1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi cao học môn Chủ nghĩa xa hội

31 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 65,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, khâu đột phá của sự nghiệp đổi mới được chọn là đổi mới tư duy, trước tiên là tư NEP với đổi mới tư duy về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Vấn đề cấp bách nhất của Việt Nam

Trang 1

I Loại câu hỏi 2 điểm:

1 Tại sao Mác bắt đầu nghiên cứu PTSX TBCN từ nghiên cứu hàng hoá?

2 Tại sao nói hàng hoá sức lao động là chìa khoá giải quyết mâu thuẫn

công thức chung của Tư bản?

3 Tại sao Mác nghiên cứu hình thái giá trị bắt đầu từ nghiên cứu hình

thái giản đơn, ngẫu nhiên?

4 Tại sao Mác bắt đầu nghiên cứu quá trình tích luỹ tư bản từ tái sản xuất hàng hoá giản đơn?

5 Tại sao nois sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối cũng là sản xuất giá

trị thặng dư tương đối?

II Loại câu hỏi 8 điểm:

1 Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư Vận dụng vào Việt Nam trong quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN

2 Nghiên cứu học thuyết giá trị Vận dụng vào qtrinh xdung nền kttt định hướng xhcn ở Việt Nam!

3 Chính sách kinh tế mới của Lenin Vận dụng vào Việt Nam!

4 Đổi mới kinh tế ở Việt Nam! So sánh với cải cách kinh tế ở Trung Quốc 5.lí thuyết hình thái kinh tế của Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH Vận dụng vào Việt Nam!

Trang 2

“Chính sách kinh tế mới” của V.I Lê-nin - một cơ sở lý luận quan trọng của đổi mới ở Việt Nam

19:12' 21/4/2015

TCCSĐT - “Chính sách kinh tế mới” (NEP) là cuộc cải cách đầu tiên của chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực và cũng là nơi hình thành những tư duy mới của lý luận về chủ nghĩa xã hội Giá trị lớn nhất của NEP là những biện pháp mới để xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ Với NEP, V.I Lê-nin đã trở thành nhà cách tân vĩ đại đầu tiên trong lịch sử CNXH hiện thực và để lại nhiều chỉ dẫn lý luận quý báu cho công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam.

V.I Lê-nin và cuộc đổi mới tư duy đầu tiên về chủ nghĩa xã hội

Từ “Chính sách cộng sản thời chiến”

Nhà nước Xô-viết - chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã ra đời ở nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917 V.I Lê-nin cùng Đảng Cộng sản Nga đã lãnh đạo xây dựng CNXH từ một nền kinh tế lạc hậu và kiệt quệ, lại bị 14 nước tư bản đế quốc bao vây, các lực lượng phản động ở trong nước chống phá…

“Chính sách cộng sản thời chiến” (thực hiện từ năm 1918 đến đầu năm 1921) thực chất là một biện pháp tình thế, thích ứng với trạng thái ngặt nghèo, khi Nhà nước Xô-viết phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài Để huy động các nguồn lực cho những nhu cầu cấp thiết, các biện pháp mệnh lệnh hành chính thiên về việc sử dụng quyền lực nhà nước để trưng thu lương thực, thực phẩm và các tư liệu sản xuất, kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm nhằm phục vụ cho nhu cầu quốc phòng và dân sinh… đã được ban bố và thực hiện Nhiều nguồn lực cho nhu cầu quốc phòng và dân sinh cấp thiết đã được huy động, qua đó giúp củng cố và phát triển sức mạnh của chính quyền Xô- viết Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, phương pháp mệnh lệnh hành chính đã bộc lộ bất cập trong hoàn cảnh cụ thể của nước Nga đương thời Tình trạng trì trệ đã xuất hiện, thậm chí đã có cả những phản ứng gay gắt của xã hội, như “vụ nổi loạn Cronxtat”

V.I Lê-nin đã nhận ra, giải pháp tình thế chỉ đúng trong thời điểm ngặt nghèo, nay đã trở thành khuyết điểm khi nó bị kéo dài quá mức Vấn đề nổi bật là, không thể dùng ý chí chủ quan để xây dựng CNXH mà không trải qua giai đoạn quá độ V.I Lê-nin nhận định: “Mùa xuân 1921, chúng ta thấy rõ rằng chúng ta đã thất bại trong cái ý định dùng phương pháp “xung phong”, nghĩa là dùng con đường ngắn nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất và phân phối theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa”(1) Chính sách cộng sản thời chiến, có thể xem như thử nghiệm đầu tiên về mô hình CNXH đã gặp khủng hoảng và tất yếu phải đổi mới Đến “Chính sách kinh tế mới”- bước tiến của lý luận về chủ nghĩa xã hội

Trang 3

Từ mùa xuân năm 1921, V.I Lê-nin đã khởi xướng cuộc cải cách đầu tiên về

mô hình và biện pháp xây dựng CNXH thông qua NEP Cần hiểu rằng, NEP không chỉ là một chính sách quản lý vĩ mô về kinh tế, mà là một cải cách có tính tổng thể về CNXH, gồm nhiều nội dung:

Một là, những bất hợp lý của “Chính sách cộng sản thời chiến” bị bãi bỏ, chế

độ “trưng thu lương thực thừa” được thay bằng thuế lương thực với tư cách

là “liệu pháp cấp tốc, cương quyết nhất, cấp thiết nhất” để phát triển sản xuất Việc trao đổi hàng hóa trên cơ sở của nguyên tắc thị trường được thừa nhận và phục hồi, quan hệ hàng - tiền là “đòn bẩy” kinh tế, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa thành thị với nông thôn Lợi ích của người lao động được quan tâm và thực hiện, nông dân được phép mua bán và trao đổi lương thực “thừa” của mình…

Hai là, phát triển “chủ nghĩa tư bản nhà nước” - mắt xích “trung gian quan trọng để xây dựng CNXH” V.I Lê-nin đặt câu hỏi, đồng thời khẳng định rằng:

“Liệu có thể kết hợp, liên hợp, phối hợp Nhà nước Xô-viết, nền chuyên chính

vô sản, với chủ nghĩa tư bản nhà nước được không? Tất nhiên là được.”(2) Người nhận định: “Kinh tế nông dân, với tư cách là một nền kinh tế tiểu nông, không thể đứng vững được, nếu không có một sự tự do trao đổi nào đó, và không có những quan hệ tư bản chủ nghĩa gắn liền với tự do trao đổi đó.”(3) Tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của trao đổi tư nhân, của chủ nghĩa tư bản (CNTB) - một sự phát triển không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ, “chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó” Và thái độ đúng đắn là “Chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất

và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức

để tăng cường lực lượng sản xuất lên”(4) V.I Lê-nin đã đề xuất một số hình thức CNTB nhà nước như chế độ tô nhượng, chế độ hợp tác, chế độ đại lý thu mua, đại lý tiêu thụ, chế độ cho thuê…

Ba là, phải học tập và sử dụng những giá trị văn minh nhân loại được tạo ra

từ CNTB; kiên quyết phản đối việc “đem chủ nghĩa tư bản đối lập một cách trừu tượng với chủ nghĩa xã hội” Theo V.I Lê-nin, ở một nước kinh tế lạc hậu thì giải pháp hiện thực để có được kinh nghiệm, tri thức quản lý hiện đại là học hỏi bằng việc thuê và trả lương cao cho chuyên gia tư sản V.I Lê-nin cho rằng, không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học,

kỹ thuật và có kinh nghiệm tổ chức quản lý, thì không thể nào chuyển lên

Trang 4

Bốn là, chuyển trọng tâm của cách mạng sang tổ chức và phát triển văn hóa V.I Lê-nin viết: “Chúng ta buộc phải thừa nhận là toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản Sự thay đổi căn bản đó

là ở chỗ: trước đây… đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền Ngày nay, trọng tâm ấy đã chuyển sang công tác hòa bình tổ chức “văn hóa””(5) Chủ nghĩa xã hội không thể ra đời từ “những cuộc xung phong” hay những sắc lệnh duy ý chí nữa, mà là tùy ở kết quả của việc có kết hợp được chính quyền xô-viết với những tiến bộ mới nhất của CNTB Những người cộng sản phải học cách tổ chức lãnh đạo, quản lý xã hội; sử dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, giáo dục; học cách làm ăn, buôn bán… Nói chung là tất cả những giá trị, những kinh nghiệm hợp lý mà nhân loại đạt được trong CNTB để xây dựng CNXH

Năm là, củng cố chính quyền Xô-viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức với biện pháp kinh tế để xây dựng CNXH

Những quan niệm mới mẻ và đúng đắn của NEP đã được thực tiễn xác nhận Nước Nga Xô-viết chỉ trong một thời gian ngắn đã có nhiều chuyển biến tích cực: từ năm 1922, thành thị đã có đủ lương thực - thực phẩm, năm 1925 sản xuất nông nghiệp đạt 87%; công nghiệp đạt 75% sản lượng của năm 1913; đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt, chính trị ổn định, khối liên minh công nông được củng cố, phát triển… Song từ Đại hội XV của Đảng Cộng sản Liên

Xô, tháng 12-1927, với đường lối tập thể hóa nông nghiệp bằng con đường hợp tác hóa sản xuất và tổ chức các nông trường quốc doanh lớn, với cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung… NEP đã chấm dứt vai trò lịch sử của nó ở

Ở giai đoạn NEP, tư duy về xã hội xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ đã

“lùi một bước để tiến hai bước” Bước lùi trên thực tiễn thực chất lại là bước tiến của tư duy: từ “quá độ trực tiếp” (kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước Xô- viết nắm giữ toàn bộ tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, phân phối trực tiếp bằng hiện vật…) sang “quá độ gián tiếp” với những bước đi phù hợp để xây dựng CNXH Chấp nhận quan hệ sản xuất có tính chất đa dạng trên cơ sở của sản xuất hàng hóa - thị trường để phát triển lực lượng sản xuất là bước tiến

Giá trị định hướng, gợi mở của NEP với đổi mới lý luận về chủ nghĩa

Vào những năm 1989 - 1991, sự sụp đổ khá nhanh và mang tính hàng loạt của mô hình CNXH ở Đông Âu và Liên Xô đặt ra nhiều tình huống với thực

Trang 5

tiễn và lý luận xây dựng CNXH Một tình huống tương tự như cuộc khủng hoảng của mô hình “Chủ nghĩa cộng sản thời chiến” ở nước Nga trước đây lại tái diễn, và lại một lần nữa, tư duy mới của V.I Lê-nin từ mô hình NEP lại gợi

mở cho những người xây dựng CNXH ở Việt Nam Sự bất cập của mô hình cũ

và biện pháp xây dựng CNXH theo kiểu kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, bao tiêu và “phi thị trường” đã rõ, và cần phải đổi mới tư duy về CNXH

Tại sao hầu hết các vấn đề của CNXH hiện thực ở Việt Nam khi đó là những vấn đề từ thực tiễn mà lại đi tìm hướng giải quyết đầu tiên là đổi mới tư duy? Phải chăng, lại là biểu hiện của duy tâm, duy ý chí? Để làm rõ tình huống này, cần hiểu thêm về cơ chế thực tiễn xây dựng CNXH Cơ chế này xuất phát từ nguyên lý rằng, xây dựng CNXH là một quá trình vừa mang tính tất yếu về kinh tế, vừa mang tính chủ động tự giác về chính trị - xã hội Mọi hoạt động xây dựng CNXH đều xuất phát từ vai trò lãnh đạo, tổ chức của Đảng Cộng sản

và vai trò quản lý của Nhà nước Theo đó, sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân hàng đầu cho những thành công cũng như thất bại, trì trệ của cách mạng Đảng lãnh đạo trước hết bằng đường lối, chủ trương, chính sách - là những vấn đề liên quan trực tiếp đến năng lực tư duy chiến lược Vì vậy, khâu đột phá của sự nghiệp đổi mới được chọn là đổi mới tư duy, trước tiên là tư

NEP với đổi mới tư duy về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Vấn đề cấp bách nhất của Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX là, giải quyết tình trạng trì trệ và khủng hoảng kinh tế - xã hội, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất “Tác động vào lực lượng sản xuất là tác động vào cái giá

đỡ vật chất của xã hội, của sự điều chỉnh, thay đổi các thể chế, cơ chế, mô hình, chính sách kinh tế và xã hội Đây chính là vấn đề của mọi vấn đề… mà đổi mới phải tác động vào”(6) Muốn làm chuyển biến cơ chế cũ thì không thể không truy tìm đến cội nguồn nảy sinh ra cơ chế ấy Đó là quan niệm như thế nào về CNXH và biện pháp xây dựng CNXH Bài học mà V.I Lê-nin để lại từ NEP là, phải bắt đầu từ khâu cơ bản nhất - quan niệm lại cho đúng về CNXH Nếu như NEP trước kia đã “thay đổi căn bản quan điểm về CNXH” ở nước Nga xô-viết, thì quan niệm lại cho đúng mô hình CNXH ở Việt Nam trong thời

kỳ quá độ là nhiệm vụ thực tiễn đặt ra cho tư duy lý luận

Ở Việt Nam, CNXH là gì, trước đổi mới từng được quan niệm rằng, CNXH là công bằng Có vẻ khá hợp lý, nhưng kinh nghiệm thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam lại chỉ ra rằng, nếu coi công bằng là tiêu chí hàng đầu của CNXH thì rất có thể, hướng của tư duy sẽ tập trung vào ngăn chặn bất công, bóc lột Bởi vậy, việc tổ chức xã hội sẽ tập trung cho triệt tiêu những nguyên nhân kinh tế của sự bất công; sẽ không thừa nhận các thành phần kinh tế ngoài xã

Trang 6

hội chủ nghĩa, như kinh tế tư nhân, kinh tế sản xuất nhỏ… Hiển nhiên là, nhiều nguồn lực của xã hội sẽ bị ngăn chặn hoặc buộc phải nằm yên vì bị

Còn nếu theo quan niệm đổi mới hiện nay, CNXH là phát triển sản xuất, là tạo điều kiện mới để “tăng thật nhanh sức sản xuất lên” thì hướng của tư duy sẽ tập trung vào khuyến khích mọi thành phần kinh tế đều được tạo cơ hội phát triển Từ đó mới tạo ra cơ sở vật chất cho công bằng trong sự đầy đủ, giàu có,

để cho “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và có một cuộc sống hạnh phúc” như tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước hết là: “Dân giàu, nước mạnh…” Có nghĩa là nhân dân được làm ăn và làm giàu (ở trình độ hiện nay, phổ biến là kinh tế tư nhân) Theo

đó, Đảng lãnh đạo xây dựng CNXH vì hạnh phúc của nhân dân, Nhà nước kiến tạo thể chế cho nhân dân làm giàu trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Đây là một quan niệm rất “Đúng quy luật, thuận lòng dân

NEP và đổi mới tư duy kinh tế ở Việt Nam

Một hạn chế trong tư duy về biện pháp xây dựng CNXH ở Việt Nam, cũng tương tự như V.I Lê-nin đã vạch ra là, “đem chủ nghĩa tư bản đối lập một cách trừu tượng với chủ nghĩa xã hội” Vấn đề lớn trong tư duy cũ là, chưa phân định rõ sở hữu tư nhân với sở hữu tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trường với tư cách là một trình độ của sản xuất hàng hóa với kinh tế thị trường là đặc trưng của kinh tế tư bản chủ nghĩa Trước năm 1986, nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế kế hoạch hóa, hành chính, tập trung, bao cấp với hai thành phần kinh tế Việc nhấn mạnh quá mức vai trò của công hữu tư liệu sản xuất mà không coi trọng đúng mức các mặt tổ chức, quản lý sản xuất, phân phối lợi ích, nhất là lợi ích chính đáng của người lao động, đã làm hạn chế, thậm chí triệt tiêu động lực phát triển sản xuất và tǎng nǎng suất lao động Do thiếu nhận thức đúng đắn về quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội khiến cho nhấn mạnh siêu hình tập thể, cộng đồng mà quên mất con người cụ thể Nhân tố con người ở giai đoạn này, cũng vì thế

Hạn chế lớn nhất trong tư duy kinh tế cũ là không chấp nhận sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường Người ta lo ngại một cách rất có lý rằng, đó sẽ là những nhân tố gây bất công xã hội, gây rối ren kinh tế Và, tốt nhất là để cho vai trò của nhà nước bao trùm toàn bộ cả về sở hữu, quản lý và phân phối Nhà nước bao cấp và bao tiêu sản phẩm, kế hoạch của nhà nước là mệnh lệnh và là nhu cầu của xã hội chứ không phải quy luật cung cầu, giá trị… Hệ quả là, sản xuất, nhu cầu phát triển của sức sản xuất chưa được xem trọng

Trang 7

Và, khi mà năng lực tổ chức quản lý của nhà nước bất cập, dẫn tới kết cục là vào những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế Việt Nam lâm vào trạng thái trì trệ, khủng hoảng Đã xuất hiện những nghịch lý như: sản xuất mà không chú

ý hiệu quả kinh tế; trao đổi sản phẩm mà không ngang giá “mua như cướp, bán như cho”; lưu thông trì trệ mà lại “ngăn sông, cấm chợ”…

Từ một trạng thái tư duy như vậy, việc vận dụng kinh tế thị trường vào quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng là bước tiến lớn lao và có thể xem là tiêu biểu nhất trên lĩnh vực đổi mới tư duy kinh tế Tư duy này đã vận động từ chỗ

kỳ thị kinh tế thị trường, đến việc coi nó như một yếu tố mà kế hoạch hóa cần tham chiếu, sau đó coi thị trường là một cơ chế để quản lý và đến nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được coi là mô hình kinh tế tổng quát của đất nước Bước tiến dài ấy cần có được những luận chứng vững chắc của thực tiễn và của lý luận Chính những tư tưởng của V.I Lê-nin

về NEP đã tiếp sức và làm thành một trong những cơ sở lý luận cho đổi mới

tư duy về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Cũng cần nói thêm rằng, NEP của V.I Lê-nin còn là “bảo bối” để hỗ trợ tinh thần cho giới lý luận Việt Nam Một trong những trở lực lớn của việc đổi mới

tư duy lý luận ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới là những lo ngại về “mất lập trường”, “sai quan điểm” Chính những lo ngại đó đã khiến cho đổi mới tư duy

lý luận không hề dễ dàng “Chúng ta phải đi xuyên qua những dằn vặt tinh thần chưa từng có, phải vượt qua những cơn sốc tâm lý vốn không được chuẩn bị, mặt khác, ngay cả những ý tưởng sáng tạo mới trong lý luận cũng phải trải qua những thử thách với không ít nghiệt ngã của thực tiễn và dư

Với tinh thần cầu thị, sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn, những điểm nổi bật của NEP, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định phương hướng phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ quá độ là: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”(8).

Định hướng đó thể hiện tư duy biện chứng, cách mạng của người cộng sản, bảo đảm cho thành công của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam./.

Sự vận dụng NEP như thế nào, điều đó phụ thuộc vào sự nhận thức và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước Đối với Việt Nam, mặc dù điều kiện, hoàn cảnh lịch sử không hoàn toàn giống nước Nga Xô-viết trong thời điểm thực hiện NEP, song có nét tương đồng: Nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, nông dân chiếm đại đa số trong dân cư, Vì vậy, những bài học kinh nghiệm của NEP có thể được áp dụng linh hoạt với Việt Nam Nhận thức được vấn đề này, Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo, tài tình NEP vào công cuộc đổi mới đất nước Trước hết, có thể thấy rằng, Đảng

ta đã đặt đúng vị trí vấn đề nông dân và kinh tế nông nghiệp “Tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” (6) là quan điểm chính trị nhất quán được thực hiện

Trang 8

từ Đại hội V của Đảng đến nay Thực hiện quan điểm này, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân, trong đó tiêu biểu là Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư khóa IV (tháng 1- 1981) về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp; Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VI (tháng 4-1988) về đổi mới quản lý nông nghiệp; Nghị quyết Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989) và tiếp theo đó là chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải phục vụ cho nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Vận dụng bài học kinh nghiệm của NEP vào công cuộc đổi mới ở nước ta còn thể hiện ở đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ là một nền kinh tế nhiều thành phần, đã được nhận thức từ Đại hội VI của Đảng, và tư tưởng này được các Đại hội VII, VIII, IX và X của Đảng tiếp tục tái khẳng định, bổ sung và hoàn thiện với nhiều nội dung, biện pháp, chính sách mới, như giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, khuyến khích phát triển và định hướng thành phần kinh tế tư nhân theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Vận dụng bài học kinh nghiệm của NEP, Đảng ta có sự đổi mới nhận thức về sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa trong thời kỳ quá độ, chuyển nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đi liền với đó, Đảng ta chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, “Xóa

bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác” (7) ; đổi mới công tác kế hoạch; thực hiện hạch toán kinh doanh và giao quyền tự chủ cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh của Nhà nước; ổn định tiền tệ, khắc phục có hiệu quả lạm phát; cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực quản lý của bộ máy nhà nước

Sự vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của NEP đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước Trong hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện, kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được giữ vững.

Từ những bài học kinh nghiệm của NEP và sự vận dụng thành công trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, có thể thấy, mặc dù ra đời cách đây gần 90 năm, nhưng NEP vẫn còn nguyên giá trị đối với cách mạng thế giới Sự vận dụng NEP đòi hỏi phải sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước, không dập khuôn, máy móc Bảo vệ và tiếp tục bổ sung, phát triển NEP là nhiệm vụ quan trọng đặt ra hiện nay đối với phong trào cộng sản trên thế giới, trong đó có Việt Nam./

M y v n ấ ấ đề v ềđổ i m i kinh t và ớ ế đổ i m i ớ chính tr Vi t Nam hi n nay ị ở ệ ệ

Trong bài vi t này, tác gi ã ế ả đ đư a ra và lu n gi i s k t h p, hòa tr n, th ng ậ ả ự ế ợ ộ ố

nh t bi n ch ng gi a ấ ệ ứ ữ đổ i m i kinh t và ớ ế đổ i m i chính tr , gi a kinh t và ớ ị ữ ế

chính tr là nét ị độ đ c áo riêng c a Vi t Nam T th c ti n c a h n 20 n m ủ ệ ừ ự ễ ủ ơ ă đổ i

m i trong l nh v c này, tác gi ã ớ ĩ ự ả đ đư a ra nh ng yêu c u m i và m t s v n ữ ầ ớ ộ ố ấ đề

c n quan tâm trong ầ đổ i m i kinh t và ớ ế đổ i m i chính tr trong giai o n t i ây ớ ị đ ạ ớ đ

c a công cu c ủ ộ đổ i m i Vi t Nam ớ ở ệ

• Xã hội dân sự ? - Cao Huy Thuần/Giáo sư Đại Học Amiens (Pháp) (29/06/2015)

Trang 9

• Lịch sử quan hệ Việt-Trung nhìn từ góc độ đại chiến lược - Vũ Hồng

Lâm (10/07/2015)

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu từ 1986 với khâu đột phá là đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế Không thể nói một cách đơn giản rằng, ở Việt Nam, đổi mới kinh tế trước đổi mới chính trị sau Trên thực tế, hai quá trình đó không tách rời nhau Nhưng, rõ ràng là, Việt Nam đổi mới tư duy kinh tế trước, đổi mới tư duy chính trị sau theo nghĩa đổi mới chính trị ngay

từ đầu đã không phải là trọng tâm và chủ yếu Đổi mới tư duy, đổi mới các quan điểm, quan niệm về phương thức phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, dù trước hết trong kinh tế thì cũng đã là đổi mới chính trị Đổi mới các quan điểm chính trị chính là bước khởi đầu cho đổi mới trong kinh tế và trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Nếu xét từ góc độ đó thì đổi mới ở Việt Nam lại không phải bắt đầu từ đổi mới kinh tế, mà đúng ra là bắt đầu từ đổi mới quan điểm, đường lối về cách thức phát triển kinh tế của Đảng, nghĩa là bắt đầu từ đổi mới các quan điểm chính trị trong lĩnh vực kinh tế Dĩ nhiên, đổi mới chính trị ở đây chưa phải là đổi mới đồng bộ, toàn diện, tất cả các yếu tố, bộ phận của chính trị nói chung Nhưng, rõ ràng là, không có đổi mới quan điểm về cách thức phát triển đất nước thì không thể có những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội trong đổi mới vừa qua Nếu nhìn cả vào những tìm tòi, thử nghiệm trước Đại hội Đảng lần thứ VI thì rõ ràng

là việc đổi mới quan điểm chính trị về phương thức phát triển kinh tế đã được bắt đầu sớm hơn nhiều so với mốc thời gian của Đại hội VI(1).

Trong quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam khó có thể nói đổi mới kinh tế trước hay đổi mới chính trị trước Nếu xét từng yếu tố riêng lẻ thì có thể kết luận là đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị trước Nhưng, nếu xét tổng thể, toàn diện thì các kết luận như vậy là thiếu căn cứ Sự kết hợp, hoà trộn giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là nét độc đáo riêng của Việt Nam, khác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây.

.Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã tiến hành được hơn 20 năm Những thành tựu to lớn của đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với hôm nay, mà cả với ngày mai Đời sống xã

Trang 10

hội đang thay đổi khá nhanh chóng trên trên tất cả các phương diện và các lĩnh vực khác nhau Nhưng, nhìn chung, công cuộc đổi mới đang như một công trường xây dựng chưa hoàn thành, còn ngổn ngang công việc Có những việc đã làm xong, nhiều việc đang làm dở, nhiều việc khác cần phải làm nhưng lại chưa làm được Nếu đặt đổi mới trong tổng thể quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì những việc đã, đang và sẽ phải làm, có thể được đánh giá ở tầm chiến lược một cách đầy đủ, toàn diện hơn Tính bề bộn, dang dở, trình tự các việc phải làm và tầm cỡ của mỗi việc cần phải được nhìn nhận lại một cách đầy đủ, khách quan, khoa học hơn Từ đó, mới có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm thực sự bổ ích

và thiết thực hơn, giúp cho sự phát triển bền vững nhanh hơn, mạnh hơn trong thời gian tới

Hiện nay, công cuộc đổi mới quan điểm chính trị về kinh tế và đổi mới kinh tế nói chung đang thực sự bước vào một giai đoạn mới Những yêu cầu về đổi mới quan điểm phát triển kinh tế và đổi mới kinh tế đang đòi hỏi phải có những đột phá mới Mặc dầu những tư tưởng, quan điểm được Đại hội VI và các Đại hội tiếp theo của Đảng nêu ra có tính chất bước ngoặt, phá vỡ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, xóa bỏ bao cấp, bước đầu chấp nhận kinh tế thị trường và sở hữu cá thể, nhưng tính chất đồng bộ, toàn diện và triệt để của những quan điểm mới vẫn còn bị hạn chế Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị hiện nay sẽ không còn đầy đủ và triệt để, sẽ không đồng bộ và toàn diện, nếu chỉ dừng lại ở việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các khu vực kinh tế, xoá bỏ bao cấp và thay thế

cơ chế kế hoạch hoá tập trung, mệnh lệnh, bao cấp bằng cơ chế kinh tế thị trường chưa phát triển đầy đủ và đồng bộ Thực tiễn đời sống xã hội đang đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong các lĩnh vực, như phân phối, quản lý

và điều hành nền sản xuất, xã hội Đòi hỏi này được thể hiện bằng hàng loạt những vấn đề đang được đặt ra một cách cấp thiết trên bình diện xã hội: cải cách chế độ tiền lương, thực hiện công bằng xã hội, đổi mới phương thức quản

lý đời sống kinh tế, xã hội (quản lý hộ khẩu, thuế thu nhập cá nhân, bất động sản, lao động,v.v.).

Mặt khác, sự phát triển kinh tế trong hơn hai thập kỷ đổi mới vừa qua cũng đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trên lĩnh vực chính trị, trong đó có cả những lĩnh vực, những vấn đề mà, từ trước đến nay, hầu như chưa động chạm đến nhiều Thực tiễn đời sống xã hội đang bức xúc về những vấn đề, như cải cách hành chính, dân chủ hoá, tổ chức lại bộ máy chính phủ và hệ thống chính quyền các cấp, đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Trang 11

và quan hệ Đảng – Nhà nước – các đoàn thể chính trị, xã hội, v.v Tính bức xúc đòi hỏi phải đổi mới hệ thống chính trị xuất phát trước hết từ nhu cầu phát triển

và đổi mới kinh tế đã diễn ra trong hơn 20 năm qua tích tụ lại Sự bất cập, thiếu đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đã gây ảnh hưởng kìm hãm sự phát triển và đổi mới tiếp tục tiến xa hơn nữa.

Trên một góc độ khác, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, như đã nói, lại có quan hệ gắn bó với nhu cầu nội tại của sự phát triển tiếp theo của đất nước Thực tiễn đổi mới kinh tế đang đòi hỏi đổi mới chính trị phải nới lỏng hơn nữa, phải tháo gỡ những trói buộc của các quan điểm chính trị, các chính sách, thiết chế, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy… Nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, các tư tưởng, quan điểm, tâm lý chính trị, những thiết chế và cơ chế hoạt động của các tổ chức chính trị, đặc biệt là của bộ máy nhà nước, để mở đường cho kinh tế và xã hội phát triển bền vững luôn là một nhu cầu khách quan xuất phát từ sự phát triển xã hội.

Đòi hỏi đổi mới chính trị hiện nay được tích tụ nhiều năm trong quá trình đổi mới được thể hiện ở nhiều vấn đề, trong nhiều lĩnh vực và với các mức độ, quy

mô khác nhau Nhưng, tựu trung lại, dưới dạng tổng quát, cô đọng và tập trung nhất là đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và những đặc điểm của thời đại ngày nay Mọi sự ràng buộc, lệ thuộc, thậm chí có thể nói, tình trạng nô lệ cho những quan điểm và thể chế cũ đang là xiềng xích trói buộc đổi mới chính trị và kìm hãm đổi mới kinh tế ở Việt Nam Nhìn lại cuộc thảo luận vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân ngay trước Đại hội X của Đảng vừa qua, chúng ta có thể thấy rõ tình trạng này Hàng loạt vấn đề khác được thảo luận sôi nổi thời gian qua, như quản lý hộ khẩu, các thủ tục hải quan, thuế thu nhập cá nhân, quản lý bất động sản, cải cách thủ tục hành chính, tổ chức lại bộ máy hành pháp các cấp, cơ chế và quan hệ Đảng - Nhà nước – các đoàn thể chính trị – xã hội,… đang là những vấn đề bức xúc của đời sống chính trị – xã hội Đó là những bức xúc thể hiện nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế – xã hội trong nhiều năm qua.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, không chỉ đổi mới kinh tế, mà cả đổi mới chính trị ngày càng trở thành nhu cầu bức xúc hơn Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu đổi mới nội tại, đồng thời tạo cơ hội cho đổi mới kinh tế và chính trị rộng lớn hơn, đồng

Trang 12

bộ và toàn diện hơn, sâu sắc và triệt để hơn Sự tác động ấy, một mặt, trực tiếp

buộc chúng ta phải thay đổi một số thể chế, luật pháp, quy trình thực hiện, quan

điểm và phương pháp đánh giá các vấn đề kinh tế, xã hội, v.v Mặt khác, nó

thúc đẩy nhu cầu nội tại, bên trong của Việt Nam về đổi mới một cách mạnh mẽ hơn Đổi mới ở giai đoạn hiện nay và sắp tới gắn bó chặt chẽ và chịu tác động của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế lớn hơn nhiều so với khi chúng ta bắt đầu đổi mới năm 1986 Nhu cầu đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị đòi hỏi phải có những đột phá căn bản Nếu như ở giai đoạn trước đây, đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị đã động chạm đến phần ngoài thì sắp tới, đổi mới buộc phải động chạm đến phần nhân lõi: hệ thống chính trị, phương thức phân phối, công bằng

xã hội, dân chủ và văn minh,…, bởi nó trực tiếp động đến nền tảng chính trị và kinh tế của toàn xã hội và của các bộ phận dân cư nhạy cảm nhất.

Điều đó khiến cho công cuộc đổi mới ở giai đoạn sắp tới phức tạp hơn, khó khăn hơn Trước đây, khi bắt đầu đổi mới, xã hội trong trạng thái khủng hoảng, các tầng lớp dân cư đều có nhu cầu bức thiết về đổi mới với mức độ tương đồng, do đó dễ dàng thống nhất mục tiêu, biện pháp Việc khởi xướng đổi mới

tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, dễ dàng nhận được sự đồng thuận xã hội rộng rãi và sâu sắc Tình hình hiện nay không hoàn toàn giống như hơn 20 năm trước đây Phân tầng xã hội trong hơn 20 năm qua tạo nên những lợi ích và nhu cầu khác nhau đối với giai đoạn tiếp theo của đổi mới Giai đoạn tiếp theo cũng không thể chỉ xác định trọng tâm duy nhất của đổi mới chỉ là đổi mới kinh

tế Bối cảnh quốc tế cũng như những đòi hỏi nội tại của xã hội đang yêu cầu đổi mới trong giai đoạn tiếp theo phải xem đổi mới chính trị như một trong những trọng tâm quan trọng để thúc đẩy đổi mới kinh tế Hơn nữa, đó phải là những đổi mới quan điểm một cách căn bản, đột phá để tạo nên bước phát triển nhảy vọt nhưng vững chắc Đổi mới kinh tế vẫn phải đồng hành với đổi mới chính trị, nhưng đổi mới chính trị trong giai đoạn tới phải được chú trọng và nhấn mạnh hơn để tạo ra những bước đột phá mới, căn bản Nếu không có những bước đột phá căn bản, mới trong đổi mới, Việt Nam vẫn có thể phát triển đều và ổn định, nhưng sẽ không rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển cao Điều này đã được các nhà lãnh đạo và các học giả, quần chúng nhân dân nhận thức rõ Đây sẽ là lực lượng và động lực quan trọng cho giai đoạn đổi mới tiếp theo.

Trang 13

Như vậy, trong giai đoạn tiếp theo vẫn phải là đổi mới trước hết các quan điểm, quan niệm về con đường, phương thức phát triển nhưng không còn thuần túy là phương thức phát triển kinh tế Đổi mới sẽ phải là đổi mới đồng bộ hơn, cả kinh

tế lẫn chính trị, trong đó đổi mới chính trị phải được chú trọng nhiều hơn, đụng chạm trực tiếp nhiều hơn đến những vấn đề của hệ thống chính trị, như tổ chức

bộ máy nhà nước các cấp, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị, các quan điểm và cơ chế thực hiện công bằng, dân chủ,… Đó là một đòi hỏi khách quan của xu thế phát triển chung của đất nước trong bối cảnh mới nói chung và của đổi mới trong giai đoạn hiện nay nói riêng Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải suy ngẫm, tìm tòi để phát hiện ra mắt xích then chốt cần đổi mới hiện nay là gì Đó

là những nhận định chung, tổng quát, bao trùm về những nét chung và chính yếu nhất, là bức tranh chung về quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta thấy tương quan giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong những nét chi tiết đang diễn biến rất đa dạng và đa chiều cả trong nhận thức lẫn trong hiện thực.

Phân tích thực chất và hiện trạng của đổi mới ở nước ta, có thể nêu lên một số vấn đề chính cần lưu ý nhiều hơn trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị giai đoạn 5 đến 10 năm tới như sau:

Thứ nhất, trong giai đoạn tiếp theo, thực tiễn đang đòi hỏi phải đổi mới chính trị

với tốc độ nhanh hơn, toàn diện hơn, đồng bộ hơn, “cởi trói” để giải phóng các tiềm năng xã hội làm cho kinh tế phát triển mạnh hơn, đời sống xã hội vận động nhanh hơn Cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị và quán triệt triệt để, nhất quán mối quan hệ biện chứng ấy trong suốt quá trình đổi mới và trong tất cả các vấn đề của đổi mới Đổi mới tiếp theo là phải đổi mới cả ý thức chính trị và tư duy chính trị, đổi mới không chỉ những quan điểm chính trị, tư duy chính trị mà là đổi mới cách thức giải quyết hàng loạt vấn đề cụ thể của đời sống xã hội, như cải cách hành chính, quan hệ Đảng – Nhà nước – các đoàn thể chính trị, xã hội,

… Việc đổi mới đường lối cần phải được tiến hành đồng thời vừa trên cơ sở nghiên cứu lý luận, vừa trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết thực tiễn Điều

đó, một mặt, giúp chúng ta tránh được chủ quan, giáo điều sách vở; mặt khác,

tránh được chủ nghĩa kinh nghiệm, thiếu nhìn xa trông rộng, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, chỉ thấy trạng thái tĩnh mà không thấy trạng thái động Điều

Trang 14

này cũng là hợp lôgíc với nguyên tắc đổi mới kinh tế đi trước một bước so với đổi mới chính trị Những đổi mới về kinh tế của chúng ta sẽ tiến triển chậm chạp, nếu chúng ta không tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị Đổi mới

về chính trị, trước hết là đổi mới về đường hướng phát triển, đổi mới về chính sách, về luật pháp và sau đó, chúng ta phải tính đến việc đổi mới cả hệ thống chính trị.

Thứ hai, cần có đổi mới tư duy mang tính chất cách mạng trong lĩnh vực lý luận

chính trị và đường lối đổi mới chính trị để cho đổi mới phát triển một cách toàn diện, đúng hướng, hài hòa, đồng bộ và bền vững Có thể nói, thể chế kinh tế mới hình thành là không thể đảo ngược và nó đang chờ sự mở đường tiếp theo của cải cách chính trị trước ngã ba đường, cần có những đột phá tiếp tục trong

tư duy lý luận về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Nếu không có những đột phá mang tính cách mạng kiểu như đổi mới tư duy 1986, chúng ta khó có thể đi nhanh, đi trước đón đầu, phát triển "rút ngắn" Điều đó có nghĩa rằng, những năm tới, chúng ta không thể chỉ đẩy mạnh đổi mới chính trị, mà phải đồng thời tiếp tục đổi mới kinh tế Nhưng, để đổi mới kinh tế mạnh hơn, đồng bộ và toàn diện hơn, có hiệu quả và để kinh tế phát triển với tốc độ nhanh hơn, cần đổi mới chính trị bằng những đột phá trong quan điểm lý luận chính trị Chủ trương đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân tại Đại hội X của Đảng là một đột phá Nhưng chúng ta cần nhiều đột phá trong tư duy lý luận chính trị hơn nữa.

Thứ ba, trong đổi mới ở những năm sắp tới cần phòng tránh tình trạng lũng

đoạn nhà nước của các nhóm lợi ích Cần có cơ chế “vận động hành lang” (lobby) công khai, minh bạch, tuân thủ pháp luật Điều quan trọng nhất trong vấn đề này là, khi thực hiện đổi mới cả chính trị lẫn kinh tế không được để lợi ích các nhóm, tập đoàn lên cao hơn lợi ích quốc gia, dân tộc Lợi ích của các nhóm, các tập đoàn, cá nhân là động lực quan trọng, nhưng không thể để các nhóm lợi ích lũng đoạn các chính sách, bởi nếu điều đó xẩy ra thì đổi mới sẽ chệch hướng và sự đồng thuận xã hội sẽ bị phá vỡ, quốc gia sẽ phải hứng chịu những bi kịch Lũng đoạn trong kinh tế sớm muộn cũng sẽ đưa đến lũng đoạn trong chính trị, còn nếu có lũng đoạn trong chính trị thì sẽ nhanh chóng lũng đoạn được kinh tế Nhiệm vụ quan trọng nhất về phương diện này của Nhà nước

là biết điều hòa các lợi ích trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia lên trên hết Bằng cách

đó, Nhà nước mới có thể huy động được sức mạnh cộng đồng dân tộc phấn đấu

Trang 15

cho mục tiêu chung là “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo

nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(2) Cần phải sử dụng sức mạnh của các nhóm lợi ích với tư

cách một lực của sự phát triển, nhưng lại phải thực hiện công bằng xã hội trong mỗi lĩnh vực, mỗi chính sách, cả trong đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị Làm chủ trong đổi mới bao hàm trong đó nội dung làm chủ việc sử dụng các nhóm lợi ích mà không để các nhóm lợi ích lũng đoạn đổi mới.

Thứ tư, có thể ví đổi mới trong hơn 20 năm qua đã thành công chủ yếu theo bề

rộng, đổi mới trong giai đoạn tới đây sẽ diễn ra theo chiều sâu và do vậy, sẽ động chạm nhiều đến lợi ích, đặc quyền, đặc lợi và thậm chí là đặc ân của một

số nhóm xã hội nhất định Bởi thế, đổi mới trong giai đoạn sắp tới chắc chắn sẽ khó khăn hơn, phức tạp hơn, quyết liệt hơn, đòi hỏi quyết tâm và ý chí mạnh mẽ hơn, nhưng lại phải tỉnh táo và sáng suốt Tiến hành đổi mới kinh tế, đặc biệt là đổi mới chính trị, tuyệt đối không được chủ quan, nóng vội, bất chấp quy luật Chính trị không thể đi trước quá xa kinh tế và kinh tế không thể thoát ra khỏi chính trị quá xa, tương tự như quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nhận thức hiện nay Đổi mới chính trị là đổi mới toàn diện, đổi mới toàn bộ các nội dung, yếu tố của chính trị và do vậy, sẽ động chạm đến toàn bộ

hệ thống chính quyền và lợi ích của các nhóm, các cá nhân trong hệ thống đó Việc đó sẽ làm rung chuyển toàn bộ hệ thống và do vậy, cần hết sức thận trọng, tỉnh táo, sáng suốt, phải chuẩn bị kỹ về lý luận và những điều kiện cần thiết, có bước đi thích hợp và phải làm chủ được quá trình đổi mới trong lĩnh vực này, tránh lặp lại sai lầm trong đổi mới chính trị của Liên Xô trước đây.

Thứ năm, những năm qua, chúng ta đã nhấn mạnh nhiều đến mục tiêu tăng

trưởng kinh tế Điều đó hoàn toàn đúng và phù hợp với bối cảnh đất nước chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói, khủng hoảng trầm trọng Đến lúc này, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư đã được cải thiện Những năm tới sẽ là giai đoạn

“cất cánh” của đất nước Vì vậy, trong đổi mới cần phải tập trung nhiều hơn cho những vấn đề xã hội, như công bằng, bình đẳng, dân chủ,… Đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị phải thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội chứ không chỉ cho tăng trưởng kinh tế Đây chính là điều mà trong thời gian sắp tới, chúng ta phải quán triệt sâu sắc khi tiến hành đổi mới Đổi mới là để thúc đẩy sự phát triển và tiến

bộ xã hội nhanh hơn, nhân dân giàu có hơn và hạnh phúc hơn, đất nước mạnh

Ngày đăng: 11/11/2015, 21:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w