Đề tài: Thực trạng thu nhập của người lao động sau quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước” (nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội)”
Trang 1PHẦN MỞ Đ ẦU
I, LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là đặc điểm trungtâm của các cuộc cải cách của chính phủ Việc cải cách doanh nghiệp nhànước này tập trung vào vấn đề cổ phần hoá - tức là chuyển đổi một doanhnghiệp nhà nước thành một công ty cổ phần Cổ phần hoá đã bắt đầu đượctriển khai từ cách đây hơn 10 năm với những bước đi thử nghiệm và sau đó
là sự triển khai rộng rãi khắp trên cả nước
Gần đây, việc Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới WTO
đã thực sự có tác động rất lớn đến việc mở rộng phạm vi cổ phần hoá đối vớicác doanh nghiệp nhà nước lớn.Trong cam kết đa phương của Việt Nam khigia nhập WTO có điều cam kết về lĩnh vực Doanh nghiệp nhà nước, trong
đó viết: “Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào trong hoạtđộng của doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước với tư cách là một cổ đôngđược can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp như các cổ đôngkhác.” Như vậy, Việt Nam phải đảm bảo được việc đa dạng hoá hình thức
sở hữu, giảm tỷ lệ doanh nghiệp trong đó Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ
và cổ phần hoá là giải pháp hiệu quả nhất cho vấn đề này
Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là liệu cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước có mang lại lợi ích thực sự cho người lao động, trước hết là cải thiệnthu nhập của họ hay không Do đó, việc nghiên cứu thực trạng thu nhập củangười lao động sau quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mang ýnghĩa thực tiễn bởi nó giúp kiểm chứng hiệu quả hoạt động của quá trình cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước, góp phần làm cơ sở cho các nhà quản lý
Trang 2doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách đưa ra phương pháp quản lý vànhững chính sách phù hợp về tiền lương cho người lao động tạo điều kiệncải thiện đời sống cho họ.
Trong nghiên cứu này, tôi sẽ tìm hiểu và phân tích thực trạng thu nhậpcủa người lao động tại Công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội sau khi cổ phầnhoá Việc tôi lựa chọn khảo sát vấn đề cần nghiên cứu tại công ty này xuấtphát từ một số nguyên nhân Thứ nhất, Công ty cổ phần Cồn rượu Hà Nội làmột doanh nghiệp nhà nước lớn với số vốn điều lệ gần 50 tỷ đồng mới được
cổ phần hoá từ cuối năm 2006 Nguyên nhân thứ hai là thời gian công tyđược chuyển sang dạng công ty cổ phần chưa lâu, cho đến nay mới đượchơn 1 năm, do đó, người lao động của công ty còn đang trong giai đoạn đầucủa việc tiếp xúc và cố gắng thích ứng với quá trình cổ phần hoá Việc đánhgiá tác động của cổ phần hoá lên thu nhập người lao động trở nên thuận lợihơn vì khoảng thời gian diễn ra sự thay đổi chưa lâu, nên người lao động dễdàng đưa ra những so sánh giữa hai thời điểm Nguyên nhân thứ ba là công
ty cổ phần Cồn Rượu là mô hình điển hình của một doanh nghiệp nhà nướclớn được cổ phần hoá với với cổ đông lớn nhất là nhà nước (nắm giữ hơn58% cổ phần của công ty) vì vậy việc tiến hành nghiên cứu trường hợp tạidoanh nghiệp này sẽ giúp ta hình dung được thực trạng vấn đề nghiên cứutại các doanh nghiệp nhà nước mới được cổ phần hoá khác
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài cho
báo cáo thực tập của mình là: “Thực trạng thu nhập của người lao động
sau quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước” (nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội)”
Trang 3II, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1 Mục đích nghiên cứu.
Nhằm tìm hiểu thực trạng thu nhập của người lao động sau khi công
ty của họ tiến hành cổ phần hoá Từ thực trạng đó, nghiên cứu còn muốn chỉ
ra một số yếu tố tác động tới thu nhập của người lao động sau quá trình cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu sự thực trạng thu nhập của người lao động sau khi doanhnghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hoá
Chỉ ra một số nhân tố tác động đến thu nhập của người lao động saukhi doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá
III, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:
1 Ý nghĩa lý luận:
Về mặt lý luận, báo cáo được viết trên nền tảng của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng nhằm góp phần làm sáng tỏ các quan điểm có tính chất kimchỉ nam cho mọi nghiên cứu khoa học
Báo cáo cũng cho thấy việc vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu xãhội học rất quan trọng; đồng thời cũng làm rõ các lý thuyết xã hội họctrong nghiên cứu thực tiễn, đặc biệt là các lý thuyết tiếp cận liên ngành:
xã hội học – kinh tế học; xã hội học - tâm lý học hay các chuyên ngànhnhư xã hội học quản lý, xã hội học kinh tế doanh nghiệp
2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đối với bản thân tôi, báo cáo vô cùng có ý nghĩa trong việc thực hànhnhững kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng phân tích, đánh giá và thực hiện mộtbáo cáo khoa học Báo cáo thực tập này sẽ là một công trình thể hiện
Trang 4những kiến thức, kỹ năng mà tôi đã được học trong gần 4 năm học vừaqua.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi sẽ hết sức cố gắng đưa ra những
số liệu thực tế và khách quan về quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước và những ảnh hưởng của nó tới thu nhập của người lao động Vìvậy mong rằng báo cáo sẽ có cơ hội đóng góp vào nguồn tư liệu về quátrình cổ phần hoá còn rất mới mẻ này
IV, ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng:
Thực trạng thu nhập của người lao động sau quá trình cổ phầnhoá doanh nghiệp nhà nước
2 Khách thể: Người lao động, nhà quản lý tại các xí nghiệp và văn
phòng của công ty cổ phần Cồn rượu Hà Nội
3 Phạm vi nghiên cứu:
3.1 Không gian: Công ty cổ phần Cồn rượu Hà Nội
3.2 Thời gian: Tháng 3 năm 2008
3.3 Mẫu nghiên cứu
Cơ cấu mẫu định lượng: 156 mẫu (số lượng bảng hỏi phát ra là 190, sốphiếu thu vào là 163, số phiếu đạt yêu cầu là 156)
Một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu được thể hiện dư i b ng sau:ới bảng sau: ảng sau:
Trang 5V, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Phương pháp luận nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử: Đặt quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước trong bối cảnh đất nước ta vừa gia nhập tổ chức thương mại Thếgiới WTO, chính thức bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế vớinhiều cơ hội và thách thức mới trong việc phát triển doanh nghiệp để chỉ
ra được thực trạng thu nhập của người lao động sau quá trình cổ phầnhoá
2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Số lượng bảng hỏi phát ra là 190 phiếu, số phiếu thu về là 163 phiếu,
số phiếu đạt yêu cầu là 156 Bảng hỏi gồm 26 câu hỏi, chủ yếu là các câuhỏi đóng Trong đó, có những câu hỏi hướng về thực trạng và so sánh thunhập của người lao động trước và sau khi công ty cổ phần hoá Do yêu
Trang 6cầu của ban lãnh đạo công ty, người lao động (bao gồm cả bộ phận laođộng trực tiếp tại các xí nghiệp và bộ phận quản lý gián tiếp tại khu vựcvăn phòng) nhận được các bảng hỏi thông qua từng tổ trưởng sản xuấthoặc các trưởng phòng Cách phát bảng hỏi này có ưu điểm là không mấtnhiều thời gian để đưa bảng hỏi tới từng người và số lượng bảng hỏi bịthất lạc không nhiều Số phiếu cân đối và phát cho tất cả các phòng ban
và xí nghiệp trong công ty, cơ cấu mẫu về giới tính khá cân đối nên cóthể nói rằng kết quả thu được là khá đại diện
Các thông tin thu được từ bảng hỏi được xử lý trên máy tính bằngphần mềm xử lý thống kê xã hội học SPSS 15.0 for Windows
- Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
8 trường hợp: trong đó có 1 trường hợp là phó giám đốc công ty, 1trường hợp là trưởng phòng tổ chức lao động tiền lương, 1 trường hợp làtrưởng phòng công nghệ, 1 trường hợp là tổ trưởng sản xuất, còn lại là 2người lao động nam và 2 người lao động nữ trực tiếp làm việc tại các xínghiệp, văn phòng
Các phỏng vấn sâu được tiến hình bằng cách ghi âm trực tiếp cuộctrao đổi giữa phỏng vấn viên và đối tượng phỏng vấn Các câu hỏi phỏngvấn dựa vào bộ đề cương câu hỏi đã được chuẩn bị trước Trong quá trìnhphỏng vấn, người hỏi đã không nhất thiết tuân thủ theo thứ tự trong bộ đềcương câu hỏi mà có sự thay đổi linh hoạt từ hoàn cảnh Do phương phápnày tiến hành một cách trực tiếp nên người hỏi có thể quan sát được thái
độ, nét mặt của người trả lời để có sự điều chỉnh câu hỏi cho phù hợp.Tuy nhiên cũng có một số trở ngại trong quá trình phỏng vấn như do địađiểm phỏng vấn là tại công ty một số người được hỏi e ngại những thôngtin cung cấp có thể không được đảm bảo tính khuyết danh hoặc không tự
Trang 7nhiên khi trả lời một số câu hỏi liên quan đến thu nhập Ngoài ra, một sốphỏng vấn bị ngắt quãng do người trả lời có điện thoại liên quan đếncông việc.
- Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình thực hiện, tôi có tham khảo các tài liệu viết về quátrình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại nước ta như Luật DoanhNghiệp mới, các chỉ thị, nghị định của nhà nước về cổ phần hoá doanhnghiệp, về cách trả lương cho người lao động Các báo cáo về tình hìnhsản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội, quy chế trảlương, điều lệ cuả công ty cũng góp một phần vô cùng quan trọng trongviệc cung cấp các số liệu cho khoá luận
- Phương pháp quan sát:
Tôi sử dụng phương pháp này để thu thập thêm thông tin về đối tượngphỏng vấn Ví dụ như phương tiện đi lại, điều kiện sống, điều kiện làm việc,thái độ của người được hỏi trong quá trình phỏng vấn…Những quan sát nàyđược ghi chép lại và tiến hành trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu Tôicòn tiến hành quan sát và ghi lại hình ảnh của người lao động trong công tytrong quá trình lao động của họ nhằm làm phong phú và sinh động thêm báocáo
VI, GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1 Thu nhập của người lao động sau quá trình cổ phần hoá doanh nghiệpnhà nước được cải thiện hơn trước
2 Thu nhập của người lao động sau quá trình cổ phần hoá được cảithiện hơn do công việc tạo ra cho người lao động nhiều hơn, lợinhuận của công ty sau cổ phần hoá tăng và thái độ làm việc của ngườilao động năng động và tích cực hơn trước
Trang 8VII, KHUNG LÝ THUYẾT
Điều kiện KT-XH
Quá trình cổ phần hoá Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội
Trang 9THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
Lương cứng Lương mềm
(K trách nhiệm)
Tiền thưởng
Trang 10thì một số doanh nghiệp được biến thành sở hữu chung của người laođộng, của doanh nhân và của nhà nước [2, 64 ]
Theo khái niệm của PGS.TS Phạm Ngọc Côn [6, 161] thì “Cổ phần
hoá theo nghĩa rộng là quá trình chuyển một doanh nghiệp từ các hình thức kinh doanh khác sang hình thái công ty cổ phần”
Còn khái niệm thông thường ở nước ta hiện nay được dùng để chỉ quátrình chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.Nhiều người quan niệm đồng nhất cổ phần hoá với tư nhân hoá, nhưngthực chất thì đây là hai khái niệm có khác biệt nhất định Ở nước ta hiệnnay, cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước không phải là tư nhânhoá nền kinh tế mà là quá trình giảm bớt sở hữu nhà nước trong cácdoanh nghiệp nhà nước và đa dạng hoá sở hữu Nó tạo cơ sở cho việcđổi mới các quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm, thúc đẩyquá trình tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hoá nền kinh tế, tạođộng lực phát triển trong doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất -kinh doanh Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không có nghĩa là làmsuy yếu khu vực kinh tế nhà nước mà là một trong các giải pháp quantrọng để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong sản xuất-kinhdoanh của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay nhằm phát huy vai tròchỉ đạo thực sự của nó trong nền kinh tế thị trường
Tương tự như khái niệm nêu trên, tác giả Phí Văn Chí và các đồng sự
[7] đưa ra khái niệm cổ phần hoá như sau: Cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nước là việc chuyển một phần sở hữu doanh nghiệp nhà nước sang sở hữu của cổ đông nhằm mục đích huy động mọi nguồn vốn từ tất cả các thành phần kinh tế, phát huy tính tự chủ của người lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trang 111.1.2 Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữutrên 50% vốn điều lệ [10]
Cổ tức
Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiềnmặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi
đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính
Cổ tức sẽ được thanh toán dưới các hình thức :
Trang 121.1.5 K trách nhiệm
“K trách nhiệm” là cách thức trả lương theo trách nhiệm, tính chấtcông việc trình độ chuyên môn-ngành nghề, chức danh (gọi là lươngmềm) [ 1]
1.2 LÝ THUYẾT TIẾP CẬN:
1.2.1 Lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow:
Abraham Maslow là một trong những người đầu tiên đề ra hệ
thống các nhu cầu của con người, hệ thống gồm một hình tháp sáubậc: Nhu cầu sinh lý cơ bản: ăn, mặc, ở, vệ sinh ; các nhu cầu về anhsinh: sự an toàn, yên ổn; nhu cầu giao tiếp xã hội; nhu cầu được kínhtrọng; nhu cầu công bằng và chân thiện, mỹ; nhu cầu bộc lộ, tự khẳngđịnh và hoàn thiện nhân cách Trên cơ sở những nhu cầu này, nhàquản lý cố gắng đến mức tối đa để thoả mãn các nhu cầu của ngườilao động Khi sự thoả mãn tăng lên thì năng suất lao động cũng ngàycàng tăng, gần như tỷ lệ thuận với sự thoả mãn đó Mô hình doanhnghiệp cổ phần hoá giúp cho nhà quản lý đáp ứng được nhiều nhu cầucầu của người lao động hơn Sự vượt trội của mô hình doanh nghiệp
cổ phần hoá là nó làm cho người lao động cảm thấy mình có quyềnlàm chủ, được công ty và xã hội kính trọng hơn Nếu sắp tới cách thứctrả lương mới thực sự mang lại sự công bằng thì nó sẽ ngày càng kích
Trang 13thích người lao động làm việc hăng say hơn nữa để có được năng suấtlao động cao hơn Từ đó cải thiện chính thu nhập của họ.
1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội:
Theo sách Xã hội học [15, 141] thì hành động xã hội là một sựtrao đổi xã hội Chính những mối lợi hay phần thưởng và những hìnhphạt quy định hành động xã hội Mọi chủ thể chỉ hành động nếu trongquá khứ hành động đó được lợi, được thưởng và họ sẽ không hànhđộng nếu hành động này trong quá khức đã bị phạt, bị thiệt thòi Theocách giải thích này thì các chủ thể luôn tìm cách đạt được lợi ích caonhất với chi phí nhỏ nhất Vận dụng lý thuyết này trong quá trình cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước, chúng ta có thể nhận thấy rằng chủtrương cổ phần hoá là một động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phảisắp xếp lại tổ chức và hoạt động của mình để mang lại lợi nhuận lớnnhất Trước khi có chủ trương cổ phần hoá, không ít doanh nghiệp nhànước làm ăn thua lỗ, có những doanh nghiệp mỗi năm nhà nước phải
bỏ ra hàng chục tỷ đồng để bù lỗi Đối với những doanh nghiệp nhànước thì việc lựa chọn cổ phần hoá doanh nghiệp chính là một sự traođổi xã hội nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất từ những nguồn vốn mà
họ có
1.2.3 Lý thuyết hai yếu tố thúc đẩy của Heizberg:
Heizberg đã nghiên cứu thực nghiệm hoạt động quản lý, cụ thể
là ông đã nghiên cứu những yếu tố kích thích con người tích cực làmviệc hơn Bằng phương pháp phỏng vấn người lao động về phongcách người lãnh đạo và biện pháp lãnh đạo, ông đã cho rằng tronghoạt động quản lí có hai nhóm yếu tố dẫn tới một kết quả, đó là yếu tốduy trì việc tổ chức hoạt động và yếu tố khuyến khích (động viên
Trang 14vằng vật chất hoặc tinh thần) Theo Heizberg, để đảm bảo việc đạtmục đích tập thể rất cần thiết phải duy trì trật tự, kỷ luật lao động làmcho mỗi cá nhân trong tổ chức ý thức được về vị trí và vai trò củamình Đó là áp lực, là sự kiểm soát xã hội tất yếu cho bất kỳ tổ chức
xã hội nào là điều kiện cần cho sự thành công của bất kỳ mục đíchhoạt động tập thể nào
Các yếu tố thuộc loại duy trì bao gồm: Tiền lương, điều kiện việclàm, độ ổn đinh và an toàn nghề nghiệp, mức độ kiểm soát xã hội, cácchính sách quản lý và phong cách quản lý, quan hệ giữa các cá nhântrong tập thể Người lao động chỉ yên tâm làm việc khi các yếu tố duytrì được bảo đảm, nghĩa là khâu tổ chức xã hội của cơ quan mình có
sự ổn định và hoạt động các bộ phận đúng chức năng
Tuy nhiên, nhóm yếu tố duy trì mới chỉ đáp ứng được mức độhoạt động bình thường của tập thể, chưa thể nói tới năng suất và hiệuquả cao Muốn có năng suất cao trong sản xuất cũng và hiệu quả caotrong các loại hoạt động xã hội, cần phải có thêm yếu tố động viên,khích lệ cấp dưới và người lao động Bản chất của con người xã hội là
họ cần sự thừa nhận của xã hội Do vậy, việc động viên khích lệ củangười lãnh đạo là yếu tố rất cần thiết, một mặt người được động viênyên tâm về vị trí xã hội, mặt khác họ được xã hội đánh giá cao hơnnhiệm vụ và vai trò cần thiết mà họ được giao cần phải đảm nhận.Hơn nữa, con người mong muốn một sự thăng tiến xã hội do khả năngphấn đấu của họ và những cơ may xã hội thường xuất hiện trong quản
lí xã hội, đó là: Sự công nhận, thừa nhận của xã hội, địa vị xã hội, uytín xã hội, ý thức trách nhiệm về vị trí xã hội của mình, đề bạt, thànhcông trong những thử thách, những tình huống khó khăn [ 8; 87,88 ]
Trang 15II Cơ sở thực tiễn:
2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Cổ phần hoá đã được tiến hành ở nước ta từ năm 1992, đến nay đãhơn 10 năm, các nghiên cứu chủ yếu tập trung và khía cạnh lý luận vàcác văn bản pháp lý về quá trình này
Có thể kể đến cuốn “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước -Những
vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS.Lê Hồng Hạnh Tác phẩm đã
nêu ra yêu cầu cần thiết phải cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nướctrong bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay Đồng thời tác phẩm cũng đềcập đến nền tảng pháp lụât nhà nước về cổ phần hoá
M.Reza Amin and Leila Webster, Equitization of State Enterprises
in Vietnam: Experience to Date World Bank, Hanoi, March 1998.
Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên và khá toàn diện củaNgân hàng Thế giới về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở ViệtNam Tác giả đã tham khảo cách thức nghiên cứu và nhiều câu hỏitrong bộ công cụ điều tra của dự án nghiên cứu này
Gần đây nhất có tài liệu đối ngoại của UNDP số 2006/3, mang
tên “Nhà nước với tư cách là nhà đầu tư: Cổ phần hoá, tư nhân hoá
và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam” Tài liệu này đã
hệ thống lại các văn bản pháp lý liên quan đến việc chuyển đổi doanhnghiệp nhà nước tại Việt Nam theo hai hướng “từ bỏ các công ty nhỏ,giữ các công ty lớn” và nêu ra mô hình thực hiện vấn đề này qua việckhảo sát 17 công ty chủ yếu là thuộc các ngành xây dựng, đóng tàu tạiHải Phòng.Trong tài liệu này của UNDP còn nhấn mạnh vai trò củaNhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước lớn đã được cổ phần hoá
Trang 16Ngoài ra, tác giả đã tham khảo những nguồn tài liệu mới nhất hiệnnay về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước như báo cáo phát triển
Việt Nam 2006 “Kinh doanh” hay báo cáo phát triển Việt Nam 2007
“Hướng tới tầm cao mới” để có những số liệu mới nhất và chính xác
nhất và tình hình cổ phần hoá ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó, nhữngbài báo trên tờ “Bản tin Môi trường kinh doanh”, trang web điện tửcủa Bộ Tài chính và một số văn bản pháp luật liên quan đến luậtdoanh nghiệp và quy chế trả lương cho người lao động cũng đã manglại những đóng góp không nhỏ trong quá trình phân tích tài liệu
2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
- Về lịch sử hình thành và phát triển của công ty : Công ty Cổ phần
Cồn Rượu Hà Nội hiện nay nguyên là công ty Rượu Hà Nội chuyên sảnxuất các loại như Vodka, Lúa mới, Nếp mới, rượu màu các loại là thànhviên của Tổng công ty Bia -Rượu – NGK Hà Nội Địa điểm đóng tại 94 LòĐúc Hà Nội tổng diện tích 29.000m2 có hai mặt giáp phố đó là Lò Đúc vàNguyễn công Trứ
Công ty Rượu Hà Nội – Hà Nội liquor Company ( HALICO ) đượcthành lập tháng 7/1993 theo chủ trương của Nhà nước về đăng ký và thànhlập lại các doanh nghiệp nhà nước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường.Tiền thân của công ty Rượu Hà Nội là Nhà máy rượu Hà Nội
Nhà máy Rượu Hà Nội được hãng Fongtai của Cộng hoà Pháp xây dựngnăm 1892 sản xuất theo phương pháp Amino, mỗi năm sản xuất 4 triệu lítcồn từ nguyên liệu gạo
Từ năm 2001 công ty rượu Hà Nội đã cho ra đời một sản phẩm mới đó làVodka có chất lượng cao cho đến nay đã được thị trường chấp nhận nó có