Luận văn về nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và phát triển trong quy hoạch khai thác vùng bồi ven huyện Kim Sơn
Trang 1GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Lý do xuất xứ và tính cấp thiết của đề tài
Kim Sơn là huyện ven biển của tỉnh Ninh Bình, được hình thành trong
quá trình quai đê lấn biển Kim Sơn có vùng bãi bồi ven biển giàu tiềm năng,
đóng vai trò to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kim Sơn Phương
thức quai đê lấn biển đã được thực hiện cho đến nay là khá hiệu quả Cách quai
đê, khai thác vùng bãi bồi đã chứng tỏ là phù hợp đối với trình độ phát triển,
trình độ sản xuất của nhân dân huyện, và đã mang lại những kết quả nhất định
Tuy vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế, của khoa học và công nghệ
trong những năm gần đây, việc khai thác bãi bồi như đã làm trước đây cho thấy
việc phát triển sản xuất chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao Mặt khác, chúng ta
đang xây dựng nền nông lâm nghiệp, thuỷ sản theo hướng đa dạng hoá sản xuất,
một nền nông nghiệp sinh thái, phát triển bền vững Từ thực tế đó, Uỷ ban nhân
dân huyện Kim Sơn chủ trương phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát
triển Vùng xây dựng “Quy hoạch tổng thể khai thác và sử dụng hợp lý vùng bãi
bồi Kim Sơn” Đến nay, bản quy hoạch đã hoàn thành được khoảng 90% khối
lượng công việc
Bản quy hoạch đã đề cập đến nhiều vấn đề khai thác có hiệu quả tài
nguyên vùng bãi bồi, trong đó có đề xuất một hướng khai thác là nuôi thuỷ sản
mà chủ yếu là nuôi tôm Việc lựa chọn con tôm cho vùng bãi bồi là một chủ
trương đúng đắn của huyện cũng như của các chuyên gia xây dựng quy hoạch
Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là những hậu quả môi trường do hoạt động nuôi
trồng thuỷ sản ven biển đang diễn ra và đã được các nhà khoa học cảnh báo Do
vậy, để khai thác một cách bền vững nguồn tài nguyên vùng bãi bồi, chúng ta
không thể không quan tâm đến những tác động môi trường do hoạt động khai
thác vùng ven biển đó gây ra
Trong bản dự thảo quy hoạch khai thác vùng bãi bồi, các chuyên gia xây
dựng quy hoạch cũng đã quan tâm đến vấn đề môi trường Tuy nhiên, xét trên
quan điểm phát triển bền vững và trên quan điểm hiệu quả kinh tế - xã hội và
môi trường, chúng ta còn có thể có những kiến nghị, đề xuất liên quan đến việc
làm hài hoà hơn nữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của xã hội, lợi ích trước mắt
và lợi ích lâu dài Nếu các chủ đầm nuôi tôm không chỉ quan tâm đến vấn đề
môi trường trong khu nội đầm mà cùng nhau phối hợp trong việc bảo vệ môi
Trang 2trường chung trong cả khu vực thì thiết nghĩ hiệu quả kinh tế sẽ còn cao hơn
Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được nếu như lãnh đạo huyện Kim Sơn
nhận diện được vấn đề Muốn vậy, chúng ta phải chỉ ra được các lợi ích từ đầu
tư cho môi trường bằng con số cụ thể
Đứng trước một thực tế như vậy, em xin lựa chọn hướng nghiên cứu cho
luận văn đề tốt nghiệp của mình là: “Bước đầu nghiên cứu mối quan hệ giữa
môi trường và phát triển trong quy hoạch khai thác vùng bãi bồi ven biển
huyện Kim Sơn”
Quá trình hoàn thiện luận văn này được thực hiện song song với hoạt
động của dự án xây dựng bản quy hoạch khai thác vùng bãi bồi và không nằm
trong nội dung nghiên cứu của dự án nói trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Bước đầu nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
trong quy hoạch khai thác vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn” có các mục
tiêu như sau:
- Đánh giá một số tác động môi trường do hoạt động nuôi tôm theo quy hoạch
khai thác vùng bãi bồi huyện Kim Sơn
- Đề xuất được hướng khắc phục nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững
vùng bãi bồi
- Phân tích được chi phí và lợi ích của phương án không đầu tư cho môi
trường và phương án có đầu tư cho môi trường, từ đó so sánh và đi đến
những kết luận cần thiết
3 Phạm vi nghiên cứu
Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch khai thác vùng bãi bồi làm phát
sinh nhiều vấn đề cần nghiên cứu, tuy nhiên luận văn này chỉ tập trung làm rõ
một số vấn đề sau:
- Các tác động môi trường chủ yếu có thể ảnh hưởng đến việc khai thác bãi
bồi do hoạt động nuôi tôm theo đề xuất của bản quy hoạch tại vùng bãi
bồi huyện Kim Sơn
- Vấn đề môi trường tại vùng bãi bồi huyện Kim Sơn được xem xét đánh
giá trong thời gian thực hiện nội dung của bản quy hoạch, tức có giai đoạn
từ năm 2000 đến 2010 Một số tác động lâu dài hơn cũng có thể được đề
Trang 3- Vấn đề đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường đối với hoạt động nuôi tôm đã
nêu, chú trọng đến sự khác biệt giữa hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận nghiên cứu ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế đối với
hoạt động nuôi tôm của vùng bãi bồi
- Kiểm kê lại hiện trạng và giới thiệu định hướng quy hoạch tổng thể vùng
bãi bồi huyện Kim Sơn
- Dự báo một số vấn đề môi trường do thực hiện quy hoạch phát triển nuôi
tôm và vấn đề hiệu quả kinh tế
- Các kết luận và kiến nghị liên quan đến nội dung nghiên cứu
5 Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu
Bản luận văn đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
+ Tận dụng các số liệu, tư liệu hiện có tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát
triển Vùng Kế thừa những công trình nghiên cứu về môi trường nuôi
tôm, môi trường khu vực bãi bồi, môi trường dải ven biển Bắc bộ Thông
qua việc tập hợp, xử lý, phân tích các tư liệu để khái quát hoá nhằm tìm ra
các vấn đề môi trường cần quan tâm trong nghiên cứu của đề tài
+ Tham dự các hội thảo của dự án “Quy hoạch tổng thể Khai thác và Sử
dụng hợp lý vùng bãi bồi ven biển Kim Sơn - Ninh Bình” để tranh thủ ý
kiến chuyên gia, học hỏi kinh nghiệm, nắm bắt các thông tin cần thiết
+ Phương pháp đánh giá tác động môi trường trong việc xem xét các tác
động môi trường có thể xảy ra trong hoạt động nuôi tôm
+ Sử dụng các phương pháp đánh giá kinh tế môi trường phù hợp để tính
toán các chi phí kinh tế (lượng hoá bằng tiền) cho các phương án phát
triển trong quá trình thực hiện quy hoạch Phương pháp phân tích chi phí -
lợi ích được sử dụng để đánh giá, so sánh giữa phương án không đầu tư
cho môi trường và có đầu tư cho môi trường
+ Phương pháp dự báo giúp xác định các kết quả phát triển kinh tế xã hội,
dự báo các hoạt động phát triển có ảnh hưởng đến môi trường vùng bãi
bồi
Trang 4Luận văn tốt nghiệp này đã được hoàn thành với sự giúp đỡ của TS
Nguyễn Thế Chinh và nhiều cán bộ chuyên môn của Trung tâm Nghiên
cứu và Phát triển Vùng Qua đây, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành
tới:
- TS Nguyễn Thế Chinh, Trưởng Khoa Kinh tế, Quản lý Môi trường và Đô
thị, người đã tận tình hướng dẫn và có những định hướng giải quyết kịp thời
trước mỗi khó khăn khi thực hiện đề tài
- Thạc sĩ Nguyễn Thị An Hằng, Phó ban Nghiên cứu, cán bộ hướng dẫn tại
nơi thực tập
- Thạc sĩ Nguyễn Viết Thành, Trưởng ban Nghiên cứu, đã tạo điều kiện cho
việc thực tập, tiếp cận các tài liệu tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng
- Các thày cô giáo Khoa Kinh tế, Quản lý Môi trường và Đô thị
- Và các cán bộ huyện Kim Sơn mà tác giả đã có dịp được tiếp xúc
Kinh tế môi trường là một chuyên ngành mới, hơn nữa do trình độ còn
nhiều hạn chế, vì vậy luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót cần được bổ
sung sửa chữa Do vậy, rất mong được sự đóng góp ý kiến nhận xét, phê bình để
nội dung luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG NUÔI TÔM CỦA VÙNG BÃI BỒI
I KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
1.1 Khái niệm về môi trường
a Khái niệm về môi trường
Bất cứ một vật thể, sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi
trường nhất định Nói tới môi trường là nói tới môi trường của một vật thể, một
sự kiện nào đó Khái niệm về môi được cụ thể hoá đối với từng đối tượng và
mục đích nghiên cứu
Trong nghiên cứu về các cơ thể sống, người ta quan tâm tới “Môi trường
sống của con người”, đó là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã
hội bao quanh và có ảnh hưởng đến sự sống của các cá nhân và cộng đồng Đối
tượng nghiên cứu của chúng ta chính là môi trường sống của con người, gọi tắt
là môi trường Môi trường được phân thành môi trường tự nhiên, môi trường
nhân tạo và môi trường xã hội Sự phân chia này chỉ để phục vụ nghiên cứu,
phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường Trên thực tế, cả ba loại môi
trường này cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ
Trong thuật ngữ khoa học môi trường còn phân biệt môi trường theo nghĩa
rộng và môi trường theo nghĩa hẹp Môi trường theo nghĩa rộng bao gồm các
nhân tố như không khí, nước, đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, nhân tố xã
hội ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người và các tài nguyên thiên
nhiên cần thiết cho sinh sống và sản xuất của con người Môi trường theo nghĩa
hẹp chỉ bao gồm các nhân tố môi trường thiên nhiên trực tiếp liên quan đến sinh
hoạt và sản xuất của con người Nghiên cứu này xem xét môi trường theo nghĩa
hẹp, không đi sâu tìm hiểu tài nguyên thiên nhiên trong đó và cũng chỉ đề cập đến
một số thành phần môi trường có ảnh hưởng quan trọng nhất đến hoạt động sống
và sản xuất của người dân mà thôi
Theo điều I, Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam” Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và thiên nhiên”
Trang 6Theo chức năng, môi trường sống của con người được chia làm ba loại:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu sự
tác động của con người,
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau
Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên,
làm thành những tiện nghi trong cuộc sống
b Các chức năng của môi trường
Môi trường hiện nay được có thể xem là có 3 chức năng Chất lượng môi
trường tốt hay xấu được đánh giá qua khả năng thực hiện các chức năng này của
môi trường Ba chức năng này như sau:
- Môi trường là không gian cho con người sống và thực hiện các hoạt động
phát triển của mình Con người đòi hỏi ở không gian sống không chỉ về phạm vi
rộng lớn mà còn cả về chất lượng Không gian sống có chất lượng cao trước hết
phải sạch sẽ, tinh khiết cụ thể là không khí, nước đất tiếp xúc với con người và
được con người sử dụng không chứa hoặc ít chứa các chất bẩn, độc hại đối với
sức khoẻ của con người Sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ sản xuất tạo
nên khả năng cải thiện chất lượng môi trường, nhưng tới một mức độ nhất định,
chính sự phát triển này lại là nguyên nhân làm suy thoái chất lượng đó
- Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và
hoạt động sản xuất của con người Môi trường là nơi con người khai thác nguồn
lực về vật liệu và năng lực cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của
mình Tất cả các nền sản xuất từ săn bắt, hái lượm đến nông nghiệp, công
nghiệp và hậu công nghiệp đều phải sử dụng các nguyên liệu đất, nước, không
khí, khoáng sản lấy từ Trái đất và các năng lượng như: củi, gỗ, than, dầu, nắng,
gió, nước Với sự phát triển của văn minh loài người, nhiều nguồn tài nguyên
thiên nhiên không tái tạo được ngày càng suy giảm, tuy nhiên con người cũng
không ngừng khám phá ra các nguồn tài nguyên thiên nhiên mới
- Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải Trong sử dụng nguyên liệu và
năng lượng vào cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình con người chưa bao
giờ và hầu như không bao giờ có thể đạt đến hiệu suất 100% Nói cách khác,
Trang 7con người luôn tạo ra các phế thải: phế thải sinh hoạt và phế thải sản xuất Môi
trường chính là nơi chứa đựng các phế thải đó Vấn đề chứa đựng và xử lý phế
thải trở thành vấn đề căng thẳng về môi trường tại nhiều nơi trên Trái đất Ví dụ
đối với hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ven biển, nước thải và bùn thải tích tụ sau
mỗi vụ nuôi sẽ được thải ra xung quanh quanh hoặc thải ra biển Mức độ tác
động đến môi trường sẽ tuỳ thuộc vào độ bẩn của chất gây ô nhiễm và khả năng
tự làm sạch của môi trường
1.2 Khái niệm về phát triển
Một khái niệm khác thường được đề cập trong khoa học môi trường là
phát triển, nói đầy đủ hơn là phát triển kinh tế xã hội (social-economic
development) Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh
thần của con người bằng phát triển sản xuất, cải thiện quan hệ xã hội, nâng cao
chất lượng hoạt động cuộc sống Phát triển là xu hướng tự nhiên của mỗi cá
nhân hoặc cộng đồng con người
Đối với một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, quá trình phát triển trong
một giai đoạn cụ thể nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định về mức sống vật
chất và tinh thần của người dân trong quốc gia, vùng đó Các mục tiêu này
thường được cụ thể hoá bằng những chỉ tiêu kinh tế như tổng sản phẩm xã hội,
tổng thu nhập quốc dân, lương thực, nhà ở, giáo dục, y tế Các mục tiêu nói
trên ở mức vĩ mô được thực hiện bằng những hoạt động phát triển, thể hiện
thành các chính sách, các chương trình, kế hoạch dài hạn về phát triển kinh tế xã
hội Ở mức vi mô được thể hiện thành các dự án phát triển cụ thể về khai thác tài
nguyên thiên nhiên, sản xuất hàng hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng Các hoạt động
phát triển này thường là nguyên nhân gây nên những sử dụng bất hợp lý, lãng
phí tài nguyên thiên nhiên, tạo ra những tác động làm suy thoái môi trường
Báo cáo này tìm hiểu về một hoạt động phát triển của con người tại một
vùng bãi bồi ven biển Người dân nơi đây đang và sẽ tiến hành khai thác tài
nguyên vùng bãi bồi để phục vụ cho các mục tiêu phát triển của mình Các tác
động đến môi trường là không tránh khỏi Việc nghiên cứu sẽ được tập trung
trên một số khía cạnh về quan hệ giữa môi trường và phát triển ở một vùng bãi
bồi giàu tiềm năng
Ngày nay, các quốc gia đều đề ra những mục tiêu phấn đấu cho sự tiến bộ
của quốc gia mình Tuy có những khía cạnh khác nhau nhất định trong quan
Trang 8niệm, nhưng nói chung, sự tiến bộ trong một giai đoạn nào đó của một nước
thường được đánh giá trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự biến đổi về mặt
xã hội Trên thực tế, người ta thường dùng hai thuật ngữ tăng trưởng và phát
triển để phản ánh sự tiến bộ đó
Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm về quy mô
sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Đó là kết quả của tất cả
các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra
Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về
mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự
tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội
Tuy nhiên, do sự xung đột giữa môi trường và phát triển ngày càng gia
tăng, ngày nay người ta đang tiến tới một mục tiêu phát triển cao hơn, đó là phát
triển bền vững
1.3 Phát triển bền vững
a Mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển
Từ nhiều thập kỷ con người đã nhận thức rằng môi trường đóng vai trò
hết sức quan trọng bảo đảm sự tồn tại và phát triển kinh tế và sự sống của con
người Tuy nhiên nhiều nhà khoa học đã chỉ ra rằng những chức năng này của
môi trường liên quan tới hoạt động kinh tế có mối tương tác chặt chẽ với nhau
và trong những trường hợp nhất định chúng có thể triệt tiêu lẫn nhau: Ví dụ chất
thải do sản xuất sinh ra trong nhiều trường hợp có tác động huỷ hoại và làm
giảm nguồn tài nguyên và thiên nhiên của môi trường
Giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ Môi
trường là địa bàn và đối tượng của phát triển Phát triển là nguyên nhân tạo nên
mọi biến đổi tích cực và tiêu cực đối với môi trường Trong phạm vi một vùng,
một quốc gia cũng như trên toàn thế giới luôn luôn tồn tại hai hệ thống: hệ thống
kinh tế xã hội và hệ thống môi trường Khu vực giao nhau giưa hai hệ thống là
khu vực “Môi trường nhân tạo” Tác động tích cực hay tiêu cực về môi trường
của con người đều được thể hiện tại đây
Hệ thống kinh tế lấy nguyên liệu, năng lượng từ hệ thống môi trường
Nếu khai thác cạn kiệt tài nguyên không tái tạo được, hoặc khai thác quá khả
Trang 9năng lượng, từ đó phải đình chỉ sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống kinh
tế Hệ thống kinh tế đem ra môi trường những phế thải, trong đó có những phế
thải độc hại, tác động xấu đến không khí, nước, đất, các nhân tố môi trường và
tài nguyên thiên nhiên khác, làm tổn hại chất lượng môi trường khiến cho hệ
thống kinh tế không thể hoạt động bình thường được
Đối với môi trường, các hoạt động phát triển luôn có hai mặt lợi và hại
Tương tự như vậy, đối với phát triển của con người, môi trường thiên nhiên cũng
luôn luôn có hai mặt là nguồn tài nguyên và phúc lợi, đồng thời lại là nguồn thiên
tai, thảm hoạ đối với đời sống và hoạt động sản xuất của con người
Ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển cũng đã được nhân
dân nhận thấy từ lâu Từ trong lịch sử xa xưa, người dân lao động lúc khai thác
tài nguyên thiên nhiên đã biết tiết chế cường độ khai thác, không để đi quá
ngưỡng phục hồi Các khu rừng đầu nguồn quan trọng đều được xem là “rừng
cấm”, các dòng suối cung cấp nước uống tinh khiết cho làng bản được xem là
“suối thần” Phật giáo dạy mọi tín đồ phải quý trọng cuộc sống của mọi vật
trong thiên nhiên, Khổng Giáo đề cao cuộc sống thanh bạch, tránh mọi phung
phí tài nguyên Cho đến nay, chúng ta lựa chọn sự phát triển song song với các
hoạt động bảo vệ môi trường, lấy phát triển bền vững làm mục tiêu lâu dài
b Phát triển bền vững
Từ những mẫu thuẫn giữa môi trường và phát triển như vậy, người ta đã
tìm cách dung hoà cả hai mục tiêu bằng cách theo đuổi mục tiêu phát triển bền
vững Trong những năm gần đây, thế giới ngày càng đề cập nhiều tới thuật ngữ
"phát triển bền vững" theo đó sự phát triển có ý nghĩa rộng hơn và bao hàm
nhiều khía cạnh khác nhau
Những quan điểm rất khác nhau về "phát triển bền vững" được hình thành
dần dần trong nhiều thập kỷ qua Vào những năm 80, khi ngày càng có nhiều
bằng chứng về sự xuống cấp nhanh chóng của môi trường và vấn đề môi trường
đã trở thành trở ngại đối với phát triển thì bảo vệ môi trường đã trở thành mục
tiêu thứ ba của sự phát triển Quan niệm về phát triển bền vững do đó bao gồm
ba yếu tố, ba cách tiếp cận: kinh tế, xã hội và môi trường Đây cũng chính là
quan điểm tiếp cận để đánh giá hiệu quả của các phương án quy hoạch nuôi tôm
trong đề tài này
Trang 10Nguồn: Kỷ yếu hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ nhất
Cho tới nay đã có nhiều định nghĩa và khái niệm về phát triển bền vững
được đưa ra trong những hội nghị quốc tế Nhưng định nghĩa của Uỷ ban thế
giới về môi trường và phát triển đưa ra trong báo cáo "Tương lai chung của
chúng ta" được sự hưởng ứng và thống nhất của nhiều tổ chức, nhiều quốc gia
Đó là: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của hiện tại
xong không xâm phạm tới khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai"
Định nghĩa này bao hàm cả ba yếu tố: Kinh tế, xã hội và môi trường đã
được xem xét ở trên Mặc dù đã có một định nghĩa thống nhất song cho tới nay
phần lớn các chính sách phát triển của các nước vẫn tiếp tục chỉ dựa vào tiêu
chuẩn hiệu quả kinh tế Sở dĩ như vậy là vì chưa có được một chuẩn mực cho sự
kết hợp hài hoà ba cách tiếp cận trên trong thực tế
Trước kia, khi người ta dựa vào thu nhập bình quân đầu người để đánh giá
mức độ phát triển thì rõ ràng thế giới ngày nay đã giàu lên rất nhiều Tuy nhiên
sự tăng trưởng về kinh tế sẽ khó có thể được duy trì trước sức ép ngày càng tăng
đối với môi trường về tài nguyên Dưới tác động của các hoạt động kinh tế, môi
trường sẽ ngày càng bị suy thoái, tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt Như vậy các
thế hệ tương lai sẽ lâm vào tình trạng xấu hơn do phải đón nhận hậu quả đó,
cũng chính là các hậu quả của các quyết định kinh tế xã hội ngày hôm nay Do
đó phải bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Người
MỤC TIÊU MÔI TRƯỜNG MỤC TIÊU XÃ HỘI
- Bảo vệ thiên nhiên
- Đa dạng hoá sinh học
- Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên
- Bảo tồn nền văn hoá
Trang 11- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng,
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người,
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất,
- Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được,
- Tôn trọng khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái,
- Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
Chiến lược phát triển bề vững do IUCN, UNEP và WWF soạn thảo xác
định "Đạo đức tạo nên một cơ sở cho phát triển bền vững Nhu cầu mà con
người đòi hỏi được xác định trên cơ sở xã hội và văn hoá Sự phát triển bền
vững đề cao các giá trị, khuyến khích sự chấp nhận những tiêu chuẩn về tiêu
dùng ở trong giới hạn được chấp nhận về mặt sinh thái và ở trong phạm vi đó thì
mọi người đều có quyền mong muốn"
Cũng như nhiều nước phát triển khác trên thế giới Việt Nam đang đứng
trước nhiều vấn đề cấp bách về môi trường Tài nguyên đang bị suy thoái, nhiều
giống loài có nguy cơ tuyệt chủng Môi trường ở đô thị và khu công nghiệp bị ô
nhiễm nặng Tháng 12/1990 Chính phủ Việt Nam và Chương trình phát triển
của liên hiệp quốc (UNDP) tổ chức Hội thảo quốc tế về môi trường và phát triển
bền vững ở Việt Nam Phát triển bền vững là phương hướng cơ bản mà chiến
lược và kế hoạch hành động được kiến nghị Chiến lược và kế hoạch có những
mục tiêu cơ bản sau:
- Duy trì các quá trình sinh thái quan trọng, bảo vệ tài sản sinh vật và tính
đa dạng của các giống loài,
- Đảm bảo việc sử dụng lâu bền tài nguyên thiên nhiên,
- Đảm bảo chất lượng chung của môi trường cần thiết cho cuộc sống tốt
đẹp của con người,
- Thực hiện kế hoạch hoá tăng trưởng và phân bố dân số cho cân bằng với
năng xuất của sản xuất bền vững
Tại Việt Nam, rút kinh nghiệm của các nước đi trước chúng ta nhất thiết
phải theo con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá thân thiện với môi trường
Quan điểm này được thể hiện không những trong tiếp thu công nghệ, phát triển
công nghiệp, nông nghiệp mà còn trong lối sống, nếp nghĩ, cách tiếp thu của
quảng đại quần chúng Việt Nam đi theo con đường công nghiệp hóa sinh thái
Trang 12Và như vậy đến năm 2020 xã hội Việt Nam có thể chưa đạt mức cao của sự
phồn vinh, hiện đại nhưng sẽ đảm bảo được sự hoà hợp giữa con người và môi
trường
II CÁC QUAN ĐIỂM ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ
2.1 Quan điểm hiệu quả kinh tế cá nhân
Cách tiếp cận hiệu quả kinh tế dựa vào luận điểm của Hick-Lindahl về tối
đa hoá thu nhập và chi phí nhỏ nhất Ngoài ra người ta còn dùng cách tiếp cận
sử dụng tối ưu và có hiệu quả những nguồn lực khan hiếm Có thể nói, cách tiếp
cận kinh tế là nhằm tối đa hoá lợi ích cá nhân của người sản xuất Ví dụ như đối
với người nuôi tôm, theo cách tiếp cận này nhà kinh tế phải trả lời cho được câu
hỏi: sản xuất và đầu tư cho con tôm như thế nào để người nông dân có lợi nhất
(mà không cần chú ý tới các hậu quả đối với môi trường và xã hội)
Ta sẽ xem xét một cá nhân, doanh nghiệp hay một đơn vị sản xuất nào đó
(gọi chung là cá nhân) điều chỉnh hoạt động sản xuất của mình như thế nào Cá
nhân này có mức sản lượng hàng năm là Q
Các cá nhân đều có một mục tiêu chung là tối đa hoá lợi nhuận từ hoạt
động sản xuất của mình Căn cứ vào nhu cầu thị trường, vào chi phí sản xuất
người ta sẽ lựa chọn mức sản lượng sản xuất ra để có được lợi nhuận lớn nhất
Kinh tế học vi mô đã chứng minh mức sản lượng đem lại hiệu quả lớn nhất đó
tại điểm mà doanh nghiệp hay cá nhân có lợi ích cận biên bằng chi phí cận biên
Trên đồ thị trục Ox biểu diễn mức sản lượng, trục Oy biểu diễn chi phí và
lợi ích Hoạt động sản xuất này gây ô nhiễm môi trường Chi phí biên của xã hội
do sự ô nhiễm đó gây ra là đường MEC
P0
MPC
MEC P
Trang 13Tất nhiên, cá nhân không bao giờ tự nguyện bỏ chi phí để khắc phục sự ô
nhiễm Và để tối đa hoá lợi nhuận cá nhân sẽ sản xuất ở mức sản lượng Q0 Trên
quan điểm cá nhân người ta không quan tâm tới MEC
Áp dụng cho việc hạch toán hiệu quả kinh tế cho người nuôi tôm ta thấy
chi phí cho hoạt động nuôi tôm bao gồm tiền mua thức ăn, mua giống, mua các
loại chế phẩm tạo mầu cho nước, tiền lương, tiền lãi vay vốn lưu động và các chi
phí khác Chi phí cận biên MPC của người nuôi tôm là khoản chi phí để có thêm
một đơn vị sản lượng tôm Lợi ích biên của người nuôi tôm là giá trị của phần
doanh thu tăng thêm do bán đơn vị sản lượng tôm cuối cùng Việc nuôi tôm gây
ô nhiễm môi trường do không xử lý nước và bùn trước khi thải ra môi trường
Phần thiệt hại môi trường do việc sản xuất ra đơn vị sản lượng tôm cuối cùng
chính là chi phí cận biên của xã hội MEC Người nuôi tôm không chú ý đến chi
phí này nếu như nó không trực tiếp mang lại lợi ích thiết thực cho họ
2.2 Quan điểm hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường
Cách tiếp cận "xã hội": lấy con người làm trọng tâm trong những quyết
định về chính sách phát triển Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế còn có quan
điểm phát triển mang tính xã hội nhằm bảo đảm duy trì sự ổn định hệ thống văn
hoá và xã hội của đất nước, giảm bớt những tác động tiêu cực về xã hội của phát
triển kinh tế, đảm bảo tính công bằng xã hội với mục tiêu giảm tỷ lệ dân số sống
trong ngèo đói Có nghĩa là trong khi đánh giá hiệu quả cho việc nuôi tôm, ngoài
lợi ích mang lại cho người nuôi tôm người ta còn phải chú ý tới các vấn đề mang
tính xã hội như sức khoẻ cộng đồng, giải quyết việc làm, tận dụng tài nguyên
Cách tiếp cận về môi trường được phổ biến rộng rãi từ đầu những năm 80,
tập trung tới những vấn đề môi trường đang ngày càng trở nên nóng bỏng ở trên
toàn thế giới Quan điểm này lưu ý tới sự ổn định của hệ sinh thái và của môi
trường sinh thái mà những yếu này đang chịu những tác động mạnh của các hoạt
động kinh tế tất cả các nước đã phát triển và những nước đang phát triển
Trang 14Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của các nhà hoạch định chính sách phát
triển của một quốc gia là phải nhận thức được những cách tiếp cận nói trên và
đưa chúng vào chính sách phát triển của đất nước
Xét trên quan điểm kinh tế xã hội và môi trường thì mọi chi phí và lợi ích
sinh ra bởi việc sản xuất và tiêu dùng một thứ hàng hoá nào đó đều phải được
tính đến khi đánh giá hiệu quả Trên quan điểm kinh tế xã hội và môi trường
người ta không tách biệt giữa hai chủ thể là cá nhân người sản xuất và xã hội mà
có sự thống nhất giữa hai đối tượng này Hoạt động sản xuất của cá nhân cũng
chính là của xã hội Mọi chi phí - lợi ích thuộc cá nhân hay nằm ngoài phạm vi
của cá nhân không còn sự phân biệt và như vậy chúng đều được hạch toán khi
tính tổng chi phí hay tổng lợi ích
Trong hoạt động sản xuất đã nêu, chi phí biên của sản xuất sẽ không chỉ là
Bởi vì chi phí biên (của xã hội) là MSC do vậy để việc sản xuất mang lại
hiệu quả cao nhất cho xã hội, mức sản lượng sẽ là Q* (hình vẽ) được xác định
khi MSC=P Như vậy khi sản xuất ở mức sản lượng Q*, xã hội đã "nội hóa"
được chi phí cho bảo vệ môi trường vào tổng chi phí của hoạt động sản xuất
Đối với vùng nuôi tôm sẽ được xem xét trong đề tài này, các chất thải sau mỗi
vụ nuôi (nước thải, bùn thải) có ảnh hưởng nhiều nhất đến môi trường, gây hậu
quả giảm năng suất ở các vụ nuôi sau Do vậy, những chi phí cho bảo vệ môi
Trang 15trường ở đây là những chi phí cho việc xử lý các chất thải, chi phí cho công tác
bảo vệ môi trường chung toàn vùng
III ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI MỘI KHU VỰC
BÃI BỒI VEN BIỂN
Tài nguyên là một nguồn lực hạn chế đối với mọi cộng đồng, do vậy cần
phải phối hợp sử dụng tài nguyên một cách có hiệu quả và hợp lý Mọi hoạt
động khai thác và phát triển cần khống chế trong một phạm vi nhất định, hạn
chế các tác động có hại tới môi trường Có như vậy tài nguyên mới được sử
dụng một cách bền vững, phục vụ cho sản xuất và đời sống của con người
3.1 Mục đích và trình tự đánh giá tác động môi trường
Mục tiêu chủ yếu của hoạt động khai thác và phát triển kinh tế là sự tăng
trưởng và cải thiện phúc lợi của con người, với sự nỗ lực cao nhất để dựa vào
môi trường, cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho xã hội Nhưng mỗi dự án phát
triển đều mang lại những ảnh hưởng nhất định cho môi trường, những ảnh
hưởng này có những cái bất lợi nhưng cũng có những cái có lợi Do đó, có thể
coi đó là lợi ích hoặc chi phí
Đánh giá tác động môi trường tức là xác định những tác động này bằng
hình thức định lượng Đánh giá kinh tế tác động môi trường là cố gắng lượng
hoá các tác động bằng giá trị tiền tệ Từ đó đề ra những đối sách và biện pháp
cần sử dụng làm cho các loại ảnh hưởng này đến mức thấp nhất
Do sự tăng trưởng về kinh tế thường gây nên những ảnh hưởng bất lợi cho
môi trường Mối quan hệ này đã có một thời khiến cho người ta tin tưởng chắc
chắn là không thể đạt được cả hai mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường Sự thoái hóa của tài nguyên và môi trường gây nên sự trả giá về kinh tế
xã hội là một thực tế Do vậy, việc quy hoạch sử dụng và quản lý tài nguyên
thiên nhiên và môi trường là rất quan trọng Điều này chỉ có thể trên cơ sở sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường thông qua việc cải tiến lựa
chọn kế hoạch, thiết kế và thực thi của các dự án phát triển, cố gắng cáo độ làm
giảm ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường Có như vậy mới có thể thu được sự
thành công về phát triển kinh tế
Yêu cầu cơ bản và chủ yếu của đánh giá tác động môi trường có hai nội
dung chủ yếu: Một là xác định tác động đối với môi trường và tiến hành thống
Trang 16kê số lượng; hai là lượng hóa những tác động này thành tiền và chính thức đưa
chúng vào phân tích trong dự án
Trình tự thực hiện đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường là việc làm hữu ích, có ý nghĩa thiết thực
trong quyết định mọi hoạt động phát triển Tuy nhiên do đánh giá tác động môi
trường là một quá trình nghiên cứu, phân tích, tổng hợp phức tạp, tốn kém về thời
gian và kinh phí, vì vậy việc đánh giá tác động môi trường một cách đầy đủ chỉ
tiến hành với các dự án phát triển quan trọng Theo hướng dẫn của chương trình
Môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP), có thể tiến hành đánh giá tác động môi
trường của các dự án phát triển theo trình tự sau:
a Lược duyệt các tác động môi trường
Nội dung của lược duyệt là điểm lại các dự án tương tự đã thực hiện trong
quá khứ, tại nước sở tại hoặc tại nước khác xem các dự án này trong thực tế đã
bị những tác động gì để phán đoán một cách định tính xem dự án đang xét có
khả năng bị tác động như thế nào Trên cơ sở đó điều chỉnh khái niệm về dự án
theo hướng phòng tránh các tác động xấu
b Đánh giá tác động môi trường sơ bộ
Đánh giá tác động môi trường sơ bộ đòi hỏi sự phân tích nghiên cứu với
trình độ chuyên môn cao hơn bước trước Nội dung của đánh giá tác động môi
trường sơ bộ là:
- Xác định các tác động chính của dự án đối với môi trường tại địa bàn của
dự án
- Mô tả chung và dự báo phạm vi của các tác động môi trường
- Trình bày với người ra quyết định về tầm quan trọng của các tác động
Đánh giá tác động môi trường sơ bộ cần được tiến hành ngay trong giai
đoạn luận chứng sơ bộ (nghiên cứu tiền khả thi) Đánh giá này giúp ta thu hẹp
sự tranh cãi về một số vấn đề quan trọng như về vị trí, quy mô dự án, cho ta biết
tầm quan trọng của các vấn đề môi trường của dự án Đánh giá tác động môi
trường sơ bộ thực hiện theo các hướng dẫn của quy định đánh giá tác động môi
trường của các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế Các phương pháp thường
dùng nhất là phương pháp danh mục và phương pháp ma trận tác động môi
Trang 17c Chuẩn bị cho đánh giá tác động môi trường đầy đủ
Nếu sau bước hai đi đến kết luận là cần thiết phải tiến hành đánh giá tác
động môi trường đầy đủ thì cơ quan chủ trì dự án phải chuẩn bị cho việc đánh
giá đầy đủ Công tác chuẩn bị gồm các việc sau:
- Thành lập nhóm đánh giá tác động môi trường có tư cách độc lập
- Xác định phạm vi không gian và thời gian của việc đánh giá
- Xác định các cơ quan có thẩm quyền quyết định về tài trợ, kế hoạch hoá,
cấp giấy phép và kiểm tra thực hiện dự án nhằm chuẩn bị cho việc xem
xét báo cáo đánh giá tác động môi trường sau này: thiết lập các mối liên
hệ cần thiết giữa nhóm đánh giá với các cơ quan này
- Thu thập các luật, quy định có liên quan đến đánh giá tác động môi
trường và lĩnh vực hoạt động của dự án
- Xây dựng đề cương đánh giá tác động môi trường
d Đánh giá tác động môi trường đầy đủ
Bước 1: Xác định các hành động quan trọng của dự án
Bước 2: Xác định các biến đổi môi trường do các hành động của dự án
Bước 3: Xác định các tác động tới tài nguyên thiên nhiên và chất lượng
môi trường sống của con người
Bước 4: Dự báo diễn biến của các tác động môi trường
Bước 5: Đánh giá tầm quan trọng của các tác động
3.2 Các đặc thù của đánh giá tác động môi trường của hoạt động nuôi
trồng thuỷ sản đối với khu vực bãi bồi ven biển
Vùng bãi bồi ven biển là vùng đặc biệt có tính nhạy cảm về môi trường
Đó là khu vực giao thoa giữa hệ sinh thái nước mặt và nước ngọt Vùng bãi bỗi
thường là ở các cửa sông do vậy nguồn dinh dưỡng được các dòng chảy chuyển
tải từ trong nội địa ra là rất phong phú Do vậy, tại đây thường thu hút được các
nguồn lợi thuỷ hải sản Khu hệ động thực vật ở đây là đặc trưng của khu hệ sinh
vật ven biển với nhiều nhóm sinh vật khác nhau sinh sống Thảm thực vật mang
đặc trưng của hệ sinh thái rừng ngập mặn Những khu vực có hệ sinh thái đa dạng
như vậy thường là nơi cư trú hoặc tạm lưu trú của các loài sinh vật biển, các loài
chim di cư Với sự nhạy cảm về môi trường như vậy mà vấn đề bảo vệ môi trường
tại các khu vực này thường rất quan trọng Ngoài các yếu tố cần đánh giá như các
báo cáo đánh giá tác động môi trường khác, báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trang 18tại các khu vực này, nhất là đối với hoạt động nuôi tôm, thường nhấn mạnh đến các
nội dung sau:
1 Đối với các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
- Điều kiện thuỷ văn
- Đánh giá chất lượng nước tại các cửa sông, chất lượng nước biển
ven bờ
- Đất đai và vấn đề sử dụng đất đai
2 Đối với sự đa dạng sinh học
- Đánh giá sự đa dạng của các hệ sinh vật thuỷ sinh, hệ sinh vật rừng
ngập mặn
- Đánh giá hệ thực vật, động vật
3 Đối với hoạt động kinh tế, xã hội
- Các khía cạnh kinh tế xã hội và dân số trong khu vực
- Các hoạt động sản xuất trong vùng
4 Các tác động môi trường quan trọng
- Mất rừng ngập mặn và hậu quả
- Gia tăng độ mặn trong nước ngầm địa phương
- Mất rừng ngập mặn và hậu quả
- Gia tăng độ mặn trong nước ngầm địa phương
- Gia tăng sự định cư của người dân
- Tác động lên nguồn lợi cá trong khu vực
- Ô nhiễm nước ở khu vực xung quanh
5 Các tác động ngoại vùng tiềm tàng
- Những thay đổi về chất lượng nước do các dự án phát triển nguồn
nước phía thượng lưu
- Gia tăng ô nhiễm nước
- Lắng đọng bùn trong các ao tôm
- Gia tăng mức nước biển
6 Các biện pháp giảm thiểu
- Trồng rừng đền bù
- Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước
Mục tiêu của hoạt động đánh giá tác động môi trường do hoạt động
nuôi trồng thuỷ sản
Trang 19- Đánh giá được tác động môi trường gây ra do phát triển nuôi trồng thuỷ
sản ở vùng ven biển Chỉ ra tác động của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản
hiện có đối với môi trường nước (phú dưỡng, nhiễm mặn nguồn nước mặt
), môi trường đất (axit hoá, mặn hoá đất .), hệ sinh thái (rừng ngập
mặn, hệ động thực vật thuỷ sinh )
- So sánh các mô hình nuôi trồng thủy sản hiện có trên cơ sở xem xét toàn
diện các khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường nhằm đề xuất mô hình
phát triển nuôi trồng thủy sản thích hợp
- Kiến nghị được các giải pháp quản lý môi trường, giảm thiểu các tác động
tiêu cực về môi trường, các chương trình giám sát môi trường vùng nuôi
trồng thuỷ sản nhằm bảo vệ môi trường, góp phần vào sử dụng bền vững
hơn tài nguyên, đảm bảo phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững
Nội dung của hoạt động đánh giá tác động môi trường do hoạt động
nuôi trồng thủy sản
- Nghiên cứu môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế - xã hội trong khu
vực Thông qua việc điều tra, phân tích, đánh giá tài nguyên nước, đất,
sinh học, khí hậu xác định các điều kiện thuận lợi về sinh thái cũng như
những hạn chế về môi trường hiện nay để phát triển nuôi trồng thuỷ sản
- Kiểm kê các mô hình nuôi trồng thuỷ sản hiện có trong vùng, đánh giá tác
động tích cực và tiêu cực về môi trường của các mô hình đó
- Phân tích so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của các mô hình
nuôi trồng thuỷ sản hiện có
- Nghiên cứu đề xuất mô hình nuôi trồng thuỷ sản thích hợp vừa có hiệu
quả kinh tế cao vừa bảo vệ môi trường
- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý môi trường, khuyến cáo các
giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực về môi trường, các
chương trình giám sát môi trường vùng nuôi trồng thuỷ sản
IV ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG
Trang 204.1 Hạch toán hiệu quả kinh tế trên quan điểm phát triển bền vững
Mỗi dự án đầu tư, mỗi phương án sản xuất hay bất cứ một hoạt động sản
xuất kinh doanh nào người ta đều phải quan tâm tới hiệu quả của công việc
Chính vì thế, ta phải hạch toán kinh tế cho mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh
Việc tính toán ấy đôi khi chỉ là những phép tính xuất hiện nhanh chóng trong tư
duy của nhà quản lý, có thể phức tạp hơn, đòi hỏi phải tính toán kỹ càng mới có
thể kết luận là có lợi hay không có lợi Trước kia người ta lấy hiệu quả kinh tế
đơn thuần làm tiêu chí để đánh giá các dự án hay các hoạt động sản xuất là có
hiệu qủa hay không Tức là chỉ cần phương án đó mang lại lợi ích thực dương
cho chủ đầu tư Ngày nay với quan điểm mới về sự phát triển tức là sự phát triển
phải đảm bảo bền vững như đã đề cập ở phần trên thì công việc hạch toán kinh
tế không chỉ đơn thuần lấy hiệu quả kinh tế để đánh giá nữa mà được mở rộng ra
là hiệu quả kinh tế-xã hội và môi trường Sự ra đời của kinh tế học môi trường là
một cái mốc cho sự phát triển một khuôn khổ nhận thúc rộng lớn hơn và phát
triển theo hướng bền vững Kinh tế học môi trường được xem như một phụ
ngành trung gian giữa kinh tế học và môi trường Nói cách khác trong kinh tế
môi trường công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường và điều đó
cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải kể đến các vấn đề môi trường Các
vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tự nhiên, nên chúng rất phức tạp và
không phải lúc nào cũng được giải quyết một cách thấu đáo
Với sự phát triển của kinh tế học môi trường, giờ đây các nhà kinh tế đã
bước đầu tìm được cách gắn kết những vấn đề về môi trường, xã hội trong các
quyết định kinh tế bằng cách tính giá trị của môi trường bằng tiền, quy các thiệt
hại và lợi ích về mặt xã hội ra tiền, đồng thời đảm bảo giá của tài nguyên phản
ánh đúng thực giá trị của nó (là điều trước đây bị bỏ qua không xem xét tới)
Ngoài ra các nhà kinh tế học cũng đã quan tâm đến vấn đề công bằng xã hội
nhất là đối với người nghèo để tìm ra những biện pháp thích hợp giải quyết vấn
đề nghèo đói (nghèo đói cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường)
Trong những năm gần đây người ta còn đặt vấn đề nghiêm túc hơn đối với việc
bảo tồn những tài sản thiên nhiên và tài nguyên cho thế hệ mai sau
4.2 Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội thông qua việc sử dụng phương
pháp chi phí - lợi ích
Trang 21Phân tích chi phí lợi ích (còn gọi là phân tích CBA: Cost and benefit
Analysis) là một kỹ thuật giúp cho các nhà ra quyết định đưa ra những quyết
sách hợp lý về sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên khan hiếm làm giảm hoặc
loại bỏ những tác động tiêu cực phát sinh trong các chương trình, kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội CBA được áp dụng vào việc đánh giá các hệ thống tự nhiên,
đánh giá chất lượng môi trường và đánh giá hiệu quả mang tính xã hội CBA là
một bộ phận hữu cơ của quá trình ra quyết định ở mọi cấp địa phương, vùng,
quốc gia, quốc tế
Trước một thực tế là không phải mọi dự án có khả năng sinh lợi về tài
chính cao đều tạo ra những ảnh hưởng tốt đối với nền kinh tế - xã hội và môi
trường, do đó trên góc độ quản lý vĩ mô phải xem xét, đánh giá các tác động của
dự án một cách đầy đủ đến các mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường Điều này giữ
một vai trò quan trọng để cho các cấp có thẩm quyền chấp nhận cho phép đầu
tư, các định chế tài chính quốc tế, các cơ quan tài trợ cho dự án Phân tích tài
chính một dự án thường chỉ phản ánh lợi ích của chủ doanh nghiệp, còn phân
tích kinh tế, xã hội và môi trường phản ánh lợi ích dự án đưa lại trên quan điểm
nền kinh tế quốc dân Khác nhau cơ bản về phương pháp phân tích hiệu quả tài
chính và kinh tế xã hội và môi trường các dự án đó là:
- Phân tích tài chính dựa trên phương pháp phân tích quá trình luân chuyển
dòng tiền tệ trong đời dự án mà khi thực hiện dự án đó có thể xảy ra
- Phân tích kinh tế, xã hội và môi trường dựa trên phương pháp phân tích
chi phí - lợi ích
Tất cả mọi người đều quyết định dựa trên căn cứ về cái được và mất, lợi
và hại Khi ta suy tính giữa cái được và cái mất ta sẽ có được lợi ích thuần tuý
Trong số nhiều phương án khác nhau ta sẽ ra quyết định để thực hiện phương án
đạt được lợi ích ròng lớn nhất Thay vì nói đến cái được ta có thể nói về lợi ích,
đối với cái mất ta có thể thay bằng khái niệm chi phí Đó là những quan niệm
nền tảng cho phân tích CBA Tuy nhiên trong phân tích CBA, chi phí và lợi ích
còn được xét một cách cụ thể hơn đó là theo cách nhìn nhận, đánh giá của cá
nhân hay xã hội
Chi phí và lợi ích được xác định phụ thuộc vào lòng mong muốn và sự ưa
thích của con người Cái mà đáp ứng được sự mong muốn được cho là lợi ích và
điều trái với mong muốn thì đó là chi phí Chính xác hơn thì bất cứ cái gì được
Trang 22gọi là lợi ích thì phải mang lại nhiều phúc lợi lợi hơn cho xã hội và cái được gọi
là chi phí khi nó làm giảm phúc lợi của xã hội Đối với nhà kinh tế việc phúc lợi
xã hội tăng hay giảm tuỳ thuộc vào sự thoả mãn của con người Nếu một người
nói rằng anh ta thích tình huống A xảy ra hơn là việc duy trì tình trạng hiện tại
thì rõ ràng việc A xảy ra là có lợi đối với người đó Vấn đề tại sao tình huống A
lại được ưa thích hơn chưa cần phải chú ý tới, mặc dầu không ai tranh cãi rằng
cá nhân này được phép thực hiện tình huống A nếu như nó không vi phạm đạo
lý hay luật pháp
Chức năng cơ bản của CBA là tạo ra một sự phân phối lợi ích tốt hơn cho
mọi người Ví dụ đối với cá nhân X nào đó, anh ta sẽ chấp nhận sự việc A nếu
BA - CA > 0
Trong đó: B: là lợi ích
C: là chi phí Chi phí và lợi ích ở đây được đo không chỉ bằng tiền mà bằng phúc lợi
nói chung
Phân tích CBA là phương pháp rất phù hợp với điều kiện các nước đang
phát triển (trong đó có Việt Nam) bởi vì việc khai thác tài nguyên thiên nhiên là
biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế xã hội tại các nước này và còn vì Việt
Nam lấy phát triển bền vững làm mục tiêu phát triển nên phải xem xét tới mọi vấn
đề từ tài nguyên, môi trường đến hiệu quả lâu bền cho xã hội
Nội dung tư tưởng của phương pháp phân tích chi phí lợi ích bao gồm
những điểm sau:
1 Mọi hoạt động phát triển đều được thực hiện trong các hệ thống tự
nhiên bao gồm tài nguyên, môi trường và xã hội Vì vậy trong phân tích CBA
phải có những hiểu biết về các hệ thống tự nhiên và xã hội
Do vậy để phục vụ cho mục tiêu của đề tài, trước khi đi vào phân tích
CBA sẽ có những phân tích về hệ thống môi trường và xã hội đối với vùng bãi
bồi Kim Sơn - Ninh Bình hiện trạng và dự kiến phát triển trong tương lai
2 Cơ sở tiến hành phân tích CBA là những kiến thức chuyên môn thuộc
các lĩnh vực hoạt động phát triển, những kiến thức về kinh tế tài chính và những
kiến thức về sinh thái học, về hệ sinh thái nhân văn và sinh thái xã hội vốn có
Trang 233 Trong kiến thức về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường cần quan
tâm trước hết đến các vấn đề bảo vệ rừng, bảo vệ đất, bảo vệ tài nguyên nước
Việc phân tích chi phí-lợi ích ở đây nhằm mục đích đánh giá về kinh tế
những tác động đến môi trường của các dự án phát triển Cả hai hệ thống tự
nhiên và nhân văn đều có thể bị tác động
Trên thực tế, nguồn số liệu bị hạn chế, mức độ hiểu biết không đầy đủ để
thiết lập mối quan hệ giữa sự suy giảm chất lượng môi trường với suy giảm lợi
ích kinh tế Khi đó, có thể đưa ra các phương án khác nhau và phân tích chi phí
lợi ích các phương án đó, xem phương án nào là tốt nhất
V VẬN DỤNG CÁC QUAN ĐIỂM ĐÁNH GIÁ VÀO VIỆC TÍNH TOÁN
HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TÔM VÙNG BÃI
BỒI
5.1 Lựa chọn quan điểm tiếp cận và đánh giá
1 Sẽ tiếp cận trên quan điểm phát triển bền vững Bởi vì:
- Các hoạt động phát triển ở Việt Nam nói chung đều lấy mục tiêu phát
triển bền vững, tức khai thác tài nguyên ở hiện tại không làm ảnh hưởng
đến tiềm năng khai thác trong tương lai
- Trong bất cứ hoạt động phát triển nào đều phải tìm cách dung hoà hai
mục tiêu phát triển và bảo vệ môi trường
2 Luận văn sẽ tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế trên cả hai quan điểm
phát triển:
- Hiệu quả kinh tế cá nhân
- Hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường
3 Tiếp cận quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch dưới con mắt của
nhà đánh giá tác động môi trường Từ đó, ta chọn ra những tác động rõ
nét nhất để có những biện pháp điều chỉnh thích hợp
4 Làm rõ cách nhìn nhận, đánh giá của các chủ đầm nuôi tôm và sự đánh
giá của các nhà quản lý ở địa phương Hiểu được mong muốn của chủ
đầm, mong muốn của các nhà quản lý từ đó ta sẽ có sự so sánh và đưa ra
những kiến nghị cần thiết
Trang 245 Vận dụng phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng khi đánh giá
hiệu quả của hoạt động nuôi tôm Trong đó, ta sẽ phân tích dựa trên mục
tiêu sử dụng tài nguyên một cách bền vững, sẽ tính đến việc phải đầu tư
cho môi trường
5.2 Những nhân tố cần đưa vào tính toán và phân tích
Việc đánh giá hiệu quả của việc thực hiện quy hoạch khai thác vùng bãi
bồi Kim Sơn trên hai quan điểm: Quan điểm của người nuôi tôm (là các chủ
đầm) và quan điểm kinh tế xã hội và môi trường, được gọi là quan điểm xã hội
Khi đánh giá trên quan điểm thứ nhất, việc tính toán sẽ được dựa trên
những chí phí sản xuất mà người nuôi tôm phải bỏ ra và doanh thu sau mỗi vụ
nuôi Các nhân tố đầu tư vào cho việc tính toán là:
- Diện tích sử dụng đất cho các loại hình nuôi
- Năng suất tương ứng đối với mỗi loại hình nuôi
- Đơn giá đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho một ha nuôi
- Chi phí cho việc mua tôm giống, thức ăn cho tôm, công chăm sóc và các
chi phí khác
+ Giá bán
+ Hệ số rủi ro trong quá trình nuôi tôm
Việc đánh giá hiệu quả trên quan điểm thứ hai sẽ dựa trên cơ sở lý luận về
phát triển bền vững Có nghĩa là ngoài các yếu tố về chi phí và lợi ích kinh tế
đơn thuần như đã nêu ta còn phải tính đến các chi phí và lợi ích về mặt môi
trường và xã hội Ngoài các nhân tố đầu vào như đã sử dụng ở tính toán theo
quan điểm thứ nhất, việc tính toán theo quan điểm thứ hai sử dụng thêm các yếu
tố đầu vào như:
- Chi phí cho hoạt động xử lý ô nhiễm môi trường (bên ngoài phạm vi đầm
nuôi)
- Khả năng duy trì năng suất cao nhờ tác động tích cực từ hoạt động xử lý ô
nhiễm môi trường
Sau khi có kết quả tính toán, ta sẽ so sánh chi phí và lợi ích của hai
phương án
Trang 25CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ VÙNG BÃI BỒI HUYỆN KIM SƠN
I ĐẶC ĐIỂM VÙNG BÃI BỒI
1.1 Đặc điểm tự nhiên
a Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn nằm trong khoảng:
19026'40'' - 20000' Vĩ độ Bắc
10602'05'' - 106005'20'' Kinh độ Đông
Vùng nghiên cứu (BM1 - BM3) nằm phía Đông huyện Kim Sơn, phía Bắc
giáp các xã Cồn Thoi, thị trấn Bình Minh, Kim Tân, phía Nam giáp vịnh Bắc
Bộ, phía Đông có sông Đáy và phía Tây có sông Càn
Khí hậu vùng bãi bồi Kim Sơn nằm trong hệ khí hậu nhiệt đới gió mùa,
Nhịp điệu mùa của vùng được phân chi tiết như sau:
- Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm (trùng với mùa hè), chiếm
70% lượng mưa cả năm của khu vực
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau (trùng với
mùa Đông), trong đó, mùa khô hạn nhất tập trung vào tháng 3 - tháng 4
mm mm/tháng mm/tháng
1658 347/tháng 8 -395/tháng 9 208/tháng 3 - tháng 11
10 Tổng số giờ
nắng
Trong mùa mưa Trong tháng VII Trong tháng VIII Trong tháng IX
Khí hậu vùng bãi bồi có ảnh hưởng khá lớn tới đời sống, sản xuất và phát
triển vùng: Mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm (nhất là mưa
Trang 26bão) ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hoạch tôm, cua tổng bức xạ của vùng là
khá lớn (120,000 Kcal/cm2), nhiệt độ trung bình mặt đất, tổng lượng bốc hơi
trong vụ hè thu khá cao (260C và 487 mm) ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất
cây lúa, công việc chăm sóc, nuôi trồng thuỷ hải sản
Chế độ thuỷ văn vùng bãi bồi Kim Sơn là chế độ thuỷ văn biển Đông và
thuỷ văn cửa sông Chế độ thuỷ văn cửa sông chịu ảnh hưởng lớn nhất là cửa
sông Đáy, một trong những cửa sông quan trọng của hệ thống sông Hồng, đóng
vai trò quan trọng trong vận tải nước và bùn cát từ đất liền ra biển Đông (khoảng
23% lượng nước lũ và bùn cát của sông Hồng)
Hàng năm, có 1- 2 trận bão đổ bộ trực tiếp và 2- 3 trận bão khác ảnh hưởng
tới vùng này Nước biển dâng trong bão tại vùng này chỉ khi cơn bão có tâm đổ
bộ vào khu vực bờ biển Thanh Hoá và Bắc Nghệ An Qua tính toán cho thấy, mực
nước dâng trong bão có thể đạt từ 2-3 m tại vùng bãi bồi Kim Sơn
Vùng này nằm trong vùng bồi lắng, tích tụ, xu thế ngày càng phát triển ra
biển Sự bồi tụ này do hai yếu tố biển và sông tạo nên và có xu hướng phát triển
về phía Nam (ảnh hưởng của sông Đáy và sông Càn - hướng chảy của hai sông
này đều có hướng Bắc Nam)
b Các loại tài nguyên
Tài nguyên đất
Vùng bãi bồi ven biển Huyện Kim Sơn bao gồm: Vùng Bình Minh 2
(BM1 - BM2) có diện tích 19,32 km2 (1932 ha), vùng Bình Minh 3 (BM2 -
BM3) có diện tích là 14,50 km2 (1450 ha)
Diện tích đất nông nghiệp là 1159,9 ha, diện tích cói là 596,3 ha, diện tích
mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 215,17 ha Theo nguồn gốc phát sinh, thì đất
của vùng bãi bồi Kim Sơn là do quá trình bồi đắp phù sa sông Đáy (30% lượng
phù sa của sông Hồng) trên nền biển nông Mức độ nhiễm phèn mặn có xu thế
giảm dần từ BM1 đến đê quai BM3 và pH của đất có xu thế ngược lại Biến
động độ mặn và pH trong đất vùng bãi bồi là sự biến đổi theo mùa rõ ràng Dựa
vào nguồn gốc phát sinh có thể chia đất vùng bãi bồi Kim Sơn ra thành các loại
sau:
+ Đất mặn sú vẹt đước (Mm)
Trang 27+ Đất mặn trung bình (M)
+ Đất mặn ít (Mi)
Nguồn tài nguyên đất đai trong vùng bãi bồi hầu hết là đất mặn, nhưng ở
các mức độ khác nhau tuỳ từng khu vực trong vùng Trong đó đất mặn sú vẹt
đước có diện tích lớn nhất chiếm 41,6% diện tích toàn vùng và đất có diện tích
nhỏ nhất là đất mặn ít chiếm 8,5% Do nguồn nước ngọt thiếu ở vụ đông cho
nên đất bị bỏ hoang còn nhiều
Bảng 2 : Tổng hợp phân loại đất vùng nghiên cứu
Nguồn: Uỷ ban Nhân dân huyện Kim Sơn-2000
Tài nguyên nước
Vùng bãi bồi Kim Sơn nằm giữa 2 con sông là: sông Đáy và sông Càn
Ngoài ra trong vùng còn có một hệ thống kênh mương nội đồng, nhưng chưa
đồng bộ
Tài nguyên thực vật
Hệ thực vật vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn rất phong phú Các loài
thực vật bậc cao có mạch trong hệ thực vật ở đây hiện có 64 loài thuộc 28 họ
trong ngành hạt kín, bao gồm 47 loài của 24 họ trong lớp hai lá mầm và 15 loài
của 4 họ trong lớp môt lá mầm
Tài nguyên thuỷ sản
Tài nguyên thuỷ sản của vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn khá phong
phú và đa dạng Do ảnh hưởng của sông Đáy và sông Càn cũng như ảnh hưởng
từ thuỷ triều biển Đông đến độ mặn trong nước của vùng mà mức độ phân bố
nguồn lợi thuỷ sản trong vùng có khác nhau
Trang 28Nguồn lợi thuỷ sản nổi trội và đặc biệt nhất của vùng bãi bồi ven biển
Kim Sơn là đặc sản cớ Bớp Các loài đặc sản khác như tôm he, tôm rảo, Ngao,
vọp, sò huyết và cua cũng có điều kiện phát triển khá tốt trong vùng, Ngoài ra,
nguồn thực vật nổi và động vật nổi ở đây khá phong phú là điều kiện môi trường
sống khá lý tưởng cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản trong vùng
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội vùng bãi bồi
a Dân số - Lao động
Vùng Bình Minh 2 (nằm giữa đê BM1 và đê BM2) là vùng đã được xác
lập các ranh giới hành chính xã bao gồm: Xã Kim Đông, xã Kim Trung và xã
Kim Hải với diện tích tương ứng là 650 ha, 440ha và 557ha Trong vùng Bình
Minh 2 có 357ha do UBND huyện Kim Sơn trực tiếp quản lý (chưa đủ cơ sở để
thành lập riêng 1 xã như dự kiến: xã Kim Tiến) Tính đến tháng 8 năm 2000
tổng số dân của vùng Bình Minh 2 là 7509 người với mật độ trung bình là
455,92 người/km2 (không tính diện tích do huyện quản lý trực tiếp - xã Kim
(ha)
Dân số (người)
Mật độ dân số
Nguồn:Số liệu điều tra của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vùng
Xã Kim Trung là xã có diện tích nhỏ nhất nhưng có mật độ dân số cao
nhất (537,41 người / km2) Tuy là một xã mới nhưng Kim Đông (thành lập được
hơn 1 năm) là xã có diện tích đất tự nhiên lớn nhất , mật độ dân số chỉ 413,39
người/km2 Tỷ lệ tăng tự nhiên cao nhất là xã Kim Đông 2,8%, tỷ lệ tăng cơ học
cao nhất thuộc về xã Kim Trung 0,4% Tỷ lệ dân số tăng cơ học của vùng Bình
Minh 2 còn phụ thuộc vào mùa vụ nuôi, thu hoạch thuỷ sản (tôm, cua) và thu
Trang 29tháng 7 đến tháng 8 hàng năm, trùng với thời điểm thả giống và thu hoạch thuỷ
sản (tôm, cua), cói hàng năm của vùng Số dân tăng cơ học tại vùng kinh tế mới
do nuôi thuỷ sản (tôm, cua), thu hoạch cói chủ yếu đến từ các huyện Bình Lục
(Hà Nam) , Nga Sơn (Thanh Hoá) và các xã vùng lân cận như Kim Mỹ, Cồn
Thoi, Định Hoá, thị trấn Phát Diệm, thị xã Ninh Bình Hàng năm tỷ lệ tăng dân
số cơ học của vùng kinh tế mới dao động trong khoảng 4 - 6,5% so với tổng số
dân của vùng
Trong tổng số dân của vùng bãi bồi, dân số sản xuất nông nghiệp chiếm
99,52% tổng số, dân số phi nông nghiệp chỉ chiếm dưới 0,05% Ngoài ra còn có
dân số vừa làm nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ Điển hình là các hộ dân
phân bố ở hai ven đường nhựa chính Cơ cấu dân số chi tiết các xã được nêu
Cơ cấu dân số Nông
nghiệp
% dân số
Phi nông-ng
% dân số
Nguồn:Số liệu điều tra của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vùng
Theo kết quả điều tra tháng 7 năm 2000 dân số trong độ tuổi lao động tại
các xã vùng Bình Minh 2 là 3.474 người bằng 56,10% dân số Trong năm 1999 có
3453 người có việc làm chiếm 99,40% số lao động Số người thất nghiệp trong
vùng là thấp chỉ chiếm có 0,6% trong tổng số lao động của vùng
Lực lượng lao động trong các xã vùng Bình Minh 2 chủ yếu tập trung trong
ngành nông nghiệp Chất lượng của lực lượng lao động trong vùng Bình Minh 2
nhìn chung còn thấp Lực lượng lao động được đào tạo (từ trung cấp trở lên) còn
ít, cao nhất là xã Kim Trung, 13 người chiếm (1,05%), tại hai xã Kim Hải, Kim
Đông tỷ lệ này là 0,42% và 0,145% Lực lượng lao động phi nông nghiệp vùng
Bình Minh 2 có 93 người chiếm 2,67% dân số của vùng
Trang 30Hàng năm, vùng Bình Minh 2 nhận thêm khoảng 2000 - 3000 lao động
thời vụ (khoảng từ tháng 3 hoặc tháng 4 đến tháng 7 hoặc tháng 8) trong thời
vụ nuôi và thu hoạch thuỷ sản Như vậy, con số người lao động trong vùng
đạt số lượng cao nhất là 6718 người vào các tháng 7 hoặc tháng 8 hàng năm,
thấp nhất là các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 với số lao động khoảng 3322
người Công việc sử dụng lao động chủ yếu trong vùng lúc này tập trung vào
tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, dịch vụ và đi làm thuê ở nơi khác
b Thực trạng phát triển kinh tế
Huyện Kim Sơn được thành lập từ năm 1829, là kết quả quá trình khai
hoang lấn biển Đến nay, công cuộc khai hoang lấn biển (vùng bãi bồi ven biển
của huyện) vẫn là một tiềm năng lớn, một thế mạnh lớn của huyện Kim Sơn Có
thể nói, lịch sử chinh phục vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn từ trước cho
đến nay vẫn theo phương thức " Lúa lấn Cói, Cói lấn Sú Vẹt, Sú Vẹt lấn biển"
Như vậy, huyện Kim Sơn nói chung và vùng bãi bồi nói riêng có nền kinh tế chủ
yếu dựa trên cơ sở sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Cây trồng chủ yếu của ngành nông nghiệp vùng bãi bồi ven biển hiện nay
vẫn là cây Lúa và Cói
Bảng 5: Diện tích cây trồng nông nghiệp vùng bãi bồi ven biển
Nguồn:Uỷ ban nhân dân huyện Kim Sơn
Nổi bật lên trong vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn là nuôi thuỷ sản
nước mặn, nước lợ Kết quả điều tra tháng 7 năm 2000 tại vùng Bình Minh 2 và
bãi bồi ven biển cho thấy:
- Phương thức nuôi thuỷ sản của nhân dân vùng Bình Minh 2 và vùng bãi bồi
phần lớn là nuôi quảng canh (khoảng 80 - 85%) Phương thức nuôi quảng
canh cải tiến chiếm 15 - 20% Thực ra phương pháp nuôi này chỉ là tăng
Trang 31- Giống nuôi chủ yếu là tôm sú, tôm rảo, cua biển và cá vược, cá bớp lấy từ
nước biển tự nhiên
- Nhìn chung năng suất nuôi thuỷ sản thấp: Tôm chỉ 1- 3 tạ/ha, một vài đầm
có thể đạt tới 5 tạ/ha, cá đạt bình quân 1,0 tạ/ha, năng suất cua biển nuôi chỉ
đạt khoảng 0,2 - 5 tạ/ha
- Giống thuỷ sản nuôi chủ yếu được mua từ các tỉnh Nam Định, Thanh Hoá,
trong đó giống cua biển được mua từ những người dân chài chuyên đánh,
bắt cua giống ngoài biển
- Tiềm năng và môi trường sống của vùng rất thuận lợi cho việc nuôi nhuyễn
thể hai mảnh, nhưng hiện nay ở vùng Bình Minh 2 và vùng bãi bồi vẫn
chưa nuôi
Quá trình sử dụng, khai thác tài nguyên thuỷ sản và tài nguyên nước trong
vùng Bình Minh 2 (BM1 - BM2) đã được người dân khai thác cách đây hơn 20
năm, trước khi bắt đầu đắp đê BM2 (1980 - 1992) Nếu tính đến sự ổn định, định
cư của người dân lâu dài trên vùng đất BM1 -BM2 có sự xác nhận của Nhà nước
(công nhận được thành lập xã) thì vùng kinh tế mới được khai thác bắt đầu từ
năm 1986 (năm thành lập xã Kim Hải)
Vùng Bình Minh 2 (BM1 -BM2) được chính thức hình thành sau năm
1986 đến nay với diện tích là 19,52km2 (1952 ha), được hai đê BM1 và BM2
bao quanh Hiện nay, quy trình khai thác tài nguyên thuỷ sản của vùng tập trung
chủ yếu vào công tác nuôi thuỷ sản với phương thức nuôi chính là quảng canh
và các đối tượng nuôi là: Tôm sú, tôm rảo, cua biển, cá trắm cỏ, cá rô phi
Ngoài ra, còn khai thác thuỷ sản vùng ven bờ với các phương tiện thô sơ
Bảng 6: Thực trạng nuôi và phương thức nuôi thuỷ sản vùng bãi bồi
Khu vực Giống
nuôi
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Phương thức nuôi Quảng
Canh
Q.Canh cải tiến
Kim Đông Cá nước
mặn
Kim Trung
Cá nước mặn
Trang 32Cua 10 5 5 x Kim Hải
Cá nước mặn
Nguồn:Số liệu điều tra của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vùng
Diện tích nuôi thuỷ sản trong vùng Bình Minh 2 hiện nay là 241,43 ha
mặt nước Diện tích mặt nước nuôi tôm chiếm 50,12 % tổng diện tích mặt nước
nuôi thuỷ sản Năng suất bình quân nuôi tôm của vùng hiện nay khoảng 320 -
340 kg/ha
c Kết cấu hạ tầng vùng Bình Minh 2 (BM1 - BM2)
- Hệ thống giao thông vùng Bình Minh 2 nhìn chung còn kém, chưa đạt chất
lượng đường cấp 3 nông thôn Cả vùng chỉ có khoảng 10km đường nhựa,
ước khoảng 5 - 6 km Vùng có 5 cây cầu nhỏ với chiều dài khoảng 10 - 12
m, trọng tải 5 - 7 tấn
- Hệ thống các công trình thuỷ lợi của vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn
tập trung tại vùng Bình Minh 2 Hệ thống các công trình thuỷ lợi này nhìn
chung còn nhỏ, chưa tập trung và hoàn chỉnh nên việc tưới tiêu, phục vụ
sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt còn hạn chế, chưa chủ động được về nước
- Sử dụng điện của vùng Bình Minh 2 được thông qua 04 trạm biến thế có
công suất 100 KVA, mỗi trạm được đặt tại một xã Với tổng chiều dài
đường dây là 10,5 km Nhu cầu tiêu thụ điện hiện nay của vùng khoảng
138.000 kWh trong một năm, trong đó, nhu cầu tiêu thụ điện cho sinh hoạt
chiếm 63,77%
Cơ sở hạ tầng chung của vùng kinh tế còn thấp kém chưa đáp ứng được
nguyện vọng mong mỏi của người dân trong sản xuất và giải trí Cơ sở hạ tầng
cho giáo dục và đào tạo cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của những người dân
trong vùng Vùng chỉ có hai trường cấp I và một trường cấp II Lượng học sinh
Trang 33học đến cấp III so với cấp I giảm 97,2 lần Chỉ số cán bộ y tá và dược sỹ trên
1000 dân còn thấp, số lượng y tá, dược sỹ cao cấp trong vùng không có
d Thực trạng cung cấp nước và sử dụng nước vùng bãi bồi
Nguồn tài nguyên nước trong vùng Bình Minh 2 hiện nay có ba chu trình
đang khai thác và sử dụng là:
- Sử dụng tài nguyên nước mặt có nguồn gốc biển (nước mặn) cho các hoạt
động nuôi và khai thác thuỷ sản
- Sử dụng tài nguyên nước mặt có nguồn gốc sông (nước ngọt) cho các hoạt
động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt
- Sử dụng nguồn tài nguyên nước ngầm có nguồn gốc tự nhiên phục vụ chủ
yếu cho các hoạt động sinh hoạt dân sinh
Nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp trong vùng Bình Minh 2
được lấy từ các sông Đáy, sông Càn hàng năm vào khoảng 984.441,6 m3/năm
Đối với sản xuất lúa một vụ trong vùng Bình Minh 2 hàng năm lượng
nước ngọt phải đảm bảo cho các quá trình: thau chua, rửa mặn và bảo đảm nước
cho chu kỳ sống của cây lúa Ngoài ra, lượng nước thất thoát trong quá trình vận
chuyển trên hệ thống kênh trong vùng là khá lớn do các hệ thống kênh mương
của vùng chưa được bê tông hoá, cho nên lượng nước ngọt phục vụ cho các quá
trình sản xuất nông nghiệp còn thiếu
Bảng 7: Thông số phân tích mẫu nước trên kênh CT1 (9/2000)
Sau CT1-150m
Trang 34Nguồn: Số liệu phân tích của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
Có hai đối tượng chính sử dụng nước ngọt là trồng trọt, sản xuất nông
nghiệp và sử dụng nước ngọt trong sinh hoạt hàng ngày của người dân Sản
xuất nông nghiệp sử dụng nguồn nước lấy từ sông Đáy, sông Càn thông qua
hệ thống kênh mương cấp I trong vùng với 3 cống CT1, CT3, C10 là đầu
nguồn dẫn nước ngọt Sử dụng nước trong sinh hoạt chủ yếu được được lấy
từ nguồn nước ngầm dưới độ sâu sâu khoảng 70 - 120m thông qua các giếng
khoan
1.3 Vai trò của vùng bãi bồi trong phát triển kinh tế-xã hội của huyện
Kim Sơn
Bãi bồi có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kim
Sơn Từ những năm đầu mới thành lập huyện, diện tích tự nhiên của huyện có
5.263,2 ha, đến năm 2000 do quá trình quai đê lấn biển mở rộng diện tích, huyện
đã có 20.747 ha, gấp 5 lần diện tích khi mới thành lập
Cho đến những năm gần đây, bãi bồi sau khi quai đê ngăn biển đã được
đưa vào sử dụng để phát triển sản xuất nông nghiệp Thời gian đầu khi đất còn
bị nhiễm mặn, nông dân trồng cói Đến khi độ mặn giảm và trồng được lúa,
nông dân trồng lúa giống chịu mặn Khi đất ngọt hoá và việc tưới tiêu nước
được giải quyết, nông dân trồng các giống lúa có năng suất cao Lúc này bãi bồi
trở thành vùng lúa có điều kiện thâm canh và nhiều xã đã đạt được năng suất lúa
trên 10 tấn/ha/năm
Bãi bồi đã có những đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế cũng như xây
dựng đời sống của nhân dân huyện Kim Sơn Phương thức quai đê lấn biển đã
Trang 35rút kinh nghiệm của nhân dân ta qua hàng nghìn năm mở nước và làm nông
nghiệp Cách quai đê, khai thác vùng bãi bồi đã chứng tỏ là phù hợp đối với
trình độ phát triển, trình độ sản xuất của nhân dân ta, và đã mang lại những kết
quả to lớn
Tuy vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế, của khoa học và công nghệ
trong những năm gần đây, việc quai đê lấn biển, khai thác bãi bồi như đã làm
trước đây cho thấy việc phát triển sản xuất chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao
Mặt khác, chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, nền nông lâm nghiệp, thuỷ sản nước ta đang có những chuyển đổi theo
hướng đa dạng hoá sản xuất, xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá, một nền nông
nghiệp sinh thái, phát triển bền vững
Từ phương hướng phát triển chung đó của nông nghiệp, thuỷ sản huyện
Kim Sơn có chủ trương xây dựng “Quy hoạch tổng thể khai thác và sử dụng hợp
lý vùng bãi bồi Kim Sơn” và được tỉnh Ninh Bình đồng ý cho phép triển khai
II NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH TRONG QUY HOẠCH KHAI THÁC
TỔNG HỢP VÙNG BÃI BỒI
2.1 Tổng quan về dự án quy hoạch khai thác bãi bồi Kim Sơn
Mục tiêu của quy hoạch tổng thể: Được xác định trong quyết định của Uỷ
ban nhân dân tỉnh Ninh Bình là:
- Đánh giá tiềm năng kinh tế vùng bãi bồi ven biển
- Lập quy hoạch khai thác và sử dụng vùng đất bãi bồi ven biển, gồm:
Xây dựng, phương án phát triển các ngành kinh tế khai thác tài nguyên biển
Tổ chức không gian lãnh thổ
Bảo vệ môi trường sinh thái
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm sử dụng hợp lý hơn và hiệu quả
hơn vùng đất bãi bồi
- Trên cơ sở mục tiêu như vậy, các nhà quy hoạch thuộc Trung tâm Nghiên
cứu và Phát triển Vùng xây dựng một báo cáo khoa học về khai thác tổng
hợp vùng bãi bồi, nội dung của báo cáo gồm:
Phần I Mở đầu: Nêu lên vai trò của bãi bồi ven biển Kim Sơn đối với
phát triển kinh tế - xã hội của huyện và những vấn đề đang được đặt ra đối với
việc khai thác hợp lý vùng này làm cơ sở cho việc xây dựng chủ trương, mục