Đánh giá chung về thực trạng tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS huyện Lập Thạch trong những năm qua .... Đồng thời thấy được tầm quan trọng của vi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ XUÂN THÀNH
TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS - HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ XUÂN THÀNH
TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS - HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Xuân Thành
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trước tiên, tác giả xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn:
PGS.TS Mạc Văn Trang, người đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn và đồng
hành cùng tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cám ơn:
- Quý Thầy, Cô khoa Tâm lý - Giáo dục đã tận tình hướng dẫn, giảng
dạy lớp Quản lý giáo dục Khóa 20 trong thời gian qua
- Các cấp lãnh đạo, giảng viên, công nhân viên trường THCS - huyện
Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt
quá trình học tập và hoàn thành luận văn
- Quý Thầy, Cô cùng các Anh, Chị Phòng Sau đại học
- Các Anh Chị cùng lớp đã gắn bó, chia sẻ cùng tác giả trong quá trình
học tập
Tác giả xin chân thành cám ơn gia đình và bạn bè của tác giả, những
người luôn giúp đỡ, đồng hành cùng tác giả trong suốt quá trình học tập và
thực hiện luận văn
Tuy đã rất cố gắng, nhưng luận văn này chắc chắn còn thiếu sót Tác giả
kính mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ, góp ý của Quý Thầy, Cô, các Anh,
Chị và các bạn đồng khóa, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Xuân Thành
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
7 Các phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Quản lý và quản lý nhà trường 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý nhà trường 12
1.3 Đạo đức và giáo dục đạo đức 15
1.3.1 Khái niệm đạo đức 15
1.3.2 Khái niệm giáo dục đạo đức 18
Trang 61.3.3 Chức năng của đạo đức 20
1.4 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục đạo đức ở trường Trung họ cơ sở 20
1.4.1 Mục tiêu GDĐĐ 20
1.4.2 Nhiệm vụ GDĐĐ 21
1.4.3 Nội dung GDĐĐ 22
1.4.4 Hình thức tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức 25
1.4.5 Phương pháp giáo dục đạo đức 26
1.5 Phối hợp và Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức 27
1.5.1 Phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức 27
1.5.2 Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức học sinh 27
1.5.3 Nội dung Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho HS THCS là 28
1.6 Các hoạt động "Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho HS" 32
1.6.1 Các lực lượng tham gia giáo dục của nhà trường như: Ban giám hiệu (hiệu trưởng), GVCN, đoàn- đội, gia đình(hội cha mẹ học sinh), các tổ chức xã hội tham gia giáo dục 32
1.6.2 Các hoạt động cụ thể của "Tổ chức phối hợp tốt các lực lượng giáo dục đạo đức cho HS" 32
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến ”Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức” giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS 38
1.7.1 Nhận thức của cán bộ giáo viên, nhân viên, HS, cha mẹ HS về tầm quan trọng của “Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức” giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS” 38
1.7.2 Đặc điểm tâm lý HS THCS 39
1.7.3 Sự tin tưởng và ủng hộ của cha mẹ HS 39
1.7.4 Hoàn cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội (địa phương) 40
1.7.5 Sự chỉ đạo của cấp trên 40
Tiểu kết chương 1 42
Trang 7Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC
LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN LẬP THẠCH - VĨNH PHÚC 44
2.1 Vài nét về đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc 44
2.1.1 Giới thiệu chung 44
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội huyện Lập Thạch ảnh hưởng đến công tác tổ chức phối hợp hoạt động giáo dục đạo đức học sinh THCS của huyện 45
2.2 Thực trạng giáo dục huyện Lập Thạch 46
2.2.1 Về quy mô trường lớp cấp THCS trong toàn huyện 46
2.2.2 Thực trạng công tác GDĐĐ đạo đức học sinh ở các trường THCS huyện Lập Thạch -Vĩnh Phúc 47
2.3 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS huyện Lập Thạch trong những năm qua 54
2.3.1 Thực trạng về nhận thức và tổ chức quản lí giáo dục đạo đức học sinh 54
2.3.2 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức 59
2.3.3 Thực trạng về tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 60
2.3.4 Thực trạng tổ chức phối kết hợp nhà trường, gia đình và cộng đồng giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (đánh giá của 291 CBQL-GV-HS-CMHS) 62
2.3.5 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức 64
2.4 Đánh giá chung về thực trạng tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS huyện Lập Thạch trong những năm qua 64
2.4.1 Đánh giá thực trạng 65
2.4.2 Nguyên nhân thực trạng 68
Tiểu kết chương 2 72
Trang 8Chương 3 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƯỜNG THCS
HUYỆN LẬP THẠCH - VĨNH PHÚC 74
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 74
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 74
3.1.2 Biện pháp quản lý phải khả thi, phù hợp với thực tiễn nhà trường và địa phương 75
3.1.2 Biện pháp quản lý phải đồng bộ 75
3.2 Các biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng trong hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THCS hiện nay 76
3.2.1 Nâng cao nhận thức về hoạt động GDĐĐ cho mọi lực lượng tham gia công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 76
3.2.2 Kế hoạch hóa hoạt động quản lí phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho toàn trường 81
3.2.3 Xây dụng cơ chế tổ chức và điều hành hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức 83
3.2.4 Tăng cường các điều kiện tài chính, CSVC phục vụ hoạt động giáo dục đạo đức 89
3.2.5 Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia giáo dục đạo đức cho HS 92
3.2.6 Tăng cường kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục đạo đức học sinh 93
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 95
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Khuyến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CMHS Cha mệ học sinh GDĐĐ Giáo dục đạo đức GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp GVCN Giáo viên chủ nhiệm
KHCN Khoa học công nghệ
QLGD Quản lý giáo dục THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TNCS HCM Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh TNTP HCM Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh TPTĐ Tổng phụ trách đội
TTCM Tổ trưởng chuyên môn XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Số liệu trường THCS trong huyện Lập Thạch năm học 2013 -
việc thực hiện giáo dục đạo đức học sinh theo các nhóm giá
trị đạo đức 49Bảng 2.6: Đánh giá của giáo viên về các hình thức giáo dục đạo đức 51Bảng 2.7: Những biểu hiện yếu kém về đạo đức của học sinh trường ở
03 trường THCS khảo sát 52Bảng 2.8: Thực trạng thi hành kỉ luật học sinh ở 03 trường THCS nói
trên trong hai năm học từ 2012 - 2013, 2013-2014 54Bảng 2.9: Đánh giá về hiệu quả của các biện pháp quản lí giáo dục đạo
đức của trường THCS Ở Lập Thạch trong 02 năm học
2012-2013, 2013-2014 55
Bảng 2.10: Đánh giá về hiệu quả của các biện pháp quản lí giáo dục
đạo đức của trường THCS Ở Lập Thạch trong 02 năm
học 2012-2013, 2013-2014 56
Bảng 2.11: Đánh giá của học sinh về ảnh hưởng của các lực lượng tham
gia giáo dục đạo đức học sinh 57
Bảng 2.12: Đánh giá của CBQL về thực trạng công tác xây dựng kế
hoạch giáo dục đạo đức(Kế hoạch có hiệu quả: kịp thời, cụ
thể, khoa học, phù hợp) 60 Bảng 2.13: Đánh giá của 291 CBQL-GV-CNV-CMHS các nội dung tổ
chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức đã làm
tốt trong 2 năm qua 61
Bảng 2.14: Mức độ hiệu quả của sự phối hợp giữa nhà trường với gia
đình và xã hội nhằm GDĐĐ cho HS 63
Bảng 2.15: Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học
sinh (291 CBQL-GV-HS-CMHS) 64
Bảng 2.16: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đạo
đức của học sinh (đánh giá của 291 CBQL-GV-HS-CMHS) 69Bảng 3.1: Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản
lý được đề xuất 96
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý 12
Sơ đồ 1.2 Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường thcs 41Biểu đồ 2.1: Mức độ % các nội dung tổ chức phối hợp GDĐĐ đã thực
hiện tốt 65
Trang 12Hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã thu được những thành tựu vô cùng to lớn, đáng tự hào trong đó có GD&ĐT Xong mặt trái của cơ chế thị trường cũng có những biểu hiện đáng lo ngại trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn là những vấn đề xã hội quan tâm
Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Có tài mà không có đức là người vô
dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Bác xem đạo đức là
cái gốc để nên người, làm người Trước lúc đi xa, Người căn dặn Đảng ta: “Cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ thành những người kế thừa chủ nghĩa xã hội vừa “Hồng” vừa “Chuyên”
Chính vì vậy, nghị quyết TW2 khoá VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận HS, SV có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão, lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” trong đó có học sinh THCS
Thực tế cho thấy xã hội, gia đình và ngay cả một bộ phận cán bộ quản lý
và giáo viên vẫn coi nhẹ việc giáo dục đạo đức cho học sinh, chủ yếu vẫn coi trọng việc dạy chữ hơn việc dạy người Hoạt động quản lý của nhà trường, cụ thể là của hiệu trưởng thường tập trung nhiều vào việc quản lý hoạt động dạy học, còn lúng túng trong việc tổ chức phối hợp các lực lượng GDĐĐ, xây dựng
Trang 13môi trường giáo dục toàn diện kết hợp được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng GDĐĐ trong và ngoài nhà trường
Ở các trường THCS huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc, vấn đề GDĐĐ đã được các nhà trường quan tâm ở một số khía cạnh như: Xây dựng hệ thống các nội quy, quy định của nhà trường, thiết lập quy tắc ứng xử trong giao tiếp giữa thầy với trò, giữa thầy với thầy, giữa học sinh với học sinh… Tuy nhiên các nhà trường vẫn chưa đầu tư, quan tâm một cách đầy đủ, chưa thực sự chú trọng
và xem việc GDĐĐ cho HS là trách nhiệm của gia đình hoặc phó mặc cho GVCN hay tổng phụ trách đội…mà trưa biết tổ chức phối hợp các lực lượng trên tạo thành một khối đoàn kết thống nhất trong việc GDĐĐ cho học sinh Muốn GDĐĐ nói riêng và phát triển nhân cách của HS nói chung cần tạo ra sự thống nhất, đồng thuận, tác động của toàn xã hội cần xây dựng được một môi trường giáo dục lành mạnh, xong rất tiếc hiện nay, ở nhiều nơi, việc tổ chức phối hợp các lực lượng GD giữa nhà trường - gia đình - xã hội chưa được thường xuyên và điều quan trọng chưa xác định được mục tiêu, nội dung, chưa xác định được một cơ chế tổ chức thống nhất, đồng thuận toàn xã hội, Lập Thạch - Vĩnh Phúc cũng trong thực trạng đó
1.2 Về lý luận
Vấn đề phối hợp gia đình nhà trường và xã hội trong việc giáo dục HS nói chung và GD Đ Đ HS nói riêng đã có nhiều tài liệu nghiên cứu và tổng kết thực tiễn Tuy nhiên trong khoa học quản lý giáo dục, nhất là quản lý nhà trường, vấn đề quản lý của hiệu trưởng trong việc tổ chức phối hợp các lực lượng GD Đ Đ cho HS THCS vẫn là vấn đề còn ít được nghiên cứu
Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn làm sáng tỏ vai trò của nhà trường - gia đình - xã hội trong việc GDĐĐ, phát triển nhân cách cho trẻ
em Đồng thời thấy được tầm quan trọng của việc tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trong hoàn cảnh phức tạp hiện nay
vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục
đạo đức cho học sinh ở trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 142 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm tạo ra sự thống nhất các lực lượng GD Đ Đ cho học sinh ở Trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác tổ chức phối hợp các lực lượng trong GD Đ Đ cho học sinh THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh của hiệu trưởng ở Trường THCS - huyện Lập Thạch - Vĩnh phúc trong giai đoan hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo
đức cho học sinh ở Trường THCS
4.2 Khảo sát đánh giá thực trạng việc tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục
đạo đức cho học sinh của hiệu trưởng ở các Trường THCS Huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc
4.3 Đề xuất một số biện pháp của hiệu trưởng THCS nhằm tổ chức phối hợp
các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THCS Huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS Huyện Lập Thạch - Tỉnh Vĩnh Phúc còn nhiều hạn chế do rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan trong đó có nguyên nhân cơ bản là công tác tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh chưa tốt
Nếu các trường THCS trên địa bàn huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc đề
ra và áp dụng việc tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học
sinh một cách phù hợp thì sẽ nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học
sinh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay
Trang 156 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu tại ba trường THCS của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc: Trường THCS Hợp Lý, trường THCS Quang Sơn, trường Thái Hoà
6.2 Giới hạn về khách thể khảo sát
- 06 cán bộ quản lý ở 03 trường THCS nói trên
- 60 giáo viên 03 trường THCS nói trên
- 200 học sinh 03 trường THCS nói trên
- 25 cha mẹ học sinh đang học tại 03 trường THCS nói trên
6.3 giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những hoạt động và cách Tổ chức phối
hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh: Ban giám hiệu (hiệu trưởng),
GVCN, đoàn - đội, gia đình (hội cha mẹ học sinh), các tổ chức xã hội tham gia
giáo dục tại địa phương của trường
7 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu, đó là:
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá trong quá trình nghiên cứu các tài liệu: Các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của ngành Giáo dục, sách báo, tạp chí… để xác định những vấn đề lí luận cho vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trong nghiên cứu này, sử dụng các phương pháp định tính và định lượng nhằm thu thập thông tin và dữ liệu nghiên cứu, với các phương pháp nghiên cứu
Trang 167.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Tác giả trực tiếp phỏng vấn các đối tượng bao gồm: Cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh ở trường THCS và một số CMHS
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Tác giả sử dụng ba bộ phiếu điều tra bằng bảng các câu hỏi cho ba nhóm đối tượng
- Nhóm 1: Nhóm các cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên nhà trường ;
- Nhóm 2: Nhóm cha mẹ học sinh;
- Nhóm 3: Nhóm các em học sinh
Thông qua phiếu điều tra để khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh
và cha mẹ học sinh về giáo dục đạo đức cho HS của nhà trường THCS
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Tham khảo các tài liệu báo cáo hằng năm, qua trao đổi, phỏng vấn nhằm thu thập kinh nghiệm của cán bộ quản lý các trường THCS Hợp Lý, THCS Quang Sơn, THCS Thái Hoà, huyện Lập Thạch về tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho HS mà các trường đã có kinh nghiệm nhất định
7.2.6 Phương pháp khảo nghiệm, thăm dò
Sau khi đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh,
đề tài lấy ý kiến của chuyên gia (một số CBQL các cấp, giáo viên có kinh nghiệm ) về tính phù hợp và khả thi của các biện pháp này
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo
đức cho học sinh ở trường THCS
- Chương 2: Thực trạng tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức
cho học sinh ở trường THCS huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc
- Chương 3: Biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức
cho học sinh ở trường THCS huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Các nước trung quốc, Malaysia, Singapor, Ấn độ, Đức, Nhật Bản, Mĩ đã xác định và đưa GDĐĐ vào hệ thống giáo dục quốc gia và coi đó là vấn đề quan trọng để giáo dục con người toàn diện
- Năm 1991 ở Trung Quốc đã có Hội nghị quốc gia về sự phối hợp các ban ngành trong việc giáo dục học sinh ngoài nhà trường các lực lượng tham, gia có: Bộ giáo dục, ngành văn hóa, thể dục thể thao, công đoàn, đoàn thanh niên, Ủy ban Phụ nữ và nhiều ban ngành liên quan khác, đặc biệt là vai trò của các cung văn hóa thiếu nhi… (China Education and Research Network, Basiac Education in China (VI) - After- School Edcation (1/01/2001)
- Ở Singpore những năm gần đây, các “Hoạt động hợp tác ngoại khóa” (Co- currcular activity) của HS trung học phát triển mạnh mẽ Việc nghiên cứu đưa các hoạt động vào thực tiễn ngày càng phong phú thì sự phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục HS cũng ngày thêm đa dạng Đó các tổ chức Nhóm Chữ thập đỏ (Red Cross), nhóm quân sự (Military Band), Hiệp hội hướng đạo Singapore (The Singapore Scout Asociation), Nữ hướng dẫn viên Singapore (Girl Guides Singapore), các Câu lạc bộ Thể thao, Văn nghệ, Khiêu vũ, Nhiếp ảnh… Các hoạt động ngày đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và các lực lượng xã hội để giúp đỡ cho các hoạt động của HS đạt kết quả tốt - cũng có nghĩa là đạt hiệu quả giáo dục cao… (ISS International School (Singapore) (http://www ericdigests.org/1974-4/daily.htm)
- Ở Nhật Bản các “Hoạt động ngoại khóa” (Extracurricular Activities) cũng được tổ chức phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội rất phong
Trang 18phú, hình thành nên các Câu lạc bộ: CLB các HS cũ của trường, CLb thể thao (bóng đá, bòng chuyền, bóng rổ, trượt tuyết, bơi lội, bắn cung,…), các CLB Văn hóa - Nghệ thuật (Hội hoạ, nhiếp ảnh, Sân khấu, điện ảnh,…), các CLB khoa học (Toán, Lý, Hóa, Tin học, CLB sáng tạo…), (Daily life in Japanese High School ERIC Digest 2000 (http://www Ericdigests.org./1974 -4/daily.htm)
- Tài liệu “cẩm nang giáo dục đạo đức cho học sinh” do Bộ giáo dục Nhật Bản xuất bản năm 1963 nói về những ứng xử và thái độ của học sinh trong cuộc sống
- Nghiên cứu “giáo dục đạo đức ở trường THCS sử dụng các tình huống thực trong cuộc sống” của tiến sĩ giáo dục học Balakarishman trường Đại học Wellington ở Malaysia năm 2009, nói về những thái độ và phản ứng của học sinh về các hành vi được coi là thiếu đạo đức trong xã hội qua đó đề ra các biện pháp để GDĐĐ cho HS
- Bài báo “giáo dục đạo đức trong xã hội ở singapor” do tác giả S.Gopinathan được unesco trích dẫn năm 1980 bài báo nói về một cuộc điều tra
về phối hợp với gia đình trong quá trình giáo dục đạo đức trong các trường học
ở Singapore
- Ở Ấn Độ bài viết “tôn giáo và GDĐĐ ở Ấn Độ” của tác giả nhà văn nhà báo tiến sĩ Ashok Maitreya, nói về tác dụng của GDĐĐ trong việc chấm dứt xung đột sắc tộc, tội phạm, tham nhũng và nghèo đói ở Ấn Độ
- Cuốn sách “Giáo dục đạo đức ở Mĩ” của tác giả B Mcclellan EdWard tác giả đã hệ thống lại vai trò và phương pháp G D Đ Đ ở Mĩ từ thời còn là thuộc địa cho đến ngày nay ở các trường học của Mĩ, trong đó có nói đến sự phối hợp với gia đình và xã hội trong GG ĐĐ cho HS
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước
- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ cho lớp trẻ Bác nói: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên” Bác là tấm gương sáng ngời về đạo đức, là hình ảnh mẫu mực kết
Trang 19tinh những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người Việt Nam.Và ngày nay, toàn Đảng toàn dân ta đang phấn đấu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
- Hội thảo “giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh sinh viên thông qua việc đẩy mạnh công tác phối hợp gia đình, nhà trường và
xã hội” Được BGD và ĐT tổ chức ngày 20/8/2012 tại Hà Nội dưới sự chủ trì của thứ trưởng BGD và ĐT Trần Quang Quý đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề cũng như chỉ ra cách tổ chức các lực lượng sao cho hiệu quả Đồng thời nhiều văn bản được ban hành về GDĐĐ đều có đề cập đến phối hợp các lực lượng GD Đ Đ cho học sinh:
- Thông tư 58/2011/TT-BGD và ĐT 12/12/2011 của BGD và ĐT ban hành quy chế đánh giá xếp loại học sinh THCS, THPT về hạnh kiểm quy định tại chương II của quy chế
- QĐ ban hành quy định về công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV trong các trường học số 50/2007/BGD và ĐT ngày 29/8/2007
- Thông báo số 314/TB - BGD và ĐT ngày 12/5/2014 kết quả hội thảo toàn quốc về công tác GD Đ Đ, lối sống cho HSSV đề ra một số giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm đổi mới GD Đ Đ lối sống cho HSSV
- Báo điện tử Vĩnh Phúc 24/11/2011 nói về vai trò của nhà trường trong việc phối hợp các lực lượng xã hội GDĐĐ học sinh phổ thông hiện nay
Chúng ta có thể thấy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ngày càng được các nhà khoa học, các nhà giáo dục và cả xã hội quan tâm Phần nhiều các tác giả đều khẳng định công tác quản lý giáo dục đạo đức còn chưa được coi trọng đúng mức, chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh chưa cao,
số lượng học sinh sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, coi thường luân thường đạo lí, mờ nhạt lí tưởng sống, xa lạ với các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, xa vào các tệ nạn xã hội, thậm trí vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng
Trang 20Nguyên nhân của tình trạng trên ở đâu? Trách nhiệm của nhà trường phải làm gì? Để hạn chế tình trạng trên và nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS trong địa bàn huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc cần phải có những biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh một cách khoa học, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn nhà trường và địa phương
Tóm lại từ những phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “Tổ
chức phối hợp các lực lượng GDĐĐ cho học sinh ở trường THCS huyện Lập Thạch - tỉnh Vĩnh Phúc” là thiết thực góp phần tăng cường Tổ chức phối hợp các lực lượng GDĐĐ cho học sinh ở trường THCS một cách hiệu quả hơn
1.2 Quản lý và quản lý nhà trường
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Định nghĩa quản lý có thể xét từ nhiều góc độ và các quan điểm tiếp cận khác nhau
Nghiên cứu về mặt quản lý có rất nhiều quan niệm khác nhau Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lý, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung phương thức và mục đích của quá trình quản lý Từ điển tiếng Việt
“Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”
Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) nêu bản chất của hoạt động này trong thực tiễn Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự trông coi, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đưa vào thế hệ “phát triển”
Theo C.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” C.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại C.Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà
Trang 21những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [12]
Theo W.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm,và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Theo ông có bốn nguyên tắc quản lý khoa học Theo ông có bốn nguyên tắc quản lý khoa học: [12]
1 Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành;
2 Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương pháp khoa học;
3 Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn;
4 Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản lý [12]
Theo Henry Fayol: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mặt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”[4] Ông đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành năm chức năng cơ bản: “Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra” và sau này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Ông đã đưa ra mười bốn nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội… Những cống hiến cảu ông về quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn [12]
Trang 22Như vậy, quản lý là quá trình tác động có ý thức (có mục đích, có tổ chức) của chủ thể quản lý tới khách thể, thực hiện các chức năng quản lý nhắm đưa hoạt động của tổ chức đạt các mục tiêu GD đã xác định
Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra [5]
1.2.1.2 Các chức năng cơ bản của quản lý
Trong quá trình quản lý đã có nhiều hệ thống phân loại chức năng quản lý, song có thể khái quát thành các chức năng cơ bản là:
- Lập kế hoạch: là chức năng khởi đầu, là tiền đề, là điều kiện của mọi quá trình quản lý Kế hoạch là bản thiết kế, trong đó xác định con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó
Có ba nội dung chủ yếu của nội dung kế hoạch hoá:
+ Xác định, hình thành các mục tiêu phát triển của tổ chức, của hoạt động
và các mục tiêu của quản lý tương thích
+ Xác định chương trình hành động, các biện pháp cần thiết để đạt được các mục tiêu của quản lý và các mục tiêu phát triển của tổ chức
+ Xác định và phân phối các nguồn lực, các điều kiện cần thiết
-Tổ chức: là quá trình hình thành các quan hệ và cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực, các điều kiện cho việc thực hiện thành công kế hoạch, chương trình hành động và nhờ đó mà đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công việc của chúng và sau đó là vấn đề nhân sự, gồm việc xác định và nhóm gộp các hoạt động, giao phó quyền hành của người quản lý tạo ra sự phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức một cách khoa học, hiệu quả
Trang 23- Chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập; cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có quá trình tác động chỉ đạo Chỉ đạo bao hàm cả việc liên kết các thành viên và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ
- Kiểm tra: là chức năng của quản lý nhằm đánh giá, phát hiện và điều chỉnh kịp thời giúp cho hệ quản lý vận hành tối ưu, đạt được mục tiêu đề ra Kiểm tra nhằm xác định kết quả thực tế so với yêu cầu tiến bộ và chất lượng vạch ra trong kế hoạch; phát hiện những sai lệch, đề ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh kịp thời Kiểm tra không chỉ là giai đoạn cuối cùng của chu trình quản
lý mà luôn cần thiết trong suốt từ đầu đến cuối quá trình thực thi kế hoạch
Ngoài bốn chức năng cơ bản, truyền thống nói trên, nghiên cứu quá trình quản lý trong điều kiện xã hội thông tin, gần đây nhiều công trình đã đưa thông tin quản lý như là một chức năng không thể thiếu
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý 1.2.2 Quản lý nhà trường
1.2.2.1 Nhà trường
“Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy - Trò Trường học là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân,
Trang 241.2.2.2 Quản lý nhà trường
Vai trò của quản lý nhà trường:
“Quản lý kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá lấy tiêu điểm là quản lý giáo dục thì quản lý giáo dục phải lấy nhà trường làm căn bản” [1]
Nội dung khái quát về khái niệm quản lý nhà trường:
“Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.[13]
Quản lý trực tiếp nhà trường bao gồm quản lý quá trình dạy học, giáo dục, tài chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo dục Trong đó quản lý dạy học - giáo dục là trọng tâm [12]
Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm hai loại quản lý:
Một là: Quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định
hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển (các cấp quản lý nhà trường và sự hợp tác, giám sát của xã hội/cộng đồng)
Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ
chức các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra (thực hiện các chức năng quản lý của một tổ chức)
Như vậy, quản lý nhà trường là những tác động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) lên khách thể quản lý (đội ngũ cán bộ quản lý cấp dưới), thực hiện các chức năng quản lý nhắm đưa hoạt động giáo dục của nhà trường đạt
tới các mục tiêu đã xác định
Trong nhà trường, Hiệu trưởng quản lý mọi hoạt động của nhà trường
theo chế độ thủ trưởng Hiệu trưởng là người phụ trách cao nhất của nhà trường
và chịu trách nhiệm về các hoạt động trong nhà trường Đồng thời trong nhà
trường còn có các tổ chuyên môn làm việc theo chế độ tập thể và các hội đồng
Trang 25làm theo chế độ tư vấn để góp ý kiến, tư vấn, trợ giúp thủ trưởng xem xét,
quyết định và thực thi đối với những vấn đề quản lý nhà trường
1.2.2.3 Nội dung cơ bản của quản lý nhà trường
Ở Việt Nam, nội dung của quản lý nhà trường được quy định tại Điều 58 Luật Giáo dục Việt Nam, 2005
Nhà trường có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền;
2 Quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình điều động của cơ quản quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên;
3 Tuyển sinh và quản lý người học
4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật
5 Phối hợp với gia đình người học tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục
6 Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội
7 Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định giáo dục chất lượng
8 Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.2.2.4 Các biện pháp quản lý nhà trường
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể Trong nghiên
cứu khoa học, biện pháp còn được hiểu là cách thức, con đường để đạt một mục tiêu cụ thể
Biện pháp quản lý nhà trường là nội dung, cách thức giải quyết các vấn
đề của nhà trường cúng những lực lượng trong và ngoài nhà trường có liên quan đến tổ chức nhà trường nhằm đưa ra các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục tiến dần đến mục tiêu giáo dục
Trang 26Các biện pháp quản lý nhà trường nhìn chung có thể phân thành bốn nhóm: Nhóm biện pháp tổ chức hành chính
Nhóm biện pháp kinh tế
Nhóm biện pháp giáo dục
Nhóm biện pháp tâm lý giáo dục
Bốn nhóm biện pháp trên là những biện pháp quản lý cơ bản để chủ thể quản lý đạt được mục tiêu quản lý Tuỳ từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng đối tượng mà vận dụng các biện pháp quản lý phù hợp
1.3 Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.3.1 Khái niệm đạo đức
Dưới góc độ Triết học: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất
của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng…” [4]
Dưới góc độ Đạo đức học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên
tắc, chuẩn mực xã hội [20]
Dưới góc độ Giáo dục học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ
của con người với con người [25]
Theo từ điển tiếng Việt: “Những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định
hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [10]
Một trong những người nghiên cứu xây dựng đạo đức mới là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Người gọi là đạo đức cách mạng Khi nói về vai trò của đạo đức cách mạng, Người coi đạo đức là nền tảng “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng”, đạo đức là thước đo lòng cao thượng “lo trước thiên
hạ, vui sau thiên hạ” Những phẩm chất đạo đức trong thời đại ngày nay theo
Trang 27Người là “Trung với nước, hiếu với dân”, “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, “thương yêu con người, quần chúng lao khổ, là khiêm tốn, cầu tiến bộ, chăm lo đến việc chung Khi bàn về phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng, Người luôn dạy phải lấy tự phê và phê bình, phải thành khẩn, phải thường xuyên “Ngọc càng mài càng sáng”, nói đi đôi với làm, phải làm gương, xây phải đi đôi với chống, phải tạo được phong trào, dư luận rộng rãi
Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng luôn luôn là thước đo, là chuẩn mực cho chúng ta rèn luyện, chính vì vậy mà Bộ Chính trị đã phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh” Để toàn dân nghiên cứu, học tập và làm theo Người
Từ những định nghĩa về đạo đức nêu trên, có thể khái quát chung về đạo đức như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính người
trong các quan hệ xã hội, kể cả trong quan hệ lợi ích” [25]
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện
Đạo đức được thể hiện ở hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại trên hai phương diện lịch
sử và đồng đại.Có những giá trị trước đây được coi là chuẩn mực đạo đức xã hội nhưng đến nay là phản giá trị, hay phi đạo đức.Hoặc ở dân tộc này,giai tầng này được coi là giá trị đạo đức chính thống, song ở dân tộc khác, giai tầng khác lại quan niệm ngược lại Do đó, đạo đức có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại
Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dưới những phạm trù:
Hạnh phúc và bất hạnh;
Tính khiêm tốn, sự lễ độ;
Trang 28Tính nguyên tắc, sự kiên tâm;
Tính hào hiệp, sự tế nhị;Tính tiết kiệm, sự giản dị;
Trang 29“Pháp luật là đạo đức tối thiểu Đạo đức là pháp luật tối đa”
Theo triết lý trên thì pháp luật và đạo đức là hai bậc thang của một hành
vi liên quan chặt chẽ với nhau cùng một mục đích làm điều thiện, tránh điều
ác Pháp luật là đạo đức tối thiểu, chung quy lại là không được làm điều ác Đạo đức là pháp luật tối đa, chung quy lại là không những không làm điều ác
mà cần tự nguyện làm điều thiện đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần cho người khác
Xuất phát từ mối liên hệ biện chứng giữa các hình thái ý thức đã trình bày ở trên thì việc giáo dục đạo đức trong nhà trường cần được hiểu theo một khái niệm rộng là bao gồm hành vi đạo đức, hành vi pháp luật và hành vi văn hoá
1.3.2 Khái niệm giáo dục đạo đức
“Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho
họ ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [26]
Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được GD [26]
Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với với GD chính trị - tư tưởng, vì GD chính trị - tư tưởng có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan Mác
- Lênin và định hướng chính trị - xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng cộng sản, cho ý thức hành động đạo đức
Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với GD pháp luật Giáo dục pháp luật có nhiệm vụ giới thiệu cho người học các chuẩn mực về pháp luật
thực hiện các yêu cầu đạo đức
Trang 30Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành những quan điểm cơ bản, những nguyên tắc chuẩn mực của xã hội, nhờ vậy mà con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức trong cộng đồng cũng như
tự đánh giá các hành vi của bản thân mình Công tác GDĐĐ góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với đối tượng GD trong môi trường kinh tế - xã hội nhất định
“Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục”
Trong bài nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I Ngày 12 tháng 6 năm 1956, Bác Hồ đã dạy: “… Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng Có tài phải có đức
Có tài mà không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai…”
Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục hướng nghiệp nhằm hình thành cho học sinh niềm tin, thói quen, hành
vi, chuẩn mực về đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và xây dựng thể hiện được những thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng
“giáo dục đạo đức cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa”
Vì vây, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say
Trang 31mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật
1.3.3 Chức năng của đạo đức
Đạo đức có ba chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi, trong đó chức năng điều chỉnh hành vi là vô cùng quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức xã
hội về mặt đạo đức, các quan điểm đạo đức, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức là kết quả của phản ánh tồn tại xã hội, được con người đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những khuôn mẫu đạo đức, các giá trị đạo đức
Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức đạo đức, chức năng giáo
dục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị và các chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh ý thức, hành
vi đạo đức
Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Cùng với chức năng giáo dục,
chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức có tác dụng làm cho hành vi hoạt động của con người phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng Chức năng nay được thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu trước hết là bản thân chủ thể phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức, thứ hai,tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi khuyến khích, phê phán những biểu hiện cụ thể của hành vi đạo đức.Đây là chức năng xã hội cơ bản, là bước quan trọng trong hình thành nhân cách con người cho xã hội sau này
1.4 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục đạo đức ở trường Trung họ cơ sở
1.4.1 Mục tiêu GDĐĐ
Về nhận thức: “Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước Nắm vững quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp
Trang 32đổi mới của nước nhà Có nhân sinh quan trong sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới” [21]
Về thái độ tình cảm: “Có thái độ tình cảm đúng đắn, trong sáng trong
các mối quan hệ xã hội với mọi người và với môi trường sống, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã hi sinh sương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc Có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức trong xã hội, ủng hộ những việc làm tốt, hợp đạo lí, bày tỏ phẩn ứng trước những hành vi sai trái” [21]
Về hành vi và kỹ năng: “Có thói quen thường xuyên rèn luyện hành vi
đạo đức trong ứng xử trong các vấn đề của các lĩnh vực hoạt động và quan hệ
xã hội tự giác thực hiện các chuẩn mực đạo đức, văn hóa và chấp hành pháp luật Biết sống lành mạnh, trong sáng, thể hiện được tư cách của người học sinh Tích cực đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, thờ ơ với các vấn đề của cuộc sống” [21]
Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục ý thức đạo đức là cung cấp cho người
được giáo dục những tri thức cơ bản về phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực đạo đức trên cơ sở đó giúp họ hình thành niềm tin đạo đức
Giáo dục tình cảm, niềm tin đạo đức: Là khơi dậy ở người được giáo dục
những rung động, xúc cảm đối với hiện thực xung quanh, biết yêu, ghét rõ ràng,
có thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn đối với các tình huống thường gặp trong cuộc sống, trong sinh hoạt tập thể
Giáo dục hành vi thói quen đạo đức: Giáo dục hành vi thói quen đạo đức:
Là một quá trình tổ chức luyện tập, rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh
Trang 33hoạt và trong cuộc sống nhằm tạo được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách và từ đó có thói quen đạo đức bền vững
1.4.3 Nội dung GDĐĐ
- Giáo dục tri thức đạo đức: Về bản chất, tri thức đạo đức là kết quả của
nhận thức đạo đức, là sự phản ánh đời sống đạo đức của xã hội và con người
Tri thức đạo đức thông thường là những tri thức, những quan niệm của con người được hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hoá, khái quát hoá Tri thức đạo đức lí luận là những
tư tưởng, quan điểm đạo đức được hệ thống hoá, khái quát hoá thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù đạo đức Tri thức đạo đức thông thường phản ánh sinh động, trực tiếp, nhiều mặt cuộc sống hàng ngày của con người, thường xuyên chi phối hành vi đạo đức con người của con người trong cuộc sống đó
Giáo dục tình cảm đạo đức: Tình cảm đạo đức là một yếu tố cấu thành,
là một hình thái biểu hiện, một cấp độ của ý thức đạo đức Ở cấp độ này, tình cảm đạo đức biểu hiện ra như là phản ứng tình cảm của con người đối vối các hiện tượng đạo đức Tình cảm đạo đức vừa biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá đạo đức (đúng, sai) vừa biểu hiện xu hướng nhân cách đạo đức (tích cực hay tiêu cực) Người có tình cảm đạo đức phát triển là người nhạy cảm trước cái thiện, cái ác, cái đúng, cái sai, cái xấu, cái đẹp; là người có xúc cảm, có sự rung động trước cái đẹp của tự nhiên, xã hội nhưng cũng sẵn sàng phản ứng mạnh trước cái xấu; có thái độ kiên quyết ủng hộ, bảo vệ cái tốt, lên án, loại bỏ những hiện tượng phi đạo đức
Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, dưới tác động của cơ chế thị trường làm cho mỗi cá nhân phát triển trên nhiều phương diện, đặc biệt là tài năng, trí tuệ Tuy nhiên mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động tiêu cực và làm suy yếu tình cảm đạo đức, tình cảm gắn kết con người với con người, với tập thể
và với xã hội Đời sống đạo đức trong gia đình đang có triều hướng suy giảm
Trang 34gây ảnh hưởng tiêu cực tới sự bền vững cuộc sống gia đình, hạnh phúc của mỗi thành viên, tới tình cảm, niềm tin, đạo đức của con người Do vậy, giáo dục tình cảm đạo đức sẽ góp phần tích cực vào việc khắc phục tình trạng nêu trên, bồi đắp lại những tình cảm đạo đức tốt đẹp của con người trong điều kiện hiện đại
Giáo dục lí tưởng đạo đức: Lí tưởng đạo đức là quan niệm về cái cần
vươn tới và cũng như mọi lí tưởng xã hội khác, lí tưởng đạo đức bao hàm yếu
tố lựa chọn, mong muốn, khao khát vì vậy nó chứa đựng yếu tố tình cảm đạo đức Nó là sự thống nhất giữa tình cảm và lí trí Việc cá nhân lĩnh hội được lí tưởng đạo đức tiên tiến của thời đại vừa khẳng định sự phát triển đạo đức của anh ta vừa là điều kiện bảo đảm chắc chắn nhất cho anh ta trong mọi hoạt động mang ý nghĩa xã hội
Giáo dục giá trị đạo đức: Giá trị đạo đức bao gồm: Giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc, giá trị đạo đức cách mạng và tinh hoa đạo đức nhân loại
Về giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc: Đó là chuẩn mực của người Việt Nam để xác định thiện - ác, phải - trái, tốt - xấu; chi phối lương tâm, hạnh phúc, nghĩa vụ của người Việt Nam Dân tộc Việt Nam trong mấy nghìn năm dựng nước, giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hoá riêng, phong phú, bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp, cao quý, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước; truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, tương thân tương ái “lá lành đùm lá rách”; Việt Nam là một dân tộc có truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu; là một dân tộc ham học hỏi, không ngừng mở rộng đón nhận tinh hoa văn hoá, đạo đức nhân loại
Về giá trị đạo đức cách mạng: Đạo đức cách mạng là “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt nhất Ra sức làm việc cho Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động trên hết, lên trên lợi ích riêng của cá nhân
Trang 35mình Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình cùng đồng chí mình cùng tiến bộ”
Về tinh hoa đạo đức nhân loại: Giá trị đạo đức phương Đông được thể
hiện rõ nét trong Nho giáo, Phật giáo… Trong đạo Nho, mặc dù có những yếu
tố hạn chế nhưng lại chứa đựng nhiều giá trị đạo đức tiến bộ Mặt tích cực của
đạo đức Nho giáo đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp
đời; là lí tưởng về một xã hội bình trị; tức là ước vọng về một xã hội an ninh,
hoà mục, một “thế giới đại đồng; là triết lí nhân sinh, tu thân dưỡng tính… Bên cạnh đó những giá trị đạo đức trong Phật giáo lại thể hiện dưới các góc độ: tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân; nếp sống có đạo đức, giản dị, chăm lo làm điều thiện; tinh thần bình đẳng, dân chủ, chất phác chống lại sự phân biệt đẳng cấp; tinh thần đề cao lao động, chống lười biếng
Giáo dục cho học sinh các chuẩn mực đạo đức có thể phân chia thành 5 nhóm:
Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng: Sống có lý
tưởng, có niềm tin, có tình yêu con người, quê hương đất nước
Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện tự hoàn thiện bản thân: Có lòng tự
trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thực, siêng năng, hướng thiện, kìm chế, biết hối hận,
Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người: Nhân
nghĩa, biết ơn, biết kính trọng, yêu thương, khoan dung, vị tha, thủy chung, giữ chữ tín
Nhóm chuẩn mực đạo đức quan hệ với công việc: Trách nhiệm, dũng
cảm, liêm khiết, tôn trong lẽ phải, tôn trọng pháp luật, có lương tâm,
Nhóm chuẩn mực đạo đức quan hệ với môi trường sống: có trách nhiệm
gìn giữ môi trường sống, bảo vệ di sản văn hóa, tài nguyên, vì hòa bình,
Trang 361.4.4 Hình thức tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức thông qua truyền đạt các tri thức đạo đức: Trực tiếp
truyền đạt cho con người hiểu biết từ trình độ thông thường đến trình độ lí luận
về đạo đức để con người tự điều chỉnh hành vi của mình, biết đánh giá hành vi của mình và của người khác
Thông qua các hoạt động tìm hiểu những giá trị đạo đức, giáo dục truyền thống của dân tộc: Qua các hoạt động giáo dục NGLL, sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ, trong giờ dạy của giáo viên bộ môn, hay các hoạt động ngoại khóa các em được tiếp thu các tri thức đạo đức, những giá trị đạo đức để tự nhận thức và điều chỉnh các hành vi đạo đức của chính mình
Giáo dục đạo đức thông qua lao động và hoạt động xã hội: Trong lao động,
con người thể hiện một cách trực tiếp quan hệ của mình với người khác, với xã hội, con người phải giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa mình với người khác và giữa mình với xã hội Cho nên, lao động giúp con người hình thành nhân cách đạo đức Đạo đức của con người trước hết được thẩm định bằng thái độ lao động, hiệu quả lao động, lời nói đi đôi với việc làm
Giáo dục đạo đức thông qua tấm gương đạo đức: Nêu gương về đạo đức
đã được biết từ lâu trong lịch sử như là một yêu cầu, một phương thức giáo dục đạo đức Khổng tử coi đức trị là phương thức quản lý xã hội tốt nhất, đề cao về biểu hiện gương mẫu của người cầm quyền Tu thân và gương mẫu (lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ) là yêu cầu đạo đức hàng đầu của nho giáo đối với việc giáo dục con người và quản lý xã hội Tuy nhiên, nho giáo chỉ đặt trọng tâm nêu gương vào những người quản lý xã hội (Quân tử) Đó là những người đồng thời là chủ thể của giáo dục đạo đức, nên rèn luyện (tu thân) và nêu gương là yêu cầu và thiên chức của họ
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc sinh thời, Người đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục con người, sự nghiệp trồng người Trong giáo dục đạo đức, Người rất coi trọng đến nêu gương Người đã vận dụng phương thức của
Trang 37người xưa: “dĩ nhân di giáo, dĩ ngôn nhi giáo”, tức là trước hết phải giáo dục
bằng tấm gương sống của chính mình đã, sau đó mới giáo dục bằng lời nói Hồ Chí Minh nhiều lần căn dặn giáo dục đạo đức cho học sinh là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Vì vậy, để giáo dục, rèn luyện học sinh về đạo đức trước hết những người làm công tác giáo dục nói chung và đảng viên, cán bộ, công
chức nói riêng phải luôn nêu gương về đạo đức, tức là “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính”
Những tấm gương ứng xử đạo đức hàng ngày giữa con người với con người trong gia đình cũng như ngoài xã hội Thực tế chứng minh: Không thể nói đến hiệu quả của việc giáo dục đạo đức nếu người đi giáo dục lại không phải là người mô phạm, không tuân theo những chuẩn mực đạo đức Chủ tịch
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, lòng yêu nước, về đức hi sinh, về tinh thần nhân văn cao cả Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay là sự thể hiện sinh động phương pháp giáo dục đạo đức theo hình thức nêu gương
Giáo dục đạo đức thông qua hình tượng nghệ thuật:Giáo dục đạo đức
bằng hình tượng nghệ thuật sẽ đi vào lòng người một cách tự nguyện, vì vậy nó
có hiệu quả rộng lớn và lâu bền Nghệ thuật ở đây là sự thể hiện những giá trị chân - thiện - mĩ của dân tộc và của thời đại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: “Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hoá, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng
do Đảng lãnh đạo Khuyến khích tự do sáng tác, nghệ thuật vì sự hoàn thiện của con người, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp, đề cao tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, phấn đấu làm cho dân giàu nước mạnh, phê
phán những thói hư tật xấu, cái độc ác, cái thấp hèn”
1.4.5 Phương pháp giáo dục đạo đức
Phương pháp tác động vào nhận thức tình cảm: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn
Trang 38Phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn: giao việc, rèn luyện, tập thói quen…
Phương pháp kích thích tình cảm và hành vi: thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt…
1.5 Phối hợp và Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức
1.5.1 Phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức
Phối hợp các lực lượng giáo dục là sự cùng bàn bạc, hỗ trợ lẫn nhau của
các lực lượng xã hội nhằm tạo ra sự thống nhất về nhận thức, hành động trong công tác giáo dục của tát cả các tổ chức,cá nhân trong xã hội trong đó có nhà trường chủ động lên kế hoạch hoạt động phối hợp và có ký kết giao ước thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục học sinh và xác định trách nhiệm, nhiệm vụ của nhà trường và các tổ chức khi tham gia các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường theo một kế hoạch đã được bàn bạc
1.5.2 Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức học sinh
Thuật ngữ ”tổ chức” ở đây được dùng như 1 chức năng của QL, được dùng như một động từ, chỉ các hành động quản lý Nhưng khi triển khai tổ chức
GD Đ Đ cho HS thì lại cần vận dụng cả các chức năng quản lý Như vậy khái niệm ”tổ chức” được coi như tương đương khái niệm ”quản lý”
Theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội theo kế hoạch đã bàn bạc và được cam kết nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội có sự đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động, lấy ý kiến đánh giá phản hồi từ phía học sinh, GV, các lực lượng và hiệu quả của các hoạt động đã thực hiện
Qua kết quả nghiên cứu về giáo dục đạo đức, tác giả có thể rút ra khái
niệm tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức như sau:
Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho HS THCS là hoạt động nhằm xây dựng một cơ cấu tổ chức và xác định một cơ chế phối hợp hoạt động của các lực lượng trong và ngoài trường nhằm thống nhất nhận thức, phát huy tiềm năng của xã hội (về người, ngân sách, cơ sở vật chất, các giá trị
di sản văn hoá và tinh thần…) để tác động tích cực đến đạo đức HS
Trang 391.5.3 Nội dung Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho HS THCS là
Nội dung Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho HS THCS là giáo dục đạo đức được xây dựng dựa trên bốn chức năng của quản lý
nói chung là: Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện,chỉ đạo và kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức
Xây dựng kế hoạch Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức
cho HS THCS là giáo dục đạo đức: Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức
trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như
cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường để xác định mục tiêu và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động giáo dục đạo đức
Có ba nội dung chủ yếu của việc xây dựng kế hoạch quản lí giáo dục đạo đức là:
* Xác định hình thành mục tiêu, phương hướng đối với nhà trường về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
* xác định và đảm bảo (Có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của nhà trường để đạt được những mục tiêu đề ra về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
* Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu
đã đề ra
Để lập kế hoạch phải trả lời 9 câu hỏi sau đây; câu trả lời sẽ tương ứng với một bước lập kế hoạch
Bước 1: Chúng ta muốn gì hay mục tiêu của chúng ta là gì?
Bước 2: Chúng ta đang làm gì để đạt được điều chúng ta muốn
Bước 3: Những yếu tố tác động nào ở bên ngoài chúng ta?
Bước 4: Chúng ta có thể làm được những gì với nguồn lực đó?
Bước 5: Chúng ta có thể làm được những gì cần phải làm?
Trang 40Bước 6: Nếu chúng ta tiếp tục công việc đang làm liệu có đạt dược điều mong muốn hay không?
Bước 7: Đây có phải là cái chúng ta sẽ làm để đạt được mục đích hay không? Bước 8: Làm nhé?
Bước 9: Kiểm tra xem chúng ta có làm đúng hay không?
Như vậy, để Xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh chúng ta cần thiết phải xác định mục đích, các biện pháp để đạt mục đích, xác định các yếu tố ảnh hưởng từ bên trong, bên ngoài, dự báo những biến đổi, vận hội, nguy cơ và xác định những khó khăn, thuận lợi để xây dựng kế hoach cho phù hợp với nhà trường, địa phương trong điều kiện thực tế, để kế hoạch có thể thực hiện thành công, đạt được mục đích đề ra
Thực hiện kế hoạch Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức
sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh cần được tiến hành theo 5 bước như sau:
* Lập danh sách những công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu về giáo dục đạo đức của nhà trường
* Phân chia toàn bộ những công việc thành những nhiệm vụ cụ thể để các thành viên hay các bộ phận trong trường thực hiện một cách thuận lợi và
hợp lôgic, có thể gọi đây là bước phân công lao động