Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng 3R để quản lý chất thải rắn tại thủ đô Hà Nội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài và lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết đi cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tếthế giới là sự gia tăng không ngừng của những vấn đề môi trường, chúng ta đangphải đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng tài nguyên thiên nhiên và ônhiễm môi trường Đó đang là vấn đề đặt ra đối với tất cả các quốc gia trên thếgiới và đòi hỏi sự nỗ lực của toàn cầu để cải thiện tình hình này Đối với mộtnước đang phát triển, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng như ở Việt Namthì các vấn đề môi trường đặt ra càng khó khăn hơn và không dễ để giải quyết.Tuy nhiên với sự nỗ lực của Chính phủ cũng như mỗi người dân Việt Nam thìviệc khắc phục những vấn đề môi trường trở nên đơn giản hơn rất nhiều Sự nỗlực của Việt Nam đã được thể hiện thông qua Luật Bảo vệ Môi trường ra đời vàonăm 1993 và đã được Quốc hội khoá XI, kì họp thứ 8 thông qua Luật sửa đổi vàongày 29/11/2005, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006 Luật bảo vệ môitrường là cơ sở pháp lý để điều chỉnh các hành vi của các cá nhân và tổ chứchoạt động trên lãnh thổ Việt Nam về các tác động đến môi trường
Sau gần 20 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam không ngừng tăng trưởng vớitốc độ tăng GDP hàng năm đạt khoảng 7-8%, các hoạt động kinh tế xã hội diễn
ra sôi nổi mạnh mẽ và điều tất yếu kéo theo đó là lượng rác thải gia tăng khôngngừng theo nhịp độ đô thị hoá, tốc độ phát triển công nghiệp Từ đó đặt ra mộtvấn đề mà hiện nay chúng ta đang quan tâm và nỗ lực giải quyết đó là công tácquản lý rác thải đô thị còn rất nhiều bất cập Có thể nói chúng ta chưa có đượcmột hệ thống xử lý rác thải hiệu quả và việc tìm ra phương hướng giải quyết vấn
đề này là vô cùng quan trọng Đó là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh
Trang 2quan tâm tới vấn đề này đúng mức thì sẽ là mối đe doạ đến tốc độ phát triển củathành phố trong tương lai.
Đó là lí do quan trọng nhất để Sáng kiến 3R (Giảm thiểu- Tái chế - Tái sửdụng)được thực hiện tại thủ đô Hà Nội hiện nay Việc thực hiện 3R thành công
sẽ xây dựng được một xã hội tuần hoàn vật chất, tiết kiệm được nguồn tàinguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trường sống cho người dân Sáng kiến 3R đãđược thực hiện thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới và đó là xu hướng tấtyếu hướng tới phát triển bền vững Vì vậy, tôi nhận thấy việc nghiên cứu hiệntrạng các hoạt động 3R đang diễn ra, từ đó tìm ra những giải pháp thực hiệnthành công 3R tại Hà Nội và nhân rộng mô hình thực hiện ra các tỉnh thành trêntoàn quốc là một đề tài nghiên cứu thú vị, mới mẻ song lại có tính thực tiễn cao
Xuất phát từ những lí do đó, “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng 3R để quản lý chất thải rắn tại thủ đô Hà Nội” đã được chọn làm đề tàinghiên cứu cho chuyên đề
Mục đích và ý nghĩa của đề tài:
Mặc dù trong những năm qua, Hà Nội đã có những bước khởi sắc trongcông tác quản lí chất thải rắn nhưng chất lượng môi trường sống chưa được cảithiện đáng kể Chất thải rắn từ các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, kinh doanh,các khu đô thị, các khu công nghiệp vừa và nhỏ, bệnh viện, cơ quan, trường học,
… tuy đã được thu gom và có những biện pháp xử lí nhưng vẫn chưa được triệt
để và hoàn toàn hiệu quả Vì vậy một phương pháp được đưa ra đó là áp dụng3R trong quản lý chất thải rắn, nếu thực hiện có hiệu quả thì sẽ mang lại lợi íchkinh tế xã hội to lớn Mục đích của đề tài là đưa ra giải pháp nhằm thực hiệnthành công Sáng kiến 3R tại thủ đô Hà Nội, đó cũng là ý nghĩa thiết thực của đềtài
Trang 3Từ mục đích đó, câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: “3R là gì?Thực trạngcông tác thực hiện 3R để quản lý chất thải rắn ở thành phố Hà Nội như thế nào?Giải pháp sau khi nghiên cứu thực trạng là gì?”
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề đi sâu nghiên cứu về Sáng kiến 3R và việc thực hiện Sáng kiến3R tại Hà Nội Hiện nay việc thực hiện 3R mới chỉ chủ yếu áp dụng đối với chấtthải sinh hoạt và vì vậy chủ yếu chuyên đề sẽ đi sâu và nghiên cứu hiện trạng ápdụng đối với loại chất thải này tuy nhiên cũng không bỏ qua cơ hội nghiên cứutrong khi áp dụng 3R trong quản lý các loại chất thải rắn khác Đồng thời chuyên
đề cũng đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm áp thực hiện 3R của các quốc gia trongkhu vực và từ đó rút ra bài học cho Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu trên sẽthực hiện nghiên cứu giải pháp để 3R thực hiện có hiệu quả tại thủ đô Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu:
Đây là một phương pháp thông dụng và thường xuyên được sử dụng một cách có hiệu quả khi cần có thông tin về vấn đề nghiên cứu Trong chuyên đề, đã
sử dụng phương pháp này để thu thập các thông tin sau:
Các vấn đề lý luận chung về chất thải và kinh tế chất thải
Các vấn đề lý luận về 3R (khái niệm, mục tiêu, nội dung)
Thực trạng quản lý chất thải rắn
Kinh nghiệm thực hiện 3R để quản lý chất thải rắn của một số quốc gia
Hiện trạng thực hiện 3R tại Hà Nội và kết quả
Phương pháp tổng hợp tài liệu:
Trang 4được phân tích rồi tổng hợp lại nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu.
Nội dung và cấu trúc chuyên đề
Tên chuyên đề: “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng 3R để quản lý chất thải rắn tại thủ đô Hà Nội”.
Nội dung của chuyên đề được cấu trúc như sau:
Lời mở đầu
Chương I: Một số lý luận chung về quản lý chất thải rắn và áp dụng 3R để quản
lý chất thải rắn
Chương II: Chương trình 3R tại thủ đô Hà Nội
Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng 3R đển quản lý chất thảirắn tại Hà Nội
để em có cơ hội hoàn thành thực tập và thực hiện được chuyên đề đã giao.Đồngthời, em cũng xin cảm ơn các chuyên viên Viện chiến lược chính sách Tàinguyên Môi trường đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp do chính tôi thực hiện, không sao chép từbất cứ tài liệu nào Nếu có vấn đề gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 5NỘI DUNG Chương 1: Một số lý luận chung về quản lý chất thải rắn
và áp dụng 3R để quản lý chất thải rắn.
1.1 Tổng quan về quản lý chất thải rắn.
1.1.1 Khái niệm chất thải rắn.
Theo quan niệm chung: Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con
người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạtđộng sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.v…).Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất
và hoạt động sống
Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được
định nghĩa là: Vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đôthị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thảiđược coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ màthành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy
Theo quan điểm này, chất thải rắn đô thị có các đặc trưng sau:
- Bị vứt bỏ trong khu vực đô thị;
- Thành phố có trách nhiệm thu dọn
Thành phần chất thải rắn: Thành phần chất thải rắn được định nghĩa là những
thành phần riêng biệt tạo nên rác thải và thường được tính theo phần trăm khốilượng Các thông tin liên quan đến thành phần chất thải rắn cần thiết để tính toánnhu cầu trang thiết bị, hệ thống xử lý, vận chuyển và quản lý rác
Trang 6 Lá cây, rác hữu cơ.
Nilon, nhựa, cao su
Giấy vụn, vải, carton
Kim loại, vỏ lon
Thuỷ tinh, sành sứ
Đất cát và chất khác
Các yếu tố ảnh hưởng tới thành phần và khối lượng rác
Thành phần và khối lượng rác thải thay đổi theo các yếu tố sau:
Dân số
Thời điểm trong năm (mùa mưa hay mùa khô)
Điều kiện kinh tế - xã hội
Sử dụng đất và loại nhà ở
Thói quen và thái độ xã hội
Quản lý và chế biến tại nơi sản xuất
Chính sách của nhà nước về chất thải
Khí hậu
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn.
Các thông tin về nguồn gốc và dạng CTR cùng với các thông số liên quan đếnthành phần và tốc độ gia tăng lượng phát thải là những yếu tố cơ bản trong thiết
kế và vận hành hệ thống quản lý chất thải rắn
Những nguồn phát sinh CTR chính là:
Hộ gia đình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư…): Thực phẩm thừa,carton, plastics, vải, da, gỗ vụn, thuỷ tinh, lon, các kim loại khác, tro, lácây, các chất thải đặc biệt (đồ điện, điện tử hỏng, pin, bình điện, dầu, lốp
xe, …) và các chất độc hại sử dụng trong gia đình
Trang 7dầu, gara…): giấy, carton, plastics, gỗ, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại,các loại rác đặc biệt (dầu mỡ, lốp xe,…), các chất thải độc hại…
Cơ quan (trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính…): chất thảigiống như chất thải thương mại
Xây dựng, di dời (các địa điểm xây dựng mới, sửa chữa đường sá, di dờinhà cửa…): gỗ, thép, gạch, bêtông, vữa, bụi…
Dịch vụ công cộng (rửa đường, tu sửa cảnh quan, công viên, bãi biển…):các loại rác đường, cành, lá cây, các loại rác công viên, bãi biển…
Các nhà máy xử lý ô nhiễm (xử lý nước, xử lý chất thải rắn, xử lý chất thảicông nghiệp…): tro, bụi, cặn…
Công nghiệp (xây dựng, chế tạo, công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, lọcdầu, nhà máy hoá chất, nhà máy điện…): Chất thải từ các quá trình côngnghiệp , các chất thải không phải từ các quá trình công nghiệp như thức ănthừa, tro, bã, chất thải xây dựng, các chất thải đặc biệt, các chất thải độchại …
Nông nghiệp (thu hoạch đồng ruộng, vườn, nông trại …): các loại chấtthải nông nghiệp, chất thải độc hại
1.1.3 Quản lý chất thải rắn đô thị tại Hà Nội.
1.3.1.1 Khái niệm quản lý chất thải rắn đô thị: Quản lý chất thải rắn là vấn đề
then chốt của việc đảm bảo môi trường sống của con người mà các đô thị phải có
kế hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn thích hợp mới có thể xử lý kịp thời và cóhiệu quả
Quản lý chất thải rắn bao gồm các công đoạn:
Trang 8điểm bằng các phương tiện chuyên chở thô sơ hay cơ giới Việc thu gom
có thể được tiến hành sau khi đã qua công đoạn phân loại sơ bộ hay chưađược phân loại Sau khi thu gom, rác có thể chuyển trực tiếp đến nơi xử lýhay qua các trạm trung chuyển
Tái sử dụng và tái chế chất thải: Công đoạn này có thể được tiến hànhngay tại nơi phát sinh hoặc sau quá trình phân loại, tuyển lựa.Tái sử dụng
là sử dụng lại nguyên dạng chất thải, không qua tái chế ( chẳng hạn tái sửdụng chai, lọ…); tái chế là sử dụng chất thải làm nguyên liệu để sản xuất
ra sản phẩm khác (chẳng hạn tái chế nhựa, tái chế kim loại,…)
Xử lý chất thải: Phần chất thải sau khi đã được tuyển lựa để tái sử dụnghoặc tái chế sẽ qua công đoạn xử lý cuối cùng bằng đốt hoặc chôn lấp.Mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm riêng
Yêu cầu chung trong công tác quản lý chất thải rắn:
Việc quản lý chất thải rắn ở các đô thị nói chung, về cơ bản phải đảm bảo cácyêu cầu sau:
Phải thu gom và vận chuyển hết chất thải Đây là yêu cầu đầu tiên, cơbản của việc xử lý chất thải nhưng hiện đang còn là một khó khăn, đòihỏi phải có nhiều cố gắng khắc phục
Phải bảo đảm việc thu gom, xử lý có hiệu quả theo nguồn kinh phí nhỏnhất nhưng lại thu được kết quả cao nhất Bảo đảm sức khỏe cho đội ngũnhững người lao động trực tiếp tham gia việc quản lý chất thải phù hợpvới khả năng kinh phí của thành phố và Nhà nước
Đưa được các công nghệ và kỹ thuật , các trang thiết bị xử lý chất thảitiên tiến của các nước vào sử dụng ở trong nước, đào tạo đội ngũ cán bộquản lý và lao động có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề,
Trang 9quản lý của Nhà nước theo hướng chấp nhận mở cửa và cạnh tranh vớinhiều thành phần kinh tế.
1.1.3.2 Hiện trạng chất thải rắn tại Hà Nội:
Bảng 1-1: Tình hình chất thải rắn tại Hà Nội
TT Chất thải Khối lượng
2 Chất hữu cơ: rau
củ quả, rác nhàbếp,
3 Nhựa, nylon, kimloại, giấy, thủy tinh
4 Các chất khác cònlại
1 Chôn lấp hợp vệsinh: 83%
2 Sản xuất phân hữucơ-vi sinh: 160tấn/ngày, tươngđương 7%
3 Tái chế: 10%, tựphát tại các làng táichế
mỡ, dầu thải,
Xử lý tại Khu xử lýchất thải công nghiệptheo đúng QĐ155/QD-TTg ngày16/7/1999
4 Chất thải ~5.0 Bông băng, dụng cụ Xử lý bằng công nghệ
Trang 10200 – Italia: 100%
Nguồn: URENCO Hà Nội
Bảng1-2: Khối lượng chất thải tại Hà Nội từ 2004 – 2008
Nguồn: URENCO Hà Nội
Từ số liệu của bảng trên ta có thể vẽ biểu đồ về sự gia tăng lượng rác thải tại HàNội như sau:
Hình 1-1: Biểu đồ về sự gia tăng lượng chất thải rắn tại Hà Nội
Trang 11Nhận xét:
Khối lượng chất thải rắn tại Hà Nội ngày càng tăng (hơn 10%/ năm)do tácđộng của sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển về trình độ
và tính chất tiêu dùng trong đô thị Lượng chất thải rắn nếu không được xử lý tốt
sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả tiêu cực đối với môi trường sống Như chúng ta đãbiết phần lớn khối lượng rác thải thải ra được mang đi chôn lấp hợp vệ sinh tuynhiên với tốc độ gia tăng như hiện nay thì sớm muộn chúng ta cũng rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng do thiếu diện tích đất sử dụng để chôn lấp Mặt khác, ý thứccủa cộng đồng dân cư trong công tác vệ sinh môi trường chưa cao vì vậy chấtlượng môi trường sống ngày càng suy giảm Một bài toán đặt ra là làm thế nào
để cải thiện chất lượng môi trường sống, xây dựng một hệ thống quản lý rác thảihiệu quả mang lại lợi ích kinh tế xã hội cao?
1.1.3.3 Hệ thống quản lý chất thải rắn tại Hà Nội hiện nay.
A Cơ cấu tổ chức hoạt động quản lý chất thải rắn:(Xem sơ đồ trang bên)
Trang 12
Công ty Môi trường đô thị Hà Nội (URENCO với 12 xí nghiệp thành viên, gần 3500 cán bộ công nhân viên trên 300 phương tiện vận tải và nhiều máy móc, thiết bị xử lý rác thải hiện đại.
sử dụng phế thải
Dịch vụ làm sạch đẹp nhà cửa, công trình công cộng, cải tạo môi trường sinh thái
Tư vấn
và xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp (không bao gồm dịch vụ thiết kế công trình)
Kinh doanh, xuất nhập khẩu vật
tư, thiết
bị, vật liệu
Cải tạo, sản xuất, sửa chữa các sản phẩm cơ khí, thiết
bị chuyên dùng và phương tiện cơ giới đường bộ
Đào tạo nghiệp
vụ, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường
đô thị
Tư vấn, dịch lập các dự
án đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường NHIỆM VỤ
phố Hà Nội
Trang 13Công ty Môi trường đô thị Hà Nội (URENCO) trực thuộc Uỷ ban nhân dân thànhphố Hà Nội, là cơ quan lớn nhất ở Hà Nội chịu trách nhiệm quản lý chất thải rắn vàduy trì vệ sinh môi trường đô thị.
Việc quản lý chất thải của các huyện ngoại thành do các đơn vị môi trườngthuộc UBND các huyện (Công ty Môi trường đô thị Đông Anh, Công ty Môitrường đô thị Gia Lâm,…) thực hiện
Công tác xã hội hoá quản lý chất thải cũng đã được triển khai từ năm 1999,hiện tại có ba Công ty đã hình thành từ kết quả của công tác xã hội hoá, đó là Công
ty Dịch vụ cổ phần Môi trường Thăng Long, Hợp tác xã Thành Công, Công ty Môitrường xanh Các công ty này tham gia công tác thu gom, vận chuyển chất thải tạicác quận nội thành xa trung tâm và một số huyện nội thành của Hà Nội
B Hiện trạng quản lý chất thải rắn:
Thu gom chất thải:
Chất thải sinh hoạt:
Hiện nay khối lượng chất thải sinh hoạt thu gom vào khoảng 3000 tấn/ngày, xấp xỉ 95% tổng lượng chất thải sinh hoạt đường phố phát sinh ở cáckhu vực nội thành và 50-70% chất thải ở các khu vực ngoại thành, số còn lại
đổ ở vườn, các ao hồ…Phân loại rác tại nguồn chưa được phổ biến và thựchiện rộng rãi, nhưng URENCO Hà Nội và các cơ quan hợp tác quốc tế NhậtBản (JICA) đã và đang bắt đầu thực hiện thí điểm dự án (Phân loại rác tạinguồn hai loại chất thải hữu cơ và vô cơ) tại một số khu vực nội thành Hà Nội
từ năm 2003
Chất thải công nghiệp:
Chất thải công nghiệp phát sinh từ quá trình sản xuất của nhà máy, các cơ
sở công nghiệp tự phân loại ngay tại nguồn, tuy nhiên vấn đề xử lý và quản lý,
Trang 14thống kê số liệu còn nhiều bất cập Các cơ sơ công nghiệp có giấy phépchuyên ngành ký hợp đồng để thu gom, vận chuyển và xử lý theo cách thứcriêng biệt đối với chất thải công nghiệp (đốt, lưu trữ, chôn lấp an toàn,…).Mộtphần chất thải loại này được thu gom, vận chuyển bởi chính các cơ sở sảnxuất hoặc một số đơn vị khác Phần còn lại hiện vẫn đang được lưu giữ tại khocủa các cơ sở sản xuất.
Một số cơ sở sản xuất công nghiệp hiện nay đang trong tình trạng ít vốn,công nghệ và thiết bị sản xuất không đồng bộ, tiêu tốn nhiều nguyên liệu nênlượng phát thải lớn Mặc dù lượng phát thải từ các cơ sở này tương đối lớnnhưng do tình trạng thiếu vốn đầu tư nên các đơn vị đã tự xử lý, phân loạingay từ nguồn mà không ký hợp đồng thu gom, vận chuyển với công ty Môitrường đô thị Điều này đã dẫn đến tình trạng tăng lượng chất thải công nghiệpthải ra môi trường mà chưa được xử lý dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
Chất thải y tế:
Thành phố Hà Nội có khoảng trên 70 bệnh viện chính, trong đó có 9 bệnhviện chuyên khoa, 21 bệnh viện cấp Trung ương, 6 bệnh viện cấp thành phố.Chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố HàNội được thu gom và xử lý gần như 100%
Việc thu gom chất thải y tế nguy hại được thực hiện theo Quy định tạm thời
về quản lý chất thải rắn y tế nguy hại (Ban hành theo Quyết định số 52/1999/QĐ-UB của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội) Chất thải được phân loạingay tại nguồn (bệnh viện và các cơ sở ytế) thành 04 nhóm., bao gồm nhóm A(chất thải y sinh), nhóm B (vật cứng nhọn), nhóm C (dược phẩm, hoá chất) vànhóm D (chất thải phóng xạ) Mỗi nhóm chất thải được chứa trong các dụng
cụ thích hợp (túi nilon, thùng nhựa từ 20-340 lít, thùng kim loại…)đảm bảo an
Trang 15toàn tuyệt đối không phát tán ra ngoài môi trường trong quá trình thu gom,vận chuyển và xử lý.
Chất thải xây dựng:
Chất thải xây dựng được thu gom tại các điểm đổ chất thải xây dựng tậptrung (đã được quy hoạch hoặc tự phát), sau đó được vận chuyển lên bãi chônlấp chất thải xây dựng của thành phố Một lượng chất thải này không được thugom thường xuyên do bị đổ bậy ra một số ao hồ, kênh mương hoặc nơi côngcộng Hiện tại bãi Lâm Du tiếp nhận và xử lý khoảng 1000 tấn chất thải xâydựng một ngày, tương đương khoảng gần 365.000 tấn/ năm
Vận chuyển chất thải:
URENCO Hà Nội là một trong những nhà thầu lớn nhất, Công ty xử lý vậnchuyển được khoảng 70% tổng chất thải rắn phát sinh hàng ngày trên địabàn Hà Nội
Bảng 1-3:Bảng tổng hợp nguồn phát sinh chất thải rắn và
các công ty thu gom
gom
Khối lượng (tấn/ ngày)
Nội(6 quận)
2.500
2 Dịch vụ môi trường Thăng Long Nội thành Hà
Nội(2 quận)
220
Trang 16Hạ Đình Trung Văn
5 Các xí nghiệp Môi trường địa
Thu hồi-Tái chế: Các chất thải có thể tái chế có trong chất thải sinh hoạtvẫn được thu gom một cách tự phát từ trước đến nay bởi những ngườiđồng nát, người bới rác (trong thành phố và tại các bãi chôn lấp) Một phầnchất thải loại này được thu gom bởi những người công nhân của Công tyMôi trường đô thị.Các chất thải tái chế này sau đó được đưa đến các cơ sởtái chế ở ngoại thành Hà Nội hoặc các tỉnh lân cận Các nguyên liệu thuhồi chủ yếu là kim loại, nhựa cứng, cao su, giấy, bia catton, vải và túinilông…
Sản xuất phân compost: Chất thải sinh hoạt với hàm lượng hữu có lớn(45%) thu gom từ các chợ trong thành phố được sử dụng để sản xuất phâncompost Nhà máy chế biến phế thải Cầu Diễn (được nâng cấp từ nhà máychế biến phân compost xây dựng từ năm 1997) đã chính thức đi vào hoạtđộng từ quý IV năm 2000 Nhà máy có công suất 50.000 tấn/năm và sảnxuất 13.500tấn phân compost có chất lượng tốt bằng công nghệ ủ kỵ khí
Trang 17cưỡng bức của Tây Ban Nha URENCO Hà Nội là cơ quan quản lý nhàmáy này.
Đốt chất thải: Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt áp dụng đối vớichất thải y tế nguy hại và chất thải công nghiệp có nhiệt trị cao (theo quyđịnh 155 – TTg/1999 ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ
về việc quản lý chất thải nguy hại)
Hiện tại, Hà Nội đang quản lý:
Lò đốt chất thải y tế DELMONEGO 200 – Italia: được lắp đặt tại CầuDiễn, được đưa vào sử dụng từ năm 1999, có công suất 200kg/giờ, côngnghệ của Italia Lò đốt hoạt động tốt và đảm bảo các quy định và tiêuchuẩn Việt Nam hiện hành
Lò đốt chất thải công nghiệp: Được lắp đặt tại Khu liên hiệp xử lý chất thảiNam Sơn từ năm 2003, có công suất 150kg/giờ Cho đến nay, Lò đốt vẫnđang hoạt ổn định và rất có hiệu quả
Xử lý phân bùn bể phốt: Năm 2001, Hà Nội đã đầu tư xây dựng Trạm xử
lý phân bùn bể phốt có công suất 250tấn/ ngày đêm Tại đây, phân bùn
xử lý sơ bộ để tạo lượng đạm cho quá trình ủ chất thải hữu cơ thành phâncompost tại nhà máy chế biến phế thải Cầu Diễn
Các công nghệ xử lý khác: Các công nghiệp xử lý khác như xử lý hoáhọc/ lý học, chủ yếu được áp dụng đối với chất thải công nghiệp Nhàmáy xử lý áp dụng các công nghệ này cũng được xây dựng tại Khu Liênhiệp xử lý chất thải Nam Sơn trong khu đất dành cho xử lý chất thải côngnghiệp công suất 50 tấn/ giờ
1.2 Tổng quan về chương trình 3R trong công tác quản lý
chất thải rắn.
Trang 181.2.1 Khái niệm và mục tiêu của 3R
1.2.1.1 Khái niệm:
3R là từ viết tắt của 3 chữ cái đầu trong tiếng Anh: Reduce- Reuse-Recycle
Reduce (Giảm thiểu): Giảm thiểu lượng rác thông qua việc thay đổi lối sốnghoặc/và cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất , mua bán sạch…Vídụ: Sử dụng làn hay túi vải để đi chợ thay cho túi nlon để nhằm giảm lượngrác thải phát sinh từ túi nilon…
Reuse (Tái sử dụng): Sử dụng lại các sản phẩm hay một phần của sản phẩmcho chính mục đích cũ hay cho một mục đích khác Ví dụ: sử dụng lại chaiđựng nước khoáng để đựng nước…
Recycle (Tái chế): Sử dụng rác thải làm nguyên liệu sản xuất ra các vật chất
có ích khác
Trang 19Hình 1-2:Vị trí của 3R trong vòng đời sản phẩm
Sử dụng sản phẩm đã dùng rồi
Trang 20vật chất hợp lý” là một xã hội tái sử dụng nguồn tài nguyên và giảm thiểu các vấn
đề suy thoái môi trường
1.2.2 Các nội dung của 3R.
1.2.2.1 Phân loại tại nguồn
Phân loại chất thải rắn tại nguồn( Solid Waste Seperation at Source) là mộttrong những nhiệm vụ rất quan trọng đối với các hệ thống quản lý chất thải rắnhiện đại Công việc này liên quan trực tiếp đến việc tách riêng (phân loại) một sốthành phần chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh trước khi nó được chuyên chở đi
Ví dụ đối với chất thải rắn sinh hoạt, có thể phân làm ba loại: (1) các phế thải cókhả năng tái sử dụng hoặc tái sinh như: giấy, nilon, nhựa, kim loại, thuỷ tinh, vỏ đồhộp; (2) các thành phần hữu cơ có thể sử dụng để làm phân compost; và (3) cácthành phần còn lại
Việc phân loại chất thải rắn tại nguồn rất quan trọng về mặt kinh tế, xã hội vàmôi trường.Trước hết, nó góp phần làm tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái sinh/tái chế Điều này kéo theo nhiều tác động tích cực như: hạn chế việc khai thác cáctài nguyên sơ khai, giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển và xử lý, do đótiết kiệm được chi phí, tiết kiệm cả về mặt bằng cho việc chôn lấp chất thải rắn, tạođiều kiện thuận lợi cho việc xử lý cuối cùng các thành phần không có khả năng táichế
Một ý nghĩa quan trọng khác của việc phân loại chất thải rắn tại nguồn là kíchthích sự phát triển của ngành nghề tái chế vật liệu, qua đó góp phần giải quyếtcông ăn việc làm, tạo thu nhập cho nhiều lao động Trong lĩnh vực tái sử dụng cácthành phần hữu cơ trong rác thải sinh hoạt để sản xuất phân compost, nếu việcphân loại rác thải tại nguồn được thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản
Trang 21xuất và chất lượng cũng như tính ổn định của sản phẩm phân compost, qua đó sẽgóp phần mở rộng thị trường phân compost vốn chưa được ưa chuộng hiện nay Việc phân loại chất thải rắn, trên thực tế, thường được thực hiện tại 3 côngđoạn: tại hộ gia đình và cộng đồng (tại nguồn); trong quá trình thu gom và vậnchuyển bởi chính quyền địa phương và tại bãi chôn lấp từ những người nhặt rác.Tuy nhiên phân loại tại nguồn vẫn có ý nghĩa quan trọng nhất bởi vì chất thải chỉ
có thể được phân loại tốt nhất tại thời điểm phát sinh Mọi thời điểm sau đó, khi đã
bị trộn lẫn, hoặc bị phân huỷ theo thời gian, việc phân loại chất thải càng trở nênkhó khăn hơn, thậm chí có khi không thể thực hiện được
Giảm thiểu phát sinh chất thải công nghiệp tập trung chủ yếu vào áp dụng côngnghệ sản xuất sạch hơn Trong thực tế các thay đổi không chỉ đơn thuần là thiết bị
mà còn là các thay đổi trong vận hành và quản lý của một doanh nghiệp.Giảm chấtthải tại nguồn thông qua quản lý nội vi là một giải pháp đơn giản nhất của sản xuấtsạch hơn
Giảm thiểu chất thải rắn tại nguồn được thực hiện bằng việc áp dụng các giảipháp sử dụng tối ưu nguyên liệu, thày đổi công thức sản phẩm, giảm các vật liệubao bì và đóng gói sản phẩm, thay đổi thói quen trong tiêu dùng
Trang 22Một cách tổng quát, các biện pháp giảm thiểu chất thải có thể tổng hợp như sau:
- Sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Thiết kế sản phẩm có tuổi thọ sử dụng cao, dễ tái sử dụng và thành phầnnguyên liệu có thể tái chế được
- Sử dụng các bộ phận, thành phần và nguyên liệu được tái chế, tái sử dụng
- Giảm thiểu việc sử dụng các thành phần độc hại hoặc thay thế các thànhphần độc hại trong sản phẩm
- Sử dụng nhãn mác sinh thái
- Xây dựng lối sống thân thiện với môi trường, sử dụng các sản phẩm thânthiện với môi trường, thực hiện tiêu dùng bền vững
1.2.2.3 Tái sử dụng
Tái sử dụng bao gồm các nội dung như: Khuyến khích các dịch vụ tái sử dụng
sản phẩm (sửa chữa, cho thuê), tăng cường, khuyến khích sản xuất các thành phầnsản phẩm có tuổi đời trung bình cao
Tái sử dụng bao gồm các nội dung sau: Trong tái sử dụng sản phẩm được giữnguyên về chất liệu kết cấu và hình dáng cũng như chức năng ban đầu và được đưavào quá trình chuyển hoá (ví dụ như: bao bì đóng gói nhiều lần) Thông lệ thì sảnphẩm như vậy không phải là chất thải, do đó trong nghĩa rộng có thể được hiểu làtái sinh, nhưng số lượt của chu trình tái sử dụng bị hạn chế Ví dụ, chai sử dụngnhiều lần bị vỡ hay bị mất đi tính năng sử dụng đặc trưng Người ta tính trung bìnhmột chai có thể được tái sử dụng khoảng 20 lượt
Đôi khi cũng có thể được tiếp tục sử dụng sản phẩm được nếu như sản phẩmvới kết cấu chất liệu, hình dáng ban đầu được sử dụng theo một chức năng khác Ví
dụ, lốp xe ôtô là ghế đu hay đài hoa
Trang 23Tái sử dụng lại là một dạng của việc là giảm chất thải - mở rộng các nguồn cungcấp nguyên liệu và giảm năng lượng sử dụng và giảm ô nhiễm thậm chí hơn cả táichế Hoạt động tái sử dụng chất thải rắn có thể được thực hiện tốt ở các khu côngnghiệp tập trung trên cơ sở hình thành một hệ thống thông tin để trao đổi chất thải
vì trong một số trường hợp chất thải cần phải loại bỏ ở nơi này trở thành nguyênliệu đầu vào ở nơi khác
1.2.2.4 Tái chế
Các yếu tố sản xuất đã tác động đến quá trình chuyển hoá vật liệu và nănglượng, do vậy có sự đòi hỏi đến môi trường – nơi cung cấo tài nguyên thiên nhiên.Điều đáng quan tâm là đặc tính tái tạo của vật liệu và nhiên liệu, do vậy cần phânbiệt giữa vật liệu, nhiên liệu tái tạo lại được và vật liệu, nhiên liệu không tái tạo lạiđược
Trên phương diện kinh tế, ngành kinh doanh có thể gặo một loạt các rắc rối khiquay vòng và tái sản xuất các sản phẩm, có khi tiết kiệm được chi phí, nhưng cũng
có khi chi phí lại tăng lên do vậy cần thiết phải tính toán nhu cầu sản xuất và khảnăng tiêu thụ các sản phẩm do có tái chế Tái chế có thể ở dạng tái sinh hoặc tái tạolại giá trị hoặc tiếp tục tận dụng giá trị
Tái sinh là một khái niệm thời sự thông quan hình thức sử dụng lại hay tận dụnglại giá trị của những sản phẩm đã qua sử dụng, khái niệm này liên quan đến chấtthải của sản xuất và tiêu dùng, những vật mà trước khi được đưa và quá trình táisinh đã được của của nó coi như những thứ muốn vứt bỏ đi
Tái sinh là sự kéo dài thêm một khoảng ngắn thời gian lưu của nguyên liệu vànăng lượng trong quá trình chuyển hoá Vì thế, công nghệ có tính đến giảm thiểu vàcông nghệ có tính đến phòng ngừa ô nhiễm môi trường
Trang 24Việc tiếp tục sử dụng có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, song tất cả các quátrình cũng chỉ là việc sử dụng lại nhiều lần, do đó vật chất và năng lượng có thể giữđược trong một thời gian có hạn và riêng biệt trong phạm vi của quá trình chuyểnhoá kế tiếp nhau và sau đó được đưa và chu trình.
Sân phâm tiêu dùng
Sản phẩm tiêu dùng
Hình 1-3:Minh hoạ về tái tạo lại giá trị
Tái tạo giá trị: Tái tạo giá trị là quá trình trong đó chất liệu kết cấu ban đầuđược tái tạo lại thông qua một quá trình xử lý Hình thái ban đầu và chủ đích sửdụng ban đầu có thể được tái tạo Ví dụ sử dụng sắt vụn trong công nghiệp luyệnthép
Tiếp tục tận dụng giá trị: Có thể áp dụng với cả hình thức vật chất và nănglượng Đặc tính của việc tiếp tục tận dụng giá trị vật chất là sự chuyển hoá vật chấtthông qua một quá trình xử lý và làm thay đổi chức năng của sản phẩm mới hìnhthành Ví dụ ủ các chất hữu cơ hay sản xuất ván ép từ mùn cưa
Các hoạt động tái chế có thể bao gồm:
- Tái sử dụng và tái chế các sản phẩm đã qua sử dụng
Đã sử dụng
Phế liệu
Sản phẩm mới Nấu chảy
Trang 25- Khuyến khích việc mua bán, sản xuất và sử dụng các sản phẩm và nguyênliệu có thể tái chế được (thị trường tái chế).
- Phát triển các công nghệ tái chế, ngành công nghiệp tái chế
1.3 Kinh nghiệm thực hiện quản lý, xử lý rác thải theo 3R
1.3.1 Kinh nghiệm áp dụng tại Nhật Bản.
1.3.1.1 Chiến lược 3R của Nhật Bản.
Chính phủ Nhật Bản đã ban hành một số luật về tái chế bao gồm:
- Luật khuyến khích phân loại và tái chế vỏ chai, lọ và bao bì 1995,
- Luật tái chế các đồ dùng gia đình 1998,
- Luật Tái chế vật liệu xây dựng 2000,
- Luật Tái chế thực phẩm 2000,
- Luật Tái chế các phương tiện giao thông đã qua sử dụng 2002,
- Luật Mua sắm xanh 2000,
Các giải pháp này cùng với sự tự nguyện của khối doanh nghiệp đã mang lại tỷ lệtái chế chất thải đạt 16,8% năm 2003, riêng đối với chất thải công nghiệp đạt 49%năm 2003 Hiện nay, sau 10 năm thực hiện, Hội đồng môi trường quốc gia và Hộiđồng công nghiệp đã rà soát, đánh giá lại luật này, đề xuất sửa đổi với những biệnpháp kiểm soát chặt chẽ hơn việc sản xuất bao bì, vỏ chai
Chính phủ cũng đã ban hành “Kế hoạch hỗ trợ thiết lập một xã hội tái chê”(Support Scheme for Establishing a Sound Material-Cycle Society) năm 2005 vớimục đích thúc đẩy các hoạt động 3R thông qua việc thiết lập các cơ sở, thiết bị xử
lý và tái chế chất thải (cơ sở thu hồi năng lượng, tái chế vật liệu và chất thải hữu cơ)rộng rãi trên toàn quốc với sự tham gia của chính quyền trung ương và địa phương.Một phần ba kinh phí cho các dự án này được chính phủ cấp, phần còn lại là đóng
Trang 26góp của địa phương Tuy nhiên đối với những dự án công nghệ cao (như tận thumetan và các khí sinh học với hiệu suất cao), chính phủ trợ cấp đến 50% kinh phí.Trong năm 2005 có 237 thành phố/đô thị lớn nhỏ đã xây dựng xã hội tái chế theo
mô hình này
Về truyền thông, Bộ trưởng Môi trường Nhật Bản đã đưa ra sáng kiến
khuyến khích sử dụng furoshiki, một loại túi vải, khi mua hàng từ các siêu thị để
giảm thiểu chất thải từ các loại túi nhựa bán sẵn Mùa hè năm 2005, một chươngtrình quảng bá 3R đã được thực hiện trên cả nước Nhật Bản
Về hợp tác quốc tế, Chính phủ Nhật Bản đã tổ chức hội thảo về chất thải điện
tử tháng 11/2005 tại Tokyo, với sự phối hợp của Ban thư ký Công ước Basel Hộithảo đã xây dựng chương trình hành động và đưa ra các khuyến nghị về thực hiệncác dự án quản lý chất thải điện tử thân thiện với môi trường khu vực châu Á –Thái Bình Dương Cũng trong tháng 11/2005 Mạng lưới châu Á về phòng ngừa vậnchuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới đã tổ chức hội thảo lần thứ hai thảo luận
về các vấn đề trong lĩnh vực này Các hội thảo, hội nghị về 3R cũng đã được Chínhphủ Nhật Bản tích cực tổ chức với sự tham gia của các nước trong khu vực và trênthế giới Chính phủ Nhật Bản, thông qua tổ chức JICA cũng đã tích cực hỗ trợ cácnước đang phát triển trong lĩnh vực này
Những kết quả về 3R ở Nhật Bản có thể kể đến tỷ lệ chất thải chôn lấp giảm
từ 85 triệu tấn chất thải công nghiệp và 19 tấn chất thải đô thị xuống còn 40 và 9 tr.tấn và tỷ lệ tái chế tăng Tỷ lệ tái chế một số loại sản phẩm đã tăng đáng kể, đếnnăm 2003: điều hoà: 81%, TV: 78%, tủ lạnh: 63%, máy giặt: 65%
Kết quả này đạt được là nhờ những nỗ lực thực hiện các chính sách, xâydựng các diễn đàn về 3R Một diễn đàn quan trọng là Diễn đàn thúc đẩy các hoạtđộng về 3R với sự tham gia của chính quyền địa phương, các công ty tư nhân, công
Trang 27nghiệp, viện nghiên cứu và các tổ chức chính phủ/phi chính phủ được thành lậptháng 1/2006 Diễn đàn này đã tổ chức hội thảo “Zero-Waste PartnershipConference” (tạm dịch “Hợp tác về Không chất thải”) với mục tiêu xây dựng xã hộikhông-chất-thải.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, việc giảm khối lượng chất thải phátsinh đang bị chậm lại Vấn đề nữa là mặc dù việc chôn lấp chất thải bất hợp pháp(illegal dumping) và khối lượng chôn lấp có giảm song vẫn còn tồn tại Chính phủ
đã có một số biện pháp như tăng phí xử lý chất thải và chỉnh sửa lại Luật quản lýchất thải và vệ sinh công cộng để tăng mức phạt đối với hành động chôn lấp bấthợp pháp
Về xuất nhập khẩu chất thải, Nhật Bản xuất khẩu các phế liệu kim loại (thép,đồng và nhôm), giấy, và nhựa với 90% sang Trung Quốc và Hồng Kông Nhậpkhẩu các loại chất thải tái chế vào Nhật đã giảm xuống còn 60% so với 1990 vớicác chất nhập chủ yếu là dầu thực vật, xỉ lò cao và thép phế liệu Cũng giống nhưcác nước phát triển khác, việc phân biệt chất thải có thể tái chế nguy hại hay không
ở các nước nhập khẩu thường không rõ ràng và gây cản trở Mặt khác, các loại hàng
cũ điện tử (second-hand) đôi khi cũngbị coi là chất thải và bị trả lại Nhật Bản
Việc nhập xuất khẩu chất thải có thể tái chế như là phế liệu đôi khi có hiệuquả kinh tế cao, có lợi ích cho cả hai bên Tuy nhiên, cũng có trường hợp lợi dụngchủ trương này để xuất khẩu và vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới Đểtránh tình trạng này Nhật Bản thường xuyên cung cấp thông tin đến các đối tácthông qua Mạng lưới châu Á về phòng ngừa vận chuyển chất thải nguy hại xuyênbiên giới
1.3.1.2 Các hoạt động cụ thể tại một số thành phố của Nhật Bản.
Trang 28a Kinh nghiệm về phân loại rác tại nguồn
Hệ thống phân loại tại nguồn rác thải rắn tại các thành phố của Nhật Bản
Hệ thống thu gom rồi phân loại rác tại nguồn rác thải rắn tại các thành phố ở NhậtBản về cơ bản được chia làm 3 loại:
Thu gom theo nhóm
Thu gom tại các điểm
Thu gom ven đường
Bảng 1-4: Các hình thức thu gom rác thải
Hệ thống thu gom
phân loại rác
Tổ chức đảm nhiệm Tần suất thu gom
Thu gom theo nhóm Cộng đồng với sự hỗ trợ
của chính quyền (kinhphí,v.v )
Nguồn: URENCO Hà Nội
Những thành phần của Hệ thống thu gom rác ven đường.
Các thành phần cần nói đến của hệ thống này bao gồm:
Thùng đựng rác: Các thành phố của Nhật Bản khi triển khai hoạt động cơbản đầu tiên của 3R là phân loại rác tại nguồn họ đã sử dụng những thùngđựng rác khác nhau với ưu và nhược điểm khác nhau và ở mỗi một nơi trênđịa bàn thành phố lại thích hợp để sử dụng các loại thùng đựng rác đó
Bảng 1-5: Lựa chọn đối với từng hệ thống thu gom rác
Trang 29Loại thùng hoặc túi đựng
rác bất kỳ (túi nhựa hoặc
thùng đựng rác)
Chính quyền không phảiđầu tư bất kỳ loại thunghoặc túi đựng rác nào
Rất khó kiểm tra tìnhtrạng phân loại rác tại thờiđiểm thu gom nếu như rácđựng trong túi nhựa màu.Cần phải xé và loại bỏ túinếu muốn lấy rác ra táichế
Loại thùng hoặc túi theo
quy định (túi trong suốt
hoặc bán trong suốt)
Dễ kiểm tra tình trạngphân loại rác vào thờiđiểm thu gom hơn Tạothuận lợi cho việc phânloại rác
Dễ dàng hơn cho ngườidân phân loại rác thải vàrác tái chế
Chính quyền cần phải đầu
tư mua thùng đựng hoặctúi nhựa theo đúng yêucầu
Thùng đựng rác hữu cơ có
khả năng tách nước khỏi
rác (chỉ sử dụng để lọc rác
thải hữu cơ)
Người dân có thể giữ rácthải hữu cơ tại nhà vìnước tách khỏi rác thảihữu cơ nên rác sẽ khóphân huỷ
Rác hữu cơ rất dễ lênmen
Người dân sẽ thi thoảngphải rửa sạch thùng rác
Dùng giấy báo hoặc túi
Rất khó kiểm tra tình
Trang 30trạng phân loại rác vàothời điểm thu gom.
Người dân trực tiếp mang
rác đến thùng đựng tại các
địa điểm quy định
Không cần phải mua túihay thùng đựng rác
Cần phải chuẩn bị và bảo
vệ các túi và thùng đựngrác tại các địa điểm quyđịnh
Nguồn: URENCO Hà Nội
Địa điểm để rác
Bảng 1-6: Lựa chọn địa điểm thu gom rác
Thu gom tại một địa điểm
quy định (cứ khoảng từ 10
đến 20 gia đình thì lại có
một điểm thu gom)
Việc thu gom tại mộtđiểm quy định sẽ hiệu quảhơn việc thu gom tại cửatừng hộ gia đình
Trách nhiệm của người xảrác không được xác định
rõ ràng
Người dân phải chấp nhậnmang rác đến địa điểmquy định
Thu gom tại cửa từng hộ
Nguồn: URENCO Hà Nội
Tần suất thu gom
Rác tái chế: Mỗi tuần một lần
Rác hữu cơ: Hai đến ba lần một tuần
Rác có thể đốt: Hai đến ba lần một tuần
Rác không thể đốt: Một tuần một lần
Trang 31Tại Nhật Bản, việc thu gom các loại rác khác nhau được tiến hành vào các ngàykhác nhau, việc này giúp người dân nhận ra sự khác biệt giữa rác thông thường vàrác tái chế - đó chính là mục đích cốt lõi của hệ thống phân loại rác thải ngay từnguồn.
Một số công cụ dùng để giúp người dân phân loại rác thải
Những bảng thông báo tại điểm thu gom rác
Thông thường, rác được mang đến các điểm thu gom quy định, cứ khoảng 10-20
hộ gia đình thì lại có một điểm thu gom như vậy Lịch thu gom sẽ quy định mỗingày thu gom một loại rác nhất định Nếu người dân mang loại rác khác đến vàongày đó thì sẽ không được chấp nhận.Chính quyền thành phố cần thông báo chongười dân để họ biết mà làm theo quy định về lịch thu gom rác
Không chấp nhận thu gom rác thải/ rác tái chế không đúng lịch
Rất nhiều chính quyền thành phố tại Nhật Bản không chấp nhận thu gom rác thải/rác tái chế mang đến điểm thu gom không đúng lịch Trong tình huống như vậyngười thu gom sẽ không mang số rác đó đi mà sẽ dán một miếng dính cảnh cáo lêntúi đựng số rác đó
Hướng dẫn người dân phân loại rác đúng cách
Nhân viên chính quyền thành phố sẽ đi trên một chiếc xe đặc biệt đến gặp ngườingười dân thường xuyên vi phạm lịch thu gom rác để nhắc nhở và giúp đỡ họ phânloại và đổ rác theo quy định
b Tái chế:
Công tác giảm, tái chế và quản lý rác thải tại Nhật là vấn đề được ưu tiên hàngđầu nhằm duy trì và phát triển bền vững trong thế kỷ hai mươi Yêu cầu cấpthiết ở đây là tạo dựng một hệ thống kinh tế mới cân bằng giữa lợi ích môitrường và lợi ích kinh tế
Trang 32“Hội đồng Cấu trúc Công nghiệp” của Chính phủ Nhật Bản trong năm 1999 đãđưa ra đề xuất có tiêu đề “Hướng tới một Hệ thống Kinh tế dựa trên Tái Chế”.Quan điểm chủ đạo trong đề xuất này là triển khai các chủ trương của 3R, đó làthực hiện giảm, tái chế và tái sử dụng rác thải, trong đó tái chế rác thải là trọngtâm của dự án
Trong khi triển khai 3R tại Tokyo từ 1989 đến 2000, Chính quyền Thủ đô đã thựcnhững nỗ lực sau:
Thực hiện chiến dịch giảm lượng thải
Phê duyệt gỗ thải từ vật liệu xây dựng
Xây dựng “Kế hoạch Hành động về Giảm lượng Thải”
Phổ biến túi rác bán trong suốt
Phát hành Sách trắng về chất thải tại Tokyo
Xây dựng “ Quy tắc Thu gom Tokyo năm 1996”
Thực hiện chiến dịch Túi rác của Tôi
Triển khai dự án Mô hình về phục hồi nguồn (Tokyo Rule I)
Xây dựng kế hoạch xử lý chất thải nội địa
“Trách nhiệm cá nhân thu gom” đối với chất thải từ hoạt động kinh doanh
Xây dựng kế hoạch khẩn nhằm mở rộng phạm vi sử dụng giấy cũ
Uỷ ban báo cáo về tình hình quản trị mới đối với quản lý chất thải công nghiệp
Hướng dẫn thăm quan (đối với chất thải cho phép)
Những hoạt động trong tương lai
Chính quyền trung ương và địa phương, các cơ sở kinh doanh và người tiêu dùng
đã cùng nhau bắt đầu bằng nhiều cách giúp xây dựng và tạo bước thành công cho
hệ thống tái chế Nhận thấy sự cần thiết cho các hoạt động trong tương lai, chính
Trang 33phủ Nhật Bản đang cho ra một khái niệm về 3R, bằng các phương pháp hữu hiệu,đảm bảo được những tác động thực tế và sự hợp tác trên thế giới để tiếp cận vớicác vấn đề 3R.
c Giáo dục môi trường
Quan hệ Công chúng và Giáo dục Môi trường về 3R tại Tokyo
Trong khi triển khai 3R tại Tokyo từ 1989 đến 2000, Chính quyền Thủ đô đãthực những nỗ lực sau
Thực hiện chiến dịch giảm lượng thải
Phê duyệt gỗ thải từ vật liệu xây dựng
Xây dựng “Kế hoạch Hành động về Giảm lượng Thải”
Phổ biến túi rác bán trong suốt
Phát hành Sách trắng về chất thải tại Tokyo
Xây dựng “ Quy tắc Thu gom Tokyo năm 1996”
Thực hiện chiến dịch Túi rác của Tôi
Triển khai dự án Mô hình về phục hồi nguồn (Tokyo Rule I)
Xây dựng kế hoạch xử lý chất thải nội địa
“Trách nhiệm cá nhân thu gom” đối với chất thải từ hoạt động kinh doanh
Xây dựng kế hoạch khẩn nhằm mở rộng phạm vi sử dụng giấy cũ
Uỷ ban báo cáo về tình hình quản trị mới đối với quản lý chất thải công nghiệp
Hướng dẫn thăm quan (đối với chất thải cho phép)
Nhật Bản là một trong những nước đứng đầu về Sáng kiến 3R và vì vậy việc thựchiện 3R ở Nhật Bản đã có nhiều thành công, trên đây là những hoạt động cụ thểnhất mà tôi đề cập đến để đưa ra những bài học đối với Việt Nam
1.3.2 Kinh nghiệm áp dụng tại Thái Lan.
1.3.2.1 Chiến lược 3R tại Thái Lan.
Trang 34Thái Lan đã xây dựng Kế hoạch quản lý chất thải tổng hợp với các nội dungkhuyến khích phân loại và giảm thiểu chất thải tại nguồn, khuyến khích sử dụngphân hữu cơ và sử dụng năng lượng tái tạo Tăng cường trách nhiệm của nhà sảnxuất cũng được áp dụng đặc biệt đối với ắc quy và điện thoại di động thông qua cơchế thu hồi sản phẩm đã qua sử dụng (take-back program).Chương trình này đãnâng tỉ lệ tái chế ắc quy lên tới 85%
Các hoạt động 3R được phân cấp và thúc đẩy thực hiện ở cấp cộng đồng ỞThái Lan hiện tại có khoảng 200 cộng đồng (làng, xã) thực hiện các chương trìnhtái chế chất thải với kết quả giảm thiểu 30-50 %chất thải trước khi tiêu huỷ
Một chương trình trao đổi chất thải công nghiệp đang được thực hiện nhằmthúc đẩy phát triển ngành công nghiệp tái chế Theo đó các công ty sẽ kê khai sốlượng, chủng loại chất thải của mình, nhập vào cơ sở dữ liệu chung (được thiết lập
và duy trì bởi Bộ công nghiệp và Viện Môi trường Thái Lan), qua đó tạo điều kiện
để trao đổi chất thải.Tính đến năm 2005, đã có 450 cơ sở công nghiệp đăng ký vàcung cấp thông tin cho cơ sở dữ liệu này
Thái Lan cũng đang thực hiện các chương trình mua sắm xanh Chính phủ,ngành công nghiệp và các tổ chức phi chính phủ hiện đang thúc đẩy hệ thống cungcấp xanh (green supply chain) trên thị trường thông qua việc trao đổi thông tin vềcác sản phẩm doanh nghiệp và tiêu chí xanh Hiện tại các tiêu chí về chương trìnhmua sắm xanh của Chính phủ đang được xây dựng để đưa ra hướng dẫn về việcmua sắm sản phẩm và dịch vụ xanh như giấy, mực in, bóng đèn neon, dịch vụ vệsinh và khách sạn
1.3.2.2 Thực hiện thí điểm 3R tại thành phố Hat Yai.
Trang 35Chính quyền Hạt Hat Yai là chính quyền địa phương của Thành phố Hat Yai, thuộctỉnh Songkhla, nằm ở cực Nam Thái Lan và chính quyền hành chính hiện nay do thịtrưởng, người được bầu cử trực tiếp, đứng đầu
Trong khoảng thời gian của Dự án nghiên cứu chung Thái – Nhật (2003-2006), có tất
cả 30 cộng đồng, trong đó Klangna là nơi được lựa chọn để thực hiện thí điểm tại HatYai
a Sơ lược về phân loại rác thải tại Hat Yai
Năm 1998, Giáo sư Yoshifumi Fujii của trường đại học Bunkyo đã đến thămHat Yai Được chứng kiến cảnh rác thải bị chôn lấp không hợp lý và ông cũng
đã được học về tái chế với 3 nguồn phân loại: (1) Phân loại tại nguồn các loạirác (2) Phân loại bởi những người công nhân của thành phố - những người thugom rác và (3) Phân loại bởi những người nhặt rác tại bãi chôn lấp
Giáo sư Fujii đã có ý tưởng giới thiệu hệ thống quản lý rác thải cho Hat Yai, đó
là sự ra đời của dự án nghiên cứu được phối hợp giữa trường đại học Bunkyo,
Tổ chức phi chính phủ Nhật Bản, trường đại học hoàng gia Songkla và Hội đồngthí điểm, được tài trợ bởi JICA
b Mục tiêu của dự án nghiên cứu
Tìm kiếm phương pháp phân rác tại nguồn cho mục đích tái chế phù hợpthực tế của địa phương
Giảm lượng rác thải thải ra
c Vùng mục tiêu
Hat Yai – cộng đồng Klangna
Kohong – thành phố Palm
Kuanlung – Kuuansanti
Trang 36Vùng mục tiêu của mỗi cộng đồng được lựa chọn sao cho có khoảng 200-300 hộgia đình để tạo điều kiện tốt cho việc đánh giá.
d Dự án thí điểm:
Tháng 3 năm 2005, hoàn thành nhà máy phân vi sinh và nhà máy phân loại ráctái chế tại một nơi chôn lấp vệ sinh của Hat Yai Sau đó là hàng chuỗi các chiếndịch giáo dục và khuyến khích về phân rác tại nguồn cho người dân, ví dụ như:
Xe lưu động khuyến khích dân phân loại rác
Thu gom rác đã được phân loại
Rác hữu cơ đã được phân loại từ các hộ gia đình sẽ được mang tới
đổ vào các thùng thu gom tại những nơi nhất định Xe ô tô thu gom
sẽ thu gom rác hữu cơ này hàng ngày và chuyển tới nhà máy chếbiến phân hữu cơ
Với loại rác tái chế, người dân sẽ hoặc có thể bán trực tiếp cho đồngnát rồi giữ lại tiền cho riêng mình, hoặc có thể để chúng trong cáctui nylon và đặt trước cửa nhà mình để nhóm thu gom của thành phố
sẽ đến lấy đi rồi chuyển tới nhà máy phân loại Nhóm thu gom sẽ đặtmột cái túi nylon khác thay thế vào cái túi đã lấy đi
Tháng 1 năm 2006, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra rằng không có nhiều rácđược phân loại vì có sự hạn chế về xe thu gom tại hai điểm thu gom khác là
Trang 37Kohong và Kuanlung Do vậy đã có sự sắp xếp lại hệ thống thu gom bằng việc
ký kết hợp đồng với đơn vị tư nhân để họ đảm nhận thu gom rác hữu cơ và ráctái chế, còn các loại rác khác thì vẫn được mỗi thành phố thu gom như thường
lệ Bên cạnh đó, thùng rác hữu cơ và thùng rác tái chế cũng được đặt cạnh nhautại những nơi công cộng mà người dân có thể dễ dàng đem rác tái chế của mình
ra đó mỗi ngày thay vì thu gom một tuần một lần
Xe thu gom của đơn vị tư nhân sẽ nổi nhạc nhắc nhở người dân đổ rác mỗi khichúng đi qua khu dân cư và nó cũng giới thiệu về phân loại rác tời những ngườidân trong cộng đồng Điều này làm nâng cao ý thức của người dân về phân loạirác và sự hợp tác của họ cũng được nâng lên Xe thu gom của đơn vị tư nhânlàm việc từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2006 (đến cuối dự án)
Đầu tháng 10 năm 2005, nhóm nghiên cứu đã khuyến khích việc phân rác tạinguồn đối với các đơn vị cơ sở khác như là các cửa hàng, khách sạn và họ đãmời đại diện của những đơn vị này tham gia vào nhóm vận động dự án Ủy bancủa nhóm này bao gồm có thành viên của nhóm nghiên cứu, nhóm làm việcđược thành lập từ 3 thành phố thí điểm, các đại diện của cộng đồng và các đơn
vị tư nhân Ủy ban này thường xuyên họp định kỳ để xem xét hướng phát triểncho dự án thí điểm
e Kết quả của việc thực hiện dự án thí điểm
Từ việc giám sát và điều tra ý kiến của người dân, thấy kết quả như sau: 79.6%người dân ở Klangna biết về các hoạt động phân loại rác của dự án; 90.8% cóthể phân rác đúng và 98.9% người dân có thể phân đúng rác hữu cơ
Tuy nhiên người dân hợp tác trong việc phân loại rác hữu cơ nhiều hơn là hợptác trong phân loại rác tái chế Và cũng đã có nhiều rác hữu cơ được bỏ trực tiếpvào thùng rác công cộng mà không hề có sự phân loại trước đó
Trang 38f Vấn đề và trở ngại:
Một số ngôi nhà ở Klangna là nhà cho thuê Rất là khó để liên lạc hay tuyêntruyền những thông tin về phân loại rác cho người dân ở đó Do vậy, sự hợptác nhận được là rất ít
Klangna là một vùng đất mở, không hề có đường ráp danh nên bất cứ aicũng có thể đến và đi một cách tự do, điều đó có nghĩa là không thể kiểmsoát luôn luôn những người khách lạ đó đến và vứt rác đúng vào thùng ráccông cộng được
Là một khu dân cư thành thị, người dân ở đó cũng đến thì nhiều vùng miềnkhác nhau Họ chỉ tạm thời sống hoặc học tập ở đây Những người nàykhông có ý thức là họ thuộc về nơi này và không hề có những người đứngđầu, dù là chính thức hay không chính thức, những người mà có quyền lực
và ảnh hưởng để thúc đẩy việc hợp tác phân loại rác Một chiến dịch liên tục
về vấn đề này cũng rất cần thiết để đạt được những mục tiêu đã đặt ra
Ủy ban cộng đồng dân cư đã không thể đóng vai trò nhiều về phân loại rácnhư mong đợi
Năm 2004 đã có sự chấm dứt của ủy ban cộng đồng trước đó và đã có mộtcuộc bầu chọn được tiến hành mà ở đó người thắng cử sẽ thành lập mộtnhóm mới, nhóm này bao gồm những người không am hiểu về dự án vàcũng đóng vai trò ít hơn trong cộng đồng về phân loại rác
g Những thất bại:
Có giả thuyết cho rằng việc giới thiệu nhà máy phân loại rác thải trong quátrình phân loại rác của dự án mà lẽ ra sẽ được chấp nhận và sẽ thành côngtrong việc quản lý rác hợp vệ sinh thì lại không được người dân chấp nhậntrong thực tế vì họ có xu hướng là bán những rác tái chế trực tiếp cho đồng
Trang 39nát để gom tiền cho riêng mình hơn là phân loại rồi giao nó cho dự án.
Trong khoảng thời gian cuối khi thực hiện dự án, sau khi phân phát thêmthùng chứa rác tái chế cho người dân để phân loại rác, có thể nhận thấy rằngchính điều này đã khiến nhiều người nhặt rác đến “thăm” thùng rác hơn và
họ đã bới nhặt rác tái chế trong đó Khu dân cư vì thế mà cũng trở nên bừabãi hơn và mất vệ sinh hơn những gì trước đó
Phân loại rác tại nguồn đã không cải thiện được tính vệ sinh trong khu dân
cư nếu như việc quản lý rác thải không đầy đủ và không thích hợp như đượcthấy trong dự án Hơn 90% người dân trong dự án có thể phân rác đúngnhưng khu dân cư thì lại không gọn gàng và sạch sẽ hơn những gì mà nó vẫnthường thế Thùng rác thì được đặt rải rác khắp mọi nơi nhưng vẫn còn hiệntượng xả rác bừa bãi
Quy trình đem rác đã được phân loại để tái sử dụng được hiện thực hóa, đặcbiệt là việc sản xuất ra phân hữu cơ
Nơi thí điểm đầu tiên,cộng đồng dân cư Klangna, là nơi đầu tiên để ngườidân từ các nơi khác đến chứng kiến và học tập phân loại rác và nó đem lạilợi ích như thế nào trong việc tái sử dụng
Nhà máy sản xuất phân hữu cơ và phân loại rác là nơi để người dân và thanh
Trang 40niên đến học tập và nghiên cứu về phân loại rác cho mụch đích tái sử dụng.
Người nông dân là những người được hưởng lợi tức thì từ việc sử dụng phân
vi sinh và rác hữu cơ
Có nhiều cơ quan tổ chức được thành lập nhằm hợp tác và hỗ trợ thực hiện
và mở rộng các hoạt động phân rác tại nguồn tại những vùng mở rộng kháctrong thành phố Hat Yai
i Các hoạt động hiện tại:
Nhóm vận động dự án vẫn còn họat động và có cuộc gặp định kỳ với ngàiphó thị trưởng thành phố, người đóng vai trò là chủ tịch của nhóm Thànhviên của nhóm này cũng rất sẵn lòng hợp tác cho sự tồn tại bền vững của cáchoạt động phân rác tại nguồn
Thành phố Hat Yai gần đây cũng đã mở rộng các hoạt động phân loại rác tớinhiều địa điểm hơn
Thành phố Hat Yai rất chủ động trong việc giáo dục và đào tạo việc phânloại rác tới thành viên trong cộng đồng, các tình nguyện viên y tế công cộng,trẻ em các trường học Chính quyền thành phố cũng sắp xếp những chuyến
du lịch về phân loại rác thải cho cộng đồng, ví dụ như tham quan nhà máyphân vi sinh, nhà máy phân loại rác thải, để họ có thể nhìn thấy những sảnphẩm làm từ rác đã phân loại
Triển lãm về dự án phân loại rác thải, khuyến khích sử dụng phân vi sinh vàcác sản phẩm phân vi sinh cũng được phát tới dân chúng để họ thử dùng
k Kế hoạch tương lai:
Thực hiện quản lý chất lượng và đánh giá các sản phẩm phân vi sinh để cóthể đáp ứng được tiêu chuẩn của Sở Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Hợptác Thái Lan