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ phát triển thêmcác khu: Trung, Cầu, Đông, Đào, từ đây làng Đào Đông trở thành "Đào

Động bát trang" một làng giàu có nổi tiếng của lộ An Tiêm

Trong 20 năm chống giặc Minh xâm lợc, Đào Động là căn cứ lớn củatớng Phạm Bội (quê xã An Bài cách Đào Động 2km) Trai làng nổi tiếngbởi tinh thần dũng cảm trung thành Năm 1417 gần 100 trai làng đã theothủ lĩnh Phạm Bội vào Lam Sơn tụ nghĩa dự lễ thề Lũng Nhai, theo Bình

Định Vơng 10 năm đánh đuổi giặc Minh

Dới triều Mạc Mậu Hợp, Đào Động và Tô Xuyên là hai tiền đồn quantrọng của phòng tuyến Đông Quynh - chạy từ Quỳnh Phụ sang Hng Hà củabinh bộ thợng th Vũ ảm

Trong phong trào Cần Vơng chống Pháp, gần 100 dân binh Đào Động

đã giúp Đôi chuẩn xây đồn cổ tiết, giữ phía Tây Cầu Vật thuộc làng, cùng

đội Duẫn xây đồng Vũ Hạ (xã An Vũ) giữ ngã t môi tại phía đông làng,nhiều lần đánh trả quân tuần tiễn nguỵ quyền các đồn Quỳnh Côi, ThuỵAnh góp phần bắt sống và giết bang biện Nam triều Mai Đức Văn

Ngay từ những năm 30 thế kỷ 20 dới ngọn cờ của Đảng Cộng sản ViệtNam Đào Động đã có sở sở cách mạng

Trang 5

Năm 1950, quân Viễn Chinh Pháp sử dụng khu đình Chợ làng Đào

Động làm phủ lỵ huyện Phụ Dực, đóng bốt tại cầu Nghìn (An Bài), ngã tMôi (An Vũ), chợ Đình, Cầu Vật (Đào Động) với số trên 1.000 lính quândân Đào Động bám đất chiếm đến cùng Ngày 23/6/1954 du kích xã đãcùng bộ đội tiểu đoàn 64 đại đoàn Đồng Bằng hạ bốt Cầu Vật, bao vây bứcbốt quận (chợ Đồng Bằng) phải bỏ tháo chạy về Setơ Kiến An

Trong kháng chiến chống Mỹ, trên 200 thanh niên Đào Động lớp lớptòng quân Tại địa phơng trung đội trực chiến của thôn đã kết hợp với bộ độhuyện chiến đấu bảo vệ Cầu Vật trên quốc lộ 10 và ngày 20/8/1979 đã bắnrơi máy bay phản lực Mỹ đợc Quốc hội tặng huân chơng chiến thắng hạngII

2 Vị trí địa lý đền Đào Động.

Đào Động nằm giữa lu vực sông Hoá và sông Đại Lẫm, ngợc lên phíaBắc gặp sông Luộc ở khu vực Tuần Tranh (Ninh Giang), ngợc về phía Tây18km là cửa Hải Thị, tiếp vào sông Hồng, xuôi về phía Đông 7km gặp sôngThái Bình tại Cầu Xe Theo dòng sông Hoá có đờng ra cửa sông Thái Bình,theo dòng Đại Lẫm hợp với sông Diêm đổ ra cửa Trần (tức cảng Diêm

Điền) Khách từ kinh thành có thể theo sông Hồng vào cửa Hải thị về sông

Đại Lẫm, khách từ đông Bắc theo sông Thái Bình xuống ngã ba Cầu Xexuống Tuần Tranh voà sông Hoá để đến Đào Động đều thuận lợi

Khách từ mạn biển hoặc theo cửa Thái Bình qua sông Hoá hoặc cửaDiêm Điền qua sông Diêm đếu có thể đến tận sân đền Đồng Bằng Năm

1910, ngời Pháp mở quốc lộ 10 từ Ninh Bình qua Nam Định sang thị xãThái Bình, đi thị xã Kiến An và thành phố Hải Phòng, đờng quốc lộ kề sátcạnh đền Đồng Bằng, việc giao thông đi lại về đền càng thuận tiện Đền sátcạnh Cầu Vật cách thị xã Thái Bình 20km, cách thành phố Hải Phòng70km, cách thị xã Kiến An 59 km

III- Lịch sử di tích đền đào động.

1 Niên đại xây dựng đền.

Theo truyền thuyết đền là phủ đệ của thuỷ thần Vĩnh Công đại vơngtrấn Tam Kỳ giang linh ứng đại vơng, có công phù vừa Hùng Duệ Vơng dẹploạn Ngày 26/8 năm Mậu Thìn đời Duệ Vơng ông tạ thế, vua cho tiền sửasang phủ đệ thành đền miếu cho dân phụng thờ

Đền thời Lý đền đợc củng cố, sách "Ngàn năm đất và ngời Thái Bình"xếp đền là "Một trong 4 tứ cổ cảnh triều Lý" Đến thời Trần đền miếu lộnglẫy, uy nghi Điện tiền Phạm Ngũ Lão ngợi khen "Đây là cõi thần tiên nhấtnớc nhà"

Trang 6

Sang thời Lê, đền đã có đủ năm cung để đủ chỗ thờ Vĩnh Công đại

v-ơng và bốn ban công đồng tứ phủ (đợc đa vào thờ)

Năm Thành Thái kỷ sửu (1889) đợc sự đỡ đầu của Thái Tử thiếu bảoHoàng Trọng Phu, dân Đào Động mở rộng quy mô đền rộng 6000m2 NămKhải Định thứ 9 (1925) có sự bảo lãnh của uỷ viên hội đồng tỉnh Thái Bình,Nghị viện dân biểu Bắc kỳ (chức vụ này đến 1937 mới bẩu), một điền chủlớn ở phủ Kiến Xơng là Phạm Luận đã sửa toà cấm điện từ kiến trúc hồi vănthành phơng đình chồng diêm

Trận bão tháng 9/1983 làm đỏ toà Phơng Đình trên Tháng 8/1984bảo tàng Thái Bình kết hợp với UBND xã An Lễ đã phục hồi toà cấm nàytheo phong cách hồi văn mái chảy nh trớc năm 1926

Kiến trúc ngày nay của đền Đào Động gần nh giữ trọn vẹn lần đại tucuối cùng năm 1889

2 Đền Đào Động thờ thuỷ thần Vĩnh Công Đại Vơng.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí (tập III, NXB Khoa học xã hội) Phầntỉnh Nam Định, mục linh tích, chép: Đền Đào Động thuộc tổng Vọng Lỗ,huyện Phụ Dực thờ thuỷ thần Vĩnh Công Đại Vơng, tơng truyền là thái tửlong cung giáng sinh ở Đào Động phù vua Hùng Duệ Vơng dẹp loạn, sauhiển thánh đợc dân làng thờ Phàm trong vùng có hạn hán, hoàng trùng,dịch bệnh … đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ dân đến kêu cầu, đảo vũ… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ đều rất linh nghiệm… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ

Sách Thái Bình phong vật phú cũng chép tơng tự

Cuốn "Vĩnh Công Đại Vơng - Hùng Triều Công Thần" do ngời quảngiáo bách thần, Đông Các Đại học sỹ Nguyễn Bính viết:

"… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ triệu tổ nớc Việt ta khởi tử Lạc Long Quân, con trai vua Kinh

D-ơng VD-ơng, cháu ngoại vua Thần Nông, trị vì nớc Sích Quỉ Lạc Long Quân

đi tuần thú phơng Nam, tới hồ Động Đình, gặp tiên nữ Âu Cơ, sinh ra mộtbọc trăm trứng, nở ra 100 ngời con trai Một hôm Lạc Long Quân nói với

Âu Cơ rằng: ta là vốn Rồng, nang là giống Tiên, thuỷ hoả tơng khắc, khócùng ở lâu bền Nay ta chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo ta xuốngbiển là việc lớn lâu dài, đoạn chia tay dắt 50 con xuống biển Ngời con tr-ởng làm vua nớc ta, đó là vua Hùng Vơng đặt tên nớc ta là Văn Lang, dựng

đô ở Phong Châu, xây điện trên núi Ngũ Lĩnh, chọn ngời tài giỏi chia thànhhai ban văn võ trị vì, phù truyền tử kế 18 đời, đều xng hiệu Hùng Vơng… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ Vào đời Hùng Duệ Vơng, tại trang An Cố, tổng Bình Lãng, huyệnThuỵ Vân (sau đổi là Thuỵ Anh nay là huyện Thái Thuỵ) có một ngời tên làPhạm Công, tinh tờng nho, y, lý, số, làm nghề dạy học, sắc thuốc lấy vợ ng-

ời làm Mai Diêm (nay là xã Thuỵ Hà, huyện Thái Thuỵ) họ Trần tên Lu.Nhà này vợ chồng sống hạnh phúc, thích làm việc thiện nh: góp tiền đúc

Trang 7

chuông, tô tợng, sửa chùa không bao giờ thích cúng tiền, luôn giúp ngờinghèo, cho cơm kẻ đói… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ chỉ hiềm một nỗi ngoài 40 tuổi mà cha có connên tâm trạng nhiều lúc rất buồn Ông bà thờng rủ nhau đi lễ các đền phủlớn hoặc chu du các danh lam cổ tích và càng hết lòng chăm lo việcphúc… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ.

Một hôm ông bà vãng cảnh trang Đào Động, bỗng gặp một cô gái đếnvái lạy, tha rằng: "Con là kẻ tha hơng, cha mẹ mất sớm, không nơi nơngtựa Nay gặp ông bà hiền đức xin động lòng thờng, cho con đợc về hầu hạ"Phạm Công, Trần Thị ngoảnh nhìn thấy thiếu nữ hình dung yểu điệu, t chấtthông minh, nói năng phải đạo… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ liền nhận đa về nhà nuôi, đặt tên là QuíNơng

Quí Nơng càng lớn càng xinh đẹp, mặt hoa da phấn, mắt phợng màyngài, t chất thông minh, công dung ngôn hạnh đều đẹp Một nhà hoà hiếuvui vầy

Một hôm Quí Nơng ra bãi biển tắm gội, trời đang xanh trong, bỗngnhiên trở gió, mua bão ầm ầm, chớp giật sấm rền và có một thần GiảoLong thần dài 8 thớc (3,2m) hiện hình cuộn lấy Quí Nơng 3 vòng Lát sau,trời quang mây tạnh, Quí Nơng tỉnh dậy vội trở lại nhà, từ đó trong ngờichuyển động và tự mang thai, ở nghén 13 tháng Đến kỳ mãn nguyệt khaihoa, thẹn nỗi không chồng có con, Quí Nơng ra biển trở dạ sinh đẻ mộtmình, sinh ra một bọc máu đỏ, nang hoảng hốt đẩy bọc kia xuống biển.Hôm ấy là ngày 10 tháng giêng năm Đinh Tỵ (rắn có tài) Điềm trời xuikhiến gặp lúc triều dâng đa bọc thiêng vào sâu trong nội đồng

Thời bấy giờ ở trang Đào Động có một ông già nghèo khó, đức hạnhtên là Nguyễn Minh làm nghề đánh cá bên sông Đêm ấy buông vó đã sanggiờ Tý (nửa đêm) mà không bắt đợc con cá nào Mãi quá nửa đêm kéo vóthấy nặng, cố kéo lên thì thấy một bọc đỏ nh máu, ông già sợ quá dùng sào

đẩy ra, lát sau cất lên lại gặp bào thiêng, ông già càng sợ, lại dùng sào đẩybào ra xa Đến lần thứ ba vẫn gặp bào thiêng, già Nguyễn Minh vái lạyrằng: Nếu là điềm trời báo ứng, thánh chỉ thần đa… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ xin linh bào tự phanhxuất cho con dân đợc tỏ Tức thì một tiếng sấm động trời, hơng thơm toảngát, ánh sáng chói loà, bọc thiêng tự nứt đôi sinh 3 thần xà Đệ Nhất Xà ởlại Đào Động, Đệ Nhị Xà xuôi sông Đào Động về Ngự tại trang Thanh Do(nay là xã Thuỵ Thanh, huyện Thái Thuỵ), Đệ Tam Xà về với mẫu thần ởHoa Diêm

Biết điều kỳ là đêm qua, hơng lão Đào Động sáng hôm sau đều đếnthảo xá Nguyễn Minh, thấy long xà hùng dũng, tất cả bái lạy, tôn là linh

xà, xin phép đợc nhận làm thần tử

Trang 8

Từ khi Đệ Nhất linh xà ngự cử Đào Động, dân chúng đánh lới nhiềucá, cất vó nhiều tôm, công việc làm ăn thuận lợi.

Ngày tháng thoi đa kể đến vài năm, một hôm thần xà vái lạy dỡng phụ(Nguyễn Minh) tha rằng: "Ta vốn là hoàng tử Đức Long Vơng ở biển NamHải vâng lệnh Ngọc Hoàng đại đế giáng vào cửa ngơi để thởng công chongời hiền đức Nay mai nớc nhà có loạn lớn, vâng lệnh vua cha nay phải vềthuỷ cung để luyện thuỷ quân dùng vào việc lớn về sau"

Triều hùng trị vì nối tiếp 17 đời Đến đời vua Hùng Duệ Vơng, vuasinh hạ toàn con gái Trởng công chúa đã gả cho thần núi Tản viên, thứcông chúa Tiên Dung chỉ thích du sơn, du thuỷ, sau theo chồng là Chử

Đồng Tử về trời, vua hội đình thần truyền ngôi cho Tản Viên sơn thánh.Bấy giờ có ngời cháu ngoại vua Hùng, họ Thục, tên Phán nghe tin vua

định truyền ngôi cho phò mã, quên mình là cháu thì giận lắm liền chiêu mộbinh tớng, lại mợn quân nớc láng giềng… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ quân Thanh lững lẫy, chia thành

5 đạo từ các chấn hùng dũng tiến đánh Hùng Vơng Các tớng biên thuỳchống cự không nổi đều dâng biểu xin cứu viện Vua cho thêm tớng giỏi,quân đông đi cứu nguy, vẫn bị thua trận, nguy càng nguy gấp

Hùng Vơng cho lập đàn cao tế cáo trời đất, bách linh bách thần, đếngiờ Tý ngày thứ 3 mơ thấy sứ giả nhà trời cỡi mây hạ đàn bảo rằng: "Vậnhội nhà Hùng cha hết, nếu triệu đợc thần núi Tản Viên, thuỷ thần làng Đào

Động hợp sức mà đánh thì quá 1 tuần là yên"

Đức vua tỉnh dậy, một mặt sai sứ đi triệu Tản Viếnơn thành, một mặt

cử sứ xuống vùng biển về Đào Động trang để vời đức thuỷ thần Sứ giả vừatới đầu trang ấp (chỗ Tam Kỳ gặp sông Đào Đông - bến cửa Vĩnh) thì thấygió ma thét gào, đầy trời sấm chớp, nớc cửa Vĩnh gầm lên, nớc sông Tam

Kỳ cuộn sóng và một thuỷ thần cỡi sóng giữ nói lớn: "Ta là thuỷ thần sôngVĩnh, tự là Vĩnh Công chờ sứ giả ở đây" sứ giả vui mừng khôn xiết rớc thần

về kinh đô Vĩnh Công triệu vơng lão, trai tráng Đào Động chọn lấy 9chàng trai khoẻ nhất sung làm gia thần thủ túc, lại cùng sứ giả xuống xuốngThanh Do, Mai Diêm đón đệ nhị linh xà, đệ tam linh xà về kinh bái yết vua.Vua Duệ thấy 3 ông, thân ngời đầu cá, dáng vóc nh rồng, tiếng nói nh sấm,lực địch vạn ngời, bàn mu tính kế nh thần thì cả mừng; phong thần TảnViên là tớng tiên phong lo đánh các đạo sơn lâm Vĩnh Công và nhị vị linhxã làm trung quân lo việc lấy quân vùng biển Sơn Nam và ái Châu để đánhvùng ven biển và hải đảo, lại cử thêm 1.000 tớng lĩnh, 12 vạn hùng binhtheo 2 ông đánh giặc Thần Vĩnh Công làng Đào Động và nhị vị long xà đi

đến đâu, các loài ba ba, thuồng luồng và muôn trùng thuỷ tộc đều theo sóngcồn cùng kéo ra đảo, chỉ đánh vài trận quân Thục phải qui hàng Phía vùngrừng núi, thần Tản Viên đa cả hùm, beo, gấu ra trận, giặc khiếp đảm mà

Trang 9

chết Hai ông làm biểu tiếp báo về kinh, vua cho quân hai đạo đợc ca khúckhải hoàn.

Trong lễ mừng công, Vua Duệ Vơng phong đức Vĩnh Công là thợng

đẳng công thần, Vĩnh Công và các em vái tạ ơn vua không nhận chức tớc,chỉ xin xá hết tô, binh, tạp dịch cho dân trang Đào Động để trả nghĩa tìnhmảnh đất và con ngời đã gắn bó với ông Vua Hùng chuẩn tấu Thần VĩnhCông về Đào Động, tổ chức yến tiệc linh đình khen thởng nam phụ, lão ấu.Thởng công cho 9 gia thần thủ túc làng Đào theo mình xông pha trận mạc

Từ đó ông và dân Đào Động tình nh cha con Thần dạy dân cấy lúa trồngdâu, chăn tằm dệt lới, dân làng Đào Động ngày càng no d, xóm dới làngtrên luôn tiếng hát hò

Lu tại Đào trong vài tháng Vĩnh Công trở về phụng dỡng song thân ítlâu sau song thân qua đời, Vĩnh Công lo việc tang lễ chu đáo, phúng lễ 3năm Sau ngày đoạn tang, thần lại về Đào Động trang ở với dỡng phụ, thọtrên 100 tuổi

Một hôm, Vĩnh Công vời hơng lão đến nhà dặn rằng: "Ta cùng các vị

là dân lân dân ấp, ăn ở với nhau tình nh ruột thịt, nghĩa nh cha con Nay tavâng mệnh phải về hầu vua cha Long Vơng, may ngày có nhớ đến ta thì lấynhà ta đây là miếu sở, ngày ta ra đi làm ngày giỗ" Hơng lão tất cả nức nở,bùi ngùi không nỡ chia tay, bỗng trời đất tối sầm, sấm chớp dữ dội, lát sautrời quang mây tạnh, chỉ còn lại áo xiêm của thần Hôm ấy là ngày25/8/Mậu Thìn Dân lòng dâng biểu về kinh Vua Hùng Duệ Vơng thơng sótban phong mỹ tự; chấn Tam Kỳ giang linh ứng, Vĩnh Công đại vơng, BátHải Động Đình, lại cấp cho dân Đào Động 400 quan tiền, lo việc tang lễ, tusửa lều tranh của thần Vĩnh Công thành miếu điện; hạ sắc miễn thuế chodân, lấy lộc ấy thờ thần Điểm lệ ấy truyền qua các đời, vì thế mà điện thầnngàn năm hơng lửa không bao giờ tắt

3 Đền Đào Động thờ công đồng tứ phủ.

Trên bảng văn trớc đền Đào Động đề 4 chữ lớn: "Bát Hải Động Đình"

- đình làng thờ Bát Hải, cũng có thể hiểu là nơi ngự của vua cha Bát Hải.Theo quan niệm của một số tín đồ ảnh hởng đạo giáo cho rằng: Cõi trời lànơi ngự trị của vua cha Ngọc Hoàng Cõi âm phủ do vua cha Diêm Vơng trịvì, cõi sông biển do vua cha Bát Hải

Mẫu Thoải là công chúa, con vua cha Bát Hải, các hơng lão làng Đào

Động còn nhớ một câu chuyện truyền kỳ : mẫu là ngời chuẩn mực của sựhoàn mỹ : mặt hoa da phấn, mắt phợng mày ngài, đức đủ công dung ngônhạnh, có tài cầm kỳ thi hoạ đợc phụ vơng cho thị nữ Tiểu Mai theo hầu.Thấy cảnh trần gian tơi đẹp, bà nhiều lần hoá thành nữ khách đi du lang cácnơi danh lam Đại Việt Một lần gặp đợc trang nam tử khôi ngô tuấn tú, đó

Trang 10

là tiến sỹ Trơng Kính Xuyên Hai ngời đọc thơ, ngâm vịnh, tâm đầu ý hợpliền kết nghĩa tào khang; vợ chồng từng một thuở hạnh phúc Thế rồi TiểuMai điêu ngoa đơm đặt nói xấu long cung công chúa, kính xuyên tin lời đầy

đoạ nàng nơi sơn cùng thuỷ tận, sống với vờn trúc, rừng mai và chimmuông cầm thú, phải ăn quả rừng, uống nớc suối … đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ May gặp tú tài LiễuNghị tận tình đa th về thủ phủ Vua cha sai Thái tử đem kiệu đón công chúa

về, sai Xích Lân bắt Kính Xuyên, Thảo Mai trị tội, lại gả công chúa choLiễu Nghị và phong cho công chúa chức Mẫu Nghi Thoải phủ, lu cạnh bên

điện vua cha

Sự tích ấy mấy ngàn năm không ai biết tới, mãi đến khi bà Lê Thị LiễuHạnh là cung nga hầu cận Ngọc Hoàng vì đánh vỡ chén quỳnh bị vua chaNgọc Hoàng giáng vào cửa họ Lê làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, phủ ThiênTrờng kể lại, dân Đào Động mới hay chuyện cũ, tích xa, liền tả bị thần vị,lập cung thờ Rớc thánh mẫu Thoải thờ bên cạnh đức vua cha

Khi mà Mẫu Thoải đợc hội nhập vào đền Đào Động thì tam toà thánhmẫu: Thiên Phủ, mẫu thợng ngàn cũng có mặt trong thần điện vua cha BátHải

Khoảng từ niên hiệu Vĩnh Tộ, Đức Long, Dơng Hoà… đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đ Thịnh Đức,triều Lê Thần tôn (1619 - 1662) chùa chiền mọc thiêm nh nấm

Tại trang Đào Động ngoài chùa Đào, dân bản xã lập thêm chùa Đồng

Ông , chùa Đoài, có đủ tam bảo, chùa ông Hộ, ban phủ Mẫu Liễu Đâycũng là thời kỳ Đào Động hồi sức sau nội chiến Nam Bắc triều, có điềukiện tu bổ mở rộng đền, lập thêm cung thờ từ vị Chầu Bà, Ngũ vị tôn ông,

Tứ phủ quan hoàng, lập ban cô, ban cậu Thế là đền làng Đào Động chínhthức đợc tôn vinh là vua cha Bát Hải (phụ vơng Mẫu Thoải) Từ đây Đào

Động có danh nghĩa: Một trong những nôi sinh của đạo Mẫu Đền Đào

Động là chính từ của Mẫu Thoải

Trang 11

Chơng II: Giá trị văn hoá nghệ thuật

Đền Đào Động mở hớng Tây Nam, toạ lạc trên một triền đất cao rộng20.520m2 (5 mẫu 5 sào Bắc Bộ) tự lng vào sông vĩnh và 3 gò lớn: gò ĐồngHng, gò Voi Phục, gò Ông He (cá he) trớc mặt là sông Lẫm, xa hơn là

Đầm Bà Bên tả có trại Cúi, bên hữu có trại Cầu: gò đống lô xô chính giữa

đền có giếng thiêng mnạh ngầm chẩy ra tận sông Đào Động Tơng truyền ai

có lòng thành kinh đợc vào cung kêu cầu, thả lòng xuống giếng thiêng, nửacanh giờ sau bởi chui qua lòng trôi trớc cửa đền Đố là miệng rồng Thầy

địa lý phán đây là mạch đất “ Cửu long quần thực, tiền tụ thuỷ, hậu tamsơn, tả Cúi, hữu Cầu, địa linh nhân kiệt, nhanh đăng bất tuyệt, phúc mãnthiên niên”

Theo cụ già làng Đinh Văn Thiếp (sinh năm 1901) những kiểu đất trên

là do cụ Tả Ao khi đi qua đền nói cho dân biết Chuyện đó cha tờng h thực.Xét các gò Đồng Ông Đống Hng đều có mộ Hán, không rõ xa vẫn là cồn,ngời Tầu lợi dụng đất ấy đặt mộ hay do con ngời sau khi đặt mộ trở đất đắpcao Song dù sao cảnh đền quả có đẹp, phía trớc mặt cạnh vờn là sông ĐạiLẫm nh dòng xà giang chảy qua, phía Bắc, phía Đông là sông Vĩnh uốn lợn

nh dải lụa nối vào sông cô Lạo thành 9 khúc, chia 2 ngả đổ vào sông Hoá

và sông Diêm, xuôi ra cửa Trần và cửa Thái Bình Phía nam đều là Cầu Vật

và quốc lộ số 10 nối với thị xã Thái Bình, thành phố Nam Định, tỉnh lỵkiến an , thành phố Hải Phòng Giao thông thuỷ bộ đều tiện lợi

2 Tổng thể kiến trúc đền Đào Động.

Đền Đào Động gồm 16 toà nhà lớn, cộng 82 gian Nếu kể cả khu vựcnhà bếp và công trình phụ thì tới 18 toà 100 gian xây dựng trên diện tích2.000m2 Trừ cung điện nhà Vua và một vài chùa lớn nh Ninh Phúc Tự (BútTháp, Hà Bắc) Thần Quang Tự (keo Thái Bình) có số toà, số gian trên dới

Trang 12

100 gian còn cả nớc không có đền phủ nào to rộng, sánh với ngôi đềnnày.

Quần thể kiến trúc đền chia thành 4 tiểu khu, phía trớc là 3 toà ĐạiTiền Môn, tả hữu gồm 6 toà Nhà lính (dành cho lính về gác trong hội đền)hành lang tả hữu, phía sau là 2 toà của thủ tự và nhân viên trị sự 3 khu vựctrên bao quanh 7 cung thờ thánh nh khuôn viên chữ quốc lấy tim toà TrungMôn và Cấm Điện làm trục thần đạo, đền xây dựng đối xứng từng vì, từngtoà Khu vực trung tâm cao đẹp, khu vực ngoại biên và hành lang khiêm nh-ờng liên kết thành một tổ hợp kiến trúc chặt chẽ, nổi bật điểm sáng mới Thờ

Tự, dẫn dắt khách lễ qua đúng cửa từ thấp đến cao, từ cửa trình cô, trình cậurồi vào cửa Công Đồng, qua tứ phủ Quan Hoàng rồi lên cửa chầu Bà, Tôn

Ông Nơi thân nghiêm nhất là cửa Mẫu và điện Vua Cha

Khách tham quan có thể vào cửa tả ra cửa hữu, vào cổng, Đông racổng Tây thuận đờng cửa đông đi tiếp các đền đài từ quan lớn Đệ nhất đếnquan Lớn đệ Bát

Nhà đến có 40 gian hành lang cho khách sắp lễ, tề chỉnh khăn áo (khi

đến tế lễ, dự hội đền), rồi từ hành lang theo các mạnh vào 6 phủ dâng lễ.Lại có 3 gian nhà lính án cửa tả cạnh đền giám sát khách ra vào, có nhà th-ờng trực trên trục sấn hành lang tả tiện việc giao dịch Tổng thể kiến trúc

đều vừa đẹp vừa khoa học, tôn đợc sự thiêng liêng thần điện

3 Nghệ thuật kiến trúc cổng đến.

Từ trục thần đạo vào đến Đào Động có thể theo 3 công đó là Đại TiềnMôn (3 toà cổng chính), Đông Mô và Tây Môn Đại Tiền Môn là cổng dẫnvào chính tâm cửa đền Đông Môn dẫn khách vào hành lang Tả, Tây Môndẫn vào hành lang bên hữu Theo duy tâm ( và cũng vì thuận đờng từ quốc

lộ 10 vào) Vào cổng Đông ra cổng Tây là thuận đạo, phải phép, đợc lộc( và cũng là lối ra đi lễ các đền khác nh Đình Sinh, đền quan lớn Đệ Tam,

Đệ Ngũ, Đệ Thất, chùa Tây )

Hai cổng Đông Môn và Tây Môn

Đi từ dốc cầu vật, men theo 300m đờng láng nhựa theo sông Đại Lẫmtới một sân lớn, giữa đào hồ tròn đờng kính 16m chung quanh xây gạch,giữa hố đắp núi ngũ nhạc Bốn mặt trồng cây cảnh và hoa bốn mùa Phía

Đông là đờng lớn rẽ vào cổng Đông, phía Tây là đờng lớn rẽ vào cổng Tây,gặp sân cổng rộng gần 2 sào Bắc Bộ, rẽ vào trung tâm là tới Đại Tiền Môn.Kiến trúc hai toà cổng này khá đơn giảm Đó là hai cột trụ rộng, trên

đắp trụ đấu vuông 2 tầng Cánh gà một bên ăn vào tờng sân đền, một bênbắt vào hồ hành lang, phía trong phát triển cửa cuốn tò vò, trên trán xây mộtbiển văn, đỉnh đắp văn hiệu, thành trên bên dới soi chỉ mớ thành một bẳng

Trang 13

văn Trụ cột công soi chỉ kép, dới đắp tảng vuông, 2 mặt sau cẩn cầu đốichữ Hán, Bảng văn cổng phía Đông đề 2 chữ lớn “Tả Môn” cổng Tây đề 2chữ “ Hữu Môn” Cả hai cửa đều lắp 2 cánh gỗ kiểu thợng sơn hạ mặt dớibng kín, sơn son, trên chạy song con bài.

Cổng chính: Đại Tiền Môn

Đại Tiền Môn gồm 3 ngôi lầu lớn trải dài 24m, lòng rộng 2m trungmôn cao 8m (sấp sỉ nhà 3 tầng ), tả môn cao 6m Riêng 2 cột đồng trụ góccánh gà cao tới 5,6 m, gơng tảng thứt cổ bông cao 1,08m mỗi mặt rộng1,2m phần quả găng cao 2,4m, bền mặt mỗi chiều rộng 1m tạo dáng đứngvững chãi, bề thế không đâu có bằng

Toà Trung Môn hùng dũng nh cổng toà thành lớn, tầng thợng xây kiểuMon đình, 3 toà, 10 mái, cao 3m, dài 3m, lòng rộng 1,2m Mái tầng thợng

đắp ngạc long ngậm đại bờ, góc bờ cánh đắp nghé hý cầu, đạo hay chỉ kép.Cả 3 toà đều bổ trụ đấu, cửa cuốn vòn Bảng văn tầng thợng đắp 2 chữ lớnThuân Thiên” bảng văn tầng cửa dới đắp 4 chữ lớn “ Bát Hải Động

Đình”

Phần thân cổng xây 4 trụ lớn: cao 5m bản rộng 0,6m trên chạy baohơn hoa, dới cuốn vòn trổ cổng rộng 2,4m cao 3m, đủ tầm cao khi rớc kiệukhông cần phải xuống đòn

* Hai toà tả môn, hữu môn cách trung môn 1,35m (ngăn bằng hai ợng phù điệu Võ Sỹ Kim Cơng) xây theo kiểu cổng thành luỹ, trên có lầucanh, dới có tờng vây bọc Bốn góc, xây cột trụ bản rộng 0,8m cửa cuốnvòn, đóng cánh then bài thợng sở hạ mật

t-Hai bức cánh gà nối từ tả hữu môn ra trụ biểu cũng uy nghi bề thế nhbức tờng thành cao tới 2,8m, nửa trên chia thành 5 ô vuông, trổ 5 ô tròn,phía dới trát vữa da, quét vôi màu ghi

Đây là toàn cổng lớn nhất trong các công trình nghệ thuật kiến trúc cổtrên đất Thái Bình và cũng là một trong những toà cổng hoành tráng hiếm

có trong các đền, miếu Việt Nam

4 Nghệ thuật kiến trúc khu đền chính.

Khu điện thờ đền Đào Động gồm 7 công trình kiến trúc lớn bố cụcliên hoàn Ngoài cùng là cung thời công đồng, trức cửa có hai bệ thờ lộthiên thờ quan ngũ hổ, tiếp đến cung tứ phủ Quan hoàng rồi vào cung tứphủ chầu Bà, sâu sau cùng là cung thờ Vua Cha Bát hải và cung cấm đặt t-ợng vua cha Bên phải có điện thờ Tam Toá Thánh Mẫu, bên trái có điệnthờ Ngũ Vị tôn Ông bố trí thành 5 lớp Kiến trúc đăng đối theo tim giangiữa cung cộng đồng và hồi toà cung cấp

Ngày đăng: 22/04/2013, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w