Trong khuôn khổ của luận văn này, tôi tiến hành tổng hợp hạt nano pherit spinen NiY0,1Fe1,9O4 bằng phương pháp sol- gel, nghiên cứu cấu trúc tinh thể và tính chất từ của vật liệu.. Mục t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
Nguyễn Thị Ly
CẤU TRÚC TINH THỂ VÀ TÍNH CHẤT TỪ CỦA HẠT
PHƯƠNG PHÁP SOL - GEL
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
Nguyễn Thị Ly
CẤU TRÚC TINH THỂ VÀ TÍNH CHẤT TỪ CỦA HẠT
PHƯƠNG PHÁP SOL – GEL
Chuyên ngành: Vật lý Nhiệt
Mã số: Đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Phúc Dương
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Nguyễn Phúc Dương- người thầy đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy. Thầy không chỉ truyền thụ cho tôi những kiến thức khoa học quý giá mà còn là tấm gương sáng về tinh thần nghiên cứu khoa học hăng say, nghiêm túc để tôi noi theo.
Tôi xin cảm ơn Viện ITIMS -Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn. Đặc biệt xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới NCS. Lương Ngọc Anh cùng các anh chị trong nhóm Vật liệu Từ - Viện ITIMS đã nhiệt tình hỗ trợ và đóng góp những ý kiến hết sức chân thành và quý giá cho luận văn của tôi.
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến GS. TS Lưu Tuấn Tài cùng các thầy, cô trong khoa Vật lý nói chung và trong chuyên ngành Vật lý Nhiệt nói riêng của trường Đại học Khoa học tự Nhiên đã truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu
để tôi có đủ khả năng hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi không quên gửi lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè của tôi- những người đã luôn động viên, giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn với tôi trong suốt thời gian qua.
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU PHERIT SPINEN 3
1.1.Tính chất cơ bản của pherit spinen dạng khối. 3
1.1.1.Cấu trúc tinh thể của pherit spinen. 3
1.1.2.Tính chất từ trong pherit spinen. 7
1.1.2.1.Tương tác trao đổi trong pherit spinen 8
1.1.3.Lý thuyết trường phân tử đối với pherit spinen có hai phân mạng từ 10
1.2.Hạt pherit spinen có kích thước nanomet. 15
1.2.1.Các tính chất đặc trưng trong hạt nano pherit spinen 15
1.2.1.1. Mô hình lõi vỏ. 15
1.2.1.2. Dị hướng từ bề mặt. 16
1.2.1.3. Sự suy giảm mômen từ theo hàm Bloch. 16
1.2.1.4. Hình thành cấu trúc đơn đômen. 17
1.2.1.5. Sự thay đổi nhiệt độ chuyển pha Curie. 18
1.2.1.6. Hiện tượng siêu thuận từ. 19
1.2.2.Một số ứng dụng của hạt nano pherit spinen. 22
1.2.3. Những nghiên cứu về hạt nano pherit niken có sự pha tạp. 25
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 29
2.1.Phương pháp chế tạo hạt nano. 29
2.1.1.Giới thiệu về phương pháp sol- gel. 29
2.1.2.Quy trình tổng hợp và chế tạo mẫu bằng phương pháp sol- gel. 34
2.2.Các phương pháp khảo sát và đo lường tính chất của mẫu. 36
2.2.1.Phương pháp nhiễu xạ tia X. 36
2.2.2.Phương pháp phân tích phổ hồng ngoại. 39
2.2.3.Phương pháp kính hiển vi điện tử quét 40
2.2.4.Máy quang phổ phát xạ liên kết cảm ứng plasma. 42
2.2.5.Từ kế mẫu rung. 43
Trang 5CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
3.1.Cấu trúc của hạt nano NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4. 44
3.1.1. Kết quả đo nhiễu xạ tia X. 44
3.1.2. Kết quả phân tích phổ hồng ngoại- IR. 48
3.1.3. Kết quả phân tích ảnh SEM. 49
3.2.Tính chất từ của hạt nano NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4. 50
3.2.1. Quá trình từ hóa 50
3.2.2. Mômen từ tự phát phụ thuộc vào nhiệt độ- nhiệt độ Curie. 54
3.2.3. Nhiệt độ khóa. 56
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 6
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 1: Cấu trúc tinh thể của pherit spinen. 5
Hình 1 2: Các kiểu tương tác trao đổi trong vật liệu từ. 9
Hình 1 3: Một vài dạng cấu hình sắp xếp iôn trong mạng spinen 9
Hình 1 4: Mômen từ phụ thuộc vào nhiệt độ của pherit spinen 12
Hình 1 5:Từ độ bão hòa phụ thuộc vào nhiệt độ của pherit spinen 12
Hình 1 6: Momen từ bão hòa ở 0 K của các pherit spinen. 14
Hình 1 7: Mô hình lõi vỏ 15
Hình 1 8: Cấu trúc đa đômen và đơn đômen trong hạt từ. 17
Hình 1 9: Đường cong từ hóa của các vật liệu từ. 20
Hình 1 10: Momen từ hướng theo trục dễ : T>TB, momen từ hướng theo từ trường ngoài TB<T<TC. 21
Hình 1 11: Một số ứng dụng vật lý của pherit spinen. 24
Hình 1 12: Một số ứng dụng y- sinh học của pherit spinen. 24
Hình 1 13: Sự phụ thuộc của hằng số mạng a vào nồng độ pha tạp kẽm. 26
Hình 1 14: Sự phụ thuộc của mômen từ tự phát vào nồng độ pha tạp kẽm. 27
Hình 2 1: Sơ đồ tổng hợp các loại vật liệu bằng phương pháp Sol gel………… 31
Hình 2 2: Phân tử citric. 31
Hình 2 3: Phức citrate trong phản ứng tạo càng. 32
Hình 2 4: Ảnh hưởng của chất xúc tác axit, bazơ đến sự gel hóa. 34
Hình 2 5: Sơ đồ chế tạo hạt pherit nano bằng phương pháp sol- gel. 36
Hình 2 6: Máy đo nhiễu xạ tia X. 38
Hình 2 7: Máy đo phổ hồng ngoại- IR 40
Hình 2 8: Kính hiển vi điện tử quét SEM. 41
Hình 2 9: Máy quang phổ phát xạ. 42
Hình 2 10: Thiết bị từ kế mẫu rung. 43
Hình 3 1: Giản đồ nhiễu xạ tia X của hệ mẫu NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 ủ nhiệt tại 600oC trong 5 giờ……… 44
Trang 7Hình 3 2: Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu NiY0,1Fe1,9O4 ủ nhiệt tại 800oC trong 5 giờ. 45 Hình 3 3: Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu NiLa0,1Fe1,9O4 ủ nhiệt tại các nhiệt độ
600oC,800oC và 1100oC trong 5 giờ 46 Hình 3 4: Phổ hồng ngoại của hai mẫu NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 ủ ở nhiệt độ
600oC trong 5 giờ. 48 Hình 3 5: Ảnh SEM của hệ mẫu NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 chế tạo bằng phương pháp sol- gel ủ nhiệt tại 600oC trong 5 giờ. 49 Hình 3 6: Các đường từ độ của hệ mẫu NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 ở vùng trên nhiệt
độ phòng (từ 290 K đến 870 K). 50 Hình 3 7: Các đường từ độ của hệ mẫu NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 ở vùng dưới nhiệt độ phòng (từ 87 K đến 283 K). 51 Hình 3 8: So sánh các đường từ độ của hai mẫu hạt nano NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4
ở 88 K và 300 K. 52 Hình 3 9: Sự phụ thuộc của từ độ tự phát vào nhiệt độ của hệ mẫu NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 và ngoại suy theo hàm Bloch về 0 K. 54 Hình 3 10: Đường ZFC- FC của hệ mẫu NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 được đo ở từ trường 100 Oe. 57
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 1: Hằng số mạng của một số pherit spinen 5
Bảng 1 2: Bán kính một số ion. 7
Bảng 1 3: Tích phân trao đổi của một số vật liệu pherit spinen. .10
Bảng 1 4:Từ độ bão hòa của một số pherit spinen ở 0 K và 293 K 14
Bảng 1 5: Nhiệt độ Curie và môn từ của một số pherit spinen tính theo mẫu Néel và số đo mô men từ ở 0 K… ……… 13
Bảng 3 1: Hằng số mạng a và kích thước tinh thể trung bình dXRD của hạt nano NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 tính từ giản đồ XRD. 47
Bảng 3 2: Mômen từ tự phát MS của các hạt nan đo tại88 K và 300 K, so sánh với mẫu khối ở 300 K 54
Bảng 3 3: Bề dày lớp mất trật tự t và mômen từ tự phát ở 0 K của các mẫu hạt nano NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4 tính theo mẫu Néel và ngoại suy theo hàm Bloch từ các giá trị thực nghiệm 55
Bảng 3 4: Nhiệt độ Curie, nhiệt độ khóa của các mẫu hạt nano NiFe2O4 và NiY0,1Fe1,9O4, so sánh với mẫu khối. 58
Trang 9MỞ ĐẦU
Khoa học nano đã bắt đầu từ thập kỷ 60 của thế kỉ trước và trong nhiều năm qua khoa học và công nghệ nano vẫn là một trong những lĩnh vực được ưu tiên nghiên cứu. Rất nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại ra đời để phục vụ cho lĩnh vực này như: phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD), kính hiển vi điện tử quét (SEM), kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM),…. Điều này đã và đang tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ nano và đưa hướng nghiên cứu vật liệu nano trở thành nhiệm vụ hàng đầu.
Các loại vật liệu hạt nano như kim loại (Fe, Co, Ni), kim loại hợp kim (Fe- Cu) và oxit kim loại (Fe3O4, MnFe2O3, CoFe2O4, NiFe2O4) hiện đang được nghiên cứu nhiều nhất. Trong khi hạt nano kim loại không ổn định trong điều kiện khí quyển thì các oxit kim loại có tính ổn đinh cao trong điều kiện môi trường xung quanh được sử dụng rất nhiều trong lĩnh vực như điện tử, quang điện tử, công nghệ thông tin và truyền thông cũng như y- sinh học và môi trường. Phần lớn các ứng dụng đều khai thác ưu điểm kích thước hạt nhỏ, có tính chất siêu thuận từ và độ ổn định hóa học.
Pherit niken (NiFe2O4) là vật liệu từ mềm có điện trở cao, tổn thất điện môi
và dòng dò thấp, độ ổn định hóa học cao. Vật liệu này được biết đến với nhiều ứng dụng trong thực tế như dẫn truyền thuốc để điều trị ung thư, ứng dụng để tổng hợp
ra chất lỏng từ và sử dụng rộng rãi trong công nghệ ghi từ mật độ cao. Ngoài ra pherit niken còn có từ giảo tương đối lớn nên thường được sử dụng để thu phát siêu
âm, làm các biến tử từ giảo. Mỗi ứng dụng yêu cầu các hạt nano từ tính phải có những tính chất khác nhau. Để thay đổi các tính chất điện, tính chất từ và cấu trúc của mẫu pherit niken nguyên chất người ta có thể đi theo hai hướng. Hướng thứ nhất là lựa chọn công nghệ chế tạo mẫu phù hợp. Hướng thứ hai được áp dụng nhiều hơn và hiệu quả hơn đó là bằng cách pha tạp, thêm các ion phi từ tính hay có
từ tính vào trong pherit niken ta có thể chế tạo được các vật liệu pherit có tính chất như mong muốn.
Trang 10Sự pha tạp đất hiếm vào pherit niken có thể ảnh hưởng cấu trúc, tính chất từ
và tính chất điện của vật liệu. Chẳng hạn như trở kháng, độ cứng cơ học và độ ổn định hóa học…của vật liệu. Những thay đổi này có triển vọng ứng dụng trong truyền sóng điện từ cao tần và trong các thiết bị ghi quang từ.
Trong khuôn khổ của luận văn này, tôi tiến hành tổng hợp hạt nano pherit spinen NiY0,1Fe1,9O4 bằng phương pháp sol- gel, nghiên cứu cấu trúc tinh thể và tính chất từ của vật liệu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Mẫu hạt nano pherit spinen NiY0,1Fe1,9O4.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn:Nghiên cứu cấu trúc tinh thể và tính chất từ của hạt nano pherit spinen NiY0,1Fe1,9O4 chế tạo bằng phương pháp sol- gel Phương pháp nghiên cứu:Luận văn được tiến hành bằng phương pháp thực nghiệm kết hợp với phân tích số liệu dựa trên các mô hình lý thuyết và kết quả thực nghiệm đã công bố. Các mẫu nghiên cứu được chế tạo bằng phương pháp sol-gel tại viện ITIMS, Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Bố cục của luận văn: Luận văn được trình bày trong 3 chương, 64 trang bao gồm phần mở đầu, 3 chương nội dung, kết luận, cuối cùng là tài liệu tham khảo. Cụ thể cấu trúc của luận văn như sau:
Mở đầu: Mục đích và lý do chọn đề tài.
Chương 1:Tổng quan về vật liệu pherit spinen. Trong chương này tôi đã
trình bày tổng quan về cấu trúc và tính chất từ của pherit spinen dạng khối, nêu lên các tính chất đặc trưng của vật liệu khi có kích thước nanomet và một số ứng dụng điển hình của hạt nano pherit spinen.
Chương 2: Thực nghiệm. Chương này giới thiệu về phương pháp Sol- gel
chế tạo vật liệu có kích thước nanomet và các phương pháp thực nghiệm sử dụng để nghiên cứu cấu trúc và tính chất từ của các mẫu hạt nano chế tạo được.
Chương 3:Kết quả và thảo luận.
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU PHERIT SPINEN
1.1 Tính chất cơ bản của pherit spinen dạng khối
Pherit spinen là vật liệu có mômen từ tự phát ở dưới nhiệt độ Curie (TC) giống như các chất sắt từ. Tuy nhiên khác với sắt từ, mômen từ trong đômen của pherit spinen không song song mà đối song song nhưng không bù trừ nhau. Người ta quy ước, pherit spinen là chất phản sắt từ không bù trừ.
Pherit spinen thường được cấu tạo bởi các iôn kim loại 3d, 4f liên kết với iôn ôxy bằng liên kết đồng hoá trị . Trong đó các iôn kim loại có bán kính từ 0,6 ÷ 0,8
Å được ngăn cách bởi iôn ôxy lớn gấp hai lần (1,32 Å).
Các iôn từ tính trong pherit spinen tương tác với nhauthông qua iôn ôxy (quỹ đạo 2p), đó là các trao đổi gián tiếp (còn gọi là siêu tương tác). Năm 1948, Luis Néel đã đề xuất lý thuyết làm sáng tỏ cơ chế vi mô về tương tác trong pherit [6]. 1.1.1 Cấu trúc tinh thể của pherit spinen
Pherit spinen có cấu trúc tinh thể của khoáng spinen MgO.Al2O3. Trong trường hợp đơn giản nhất công thức hóa học của pherit spinen có thể viết dưới dạng MeFe2O4 hay Me2+O2-Fe3+O32- với Me là một trong những ion hóa trị II của các nguyên tố Mn, Fe, Co, Ni, Cu, Zn, hoặc Mg hay Cd. Bán kính các ion trên nằm trong khoảng từ 0,6- 0,8 Å. Tên gọi của pherit mang tên ion kim loại hóa trị II. Ví dụ: NiFe2O4- pherit niken, MnOFe2O3- pherit mangan [22].
Ngoài dạng pherit spinen đơn giản còn có các pherit hỗn hợp, trong đó các ion hóa trị +2, +3 được thay thế bằng tổ hợp các ion khác nhau với điều kiện cân bằng hóa trị trong biểu thức hóa học pherit và tinh thể hóa cho phép [6]. Kí hiệu Me
có thể là sự kết hợp giữa các ion mà có hóa trị trung bình là II. Ví dụ như Li1+ và
Fe3+trong hợp chất Li0,5Fe2,5O4. Ion kim loại hóa trị III (ferric ion) trong MeFe2O4
có thể bị thay thể một phần hoặc toàn bộ bằng ion hóa trị III nào đó ví dụ như Al3+,
Cr3+tạo thành những tinh thể hỗn hợp aluminates và cromites. Những hợp chất này cũng có tính chất từ ở nhiệt độ phòng nếu như các ion phi từ chiếm tỉ lệ không quá
Trang 12Với bán kính ion ôxi là 1,32 Å lớn hơn nhiều so với bán kính ion kim loại do
đó các ion O2- trong mạng hầu như nằm sát nhau tạo thành một mạng lập phương tâm mặt xếp chặt với các lỗ trống tứ diện và bát diện được lấp đầy bởi các ion kim loại hóa trị II và III. Mỗi ô cơ bản của pherit spinen chứa tám biểu thức MeFe2O4,
32 ion ôxi tạo nên 64 lỗ trống tứ diện và 32 lỗ trống bát diện. Tuy nhiên chỉ có 8 lỗ trống bốn mặt và 16 lỗ trống tám mặt có các ion kim loại chiếm chỗ. Các lỗ trống được chiếm chỗ trên chia thành 2 nhóm:
Nhóm A: Nhóm các vị trí tứ diện, với mỗi ion kim loại được bao quanh bởi 4 ion ôxi.
Nhóm B: Nhóm các vị trí bát diện, ở vị trí này mỗi ion kim loại được bao quanh bởi 6 ion ôxi.
Như vậy chỉ có 1/4 vị trí đã được lấp đầy bởi các ion kim loại, 3/4 vị trí còn lại vẫn để trống.
Trang 13
Hình 1 1: Cấu trúc tinh thể của pherit spinen.
Trang 14a Độ lớn của bán kính ion:
Vị trí tứ diện có thể tích nhỏ hơn vị trí bát diện do đó các cation có kích thước nhỏ hơn thường phân bố vào vị trí tứ diện. Thông thường bán kính của các ion hóa trị II lớn hơn các ion hóa trị III (bảng 1.2) nghĩa là xu thế chủ yếu tạo thành spinen đảo.
b Cấu hình electron:
Tùy thuộc vào cấu hình điện tử của cation mà chúng thích hợp với một kiểu phối trí nhất định. Ví dụ Zn2+, Cd2+có cấu hình 3d10 và 5d10 chủ yếu chiếm các vị trí
Trang 15E kT
e x
từ nhiệt độ cao khi chế tạo mẫu. Nhưng khi làm nguội chậm mẫu từ nhiệt độ cao, tốc độ khuếch tán các ion tương đương với tốc độ làm nguội, tạo nên trạng thái cân
Trang 16các iôn kim loại 3d liên kết với iônôxy bằng các liên kết đồng hóa trị. Tương tác giữa các iôn từ tính trong pherit là tương tác trao đổi gián tiếp thông qua iônôxy hay còn gọi là tương tác siêu trao đổi.
Các iôn từ tính trong pherit bị ngăn cách bởi các iôn ôxy có đường kính lớn, trật tự từ trong các pherit là do tương tác trao đổi gián tiếp (siêu tương tác) giữa các iôn từ tính. Mômen từ của pherit được tính theo mẫu Neél [6].
1.1.2.1 Tương tác trao đổi trong pherit spinen
Tương tác trao đổi là hiệu ứng lượng tử xảy ra khi hàm sóng của hai hay nhiều điện tử phủ nhau. Hiệu ứng này được phát hiện một cách độc lập bởi Werner
Heisenberg và Paul Dirac vào năm 1926. Giá trị của nhiệt độ trật tự từ (TC) được quyết định bởi loại tương tác này.
Tương tác trao đổi phụ thuộc vào môi trường không gian xung quanh các nguyên tử và chỉ tồn tại trong một khoảng cách ngắn; cường độ của tương tác trao
Trang 17
=129o9’ =154o34’ =90o =125o2’ =79o38’
Hình 1 3:Một vài dạng cấu hình sắp xếp iôn trong mạng spinen.
Hình 1.3 cho biết các dạng liên kết có thể cho đóng góp lớn nhất vào năng lượng trao đổi. Iôn A và B là các iôn kim loại tương ứng với vị trí tứ diện và bát
diện. Vòng tròn lớn là iôn ôxy, α là góc giữa iôn A và B, q và p tương ứng là
Trang 18iôn ôxy và iôn A, B khi không tiếp xúc nhau.
Khi so sánh các tương tác trao đổi khác nhau, người ta thấy tương tác A-B
cho giá trị vượt trội. Trong cấu hình A-B đầu tiên, khoảng cách p, q nhỏ, đồng thời góc α khá lớn (α ≈ 130o), năng lượng trao đổi khi đó là lớn nhất. Đối với tương tác B-B,năng lượng cực đại ứng với cấu hình đầu tiên, tuy góc α chỉ là 90o nhưng khoảng cách giữa các iôn nhỏ. Tương tác trao đổi là yếu nhất trong tương tác A-A,
vì khoảng cách r tương đối lớn (r≈ 3,3 Å) và góc α khoảng 80o. Độ lớn tương tác
trao đổi cũng bị ảnh hưởng bởi sự sai lệch của tham số ôxy (u) khỏi giá trị 3/8. Tham số ôxy u là một đại lượng để xác định độ dịch chuyển của các iôn ôxy khỏi vị trí của mạng lý tưởng. Nếu u> 3/8 (điều này có ở hầu hết các pherit) thì iôn O2- phải thay đổi sao cho trong liên kết A-B, khoảng cách A-O tăng lên còn khoảng cách B-
Nhà vật lý học người Pháp, L. Néel (1904- 2000) là người tiên phong trong việc nghiên cứu các tính chất từ của chất rắn nói chung và pherit nói riêng. Ông cho rằng, mômen từ của pherit là tổng mômen từ trong hai phân mạng A và B.
Trang 19hai phân mạng A và B. Vì phân mạng A khác phân mạng B nên λ aa ≠ λ bb nhưng có
thể coiλab = λ ba.
Từ độ tự phát của từng phân mạng thay đổi theo nhiệt độ có thể mô tả theo hàm Brillouin, cụ thể là [6]:
Có 3 dạng đường cong M(T) thường thấy của pherit spinen được ký hiệu là
Q, P và N (hình 1.4).
- Khi M BM A
và tương tác trao đổi JAB > J AAvà JBB, tương tác trao đổi trong các phân mạng JAA J BB, mômen từ phụ thuộc nhiệt độ có dạng Q (hình 1.4a)
Trang 20Hầu hết các pherit spinen M(T) có dạng Q như pherit Mn-Zn, Ni-Zn, pherit coban. Các pherit Ni-Mn-Ti, Ni-Al, Mn-Fe-Cr có đường cong M(T) dạng P. Pherit
Hình 1 5: Từ độ bão hòa phụ thuộc vào nhiệt độ của pherit spinen[22] Bảng 1 4: Từ độ bão hòa của một số pherit spinen ở 0 K và 293 K[22]
M= M B -M A
T K
To
Trang 21Pherit MnFe2O4 Fe3O4 CoFe2O4 MgFe2O4 NiFe2O4
giữa mômen từ bão hòaMS (emu/g) và số magnetons BohrnB(μB) trên mỗi mol MeFe2O4 được tính theo công thức:
Trang 22
M (5m)B5BmB (1.9)
Hình 1 6.Momen từ bão hòa ở 0 K của các pherit spinen.
Như vậy, trong pherit đảo, momen từ tổng cộng bằng momen từ của ion kim loại hóa trị II. Hình 1.6 là đồ thị biểu diễn các kết quả thu được ở bảng 1.5, ta thấy pherit kẽm là pherit thuận, ở phân mạng A không có momen từ, không có tương tác A- B, chỉ có tương tác giữa các ion trong cùng phân mạng B (tương tác B- B). Thực nghiệm chứng tỏ ZnFe2O4 là chất phản sắt từ dưới nhiệt độ T N 9K[6].
Trang 231.2 Hạt pherit spinen có kích thước nanomet
1.2.1 Các tính chất đặc trưng trong hạt nano pherit spinen
Vật liệu nano là cầu nối giữavậtliệukhốivàvậtliệucócấutrúc nguyêntửhoặc phân tử hiện đang được các nhà khoa học rất quan tâm. Nếu như vật liệu khối thường có các tính chất vật lý ổn định thì khi kích thước hạt giảm xuống thang nanomet tính chất của vật liệu có nhiều thay đổi. Một số tính chất bất thường của các hạt nano pheri từ tính như: xuất hiện dị hướng từ bề mặt, giảm từ độ bão hòa, nhiệt độ Curie và có hiện tượng siêu thuận từ đã được làm sáng tỏ về mặt lý thuyết cho thấy có sự ảnh hưởng của hiệu ứng bề mặt và hiệu ứng kích thước hữu hạn tới tính chất của chúng.
1.2.1.1 Mô hình lõi vỏ.
Trên bề mặt hạt nano từ, spin sắp xếp hỗn loạn gây nên tương tác trao đổi giữa bề mặt và lõi làm cho phân bố spin bên trong
hạt có kích thước đơn đômen trở nên phức tạp.
Mômen từ nguyên tử bề mặt có đóng góp không
Hình 1 7: Mô hình lõi vỏ trong hạt nano từ.
Trang 24lớp thủy tinh spin (spin-glass) bề mặt. Mô hình lõi vỏ (hình 2.1) được áp dụng để giải thích hiện tượng suy giảm của giá trị MS trong hạt nano.
1.2.1.2 Dị hướng từ bề mặt.
Dị hướng từ bề mặt xuất hiện khi kích thước hạt bị thu nhỏ. Lúc này tính đối xứng trong tinh thể bị phá vỡ và dị hướng từ bề mặt chiếm ưu thế so với dị hướng
từ tinh thể. Sự mất trật tự của cấu trúc từ tại bề mặt dẫn đến dị hướng từ bề mặt có
độ lớn và tính đối xứng khác nhau tại các vị trí bề mặt khác nhau. Hiệu ứng bề mặt phụ thuộc vào kích thước và hình dạng hạt. Để tính toán và giải thích hiệu ứng bề mặt, Néel lần đầu tiên đề xuất khái niệm dị hướng từ bề mặt [28], sau đó được phát triển và xây dựng thành một mô hình riêng (Mô hình Monte Carlo) để giải thích hiện tượng này.
Dị hướng từ bề mặt thường dẫn tới bề mặt được từ hóa khó khăn hơn so với lõi của hạt[33,36].Khi dị hướng từ bề mặt tăng sẽ có xu hướng ép các spin bề mặt định hướng xuyên tâm. Xu hướng này truyền vào trong lõi thông qua tương tác và cạnh tranh với dị hướng từ tinh thể. Dị hướng từ bề mặt trong trường hợp này có thể ảnh hưởng đến mômen từ và lực kháng từ. Các kết quả tương tự cũng đã được tìm thấy trong nghiên cứu của J. Restrepo và cộng sự [21].
1.2.1.3 Sự suy giảm mômen từ theo hàm Bloch.
Theo lí thuyết sóng spin, sự phụ thuộc nhiệt độ của mômen từ tự phát của
Trang 25u khối, đômen là một miền từ tính của vật liệu. Tính ch
ng nhất, giữa các đômen được ngăn cách với nhau b
c của hạt giảm xuống, kích thước các đômen cộng và vách của đômen. Theo nguyên tắc c
t kích thước tới hạn, các hạt có xu hướng tồn t). Năng lượng để hình thành và duy trì các vách đômen cao hơn so
ng khi các hạt tồn tại ở dạng đơn đômen [21].
c cực tiểu năng
n tại ở dạng đơn đômen cao hơn so
t từ.
t đơn đômen. Sự
m trong khoảng d>DC.
Trang 26thể ưu tiên được xác định bởi các dị hướng từ tinh thể (K) của vật liệu, nó xuất hiệndo các tương tác spin-quỹ đạo. Khi kích thước tiếp tục giảm d<DC, các hạt trở nên siêu thuận từ và mỗi hạt lúc này đóng vai trò là một đơn đômen. Năng lượng để duy trì trật tự từ trong hạt siêu thuận từ thấp hơn năng lượng này trong hạt nano sắt
từ. Như vậy, khi không có sự dịch chuyển vách đômen, sự đảo chiều của mômen từ trong hạt đơn đômen liên quan đến sự quay của tổng tất cả các mômen từ.
Năm 1930, Frenkel và Dorfman lần đầu tiên dự đoán sự tồn tại của các hạt đơn đômen, sau đó vào năm 1946, C. Kittel đưa ra các tính toán đầu tiên về kích
thước tới hạn cho sự tồn tại của một đơn đômen. Các kích thước tới hạn (DC) phụ
thuộc vào mômen từ tự phát (MS), hằng số dị hướng từ tinh thể (K1), và mật độ năng lượng tương tác hoặc hằng số trao đổi (A) như trong phương trình [14]:
Tính toán cho hạt Fe3O4 với A = 1,28×10−11 J/m, K1 = -1,1×104 J/m3 và
μ0Ms2 = 4×105 J/m3, kết quả kích thước tới hạn là 84 nm ở nhiệt độ phòng. Đối với γ-Fe2O3, kíchthước tới hạn là 30 nm ở nhiệt độ phòng, với MnFe2O4 giá trị này là
50 nm [11]. Giá trị kích thước tới hạn DC có thể thay đổi tùy thuộc vào phương pháp tổng hợpvật liệu.
1.2.1.5 Sự thay đổi nhiệt độ chuyển pha Curie.
Giá trị nhiệt độ Curie của hạt nano có thể giảm do hiệu ứng kích thước hữu
hạn vàảnh hưởng của hiệu ứng bề mặt. Sự giảm giá trị TC theo kích thước hữu hạn trongvật liệu được mô tả theo công thức sau [37]:
Trang 27tự sắp xếp iôn trong các phân mạng từ của lõi và lớp vỏ của hạt nano có thể ngăn chặn sự giảm nhiệt độ Curie bởi hiệu ứng giảm kích thước thậm chí có thể đảo
ngược lại hiệu ứng này. Giá trị TC trong một số pherit spinen có kích thước hạt cỡ nanomet cao hơn giá trị này trong vật liệu dạng khối.
1.2.1.6 Hiện tượng siêu thuận từ.
a Mô tả:
Khái niệm siêu thuận từ của vật liệu từ tính ở quy mô nano được đưa ra bởi Frenkel và Dorfman vào năm 1930 [39]. Các nghiên cứu sau đó đã chứng minh chính xác của dự đoán này. Đó là, nếu các hạt nano từ tính có kích thước hạt là đủ nhỏ thì những hạt nano này sẽ có tính siêu thuận từ. Năm 1949, Néel đã chỉ ra rằng, khi năng lượng dao động nhiệt (kBT) lớn hơn năng lượng dị hướng
từ của nguyên tử hay ion ở trạng thái thuận từ.
Điều đáng chú ý là momen từ của nguyên tử hay ion thuận từ vào cỡ vài μB nhưng với một hạt nano thì phải cỡ vài nghìn μB. Ví dụ với hạt Fe có đường kính 50
Å chứa 5560 nguyên tử, momen từ của hạt là 5560x(2.2μB)=12000μB. Các hạt từ có
số momen từ rất lớn lại mang tính chất giống như các chất thuận từ nên được gọi là chất siêu thuận từ.
b Các tính chất của siêu thuận từ:
Trang 28 Tính chất từ:
Ở trạng thái siêu thuận từ, momen từ của các hạt phụ thuộc vào từ trường ngoài và nhiệt độ (H/T) tương tự như chất thuận từ. Momen từ của các hạt siêu thuận từ tuân theo hàm Langervin:
kích thước giới hạn thì sẽ tồn tại một nhiệt độ TB gọi là nhiệt độ khóa (blocking temperature) [6]. Tại đây năng lượng dị hướng bị thắng thế bởi năng lượng nhiệt và các hạt nano trở nên hồi phục siêu thuận từ. Dưới nhiệt độ này (T<TB) từ độ sẽ theo
phương của trục dễ, còn trên nhiệt độ này (TB<T<TC) từ độ theo phương của từ trường ngoài.
Trang 29K V T
k
(1.16)
Theo công thức (1.16) ,TB phụ thuộc vào hằng số dị hướng hiệu dụng Keff và
kích thước V của hạt. Với một vật liệu cho trước TB và thời gian phục hồi τ phụ thuộc vào kích thước hạt.
Có thể xác định TB bằng biểu thức (1.16). Ngoài ra, bằng phương pháp đo momen từ theo nhiệt độ khi làm lạnh mẫu không có từ trường (ZFC) và có từ trường (FC).Đường biểu diễn giá trị của momen từ theo nhiệt độ trong hai phép đo
sẽ gặp nhau tại nhiệt độ TB của pherit. Hiện tượng này có liên quan tới sự định hướng momen từ của các hạt nano trong quá trình ZFC và FC. Khi làm lạnh mẫu không có từ trường ngoài, momen từ của các hạt định hướng theo các trục từ hóa
dễ. Tăng nhiệt độ (T<TB) dưới tác dụng của từ trường ngoài và chuyển động nhiệt,
từ độ các mẫu đạt giá trị cực đại tại TB. Khi làm lạnh mẫu trong từ trường, momen
từ các hạt bị “đóng băng” theo hướng từ trường ngoài ở T<TB. Tại T>TB, mặc dù chưa đạt tới nhiệt độ Curie, từ độ các mẫu (siêu thuận từ) giảm như chất thuận từ thông thường.
Ta cũng có thể xác định TB bằng phương pháp đo lực kháng từ của các hạt
phụ thuộc nhiệt độ [6]. Tại nhiệt độ mà HC của mẫu bằng không, đó là nhiệt độ
khóa. Lực kháng từ HC phụ thuộc nhiệt độ của chất siêu thuận từ theo biểu thức bán thực nghiệm sau [12]:
Trang 30tử từ giảo. Các hạt oxit sắt như magnetite (Fe3O4) hoặc dạng oxy hóa của nó maghemite (γ- Fe2O3) được sử dụng nhiều trong các ứng dụng y- sinh vì các hạt nano có tính siêu thuận từ ở nhiệt độ phòng (không có cảm ứng từ dư và từ tính ổn định thay đổi nhanh chóng từ trường. Pherit niken kẽm có độ ổn định hóa học và độ cứng tương đối cao (khi ép viên), là vật liệu từ mềm có lực kháng từ và từ dư thấp,
độ từ thẩm, từ độ bão hòa và điện trở suất cao nên pherit này được dùng để chế tạo nam châm, lõi biến thế làm việc trong dải tần số cao, có thể từ 103 đến 107 Hz, sử dụng trong các linh kiện điện tử. Trong các ứng dụng lưu trữ dữ liệu, các hạt cần phải có tính ổn định, lực kháng từ lớn để tránh hiệu ứng khử từ khi ghi bít thông tin,
Trang 31ổn định không bị ảnh hưởng bởi biến đổi nhiệt độ…
b. Chất lỏng từ và ổ cứng dung lượng cao.
Trang 331.2.3 Những nghiên cứu về hạt nano pherit niken có sự pha tạp
Pherit niken NiFe2O4là vật liệu pheri từ mềm có điện trở cao, tổn thất điện môi và dòng dò thấp, có độ ổn định hóa học cao… Tinh thể NiFe2O4 có cấu trúc spinen đảo với vị trí tứ diện được chiếm đóng bởi 8 ion Fe3+ còn vị trí bát diện là sự phân bố ngẫu nhiên của 8 ion Ni2+ và 8 ion Fe3+ còn lại.
Sự pha tạp thêm các ion phi từ tính hay có từ tính vào trong pherit niken có thể làm thay đổi các tính chất điện, tính chất từ và cấu trúc của vật liệu. Điều đó làm cho vật liệu này ngày càng có tiềm năng ứng dụng rộng rãi. Các ion pha tạp trong pherit niken rất đa dạng, có thể kể đến như Zn, Al [8,29], Mn[10,38], đất hiếm…Ta xét đến nguyên tố được nghiên cứu nhiều hơn cả đó là kẽm và các nguyên tố thuộc nhóm đất hiếm.
Pherit niken pha tạp kẽm
Hạt nano pherit niken kẽm được quan tâm nghiên cứu từ những năm 2000. Một số tài liệu từng công bố đã chỉ ra trạng thái từ tính của các hạt nano pherit niken kẽm phụ thuộc chủ yếu vào kích thước và quy trình tổng hợp. Hằng số mạng của hệ hạt nano tương đương với mẫu khối. Các đặc điểm thông thường như sự giảm của mômen từ bão hoà, lực kháng từ và trạng thái siêu thuận từ đã được nghiên cứu và so sánh với vật liệu khối tương ứng [35]. Sự phân bố lại các catiôn,
sự tồn tại của spin trên bề mặt hoặc sự hình thành cấu trúc thuỷ tinh spin… có thể ảnh hưởng đến tính chất từ của các hạt có kích thước dưới micro.
Kích thước hạt là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thay đổi tính chất
từ của hệ hạt nano pherit niken so với mẫu khối. Các nghiên cứu đều cho rằng từ độ
tự phát MS , HC giảm theo kích thước hạt đối với mẫu Ni0,65Zn0,35Fe2O4 [10] và mẫu
Ni0,5Zn0,5Fe2O4 [19]. Kích thước hạt giảm dẫn đến sự thay đổi của phân bố iôn giữa các phân mạng: iôn Zn2+ có thể chiếm thêm các vị trí của phân mạng B còn iôn Ni2+ cũng có thể chiếm các vị trí trong phân mạng A [10].
Khi kích thước hạt giảm xuống gần kích thước tới hạn d = DC thì HC giảm nhanh về 0, khi đó xảy ra hiện tượng chuyển pha pheri từ - siêu thuận từ. Nhiệt độ
khóa (TB) cũng giảm khi kích thước hạt giảm. Kích thước tới hạn từng được xác
Trang 35 Pherit niken pha tạp đất hiếm
Hạt nano pherit niken pha tạp đất hiếm cũng đã được quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm trở lại đây. Các tài liệu từng công bố đã chỉ ra hằng số mạng của hệ hạt nano pha tạp đất hiếm lớn hơn so với mẫu khối. Điều này là do sự thay thế các các ion sắt bởi ion đất hiếm có bán kính lớn hơn bán kính của ion Fe3+.Sự có mặt của ion đất hiếm thay thế cho ion Fe3+ ở vị trí bát diện khiến cho tương tác trong phân mạng B giảm vì tương tác Fe- Re yếu hơn so với tương tác Fe- Fe ảnh hưởng đến độ lớn của tương tác giữa hai phân mạng A và B kết quả là làm cho mômen từ tổng cộng bị giảm đi.
Trong các nghiên cứu trước đây của mình, Bharathi và Markandeyulu [25]
đã nghiên cứu tính chất điện và từ của pherit niken pha tạp Gd ở nhiệt độ phòng. Ảnh hưởng của việc pha tạp Dy vào pherit niken đến tính chất từ giảo ở 80 K và
300 K cũng được Bharathi [26] công bố vào năm 2008. Thêm vào đó Bharathi cũng
đã nghiên cứu về tính chất sắt điện và tính chất sắt từ của Gd và Nd pha tạp trong NiFe2O4 [16]. Ở công trình [27] Shirsath cũng đã nghiên cứu về cấu trúc và tính chất từ của mẫu pherit niken có pha tạp nguyên tố Ce. Cấu trúc, tính chất từ và tính