1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên

134 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiến trình phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành các nguồn lực c

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

–––––––––––––––––––––––––––––––––

TRẦN THỊ LINH

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

–––––––––––––––––––––––––––––––––

TRẦN THỊ LINH

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ QUANG DỰC

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Trần Thị Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài “Phát triển nguồn nhân lực

trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên” tôi đã nhận

được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa và các thầy cô giáo Khoa Sau đại học và Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và nghiên cứu các nội dung trong chương trình đào tạo Thạc sỹ

Để có được kết quả nghiên cứu, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của TS Lê Quang Dực, là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các phòng, ban thuộc Văn phòng Tỉnh ủy; Ban Tổ chức Tỉnh uỷ; Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Sở Nội vụ, Sở Lao động- Thương binh Xã hội tỉnh; Trường Chính trị tỉnh; Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh; Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên và một số cơ quan doanh nghiệp trên địa bàn đã giúp đỡ tận tình, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành luận văn này

Ngoài ra, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên và tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần của của lãnh đạo, đồng nghiệp đơn vị công tác, gia đình, bạn bè, người thân

Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Thái Nguyên, ngày 16 tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Thị Linh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 4

1.1 Cơ sở lý luận phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa 10

1.1.3 Nội dung chủ yếu phát triển nguồn nhân lực 14

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực 15

1.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới và Việt Nam 18

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam 18

1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam 23

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra 29

Trang 6

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 29

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 33

2.2.3 Phương pháp phân tích 36

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 40

2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá số lượng nguồn nhân lực 40

2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 40

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 42

3.1 Những điều kiện cơ bản để phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên 42

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 42

3.1.2 Điều kiện về chính trị, kinh tế 44

3.1.3 Điều kiện về văn hoá – xã hội 50

3.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2013 52

3.2.1 Thực trạng về nguồn nhân lực 52

3.2.2 Thực trạng về sử dụng nguồn nhân lực ở tỉnh Thái Nguyên 62

3.2.3 Thực trạng công tác giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH tỉnh Thái Nguyên 77

3.3 Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên 88

3.3.1 Những thành tựu trong phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Thái Nguyên 88

3.3.2 Những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh 88

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 93

4.1 Quan điển, mục tiêu, phương hướng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 93

4.1.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 93

4.1.2 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 95

Trang 7

4.1.3 Phương hướng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 96

4.1.4 Dự báo cung, cầu nhân lực và nhu cầu đào tạo đến năm 2020 97

4.2 Một số giải pháp cơ bản để phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 102

4.2.1 Nâng cao nhân thức về vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với sự nghiệp CNH-HĐH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 102

4.2.2 Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH 103

4.2.3 Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực 104

4.2.4 Đổi mới công tác đào tạo và dạy nghề, nâng cao trình độ, kỹ năng cho nguồn nhân lực 107

4.2.5 Huy động nguồn vốn đảm bảo cho yêu cầu phát triển nguồn nhân lực 108

4.2.6 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực 109

4.3 Một số kiến nghị 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Phụ lục 116

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ĐH, CĐ, TC, SC : Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Sơ cấp

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Điều tra theo ngành nghề tại tỉnh Thái Nguyên 30

Bảng 2.2 Điều tra các vùng đại diện cho tỉnh Thái Nguyên 31

Bảng 3.1 Đơn vị hành chính phân theo huyện, thành phố, thị xã 42

Bảng 3.2 Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) theo các ngành kinh tế của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2013 47

Bảng 3.3 Cơ cấu các ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2013 48

Bảng 3.4 Dân số và tỷ lệ dân số giai đoạn 2005-2013 53

Bảng 3.5 Cơ cấu dân số tỉnh Thái Nguyên phân theo giới tính 54

Bảng 3.6 Tỷ lệ tăng dân số và cơ cấu dân số theo khu vực giai đoạn 2005-2012 55

Bảng 3.7 Dân số và nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2013 57

Bảng 3.8 Trình độ học vấn phổ thông của lực lƣợng lao động (đang làm việc) tỉnh Thái Nguyên 59

Bảng 3.9 Trình độ học vấn phổ thông của lực lƣợng lao động ngành nông lâm, thủy sản tỉnh Thái Nguyên 59

Bảng 3.10 Trình độ học vấn phổ thông của lực lƣợng lao động ngành công nghiệp, xây dựng tỉnh Thái Nguyên 60

Bảng 3.11 Trình độ học vấn phổ thông của lực lƣợng lao động ngành dịch vụ tỉnh Thái Nguyên 60

Bảng 3.12 Lực lƣợng lao động (đang làm việc) theo trình độ đào tạo 61

Bảng 3.13 Dân số trong độ tuổi lao động không hoạt động kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên 62

Bảng 3.14 Dân số và lao động đang làm việc trong ngành KTQD 63

Bảng 3.15 Tình hình lao động đang có việc làm qua các năm 2005-2013 tại tỉnh Thái Nguyên 64

Bảng 3.16 Lực lƣợng lao động đang có việc làm phân theo ngành kinh tế tại Thái Nguyên 64

Bảng 3.17 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động 65

Trang 10

Bảng 3.18 Số lượng, chất lượng công chức, viên chức đến 31/12/2013 tại tỉnh

Thái Nguyên 68

Bảng 3.19 Trình độ nhân lực khoa học công nghệ theo nhóm tuổi ở tỉnh Thái Nguyên năm 2013 71

Bảng 3.20 Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi khu vực thành thị tỉnh Thái Nguyên 2005- 2013 74

Bảng 3.21 Tổng số lao động được giải quyết việc làmở tỉnh Thái Nguyênnăm 2005 - 2013 75 Bảng 3.22 Năng suất lao động xã hội giai đoạn 2005-2010 tỉnh Thái Nguyên(theo GDP hiện hành) 76

Bảng 3.23 Hệ thống trường, lớp, giáo viên, học sinh giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên 78

Bảng 3.24 Hệ thống đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề tỉnh Thái Nguyên 79

Bảng 3.25 Kết quả đào tạo cán bộ, công chức tỉnh Thái Nguyênnăm 2005 - 2013 82

Bảng 3.26 Kết quả đánh giá của các cá nhân đang làm việc tại các cơ quan khối ngành khảo sát tỉnh Thái Nguyên năm 2013 87

Bảng 4.1 Dự báo dân số của Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2020 và Cơ cấu dân số theo giới tính 98

Bảng 4.2 Dự báo cung lao động giai đoạn 2014-2020 98

Bảng 4.3 Dự báo cơ cấu lực lượng lao động theo giới 99

Bảng 4.4 Dự báo cầu lao động toàn tỉnh giai đoạn 2014-2020 99

Bảng 4.5 Dự báo cầu lao động trong các ngành cấp I 100

Bảng 4.6 Dự ước nhu cầu lao động qua đào tạo tỉnh Thái Nguyên 101

Bảng 4.7 Dự ước cầu lao động theo trình độ chuyên môn tỉnh Thái Nguyên 101

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng GDP các nhóm ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyênnăm

2005 - 2013 48

Biểu đồ 3.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên 2005-2013 49

Biểu đồ 3.3 Dân số tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2013 54

Biểu đồ 3.4 Nguồn nhân lực (lao động) Thái Nguyên phân theo khu vực 56

Biểu đồ 3.5 Lực lượng lao động đang có việc làm phântheo thành phần kinh tế năm 2013 tỉnh Thái Nguyên 67

Biểu đồ 3.6 Chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng lao độngtrong các doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên 70

Biểu đồ 3.7 Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN theo trình độ đào tạo tỉnh Thái Nguyên năm 2013 71

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bất kỳ một thời đại nào, một quốc gia nào cũng đều quan tâm đến nguồn nhân lực Trong tiến trình phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành các nguồn lực của nền kinh tế, góp phần quan trọng đến sự tồn tại

và phát triển của một quốc gia, một địa phương hay vùng lãnh thổ

Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi rất lớn đến phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) khẳng định: "Con người và nguồn lực con người là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" Khẳng định lại và tiếp tục phát triển thêm, Đại hội Đảng lần thứ X (2006) yêu cầu "Phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng tốt nhất nguồn lực của Nhà nước Điều có ý nghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân, của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân - một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta - để góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội" Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) coi “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân ”

Thái Nguyên là tỉnh có nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, con người, tài nguyên và các tiềm năng phát triển khác Để khai thác có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực sẵn có cũng như tận dụng được những cơ hội và điều kiện thuận lợi trong hoàn cảnh mới, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng tỉnh Thái Nguyên cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đã đề ra Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, nền kinh tế của tỉnh luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, quy mô không ngừng được nâng lên, vị thế của tỉnh từng bước được khẳng định, tạo tiền đề để tỉnh tiếp tục đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đạt được những thành tựu quan trọng trên, đó là Thái

Trang 13

Nguyên đã tập trung phát triển nguồn nhân lực, coi đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài Phát triển nhân lực của tỉnh luôn gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế- xã hội Trong những năm gần đây Thái Nguyên đã có nguồn nhân lực tương đối dồi dào, tốc độ phát triển nguồn nhân lực ngày càng tăng về số lương

và chất lượng, dân số trong độ tuổi lao động năm 2013 là 802.070 người, chiếm 69% tổng dân số toàn tỉnh; lực lượng lao động thuộc loại trẻ, tỷ lệ thanh niên từ 15-

29 tuổi chiếm 43% trong tổng số dân số trong độ tuổi lao động, trình độ học vấn của

nguồn nhân lực cao hơn mức bình quân của vùng và cả nước Tuy nhiên, chất lượng

nhân lực của Thái Nguyên vẫn còn thấp, nhất là nhân lực chất lượng cao, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thiếu đội ngũ có trình độ chuyên môn giỏi trong các lĩnh vực, thiếu cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; khả năng tự tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động còn hạn chế

Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, tận dụng những cơ hội và vượt qua

thách thức đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế; để tạo tiền đề phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, nguồn nhân lực Thái Nguyên cần được phát triển toàn diện cả về số lượng và chất

lượng Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực trong sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên nhằm góp phần đưa tỉnh

Thái Nguyên ngày càng phát triển

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực trong

sự nghiêp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên cơ sở đó vận dụng, làm rõ những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực tại địa phương

- Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước và các tỉnh về phát triển nguồn nhân lực cho tỉnh Thái Nguyên

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua

Trang 14

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triểt nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu, phân tích thực trạng nguồn nhân lực trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Về không gian: Chủ yếu đề cập đến nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động

trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái

Nguyên giai đoạn 2005-2013 Đề xuất các giải pháp đến năm 2020

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Luận văn sẽ làm rõ các nội dung sau:

- Hệ thống hóa lý luận về phát triển nguồn nhân lực, vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội

- Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua Xác định những tồn tại, hạn chế của nguồn nhân lực so với nhu cầu phát triển

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực

trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Chưong 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên

Chương 4: Phương hướng và giải pháp cơ bản phát triển nguồn

nhân lực ở tỉnh Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp

hoá, hiện đại hoá

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP

CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

1.1 Cơ sở lý luận phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Khái niệm “nguồn nhân lực” hay còn gọi là “nguồn lực con người” được

hình thành trong quá trình nghiên cứu và xem xét nhân tố con người trên phương diện là động lực cơ bản để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong giai đoạn hiện nay, việc sử dụng và phát huy nguồn nhân lực đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Những thành tựu to lớn mà loài người đã và đang đạt được trong quá trình phát triển chính là do con người biết phát huy một cách tổng hợp các nguồn lực, mà trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn lực con người được đánh giá là quan trọng nhất,

là nguồn lực trung tâm của mọi nguồn lực Vì vậy, vấn đề phát huy nhân tố con người, sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động để phát triển mạnh mẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang trở thành vấn đề nóng bỏng và bức bách của các ngành, các cấp và của toàn xã hội

Trên thế giới có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi xem xét vấn đề nguồn nhân lực (NNL):

- Theo Tổ chức Liên hợp Quốc: NNL là tất cả những kỹ năng, kiến thức và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước

- Theo Ngân hàng thế giới: NNL là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp, v.v…) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó

- Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): NNL là trình độ lành nghề, là kiến thức và kỹ năng của toàn bộ cuộc sống con người ở dạng hiện thực hoặc tiềm năng

để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng

Trang 16

Ở nước ta, khái niệm NNL trước đây chưa được đưa vào sử dụng rộng rãi như một thuật ngữ khoa học Nó chỉ được sử dụng rộng rãi bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ XX

- Theo Luật lao động: NNL của xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động có khả năng lao động hoặc sẽ tham gia lao động

- Theo Bộ Lao động Thương binh và xã hội: NNL là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, cũng có thể được xác định trên một địa

phương, một ngành hay một vùng (Bộ Lao động Thương binh và xã hội 1999, tr 13)

- Theo Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân:

“NNL là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Khái niệm NNL dựa trên cách tiếp cận về khả năng lao động của con người và giới hạn tuổi lao động, bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, có khả năng

lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không” (Trường đại học Kinh tế

Quốc dân, 2012, tr.55, 56)

- Theo Giáo sư, Viện sĩ, TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “NNL là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng

lực và phẩm chất” (Phạm Minh Hạc và các tác giả (1996)

Từ một số quan niệm và cách tiếp cận nêu trên có thể hiểu một cách khái

quát về NNL như sau: Nguồn nhân lực là khái niệm dùng để chỉ số dân, cơ cấu

dân số, chất lượng con người với tổng thể phẩm chất, năng lực và tiềm năng tạo nên sức mạnh để thúc đẩy kinh tế - xã hội của một quốc gia phát triển

1.1.1.2 Đặc điểm nguồn nhân lực

Qua nghiên cứu khái niệm NNL (hay nguồn lực con người), luận văn có thể đưa ra những đặc điểm cơ bản của NNL như sau:

Thứ nhất, “nguồn nhân lực” được biểu hiện ra là lực lượng lao động là nguồn

lao động (đội ngũ hiện có và sẽ có) hay người lao động Bên cạnh đó, khi đề cập đến NNL còn nói đến quy mô và tốc độ tăng dân số của một địa phương, một quốc gia trong một thời kỳ nhất định, phản ánh cơ cấu dân cư và sự phân bố, sắp xếp nguồn lao động trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế khác nhau, giữa các vùng, miền của đất nước

Trang 17

Thứ hai, “nguồn nhân lực” còn nói lên chất lượng dân số, của lực lượng lao

động biểu hiện ra ở hiện tại và còn đang tiềm tàng Tuy nhiên, chất lượng của NNL luôn có mối quan hệ biện chứng với số lượng Khi NNL có trình độ cao nhưng số lượng hạn chế, cơ cấu không phù hợp sẽ rất khó khăn cho sự phát triển về kinh tế - xã hội Ngược lại, dân số đông, tăng nhanh nhưng trình độ thấp thì rất khó khăn cho việc

sử dụng có hiệu quả, mặt khác còn tạo ra sức ép lớn về các vấn đề xã hội nảy sinh

Thứ ba, cùng với các nguồn lực khác, “nguồn lực con người” được coi là

nguồn lực nội tại và cơ bản nhất, đặc biệt nhất trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Nếu như các nguồn lực khác khi sử dụng, khai thác không những không được tái tạo mà ngày càng cạn kiệt Trái lại, nguồn lực con người mà bộ phận cốt lõi là trí tuệ, lại có tiềm năng vô tận càng khai thác, sử dụng càng tạo ra giá trị cao hơn Nó có khả năng tái tạo, phục hồi và tự đổi mới Nguồn sức mạnh to lớn

đó ngoài việc biểu hiện ở khía cạnh thể lực còn được thể hiện ra ở trí lực, niềm tin, ý chí Điều quan trọng hơn là sự gắn kết biện chứng giữa hai yếu tố sức mạnh vật chất

và sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân và sự cộng hưởng của sự liên kết cộng đồng

xã hội biểu lộ ra ở hiện tại và trong tương lai

Thứ tư, “nguồn nhân lực” còn bao hàm cả sự liên hệ, tác động qua lại lẫn

nhau giữa các yếu tố cấu thành nó cũng như sự tác động qua lại lẫn nhau giữa nó với các nguồn lực khác và với môi trường xung quanh Hay có thể thấy nó biểu hiện thông qua ba mối quan hệ chính: quan hệ với thiên nhiên, quan hệ xã hội và quan hệ với chính mình

1.1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực

Quan niệm của Tổ chức giáo dục - khoa học và văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) cho rằng: Phát triển NNL được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân cư, trong mối quan hệ phát triển của đất nước

Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) cho rằng: Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như: nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn

Theo Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO): Sự phát triển NNL như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển nông thôn, bao gồm cả tăng năng lực sản xuất

Trang 18

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại quan niệm: Phát triển NNL, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay

cả việc đào tạo nói chung Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người

có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng

kỳ vọng của con người

Có thể khái quát lại: phát triển NNL là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể

về chất lượng của NNL và sự biến đổi này được biểu hiện ở việc nâng cao năng lực

và động cơ của người lao động Như vậy, thực chất của phát triển NNL là quá trình tìm cách nâng cao chất lượng của NNL đó Hay nói cách khác đầy đủ hơn, phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng yêu cầu về NNL cho sự phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) trong từng giai đoạn phát triển

Quá trình phát triển NNL đòi hỏi tạo ra sự biến đổi về mặt số lượng, chất lượng và một cơ cấu đội ngũ nhân lực phù hợp để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển KTXH Đầu tư cho NNL là sự tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội nói chung

Phát triển NNL được xem xét trên hai mặt chất và lượng Về chất, phát triển NNL được tiến hành trên cả ba mặt: Phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho NNL phát triển; về lượng là gia tăng số lượng NNL, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản nhất

Quy mô dân số và cấu thành dân cư của địa phương là cơ sở cung cấp, hình thành và phát triển NNL Dân số tăng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của NNL, tăng nguồn lao động xã hội Tuy nhiên, việc tăng dân số một mặt tăng NNL cho phát triển kinh tế, mặt khác cũng gây sức ép trong việc bố trí sử dụng số người bước vào độ tuổi lao động Nếu số người bước vào độ tuổi lao động hàng năm tăng cao hơn so với nhu cầu sử dụng lao động của nền kinh tế thì hậu quả tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng cao

Mọi quá trình sản xuất đều có 3 yếu tố: Sức lao động, đối tượng lao động và

tư liệu lao động Phát triển NNL là việc đầu tư vào các yếu tố của quá trình sản xuất Trong tất cả các yếu tố đầu tư thì đầu tư vào con người, đầu tư cho NNL là

Trang 19

đầu tư quan trọng nhất Đầu tư cho con người được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau như: giáo dục tại nhà trường, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế

Phát triển NNL dưới góc độ của quốc gia, một vùng, địa phương là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động năng động, có thể lực tốt, có trình độ lao động cao,

có kỹ năng sử dụng lao động hiệu quả Xét ở góc độ cá nhân thì phát triển NNL là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động

Nói một cách tổng thể, phát triển NNL là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất Trong đó trí lực có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm và thể lực có được nhờ vào chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trường làm việc…

1.1.1.4 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa; quan điểm, mục tiêu và nội dung CNH-HĐH ở nước ta

- Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH):

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa VII (1994) đã đưa

ra khái niệm: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động phổ thông là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao”

- Quan điểm, mục tiêu, nội dung cơ bản của CNH, HĐH ở nước ta:

+ Với quan điểm CNH, HĐH gắn với phát triển tri thức, gắn với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập quốc tế, phát huy nguồn lực con người, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của CNH, HĐH phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững

+ Mục tiêu cơ bản của CNH, HĐH là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

+ Nội dung của CNH, HĐH: Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại; coi trọng cả số

Trang 20

lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước; xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ; giảm chi phí trung gian, nâng cao năng xuất lao động của tất cả các ngành, các lĩnh vực nhất

Quan điểm này tiếp tục được phát triển ở Đại hội X khi Đảng ta xác định: “Phải

coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH; phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2006, tr 28-29) Đến Đại hội XI, Đảng tiếp tục khẳng

định việc phát triển kinh tế tri thức gắn với quá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay

là một xu thế tất yếu Để phát triển kinh tế tri thức, Đảng ta đã xác định việc phát triển NNL được đặt lên hàng đầu và đóng vai trò quyết định

Quan điểm của Đảng ta về phát triển NNL có bước phát triển qua từng kỳ Đại hội và ngày càng trở lên hoàn thiện hơn Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ năm 1991, Đảng ta chỉ rõ con người chính là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lưc của mọi nguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước Đến Đại hội XI đảng ta xác định để đẩy mạnh và phát triển kinh tế tri thức cần phải phát triển giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ (KH

&CN): “Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa

học, công nghệ, xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ tự động, nâng cao năng lực nghiên cứu - ứng dụng gắn với phát triển NNL chất lượng cao” (Đảng cộng sản Việt Nam,

2011, tr 220)

Với quan điểm coi “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng

thời là chủ thể phát triển” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2011, tr.76) Ở Đại hội XI,

Đảng ta xác định, phát triển NNL, nhất là NNL chất lượng cao là một trong ba khâu

đột phá chiến lược cho sự phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới: “Phát triển

và nâng cao chất lượng NNL, nhất là NNL chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan

Trang 21

trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2011, tr 130)

Có thể thấy quan điểm phát triển NNL trong thời kỳ CNH, HĐH đã được Đảng ta xác định từ lâu, với chiến lược lâu dài, trải qua các kỳ Đại hội ngày càng trở lên hoàn thiện và sâu sắc hơn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của đất nước

1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở Việt Nam

Trong thời đại này nay, khi cuộc cách mạng KH&CN đang thay đổi nhanh chóng đời sống KTXH thì khoảng cách giữa các nước chậm phát triển với các nước phát triển ngày càng trở thành hố sâu dài ngăn cách Vì vậy thực hiện CNH, HĐH được coi là một phương thức cơ bản, một con đường tất yếu để cải biến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp văn minh, tạo điều kiện để các nước kém phát triển từng bước theo kịp các nước phát triển

Đứng trước các yêu cầu của của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi CNH, HĐH là sự nghiệp cách mạng trong suốt thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhằm hoàn thiện cơ sở vật chất để xây dựng một xã hội mới dân chủ, công bằng, văn minh

Mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ mục đích vì con người, chăm sóc, bồi dưỡng, phát triển con người, phát huy nhân tố quan trọng là nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trong khi đó với vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH, văn hóa và giáo dục, KH&CN có khả năng to lớn Khơi dậy, nhân lên mọi tiềm năng, phát huy sức sáng tạo của con người Việt Nam, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển của sự nghiệp CNH, HĐH Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta, khi nguồn tài chính và nguồn lực vật chất cho công cuộc CNH, HĐH còn hạn hẹp, trong khi đó tiềm lực, nguồn lực con người Việt Nam lại

vô cùng phong phú, nếu biết nuôi dưỡng, phát huy, khai thác và sử dụng một cách hợp lý nhất, tiết kiệm nhất

Do đó, có thể thấy vai trò của NNL ở những phương diện sau đây:

Trang 22

Một là, nguồn nhân lực - sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa của cả nước

CNH, HĐH tạo tiền đề, điều kiện vật chất cần thiết để cải biến, khắc phục những hạn chế của phương thức sản xuất nhỏ và lạc hậu của đất nước nông nghiệp Nhờ đó góp phần cải biến lao động thủ công, lạc hậu sang lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt năng suất lao động xã hội cao hơn Hay nói cách khác quá trình CNH, HĐH làm thay đổi tư duy, cách thức lao động của lực lượng lao động xã hội, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của NNL Vì vậy, việc phát triển NNL của cả

nước là hết sức cần thiết, thông qua đó để đào tạo “người lao động có trí tuệ cao, có

tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền KH&CN hiện đại” (Đảng cộng sản Việt Nam, 1997, tr.9) nhằm thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH thắng lợi

Hai là, con người là chủ thể của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Dù ở bất cứ lĩnh vực, hay quá trình nào của đời sống kinh tế - xã hội, xét đến cùng con người luôn giữ vị trí trung tâm điều hành, chi phối Quá trình CNH, HĐH diễn ra cũng không nằm ngoài quy luật đó Thực tế cho thấy, quá trình CNH, HĐH không thể thành công nếu thiếu NNL về cả phương diện số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý Bởi chính con người là lực lượng duy nhất có khả năng phát hiện, xác định đúng mục tiêu, nội dung, và hình thức, bước đi và đề ra những giải pháp thích hợp để tiến hành CNH, HĐH Quá trình CNH, HĐH diễn ra với tốc độ nhanh chóng hay chậm chạp là do phụ thuộc vào những điều kiện đặc thù riêng có của từng quốc gia, dân tộc và nhiều nguồn lực khác, còn phụ thuộc vào yếu tố quan trọng và quyết định đó là năng lực của con người, vào chất lượng của CNH, HĐH Bởi vì, cùng với quá trình khai thác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn vốn, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định nhất

Do đó, con người khi xét dưới góc độ là một nguồn lực thì việc khai thác và

sử dụng nguồn lực này trở lên vô giá vì không hề bị cạn kiệt, trái lại càng sử dụng

nó càng tạo ra được giá trị mới lớn hơn Nhưng cũng cần lưu ý rằng sự tái tạo, phát triển không ngừng của nguồn lực con người chỉ có được khi mỗi địa phương, mỗi quốc gia có những chính sách, đường lối phát triển và sử dụng đúng đắn và hợp lý con người, với nguồn lực con người

Mặt khác, do tính đặc thù của sự nghiệp CNH, HĐH, của yêu cầu tăng trưởng phát triển kinh tế bền vững đã xác định rõ vai trò to lớn của NNL Từ đó, đề

Trang 23

ra nhiệm vụ phải đào tạo nguồn nhân lực với các kỹ năng, kiến thức, tay nghề cùng với kinh nghiệm và năng lực sáng tạo đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay

Ba là, nguồn lực con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Để có thể hoàn thành mục tiêu chung của đất nước thì việc coi CNH, HĐH là phương tiện, là phương thức và là điều cần thiết để xây dựng thành công chủ nghĩa

xã hội Yêu cầu đặt ra cho sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay không chỉ vì mục tiêu phát triển kinh tế thuần túy mà phải vừa đảm bảo tăng trưởng, phát triển kinh tế bền vững, vừa đồng thời phải đảm bảo tiến bộ và công xã hội Đảm bảo cho con người được chăm lo một cách đầy đủ và phát triển một cách toàn diện nhất, hướng tới việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân địa phương, đảm bảo con người được chăm sóc, được phát triển một cách toàn diện

Trong sự nghiệp đổi mới và thực hiện CNH, HĐH của đất nước, quan niệm coi con người “vừa là mục tiêu, vừa là động lực” của sự phát triển KTXH đã trở lên phổ biến Phát triển NNL được coi là một bộ phận hàng đầu trong chiến lược phát triển KTXH và cũng là động lực cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH của nước ta hiện nay Động lực của sự nghiệp CNH, HĐH là những gì thúc đẩy quá trình CNH, HĐH vận động và phát triển Khi đề cập đến vai trò của NNL là một trong những động lực quan trọng nhất của toàn bộ quá trình CNH, HĐH là chủ yếu nói đến sức mạnh thể chất và khả năng lao động sáng tạo của con người Khả năng sáng tạo là nguồn tiềm năng vô tận của con người

1.1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là tỉnh giầu truyền thống cách mạng, thủ đô kháng chiến Một mảnh đất có vị trí hết sức đặc biệt trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, nơi được Trung ương Đảng, Chính phủ đặt trụ sở làm việc để lãnh đạo kháng chiến Nơi phong tướng cho vị Đại tướng vĩ đại Võ Nguyên Giáp mà không chỉ nhân dân

Việt Nam mà cả thế giới biết đến Đó là mảnh đất đất văn hiến, “địa linh, nhân

kiệt”, nơi sinh dưỡng nhiều anh hùng, trạng nguyên, khôi nguyên và nhiều trí thức

làm rạng danh non sông đất nước; là nơi có trung tâm đào tạo đứng thứ 3 cả nước sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đang vươn lên hội nhập vào xu thế phát triển của

đất nước và thời đại

Trang 24

Trong nghị quyết Đại hội IX khẳng định: “con người và nguồn lực con người

là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH ” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2001, tr.201) và “phát huy sức mạnh dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH, HĐH đất nước” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2006, tr.76)

Cùng với cả nước, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên cũng rất chú ý đến động lực thúc đẩy quá trình CNH, HĐH, trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII

nhiệm kỳ 2010-2015 đã xác định: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

toàn đảng bộ, phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo tiền đề vững chắc để Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020, góp phần thúc đẩy phát triển vùng trung du miền núi Bắc Bộ” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2010, tr.1)

Điều này cho thấy yêu cầu cấp bách cần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH không chỉ là nhu cầu trước mắt mà là xu thế phát triển lâu dài của địa phương, qua

đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đồng thời, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng trên cả nước

Để thực hiện được những nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra đòi hỏi cần phải tập trung vào xây dựng và phát triển NNL mạnh về cả về số lượng và chất lượng, đồng

thời xây dựng một cơ cấu về nguồn lực hợp lý Cần “phát triển NNL khoa học và

công nghệ có chất lượng cao, có cơ cấu trình độ, chuyên môn phù hợp Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống; tập trung phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ; có cơ chế, chính sách ưu đãi để phát huy tiềm lực đội ngũ các nhà khoa học trên địa bàn tỉnh, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2010, tr.28)

Nhưng để xây dựng và phát triển NNL thì cần phải huy động mọi nguồn lực khác Qua đó, cần thấy rõ sự tác động giữa các nguồn lực luôn mang tính biện chứng để từ đó có một chiến lược phát triển cho phù hợp Nó cũng được xem là khâu đột phá và rất quan trọng để hoàn thành các mục tiêu KTXH mà tỉnh đã đặt ra

và thực hiện phù hợp với mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Việc phát triển NNL theo hướng đào tạo cơ bản nhằm nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động cũng là yêu cầu của xã hội, đồng thời giải

Trang 25

quyết nạn thất nghiệp và thiếu việc làm do trình độ tay nghề không đáp ứng được so với yêu cầu của công việc

Như vậy, việc xác định phát triển NNL là vấn đề có tính chiến lược không chỉ nói chung chung, mà phải được nhận thức và chủ động thực hiện ở từng đơn vị, từng địa phương cụ thể Hiện nay, Thái Nguyên đã và đang xây dựng chiến lược phát triển NNL còn phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đặt ra trong

những năm tới đó là “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở tất cả

các cấp học, ngành học; có giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán

bộ quản lý giáo dục; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động Xây dựng Đại học Thái Nguyên thành đại học trọng điểm quốc gia theo chỉ đạo của Chính phủ” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2010, tr.25)

1.1.3 Nội dung chủ yếu phát triển nguồn nhân lực

1.1.3.1 Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

Quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển NNL cần thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược, chính sách phát triển trong từng lĩnh vực KTXH của quốc gia, địa phương Chiến lược,

quy hoạch phát triển NNL được thực hiện qua các bước:

- Phân tích môi trường, xác định mục tiêu phát triển KTXH là gì

- Phân tích hiện trạng NNL

- Phân tích quan hệ cung cầu nhân lực, xây dựng các chính sách, kế hoạch, chương trình thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng NNL

- Thực hiện các chính sách, kế hoạch phát triển NNL

- Kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện

1.1.3.2 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo NNL là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định, tạo ra sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người, nhằm đáp ứng được việc thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp ở một thời kỳ nhất định

Đào tạo NNL rất cần thiết cho sự thành công của quốc gia, địa phương, tổ chức, qua đào tạo nhằm cập nhật các kỹ năng, kiến thức mới cho người lao động, giúp người lao động trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định,

để thực hiện các công việc hiện tại một cách tốt hơn Kết quả của quá trình đào tạo NNL sẽ nâng cao chất lượng và phát triển NNL

Trang 26

1.1.3.3 Chính sách sử dụng, thu hút, khuyến khích tạo động lực cho người lao động

và duy trì nguồn nhân lực

Chính sách thu hút, khuyến khích tạo động lực và chiến lược kích thích lao động và động viên học nhằm duy trì củng cố và phát triển lực lượng lao động gắn

bó với một cơ quan, đơn vị cụ thể hay rộng hơn là gắn bó với địa phương nơi người lao động làm việc Nếu cơ quan, đơn vị có lực lượng lao động có trình độ và bố trí vào vị trí thích hợp, nhưng chính sách lương bổng, đãi ngộ không thích hợp thì tinh thần người lao động sẽ giảm sút, năng suất lao động kém Chính sách lương bổng đãi ngộ của cơ quan, đơn vị đối với người lao động bao gồm: đãi ngộ về mặt tài chính và đãi ngộ phi tài chính

- Đãi ngộ về mặt tài chính

Đãi ngộ về mặt tài chính được chia làm 2 phần: đãi ngộ trực tiếp là trả lương tháng, lương công nhật, tiền thưởng và đãi ngộ gián tiếp là các khoản phúc lợi và các kế hoạch bảo hiểm như phúc lợi theo quy định của pháp luật và phúc lợi tự nguyện Trong đó phúc lợi theo quy định của pháp luật là các bảo hiểm xã hội: trợ cấp ốm đau bệnh tật, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí

- Đãi ngộ phi tài chính

Một số nước có nền kinh tế phát triển, các chế độ đãi ngộ phi tài chính nhiều khi quan trọng hơn các kích thích về tài chính Kích thích phi tài chính bao gồm: bản thân công việc đó có thu hút và làm cho người lao động thoả mãn không; môi trường, điều kiện, hoàn cảnh làm việc có thoả mãn nhu cầu của người lao động chưa Ngoài ra, đãi ngộ phi tài chính còn thể hiện ở chỗ làm thoả mãn các nhu cầu ở thứ bậc cao như nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được thể hiện mình, nhu cầu được học tập, thăng tiến

Ở nước ta, hiện mức sống còn thấp, hầu hết người lao động chủ yếu quan tâm nhiều đến đãi ngộ tài chính để lo cho cuộc sống thường ngày, nên kích thích phi tài chính chưa thực sự trở thành nhu cầu thiết yếu Tuy nhiên, khi đất nước phát triển hơn trong tương lai, vấn đề này sẽ ngày càng quan trọng

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực

1.1.4.1 Nhóm yếu tố về tự nhiên

Nhóm này bao gồm quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số Các nhân tố này được xem xét trong mối quan hệ qua lại giữa sự biến động dân số, với NNL và giải quyết việc làm

Trang 27

Quy mô dân số được biểu thị khái quát bằng tổng số dân cư của một khu vực vào thời điểm nhất định Quy mô dân số là nhân tố quan trọng là căn cứ để hoạch định chiến lược phát triển Mỗi một nước (cũng như một vùng, địa phương) cần có một quy mô dân số thích hợp, tương thích với điều kiện tự nhiên, cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của mình

Cơ cấu dân số thích hợp bảo đảm cho sự phát triển ổn định, được nhiều nhà dân số học nhất trí: Tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động là 26% 28%; Tỷ lệ người trong

độ tuổi lao động là 60 64%; Tỷ lệ người già trên độ tuổi lao động là: 10 12% Muốn vậy, thì tỷ suất sinh (TFR) phải giữ ở mức thay thế

Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển NNL Nhưng nếu dân số

có tăng nhanh trong điều kiện nước nghèo, khi mà không có khả năng cung cấp đầy

đủ dinh dưỡng và chăm sóc y tế, trình độ học vấn thấp v.v Năng suất lao động thấp, sản phẩm quốc dân tăng chậm thì rất bất lợi cho phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia

Cơ cấu dân số theo độ tuổi có tác động đến số lượng NNL: tăng nhanh hay chậm

1.1.4.2 Nhóm yếu tố về chính trị, kinh tế

- Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Đảng xây dựng chủ trương đường lối, Nhà nước thể chế hóa những chủ trương đường lối của Đảng và đảm bảo thực hiện nó trong thực tiễn để có tác động cơ bản, chủ yếu tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Khi chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước và địa phương phù hợp với điều kiện và tốc độ phát triển nguồn nhân lực sẽ tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực theo đúng hướng và hiệu quả Nếu không phù hợp sẽ là rào cản đối với tình hình phát triển nguồn nhân lực và nền kinh tế- xã hội của đất nước

Bất kỳ một quá trình sản xuất xã hội nào cũng cần có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động; trong đó sức lao động là yếu tố chủ thể của quá trình sản xuất; nó không chỉ làm “sống lại” các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn có khả năng sáng tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Điều đó chứng tỏ vai trò của NNL có ý nghĩa quan trọng Trong các NNL sẵn có thì chất lượng NNL có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Như đã phân tích trên để cải biến đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động phải sử dụng lao động chân tay, song để sáng tạo ra các đối tượng lao động và tư liệu lao động mới tất yếu cần đến đội ngũ lao động trí óc

Trang 28

Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL đó là sức khoẻ của NNL, bởi sức khoẻ là nhân tố quyết định để duy trì sự tồn tại, là cơ sở cốt yếu để tiếp nhận, duy trì và phát triển trí tuệ, là cơ sở cho giáo dục và đào tạo tốt hơn, là điều kiện để tiếp thu tri thức của nhân loại, từ đó có khả năng xử lý các thông tin, ứng dụng tri thức của nhân loại vào thực tiễn

Trí tuệ - lao động trí tuệ là nhân tố quan trọng hàng đầu đội ngũ NNL trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ngày nay Trí tuệ của NNL được thể hiện thông qua tri thức

Việc phân tích nhân tố trên cho thấy lao động chất xám-lao động trí tuệ là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với NNL của xã hội, đánh dấu bước phát triển của một xã hội nhất định trong điều kiện quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay Để có được NNL có trí tuệ cao không có cách nào khác là tác động từ sự nghiệp giáo dục đào tạo Sự nghiệp giáo dục đào tạo góp phần quan trọng nhất tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất lượng của NNL Để thực hiện được điều đó cần có chủ trương, đường lối và định hướng phù hợp với quá trình phát triển

1.1.4.3 Nhóm yếu tố về văn hoá – xã hội

Truyền thống lịch sử, văn hóa, thói quen, tập quán, đạo đức, lối sống, cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL Trong các quan hệ cộng đồng thì quan hệ gia đình là tế bào của xã hội Đối với con người Việt Nam, cuộc sống gia đình hòa thuận theo quan niệm truyền thống là nhân tố quan trọng chi phối tâm thức của họ Đối với một số quy phạm đạo đức truyền thống như đạo hiếu, lối sống thanh bạch, trong sạch, lòng nhân ái, sẵn sàng tương trợ người khác trong những lúc gặp khó khăn hoạn nạn, là những nhân tố cần phát huy và

có ý nghĩa nhất định đối với nâng cao chất lượng NNL

Chất lượng NNL, được phân tích làm sáng tỏ trên các mặt: cơ cấu NNL hiện

có, trình độ học vấn, số năm đi học bình quân; tình trạng thể lực NNL về tình trạng sức khỏe, trọng lượng, chiều cao, tình trạng bệnh tật Chất lượng NNL gắn với nghề nghiệp chuyên môn nhất định và có thể phân loại tất cả lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hóa Hàm lượng công nghệ, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động tri thức

Trình độ trí lực và kỹ năng của NNL, trình độ học vấn của dân số trong độ tuổi lao động, số năm học văn hóa phổ thông, số năm đào tạo nghề Trình độ học

Trang 29

vấn phổ thông, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, lao động kỹ thuật được đào tạo chính qui, phân bổ giữa các vùng Trình độ lao động được đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học Cơ cấu nguồn lao động được đào tạo và sử dụng… Người công nhân có trình độ cao là người lao động theo phương pháp tiên tiến, giỏi nghề chính và biết nghề khác, tiếp thu học hỏi nhanh để vận hành được máy móc

Về chất lượng NNL, đặc trưng NNL Việt Nam thông minh, cần cù, chịu khó, sáng tạo, có trình độ học vấn, có khả năng nắm bắt nhanh những thành tựu mới của khoa học công nghệ trên nhiều ngành nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, thích ứng với kinh tế thị trường NNL đã qua đào tạo từ nhiều địa chỉ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Đây là nguồn lực cơ bản cần thiết cho trước mắt và tương lai để tiến hành lao động sản xuất đạt hiệu quả cao

Tuy nhiên, lao động nông nghiệp ở nước ta chiếm phần lớn trong tổng số lực lượng lao động Do đó trong tiến trình phát triển, cơ cấu lao động phải được chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức theo yêu cầu của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH khá thành công, nhưng khi phát triển NNL cũng phải đối mặt đối mặt với rất nhiều khó khăn, chất lượng văn hóa của dân cư cũng còn cách xa so với các nước phát triển Bên cạnh

đó, trình độ chung về khoa học còn kém xa so với các nước phát triển Mức độ phát triển NNL thấp và phương pháp còn đơn lẻ, nội dung đào tạo không dựa trên nhu cầu thực tế, nên những lao động được đào tạo vẫn không phù hợp với các vị trí làm việc Phương pháp phát triển NNL chủ yếu dựa vào giáo dục, đào tạo nghề, rất ít xem xét tới các phương pháp khác Cấu trúc phát triển NNL chưa hợp lý trong các ngành, giữa khu vực thành thị và nông thôn Việc đầu tư cho phát triển NNL chưa đầy đủ, trong đó, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là phần đầu tư chính yếu nhất còn rất thiếu Trước những khó khăn thách thức đó, Trung Quốc đã có những chiến lược hợp lý để đưa một nước đông dân thành một nước có NNL tốt, có năng lực, khả năng Chiến lược của Chính phủ Trung Quốc trong phát triển NNL đó là:

Trang 30

- Thay đổi quan niệm và hiện thực hoá khái niệm NNL là nguồn lực hàng đầu: Với các nguồn lực tự nhiên tương đối khan hiếm, nguồn lực con người của

Trung Quốc là một lợi thế so sánh với các nước trên thế giới Vì thế Trung Quốc đã lựa chọn con đường phát triển NNL Mặt khác không chỉ coi NNL như một yếu tố sản xuất đơn giản, là một phương tiện để phát triển kinh tế mà phải coi phát triển

toàn diện là mục tiêu cao nhất trong việc phát triển NNL

- Tiếp tục chiến lược “Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc”,

“Giáo dục kiến lập Trung Quốc” và xây dựng một xã hội học tập Giáo dục là

phương tiện cơ bản để phát triển NNL, quyết định trong việc cải thiện chất lượng công dân Trung Quốc kiên trì với các chiến lược “Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc” và “Giáo dục kiến lập Trung Quốc”; tăng cường giáo dục cơ bản, tập trung vào trau dồi khả năng tư duy của người học và hướng họ tới sự trí thức hóa; nâng cao giáo dục chất lượng, tập trung vào bồi dưỡng năng lực sáng tạo và thực hành; đẩy mạnh sự phát triển toàn diện về phẩm chất đạo đức, trí lực, thể lực

và thẩm mỹ Mở rộng quy mô giáo dục ở các trường trung học, cao đẳng, dạy nghề, động viên giáo dục dân sự và đầu tư đa dạng cho giáo dục Trung Quốc định hướng

“trở thành một xã hội theo phương thức học tập dân sự và học tập suốt đời”

- Mở rộng đầu tư và làm nhiều biện pháp để phát triển NNL: Trung Quốc

tăng cường đầu tư cho giáo dục, mở rộng các kênh đầu tư đa dạng như đầu tư nước ngoài, đầu tư của doanh nghiệp và công dân; thúc đẩy đầu tư cho giáo dục và xa hơn là thúc đẩy phát triển NNL

- Cải thiện cơ cấu thông qua phát triển NNL: Sự sắp xếp hợp lý NNL giúp

nâng cấp cơ cấu ngành nghề, tạo ra sự phát triển kinh tế liên vùng một cách hài hòa Trọng tâm của phát triển NNL chuyển hướng vào các vùng nông thôn nhằm cải thiện chất lượng khoa học và văn hóa của những người nông dân, thúc đẩy lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn chuyển sang các ngành phi nông nghiệp; chuyển sang ngành công nghiệp thứ ba như tài chính, thông tin, giao tiếp, du lịch…để nâng cấp cơ cấu ngành nghề và tạo ra nhiều cơ hội việc làm

- Cải tiến những hệ thống bất hợp lý, hoàn thiện hệ thống thị trường lao động, tạo ra một môi trường phát triển và sử dụng NNL tốt hơn:

Thứ nhất, thiết lập hệ thống đầu tư cho NNL và thu lại lợi ích

Trang 31

Thứ hai, thiết lập hệ thống luân chuyển lực lượng lao động Với nền kinh tế

thị trường, luân chuyển lao động trở thành một phương thức để phát triển NNL, giúp các nhà đầu tư tìm thấy vị trí thích hợp nhất thông qua thị trường

Thứ ba, thiết lập hệ thống sử dụng NNL Phá bỏ những trở ngại về việc làm

trong thị trường lao động, loại bỏ sự phân biệt nghề nghiệp, đảm bảo sự công bằng

và tự do về việc làm của người lao động Đồng thời, đảm bảo các doanh nghiệp, tổ chức có đầy đủ quyền trong việc tuyển dụng và sa thải Với áp lực lớn cạnh tranh nghề nghiệp, người lao động phải chủ động nâng cao năng lực làm việc và việc phát triển NNL sẽ đạt hiệu quả cao hơn

- Thành lập tổ chức phát triển NNL, tăng cường sự ủng hộ và bảo đảm của chính phủ trong phát triển NNL: Các cơ quan chính phủ khuyến khích và ủng hộ

việc thành lập các tổ chức phát triển NNL, nhanh chóng bắt kịp với trình độ quốc tế Chính phủ thiết lập các tiêu chuẩn cho việc gia nhập thị trường và bộ máy của các

tổ chức phát triển NNL Công dân Trung Quốc có thể chọn lựa nội dung, địa điểm,

phương pháp, kế hoạch học tập theo nhu cầu

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là một nước có quá trình CNH diễn ra khá mạnh từ các năm cuối của thế kỷ XIX Trong quá trình CNH, nước Nhật rất coi trọng phát triển giáo dục

và đào tạo nhân lực cho nông thôn Hệ thống giáo dục phổ cập tiểu học, giáo dục trung học được Chính phủ đặc biệt quan tâm trong chính sách phát triển, làm nền móng cho đào tạo NNL

Thời kỳ đầu công nghiệp hóa, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất gia đình, nhà buôn bán ở các thị trấn và ở nông thôn Nhật Bản có vai trò quan trọng trong dạy nghề bậc thấp cho lao động nông nghiệp chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại Lao động lành nghề được đào tạo tại các nhà máy có quy mô lớn, khi ra trường được các doanh nghiệp tư nhân tuyển dụng vào làm việc Đặc điểm nổi bật nhất về đào tạo, dạy nghề của Nhật Bản là Chính phủ khuyến khích phát triển hệ thống đào tạo nghề, tập trung vào các nội dung chính như: Đào tạo về truyền thống hoạt động kinh doanh, truyền thống văn hóa của công

ty, các giá trị công việc và thái độ làm việc, các quyền, lợi ích, trách nhiệm của nhân viên; tăng cường niềm tin và lòng tự hào của người tham gia đào tạo đối với công ty Đào tạo các kiến thức lý thuyết chung liên quan tới công nghệ sản xuất của các nghề đào tạo, cập nhật các kiến thức về máy móc thiết bị mới đang sử dụng và

Trang 32

sẽ được đổi mới trong tương lai Chương trình học kiến thức thực hành được thực hiện thông qua chỉ dẫn trong quá trình sản xuất của công ty

Đáng chú ý là hệ thống giáo dục phổ thông của Nhật Bản rất hiệu quả, giáo dục toàn diện, nên chất lượng học sinh nông thôn tốt nghiệp phổ thông không có khoảng cách lớn so với thành phố Đây là cơ sở rất quan trọng để đào tạo được đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của các công ty và yêu cầu của thị trường lao động

Ngoài đào tạo nghề, để đáp ứng nhu cầu phát triển nền công nghiệp hiện đại

và phát triển nông thôn, Nhật Bản còn rất chú trọng đào tạo lao động trình độ đại học của khu vực nông thôn Các trường đại học của Nhật Bản thường được trang bị hiện đại, kết hợp đào tạo và nghiên cứu khoa học, cập nhật được các tri thức mới của thế giới và trong nước, nhờ công nghệ thông tin phát triển mạnh nên chất lượng đào tạo

lao động trình độ đại học và nông thôn rất cao

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là con rồng châu Á đã đạt được những thành tựu đặc biệt trong CNH-HĐH Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã đặt ra nhiệm

vụ lớn cho chính phủ Hàn Quốc là phải tăng cường đào tạo NNL để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp và dịch vụ Có thể nói Hàn Quốc là nước thành công trong kết hợp được hài hòa giữa chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chính sách phát triển NNL Mặt khác hệ thống giáo dục đào tạo cũng luôn mở ra cơ hội cho người lao động nông thôn theo học các trường, lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật theo nhu cầu của bản thân để tìm kiếm việc làm phù hợp trên thị trường lao động

Chính phủ Hàn Quốc có chính sách khuyến khích các công ty tham gia đào tạo nghề, hướng dẫn thực tập nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt là cho lao động nông thôn theo học nghề ban đầu, để đảm bảo cung ứng cho nhu cầu của các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển nhanh Trên thực tế một số công ty không muốn đào tạo mà thay vào đó là nộp thuế để khỏi phải thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề Chính phủ sử dụng khoản thuế này vào mục đích hỗ trợ đào tạo cho lao động nông thôn và hỗ trợ đào tạo đối với các ngành thiếu hụt lao động kỹ năng, đang cần đào tạo khẩn cấp cho nhu cầu áp dụng công nghệ mới, mở rộng quy mô hoạt động

Chính phủ cũng khuyến khích phát triển hình thức tín dụng, giảm thuế và trợ cấp, nhằm tạo điều kiện cho lao động nghèo, lao động nông thôn có thể tham gia các khóa đào tạo, học nghề, học đại học Trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu công

Trang 33

nghiệp hướng vào phát triển các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức và công nghệ cao hơn Hàn Quốc đã có chính sách tăng cường quy mô và chất lượng giáo dục trung học phổ thông kể cả ở nông thôn, để đảm bảo cơ sở cho đào tạo nhân lực trình

độ cao, đáp ứng giai đoạn phát triển của các ngành kinh tế Trong đó, đặc biệt là nhân lực trong ngành công nghệ thông tin, dược phẩm, chế tạo ô tô, điện tử cao cấp, viễn thông, chế tạo máy móc chính xác, tự động hóa, công nghệ sinh học…

1.2.1.4 Bài học rút ra cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm phát triển NNL của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ta có thể rút ra bài học cơ bản cho phát triển NNL ở Việt Nam

Một là, Phải nhận thức được phát triển NNL là trọng tâm của quá trình CNH,

HĐH; phải xác định cho rõ NNL là tài nguyên quý giá nhất trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Nguồn tài nguyên thiên nhiên Việt Nam không nhiều và hơn nữa là hữu hạn, cần phải lấy NNL làm tài nguyên thay thế

Hai là, Xây dựng chiến lược NNL gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã

hội, CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; xác định rõ phát triển NNL là trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị;

Ba là, Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phát triển NNL, việc

làm, giáo dục, đào tạo, chính sách về tiền lương, đãi ngộ, trọng dụng nhân tài Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển NNL, đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam

Bốn là, Có giải pháp đồng bộ để nâng cao hơn nữa đến chất lượng NNL (bao

gồm cả thể lực và trí lực) và chất lượng cuộc sống (cả vật chất và tinh thần);

Năm là, Chính phủ và các cơ quan chức năng cần có biện pháp giải quyết hiệu

quả những vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài của NNL, trong đó có vấn đề khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng NNL trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nước Đồng thời, phải có kế hoạch tạo NNL đủ về cơ cấu và chất lượng, nhất là NNL có chất lượng cao

Sáu là, Cần có chính sách rõ ràng, minh bạch, đúng đắn đối với việc việc sử

dụng, trọng dụng nhân tài, nhất là trọng dụng các nhà khoa học và chuyên gia thật

sự có tài năng cống hiến trong mọi lĩnh vực;

Bảy là, Cải thiện thông tin rộng rãi và dân chủ về NNL, làm cho mọi người

thấy được tầm quan trọng của phát triển NNL của nước ta và trên thế giới

Trang 34

1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam

1.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực tại Đà Nẵng

Với số lượng lực lượng lao động của Đà Nẵng chiếm gần 50% dân số thành phố Theo số liệu thống kê của Trung tâm xúc tiến đầu tư thành phố, năm 2012 lao động có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 18% lực lượng lao động thành phố, công nhân kỹ thuật chiếm 9%, trung cấp chiếm 5% và 68% là lực lượng lao động khác

Qua con số thống kê có thể thấy, lực lượng lao động thành phố được đào tạo

cơ bản, có trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề, có thể đáp ứng nhu cầu về NNL của các doanh nghiệp tại thành phố cũng như cả ở khu vực miền Trung Hiện nay, toàn thành phố có 24 trường đại học và cao đẳng, 19 trường trung học chuyên nghiệp và 59 trung tâm dạy nghề Đại học Đà Nẵng là đại học đa ngành và đa cấp

có quy mô lớn, đóng vai trò chủ đạo trong việc đào tạo NNL và nghiên cứu khoa học ở khu vực miền Trung Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung

Bên cạnh đó, công tác thu hút NNL chất lượng cao cũng luôn được lãnh đạo thành phố quan tâm, chú trọng Các cấp, ban, ngành đã triển khai thành công chính sách thu hút nhân tài của thành phố, mà cụ thể là Quyết định 47/2008/QĐ-UBND

về phê duyệt Đề án hỗ trợ đào tạo bậc đại học tại các cơ sở giáo dục trong nước và

ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước dành cho học sinh các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn thành phố và Quyết định 17/2010/QĐ-UBND về việc tiếp nhận, bố trí và chính sách ưu đãi đối với những người tự nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc UBND thành phố Đà Nẵng

Tính đến tháng 7 năm 2011, Đà Nẵng đã tiếp nhận được 844 người, trong đó

có 10 tiến sỹ, 144 thạc sỹ Ngoài ra, còn lượng lớn cán bộ được cử đi đào tạo thạc

sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài theo Đề án 393 của thành phố và đối tượng đào tạo lãnh đạo, quản lý cho các chức danh chủ chốt tại phường, xã theo Đề án 89 của tỉnh

Thành phố đã đưa ra quan điểm phát triển NNL và xác định các mục tiêu cơ bản , tổng quát cụ thể như:

Xác định vấn đề đào tạo cũng như thu hút NNL chất lượng cao sẽ là chiến lược lâu dài nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển nhanh chóng và bền vững của thành phố Phát triển nhân lực là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định, vừa là yêu cầu vừa

là động lực cho sự phát triển của thành phố

Trang 35

Phát triển nhân lực là một trong những động lực quan trọng để hoàn thành cơ bản sự nghiệp CNH, HĐH, là nhân tố quyết định phát triển xã hội, tăng trưởng kinh

tế nhanh, hài hòa và bền vững

Phát triển nhân lực có chất lượng trên cơ sở xác định rõ mục tiêu, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy; đầu tư hoàn thiện các điều kiện phát triển nhân lực, quy hoạch hệ thống đào tạo phù hợp để đáp ứng nhân lực trên các lĩnh vực, cấp độ và vùng miền, theo kịp trình độ khu vực và quốc tế

Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đồng thời phát huy vai trò của xã hội trong việc phát triển nhân lực thông qua quy hoạch, quản lý và thực hiện các chính sách thu hút đầu tư, hợp tác trong và ngoài nước

Phát triển nhân lực bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu phù hợp, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất, nhân cách, năng lực nghề nghiệp, thành thạo về kỹ năng, tác phong chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo phục vụ yêu cầu phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế - xã hội lớn của cả nước

1.2.2.2 Kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực ở Quảng Ninh

Là một tỉnh đi đầu trong công tác thu hút và sử dụng nhân tài và cũng là địa phương đầu tiên trong cả nước tổ chức thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo cấp

sở, Quảng Ninh đã mở ra bước đột phá, là một trong những nơi để các tỉnh tham khảo và học tập Với số lượng lực lượng lao động của Quảng Ninh năm 2012 là 643.214 chiếm 55,37% dân số toàn tỉnh Theo báo cáo thống kê của tỉnh, năm 2012 lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 21,6% lực lượng lao động qua đào tạo của toàn tỉnh; cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp chiếm 17,8%, công nhân kỹ thuật (trung cấp, cao đẳng nghề) chiếm 31,96% Có thể thấy, lực lượng lao động của tỉnh Quảng Ninh được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề, có thể đáp ứng nhu cầu về NNL của các doanh nghiệp tại tỉnh Hiện nay, toàn tỉnh có 7 trường đại học và cao đẳng, 3 trường trung học chuyên nghiệp và 31 cơ sở dạy nghề Với hệ thống các trường đào tạo không nhiều, song với sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền và tiềm lực kinh tế khá, mạng lưới đào tạo NNL của tỉnh

đã được mở rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của các trường được đổi mới và tăng cường; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý được bổ sung về cả về số lượng và chất lượng đã góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH từng bước đáp ứng nhu cầu lao động cho sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế ở địa phương Theo số liệu thống kê của

Trang 36

Sở Giáo dục và Đào tạo, chi phí cho đào tạo chiếm trên 18% trong tổng chi ngân sách, tốc độ tăng chi bình quân 27%/năm

Quảng Ninh là tỉnh công nghiệp, dịch vụ phát triển, song dân số ít, nên luôn xác định giáo dục - đào tạo và thu hút nhân tài là giải pháp hàng đầu để nâng cao chất lượng NNL, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH Tỉnh đã có những chủ trương, chính sách rất sớm và mạnh về nội dung này Ngay từ năm 1998 tỉnh cũng đã ban hành chính sách khuyến khích đào tạo và thu hút nhân tài, nhưng mới là những bước đi đầu tiên Phải đến năm 2004, HĐND tỉnh có Nghị quyết số 17/2004/NQ-

HĐ ngày 19/7/2004 “Quy định một số chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và thu hút nhân tài” UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2871/2004/QĐ-UB ngày 19/8/2004 để triển khai Nghị quyết trên, thì chính sách này mới thể hiện vai trò rõ rệt và thu được nhiều kết quả tích cực Theo đó, để tiếp tục phát triển NNL chất lượng cao phục vụ yêu cầu trong giai đoạn mới, HĐND tỉnh đã thảo luận, quyết nghị bổ sung, điều chỉnh chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và thu hút nhân tài

Đối với đào tạo nghề, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề, đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo nghề ở nông thôn đã góp phần nâng cao chất lương

và hiệu quả trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn sang hoạt động công nghiệp và dịch vụ

Kết quả triển khai thực hiện, chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức, viên chức và thu hút nhân tài của tỉnh đã đạt được những kết quả nổi bật, góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức của tỉnh Chính sách được ban hành và triển khai thực hiện đã động viên, khích lệ phong trào học tập nâng cao trình độ cả về chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị trong cả hệ thống chính trị của tỉnh; đã thu hút được người có trình độ cao về công tác tại tỉnh, đặc biệt là đội ngũ bác sĩ đa khoa hệ chính quy cho ngành Y tế, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm

vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Đến nay tỉnh đã sử dụng ngân sách thực hiện chi trả trên 13 tỷ đồng cho 1015 lượt người, trong đó: Hỗ trợ sau đào tạo, trình độ sau đại học đối với diện có quyết định của cấp có thẩm quyền phê duyệt cử đi học được hưởng chính sách trong đào tạo bồi dưỡng là: 112 người/ 4 tỷ 177 triệu đồng (trong đó 03 tiến sĩ/217,8 triệu đồng); hỗ trợ sau đào tạo, trình độ sau đại học đối

Trang 37

với diện khuyến khích tự học tập nâng cao trình độ là: 148 người/ 5 tỷ 103 triệu đồng; hỗ trợ sau đào tạo, trình độ đại học văn bằng II về ngoại ngữ là: 59 người/

450 triệu đồng; hỗ trợ sau tuyển dụng đối với diện thu hút là: 98 người/ 1 tỷ 978 triệu đồng (trong đó 03 tiến sĩ/140 triệu đồng); Thưởng sinh viên có thành tích cao trong học tập: 598 sinh viên/ 1 tỷ 360 triệu đồng…

Tỉnh Quảng Ninh cũng đã đưa ra quan điểm phát triển NNL và xác định các mục tiêu cơ bản , tổng quát cụ thể như sau:

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, sự đóng góp của các nguồn lực vật chất là vô cùng quan trọng, song NNL CLC mới là yếu tố quyết định, giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh

NNL CLC là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH, là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Xây dựng chính sách đi đôi với thực thi chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài Tăng cường nguồn ngân sách cho chính sách đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực và thu hút nhân tài Có chính sách đãi ngộ thích hợp đối với đội ngũ khoa học – NNL chất lượng cao

Tỉnh cũng xác định mục tiêu nâng cao chất lượng NNL, đặc biệt là đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức của tỉnh cả về phẩm chất đạo đức; chuyên môn, nghiệp vụ; đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ, góp phần thực hiện tốt công tác quy hoạch cán

bộ Thu hút những người có đức, có tài, có trình độ chuyên môn cao và năng lực quản

lý, điều hành về làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập thuộc tỉnh để góp phần từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng vững mạnh, chuyên nghiệp; nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Động viên, khuyến khích những người có tài năng và sinh viên của tỉnh đang học trong các trường đại học tiếp tục nỗ lực học tập, rèn luyện và cống hiến tài năng cho sự nghiệp phát triển của tỉnh Bên cạnh đó tiếp tục mở rộng mạng lưới giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo và dạy nghề để đạt được mục tiêu phát triển NNL tốt phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH của tỉnh

Trang 38

1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Thái Nguyên

Từ kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Đà Nẵng, Quảng Ninh, ta có thể rút ra bài học cơ bản cho phát triển NNL ở Thái Nguyên:

Một là, xác định chủ thể của phát triển nguồn nhân lực là yếu tố con người:

Chủ trương, đường lối phát triển nhân lực phải được cụ thể hoá bằng văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách và các kế hoạch phát triển, đồng thời phải tăng cường tính pháp lý của việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối đó

Hai là, Đổi mới tổ chức và phương pháp quản lý nhà nước về phát triển NNL:

Quan tâm thực hiện có hiệu quả chính sách của Trung ương gắn với việc xây dựng các cơ chế linh hoạt của tỉnh trong phát triển nhân lực, định hướng rõ sự phát triển của từng ngành nghề, lĩnh vực khu vực để thu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển NNL trên địa bàn Cải tiến, đổi mới các hình thức tổ chức đào tạo nhân lực theo hướng tăng cường sự gắn kết và mối quan hệ trực tiếp giữa cơ sở đào tạo nhân lực và doanh nghiệp sử dụng nhân lực

Ba là, Có cơ chế, chính sách khuyến khích đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH: Cần thục hiện nghiêm chỉnh đúng

quy định và sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước danh cho phát triển NNL; thu hút đầu tư nước ngoài, huy động nguồn lực cho phát triển đào tạo NNL từ sự đóng góp của người dân và doanh nghiệp Tập trung đầu tư cho phát triển NNL mà tỉnh đang cần để phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH

Có cơ chế ưu tiên trong bố trí và sử dụng NNL trẻ, được đào tạo cơ bản, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức trẻ được phát huy năng lực, sở trường, quan tâm đề bạt, bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý Tổ chức thi tuyển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý Có cơ chế đãi ngộ thu hút nhân tài về các điều kiện về nhà ở, tiền lương, thưởng…

Bốn là, Tăng cường cơ sở vật chất, đồng bộ hóa, chuẩn hóa theo hướng hiện đại mạng lưới giáo dục, đào tạo: để tiếp tục nâng cao trình độ học vấn và chất

lượng giáo dục làm cơ sở vững chắc cho phát triển đào tạo NNL Thực hiện chuẩn hóa các điều kiện về cơ sở vật chất – kỹ thuật của các cơ sở đào tạo các cấp đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực phù hợp với yêu cầu thực tế và hội nhập quốc tế

Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội: về vị trí vai trò của nâng cao chất lượng NNL, đặc biệt là

NNL chất lượng cao Vinh danh các nhà giáo, những người vừa làm nghề giảng dạy

Trang 39

vừa làm công tác khoa học- công nghệ có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục- đào tạo phát triển nhân lực của tỉnh

Công tác phát triển NNL tại Thái Nguyên đã có những bước phát triển mới,

đã luôn xác định phát triển nhân lực là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định, là

động lực quan trọng để hoàn thành cơ bản sự nghiệp CNH- HĐH, là nhân tố quyết

định phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế, hài hòa và bền vững

Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đồng thời phát huy vai trò của xã hội trong việc phát triển nhân lực thông qua quy hoạch, quản lý và thực hiện các chính sách thu hút Phát triển bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu phù hợp, có trình

độ chuyên môn cao, có phẩm chất, nhân cách, năng lực nghề nghiệp, thành thạo về

kỹ năng, tác phong chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo phục vụ yêu cầu phát triển của tỉnh

Trang 40

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra

Câu hỏi 1: Thực trạng phát triển NNL trong sự nghiệp CNH-HĐH ở tỉnh Thái

Nguyên hiện nay như thế nào? Những tồn tại, hạn chế là gì? Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó là gì?

Câu hỏi 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNL tỉnh Thái Nguyên và

vấn đề đặt ra cần phải được nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn là gì?

Câu hỏi 3: Các giải pháp nào được đưa ra nhằm phát triển NNL trong sự

nghiệp CNH-HĐH tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 một cách hiệu quả?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

- Chọn địa điểm nghiên cứu : Lựa chọn địa điểm nghiên cứu là vấn đề quan

trọng, bởi vì địa điểm nghiên cứu ảnh hưởng khách quan tới kết quả phân tích và mang tính đại diện cho toàn bộ địa bàn nghiên cứu

Do vậy, để đạt được mục tiêu nghiên cứu tiến hành chọn điểm nghiên cứu dựa trên các căn cứ yêu cầu về NNL đối với từng loại ngành nghề và được chia làm 02 khu vực thành thị và nông thôn Luận văn chọn 04 loại ngành nghề chủ đạo đại diện cho các đặc điểm và yêu cầu về NNL chủ yếu thuộc tỉnh Thái Nguyên, đó là ngành nông lâm nghiệp thủy sản; ngành công nghiệp xây dựng; ngành dịch vụ và khối ngành quản

lý nhà nước Việc đánh giá về chất lượng NNL đối với mỗi ngành nghề tại 02 khu vực

rõ rệt sẽ có được những kết quả sát thực tế hơn, đồng thời các điểm chọn để nghiên cứu đảm bảo tính đại diện cho toàn thể NNL của cả tỉnh Thái Nguyên

- Chọn đối tượng nghiên cứu: Đại diện trong tỉnh Thái Nguyên về chất lượng

và các đặc điểm điển hình của NNL tỉnh Thái Nguyên qua sự đánh giá, nhận xét của một số cơ quan nhà nước, ý kiến của người dân khi tiếp xúc với các cán bộ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, ngoài ra tác giả khảo sát thêm ý kiến của một số cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ tại một số cơ quan, sở, ngành trong tỉnh

Ngày đăng: 11/11/2015, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Điều tra theo ngành nghề tại tỉnh Thái Nguyên - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 2.1. Điều tra theo ngành nghề tại tỉnh Thái Nguyên (Trang 41)
Bảng 2.2. Điều tra các vùng đại diện cho tỉnh Thái Nguyên - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 2.2. Điều tra các vùng đại diện cho tỉnh Thái Nguyên (Trang 42)
Bảng 3.3. Cơ cấu các ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2013 - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3. Cơ cấu các ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2013 (Trang 59)
Bảng 3.5. Cơ cấu dân số tỉnh Thái Nguyên phân theo giới tính - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5. Cơ cấu dân số tỉnh Thái Nguyên phân theo giới tính (Trang 65)
Bảng 3.10. Trình độ học vấn phổ thông của lực lƣợng lao động ngành công - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Trình độ học vấn phổ thông của lực lƣợng lao động ngành công (Trang 71)
Bảng 3.12. Lực lƣợng lao động (đang làm việc) theo trình độ đào tạo  Chỉ tiêu - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.12. Lực lƣợng lao động (đang làm việc) theo trình độ đào tạo Chỉ tiêu (Trang 72)
Bảng 3.13. Dân số trong độ tuổi lao động không hoạt động kinh tế - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13. Dân số trong độ tuổi lao động không hoạt động kinh tế (Trang 73)
Bảng 3.14. Dân số và lao động đang làm việc trong ngành KTQD - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14. Dân số và lao động đang làm việc trong ngành KTQD (Trang 74)
Bảng 3.17. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.17. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động (Trang 76)
Bảng 3.18. Số lƣợng, chất lƣợng công chức, viên chức đến 31/12/2013 - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.18. Số lƣợng, chất lƣợng công chức, viên chức đến 31/12/2013 (Trang 79)
Bảng 3.19. Trình độ nhân lực khoa học công nghệ theo nhóm tuổi ở tỉnh Thái Nguyên năm 2013  Trình độ - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.19. Trình độ nhân lực khoa học công nghệ theo nhóm tuổi ở tỉnh Thái Nguyên năm 2013 Trình độ (Trang 82)
Bảng 3.22. Năng suất lao động xã hội giai đoạn 2005-2010 tỉnh Thái Nguyên - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.22. Năng suất lao động xã hội giai đoạn 2005-2010 tỉnh Thái Nguyên (Trang 87)
Bảng 3.23. Hệ thống trường, lớp, giáo viên, học sinh giáo dục phổ thông - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.23. Hệ thống trường, lớp, giáo viên, học sinh giáo dục phổ thông (Trang 89)
Bảng 3.25. Kết quả đào tạo cán bộ, công chức tỉnh Thái Nguyên - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.25. Kết quả đào tạo cán bộ, công chức tỉnh Thái Nguyên (Trang 93)
Bảng 4.2. Dự báo cung lao động giai đoạn 2014-2020  Chỉ tiêu - Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên
Bảng 4.2. Dự báo cung lao động giai đoạn 2014-2020 Chỉ tiêu (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w