1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và bảo hộ thương hiệu hàng nông sản việt nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

68 510 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập chung nghiên cứu nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý hàng hóa, theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và những Điều ước quốc tế mà Việt Nam gia n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

G iả ả ng g vi i ên n hướ ớ n n g g d d ẫ ẫ n: : Sinh h v v iên n thự ự c c hiệ ệ

n: : Tiến sĩ: Cao Nhất Linh Nguyễn Thanh Khoa

Bộ môn: Luật Thương Mại MSSV: 5095617

Lớp: Luật Thương Mại 2- K35

Cần Thơ, 5/2013

Trang 2

Đặc biệt, để hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Cao Nhất Linh Trong suốt thời gian thực hiện luận văn, mặc dù rất bận rộn trong công việc nhưng Thầy vẫn giành rất nhiều thời gian và tâm quyết trong việc hướng dẫn em Thầy đã cung cấp cho em rất nhiều hiểu biết về một lĩnh vực mới khi em mới bắt đầu bước vào thực hiện luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn Thầy luôn định hướng, góp ý sửa chữa những chỗ sai giúp em không bị lạc lối trong biễn kiến thức mênh mông

Cho đến hôm nay, luận văn tốt nghiệp của em đã được hoàn thành, cũng chính nhờ sự nhắc nhở, đôn đốc, sự giúp đỡ nhiệt tình của Thầy

Ngoài ra em xin gửi lời cảm ơn đến Thầy, Cô đang công tác tại Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ, Thư viện Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ

đã nhiệt tình giúp em trong việc cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình Cùng tất cả bạn bè đã cùng tôi trải qua và chia sẻ những khó khăn nơi giảng đường

Cuối cùng con xin gửi lời tri ân vô vàng đến Cha, Mẹ và người thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho con có thể theo đuổi ước mơ của mình Xin gửi đến Cha, Mẹ, Thầy, Cô cùng tất cả bạn bè lời chúc sức khỏe, chúc mọi người luôn thành công trong cuộc sống, trong công việc và học tập./

Xin chân thành cảm ơn! Cần Thơ, ngày tháng 5 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thanh Khoa

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

 BLDS : Bộ Luật dân sự

GATT : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại –

GATT 1994

GDP : Tổng sản phẩm nội địa

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TRIPS : Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại

của quyền sở hữu trí tuệ

SHTT : Sở hữu trí tuệ

WIPO : Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013

Giảng viên hướng dẫn

TS Cao Nhất Linh

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013

Thành viên hội đồng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Bố cục Luận văn 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VẾ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU 3

NÔNG SẢN VIỆT NAM 3

1.1 Khái quát về thương hiệu 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Các yếu tố tạo nên thương hiệu 5

1.1.3 Ý nghĩa của thương hiệu 7

1.1.4 Vai trò của thương hiệu đối với nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập 10

1.1.5 Phân loại thương hiệu 10

1.2 Khái niệm hàng nông sản 13

1.2.1 Định nghĩa hàng nông sản 13

1.2.2 Đặc điểm hàng nông sản 14

1.3 Ý nghĩa việc bảo hộ thương hiệu hàng nông sản trong thời kỳ hội 15

1.4 Pháp luật về xây dựng và bảo hộ thương hiệu hàng nông sản tại VN 17

1.4.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 17

1.4.2 Giai đoạn khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 17

1.4.3 Các điều ước quốc tế Việt Nam tham gia 18

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ XÂY DỰNG VÀ BẢO HỘ THƯƠNG HIỆU HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 22

2.1 Dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa là thương hiệu 22

2.1.1 Quy định của pháp luật pháp luật quốc tế 22

2.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam 26

2.2 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa là thương hiệu 28

2.2.1 Quy định của pháp luật quốc tế 28

2.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam 29

2.3 Thủ tục đăng ký bảo hộ thương hiệu 31

2.3.1 Quy định của pháp luật quốc tế 31

2.3.2 Quy định của pháp luật Việt Nam 34

2.4 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp đối với thương hiệu 35

2.4.1 Quy định của pháp luật quốc tế 35

2.4.2 Quy định của pháp luật Việt Nam 36

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG BẢO HỘ THUƠNG HIỆU HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM RONG THỜI GIAN TỚI 40

3.1 Thực trạng đăng ký bảo hộ thương hiệu hàng nông sản 40

3.2 Tình hình cụ thể xây dựng và bảo hộ thương hiệu của một số hàng nông sản chủ lực của Việt nam 42

Trang 7

3.2.1 Thực trạng xây dựng thương hiệu gạo 42

3.2.2 Mặt hàng cà phê 44

3.2.3 Thực trạng xây dựng thương hiệu một số mặt hàng nông sản khác 45

3.3 Đánh giá chung về thực trạng xây dựng và bảo hộ thương hiệu hàng nông sản Việt nam trong thời gian qua 47

3.4 Giải pháp kiến nghị 49

3.4.1 Về mặt pháp luật 49

3.4.2 Về phía Doanh nghiệp 51

3.4.3 Về phía Nông dân 52

KẾT LUẬN 54

Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật Xây dựng và bảo hộ thương hiệu hàng nông sản

Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trang 8

sự quản lý của Nhà nước đã đem lại những bước nhảy vọt trong nền kinh tế Việt Nam Đưa Việt Nam thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và đang dần tiến lên trở thành một nền công nghiệp hóa-hiện đại hóa Tuy nhiên những yếu tố của truyền thống vẫn chưa thể mất mà vẫn còn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Đó là ngành sản xuất nông nghiệp với nhiều mặt hàng nông sản quan trọng như: gạo, cà phê, trái cây… Nhưng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mỡ cửa, tham gia hội nhập với nền kinh tế thế giới, trên thị trường sẽ tràng ngập mặt hàng nông sản của các nước như: Mỹ, Nhật, Trung Quốc…Do

đó chúng ta phải chấp nhận sự cạch tranh khốc liệt của các thương hiệu hàng hóa nổi tiếng trên thế giới Các doanh nghiệp của Việt Nam muốn đứng vững trên thị trường thì nhất định phải xây dựng được những thương hiệu có chất lượng để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế Nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới WTO

Ngày nay vấn đế thương hiệu đang trở thành vần đế nóng bỏng đang được nhiều người quan tâm Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã và đang bị rơi vào những vụ tranh chấp, kiện tụng, mua bán chuyển nhương thượng hiệu, điển hình như vụ tranh chấp thương hiệu của Công Ty Cổ Phần Cà phê Trung Nguyên tại Mỹ trong thời gian vừa qua Trong thời kỳ hội nhập WTO, thì vấn đề thương hiệu càng phải quan tâm một cách rỏ ràng hơn nhất là vấn đề pháp lý trong việc bảo hộ thương hiệu hàng nông sản, nhằm tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam và Pháp luật quốc tế được đề cập đến thủ tục, cách thức bảo hộ và phương thức giải quyết khiếu nại thương hiệu theo pháp luật Việt Nam và quốc tế như thế nào Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Xây dựng và bảo hộ thương hiệu hàng nông sản Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tê” làm đề tài tốt nghiệp của mình

Trang 9

2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập chung nghiên cứu nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý hàng hóa, theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và những Điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập có liên quan đến nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý hai đối tượng được pháp luật sở hữu trí tuệ ghi nhận và bảo hộ, là tiêu chuẩn gần nhất để xây dựng thương hiệu cho một vài loại nông sản chủ yếu và quan trọng như Gạo, Cà phê, một số trái cây nổi

3 Phương pháp nghiên cứu

Người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: nghiên cứu trên giấy, phân tích, so sánh, báo chí… để hoàn thành đề tài của mình

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài có nghiên cứu những quy định của Bộ luật dân sự 2005, luật sở hữu trí tuệ

2005, luật luật thương mại 2005 và những văn bản pháp luật quốc tế như Hiệp định TRIPs

1995, Công ước Paris 1883, Thỏa ước và Nghị định thư Madrid 1994, Thỏa ước Lisbon

1958, được người viết đề cập một cách có chọn lọc và phù hợp tùng nội dung trình bày

5 Bố cục Luận văn

Bố cục luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về xây dựng thương hiệu hàng nông sản

Chương 2: Một số vấn đề pháp lý về xây dựng và hộ thương hiệu hàng nông sản Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 3: Thực trạng và giải pháp xây dựng và bảo hộ thương hiệu hàng nông sản Việt Nam trong thời gian tới

Trang 10

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VẾ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

NÔNG SẢN VIỆT NAM

1.1 Khái quát về thương hiệu

1.1.1 Định nghĩa

Hiện nay, trong văn bản pháp lý của Việt Nam chưa có định nghĩa về thương hiệu Nhưng khái niệm thương hiệu đã được sử dụng rất phổ biến trong lĩnh vực kinh tế, báo chí và rất nhiều các cuộc hội thảo khoa học lấy thương hiệu là chủ đề nghiên cứu và bình luận, kể từ năm 2003 Chương trình Thương hiệu Quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2003,1 giao Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) là cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm phối hợp với các Bộ, Ngành triển khai thực hiện Với mục tiêu Xây dựng hình ảnh Việt Nam gắn

với các giá trị "Chất lượng - Đổi mới, sáng tạo - Năng lực lãnh đạo" Tăng thêm uy tín,

niềm tự hào và sức hấp dẫn cho đất nước và con người Việt Nam, góp phần khuyến khích

du lịch và thu hút đầu tư nước ngoài Kể từ đó Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy

ngày 20 tháng 4 hàng năm là "Ngày Thương hiệu Việt Nam" nhằm tôn vinh, quảng bá

thương hiệu và hình ảnh Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.2

Nhưng khi nghiên cứu thương hiệu dưới gốc độ pháp lý người viết nhận thấy rằng

để xây dựng thương hiệu cho hàng nông sản Việt Nam Một mặt nhằm tạo ra thương hiệu

có uy tín có chất lượng đối với người tiêu dùng trong nước và quốc tế, mặt khác thương hiệu được pháp luật bảo hộ thì trước mắt phải thông qua việc đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý Để thuận lợi cho việc phân tích người viết dùng khái niệm thương hiệu để chỉ đến nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý trong nội dung của luận văn

1

Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt đề án xây dựng và phát triển Thương hiệu Quốc gia đến năm 2010

2Cục súc tiến thương mại, Tóm tắt một số nét chính về Chương trình Thương hiệu quốc gia:

Trang 11

Theo Luật Nhãn hiệu của Trung Quốc 1995 Điều VIII thì thương hiệu là “dấu hiệu

như là một thương hiệu có thể được bất kỳ thể nhân, pháp nhân, tổ chức khác, dùng làm dấu hiệu phân biệt các hàng hóa với những người khác, bao gồm văn bản, đồ thị chữ cái, nhãn hiệu ba chiều và sự kết hợp màu sắc, và sự kết hợp của những yếu tố này, có thể áp dụng cho đăng ký như nhãn hiệu hàng hóa”.3 Và theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới

(WIPO) thì tổ chức này có định nghĩa khá rộng “Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình

và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức” 4 Tuy nhiên đến Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 được sửa đổi và bổ sung năm 2009, một văn bản chuyên ngành

định nghĩa rất ngắn gọn ở phần giải thích từ ngữ rằng “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để

phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” 5

Với gốc độ kinh tế ta có rất nhiều định nghĩa thương hiệu của những chuyên gia kinh

tế học một trong những tác giả đó là Nguyễn Quốc Thịnh và Nguyễn Thành Trung trong quyển sách “Thương Hiệu Với Nhà Quản Lý” đã đưa ra định nghĩa “Thương hiệu không chỉ đơn thuần là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp hay một

tổ chức này với hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp và tổ chức khác, mà cao hơn, đó chính là một cơ sở khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường cũng như uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng” 6

Như vậy ta có thể định nghĩa thương hiệu khái quát nhất rằng thương hiệu là tập hợp các dấu hiệu (hữu hình hoặc vô hình) có chức năng phân biệt các loại hàng hóa giữa các doanh nghiệp và phải để lại dấu ấn đặc biệt trong tâm trí của khác hàng

3 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc 1995

Trang 12

1.1.2 Các yếu tố tạo nên thương hiệu

Nói đến thương hiệu, người ta thường đề cập tới các đối tượng của sở hữu trí tuệ như: nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý hay kiểu dáng công nghiệp Thế nên chúng ta có thể gọi các thành phần khác nhau đó của một thương hiệu là các yếu tố thương hiệu

Nết ghi nhận một các khái quát “Nhãn hiệu có thể bao gồm từ ngữ, hình khối, màu sắc

hay là sự kết hợp của những yếu tố đó”.8 Theo đó các dấu hiệu trên thường phải thoả mãn hai điều kiện khác nhau để trở thành nhãn hiệu hàng hoá, đó là có chức năng phân biệt và không gây hiểu lầm hoặc vi phạm trật tự công cộng hay đạo đức xã hội Để có chức năng phân biệt thì các dấu hiệu phải thể hiện tính độc đáo hoặc có khả năng phân biệt các sản phẩm khác nhau Ví dụ, từ “táo” hoặc hình một quả táo không thể dùng làm nhãn hiệu cho mặt hàng táo nhưng có thể dùng làm nhãn hiệu cho máy tính và nhãn hiệu này mang tính độc đáo Đó chính là trường hợp nhãn hiệu “Apple” với hình trái táo bị gặm một miếng là nhãn hiệu máy tính nổi tiếng của tập đoàn công nghệ máy tính của Mỹ Apple Inc Nhãn hiệu có tính phân biệt khi giúp người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán dưới nhãn hiệu đó với những hàng hoá của doanh nghiệp khác bán trên thị trường

1.1.2.2 Tên thương mại

Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân

dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”.9 Luật doanh nghiệp

7 Điều 4, khoản 16, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

8Lê Nết, Tài liệu bài giảng Luật sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh 2006, tr 84

9 Điều 4, khoản 21, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

Trang 13

2005 cũng đưa ra khái niệm tên thương mại nhưng cụ thể hơn theo đó “Tên doanh nghiệp

phải được viết bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được và phải có ít nhất hai thành phần sau đây Thành phần thứ nhất là loại hình doanh nghiệp và thành phần thứ hai là tên riêng” 10

Tên thương mại là thành phần của thương hiệu có thể là tên đầy đủ theo tên khi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh Do đó tên thương mại thường được cấu tạo bởi hai thành phần chủ yếu là thành phần mô tả và thành phần phân biệt Thành phần mô tả bao gồm các thông tin về hình thức kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, xuất xứ địa lý,… liên quan đến chủ thể kinh doanh Thành phần phân biệt (tên riêng) là dấu hiệu để phân biệt các chủ thể kinh doanh Ví dụ tên thương mại: Công ty công nghiệp cao su miền nam CASUMINA, trong đó thành phần mô tả là Công ty Công nghiệp ca su miền nam (Hình thức pháp lý là Công ty, lĩnh vực kinh doanh là công nghiệp cao su, xuất xứ địa lý miền nam) và thành phần phân biệt là CASUMINA

1.1.2.3 Chỉ dẫn địa lý

“Champagne”, “Chianti” hay “Tequila” là những địa danh nổi tiếng ở Pháp, Ý và Mehico Nhưng khi nhắc đến chúng, người ta lại liên tưởng ngay “Champagne” với rượu vang nổ, “Chianti” với rượu vang đỏ và “Tequila” với loại rượu mạnh Đây chỉ là một số

ít các ví dụ về những địa danh nổi tiếng làm người ta nghỉ ngay đến những sản phẩm tự nhiên và có chất lượng cao trên thế giới Điều đó có nghĩa là những tên gọi này là tài sản thương mại có giá trị, những cái tên như thế được gọi là chỉ dẫn địa lý Pháp luật Việt

Nam quy định rằng “chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu

vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”.11 Cũng tại Điều 22 khoản 1 Hiệp

định TRIPs quy định “chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ

của một nước hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định” 12 Cách hiểu này của Hiệp

định TRIPs được thừa nhận ở 152 nước thành viên Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” không

10 Điều 32, Luật Thương Mại 2005

11 Điều 4, khoản 22, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

12 Hiệp định TRIPs 1994

Trang 14

nhất thiết phải là địa danh mà có thể là biểu tượng gián tiếp chỉ ra xuất xứ của hàng hoá

Ví dụ Tháp Eiffel là biểu tượng của Paris, Tượng Nữ thần Tự do của nước Mỹ

Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” được hiểu với nghĩa rộng nhất thì bao gồm những tên

gọi và biểu tượng chỉ ra rằng chất lượng của một sản phẩm nào đó có được là nhờ nguồn gốc địa lý của nó hoặc chỉ đơn thuần là xác định nơi xuất xứ của một sản phẩm Việc sử dụng tuỳ thuộc vào các yêu cầu do cơ quan nhà nước đặt ra Do đó, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý là ngăn cấm những chủ thể không có thẩm quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý hoặc ngăn cấm các sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý đã nêu

1.1.2.4 Kiểu dáng công nghiệp

Kiểu dáng của sản phẩm là dấu hiệu mà người tiêu dùng luôn hướng tới khi quyết định mua một sản phẩm nào đó Với một sản phẩm có kiểu dáng đẹp, trang nhã và lịch sự

sẽ là cách tốt nhất tạo nên thương hiệu có chổ đứng trên thị trường Nhưng gốc độ pháp lý

kiểu dáng được công nhận khi “kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản

phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này” 13

1.1.3 Ý nghĩa của thương hiệu

1.1.3.1 Đối với khách hàng

Thương hiệu có ý nghĩa đặc biệt đối với khách hàng, nó giúp khách hàng xác định nguồn gốc của sản phẩm hoặc nhà sản xuất của một sản phẩm và giúp khách hàng xác định nhà sản xuất cụ thể hoặc nhà phân phối nào phải chịu trách nhiệm Nhờ có những kinh nghiệm đối với một sản phẩm và chương trình tiếp thị của sản phẩm đó qua nhiều năm, khách hàng biết đến các thương hiệu, họ tìm ra các thương hiệu thoả mãn nhu cầu của họ Kết quả là, các thương hiệu là các công cụ nhanh chóng hoặc là cách đơn giản hoá đối với quyết định mua sản phẩm của khách hàng Đây chính là điều quan trọng nhất mà một thương hiệu cũng như một công ty được gắn với thương hiệu đó cần vươn tới

13TS Lê Đình Nghị và TS Vũ Thị Hải Yến, Giáo trình luật sở hữu trí tuệ, Nhà Xuất Bản Trí Tuệ, tr.88

Trang 15

Qua nghiên cứu cho thấy quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng bao gồm năm giai đoạn Giai đoạn thứ nhất là nhận thức vấn đề, thứ hai tìm kiếm thông tin, thứ ba

là đánh giá các lựa chọn, thứ tư là quyết định mua và cuối cùng là hành vi sau mua Như vậy, nếu khách hàng nhận ra một thương hiệu và có một vài kiến thức về thương hiệu đó,

họ sẽ không phải suy nghĩ hoặc tìm kiếm, xử lý nhiều thông tin để đưa ra quyết định về tiêu dùng sản phẩm Tức là, từ khía cạnh kinh tế, thương hiệu cho phép khách háng giảm bớt chi phí tìm kiếm sản phẩm cả bên trong (họ phải suy nghĩ mất bao nhiêu) và bên ngoài (họ phải tìm kiếm mất bao nhiêu) Dựa vào những gì họ đã biết về thương hiệu - chất lượng, đặc tính của sản phẩm, Mặt khác, các thương hiệu có thể xem như một công

cụ biểu tượng để khách hàng tự khẳng định giá trị bản thân Một số thương hiệu được gắn liền với một con người hoặc một mẫu người nào đó để phản ánh những giá trị khác nhau hoặc những nét khác nhau Do vậy, tiêu thụ sản phẩm được gắn với những thương hiệu này là một cách để khách hàng có thể giao tiếp với những người khác hoặc thậm chí với chính bản thân họ mẫu người họ đang hoặc muốn trở thành.14 Ví dụ như đối với các doanh nhân, họ cho rằng sử dụng các loại điện thoại di động cao cấp của Samsung như là một bằng chứng để thể hiện mình trong kinh doanh, hay sử dụng Mercedes đời mới là một bằng chứng cho những thương nhân năng động và thành đạt

Ngoài ra, thương hiệu còn giúp khách hàng giảm thiểu những rủi ro khi tiêu thụ sản phẩm Bao gồm các rủi ro như rủi ro chức năng (sản phẩm không được như mong muốn), rủi ro vật chất (sản phẩm đe doạ sức khoẻ hoặc thể lực của người sử dụng hoặc những người khác), rủi ro tài chính (sản phẩm không tương xứng với giá đã trả), rủi ro xã hội (sản phẩm không phù hợp với văn hoá, tín gưỡng hoặc chuổn mực đạo đức xã hội), rủi ro tâm lý (sản phẩm ảnh hưởng đến sức khoẻ, tinh thần của người sử dụng), rủi ro thời gian (sản phẩm không như mong muốn dẫn đến mất chi phí cơ hội để tìm sản phẩm khác) Mặc dù khách hàng có những cách khác nhau để sử lý những rủi ro này, nhưng có một cách chắc chắn mà họ sẽ chọn, đó là những thương hiệu nổi tiếng, nhất là những thương

14Trang Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam, Quá trình thông qua quyết định mua hàng,

Trang 16

hiệu mà họ đã có những kinh nghiệm tốt trong quá khứ Vì vậy, thương hiệu có thể là một công cụ sử lý rủi ro rất quan trọng

Như vậy, với khách hàng ý nghĩa đặc biệt của thương hiệu là có thể làm thay đổi nhận thức và kinh nghiệm của họ về các sản phẩm Sản phẩm giống hệt nhau có thể được khách hàng đánh giá khác nhau tùy thuộc vào sự khác biệt và uy tín của thương hiệu hoặc các thuộc tính của sản phẩm Với người tiêu dùng, thương hiệu làm cho sinh hoạt hằng ngày cũng như cuộc sống của họ trở nên thuận tiện và phong phú hơn

1.1.3.2 Đối với người sản xuất

Về cơ bản, thương hiệu đáp ứng mục đích nhận diện để đơn giản hóa việc xử lý sản phẩm hoặc truy tìm nguồn gốc sản phẩm cho công ty Về mặt hoạt động, thương hiệu giúp tổ chức kiểm kê, tính toán và thực hiện các ghi chép khác Thương hiệu cho phép công ty bảo vệ hợp pháp những đặc điểm và hình thức đặc trưng riêng có của sản phẩm Thương hiệu có thể được bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệ, đem lại tư cách hợp pháp cho người sở hữu thương hiệu Tên gọi sản phẩm hoặc dịch vụ có thể được bảo hộ thông qua việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa Các quy trình sản xuất có thể được bảo vệ thông qua bằng sáng chế, giải pháp hữu ích Bao bì, kiểu dáng thiết kế có thể được bảo vệ thông qua kiểu dáng công nghiệp hoặc các bản quyền cho các câu hát, đoạn nhạc Các quyền sở hữu trí tuệ này bảo đảm rằng công ty có thể đầu tư một cách an toàn cho thương hiệu và thu lợi nhuận từ một tài sản đáng giá.15

Như đã nói ở trên, việc đầu tư cho thương hiệu có thể mang lại cho sản phẩm những đặc điểm và thuộc tính riêng có nhằm phân biệt nó với những sản phẩm khác Thương hiệu là cam kết về một tiêu chuẩn hay đẳng cấp chất lượng của một sản phẩm và đáp ứng mong muốn của khách hàng giúp họ tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm một cách dễ dàng, thuận tiện Lòng trung thành với thương hiệu của khách hàng cho phép công ty dự báo và kiểm soát thị trường Hơn nữa, nó tạo nên một rào cản, gây khó khăn cho các công ty khác muốn xâm nhập thị trường Mặc dù các quy trình sản xuất và các thiết kế sản phẩm

15Bùi Hữu Đạo, Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp, Báo thương mại, http://luatminhkhue.vn/nhan-

Trang 17

có thể dễ dàng bị sao chép lại, nhưng những ấn tượng ăn sâu trong đầu người tiêu dùng qua nhiều năm về sản phẩm thì không thể dễ dàng bị sao chép Về khía cạnh này, thương hiệu có thể được coi như một cách thức hữu hiệu để bảo đảm lợi thế cạnh tranh

Do đó, đối với các công ty, thương hiệu được coi như một tài sản có giá trị rất lớn bởi

nó có khả năng tác động đến thái độ và hành vi của người tiêu dùng Nó được mua và bán bởi có thể bảo đảm thu nhập bền vững trong tương lai cho chủ sở hữu thương hiệu

1.1.4 Vai trò của thương hiệu đối với nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập

Đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thương hiệu đóng một vai trò quan trọng bởi:

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập Vì thế,

thương hiệu thực sự là biểu tượng cho sức mạnh và niềm tự hào quốc gia Một quốc gia

có nhiều thương hiệu nổi tiếng với truyền thống lâu đời là biểu hiện của sự trường tồn và phát triển đi lên của một quốc gia

Thứ hai, trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, việc xây

dựng được các thương hiệu mạnh sẽ là rào cản chống lại sự xâm nhập của các hàng hóa kém phẩm chất, giá rẻ từ bên ngoài, bảo vệ thị trường nội địa

Thứ ba, nếu thương hiệu của các sản phẩm Việt Nam được nổi tiếng tại thị trường

nước ngoài sẽ cũng cố cho sản phẩm Việt Nam và vị thế Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế Và chính điều này cũng sẽ góp phần tích cực cho việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam, tạo tiền đề đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc

và từng bước rút ngắn khoảng cách so với các nước khác về kinh tế

1.1.5 Phân loại thương hiệu

Cũng như có nhiều quan niệm khác nhau về thương hiệu, viêc phân loại thương hiệu cũng không giống nhau Theo quan điểm của các chuyên gia kinh tế thương hiệu

được phân chia nhiều cách khác nhau như “Thương hiệu cá biệt, Thương hiệu gia đình,

Trang 18

Thương hiệu tập thể, Thương hiệu quốc gia” 16 Nhưng pháp luật Việt Nam không có sự phân chia nào đơn giản vì pháp luật sở hữu trí tuệ không có khái niệm thương hiệu mà chỉ thừa nhận khái niệm nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, chính vì lý do đó mà phân loại thương hiệu là phân loại nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý Luật sở hữu trí tuệ cho chúng ta bốn loại nhãn hiệu và một chỉ dẫn địa lý

1.1.5.1 Nhãn hiệu tập thể

Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.17 Như nhãn hiệu Trà Tân Cương của Công ty TNHH Tân Cương Xanh Đặc biệt Tân Cương Xanh vinh Dự nhận Cúp Vàng trong Lễ Tôn Vinh các thương Hiệu Trà nổi tiếng Việt Nam.18

1.1.5.2 Nhãn hiệu chứng nhận

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch

vụ mang nhãn hiệu.19 Đại diện cho 24 nhãn hiệu chứng nhận đã được cấp giấy chứng nhận

là nhãn hiệu "Cà phê Di Linh" đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu

số 135829.20

1.1.5.3 Nhãn hiệu liên kết

Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương

tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với

16Võ Văn Quang, 7Phương pháp phân loại thương hiệu: http://www.vovanquang.com/vi/thuong-hieu/2-/372-7-

17 Điều 4, khoản 17, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

18 Công ty TNHH Tân Cương Xanh: http://tancuongxanh.vn/tin-tc-s-kin/th-trng/176-che-tan-cuong-xanh-vinh-du-

19 Điều 4, khoản 18, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

20

22/3/2013]

Trang 19

nhau21 Ông Lê Văn Bé, Chủ tịch Hội làm vườn tỉnh Trà Vinh cho biết, sản phẩm trái dừa sáp hay còn gọi là dừa đặc ruột, loại trái cây đặc sản của Hợp tác xã dừa sáp xã Hòa Tân, huyện Cầu Kè (Trà Vinh) vừa được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học-Công nghệ) cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa Trong trường hợp nộp đơn đăng ký các nhãn hiệu liên kết, nếu yếu tố liên kết là nhãn hiệu, người nộp đơn phải chỉ rõ nhãn hiệu nào là nhãn hiệu cơ bản, nếu yếu tố liên kết là hàng hóa, dịch vụ, thì phải chỉ rõ hàng hóa, dịch vụ nào

là cơ bản Nếu không thì tất cả nhãn hiệu và các hàng hóa, dịch vụ sẽ bị coi là độc lập với nhau.22

1.1.5.4 Nhãn hiệu nổi tiếng

Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam Trên thế giới, những nhãn hiệu như IBM, Coca Cola, Honda, Sony, Apple có giá trị hàng tỷ USD và mang lại cho chủ sở hữu nhãn hiệu những giá trị rất lớn

về thương mại và danh tiếng.23 Điều 75 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định, tiêu chí để ghi nhận là nhãn hiệu nổi tiếng phải thỏa những điều kiện như sau Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo, phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành, doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp, thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu, uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu, số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu, số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng và giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.24

1.1.5.5 Chỉ dẫn địa lý

Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước và Nhà nước cho phép cá nhân, tổ chức trong khu vực địa lý sản xuất háng hóa được sử dụng chỉ dẫn địa lý trong

21 Điều 4, khoản 19 Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

22 Điều 43, điều 44, điều 45, Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ban hành ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn chi tiết thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp

23 Điều 4, khoản 20 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

24 Điều 75, Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

Trang 20

hoạt động mua bán háng hóa.25 Vừa qua Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ vừa có quyết định 2837/QĐ-SHTT về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số

00031 cho sản phẩm bưởi Tân Triều, thuộc khu vực địa lý các xã: Bình Hòa, Tân Bình,

Bình Lợi, Thiện Tân, Tân An huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai.26

1.2 Khái niệm hàng nông sản

1.2.1 Định nghĩa hàng nông sản

Theo sự phân chia có tính chất tương đối của Việt Nam, hàng nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp mà nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), thuỷ sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp Nhưng Theo WTO thì nông sản lại bao gồm toàn bộ sản phẩm thuộc Chương 1 đến 24 (trừ cá và sản phẩm từ cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS của Việt Nam.27 Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp được chia thành 4 nhóm chính

Nhóm thứ nhất là các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…Nhóm thứ hai gồm các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt….Nhóm thứ ba là các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô…Và nhóm thứ tư là các sản phẩm còn lại trong Hệ thống thuế mã HS được xem là sản phẩm phi nông nghiệp hay còn được gọi là sản phẩm công nghiệp Là một lĩnh vực quan trọng của Việt Nam nhưng cho đến hiện nay các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực Nông nghiệp gồm 34 nghị định được ban hành từ

1981 và 170 thông tư được ban hành 1985 đến nay người viết chưa tìm thấy một định nghĩa nào ghi nhận nông sản là gì hay hàng nông sản là gì cả Nay Hiệp định Nông nghiệp của WTO lại định nghĩa theo cách liệt kê như thế rất khó nghiên cứu và ắc hẳn sẽ thiếu sót với điều kiện thực tế của từng quốc gia, với quan điểm của người viết thì hàng nông

25 Điều 124, khoản 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sữa đổi, bổ sung 2009

26Trang Tin tức và Sự Kiện, Bảo hộ chỉ dẫn địa lý “TÂN TRIÊU” cho sản phẩm Bưởi:

Trang 21

sản là sản phẩm của quá trình sản xuất nông nghiệp, sản phẩm tồn tại dưới dạng thô hoặc chỉ qua sơ chế ban đầu Như hoạt động sản xuất lúa cho ra hạt gạo khi qua sơ chế ban đầu

là tách võ hay như vườn cam, vườn bưởi cho quả cam, quả bưởi ngay khi thu hoạch

1.2.2 Đặc điểm hàng nông sản

Thứ nhất, thương hiệu nông sản gắn với tên gọi xuất xứ, các thương hiệu nông sản

gắn liền với xuất xứ rất được thị trường ưa chuộng Những nông sản đặc sản không phải vùng nào cũng có, không phải cứ giống cây trồng là trồng ở đâu cũng sẽ cho sản phẩm ngon nhất Mà do yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng bồi đắp nên, chẳng hạn như ở vùng A trồng cây B sẽ cho quả ngon nhất trong cả nước, vì chỉ có ở tỉnh A mới có điều kiện đất đai và khí hậu như thế, và có như vậy mới tạo ra quả B có chất lượng ngon đến như vậy Ngoài

ra, loại cây B đem trồng ở các vùng khác sẽ cho chất lượng khác, kém hơn Ở nước ta có

rất nhiều đặc sản vùng như vậy, có thể kể: thanh long Bình Thuận, xoài cát Hòa Lộc, sầu

riêng Cái Mơn, cam Vinh, Quýt Hà Giang, vú sữa Chợ Gạo (Vĩnh Long), gạo nàng hương Long An, gạo Tám Xoan Hải Hậu, bưởi Diễn, bưởi Đoan Hùng, cà phê Buôn Ma Thuộc, chè San Tuyết Mộc Châu Những đặc sản đang được thị trường ưa chuộng, người tiêu

dùng họ chỉ mong muốn tìm và mua những đặc sản đó Khi mua vải, họ sẽ cố tìm mua vải thiều Thanh Hà vì khi ăn có vị ngọt mát, hạt nhỏ, cùi ráo khi bóc vỏ, có mùi thơm

Thứ hai, hàng nông sản hiện nay không có thương hiệu, mất thương hiệu Trong

khi hầu hết sản phẩm nông sản đang chật vật để xây dưng thương hiệu, thì ngược lại, nhiều thương hiệu đã tạo được chổ đứng trên thị trường lại không được bảo hộ pháp lý, từ

đó hàng hóa bị đánh đồng với sản phẩm kém chất lượng, nếu không lập lại trật tự trong lĩnh vực này thì việc các sản phẩm chất lượng mất chổ đứng trên thị trường là chuyện một sớm một chiều Và việc bảo hộ tên gọi xuất xứ là việc không đơn giản, bởi nếu chỉ xây dựng quy hoạch, xác định ranh giới và tên địa lý là chưa đủ Điều đặc biệt quan trọng là phải xây dựng bộ tiêu chuẩn, chứng minh sản phẩn đặc trưng ở chỉ tiêu nào, để khi xảy ra tranh chấp sẽ có ngay cơ chế giải quyết Phải xây dựng quy hoạch cho sản phẩm, quy trình sản xuất, thu hái, bảo quản, công nghệ chế biến, người sản xuất thông qua quy trình tiêu chuẩn sản xuất mới được chấp nhận Ví dụ như sản phẩm sạch, sản phẩm hữu cơ,

Trang 22

nguyên tắc sản phẩm xuất xứ phải được sản xuất và chế biến tại địa bàn đó Phải có kế hoạch giữ gìn chất lượng độc đáo, nói cách khác là giữ nguyên hiện trạng giống, thổ nhưỡng và quy trình sản xuất Xây dựng thượng hiệu đặc sản cần có sự liên kết người sản xuất với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, kinh doanh sản phẩm tạo thành mạng lưới kép kín tạo điều kiện tốt cho phát triển chất lượng và tiêu thụ sản phẩm

1.3 Ý nghĩa việc bảo hộ thương hiệu hàng nông sản trong thời kỳ hội

Thứ nhất, thương hiệu giúp tăng doanh số bán hàng Thực tế đã chứng minh rằng

sản phẩm có thương hiệu được bán với giá cao hơn hẳn, có khi cao hơn đến 40% giá trị của những sản phẩm không có thương hiệu Ở những nước phát triển, hay tầng lớp người tiêu dùng có thu nhập cao, họ không chỉ sẵn sàng trả tiền cho giá trị sản phẩm mà còn sẵn sàng trả tiền cho sự hài lòng của mình khi mua được sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng

Bằng chứng là thương hiệu Apple trở thành sản phẩm bán chạy nhất tại Mỹ với doanh số thuộc vào hàng “bom tấn” 32 tỉ USD năm 2008, năm đầu tiên với sản phẩm có hình quả táo bị ngậm một miếng.28

Thứ hai, thương hiệu làm tăng sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường

Thương hiệu được coi như là giấy chứng nhận đảm bảo cho chất lượng của nông sản, thương hiệu càng mạnh, càng nổi tiếng, thì sự đảm bảo này càng lớn, và đồng nghĩa với

nó là uy tín của doanh nghiệp cao Nông sản có thương hiệu dễ dàng tạo được lòng tin của người tiêu dùng về chất lượng, giá cả của sản phẩm mà họ tiêu dùng, khuyến khích tâm lý

28Trang Bản Sắc Thương Hiệu.com, Bí mật thành công của thương hiệu Apple: http://bansacthuonghieu.com/chi-

Trang 23

tiêu dùng sản phẩm có thương hiệu, đặc biệt ở tầng lớp người tiêu dùng có thu nhập cao

Vì vậy mà trên thị trường, dù có nhiều sản phẩm cùng loại, cùng công dụng, nhưng sản phẩm có thương hiệu vẫn dễ dàng được người tiêu dùng, được thị trường chấp nhận Từ

đó làm tăng khả năng cạnh tranh của nông sản, đáp ứng được nhu cầu, tâm lý tiêu dùng hàng có chất lượng, có danh tiếng, có thương hiệu nổi tiếng

Thứ ba, thương hiệu giúp cho doanh nghiệp tạo ra nhiều ưu thế Thương hiệu là tài

sản vô hình, thậm chí vô giá, góp phần quan trọng tăng thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong tương lai bằng những giá trị tăng thêm của hàng hoá Thương hiệu nổi tiếng giúp doanh nghiệp tạo ra và cũng cố lòng trung thành của khách hàng truyền thống, giúp doanh nghiệp duy trì lượng khách hàng truyền thống, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới, các khách hàng tiềm năng, thậm chí là cả khách hàng của đối thủ cạnh tranh Thực tế cho thấy ngưòi tiêu dùng thường bị lôi kéo, chinh phục bởi những hàng hoá có thương hiệu nổi tiếng, được ưa chuộng và ổn định Thương hiệu còn giúp doanh nghiệp giảm các khoản chi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại, hoạt động maketing Thực chất Thương hiệu cũng chính là một công cụ maketing, xúc tiến thương mại hữu hiệu của doanh nghiệp

và giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, có điều kiện phòng thủ và chống lại các đối thủ khác Hơn nữa thương hiệu như là một sự cam kết ngầm của nhà sản xuất với người tiêu dùng về chất lượng Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay không giữ được chữ tín với khách hàng là doanh nghiệp đã thất bại, khó có khả năng tồn tại và phát triển trong tương lai Sản phẩm không có thương hiệu sẽ không có khả năng phát triển và sẽ dần bị mai một, lãng quên Nhất là đối với sản phẩm nông sản, dù chất lượng sản phẩm là rất quan trọng, nhưng nếu không có thương hiệu, thương hiệu không nổi tiếng, sản phẩm sẽ khó được người tiêu dùng chấp nhận Thực tế 90% nông sản Việt Nam Xuất khẩu phải thông qua trung gian hay dưới nhãn hiệu của nước khác.29 Bởi nông sản Việt Nam một mặt là chưa có thương hiệu, một mặt là chưa có đầu tư xứng đáng cho xây dựng, củng cố thương hiệu, nên những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam hầu như

29Trang Doanh nhân-Thời báo kinh doanh, Chỉ dẫn địa lý - "cửa mở" cho nông sản xuất khẩu:

http://doanhnhansaigon.vn/online/kinh-doanh/tu-van-thuong-mai/2013/04/1073318/chi-dan-dia-ly-cua-mo-cho-

Trang 24

chưa được khách hàng ở những thị truờng trọng điểm quốc tế công nhận Điều này đã gây cho Việt Nam và đặc biệt là nông dân, doanh nghệp nông sản những thiệt hại lớn Xuất khẩu một lượng lớn nông sản hàng năm, nhưng lợi nhuận thu về lại không đáng bao nhiêu

1.4 Pháp luật về xây dựng và bảo hộ thương hiệu hàng nông sản tại VN

1.4.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Năm 1957, Miền Nam mới ban hành Luật Thương hiệu và năm 1958 Chính phủ

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ban hành "Thể lệ về thương phẩm và thương hiệu" Tuy

nhiên, giá trị thực tiễn của các văn bản này chưa cao Năm 1976, Việt Nam đã tham gia vào Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) Ngày 14/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban

đầu tiên chính thức nhắc đến vấn đề bảo hộ độc quyền trong sở hữu công nghiệp hữu trí tuệ đã ra đời, tạo tiền đề phát triển cho công cuộc đổi mới, đó là Điều lệ nhãn hiệu hàng hoá ngày 14/2/1982

Xã hội càng phát triển, sản xuất càng phát triển đòi hỏi một hệ thống pháp luật về

sở hữu công nghiệp càng phải được hoàn thiện Ngày 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khoá IX đã thông qua Bộ Luật Dân sự nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chính thức thiết lập chế độ pháp lý cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam (Phần thứ sáu và bảy của Bộ Luật Dân sự 1995)

Tuy ra đời sau các nước khác trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, pháp luật Việt Nam đã có những bước đi đáng khâm phục, nổi bất nhất là việc ban hành BLDS 1995 và Nghị định 63/CP về sở hữu công nghiệp ngày 24/10/1996 và Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 8/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

1.4.2 Giai đoạn khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Tháng 5 năm 2005, BLDS 1995 được sửa đổi bổ sung cơ bản (gọi tắt là BLDS 2005) BLDS 2005 thay thế BLDS 1995 từ ngày 01/01/2006, vì thế các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS 1995 kể trên chỉ còn phát huy tác dụng tạm thời trước khi được các

Trang 25

văn bản hướng dẫn Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 thay thế Trong BLDS 2005, các qui định về

sở hữu trí tuệ đã được đơn giản và thu hẹp nhiều Chúng chỉ còn đóng vai trò hướng dẫn chung, cho thấy quyền sở hữu trí tuệ về bản chất là một quyền dân sự, có những phương pháp điều chỉnh như phương pháp điều chỉnh của luật dân sự, song cũng có những tính chất riêng

Tại kỳ họp Quốc hội Khoá X, Kỳ họp thứ 10, vào ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Sở hữu Trí tuệ (Luật SHTT – Luật Số 50/2005/QH10) đã được Quốc hội ban hành với số phiếu gần như tuyệt đối (368/370), có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 Như vậy luật

sở hữu trí tuệ trở thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật nước Việt Nam Luật Sở hữu trí tuệ đã tiếp thu được các giá trị của nhiều quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ, đã được thẩm định trong thực tiễn Ngay sau khi Luật được đưa vào áp dụng chúng ta một số nghị định hướng dẫn trong lĩnh vực nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật

sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp Và thông tư số 01/2007/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn thi hành Nghị định

số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp

1.4.3 Các điều ước quốc tế Việt Nam tham gia

Với mục tiêu hội nhập sâu, hội nhập rộng và hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới Chúng ta chủ trương pháp luật phải hoàn thiện nhằm điều chỉnh những khía cạnh mới Trong đó lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý nói riêng cần được sự quan tâm, chính vì lý do đó mà trong những năm qua Việt Nam đã tích cực

và nhanh chóng tham gia những Điều ước quốc tế Trước tiên trong lĩnh vực nhãn hiệu hàng hóa thì theo Thông báo số 05/2006 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới, ngày 11 tháng 4 năm 2006 Việt Nam đã nộp Văn kiện gia nhập Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (Nghị định thư Madrid) và Nghị định thư Madrid sẽ chính thức có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 11 tháng 7 năm 2006 Như vậy, kể từ ngày 11 tháng 7 năm

Trang 26

2006, Việt Nam sẽ chính thức là thành viên của cả hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu bao gồm Nghị định thư Madrid và Thoả ước Madrid (Việt Nam là thành viên của Thoả ước Madrid từ năm 1949) Tính đến nay, tổng số các nước thành viên của hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu là 78 quốc gia Kế đó là Công ước Paris năm 1883, tính đến ngày 22.06.1999 đã có tới 155 nước thành viên Việt Nam trở thành thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp kể từ ngày 08.03.1949 Ngày 15 tháng

12 năm 1993, các cuộc đàm phán thương mại đa phương tại vòng đàm phán Urugoay trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT đã được ký kết Thoả thuận ghi nhận kết quả của những cuộc đàm phán trên là Thoả thuận thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã được thông qua vào ngày 15 tháng 4 năm 1994 tại Marrakesh Lần đầu tiên trong khuôn khổ Hiệp định GATT diễn ra những cuộc đàm phán

về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại quốc tế Kết quả của những cuộc đàm phán đó được nêu trong phần phụ lục của Thoả thuận Marrakesh là Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIPS) Thoả thuận Marrakesh bao gồm cả Hiệp định TRIPs có giá trị ràng buộc đối với tất cả các thành viên WTO và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1995

Hiệp định TRIPS có 83 điều khoản, được chia thành 7 phần trong đó những quy định liên quan đến đăng ký và bảo hộ thương hiệu nằm tản mạn, cụ thể các quy định về nhãn hiệu hàng hóa là các Điều 15 đến Điều 21, quy định về chỉ dẫn địa lý là các Điều 22 đến Điều 24 Và cũng theo quy định của Hiệp định các quốc gia thành viên của WTO được trao những thời hạn nhất định sau ngày Thoả thuận thành lập WTO có hiệu lực trước khi buộc phải áp dụng Hiệp định TRIPS Cụ thể như sau: Các nước đang phát triển trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh, đang tiến hành cải cách cơ cấu hệ thống quyền sở hữu trí tuệ và đang gặp khó khăn đặc biệt phải tuân thủ Hiệp định kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2000 (điều 65, khoản 2 và 3) Các nước đang phát triển theo Hiệp định này buộc phải mở rộng bảo hộ bằng sáng chế cho sản phẩm đối với các loại sản phẩm mà trước đây không được cấp bằng sáng chế tại nước đó phải tuân thủ Hiệp định này kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2005 (điều 65 khoản 4)

Trang 27

Các nước kém phát triển, ngoại trừ các điều khoản có liên quan đến đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc, phải tuân thủ Hiệp định kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2006 Thời hạn này có thể được gia hạn tuỳ theo yêu cầu chính đáng (điều 66 khoản 1) Và các nước khác phải tuân thủ Hiệp định TRIPs ngay từ ngày 1 tháng 1 năm 1996 (điều 65 khoản 1) Như vậy, tính đến nay, hầu hết các quốc gia thành viên WTO đều đã phải tuân thủ Hiệp định

Tóm lại khi gia nhập kinh tế thị trường các quốc gia thành viên phải chấp nhận quy

luật cạnh tranh tất yếu, để vào được “sân chơi” này không phải dễ dàng và hiểu luật và

chơi được cũng là một thách thức vô cùng khó khăn đối với các nước đang phát triển-Việt Nam không ngoại lệ Hàng hóa Việt Nam nói chung và nông sản nói riêng đang đứng trước những thách thức rất lớn Nhưng công bằng mà nói hàng nông sản Việt Nam có nhiều lợi thế khi hội nhập, bởi chúng ta là quốc gia đi lên từ nông nghiệp với điều kiện tự nhiên đặc thù đã tạo ra nhiều mặc hàng nông sản thành danh được các thị trường khó tính công nhận, kinh nghiệp sản xuất nông nghiệp truyền thống kết hợp vời khoa học kỹ thuật hiện đại trong thời gian qua là một minh chứng rõ nét nhất và với một lực lượng lao động

lớn Với những “vốn liếng” ấy không khó để nông sản Việt Nam thâm nhập vào” sân

chơi” khóc liệt này Nhưng đến hiện tại nông sản của chúng ta vẫn dè dặt đứng nhìn các

mặc hàng khác qua mặc, chúng ta đang đứng nhìn thực trạng sản xuất nhiều, xuất khẩu nhiều nhưng doanh thu thấp Lý do rất đơn giản là vì nông sản của chúng ta không có thương hiệu hoặc có nhưng bị đánh cấp Thế làm thế nào để khắc phục vấn nạn? Vấn đề thoạt nhìn khá đơn giản nhưng để giải quyết thì rất chong gay, cần phải có sự chung tay của nhiều cơ quan quan lý, các cơ quan chức năng có liên quan, các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và quan trọng hơn cả là nhà nông.chúng ta cần có chương trình kế hoạch về lâu về dài Mà trước hơn hết là phải xây dựng và bảo hộ được thương hiệu cho hàng nông sản trước khi đưa ra thị trường Pháp luật việt nam chưa ghi nhận và bảo hộ thương hiệu nhưng chúng ta cũng có những kênh khác, nhìn từ đặc điểm của nông sản, lơi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân sản xuất để soi vào hệ thống pháp lý của chúng ta và các nước thì việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu hiện nay phải dựa trên những quy định pháp luật về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý làm cơ sở để nghiên cứu Thương hiệu có ý nghĩa

Trang 28

và giá trị to lớn đối với quốc gia, doanh nghiệp, nông dân sản xuất như đã trình bày Vì những lẽ trên người viết xin khép lại những lý luận chung về thương hiệu để dành phần

lớn nội dung quan trong tìm ra và phân tích cơ sở pháp lý để bảo hộ thương hiệu “một lá

chắn bảo vệ hàng nông sản khi vào sân chơi WTO”

Trang 29

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ XÂY DỰNG VÀ BẢO HỘ THƯƠNG HIỆU

HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP

Thương hiệu muốn được bảo hộ thì thương hiệu phải là đối tượng được bảo hộ tức phải được pháp luật ghi nhận trong một văn bản pháp lý như Luật sở hữu trí tuệ 2005 ghi nhận nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại,…là đối tượng được bảo hộ Và như đã phân tích pháp luật Việt Nam không bảo hộ thương hiệu, thế nhưng việc bảo hộ thương hiệu là một việc làm rất cấp bách hiện nay, nên người viết đứng dưới gốc độ đặc điểm và lợi ích của nông sản đem lại, người viết tập chung nghiên cứu và đưa ra điều kiện đăng ký

và bảo hộ thương hiệu thông qua nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý Để thuận lợi cho việc tìm hiểu và nghiên cứu người viết xin trình bày lần lượt nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý theo pháp luật quốc tế sau đó đến nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý pháp luật việt nam bố cục tương tự

2.1 Dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa là thương hiệu

2.1.1 Quy định của pháp luật pháp luật quốc tế

Hiệp ước Luật nhãn hiệu được thông qua ở Geneve năm 1994, ngay tại Điều 2 quy

định rõ rằng “Hiệp ước này áp dụng đối với những nhãn hiệu cấu tạo bởi các ký hiệu nhìn

thấy được, với điều kiện là chỉ có những Bên ký kết chấp nhận việc đăng ký nhãn hiệu ba chiều, mới bắt buộc phải áp dụng Hiệp ước này đối với các nhãn hiệu đó 30 Và chỉ áp dụng cho nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ hoặc cả hai loại nhãn hiệu này

Trước đó chúng ta cũng có văn bản quốc tế quy định về vấn đề này đó là Thỏa ước Madrid được thông qua 1989, có hiệu lực từ ngày 1/12/1995, tính đến ngày 18/1/2002 có 52 nước thành viên tham và Việt Nam cũng là thành viên của thỏa ước này

Theo đó “một nhãn hiệu có thể là đối tượng của một đăng ký quốc tế chỉ khi nhãn hiệu đó

đã được đăng ký (hoặc đã được nộp đơn đăng ký, nếu đơn quốc tế chỉ chịu sự điều chỉnh

30 Điều 2, khoản 1, điểm a, Hiệp ước Luật nhãn hiệu 1994

Trang 30

của Nghị định thư) tại Cơ quan xuất xứ Trong trường hợp đơn quốc tế chỉ chịu sự điều chỉnh của Thoả ước hoặc chịu sự điều chỉnh của cả Thoả ước và Nghị định thư, Cơ quan xuất xứ là Cơ quan Nhãn hiệu của Bên tham gia nơi người nộp đơn có cơ sở kinh doanh; nếu người nộp đơn không có cơ sở kinh doanh tại một Nước, Cơ quan xuất xứ là Cơ quan của Bên tham gia nơi người nộp đơn cư trú; nếu người nộp đơn không cư trú tại một Nước thì Cơ quan xuất xứ là Cơ quan của Bên tham gia mà người nộp đơn là công dân Trong trường hợp đơn quốc tế chỉ chịu sự điều chỉnh của Nghị định thư, những hạn chế

về sự lựa chọn Cơ quan xuất xứ này sẽ không áp dụng; Cơ quan xuất xứ có thể là Cơ quan của bất kỳ Bên tham gia nào mà một pháp nhân hoặc thể nhân đáp ứng một hoặc một số tiêu chuẩn nêu trên” 31

Liên quan đến chỉ dẫn địa lý có Nghị định thư Madrid, với mục đích kế thừa và phát triển những quy định của Công ước Paris về bảo hộ chỉ dẫn nguồn gốc đã quy định

cụ thể và rõ ràng hơn chỉ dẫn nguồn gốc “Bất kỳ sản phẩm nào mang chỉ dẫn sai lệch

hoặc lừa dối mà qua đó một trong số các quốc qia của Thỏa ước Madrid hoặc một địa điểm tại nước đó được chỉ dẫn trực tiếp là hoặc địa điểm xuất xứ thì hàng hóa nhập khẩu

và bất kỳ quốc gia thành viên của Thỏa ước đều bị tịch thu” Như vậy chỉ dẫn nguồn gốc

theo Nghị định này phải thỏa những tiêu chí sau:

Thứ nhất, chỉ dẫn nguồn gốc là bất kỳ sự chỉ dẫn nào được sử dụng để chỉ trực tiếp

hoặc gián tiếp đến hàng hóa có nguồn gốc từ một quốc gia, vùng lãnh thổ của quốc gia sản xuất hàng hóa đó như: Từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh,

Thứ hai, chỉ dẫn chỉ thuần túy là chỉ dẫn đến nguồn gốc của hàng hóa mà không có

mối liên hệ nào về chất lượng hoặc uy tín của hàng hóa, những chỉ dẫn thường được biết đến như: Made in China, Made in Viet Nam,32

Cũng liên quan đến chỉ dẫn địa lý nhưng Thỏa ước Lisbon năm 1958 đưa ra khái

niệm tương tự là “tên gọi xuất xứ hàng hóa” cụ thể tại Điều 2 khoản 1 quy định “ Tên gọi

xuất xứ hàng hóa là tên địa lý của Nước, khu vực địa lý hoặc vùng lãnh thổ, dùng để chỉ

31

Nộp đơn đăng ký, Thỏa ước Madrid 1891

32Vũ Thị Hải Yến: Bàn về khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, Tạp chí Luật học, số

5/2008, tr 45

Trang 31

dẫn cho một sản phẩm bắt nguồn từ khu vực đó, có chất lượng hoặc những tính chất đặc thù, riêng biệt xuất phát từ môi trường địa lý, bao gồm yếu tố tự nhiên và con người” 33

Từ khái niệm này Thỏa ước đưa ra ba dấu hiệu cơ bản để một chỉ dẫn được bảo hộ:

Một là, tên địa lý phải là tên gọi trên bản đồ địa lý;

Hai là, hàng hóa phải bắt nguồn từ khu khu vực địa lý đó;

đó.34

Ba là, mối liên hệ mật thiết với chất lượng và tính chất đặc thù của hàng hóa từ nơi

Hiệp định TRIPs của WTO được ký năm 1994 và chính thức có hiệu lực vào tháng

1 năm 1995 đã ra đời nhằm giải quyết một cách toàn diện vấn đề bảo hộ SHTT Với Hiệp định này, lần đầu tiên những quy định về quyền SHTT được đưa vào hệ thống thương mại

đa biên và người ta kỳ vọng rắng hiệp định sẽ “góp phần thúc đẩy cải tiến, chuyển giao công nghệ cũng như lợi ích kinh tế-xã hội nói chung và đảm bảo sự cân bằng giữa quyền

và nghĩa vụ”35 Với định hướng đó Hiệp định TRIPs quy định điều kiện nhãn hiệu được

đăng ký là “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt

hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể

cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt được xác định thông qua việc sử dụng Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”36 Và

cũng trong Hiệp định này, “chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ

lãnh thổ của một Thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất

33 Điều 2, khoản 1, Hiệp định Lisbon 1985

34Vũ Thị Hải Yến: Mối quan hệ giữa bảo hộ chỉ dẫn địa lý và bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ

Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 10/2007, tr.48

35 Điều 7, Hiệp định TRIPs 1994

36 Mục 2, điều 15, khoản 1, Hiệp định TRIPs 1994

Trang 32

lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”37 Từ đó suy

rộng ra“thương hiệu là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một thành

viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định” Từ định nghĩa trong hiệp định TRIPs

ta thấy rằng để được coi là thương hiệu cần có ba điều kiện:

Một là, thương hiệu là dấu hiệu bất kỳ (từ ngữ, hình ảnh) miễn là qua đó có thể chỉ

ra được hàng hóa mang thương hiệu được bảo hộ bắt nguồn từ lãnh thổ của quốc gia nào hoặc thuộc khu vực địa phương nào của lãnh thổ quốc gia đó Tuy nhiên dấu hiệu trên hàng hóa phải liên quan đến một quốc gia cụ thể hoặc một địa phương khu vực của một quốc gia cụ thể đến mức qua dấu hiệu người tiêu dùng biết được hàng hóa bắt nguồn từ đâu;

Hai là, hàng hóa mang thương hiệu phải có nguồn gốc từ một quốc gia hoặc từ

khu vực, địa phương mà hàng hóa đó được xác định mang thương hiệu;

Ba là, hàng hóa mang thương hiệu phải có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất

định chủ yếu do quốc gia hay khu vực địa phương đã được chỉ dẫn là nơi hàng hóa bắt nguồn quy định.38

Về dấu hiệu “chỉ dẫn địa lý” lần đầu tiên được quy định trong Hiệp định TRIPs (khoản 1 Điều 22) như sau “Trong Hiệp định này, chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng

hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một Thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”.39 Từ định nghĩa này, có thể xác định chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo quy định của Hiệp định TRIPs có ba đặc điểm sau:

Một là, Hiệp định TRIPs không giới hạn phạm vi được sử dụng chỉ dẫn địa lý, có

nghĩa là chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu bất kỳ để chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa, không nhất thiết phải là một địa danh đang tồn tại trên bản đồ;

37Mục 3, điều 22, khoản 1, Hiệp định TRIPs 1994

38 Trang Tailieu.vn, Huongbangh: http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/dieu-kien-bao-ho-chi-dan-dia-ly.181358.html , [Truy cập ngày 27/32013]

39 Điều 22, khoản 1, Hiệp định TRIPs 1994

Trang 33

Hai là, hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý phải bắt nguồn từ lãnh thỗ, địa phương hay

khu vực mà chỉ dẫn đó chỉ dẫn tới;

Ba là, sản phẩm mang chỉ dẫn có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính chủ yếu do xuất

xứ quyết định.40

2.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam Luật sở hữu trí tuệ là văn bản chính thức ghi nhận sự bảo hộ các đối tượng của sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý là hai trong số nhiều đối tượng được bảo hộ Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu được quy định tại Điều 72 và chỉ dẫn địa lý tại Điều 79

Cách hiểu đơn giãn nhất của người tiêu dùng về nhãn hiệu, thì nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Qua cách hiểu này ta thấy nhãn hiệu chỉ có chức năng phân biệt nhưng trên thực tế, nhãn hiệu có thể

có nhiều chức năng như: chức năng thông tin, chức năng hướng dẫn, chức năng nhận biết yếu tố quan trọng nhất là khả năng phân biệt của nhãn hiệu đó Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam không có một điều khoản nào quy định nhãn hiệu mà khái niệm nhãn hiệu được

quy định trong phần giải thích từ ngữ Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng

hóa, dịch vụ của tổ chức cá nhân khác nhau”.41 Tuy nhiên không phải bất kỳ dấu hiệu nào

có khả năng phân biệt cũng có thể trở thành nhãn hiệu vì điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại Điều 72 Luật SHTT như sau:

Thứ nhất, là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,

kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thễ hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;

Thứ hai, là có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với

hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác 42

40Vũ Thị Hải Yến, Các quy định của TRIPs về bảo hộ chỉ dẫn địa lý, Tạp chí Luật học, số 11/2006, tr 64

41 Điều 4, khoản 6, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sửa đổi, bổ dung năm 2009

42 Điều 72, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sửa đổi, bổ dung năm 2009

Trang 34

Như vậy một nhãn hiệu có thể được bảo hộ nếu đáp ứng hai điều kiện Một là dấu

hiệu” phải nhìn thấy được” quy định này hẹp hơn quy định của Hiệp định TRIPs “bất kỳ

dấu hiệu nào” Điều đó có nghĩa là, các dấu hiệu như âm thanh, mùi vị không thể đăng ký

theo Luật SHTT Việt Nam Hai là “khả năng phân biệt” điều kiện bắt buộc của nhãn hiệu

do đó nó giống các quy định quốc tế Khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác Một số nước lại quy định nhãn hiệu phải có tính “độc đáo”, có nghĩa là nó phải có khả năng phân biệt, không phải là tên gọi chung, hay các dấu hiệu mô tả, chữ số, hình học đơn giản Tựu trung lại, gần giống với “khả năng phân biệt” như luật Việt Nam quy định

Chỉ dẫn địa lý cũng được bảo hộ nếu đáp ứng hai điều kiện sau đây “một là sản

phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý, hai là sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định” 43 Cụ thể theo Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03-10-2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh44 thì chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hóa đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, phải thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh,

dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia;

Thứ hai, thể hiện trên hàng hóa, bao bì hàng hóa hay giấy tờ giao dịch liên quan tới

việc mua bán hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa nói trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.45

43 điều 79, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 được sửa đổi, bổ dung năm 2009

44 Điều 10, Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03-10-2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với

bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

45

Theo Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03-10-2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Ngày đăng: 11/11/2015, 19:28

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w