Doanh nghiệp là một tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân được thành lập để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục tiêu tối đa hoá, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp.
Trang 1CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân được thành lập để thựchiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục tiêu tối đa hoá, tối đa hoágiá trị doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, doanh nghiệp được phân loại theo nhiều hìnhthức Tuy nhiên trong phạm vi tài chính và các quan hệ tài chính, doanh nghiệp đượcphân loại theo hình thức sở hữu Với cách phân loại này doanh nghiệp được phân loạithành thành các loại sau:
- Công ty cổ phần
- Công ty TNHH
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Doanh nghiệp liên doanh
Mỗi loại hình doanh nghiệp có các hình thức tài chính quản lý tài chính khác nhaunhưng nội dung và bản chất của hoạt động tài chính và giá trị tài chính cơ bản là giốngnhau
1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính là một hệ thống các mối quan hệ tiền tệ nảy sinh trong quá trình phân phốitổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệphục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh và thực hiện các chức năng quản lý nhà nướccủa doanh nghiệp
Trang 2Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đờicủa nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ Mức độ phát triển của tài chính trong doanh nghiệpphụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa Nền kinh tế tậptrung bao cấp đã sản sinh ra cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp là bao cấp Nền kinh
tế thị trường đã làm xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính mới Do đó, tính chất vàphạm vi của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng có những thay đổi đáng kể
Tài chính doanh nghiệp là tài chính của những tổ chức, các đơn vị sản xuất kinhdoanh có tư cách pháp nhân Tài chính doanh nghiệp là một khâu quan trọng trong hệthống tài chính quốc gia, ở đó diễn ra các quá trình sản xuất kinh doanh như: đầu tư,cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ra thị trường Trong đó, sự chuchuyển của vốn luôn gắn liền với sự vận động của tài sản, vật tư, hàng hóa Như vậy, xét
về mặt bản chất thì các mối quan hệ tiền tệ và các quỹ tiền tệ là hình thức biểu hiện bềngoài của tài chính doanh nghiệp, mà đằng sau nó ẩn dấu những quan hệ kinh tế phứctạp, những luồng tiền chuyển dịch giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹtiền tệ Sự vận động đó không chỉ bó hẹp trong một chu kỳ kinh doanh mà trực tiếp hoặcgián tiếp có liên quan đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Hay nói cáchkhác, sự vận động của nó làm phát sinh các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trongcác khâu của quá trình tái sản xuất giữa doanh nghiệp và các đối tác trong nền kinh tế thịtrường Những quan hệ đó tuy chứa đựng những nội dung kinh tế khác nhau nhưngchúng có những đặc trưng giống nhau, luôn luôn tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp Các quan hệ kinh tế đó là:
- Nhóm quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: thị trường lao động,thị trường hàng hóa dịch vụ…
- Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp
- Các quan hệ tài chính khác
Trang 3Từ đó ta có thể khẳng định rằng: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệkinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng cácquỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêulợi nhuận.
1.1.3 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có các vai tròchủ yếu sau:
- Đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có vốn kinhdoanh Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện là xác định đúng đắn nhucầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Tiếp đó phảilựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn để hoạt động của doanhnghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên tục với chi phí huy động vốn tốiưu
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả
Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và pháttriển của mọi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng như việcđánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư tối ưu, lựa chọn và huyđộng vốn có lợi nhất cho hoạt động kinh doanh, bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụngcác biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốnkinh doanh
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh
Trang 4Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo sức muahợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bánhợp lý khi tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thunhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen thưởng, quỹ lương, thực hiện các hợpđồng kinh tế.
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực nhấtmọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các chỉ tiêu tài chính màcác nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh củadoanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa ra các quyếtđịnh điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tời các mục tiêu đã đinh
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết là phụthuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính doanh nghiệp và cácnguyên tắc cần quán triệt trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp
1.2 Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chứchuy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh
Phân tích tài chính là một hệ thống các phương pháp, công cụ cho phép thu thập
và xử lý các thông tin trong quản lý doanh nghiệp nhằm xem xét, kiểm tra, đánh giá tìnhhình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính có cácquyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích giúp chongười sử dụng thông tin có thể vừa đánh giá tổng hợp toàn diện khái quát, vừa xem xétmột cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp để qua đó có thể đánh giá chính xác
Trang 5sức mạnh tài chính và triển vọng phát triển của doanh nghiệp Vì thế phân tích tài chính
mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm của rấtnhiều đối tượng Mỗi nhóm đối tượng này có nhu cầu thông tin khác nhau do vậy họ sẽquan tâm đến những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp
1.2.1 Đối với nhà quản trị doanh nghiệp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý là lợi nhuận và sự phát triển bềnvững của doanh nghiệp Vì vậy hơn ai hết các nhà quản lý cần đầy đủ thông tin để nhậnbiết, đánh giá khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp như thế nào có hiệu quả hay không, cơ cấu vốn, khả năng thanhtoán thông qua việc phân tích tài chính Đây chính là cơ sở để các nhà quản lý doanhnghiệp đưa ra các quyết định cần thiết có hiệu quả để thực hiện các mục tiêu của doanhnghiệp và là cơ sở để định hướng cho ban giám đốc, giám đốc tài chính xây dựng các kếhoạch đầu tư, dự báo tài chính, kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp
1.2.2 Đối với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư ở đây chính là các tổ chức và cá nhân giao vốn cho doanh nghiệp
sử dụng và sẽ chấp nhận chịu chung mọi rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải Thu nhập của
họ bao gồm: tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư, hai yếu tố chịu ảnhhưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp Đối với các nhà đầu tư lớn họ thườngdựa vào các nhà chuyên môn, các chuyên gia phân tích tài chính, các nhà nghiên cứukinh tế tài chính để phát triển và làm dự báo về triển vọng phát triển của doanh nghiệp,đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp, khả năng đảm bảo mức lợi tức mà họ yêu cầu Đốivới các nhà đầu tư hiện tại cũng như các nhà đầu tư tiềm năng thì mối quan tâm của họtrước hết là việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp Họ quan tâm tới antoàn trong đầu tư và mức lợi tức kỳ vọng được phản ánh thông qua điều kiện tài chínhcủa doanh nghiệp và tình hình hoạt động tài chính Các nhà đầu tư này quan tâm tớiphân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp, khả năng tăng
Trang 6trưởng và phát triển của doanh nghiệp, những rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải hứngchịu Thông qua đó để họ đưa ra quyết định đầu tư một cách có hiệu quả nhất: có nên bỏvốn đầu tư vào doanh nghiệp hay không, nếu đầu tư thì với khối lượng bao nhiêu vàtrong thời gian bao lâu?
1.2.3 Đối với người cho vay, nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ, các cơ quan
quản lý nhà nước, và các đối tượng khác.
Người cho vay là các ngân hàng, các công ty tài chính, tổ chức tín dụng họphân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng Khi quyết địnhcho vay thì một trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực
sự có nhu cầu hay không? khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào?
Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ, họ phải quyết định xem cócho phép khách hàng sắp tới được mua trả chậm hàng hóa hay không, họ cần thiết phảinắm thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại cũng như trong tươnglai …
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinhdoanh… Họ phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất kinhdoanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng chính sách chế độ và luậtpháp không, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước để đề ra các biện pháp quản
lý phù hợp
Người lao động cũng quan tâm đến các thông tin về tình hình tài chính doanhnghiệp để đánh giá triển vọng của nó trong tương lai Những người đi tìm việc đều cónguyện vọng được làm việc ở những công ty có triển vọng sáng sủa với tương lai lâu dài
để hy vọng có mức lương tương xứng và chỗ làm việc ổn định Do vậy, một công ty cótình hình tài chính và tương lai ảm đạm đang đứng trên bờ vực phá sản sẽ không thu hútđược người lao động Các đối thủ cạnh tranh cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi,doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu tài chính khác trong điều kiện có thể để tìm biện pháp
Trang 7cạnh tranh với công ty Các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp nói chungcòn được cả các nhà nghiên cứu, các sinh viên kinh tế quan tâm phục vụ cho việc nghiêncứu và học tập của họ
Tuy các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp dướinhững góc độ khác nhau, song nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra cácdòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa Bởi vậy,việc phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu nhấtđịnh sau:
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin hữu ích cho cácnhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin tài chính khác đểgiúp họ có những quyết định đúng đắn khi ra các quyết định đầu tư, quyết địnhcho vay
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp cho các chủ công ty, các nhà đầu tư,các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin khác trong việc đánh giá khảnăng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào, ra và tình hình sử dụng có hiệuquả nhất vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của công ty
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sởhữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện
và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của các công ty
Tóm lại, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là một công việc có ýnghĩa quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp Nó không chỉ có ý nghĩa đối vớibản thân doanh nghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể khác có liên quan đến doanhnghiệp
Trang 81.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Quy trình phân tích tài chính
Để có được những thông tin đầy đủ chính xác cho người sử dụng thì phân tích tàichính cần phải tổ chức thực hiện theo một quy trình hoàn thiện với nguồn thông tin đầy
đủ, phương pháp và nội dung phân tích khoa học Quy trình phân tích tài chính có thểthực hiện theo 4 bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạch phân tích:
- Nội dung phân tích: cần xác định rõ các vấn đề được phân tích: có thể là toàn bộhoạt động tài chính hoặc chỉ là một số vấn đề cụ thể nào đó như cơ cấu vốn, khảnăng thanh toán… Đây là cơ sở để xây dựng đề cương cụ thể để tiến hành phântích
- Phạm vi phân tích: Có thể là toàn đơn vị hoặc một số đơn vị được chọn làm điểm
để phân tích, tùy yêu cầu và thực tiễn quản lý mà xác định nội dung và phạm viphân tích thích hợp
- Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bị và thờigian tiến hành công tác phân tích
- Trong kế hoạch phân tích cần phân công trách nhiệm cho các bộ phận trực tiếpthực hiện và bộ phận phục vụ công tác phân tích, cũng như các hình thức hộinghị phân tích nhằm thu thập nhiều ý kiến, đánh giá đúng thực trạng và phát hiệnđầy đủ tiềm năng giúp doanh nghiệp phấn đấu đạt kết quả cao trong kinh doanh
Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin:
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thôngtin, từ thông tin trong nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài, từ
Trang 9những thông tin số lượng đến những thông tin giá trị, từ những thông tin lượnghóa được đến những thông tin không lượng hóa được.
- Thông tin tài chính: Để có được nguồn thông tin này cần thu thập các kế hoạchtài chính chi tiết và tổng hợp, các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, cáctài liệu kế toán chi tiết có liên quan
- Thông tin phi tài chính: Sự phát triển của doanh nghiệp do tác động của nhiềunhân tố trong và ngoài doanh nghiệp Phân tích tài chính là việc phân tích hướngtới tương lai của doanh nghiệp Bởi vậy, ngoài các thông tin tài chính hiện tại vàquá khứ, việc phân tích tài chính doanh nghiệp phải sử dụn nhiều thông tin phí tàichính khác: thông tin về môi trường chung về kinh tế, chính trị, pháp luật…,thông tin về ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động, thông tin về doanh nghiệp
+ Các thông tin chung: là những thông tin về môi trường kinh tế, chính trị,luật pháp có liên quan đến cơ hội kinh doanh của một doanh nghiệp: sự tăngtrưởng hay suy thoái của một nền kinh tế, sự can thiệp của nhà nước vào hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, biện pháp giúp đỡ tài chính, chính sáchthuế, chính sách tiền tệ …
+ Các thông tin theo ngành kinh tế ( theo lĩnh vực hoạt động): Đặt sự pháttriển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với hoạt động chung của ngành kinhdoanh Nghiên cứu theo ngành cần thấy được đặc điểm kinh doanh của ngành
có liên quan đến: Sản phẩm, công nghệ, xu thế biến động của ngành ( tăngtrưởng, suy thoái hay bão hòa), áp lực trong cạnh tranh
+ Các thông tin về doanh nghiệp:
* Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, hình thức sở hữu vốn, hìnhthức hoạt động, thâm niên, quy mô của doanh nghiệp
Trang 10* Cơ cấu tổ chức: Giá trị của doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ với giátrị của những người làm việc tại doanh nghiệp Đặc biệt doanh nghiệpnhỏ càng phụ thuộc vào những người làm việc tại doanh nghiệp.
* Chủ doanh nghiệp: Cần tìm kiếm thông tin về phương diện cánhân như tuổi, tình hình gia đình, nguồn gốc đào tạo, trách nhiệm,nhân cách đạo đức, thái độ … Về người thừa kế như khung cán bộ hay
sự hình thành ê kíp lãnh đạo, việc tuyển lựa đề bạt Về nhân viên nhưkết cấu lao động, trình độ lành nghề, bầu không khí tập thể, việc thaythế nhân viên…
* Mục tiêu của nhà lãnh đạo: Mục tiêu tăng trưởng mạnh doanh thu
sẽ kéo theo tăng chi phí quảng cáo, tăng phải thu do tăng điều kiện ưuđãi để khuyến khích bán hang, tăng lượng hàng tồn kho để đáp ứng cácđơn đặt hàng lớn…
* Sản phẩm của doanh nghiệp: Mặt hàng, chất lượng, vị trí của sảnphẩm trên thị trường, mức độ đa dạng hóa sản phẩm trong doanhnghiệp, chu kỳ sống của sản phẩm đó
* Thị trường của các sản phẩm trong doanh nghiệp mang tính chấtquốc tế hay nội địa, thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh cũng nhưtính ổn định của thị trường…
* Chính sách của doanh nghiệp để tăng cường và bảo vệ vị trí củamình: Chính sách dự trữ vật tư, hàng hóa, chính sách bán hàng, chínhsách giá cả, chính sách khách hàng, chính sách quảng cáo…
Chất lượng công tác phân tích phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các thông tinthu thập được Bởi vậy, trước khi phân tích, nhà phân tích phải kiểm tra tính hợp phápcủa tài liệu chứa đựng thông tin (trình tự lập, ban hành, người lập, cấp thẩm quyền phê
Trang 11duyệt… ) cũng như độ tin cậy của nguồn thông tin thu thập được: tính nhất trí của cùngmột thông tin kế toán trên các tài liệu khác nhau, tính trung thực hợp lý của các thông tin
kế toán…
Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứ phân tích
mà cả các tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là các tài liệu gốc
Bước 3: Xác định những biểu hiện đặc trưng:
Tính toán các tỷ số tài chính, lập các bảng biểu theo từng nội dung đã đặt ra, sosánh với các chỉ số kỳ trước, các chỉ số của ngành, của các doanh nghiệp khác trongcùng một lĩnh vực hoạt động Trên cơ sở đó, đánh giá khái quát mặt mạnh, điểm yếu củadoanh nghiệp, vạch ra những vấn đề, những trọng tâm cần được phân tích
- Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, dự báo xu hướng phát triển
- Đề xuất các giải phát tài chính cũng như các giải pháp khác nhằm thực hiện mụctiêu
1.3.2 Tài liệu cơ bản được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụngcác thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan trọngbậc nhất Mặt khác, các doanh nghiệp còn có nghĩa vụ cung cấp những thông tin kế toáncho các đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Thông tin kế toán được phản ánh
Trang 12khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở cácbáo cáo tài chính – được hình thành thông qua xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu là:Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyếtminh báo cáo tài chính.
1.3.2.1 Bảng cân đối kế toán (balance sheet)
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộgiá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành nên tài sản đó của doanh nghiệp tại một thờiđiểm nhất định Kết cấu của bảng cân đối kế toán gồm hai phần: Phần tài sản và phầnnguồn vốn
- Phần tài sản: Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu ở phần TS phản ánh số TShiện có của DN ở thời điểm lập báo cáo, còn xét về mặt pháp lý, nó phản ánh vốnthuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản lý lâu dài của DN
- Phần nguồn vốn: Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu thuộc phần NV phản ánhcác nguồn hình thành nên các TS của DN, còn xét về phương diện pháp lý, các chỉtiêu này phản ánh trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các đối tượng đầu
tư vốn ( nhà nước, ngân hàng, cổ đông) cũng như với khách hàng thông qua công nợphải trả
Nhìn vào bảng cân đối kế toán có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy
mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp
1.3.2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh (profit and loss statement)
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh toàn bộ kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định và những nghĩa vụ màdoanh nghiệp phải thực hiện với nhà nước
Trang 13Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin có thểkiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ,
so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành để nhân biếtkhái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận động, nhằmđưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính phù hợp
Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận củamột doanh nghiệp trong một kỳ kế toán đã qua
1.3.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement)
BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụnglượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Nếu BCĐKT cho biết những nguồn lực, của cải (tài sản) và nguồn hình thành củanhững tài sản đó và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh đểtính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì BCLCTT được lập để trả lời cácvấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tưbằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Theo chuẩn mực kế toán 24 quy định: Một BCLCTT phải được chia thành baphần:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
1.3.2.3 Thuyết minh báo cáo tài chính (Descriptive financial statement)
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tàichính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt
Trang 14động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà cácbáo cáo tài chính khác không thể trình bày chi tiết được Nội dung của báo cáo:
- Trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng
- Tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn
- Phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và kiến nghị của doanh nghiệp
1.3.3 Phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện phápnhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bênngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chitiết nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp nhưng thực
tế người ta thường sử các phương pháp sau:
1.3.3.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanhnghiệp Phương pháp này dùng để xây dựng xu hướng phát triển và mức độ biến độngcủa các chỉ tiêu phát triển
Để có thể áp dụng phương pháp này cần phải đảm bảo các điều kiện: phải có sựthống nhất về thời gian, không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán nghĩa là cácchỉ tiêu phải được tính trên cùng một khoảng thời gian hạch toán, phải cùng phản ánhmột nội dung kinh tế, phải cùng một phương pháp tính toán, phải cùng một đơn vị đolường và các chỉ tiêu cần phải quy đổi về cùng một quy mô và điều kiện kinh doanhtương đương nhau
Trang 15Tùy theo từng mục đích phân tích mà nhà phân tích sẽ lựa chọn gốc so sánh chophù hợp Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về mặt thời gian hoặc không gian.Tuỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch Giá trị so sánh có thể lựachọn là số tương đối hoặc số tuyệt đối hoặc số bình quân Nội dung so sánh gồm:
- So sánh kỳ này với kỳ trước để thấy rõ hơn xu thế thay đổi về tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp
- So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu của doanh nghiệp khác hoặc với sốliệu trung bình của ngành để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp là tốt hayxấu, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, sosánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối
và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Đây là một phương pháp đơn giản, dễ tính toán, dễ thực hiện Sử dụng phươngpháp này giúp cho các nhà phân tích đánh giá được vị thế của doanh nghiệp, tình hình tàichính của doanh nghiệp, xem xét việc thực hiện kế hoạch đã đề ra Thông qua đó nhàquản lý đưa ra được kế hoạch chiến lược hoạt động cho thời gian tới Tuy nhiên kết quảthu được khi sử dụng phương pháp này chưa phản ánh một cách tổng quát nhất thựctrạng tài chính của doanh nghiệp Do vậy khi tiến hành phân tích tài chính nhà phân tíchthường sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
1.3.3.2 Phương pháp tỷ lệ.
Là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chínhdoanh nghiệp Để áp dụng phương pháp này cần xác định được các ngưỡng, các tỷ số
Trang 16tham chiếu Để đánh giá tình trạng tài chính của doanh nghiệp cần so sánh các tỷ số củadoanh nghiệp với tỷ số tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành cácnhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn,nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ từng bộ phận của hoạtđộng tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau tùy theo giác độ phân tích, người phântích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ cho mục tiêu phân tích của mình
1.3.3.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Phương pháp Dupont được công ty Dupont của Mỹ đưa vào sử dụng trong phântích tài chính lần đầu tiên vào khoảng chiến tranh thế giới thứ nhất Ngày nay được sửdụng phổ biến trên toàn thế giới Phương pháp Dupont cho biết mối quan hệ tương hỗgiữa các tỷ lệ tài chính đặc trưng Từ một chỉ tiêu tổng thể tách thành nhiều chỉ tiêu bộphận Qua đó, nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượngtốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp
Hai tỷ lệ phổ biến được dùng để phân tích là ROA và ROE
Ví dụ khi phân tích ROA:
ROA = LN (trước) sau thuếTTSbq = LN (trước) sau thuếDT và TN khác X DT và TN khácTTSbq
Trang 17ROA phụ thuộc vào 2 yếu tố: lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp trên doanh thu
và hiệu suất sử dụng tổng tài sản Sự phân tích cho phép xác định được nguồn gốc làmtăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
1.3.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.4.1 Phân tích khái quát về môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường ngành
Nhà phân tích phải phát hiện những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô,ngành nghề kinh doanh từ đó đánh giá sơ bộ về môi trường bên ngoài ảnh hưởng đếnsản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp như thế nào? Xác định xu hướng pháttriển, nguy cơ cũng như cơ hội đối với doanh nghiệp
1.3.4.2Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.3.4.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các cân
bằng trên bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thờiđiểm nhất định, nó bao gồm hệ thống các chỉ tiêu tài chính phát sinh phản ánh từng nộidung tài sản và nguồn vốn Như vậy, dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán ta có thểphân tích được kết cấu nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp xem xét sự tăng giảm củatài sản và nguồn vốn để phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Để phân tích kết cấu nguồn vốn và tài sản trước hết ta xem xét quy mô của từngloại nguồn vốn và tài sản thông qua giá trị tuyệt đối của chúng, sau đó tính tỷ trọng củatừng loại tài sản và nguồn vốn Qua đó đánh giá được cơ cấu của từng loại tài sản vànguồn vốn chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn Ta tính trên cả cột đầu năm và cuối kỳ
để xem xét kết cấu nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp trong năm có ổn định không
Ta cũng có thể so sánh kết cấu nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp qua một vài năm
để xem xét cụ thể biến động của chúng qua cac năm
Trang 18Căn cứ vào mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán, các nhà phân tích có thể phântích được tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu sau:
Thứ nhất: Xác định vốn lưu động thường xuyên:
Vốn lưu động thường xuyên là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn và tài sảndài hạn Đây là một phần vốn ổn định sử dụng cho việc tài trợ tài sản ngắn hạn
Vốn lưu động thường xuyên được xác định theo 2 cách:
- Cách 1: Vốn lưu động thường xuyên=(Nguồn vốn dài hạn) – (Tài sản dài hạn)
- Cách 2: Vốn lưu động thường xuyên=(Tài sản ngắn hạn) – (Nguồn vốn ngắnhạn)
Nếu VLĐTX>0, chứng tỏ công ty có một phần nguồn vốn dài hạn đầu tư cho tàisản ngắn hạn, điều này đem lại cho công ty một nguồn vốn tài trợ ổn định, một dấu hiệu
an toàn, một quyền độc lập nhất định
Nếu VLĐTX<0, chứng tỏ công ty có một phần tài sản dài hạn được tài trợ bằngnguồn vốn ngắn hạn, công ty kinh doanh với cơ cấu vốn rất mạo hiểm Do nguồn vốnngắn hạn chỉ được sử dụng trong thời gian ngắn, do vậy khi đến hạn doanh nghiệp có thểlâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, hoặc phải huy động vốn với chi phí cao, haychấp nhận bán tài sản cố định của doanh nghiệp, thu hẹp quy mô tài sản Tuy nhiên nếurủi ro chưa xảy ra thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí sử dụng vốn
Khi phân tích VLĐTX, ta so sánh VLĐTX giữa các kỳ để thấy được sự biếnđộng của nó
Theo công thức 1, ta thấy VLĐTX chịu ảnh hưởng của 2 nhân tố là nguồn vốndài hạn và tài sản dài hạn Bất cứ sự biến động nào của VLĐTX đều cần lý do để giảithích, cần đặc biệt chú ý đối với các trường hợp vốn dài hạn giảm, tài sản cố định giảmhoặc tài sản cố định tăng nhưng làm mất cân đối tình hình tài chính của công ty
Trang 19Thứ hai: Xác định nhu cầu vốn lưu động:
Nhu cầu vốn lưu động là nhu cầu vốn phát sinh trong quá trình sản suất kinhdoanh của công ty nhưng chưa được tài trợ bởi bên thứ 3 (người bán, nhận thầu, ngânsách …) trong quá trình kinh doanh đó
N/cVLĐ được xác định theo công thức:
Nhu cầu vốn lưu động=(Tài sản kinh doanh) – (Nợ kinh doanh)
Khi N/cVLĐ>0, tức là TSKD > NKD, cho thấy công ty có một phần tài sản lưuđộng chưa được tài trợ bởi bên thứ 3
Khi N/cVLĐ<0, tức là TSKD < NKD, chứng tỏ toàn bộ phần vốn chiếm dụng từbên thứ 3 lớn hơn toàn bộ nhu cầu vốn ngắn hạn phát sinh trong quá trình kinh doanhcủa doanh nghiệp
Thứ ba: Xác định vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền có thể được xác định theo 2 cách:
- Cách 1: Vốn bằng tiền = (Ngân quỹ có) – (Ngân quỹ nợ)
VBT dương hay ngân quỹ có lớn hơn ngân quỹ nợ, chứng tỏ công ty chủ động vềvốn bằng tiền Ngược lại VBT âm thể hiện công ty bị động về VBT
- Cách 2: Vốn bằng tiền = (Vốn lưu động thường xuyên) – (Nhu cầu vốn lưu động)VBT>0, với N/cVLĐ dương chứng tỏ VLĐTX thỏa mãn N/cVLĐ Ngược lại,công ty có quá nhiều tiền do chiếm dụng được vốn từ bên thứ 3 nếu N/cVLĐ âm
VBT<0, N/cVLĐ>0, VLĐTX>0, chứng tỏ VLĐTX chỉ tài trợ được một phầnN/cVLĐ, phần còn lại công ty phải dựa vào tín dụng ngắn hạn ngân hàng, phần này càngnhiều, doanh nghiệp càng phụ thuộc vào ngân hàng
Trang 201.3.4.2.2 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
Số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp những thông tin tổng hợp vềphương thức kinh doanh, việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động kỹ thuật, kinhnghiệm của doanh nghiệp và chỉ ra rằng hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận haygây ra tình trạng lỗ vốn Nó không chỉ cung cấp số liệu về hoạt động kinh doanh mà DN
đã thực hiện trong kỳ mà còn dự báo các hoạt động của DN trong tương lai
Thực chất, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của DN là phân tíchthu nhập và chi phí
Thứ nhất: Phân tích doanh thu và thu nhập khác của doanh nghiệp:
Về mặt lý thuyết một DN thông thường cần có nguồn thu nhập chủ yếu, thườngxuyên và ổn định là DTT từ bán hàng và cung cấp dịch vụ Các khoản thu nhập khác từhoạt động tài chính và hoạt động khác chỉ nên mang tính chất bổ sung cho hoạt động bánhàng và cung cấp dịch vụ Khi phân tích DT, trước hết nhà phân tích cần xác định rõđược nguồn gốc các khoản thu nhập trong kỳ của DN, từ đó đánh giá tầm quan trọng, sự
ổn định cũng như khả năng tăng trưởng của chúng trong tương lai Để làm được điều đó,nhà phân tích có thể tách riêng số liệu về DT và thu nhập khác của DN từ báo cáoKQKD sau đó xác định tỷ trọng từng loại DT hay thu nhập khác trong tổng số thu nhậpcủa DN và có thể so sánh cơ cấu thu nhập của năm hiện tại với các năm trước hay sosánh với cơ cấu thu nhập của doanh nghiệp khác cùng ngành
Thứ hai: Phân tích tình hình quản lý chi phí của DN:
Phân tích chi phí của DN để xem xét quá trình phát sinh chi phí, xác định tỷ trọng
và xu hướng thay đổi các yếu tố chi phí để từ đó cắt giảm những chi phí không cần thiếtnhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm… Việc quản lý chi phí để làm căn cứ xácđịnh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét mức độ hiệu quả, mức độ tăngtrưởng trong hoạt động kinh doanh của DN
Trang 21Phân tích chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh chúng ta chủ yếu sử dụngphương pháp so sánh So sánh chỉ tiêu kỳ này với kỳ trước để xem xét kết quả hoạt độngkinh doanh của DN năm nay có tốt hơn năm trước không?
Thứ ba: Phân tích lợi nhuận:
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của DN Nó là chênhlệch giữa doanh thu và chi phí Một khi nhà phân tích đã hiểu rõ về sự thay đổi củadoanh thu và chi phí thì sẽ có thể đánh giá được sự thay đổi của lợi nhuận, biết được sựthay đổi đó là tốt hay xấu, phản ánh những thay đổi mang tính bản chất trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp hay chỉ là kết quả của những tác động mang tính ngoại lai,
và triển vọng của nó như thế nào
1.3.4.2.3 Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn
Khả năng thanh toán là năng lực đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán của công ty.Với dòng tiền đủ lớn, công ty có thể trang trải cho các nghĩa vụ tài chính, nhờ đó khônglâm vào tình trạng vỡ nợ hay kiệt quệ về tài chính
Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán phổ biến nhất là hệ số thanh toán ngắn hạn
và hệ số thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanh toán
có thể đem lại sự an toàn về khả năng thanh toán cao so với nghĩa vụ phải thanh toán
Nếu gặp khó khăn tài chính, công ty có thể không còn khả năng thanh toán đúnghạn các khoản phải trả hoặc cần mở rộng hạn mức tín dụng tài ngân hàng Kết quả là, nợ
Trang 22ngắn hạn sẽ tăng nhanh hơn tài sản ngắn hạn, chỉ số thanh toán ngắn hạn có thể giảmxuống Đây có thể là tín hiệu đầu tiên của sự trục trặc về tài chính Chỉ số này chỉ thểhiện khả năng thanh toán tại một thời điểm nhất định, vì vậy khi nghiên cứu cũng cầnphải tính toán, thống kê trong một khoảng thời gian đủ dài để có cái nhìn đầy đủ về lịch
sử vận hành và phát triển của công ty Ngoài ra, cũng có thể so sánh chỉ số này giữa cáccông ty trong cùng ngành để đánh giá hiệu quả tương đối của công ty
Hệ số khả năng thanh toán nhanh tương đối Hệ số này đo lường khả năng thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn của công ty bằng việc chuyển đổi các tài sản ngắn hạnkhông kể hàng tồn kho, do không phải lúc nào, nguyên vật liệu, thành phẩm … hay quátrình từ dự trữ chuyển thành tiền cũng được diễn ra ngay nhanh chóng mà phải trải quamột thời gian nhất đinh
Hệ số khả năng thanh toán
nhanh tương đối =
Tiền + ĐTTC ngắn hạn + Phải thu
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này được đánh giá là tin cậy hơn chỉ tiêu khả năng thanh toán nợ ngắnhạn vì nó đã loại bỏ ra các tài sản chậm chuyển thành tiền Nhìn chung, các chủ nợ thíchcho vay đối với các công ty có chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 1
Hệ số khả năng thanh toán ngay Trong một số trường hợp, tuy công ty có hệ sốkhả năng thanh toán nợ ngắn hạn và hệ số khả năng thanh toán nhanh tương đối caonhưng vẫn có thể mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ đến hạn do các khoản phảithu chưa thu hồi được Vì vậy, muốn biết khả năng thanh toán nhanh tức thì của công tytại thời điểm nghiên cứu, nhà phân tích có thể sử dụng chỉ tiêu khả năng thanh toán ngay
Hệ số khả năng thanh toán
Tiền + ĐTTC ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Trang 23Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán ngay tức thì của công ty bằng tiền vàcác chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao, không bị chi phối bởi thời gianchuyển đổi hàng tồn kho và các khoản phải thu Chỉ tiêu này đánh giá chính xác hơn khảnăng thanh toán của công ty vì đã loại bỏ đi được các khoản phải thu khó đòi hoặckhông thể thu hồi.
Hệ số khả năng thanh toán lãi tiền vay:
Hệ số khả năng thanh toán
lãi tiền vay =
Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay
Chi phí lãi vay
Hệ số này nói lên trong kỳ doanh nghiệp đã tạo ra lợi nhuận gấp bao nhiêu lần lãiphải trả tiền vay Thông thường hệ số này càng cao thì rủi ro mất khả năng thanh toán lãitiền vay càng thấp và ngược lại
Ngoài ra để đánh giá khả năng thanh toán của DN có thể dung các chỉ tiêu:
- Hệ số vòng quay khoản phải thu
- Hệ số vòng quay hàng tồn kho
Phương pháp phân tích chủ yếu là so sánh hệ số khả năng thanh toán của doanhnghiệp giữa các kỳ khác nhau, hệ số khả năng thanh toán của DN với các DN khác trongngành, hệ số trung bình ngành Tuy nhiên, để có kết luận đúng về khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp cần phải có cách nhìn toàn diện, phải thấy được sự tác động của cácnhân tố làm tăng hay giảm các chỉ tiêu
1.3.4.2.4Phân tích các chỉ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Cơ cấu tài chính đề cập tới việc công ty sử dụng nguồn tài trợ từ các khoản vaythay cho vốn cổ phần Các tỷ lệ này được dùng để đo lường vốn góp của các chủ sở hữuvới công ty so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với công ty và có ý nghĩa quan trọngtrong phân tích tài chính Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào số VCSH của công ty để xem xét
Trang 24mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho chủ nợ về các món nợ Nếu CSH công tychỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh chủyêu do chủ nợ phải gánh chịu Mặt khác, bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, chủ công
ty vẫn nắm được quyền kiểm soát và điều hành công ty, nếu công ty thu được lợi nhuận
từ tiền vay lớn hơn chi phí sử dụng vốn thì lợi nhuận dành cho chủ lợi nhuận sẽ gia tăngđáng kể
Đòn bẩy tài chính là công cụ để khuếch đại tỷ xuất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu,khi doanh nghiệp làm ăn có lãi Thêm vào đó, vay nợ cũng là một hình thức tài trợ vốnquan trọng, tạo lợi thế lá chắn thuế cho công ty vì chi phí lãy vay là một khoản chi phíhợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên khi doanh nghiệp sử dụng càngnhiều nợ thì càng có nguy cơ mất khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, dẫn tới các rủi rotài chính và nguy cơ phá sản Khi sử dụng nợ, chủ nợ và chủ sở hữu công ty có thể gặpphải những xung đột về quyền lợi Chủ nợ có thể muốn công ty thực hiện các khoản đầu
tư ít rủi ro hơn so với mong muốn của những người đầu tư vào cổ phiếu công ty Cơ cấutài chính được tính toán như sau:
ty càng cao và ngược lại
Hệ số tự tài trợ = Tổng nguồn vốnVốn chủ sơ hữu
Trang 25Hệ số này dùng để đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốncủa doanh nghiệp Nếu hệ số nợ càng thấp thì hệ số tự tài trợ càng cao và ngược lại.
Hệ số nợ dài hạn = Nợ dài hạn
Vốn chủ sơ hữu
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp đối với chủ nợ Chỉ tiêu nàycàng cao thì rủi ro của DN càng tăng Chỉ tiêu này cao hay thấp cũng tùy theo từngngành hoạt động, những ngành có tỷ trọng tài sản cố định lớn thường có chỉ số này cao.Tuy nhiên theo kinh nghiệm, để hạn chế rủi ro tài chính, thường người cho vay chấpnhận chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 hay nợ dài hạn không vượt quá nguồn vốn chủ sở hữu Khichỉ tiêu này càng gần 1, doanh nghiệp càng ít có khả năng được vay thêm các khoản vaydài hạn
Hệ số tự tài trợtài sản dài hạn =
Vốn chủ sơ hữuTài sản dài hạn bình quân
Tỷ suất này lớn hơn 1, thể hiện khả năng tài chính vững mạnh Ngược lại, nếunhỏ hơn 1 có nghĩa là có 1 phần tài sản cố định được tài trợ bằng nguồn vốn vay, nợ.Nếu nguồn vốn đó là nguồn vốn ngắn hạn thì doanh nghiệp đang sử dụng cơ cấu vốnmạo hiểm
1.3.4.2.5 Phân tích chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản
Nhóm chỉ tiêu này được tính cho một thời kỳ thường là 1 năm dương lịch hoặcnăm tài chính, cho thấy công ty khai thác và sử dụng các nguồn lực hiệu quả như thếnào Nhóm chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân:
Vòng quay khoản phải thu = DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụCác khoản phải thu bình quân
Trang 26Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thuthành tiền mặt của công ty Thông thường vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng
tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu càng nhanh, công ty ít bị chiếm dụng vốn và ngượclại Tuy nhiên không phải lúc nào vòng quay tăng cũng tốt và giảm là không tốt, phântích biến động của doanh thu thuần và các khoản phải thu bình quân trong kỳ để có đượccách nhìn nhận đúng đắn
Kỳ thu tiền bình quân = Số ngày trong kỳ phân tích
Vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để chuyển các khoản nợ củakhách hàng thành tiền Kỳ thu tiền bình quân tỷ lệ nghịch với vòng quay các khoản phảithu Thông thường, kỳ thu tiền trung bình ngắn thì càng tốt, nó thể hiện thời gian công ty
bị chiếm dụng vốn ngắn
- Vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho, trong kỳ hàng tồn kholuân chuyển được bao nhiêu vòng, thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.Vòng quay hàng tồn kho thấp, thể hiện tốc độ luân chuyển hàng tồn kho chậm, tăng ứđọng vốn ở hàng tồn kho, giảm hiệu quả sử dụng vốn, làm tăng nhu cầu vốn lưu độngtrong khi quy mô kinh doanh không thay đổi, làm giảm khả năng thanh toán nhanhtương đối
Trang 27Giai đoạn hàng tồn kho bắt đầu từ khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua nguyên vậtliệu, sản xuất xong sản phẩm cho đến quá trình lưu thông để bán sản phẩm.
Số ngày một vòng quay
Số ngày kỳ phân tíchVòng quay tồn kho bình quân
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Hiệu suất sử dụngtài sản cố định =
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụTài sản cố định bình quân
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định phản ánh trong một kỳ, một đồng tài sản cốđịnh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Thông thường, hệ số này càng cao phản ánhsức sản xuất của tài sản cố định hiệu quả Tuy nhiên, hệ số này cao nhưng là do doanhnghiệp thu hẹp quy mô sản xuất là không tốt
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
Hiệu suất sử dụngtổng tài sản =
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này thể hiện trong kỳ, một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập.Thông thường hệ số này càng cao chứng tỏ công ty sử dụng càng hiệu quả tài sản củamình trong hoạt động sản xuất kinh doanh và ngược lại
1.3.4.2.6 Phân tích khả năng sinh lợi
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh vàhiệu năng quản lý công ty
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu = Lợi nhuận X 100%
Trang 28Doanh thu
Tỷ suất này thể hiện trong 100 đồng doanh thu mà công ty thu được trong kỳ cóbao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất này càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp càng tốt Tỷ suất này được dùng để phản ánh khả năng sinh lời toàn bộ hoạtđộng, khả năng sinh lời hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời hoạt động bán hàng
- Khả năng sinh lời tổng tài sản:
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế
trên tổng tài sản (ROA) =
Lợi nhuận (trước) sau thuế
X 100%
Tổng tài sản bình quân
Tỷ suất này thể hiện trong 100 đồng tài sản hiện có tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế điều chỉnh
trên tổng tài sản (ROA) =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay X 100%Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này phản 100 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập trước thuế vàlãi vay Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của mộtđồng vốn đầu tư Vì nguồn vốn công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinhdoanh bao gồm cả vốn của chủ sở hữu và chủ nợ
- Khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu:
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế X 100%
Vốn chủ sở hữu bình quân
Trang 29Chỉ tiêu phản ánh 100 đồng vốn chủ sở hữu trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận
Thông thường các chỉ số trên càng cao thể hiện khả năng sinh lời càng tốt Bêncạnh đó, nhà phân tích cần sử dụng phương pháp phân tích Dupont kết hợp với phươngpháp thay thế liên hoàn và số chênh lệch để hiểu rõ nguyên nhân tạo nên những biếnđộng đó
1.2.4.2.7 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Đánh giá các nguồn thu và chi tiền
Bước 1: Đánh giá xem nguồn thu và chi bằng tiền chủ yếu từ hoạt động kinhdoanh, hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính
Các nguồn tiền chính của một công ty có thể thay đổi theo giai đoạn tăng trưởngcủa nó Trong dài hạn thì công ty phải tạo ra tiền từ hoạt động kinh doanh Nếu dòng tiềnthuần từ hoạt động kinh doanh của công ty liên tục bị âm thì công ty cần phải vay tiềnhoặc phát hành cổ phiếu (hoạt động tài chính) để tài trợ cho phần thiếu hụt Nhưng cuốicùng thì các nhà tài trợ vốn này cũng phải nhận lại được tiền nhờ hoạt động kinh doanh,nếu không họ sẽ không tiếp tục cấp vốn cho doanh nghiệp Tiền được tạo ra từ hoạtđộng kinh doanh có thể được dùng cho hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư Nếucông ty có những cơ hội kinh doanh hoặc cơ hội đầu tư khác tốt thì sử dụng tiền chohoạt động đầu tư, nếu không thì nên trả lại vốn cho các nhà cấp vốn tức là hoạt động tàichính Tóm lại phải xác định được dòng tiền thu và chi chính của doanh nghiệp là gì? ,lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh có dương hay không và có đủ để tài trợchi phí đầu tư hay không?
Bước 2: Đánh giá các nhân tố chủ yếu của lưu chuyển tiền từ hoạt động kinhdoanh