Có thể nói, Phật giáo thời Lý đã đạt đến đỉnh cao trong sự phát triển của Phật giáo Việt Nam, cũng như văn hóa Việt Nam.. Dưới thời Lý, Phật giáo đã phát huy được những bản sắc tốt đẹp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN LỊCH SỬ - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO THỜI LÝ
(1010 – 1225)
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
LỚP: SP Lịch sử K35
Cần Thơ, tháng 5-2013
Trang 2GVHD: Khoa Năng Lập
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè, cũng như sự động viên của gia đình Trong đó, tôi chân trọng gửi lời cảm ơn đến Thầy Khoa Năng Lập là giáo viên hướng dẫn luận văn của tôi Thầy
đã tận tâm hướng dẫn cho tôi suốt quá trình thực hiện luận văn này
Ngoài ra, tôi cũng xin cảm ơn Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Sư phạm, Bộ môn Lịch sử đã tạo những điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên, do còn những hạn chế về thời gian cũng như kinh nghiệm trong nghiên cứu nên khó tránh khỏi những sai sót Vì vậy, tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè
Cần Thơ, tháng 5 năm 2013
Người viết
Danh Điệp
Trang 3GVHD: Khoa Năng Lập
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
GVHD: Khoa Năng Lập
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 5
GVHD: Khoa Năng Lập
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 SỰ DU NHẬP PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM TRƯỚC THỜI LÝ VÀ SỰ THÀNH LẬP NHÀ LÝ 6
1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam trước nhà Lý 6
1.1.1 Thời Bắc thuộc 6
1.1.2 Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê 10
1.1 Sự hình thành và phát triển của nhà Lý 14
1.1.1 Sự thành lập Nhà Lý 14
1.1.2 Những thành tựu cơ bản của nhà Lý 17
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO VỀ CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG – THỜI LÝ 23
2.1 Về chính trị 23
2.1.1 Về tổ chức bộ máy nhà nước 23
2.1.2 Về đạo trị nước của các vị vua triều Lý 25
2.1.3 Về tính khoan dung và nhân đạo trong Luật pháp 31
2.1.4 Về đường lối ngoại giao hòa hiếu 35
2.2 Về tư tưởng 38
2.2.1 Phật giáo với tính “thuần từ” trong thế giới quan tư tưởng thời Lý 38
2.2.2 Sự sùng bái Phật giáo trong giới vua quan, quý tộc 40
Trang 6GVHD: Khoa Năng Lập
2.2.3 Phật giáo với sự dung hòa tư tưởng Nho giáo, Lão giáo 43
2.2.4 Tính nhập thế tích cực của Phật giáo thời Lý 46
Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN TÌNH HÌNH VĂN HÓA – GIÁO DỤC THỜI LÝ 51
3.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến tình hình văn hóa 51
3.1.1 Phật giáo với ý thức xây dựng một nền văn hóa độc lập – tự chủ 51
3.1.2 Những đóng góp của Phật giáo trên lĩnh vực sáng tác văn học 53
3.1.3 Những đóng góp của Phật giáo trên lĩnh vực kiến trúc – mỹ thuật 63
3.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến tình hình giáo dục 70
3.2.1 Vai trò của Phật giáo đối với sự phát triển của nền giáo dục thời Lý 70
3.2.2 Hành trạng của một số thiền sư trong việc đào tạo nhân tài cho quốc gia 72
PHẦN KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC ẢNH 83
Trang 7Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý khác nhau, nhưng suy cho cùng đều hướng con người đến cái tốt, cái đẹp Phật giáo cũng là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới và
có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội con người Phật giáo ra đời từ thế kỉ thứ
VI trước công nguyên và du nhập vào nước ta từ rất sớm Tuy là một tôn giáo ngoại nhập nhưng Phật giáo Việt Nam có những bản sắc riêng của dân tộc Với những triết lý nhân sinh sâu sắc, phù hợp với truyền thống đạo đức, tâm tư, tình cảm của dân tộc, Phật giáo
đã nhanh chóng được nhân dân ta tiếp nhận và xem đó như là “mạch sống của dân tộc”
Tư tưởng từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo đã hòa quyện với truyền thống thương người như thể thương thân của người Việt để hun đúc nên chủ nghĩa nhân đạo và tính nhân văn sâu sắc của người Việt
Tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể, mà Phật giáo có những lúc thịnh suy khác nhau Nhưng dù có những bước thịnh suy thế nào đi chăng nữa thì Phật giáo vẫn luôn là một tôn giáo của dân tộc, một tôn giáo của tình thương và trí tuệ Nói đến Phật giáo Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến Phật giáo thời Lý Đây là giai đoạn phát triển cực thịnh của Phật giáo Việt Nam và Phật giáo có những ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống chính trị, xã hội đương thời Nhìn lại xuyên suốt chiều dài của lịch
sử, Phật giáo luôn luôn đồng hành với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Đây
là một điều hết sức đáng quý và đáng trân trọng không phải tôn giáo nào cũng có được
Để tìm hiểu sâu hơn về điều này, tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu Ảnh
Trang 8GVHD: Khoa Năng Lập
hưởng của Phật giáo thời Lý (1010 – 1225) cho luận văn tốt nghiệp của mình Có thể nói,
Phật giáo thời Lý đã đạt đến đỉnh cao trong sự phát triển của Phật giáo Việt Nam, cũng như văn hóa Việt Nam Chính Phật giáo thời Lý đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền văn minh Đại Việt sau hơn một ngàn năm bị phương Bắc đô hộ Dưới thời Lý, Phật giáo đã phát huy được những bản sắc tốt đẹp của dân tộc, đưa nền văn minh Đại Việt lên một tầm cao mới, mở ra thời đại văn minh thịnh trị lâu dài đầu tiên trong lịch sử dân tộc, sánh ngang với cả phong kiến Trung Hoa Chính những điều này đã thôi thúc tôi tìm hiểu
và nghiên cứu sâu hơn về đề tài này
2 Đối tượng nghiên cứu
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Phật giáo luôn luôn đồng hành với dân nhân ta qua những chặng đường thăng trầm của đất nước Kể từ khi được truyền
bá vào nước ta, Phật giáo đã luôn gắn liền với sự phát triển của đất nước, cũng như luôn hoàn thành tốt sự nghiệp giáo hóa chúng sinh, hoằng dương Phật pháp Phật giáo luôn xem sứ mệnh của dân tộc như là sứ mệnh của chính mình
Suốt chiều dài khoảng hai ngàn năm lịch sử, Phật giáo đã chứng minh được sự hiện hữu của mình trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… và có những đóng góp, những ảnh hưởng quan trọng vào các mặt nói trên Đặc biệt, Phật giáo thời Lý đã phát triển một cách cực thịnh và là quốc giáo của nước ta Từ vua quan, quý tộc đến tầng lớn nông dân đều rất sùng Phật giáo Do đó mà địa vị của Phật giáo trong xã hội rất được coi trọng
Với sự ảnh hưởng lớn đến xã hội đương thời, Phật giáo đã có những đóng góp tích cực đối với sự phát triển của nền văn minh Đại Việt thời Lý Có thể nói đây là thời kỳ
“vàng son của Phật giáo Việt Nam”, cũng là một thời kỳ phát triển hưng thịnh và lâu dài
đầu tiên trong lịch sử dân tộc Suốt hơn hai thế kỉ tồn tại, nhà Lý đã có được những bước tiến quan trọng trong công cuộc xây dựng, củng cố và phát triển đất nước Có được những bước phát triển đó, chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của Phật giáo - một tôn giáo có sức chi phối đời sống tâm linh, chính trị, tư tưởng và văn hóa - xã hội Do đó, nhằm để tìm hiểu những tinh hoa Phật giáo, đặc biệt là dưới thời Lý, tôi đã quyết định
Trang 9GVHD: Khoa Năng Lập tưởng, văn hóa - giáo dục đương thời
3 Phạm vi nghiên cứu
Như đã nói ở trên, tôn giáo là một đề tài nghiên cứu hấp dẫn nhưng cũng đầy khó khăn và thử thách Bởi đề tài tôn giáo vốn rộng lớn và khá phức tạp, hơn nữa Phật giáo lại là một tôn giáo lớn trên thế giới, có nhiều triết lý sâu rộng, có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội con người Dưới thời Lý, Phật giáo đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng và phát triển nền văn minh Đại Việt một cách thịnh trị Đặc biệt, với vai trò cố vấn cho triều đình, các nhà sư Phật giáo đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của chính trị – tư tưởng, văn hóa – giáo dục
Xét về cả phương diện vật chất và tinh thần, Phật giáo trong giai đoạn này đã có những ảnh hưởng to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị – xã hội đương thời Do sự ảnh hưởng sâu rộng như vậy nên tôi chỉ có thể nêu lên những nét chính trong sự ảnh hưởng của Phật giáo đến các lĩnh vực chính trị – tư tưởng và văn hóa – giáo dục Trong đó, vấn
đề văn hóa là một vấn đề rộng lớn, đặc biệt là trên các lĩnh vực văn học, kiến trúc - mỹ thuật Do đó, tôi cũng chỉ có thể nêu lên những lên những nét khái quát nhất nhằm cho thấy được sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với các lĩnh vực trên
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính trị – tư tưởng, văn hóa – giáo dục là những đề tài nghiên cứu sâu rộng, có nhiều khó khăn, thách thức Hơn nữa, khi nghiên cứu ở thời đại nhà Lý – một thời đại mà Phật giáo phát triển cực thịnh và có nhiều ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội đương thời thì lại có nhiều khó khăn hơn Nhưng đây cũng là một đề tài thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều người
Ảnh hưởng của Phật giáo đến các vấn đề chính trị – tư tưởng, văn hóa – giáo dục thời Lý không phải là một đề tài mới Trước đây, vài vấn đề trong luận văn này đã được
đề cập trong nhiều tác phẩm như:
Sách Đạo Phật và dòng sử Việt của tác giả Đức Nhuận, do nhà xuất bản Phương
Đông, xuất bản năm 2009 Cuốn sách này đã trình bày được quá trình gắn bó giữa Phật giáo Việt Nam với quá trình xây dựng đất nước qua các thời kỳ lịch sử Riêng ở triều đại
Trang 10GVHD: Khoa Năng Lập
Lý, tác giả đã cho thấy được sự ảnh hưởng to lớn của Phật giáo đối với chính trị - xã hội thời Lý Từng giai đoạn phát triển của đất nước đã cho thấy được mối quan hệ mật thiết giữa nhà nước phong kiến và Phật giáo
Tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử lược của tác giả Thích Mật Thể, đã khái về quá
trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam Trong đó về Phật giáo thời Lý, tác giả đã nêu lên được những nét chính về Phật giáo đối với chính trị và xã hội qua các đời vua thời Lý
Sách Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý của tác giả Hoàng
Xuân Hãn, do nhà xuất bản Hà Nội in năm 2010 Sách đã phản ánh được những nét khái quát về quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở nước ta đến thời Lý Đồng thời, cuốn sách này cũng đã nói lên sự ảnh hưởng của Phật giáo thời Lý đến đời sống chính trị
và văn hóa dân tộc Và đặc biệt, sách này tập trung sâu về người anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt, một người rất sung Phật cũng là người đã có nhiều cống hiến cho đất nước trong công cuộc chống ngoại xâm và xây dựng đất nước
Sách Việt Nam Phật giáo sử luận của tác giả Nguyễn Lang, do nhà xuất bản Văn
hóa – Hà Nội, xuất bản năm 1994 Tác phẩm này đã nêu lên được quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ Trong đó, có nêu những nét tổng quan của Phật giáo thời Lý về chính trị, văn hóa và mỹ thuật
Sách Lược sử Mỹ thuật Việt Nam của tác giả Trịnh Quang Vũ, do nhà xuất bản
Văn hóa – Thông tin in ấn năm 2002 Cuốn sách đã khái quát về quá trình hình thành và phát triển của mỹ thuật Việt Nam qua các triều đại, trong đó có nêu nổi bật một số vấn đề
về kiến trúc và mỹ thuật thời Lý cũng như quá trình giao lưu văn hóa giữa kiến trúc Việt Nam và Chămpa
Sách Mỹ Thuật Lý – Trần: Mỹ Thuật Phật giáo của tác giả Chu Quang Chứ, do
nhà xuất bản Thuận Hóa, xuất bản năm 1998 Cuốn sách này đã đi sâu phân tích về những nét đẹp tiêu biểu trong kiến trúc Phật giáo thời đại Lý – Trần Qua đó, tác giả đã khắc họa rõ nét về kiến trúc Phật giáo ở thời đại Lý – Trần, là hai triều đại phát triển nổi bật của Phật giáo
Trang 11GVHD: Khoa Năng Lập
Trên đây là những tác phẩm tiêu biểu có viết về Phật giáo thời Lý Ngoài ra, còn nhiều bài viết trên nhiều tập chí, các trang điện tử, các bài luận văn, có liên quan đến đề tài Tuy nhiên, gốc độ nghiên cứu của mỗi người cũng có nhiều điểm khác nhau Các bài viết trên chỉ có đề cập đến một phần nào của luận văn chứ chưa đề cập đầy đủ các khía cạnh của luận văn này Do đó, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những thế hệ đi trước, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và viết nên bài luận văn này
5 Phương pháp nghiên cứu
Tôn giáo là một đề tài nghiên cứu sâu rộng, có nhiều khó khăn và thách thức Trước đây, đề tài này đã được nhiều người nghiên cứu qua Tuy nhiên, mỗi người lại có phạm vi nghiên cứu, cũng như phương pháp nghiên cứu khác nhau
Trong luận văn này, tôi chủ yếu sử dụng phương pháp logic, liệt kê, so sánh, phân tích, kết hợp đánh giá tổng thể nhằm thấy được sự ảnh hưởng to lớn của Phật giáo đế sự hình thành và phát triển của nhà Lý
6 Bố cục của luận văn
Luận văn này gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận Riêng trong phần nội dung được chia làm 3 chương:
Chương 1 Nhà Lý và sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam trước thời Lý
Chương 2 Ảnh hưởng của Phật giáo về chính trị - tư tưởng thời Lý
Chương 3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến tình hình văn hóa – giáo dục thời Lý
Do tôn giáo là một đề tài sâu rộng, cũng như còn những hạn chế trong nghiên cứu khoa học nên khó tránh khỏi những sai sót trong quá trình thực hiện đền tài này Vì vậy,
nếu có điều sai sót, tôi mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè!
Trang 12vào nước ta theo hai con đường chính là đường biển từ phía nam lên gọi là Nam truyền
và đường bộ từ phía bắc xuống gọi là Bắc truyền
Về đường Nam truyền, vào thời cổ đại vùng Viễn Đông và Thái Bình Dương đã là nơi buôn bán phồn thịnh Người Ấn Độ có quan hệ thông thương với các nước Đông Nam Á Do đó mà Phật giáo từ Ấn Độ được truyền qua Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, rồi từ các nước này truyền bá vào khu vực phía Nam của nước ta
Về đường Bắc truyền, Phật giáo từ Ấn Độ được truyền qua Tây Vực và các vùng đệm giữa Ấn Độ và Trung Quốc rồi truyền bá sang Trung Hoa theo con đường tơ lụa Sau
đó, Phật giáo lại từ Trung Hoa mà truyền vào nước ta
Theo nhiều sử sách cũng như truyền thuyết kể lại thì ngay từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã được truyền bá vào nước ta Tương truyền, tại thành Nê Lê (nay là
Đồ Sơn – Hải Phòng) có một nhà sư Ấn Độ đến lập am để tu hành và thuyết pháp, tại đây
có xây bảo tháp Asoka Trong Lĩnh Nam chích quái cũng có ghi lại truyền thuyết từ thời
Hùng Vương, câu chuyện có nhắc đến việc Chử Đồng Tử và Tiên Dung được nhà sư Phật Quang ở Quỳnh Viên Sơn (tức là Chùa Hang nổi tiếng ở Hải Phòng ngày nay) truyền dạy Phật pháp nên giác ngộ và được trao cho pháp khí là chiếc gậy và cái nón lá Dựa vào câu chuyện này, có thể Phật giáo đã được truyền vào nước ta trước cả thời Bắc thuộc nhưng chưa được phát triển mạnh
Dựa vào câu chuyện về Bát Nàn phu nhân - một nữ tướng của Hai Bà Trưng, đã đi
Trang 13GVHD: Khoa Năng Lập
xuất gia khi cuộc kháng chiến thất bại (năm 43) và việc trồng hoa uất kim cương để cúng
Phật do Dương Phù chép lại năm 100 sau công nguyên Trong Nghiên cứu về Mâu Tử, Lê
Mạnh Thát cho rằng khoảng cuối thế kỉ I sau công nguyên, “Phật giáo đã hiện diện với tư cách là một bộ phận tín ngưỡng đầy quyền uy đến nỗi dân ta phải trồng một thứ hoa để cúng Phật gọi là uất kim cương” Như vậy, đến thế kỉ I sau công nguyên, Phật giáo đã được truyền bá khá rộng rãi và có sức ảnh hưởng nhất định trong xã hội thời bấy giờ Với những chi tiết trên, ta có thể nhận định Phật giáo đã được truyền bá vào nước ta từ những năm trước công nguyên
Dưới thời Bắc thuộc, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo cùng được truyền bá rộng rãi vào nước ta nhưng chỉ có Phật giáo là được nhân dân ta tiếp nhận nồng nhiệt nhất Tư tưởng cốt lõi của Phật giáo là hướng đến một thế giới bình đẳng, hòa bình, không có sự
bốc lột giữa người với người Phật giáo đã lấy tư tưởng tự chủ phổ biến trong quần chúng
để chống lại tư tưởng nô dịch của phong kiến Trung Hoa Tư tưởng bình đẳng của Đức
Phật dạy cho con người phải phá bỏ sự phân chia giai cấp trong xã hội, chống lại sự áp bức, bốc lột của phong kiến Trung Hoa Do vậy, Phật giáo chẳng những không biến thành công cụ để thống trị nhân dân ta như bọn phong kiến phương Bắc đô hộ mong muốn mà còn là một nguồn động lực để nhân dân ta đứng lên giành lại quyền tự chủ dân tộc Sự xuất hiện của Phật giáo như là một nguồn nước tươi mát, tưới lên những linh hồn khô héo dưới ác đô hộ tàn bạo của phương Bắc Chính sự du nhập của Phật giáo vào nước ta đã góp phần chống lại chính sách đồng hóa của phương Bắc
Có thể điểm qua một số giai đoạn phát triển tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam thời
Bắc thuộc:
– Trung tâm Phật giáo Luy Lâu (hay Liên Lâu) thế kỉ II - III:
Để đồng hóa nhân dân ta, chính quyền phong kiến phương Bắc đã đẩy mạnh việc truyền bá Phật giáo vào nước ta nhằm lợi dụng tôn giáo như là một công cụ thống trị nhân dân Tuy nhiên, khi được truyền bá vào nước ta Phật giáo không hề bị chính quyền phong kiến đô hộ thao túng mà còn phát huy những tính tích cực riêng của nó Nhân dân
ta tiếp nhận Phật giáo không phải bởi sự áp đặt của giai cấp thống trị mà bởi những triết
lý của Phật phù hợp với những tâm tư, nguyện vọng, cũng như đạo lý cổ truyền của nhân
Trang 14GVHD: Khoa Năng Lập
dân ta thời bấy giờ
Các nhà nghiên cứu Phật học cho rằng trung tâm Phật giáo Luy Lâu là do Phật giáo từ Ấn Độ trực tiếp truyền sang nước ta bằng đường biển, tức là con đường Nam truyền, chứ không phải từ Trung Hoa truyền vào Trong cuộc đàm đạo giữa Thái hậu Linh Nhân và sư Trí Không vào năm 1096, nhà sư có dẫn lời của sư Đàm Thiên về việc vua
Tùy Cao Tổ muốn xây chùa ở Giao Châu (nước ta) nên tâu rằng: “Xứ Giao Châu có
đường thông trực tiếp với Thiên Trúc (Ấn Độ) khi Phật pháp mới đến Giang Đông (nước Tề), thì ở Luy Lâu (kinh đô Giao Chỉ, nay là làng Lũng Khê ở phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đã có hơn hai mươi ngôi chùa, chọn hơn 500 vị tăng, và tụng 15 quyển kinh rồi Vì
đó, người ta cho đã nói rằng Giao Châu theo Phật trước chúng ta”1 Qua lời tâu của Pháp sư Đàm Thiên càng chứng minh sự phát triển của Phật giáo ở Giao Châu lúc bấy giờ là hơn hẳn cả Trung Hoa
Như vậy, trung tâm Phật giáo Luy Lâu được thiết lập là do sự viếng thăm của các thương gia và tăng sĩ Ấn Độ bằng đường biển trên tuyến đường thông thương giữa Ấn
Độ với các nước Đông Nam Á và Trung Hoa Do vị trí nước ta nằm giữa tuyến đường giao thông biển từ Ấn Độ sang Trung Hoa nên Đạo Phật đã theo các thương thuyền của
người Ấn Độ truyền bá vào đây, “Đạo Phật tại Giao Châu do từ Ấn Độ truyền sang trực
tiếp, không phải là từ Trung Hoa truyền xuống”2 Bằng những sử liệu trên chúng ta có thể khẳng định, Phật giáo được truyền bà vào nước ta đầu tiên là từ Ấn Độ truyền sang theo con đường Nam truyền
Ở thế kỉ II – III, Luy Lâu là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Giao Châu, là cửa ngõ quan trọng giữa Trung Hoa và các nước phía Nam Do có vị trí thuận lợi, Phật giáo đã sớm được truyền bá và phát triển ở Luy Lâu Một số nhà truyền giáo nổi tiếng trong giai đoạn này như Ma-ha-kì-vực (Marhajivaka), Khương Tăng Hội, Chi-Cương-Lương (Kalaruci), Mâu Bác,…
– Phật giáo thời Tiền Lý (542 – 603) và sự xuất hiện của dòng thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi (Vinitaruchi):
Nếu như trong giai đoạn đầu, Phật giáo chủ yếu được truyền bá vào nước ta theo
Trang 15GVHD: Khoa Năng Lập
con đường Nam truyền thì ở các giai đoạn sau, Phật giáo phát triển mạnh thông qua con đường Bắc truyền Cùng với sự tiếp nối công cuộc phát triển của Phật giáo Luy Lâu, đến thế kỉ thứ VI, Phật giáo đã có những bước tiến quan trọng Với việc Lý Nam Đế lập ra nhà nước Vạn Xuân (544) đã đánh dấu một bước phát triển mới của Phật giáo Việt Nam Vừa mới giành được độc lập, nhà Tiền Lý đã cho lập chùa Khai Quốc trên nền cũ của chùa Yên Trì đã có từ thời Hồng Bàng ở Long Biên (Hà Nội) Việc thành lập nhà nước Vạn Xuân (với ý nghĩa tồn tại lâu dài) và dựng chùa Khai Quốc (chùa mở nước) cho thấy được sự gắn bó mật thiết giữa nhà nước và Phật giáo trong giai đoạn đầu dựng nước và giữ nước Chính tinh thần của Phật giáo đã góp phần thúc đẩy ý thức độc lập dân tộc
Đến năm 580, Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã sang nước ta dưới thời vua Lý Phật Tử và lập nên thiền phái đầu tiên ở nước ta gọi là Thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi (Thiền Pháp Vân) Bấy giờ, Ngài đến trụ trì chùa Pháp Vân (Thuận Thành – Bắc Ninh) mà dân gian thường gọi
là chùa Dâu Tỳ Ni Ða Lưu Chi là người miền bắc Ấn Ðộ, một vùng tôn sùng Phật giáo Ðại Thừa chuyên về thiền định Năm 574, Ngài đến kinh đô Trường An (Trung Quốc) Ngài theo học Tam Tổ Tăng Xán, truyền nhân đời thứ ba của Đạt Ma – người sáng lập ra Thiền tông Trung Hoa và được khuyên nên đi về phương Nam mà hoằng hóa Phật pháp
Ở nước ta, Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã dịch được hai quyển kinh quan trọng là Tượng
Ðầu Tinh Xá và Ðại Thừa Phương Quảng Tổng Trì Thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi chú trọng
nhiều về thực hành, nặng ảnh hưởng Phật giáo Ðại Thừa của Ấn Ðộ, trong đó có tính thần bí của Mật Tông Dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi tồn tại qua nhiều thế kỉ, tổng cộng có 20
đời, đến cuối thời Lý thì không còn
– Phật giáo thời thuộc Tùy – Đường và sự xuất hiện của dòng thiền Vô Ngôn Thông (Bất Ngữ Thông):
Năm 602, nhà Tùy cho quân xâm lược nước ta, lật đổ nhà nước Vạn Xuân nước ta thành một phủ của Trung Hoa Dưới thời nhà Tùy, Phật giáo có những bước phát, biến triển nổi bật Sau khi nhà Tùy sụp đổ, nhà Đường được thiết lập (618 – 960) Dưới ách thống trị của nhà Đường, một chế độ cai trị được coi là hà khắc nhất trong lịch sử ngàn năm Bắc thuộc được thiết lập, nhân dân ta vô cùng cực khổ Dưới ách thống trị thời Tùy – Đường, Phật giáo cũng có những bước phát triển quan trọng, có nhiều vị cao tăng ở
Trang 16GVHD: Khoa Năng Lập
nước ta đã sang Trung Hoa để học hỏi và giảng kinh Phật
Đây là giai đoạn đánh dấu một bước phát triển quan trọng của Phật giáo Việt Nam với sự xuất hiện của dòng Vô Ngôn Thông Dòng Vô Ngôn Thông là dòng thuyền thứ hai
du nhập vào nước ta Dòng thiền này do nhà sư Vô Ngôn Thông truyền bá vào nước ta năm 820 Nhà sư vốn họ Trịnh, tính tình ít nói nhưng thông minh nên người đời mới gọi
sư là Vô Ngôn Thông Cũng từ đây, Phật giáo Việt Nam mang đậm màu sắc của thiền tông của Phật giáo Trung Hoa, đặc biệt là dòng Nam phương của Lục tổ Huệ Năng, truyền nhân đời thứ sáu của Đạt Ma Dòng Vô Ngôn Thông tồn tại trong vòng năm thế kỉ, truyền tới thiền sư Tiêu Diêu và Nhất Tông quốc sư được 16 đời
Sự xuất hiện của dòng thiền Vô Ngôn Thông – dòng thiền tông thứ hai ở Việt Nam cho thấy được sự phát triển của Phật giáo nước ta giai đoạn bấy giờ Đồng thời cũng cho thấy được sự đa dạng của Phật giáo Giao Châu, cũng như xu hướng tiếp nhận những luồng tư tưởng mới ở đây
Đến năm 905, nhân nhà Ðường suy yếu, Khúc Thừa Dụ là một hào trưởng quê ở Hải Dương nổi lên thiết lập nền tự chủ dân tộc Vì nhà Ðường đã suy yếu nên cũng đành phải phong họ Khúc làm Tiết Ðộ Sứ để tránh gây ra chiến tranh Đến đây, dù trên danh nghĩa nước ta chỉ là một bộ phận của Trung Hoa nhưng cơ bản nhân dân ta đã giành lại nền tự chủ dân tộc, chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc
1.2.2 Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê
Sau hơn ngàn năm bị phương Bắc đô hộ, đất nước ta có nhiều biến đổi to lớn Đến thế kỉ thứ X, nền độc lập tự chủ dân tộc được thiết lập và củng cố, xã hội Việt Nam bước sang một giai đoạn mới Cùng với giai đoạn phát triển mới của đất nước, Phật giáo Việt Nam cũng có những bước phát triển mới
Dưới thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, Phật giáo có nhiều bước tiến mới và trở thành quốc giáo ở nước ta thời Đinh – Tiền Lê Trong buổi đầu xây dựng nền độc lập dân tộc, các vị vua Ngô – Đinh – Tiền Lê đều là những người xuất thân võ tướng, ít học, nhờ vào loạn lạc mà nắm được chính quyền Do đó, họ rất cần những người học rộng, tài cao để phò trợ việc trị nước an dân, cũng như đưa ra những quyết sách quan trọng nhằm ổn định
Trang 17GVHD: Khoa Năng Lập
tình hình chính trị xã hội Chỉ có những nhà sư là người có học thức sâu rộng, ít có thành kiến về chính trị, lại có đức độ đủ khả năng để gánh vác trọng trách giang sơn, nên rất được trọng dụng
Dưới thời Ngô (938 - 967), với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (938) đã đánh dấu
sự chấm dứt hoàn toàn hơn ngàn năm Bắc thuộc Ngô Quyền lên ngôi vua, thiết lập nền độc lập dân tộc Do mới giành được độc lập, đất nước còn nhiều bất ổn, thời gian tồn tại ngắn nên Phật giáo trong giai đoạn này chưa có bước phát triển nổi bật Đến năm 968, nhà Đinh được thiết lập Ngay khi lên ngôi, vua Đinh Tiên Hoàng đã đặt quốc hiệu nước
ta là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, lập triều chính, chỉnh đốn đội ngủ Tăng quan Hệ thống Tăng quan bao gồm cả tăng quan Phật giáo và Đạo giáo Nhà vua định phẩm trật cho những nhà tu hành học rộng, tài cao nhằm giúp vua trị nước, phong cho nhà sư Ngô
Chân Lưu chức Khuông Việt Thái sư (Khuông Việt có nghĩa là giúp nước Việt) đứng đầu
đội ngũ Tăng quan, pháp sư Trương Ma Ly giữ chức Tăng Lục Đạo sĩ, đạo sĩ Đặng Huyền Quang làm Sùng Chấn Uy nghi Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu việc xác lập vị thế của Phật giáo trong bộ máy chính quyền Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, Phật giáo được triều đình chính thức công nhận và định giai phẩm cho tăng nhân Vua Đinh Tiên Hoàng đã dựa vào Phật giáo là thành phần xã hội có uy tín nhất trong xã hội thời bấy giờ để duy trì tôn ti và trật tự đất nước, ổn định tình hình chính trị và xã hội
Việc các nhà sư bước lên vũ đài chính trị đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch
sử phát triển của Phật giáo Việt Nam Trong nước nhiều chùa tháp mới được xây dựng Riêng ở kinh đô Hoa Lư, năm 973, Nam Việt vương Đinh Liễn (con trưởng của Đinh Tiên Hoàng) đã cho dựng 100 cột bằng đá để khắc kinh Phật (gọi là Kinh Tràng) là một kinh phổ biến của Mật Tông Có lẽ do sự sám hối nên Đinh Liễn cho dựng 100 cột đá này nhằm để cầu siêu cho người em đã bị mình giết là Hạng Lang Việc dựng 100 cột đá khắc kinh Phật cho thấy Phật giáo thời Đinh đã bước sang một giai đoạn phát triển mới
Bước sang thời Tiền Lê, các nhà sư vẫn là những vị quan cố vấn quan trọng trong triều Về cơ bản nhà Tiền Lê vẫn giữ hệ thống tăng quan như thời Đinh Vua Lê Đại Hành đã triệu thỉnh Khuông Việt Thái sư làm cố vấn cho mình, vua rất kính trọng nhà sư,
Trang 18kiến thiền sư Vạn Hạnh về sự thành bại của cuộc chiến Nhà sư liền thưa: “trong vòng ba
bảy ngày giặc tất lui quân” Kết quả đúng như vậy Khi sắp đi đánh Chiêm Thành do
nước này thường xuyên xâm phạm biên giới nước ta, vua Đại Hành cũng cho hỏi ý kiến
sư Vạn Hạnh Sư đề nghị nếu đánh nhanh thì sẽ giành được chiến thắng Nhà vua nghe theo nên đã giành được thắng lợi lớn
Ngoài ra, với học thức uyên bác của mình, các nhà sư còn là những nhà ngoại giao đại tài, góp phần bảo vệ độc lập nước nhà, tạo uy thế với các nước lân bang Vào thời Tiền Lê, nhà Tống luôn ngắm ngầm chờ cơ hội để xâm chiếm nước ta Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), nhà Tống cử Lý Giác làm sứ giả sang nước ta nhằm thăm dò tình hình để tìm
cơ hội sang xâm lấn Trong nước không có ai là nho học lỗi lạc nên vua Lê Đại Hành đã nhờ nhà sư Khuông Việt giữ việc ngoại giao và cử nhà sư Pháp Thuận (có tài liệu ghi là
Đỗ Thuận vì nhà sư họ Đỗ) cải trang làm người lái đò chở sứ giả Tống qua sông Khi đang qua sông tình cờ có đôi ngỗng bơi trên mặt nước, Lý Giác vốn rất thích thơ văn liền ngâm hai câu thơ:
Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nga
Nhà sư đang lái đò liền đáp tiếp hai câu sau:
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bải thanh ba
Trang 19Có lần vua Đại Hành hỏi nhà sư Pháp Thuận về vận nước dài ngắn thế nào? Ngài liền đọc bài kệ rằng:
Quốc tộ như đằng lạc Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
Dịch:
Vận nước như dây quấn Trời Nam mở thái bình Trên điện không sanh sự Đâu đó dứt binh đao
Theo quan điểm của thiền sư Đỗ Thuận thì giang sơn là không phải của riêng một
ai mà là của cả cộng đồng Vì vậy, muốn cho vận nước được dài lâu thì phải có sự thống
nhất, đoàn kết giữa cá nhân với cộng đồng, giữa vua và nhân dân Nhà vua phải biết quan tâm, cho lo cho nhân dân, thấu hiểu nổi khổ của họ Đây là một tư tưởng cốt lõi nói lên truyền thống hòa hợp, cũng như tư tưởng lấy dân làm gốc trong đạo trị nước của các vị vua chúa
Trang 20GVHD: Khoa Năng Lập
Trong thời kỳ đầu xây dựng nền độc lập tự chủ, vị thế của các nhà sư được đề cao, các nhà sư được ban tước vị, phẩm hàm như tầng lớp quan lại cao cấp Những nhà sư có học thức cao vừa là quân sư cho nhà vua, vừa là các nhà ngoại giao đại tài, góp phần quan trọng trong việc củng cố chính quyền và quốc gia vững mạnh
1.2 Sự hình thành và phát triển của nhà Lý
1.2.1 Sự thành lập nhà Lý
Đầu thế kỉ thứ XI, tình hình đất nước lâm vào khủng hoảng Sau khi vua Lê Đại Hành mất, một cuộc chiến giành giật ngôi vua giữa các con của ông kéo dài suốt 8 tháng Đầu năm 1006, Lê Long Việt đánh bại các hoàng tử khác lên ngôi vua, tức là vua Lê Trung Tông Tuy nhiên, vua Trung Tông lên ngôi mới được ba ngày thì bị em cùng mẹ là
Lê Long Đĩnh giết chết Bầy tôi đều chạy chốn, chỉ có Lý Công Uẩn là ôm thương khóc Long Đĩnh khen Công Uẩn là người trung nghĩa nên không giết mà còn phong cho làm
Tứ sương quân4 phó chỉ huy sứ Lê Long Đĩnh tự lập làm vua, lúc đầu nhà vua cũng chăm lo chính sự nhưng về sau lại không bận tâm nữa, từ đó tình hình đất nước ngày càng sa sút Vua tính thích chơi bời, sa đọa, lại bị bệnh trĩ không ngồi được, phải nằm mà coi chầu nên được sử cũ gọi là vua Ngọa Triều
Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép rằng: “Vua tính thích giết người, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt để cho lửa cháy gần chết; hoặc sai kép hát người Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xẻo từng mảnh, để cho không được chết chóng Người ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: “Nó không quen chịu chết” Vua cả cười”5
Có lần, Ngọa Triều từng sai người róc mía trên đầu sư Quách Ngang để làm trò cười; lại nuôi nhiều bọn hề làm trò khôi hài trong triều để làm loạn lời tâu việc của các quan Do những việc làm đó, Ngọa Triều dần bị quan lại và dân chúng căm ghét
Năm 1009, Ngọa Triều chết, con nối ngôi còn nhỏ, Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên thay, lập ra nhà Lý Sự chuyển giao quyền lực từ họ Lê sang họ Lý không đơn thuần chỉ là sự chuyển giao quyền lực từ một vị vua bạo ngược (Ngọa Triều) sang một vị vua anh minh được lòng dân (Lý Công Uẩn) mà còn thể hiện vai trò to lớn cũng như tầm
Trang 21GVHD: Khoa Năng Lập
ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo đến chính trị đương thời Triều đình nhà Lý ra đời là kết quả của sự vận động và giúp đỡ của các nhà sư mà tiêu biểu nhất là nhà sư Vạn Hạnh – người thầy của Lý Công Uẩn Thông qua những câu sấm lưu truyền trong dân gian, nhà
sư Vạnh Hạnh đã khéo léo vận động, thống nhất nhân tâm, tạo được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân cùng ủng hộ Lý Công Uẩn
Trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, ở hương Diên Uẩn (châu Cổ Pháp) có cây gạo bị sét đánh hiện ra chữ:
Phiên âm
Thụ căn diểu diểu
Mộc biểu thanh thanh
Cây hòa đao rụng Mười tám hạt thành
Cành đông xuống đất Cây khác lại sinh
Đông mặt trời mộc Tây sao náo hình
Khoảng sáu bảy năm Thiên hạ thái bình
Nhà sư Vạn Hạnh tự đoán riêng rằng: câu “Thụ căn diểu diểu”, chữ căn nghĩa là
gốc, gốc tức là vua, chữ diểu đồng âm với yểu; “Mộc biểu thanh thanh”, chữ biểu nghĩa
là ngọn, ngọn tức là bề tôi, chữ thanh đồng âm với chữ thanh, nên đọc là thanh nghĩa là
thịnh; “hòa đao mộc” (ghép lại) là chữ Lê; “thập bát tử” là chữ Lý; đông a là chữ Trần; nhập địa là phương Bắc vào cướp; câu “dị mộc tái sinh” là họ Lê khác lại nổi lên; câu
“chấn cung kiến nhật”, thì chấn là phương Đông, kiến là mọc ra, nhật là thiên tử; câu
“đoài cung ẩn tinh”, thì đoài là phương tây, ẩn cũng như lặn, tinh là thứ nhân Mấy câu
này ý nói là vua thì non yểu, tôi thì cường thịnh, họ Lê mất thì họ Lý sẽ nổi lên, thiên tử ở phương đông mọc ra thì thứ nhân ở phương tây lặn mất, trải qua 6, 7 năm thì thiên hạ lại
Trang 22Ngoài ra, ở châu Cổ Pháp cũng xuất hiện một hiện tượng lạ: có con chó đẻ con sắc
trắng hiện ra chữ “thiên tử” Đó là điềm nói người sinh năm “tuất” sẽ lên làm vua Lý
Công Uẩn cũng sinh vào năm Giáp Tuất, đúng như những gì câu sấm lưu truyền Hay
truyện khi Công Uẩn mới sinh ra trên hai bàn tay đã có bốn chữ “sơn hà xã tắc”, Có lần
vua Ngọa Triều ăn quả khế lại thấy hột mận (chữ lý cũng có nghĩa là mận), mới tin lời sấm ngữ trong dân gian Do đó, Ngọa Triều mới tìm người họ Lý mà giết đi để trừ hậu họa nhưng lại không đề phòng Lý Công Uẩn ở ngay bên cạnh
Bằng những câu sấm và điềm báo trong dân gian, nhà sư Vạn Hạnh đã khéo léo vận động dân chúng, thống nhất nhân tâm, tạo điều kiện vững chắc cho sự ra đời của nhà
Lý Với những câu sấm trên, cho thấy được vai trò to lớn của Phật giáo đối với sự thành lập của vương triều nhà Lý Ngoài ra, sự ra đời của nhà Lý còn nhận được sự giúp đỡ tích cực của đại thần Đào Cam Mộc
Với sự đồng lòng của các đại thần và sự tin tưởng của nhân dân, cùng tôn Lý Công
Uẩn lên làm vua: “Tất cả cùng theo giúp vua lên khánh điện lập làm Thiên Tử trăm quan
đều hô vạn tuế”6 Như vậy, ta thấy rằng vương triều Lý ra đời là kết quả của sự vận động của song hành của Đào Cam Mộc đối với quan lại trong kinh thành và cuộc vận động của nhà sư Vạn Hạnh bằng những câu sấm trong dư luận dân chúng Nhờ đó, cuộc chuyển giao quyền lực từ họ Lê sang họ Lý diễn ra một cách nhanh chóng, không đỗ máu mà vai trò quan trọng thuộc về đội ngũ tăng quan, nhất là nhờ vào vai trò của nhà sư Vạn Hạnh
Sự ra đời của nhà Lý mang đậm những sắc thái huyền bí, từ xuất thân của Lý
Trang 23GVHD: Khoa Năng Lập
với chính trị - xã hội đương thời Chính thiền sư Vạn Hạnh là người đã nuôi dưỡng, giáo dục Lý Công Uẩn từ nhỏ cho đến khi lớn lên và chuẩn bị mọi mặt cho việc lên ngôi của
ông Ngay từ nhỏ, ông đã được thiền sư Vạn Hạnh trụ trì chùa Lục Tổ nhận xét: “Đứa trẻ
này không phải người thường, sau này lớn lên, tất có thể giải được mọi khó khăn, làm vua giỏi trong thiên hạ”7 Như vậy, nhà sư Vạn Hạnh đã tiên đoán được tương lai của Lý Công Uẩn sẽ là một vị minh quân của thiên hạ Do đó, ông đã tích cực chuẩn bị những điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao quyền lực từ họ Lê sang họ Lý
Nhà sư Thích Thuận Đức trong Đạo Phật và Dòng sử Việt nhận xét: “Cứ công
minh mà nói thì Lý Công Uẩn quả là vị quan chính trực, đạo hạnh, can đảm, có khả năng đứng trước các biến cố nguy hiểm và bất ngờ mà vẫn bình tĩnh sáng suốt hành động Lý
Công Uẩn không cần phải dùng thế lực đình thần của mình để đoạt ngôi Đó cũng là một
điều quý Ngài Vạn Hạnh đưa đệ tử của mình lên ngôi là đã làm một việc hợp lý vì thầy
hiểu trò hơn ai khác”8 Hơn nữa, ta cũng thấy rằng trong giai đoạn này, ngoài Lý Công Uẩn ra không còn ai có đủ tài chí cũng như nhân đức để phục chúng Do đó, việc Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế đã đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử cũng như nguyện vọng của đông đảo quan lại trong triều và nhân dân cả nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi sự phát triển của Phật giáo ngày càng sâu rộng
Sự ra đời của vương triều Lý đánh dấu một bước phát triển mới của đất nước, mở
ra một giai đoạn phát triển ổn định và lâu dài đầu tiên trong lịch sử, đánh dấu quá trình phục hưng của Đại Việt sau hơn ngàn năm Bắc thuộc, cũng như quá trình củng cố chính quyền phong kiến trung ương tập quyền Dưới thời Lý, Phật giáo đã có những đóng góp quan trọng, góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của nền văn minh Đại Việt ngày càng phồn vinh, thịnh trị trên nhiều lĩnh vực khác nhau Trong đó, nổi bật nhất là sự tác động của Phật giáo trên các lĩnh vực chính trị - tư tưởng và văn hóa – giáo dục Suốt hơn hai thế kỉ tồn tại, ta thấy Phật giáo luôn đồng hành và gắn kết mật thiết với nhà nước phong kiến triều Lý
1.2.2 Những thành tựu cơ bản của nhà Lý
Dời đô về Thăng Long (Hà Nội):
Trang 24GVHD: Khoa Năng Lập
Một sự kiện quan trọng đánh dấu việc thiết lập và củng cố nền quân chủ phong kiến tập quyền dưới thời Lý là việc dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội) Bởi Hoa Lư là một vùng đất chật hẹp khó có thể mở mang thành một vùng đất đô hội, cũng như không có tầm vóc của đế vương Hơn nữa, Hoa Lư ban đầu được xây dựng nên với mục đích chính là một kinh đô thiên về khả năng phòng thủ Còn thành Đại La là
một vùng đồng bằng rộng lớn có địa thế là “trung tâm của trời đất”, là nơi “đô hội trọng
yếu để bốn phương sum họp” thuận lợi để phát triển thành một kinh đô lớn, một trung
tâm chính trị, văn hóa, xã hội, thương mại mang tầm vóc và diện mạo mới của quốc gia
Đại Việt vững mạnh, thịnh cường Điều này đã được thể hiện rõ trong Thiên đô chiếu:
“Đây là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng
đô kinh sư mãi muôn đời” Việc định đô phải nhằm “mưu toan nghiệp lớn, tính kế cho
con cháu muôn vạn đời”, đem lại lợi ích cho thế hệ sau, phát huy tinh thần dân tộc, khẳng
định vị thế của một quốc gia độc lập tự chủ
Vì vậy, tháng 7 năm Thuận Thiên nguyên niên (1010), vua Lý Thái Tổ đã dời đô
từ Hoa Lư về thành Đại La Khi đến thành Đại La thì thấy rồng vàng bay lên nên đổi tên Đại La thành Thăng Long Đổi châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư thành phủ Trường Yên Việc dời đô về Thăng Long đã cho thấy được tầm nhìn chiến lược, cũng như bản lĩnh của một đấng minh quân, sáng suốt, mở ra một giai đoạn phát triển cường thịnh và lâu dài cho dân tộc
Ngay cả tên gọi thành Thăng Long cũng đã thể hiện được hùng khí đi lên của dân tộc Đây là việc làm đầu tiên có ý nghĩa quan trọng nhằm khẳng định vị thế của một nước
quân chủ, độc lập và phát triển Sự việc này được sử thần Ngô Thì Sĩ khen là “quyết đoán
sáng suốt, mưu kế anh hùng, thực những vua tầm thường không theo kịp”9 Qua việc dời
đô càng góp phần khẳng định hơn nữa vị thế của nhà Lý cũng như quốc gia phong kiến quân chủ Đại Việt, mang khát vọng về một quốc gia độc lập, tự cường, phồn vinh và phát triển lâu dài
Củng cố và hoàn thiện dần bộ máy nhà nước phong kiến quân chủ trung
ương tập quyền:
Trang 25Để củng cố nền quân chủ, nhà Lý đã thiết lập một bộ máy nhà nước ngày càng chặt chẽ hơn, quyền lực được tập trung vào tay nhà vua Bộ máy nhà nước được tổ chức thành 3 ban: Võ ban, Văn ban, Tăng ban Năm 1087, trên cơ sở điều chỉnh trong điển chương của các triều đại trước và của Trung Hoa, nhà Lý đã cho biên soạn và ban hành
bộ quy chế về chính trị hành chính đầu tiên, gọi là Hội điển Với những thành tựu to lớn trong việc xây dựng và củng cố chính quyền, bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến dần được hoàn thiện, đánh dấu quá trình phục hưng của nền độc lập, tự chủ dân tộc sau hơn
ngàn năm Bắc thuộc
Về Luật pháp và quân đội:
Luật pháp: Ở các thời Đinh - Tiền Lê, luật pháp còn hà khắc và chưa rõ ràng Do
đó, vua Lý Thái Tông bèn sai quan Trung thư san định các luật lệ cũ, cũng như các lục tục trong dân gian mà lập thành bộ Hình thư (1042) Bộ luật này được xem như là bộ luật thành văn đầu tiên ở nước ta Với sự ra đời của bộ Hình thư, quyền lực phong kiến được củng cố, luật lệ và trật tự xã hội được quy định một cách chặt chẽ, rõ ràng, các hình thức
xử phạt đối với tội nhân được quy định rõ ràng không tùy tiện như các đời trước Ngoài
ra, luật Hình thư còn quy định việc bảo vệ sức sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho nền nông nghiệp phát triển, đời sống nhân dân được ổn định Sự ra đời của bộ Hình thư đánh dấu một bước tiến quan trọng trên con đường xác lập và củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Đây còn là bộ luật chứa đựng nhiều tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc của dân tộc ta, thể hiện được đạo trị nước thương dân của các vua thời Lý
Quân đội: Nhà Lý đã xây dựng nên một đội quân hùng mạnh nhằm bảo vệ nền độc
lập dân tộc, cũng như nhà nước quân chủ phong kiến Nhà Lý thực hiện chính sách tuyển
Trang 26GVHD: Khoa Năng Lập
quân theo chế độ “ngụ binh ư nông”10, kết hợp giữa sản xuất và chiến đấu trên tinh thần
“tĩnh vi nông, động vi binh” Đây là một chính sách tiến bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cả
sản xuất và chiến đấu khi cần Quân đội nhà Lý gồm có hai bộ phận chính là quân cấm vệ tức là quân đội thường trực và quân ở các lộ hay quân địa phương Nhờ vào lực lượng quân đội hùng mạnh, thiện chiến nhà Lý đã bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc cũng
như nhà nước phong kiến quân chủ
Bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc:
Trong 216 năm tồn tại (1009 – 1225), nhà Lý phải thường xuyên chống lại các cuộc xâm lược của ngoại bang để bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc, củng cố một quốc gia thống nhất, thịnh cường Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đặt quốc hiệu nước ta
là Đại Việt thể hiện tinh thần tự tôn và ý thức độc lập, tự cường của dân tộc, ngang hàng với Đại Tống (Trung Hoa) Nhà Lý đã lập nên những chiến thắng vang dội trong công
cuộc “phá Tống bình Chiêm” Thời Lý, Trung Hoa chính thức công nhận nước ta là một
vương quốc độc lập Vua Lý Anh Tông không chịu nhận chức Giao Chỉ quận vương của
nhà Tống nữa, buộc nhà Tống phải công nhận vua ta là một quốc vương và nước ta là một vương quốc độc lập từ năm 1164 Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc,
triều đình phong kiến Trung Hoa chính thức công nhận đất nước ta là một quốc gia độc lập tự chủ
Dưới thời Lý, lãnh thổ quốc gia được củng cố và mở rộng, biên giới phía Bắc
được giữ vững, công cuộc “Nam tiến” được mở đầu Nhà Lý cũng là triều đại đầu tiên
trong lịch sử nước ta cho vẽ bản đồ hành chính quốc gia Việc làm này khẳng định: nhà
Lý không chỉ đã thiết lập được bộ máy nhà nước trung ương khá hoàn thiện mà còn thể hiện sự quan tâm của chính quyền đến việc củng cố địa lý, biên giới quốc gia nhằm
chống lại sự xâm lấn từ các quốc gia láng giềng
Về Văn hóa - Giáo dục:
Ở thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, chiến tranh loạn lạc thường xuyên diễn ra nên việc giáo dục chưa được chú trọng Đến thời Lý, tình hình đất nước ngày càng ổn định và phát triển, do đó việc giáo dục ngày càng được chú trọng hơn Năm 1070, vua Lý Thánh Tông
Trang 27GVHD: Khoa Năng Lập
cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử, tứ phối và 72 tiên hiền11 Đây là việc làm đầu tiên đánh dấu sự phát triển của Nho giáo, cũng như bước đầu tạo điều kiện cho nền Nho học phát triển
Năm 1075, vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Tam học (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) để tuyển người có học thức vào làm quan Kỳ thi đầu tiên này đã chọn được 10 người, thủ khoa là Lê Văn Thịnh Ông được xem như là vị trạng nguyên đầu tiên của nước ta (do lúc này nhà Lý chưa có học vị trạng nguyên) Đến năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám để dạy học, qua đó tuyển chọn những nhân tài để phụng sự cho quốc gia Quốc Tử Giám trở thành trường đại học đầu tiên ở nước ta, đánh dấu sự phát
triển của nền giáo dục Đại Việt
Về Kinh tế:
Ở thời Lý, chế độ phong kiến trung ương tập quyền được thiết lập, bộ máy nhà nước cơ bản được hoàn thiện từ trung ương đến các địa phương, tạo nên sự thống nhất trong cả nước Từ sự thống nhất về chính trị đã tạo điều kiện thuận cho nền kinh tế được
ổn định và phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự phát triển của các ngành nông nghiệp và công thương nghiệp
Về nông nghiệp: nông nghiệp là nền kinh tế chủ chốt của đất nước Do đó, nhà Lý
đặt biệt quan tâm đến sản xuất nông nghiệp Nhằm thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nhà Lý đã thực thi nhiều chính sách tiến bộ như hàng năm các vua triều Lý đều tổ chức lễ cày ruộng “tịch điền”12 và đi xem nhân dân gặt lúa nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, các vua thời Lý còn rất quan tâm đến việc bảo vệ sức kéo nông nghiệp, giảm thuế cho dân, xây dựng nhiều công trình thủy lợi, đặc biệt là việc xây dựng công trình đắp đê Cơ Xá (trên sông Hồng ở Thăng Long) Sự quan tâm của nhà nước đối với nông nghiệp đã có tác động tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, lần đầu tiên xuất hiện những tư liệu về giá gạo “mùa màng bội thu, 30 hộc lúa giá
70 đồng”, đời sống nhân dân được ấm no, ổn định
Công thương nghiệp: dưới thời Lý, các nghề gốm, dệt, in, thương nghiệp phát
triển đến đỉnh cao Các nghề thủ công như chế tạo vũ khí, đóng thuyền, đúc chuông, chùa
Trang 29GVHD: Khoa Năng Lập
CHÚ THÍCH CHƯƠNG 1
1 Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và Tông giáo triều Lý, NXB Hà Nội,
2010, tr.295
2 Nguyễn Lang – Phật giáo sử luận, (tập I), NXB Văn học, 1994, tr.25
3 Nguyễn Đăng Thục, Lịch tư tưởng Việt Nam, Tập II, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1998, tr.362
4 Tứ sương quân: tứ sương là bốn mặt thành Tứ sương quân gọi chung là quân đội, vì là quân
đội chia đóng ở bốn mặt thành
5 Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký Toàn thư (Tập I), NXB Văn Hóa Thông Tin, 2004, tr.249
6 Đại Việt Sử ký toàn thư, sđd, tr.254
7 Đại Việt Sử ký toàn thư, sđd, tr.258
8 Đức Nhuận, Đạo Phật và dòng sử Việt, NXB Phương Đông, 2009, tr.89
9 Trung tâm Khoa học và Nhân văn quốc gia – Viện nghiên cứu Hán Nôm, Đại Việt sử ký tiền biên, (Quyển II), NXB Văn hóa – Thông tin, 2011, tr.233
10 Ngự binh ư nông: là chính sách cho các binh sĩ được thay phiên nhau về nhà để tham gia sản xuất nông nghiệp Vào thời bình thì các binh sĩ về quê sản xuất nông nghiệp, khi nào có chiến tranh thì phải trở lại quân đội Đây là một chính sách tiến bộ vừa đảm bảo cho sự phát triển của nông nghiệp, vừa góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng
11 Tứ phối gồm: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử; 72 tiên hiền là 72 học trò xuất sắc của Khổng Tử
12 Cày ruộng tịch điền: là lễ nhà vua đích thân xuống cày ruộng để khuyến khích sản xuất nông nghiệp Lễ này có nguồn gốc từ Trung Hoa, lần đầu tiên được tiến hành ở nước ta dưới thời vua
Lê Đại Hành (987) Sau khi đã làm lễ cúng Thần Nông, nhà vua sẽ đích thân xuống cày 3 luống, các vương tôn cày 7 luống, công khanh cày 7 luống, sĩ phu cày 9 luống Sau đó thửa ruộng này
sẽ được chăm sóc và là sản phẩm để tế lễ năm sau
13 Tam Phật Tề (Palembang): là vương quốc cổ Srivijaya ở miền đông Sumatra, bán đảo Malay, một phần đảo Borneo và Java
Trang 30GVHD: Khoa Năng Lập
TƯ TƯỞNG THỜI LÝ
Sau ngàn năm Bắc thuộc, các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê rất chú trọng việc xây dựng bộ máy chính quyền độc lập, vững mạnh nhằm chống lại các thế lực cát cứ, cũng như triều đại Trung Hoa Đến khi nhà Lý được thành lập, các vua triều Lý muốn thoát li khỏi sự ảnh hưởng của phương Bắc nên đã chú trọng việc thiết lập một quốc gia độc lập vững mạnh trên cơ sở chính trị - tư tưởng riêng cho mình mà nền chính trị – tư tưởng đó được dựa trên sự gắn bó mật thiết giữa nhà nước và Phật giáo, hay nói cách khác nhà Lý
đã kết hợp chặt chẽ giữa quân quyền phong kiến và thần quyền Phật giáo
2.1 Về chính trị
2.1.1 Về tổ chức bộ máy nhà nước
Các vua triều Lý rất chú trọng việc thiết lập bộ máy chính quyền trung ương vững mạnh nhằm củng cố nền độc lập dân tộc và/ thống nhất, chống lại nạn ngoại xâm từ các nước láng giềng Triều đại nhà Lý được xem là triều đại đánh dấu quá trình phục hưng của Đại Việt sau hơn ngàn năm Bắc thuộc Mặc dù, bộ máy nhà nước còn chịu nhiều ảnh hưởng ít nhiều từ Trung Hoa nhưng việc tổ chức bộ máy hành chính thời Lý cũng có nhiều nét riêng biệt Mà điển hình nhất là sự có mặt của đội ngũ tăng quan trong bộ máy chính quyền trung ương
Đứng đầu nhà nước vẫn là vua Vua là người lãnh đạo tối cao, nắm mọi quyền hành đất nước Lúc đầu, nhà Lý vẫn giữ hệ thống bộ máy quan liêu như thời Đinh - Tiền Lê Dưới vua là hệ thống quan lại gồm có ba ban: Văn ban, Võ ban, Tăng ban Về sau, vua Nhân Tông đã cho cải tiến chế độ quan chế, đặt thành một hệ thống rất chu đáo hơn Ở trên hết là những chức vụ quan trọng trong triều Ban văn có chức Tam thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) theo quan chế nhà Chu, Tam Thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo) Ban võ là các chức Thái úy và Thiếu úy Dưới thì có chức Bộ Thượng thư đứng đầu Lục
bộ, rồi đến các chức Tả Hữu Tham tri, Tả Hữu Gián nghị, Thị lang, Lang trung, Viên ngoại lang Võ thì có chức Đô thống, Nguyên súy, Tổng quản, Khu mật sứ, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, Tướng quân, Chỉ huy sứ, Quan lại ở các địa phương cũng
Trang 31GVHD: Khoa Năng Lập
bao gồm các quan văn và quan võ như các Tri phủ, Tri châu (văn) và các Quan binh, Trấn thủ (võ),… Nhìn chung, hệ thống quan chức thời Lý có phần chịu ảnh hưởng nhiều từ hệ thống quan chức nhà Tống
Bên cạnh đó, trong bộ máy chính quyền thời Lý còn có hệ thống Tăng quan giành cho những người tu hành, bao gồm cả các nhà sư lẫn đạo sĩ, nhưng đạo sĩ chỉ chiếm số lượng rất ít, đa phần hệ thống tăng quan thời Lý là các nhà sư Phật giáo Hệ thống Tăng quan đã có từ thời Đinh, do đó về cơ bản Tăng quan thời Lý cũng giống thời Đinh Đứng đầu là chức Quốc sư – là người đứng đầu tăng ni cả nước (nhưng không phải chức Thái
sư như thời Đinh) Cấp dưới là Tăng Thống, Tăng Lục, Tăng Ty giác nghĩa, Tăng đạo chánh, phó Tăng đạo chánh…
Ngoài ra theo những ghi chép trong bia chùa Linh Xứng (Thiền Uyển tập anh) còn
có các hiệu như đại sư, trưởng lão, cư sĩ Hệ thống Tăng quan thời Lý cũng có chín bậc phẩm hàm (cửu phẩm) như bên Văn quan và Võ quan Họ phụ trách các hoạt động về tâm linh và tín ngưỡng, cũng như giữ vai trò cố vấn cho các vị vua triều Lý, tiếng nói của họ
có ảnh hưởng lớn đối với nhà vua, hoàng tộc và quan lại trong triều
Các Tăng quan là những người có phẩm chất đạo đức và thông thạo cả Tam học, được triều đình tuyển chọn và trọng dụng Chính nhà sư Vạn Hạnh là người có công lớn khai sáng ra vương triều Lý Vua Lý Thái Tổ thường mời sư Vạn Hạnh, Đa Bảo, Huệ Sinh, Viên Chiếu, vào cung để cùng bàn chính sự Vua Lý Nhân Tông và Thái hậu Linh Nhân đều là những người rất mộ Phật nên thường mời các nhà sư Thông Biện, Mãn Giác, Chân Không, Giác Hải, Không Lộ vào cung để đàm đạo Phật pháp và chính sự Các vị sư Viên Thông, Nguyễn Thường thì thẳng thắn khuyên bảo nhà vua về đạo vương chính Những vị sư đức cao vọng trọng, có tài thao lược còn được giữ vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quốc sách trị quốc an dân
Mỗi khi đất nước có việc hệ trọng, các vị vua triều Lý thường hỏi ý kiến của các nhà sư Họ cùng bàn bạc với nhà vua về những đối sách giữ gìn giang sơn xã tắc, thu phục nhân tâm Một số nhà sư có nhiều đóng góp to lớn với đất nước được triều đình phong làm Quốc sư như Quốc sư Vạn Hạnh, Viên Thông, Thông Biện, Mãn Giác, Do được triều đình trọng dụng và dân chúng tôn sùng, nên ở thời Lý được làm sư là một điều
Trang 32GVHD: Khoa Năng Lập
vinh hạnh Các nhà sư được hưởng bổng lộc của triều đình, được nhà nước bảo trợ Năm
1014, nhà Lý cho lập giới trường ở chùa Vạn Thọ trong thành Thăng Long để làm nơi cho tăng đồ thụ giới Năm 1016, vua Lý Thái Tổ cho chọn hơn nghìn người ở Kinh sư để làm tăng và đạo sĩ Đến năm 1019, nhà vua lại độ dân chúng khắp nơi để làm tăng Trong nước thì cho dựng nhiều chùa chiền
Hệ thống Tăng quan dưới triều Lý chính là những cố vấn chính trị đặc biệt của nhà vua Họ đảm nhận các công việc ở nhiều góc độ khác nhau, từ việc phụ trách các nghi lễ tôn giáo, quản lí đội ngũ tăng nhân, đến việc đưa ra các kiến nghị, đề xuất liên quan đến
các công việc đại sự của đất nước, thực hiện sứ mệnh “hộ quốc an dân” Nhưng cũng
như thời Đinh - Tiền Lê, hệ thống Tăng quan dưới thời Lý chỉ đảm nhiệm vai trò cố vấn cho nhà vua chứ không trực tiếp tham gia vào chính quyền, không trực tiếp tham gia vào những tranh chấp giành quyền chính trị Các Tăng quan chỉ vào cung khi nào được triệu tập, xong việc thì họ lại trở về ngôi chùa, sống cuộc sống thanh tịnh Đây chính là tư
tưởng chủ đạo của Phật giáo thời Lý, “nhập thế nhưng không trụ thế” Tư tưởng này là
một triết lý nhập thế sâu sắc được các thiền sư thời Lý vận dụng vào thực tiễn nhằm thể hiện đạo lý cứu nhân độ thế của Đức Phật
Trong giai đoạn đầu thiết lập nền quân chủ, nhà Lý không tránh khỏi những khó khăn nhất định trong việc tuyển chọn nhân tài để phụng sự quốc gia, bởi lúc này nền Nho học còn chưa thịnh hành Chính lúc đó, sự có mặt của đội ngũ tăng quan như Vạn Hạnh, Viên Thông, Nguyễn Thường, Mãn Giác, Trí Thiền, Thông Biện, Viên Chiếu, Giác Hải, Huệ Sinh,…với học thức uyên bác của mình đã góp phần không nhỏ trong việc đưa ra ý tưởng xây dựng bộ máy chính quyền mới, phát triển đất nước, củng cố khối đoàn kết dân tộc, tu chỉnh đạo đức làm vua, ổn định nhân tâm, Chính đội ngũ Tăng quan là một lực lượng quan trọng công cuộc xây dựng và phát triển nền văn minh Đại Việt ngày càng cường thịnh, mở ra một giai đoạn phát triển lâu dài đầu tiên trong lịch sử phát triển của nền văn minh Đại Việt
2.1.2 Về đạo trị nước của các vị vua triều Lý
Nhà Lý chú trọng thiết lập một chính quyền trung ương tập quyền nhưng dựa trên
Trang 33GVHD: Khoa Năng Lập
trị trên tư tưởng khoan dung, nhân sinh, bát ái của Phật giáo Vua Lý Thái Tổ vốn xuất
thân thuyền môn “Thái Tổ vốn ở trong phái Phật học mà ra nên khi ở ngôi vua, ngài hết
sức sùng trọng Phật giáo” 1, lại thấm nhuần tư tưởng nhân sinh của Phật giáo Vì thế, Phật
giáo có ảnh hưởng lớn đến đường lối, tinh thần nhân trị của Lý Công Uẩn cũng như các
vị vua triều Lý khác kế nghiệp
Việc đầu tiên sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ “xóa hết nợ thuế cũ cho những
người mồ côi, góa bụa, già yếu hoặc bệnh tật, đồng thời xóa thuế cho nhân dân cả nước
ba năm liền Đây là một việc làm nhân đạo và táo bạo, thể hiện niềm tin mãnh liệt của vị Hoàng Đế đầu tiên của triều Lý Sau lễ đăng quang, Lý Công Uẩn cho đốt rất nhiều chài lưới và cung nỏ, ý muốn tỏ rõ rằng, từ đây không chỉ con người mà cả đến chim chóc, tôm cá cũng được giải phóng”2 Sau đó, Thái Tổ ra chiếu chỉ chiêu tập những người dân lưu tán về quê cũ làm ăn Đồng thời, Thái Tổ lại ban lương thực, thuốc men, quần áo cho những người bị vua Ngọa Triều bắt lúc trước để họ về quê làm ăn sinh sống Ngoài ra, Thái Tổ còn ban bố lệnh bãi bỏ ngục tụng, ai có oan ức thì được phép đến tâu với vua, vua sẽ đích thân xét xử Bằng những biện pháp này, vua Thái Tổ đã cơ bản đã ổn định tình hình chính trị, xã hội vốn đã bị khủng hoảng trầm trọng dưới thời vua Lê Ngọa Triều
Sử thần Ngô Thì Sĩ bàn: “Lý Thái Tổ vừa mới lên ngôi, liền ban chiếu tha tô, có ý
nuôi dân như thế, có thể nói là một bậc vua biết việc nên làm trước đấy Chính sách nhân hậu, truyền cho con cháu, cậy nhờ giúp đỡ, đời đời giữ được mạnh khẻo yên vui, đâu phải là sự ngẫu nhiên!”3 Điều này, cho thấy được đạo trị nước thương dân của vua Lý Thái Tổ thấm nhuần tư tưởng nhân ái của Đức Phật
Năm 1012, Thái Tổ sắc phong thái tử Phật Mã làm Khai Thiên vương, lại cho xây
cung Long Đức ở ngoài thành cho thái tử ở “có ý cho biết việc dân gian” Đây là một việc
làm tích cực của vua Thái Tổ, thể hiện đạo trị nước thương dân, thấm nhuần tư tưởng
nhân sinh của Phật giáo Tư tưởng ấy không chỉ tác động trực tiếp đến đời sống tâm linh
mà còn biểu hiện cụ thể qua những hành động trong việc trị nước của những vị vua kế tục triều Lý
Năm 1028, vua Lý Thái Tổ mất, vua Thái Tông lên thay Ông cũng là một vị vua nhân từ, luôn quan tâm, chăm lo cho đời sống của nhân dân Vừa lên ngôi, Thái Tông đã
Trang 34GVHD: Khoa Năng Lập
cho đại xá thiên hạ, ban phát tiền và lụa trong kho Nội phủ cho nhân dân cả nước Ông là
vị vua đầu tiên lấy của cải để ban phát cho nhân dân Trước đó, trong cung xẩy ra loạn Tam vương (Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương) Sau khi dẹp loạn, vua Lý Thái Tông nghĩ tình cốt nhục đã tha cho tội mưu phản của Tam vương, đồng thời lại cho phục chức tước như cũ Đây là một điều rất hiếm thấy, bởi tội mưu phản thường bị xử rất nặng nhưng vua Thái Tông lại tha cho Việc làm này có tác động tích cực đến khối đoàn kết trong nội bộ triều đình
Để chăm lo cho sự phát triển của nông nghiệp, hàng năm, nhà Lý có lệ cày ruộng
“tịch điền” và đi xem dân gặt lúa nhằm khuyến khích nhân dân sản xuất nông nghiệp
Năm 1038, vua Thái Tông đích thân ra cày ruộng ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình), các quan
đại thần can rằng: “Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế” Nhà vua mới bảo rằng: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng suất thiên hạ” Rồi vua
đẩy cày 3 lần thì thôi Việc vua đích thân cày ruộng, dù chỉ là tượng trưng nhưng nó có tác động tích cực đến nhân dân
Việc làm này được sử thần Ngô Sĩ Liên khen rằng: “trên để cúng tôn miếu, dưới
để nuôi muôn dân; công hiệu trị vì khiến của giàu, người nhiều là đúng lắm”4 Còn Ngô
Thì Sĩ thì nhận xét rằng: “Suốt đời nhà Lý rất trọng nghề nông, không năm nào là vua
không tự đi cày ruộng tịch điền Xem xét việc cày cấy thu hoạch của nhân dân cũng thấy được đại thể trị nước của triều Lý”5 Những vị vua triều Lý rất quan tâm đến đời sống của dân, xem sự khổ cực của dân như nỗi khổ của chính mình Trong những năm lũ lụt, hạn hán mất mùa nhà nước cấp thóc gạo, tiền, lụa, giảm, xóa thuế cho dân chúng Chính
vì vậy, mà đời sống của nhân dân được ấm no
Mùa đông năm 1040, nhân việc làm xong hơn một nghìn pho tượng Phật và vẽ hơn một nghìn bức tranh Phật, vua Thái Tông cho mở hội, đại xá thiên hạ, xá một nửa tiền thuế cho cả nước Đời Thái Tông việc binh đao thường xuyên diễn ra, đặc biệt là với
Chiêm Thành nhưng vua không bỏ bê việc chính trị trong nước, bao giờ cũng lo cho dân
Những năm nào mất mùa, đói kém hay đi đánh giặc về, nhà vua lại giảm thuế cho dân
Trong Việt Nam sử lược có nhận xét: “Thái Tông tuy phải đánh dẹp luôn nhưng cũng
không bỏ bê chính trị trong nước, bao giờ cũng để lòng thương dân Hễ năm nào đói kém
Trang 35GVHD: Khoa Năng Lập
hay đi đánh giặc về thì giảm thuế cho hàng hai ba năm”6 Đạo trị nước của vua Thái Tông đã cho thấy được tấm lòng thương dân sâu sắc, thấu hiểu được sự cơ cực của người nông dân
Kế nghiệp Thái Tông, vua Thánh Tông cũng là một vị vua khoan dung, nhân từ, thấu hiểu nổi cơ cực của nhân dân, luôn chăm lo cho đời sống nhân dân Ngay khi mới lên ngôi, Thánh Tông đã xuống chiếu đốt bỏ các hình cụ và cho các cung nữ ở cung Thúy Hoa ra ở ngoài Trước đó, cung Thúy Hoa là cung giành cho các cung nữ Chiêm Thành bị bắt trong các lần giao tranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành Nay nhà vua thương tình nên cho ra ngoài
Năm 1052, vua Thánh Tông cho đúc một cái chuông lớn đặt ở Long Trì, và hạ lệnh ai có oan ức thì đánh chuông để tâu với vua Thánh Tông còn cho xây riêng một hành cung ngoài cấm thành gọi là Đông Cung để cho Thái tử ở Việc làm này nhằm giúp cho Thái tử có thể sống gần gũi và thấu hiểu hơn cuộc sống của dân chúng Điều này sẽ
giúp ích cho Thái tử sau khi lên ngôi Đây là một việc làm thể hiện tư tưởng thân dân của
vị vua triều Lý
Năm 1055, thấy trời giá lạnh, vua Thánh Tông bảo với các quan rằng: “Ta ở trong
thâm cung, sưởi lò than thú, mặc áo hồ cừu 7 mà khí lạnh còn như thế này, huống hồ những kẻ bị giam trong ngục, xiềng xích khổ sở, ngay gian chưa định, bụng không cơm
no, thân không áo ấm, một khi gặp cơn gió lạnh thổi vào, há chẳng bị chết mà nguyên là
vô tội ư? Ta lấy làm thương xót”8 Nói xong, vua ra lệnh ban chiếu cho những tù nhân nằm, mỗi ngày cấp cho hai bữa cơm
Đường lối trị nước thiên về đức trị “thương người như thể thương thân” của nhà
vua chính là nhờ ảnh hưởng lòng từ bi của Đức Phật Chính tinh thần của Phật tử đã
khiến cho “một ông vua ngồi cao chót vót trên đầu nhân dân mới có thể cảm thông thấu
đáo nguyện vọng thầm kính của người dân” Lòng nhân từ của Thánh Tông khiến sử thần
Ngô Sĩ Liên dù không mấy ưa gì Phật giáo cũng phải tán dương: “thương xót hình ngục,
yêu thương dân là việc đầu tiên của nền vương chính”9
Trang 36GVHD: Khoa Năng Lập
Còn Việt sử tiêu án có nhận xét rằng: “Vua Thánh Tôn ở Đông Cung 27 năm, biết
hầu hết những sự khổ sở của người ta, ẩn tình ở dân gian, đến khi lên làm vua, nhân có rét mướt mà thương kẻ tù giam, suy lòng yêu con mà xét đến các việc án oan uổng… Khuyên dân làm ruộng trồng dâu, chẩn cấp kẻ bần cùng, chấn chỉnh việc văn, xét duyệt
võ bị, các chính sự tốt, trong sử chép luôn luôn Vua tôi thân yêu nhau, không có sự cách biệt, cho nên thông hiểu dân tình, không bị ai che lấp, thật là hiền quân đời Lý”10
Đến đời vua Lý Nhân Tông, nhà vua thường mở hội Phật và ân xá cho những
người có tội Sử thần Ngô Thì Sĩ nhận định: “Nhân Tông có tư chất hiền hòa sáng suốt,
lại thêm sự tôi luyện của các bậc Sư Bảo, học vấn đã rộng, kiến thức lại cao”11 Vua Nhân Tông là một vị vua thấu hiểu nỗi cơ cực của dân chúng nên thường xuyên giảm tô thuế và lao dịch, chăm lo cho đời sống nhân dân, lấy dân là gốc Đạo trị nước của các vị vua triều Lý luôn toát lên tinh thần nhân ái, nhân sinh
Ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo trị nước của các vua triều Lý không chỉ thể hiện trên phương diện và hành động của những vị vua triều Lý mà còn thể hiện thông qua những ý kiến, những lời khuyên can của các vị sư đối với các vua nhà Lý Với vai trò cố vấn, đội ngũ tăng quan luôn đưa ra những kiến nghị phù hợp và đúng đắn khi bàn luận về
chính sự Như trường hợp của nhà sư Viên Thông khi được vua Lý Thần Tông hỏi về “lý
thiên hạ sỡ dĩ trị loạn hưng vong” (lý trị loạn thịnh suy của đất nước) thì nhà sư đã tâu
với nhà vua rằng: “Thiên hạ ví như một thứ đồ dùng, đặt vào chỗ yên thì yên, đặt vào chỗ nguy thì nghiêng, chỉ tùy ở nhà vua nhân chủ hoạt động như thế nào đó thôi Đức hiếu sinh hợp với lòng dân, cho nên dân yêu vua như cha mẹ vậy Ngẩng trông lên vua như trông lên mặt trăng, mặt trời, như thế là đặt thiên hạ vào chỗ yên”
Nhà sư lại nói tiếp: “Phép trị loạn đối với các quan liêu, biết dùng người thì trị không biết dùng người thì loạn Bầy tôi thường xem các đế vương đời trước chưa từng thấy dùng được người quân tử mà nước không thịnh, dùng phải kẻ tiểu nhân mà nước không mất” Ngài còn khuyên nhà vua việc trị nước không thể nóng lòng một sớm một chiều mà phải “chăm tu sửa cái đức của mình không ngừng,… Tu sửa mình là thận trong bên trong, tinh thần run sợ khi trên lớp băng mỏng Yêu dân là kính cẩn với người dưới, công chúng, nơm nớp như cầm cương mục cưỡi ngựa, được như thế thì không nước nào
Trang 37GVHD: Khoa Năng Lập
không hưng thịnh, trái lại thì không nước nào không suy vong Ấy là cái mầm hưng thịnh hay suy vong dần dần là ở tại đấy”12
Lời tâu của thiền sư Viên Thông quả là hợp với đạo lý trị quốc an dân thấm nhuần
tư tưởng nhân sinh nên được vua hết sức khen ngợi và thăng lên làm Hữu nhai Tăng thống Tri giáo môn sự Xem lời tâu, chúng ta thấy được thiền sư không chỉ là người có tấm lòng của Đức Phật mà còn thông hiểu đạo lý trị quốc an dân của Nho giáo Trung Hoa Tư tưởng chủ đạo của thiền sư Viên Thông là vấn đề hưng vong của đất nước, mang
đậm Đức hiếu sinh của Phật, phù hợp với lòng dân
Quan điểm về đạo trị nước của nhà sư Viên Thông đã thể hiện được tư tưởng tiếp
nối về “vận nước” của nhà sư Pháp Thuận Nếu tư tưởng của nhà sư Pháp Thuận nhấn
mạnh vận nước dài hay ngắn phụ thuộc vào tư tưởng đoàn kết và vai trò của người lãnh đạo thì nhà sư Viên Thông nêu lên yêu cầu là người lãnh đạo phải có đức hiếu sinh, phải gần gũi với nhân dân Người lãnh đạo (vua) không nên nghĩ đến dân theo nghĩa thống trị, tức là bắt dân phải sợ và tôn kín mình như cha mẹ mà phải lấy đức hiếu sinh để cảm hóa
dân chúng Muốn làm được như vậy còn phải đòi hỏi phải có người tài phò trợ “phép trị
loạn đối với các quan liêu, biết dùng người thì trị không biết dùng người thì loạn” Ông
còn nhấn mạnh vận nước thịnh suy không phải một sớm một chiều, do đó, người làm vua
phải biết “chăm tu sửa cái đức của mình không ngừng” để trị vì hợp với lòng dân
Mùa đông năm 1202, vua Lý Cao Tông ra hành cung Hải Thanh xem hát ca “khúc
hát theo điệu Chiêm Thành, tiếng nghe ai oán thảm thiết” Các quan tả hữu nghe đều rơi
nước mắt Tăng phó Nguyễn Thường đã khuyên can vua Lý Cao Tông rằng: “Tôi nghe
bài tựa kinh Thi rằng: âm nhạc của nước loạn nghe như oán, như giận vì chính sự nước
ấy sai lầm Âm nhạc của nước mất nghe như thương nhớ vì nhân dân nước ấy khốn cùng Nay Chúa Thượng giong chơi vô độ, chính sự giáo hóa trái nghịch lìa tan Dân đen buồn khổ đến thế là cùng, mà ngày nay nghe âm nhạc ai oán, đó chẳng phải là điềm nước loạn, nước mất hay sao Tôi biết rằng xe giá chuyến này về tất không lại ngự ra cung ấy nữa”13 Lời can của Tăng phó Nguyễn Thường được các sử gia đánh giá cao Chỉ thông qua tiếng nhạc, nhà sư đã thấy được vận mệnh, lẽ thịnh suy của đất nước Lời can ấy, theo Hoàng Xuân Hãn, cũng đủ thấy được giá trị của người tu hành và ảnh hưởng của họ đến chính trị
Trang 38GVHD: Khoa Năng Lập
đương thời
Thương dân như con là đạo trị nước cốt lõi mà Nho gia thường đề cao và tư tưởng đại đạo từ bi mà Phật giáo thường nhấn mạnh đã được thể hiện khá rõ trong đạo trị nước
của những vị vua triều Lý Chính tư tưởng từ bi, nhân ái, hiếu sinh của Phật giáo hòa
quyện với truyền thống thương người như thể thương thân của người Việt đã tạo cho vương triều Lý một đường lối trị nước thiên về đức trị, nhân trị Tín ngưỡng tâm linh của
Phật giáo đã có tác động tích cực vào tinh thần nhân trị của những thánh quân triều Lý
Vì vậy, mà đất nước ngày càng hưng thịnh, dân chúng ngày càng ấm no: “Đức hiếu sinh
hợp với lòng dân, cho nên dân yêu vua như là cha mẹ vậy” Đạo trị nước bằng đức trị,
nhân trị mà những vị vua triều Lý thực thi chính là kết quả của sự ảnh hưởng từ đức tính của Phật giáo mà ra
2.1.3 Về tính khoan dung và nhân đạo trong luật pháp
Đường lối chính trị thiên về đức trị, nhân trị dưới triều Lý đã ảnh hưởng sâu sắc đến luật pháp đương thời Dưới sự ảnh hưởng đức hiếu sinh và giáo lý của Phật giáo,
Luật pháp nhà Lý mang nặng tính giáo hóa hơn là trừng phạt
Ở thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, luật pháp còn mang nặng tính hà khắc, chưa rõ ràng Các vua hai triều Ðinh và Tiền Lê cho đặt vạc dầu, làm chuồng hổ để để những ai phạm tội thì bỏ vạc dầu hay cho hổ ăn thịt Những hình phạt hà khắc dưới thời Đinh, được
Quốc sử quán triều Nguyễn ghi lại như sau: “Niên hiệu Thái Bình năm đầu Vua mới lên
ngôi, quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng kinh đô ở Hoa Lư Vua muốn lấy oai quyền, chế ngự thiên hạ, đặt cái vạc to ở sân, nuôi con mãnh hổ ở trong cũi, ra lệnh rằng, ai trái mệnh lệnh phải chịu tội lửa nấu, hùm nhai”14 Chẳng hạn, năm 979, Đỗ Thích sau khi sát hại vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn đã bị Định Quốc Công Nguyễn Bặc bắt được, đem chém, đập nát xương, băm thịt làm nhiều mảnh rồi “chia cho người dân trong nước cùng ăn” Khi Lê Hoàn chấp chính, Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp không phục nên dấy quân chống lại Việc không thành, Đinh Điền bị giết tại trận, Nguyễn Bặc bị bắt giải về kinh, sau đó bị chém đầu rồi đem bêu trước công chúng Đến thời Tiền
Lê vẫn giữ những hình luật hà khắc đó Dưới thời vua Lê Long Đĩnh là vị vua có tính
Trang 39GVHD: Khoa Năng Lập
đốt hoặc dùm dao cùn xẻo từng miếng thịt phạm nhân,
Trong giai đoạn đầu, thời kỳ mà đất nước còn chưa mấy ổn định, các vua Đinh - Tiền Lê đã sử dụng những hình phạt rất nặng nhằm răn đe dân chúng và củng cố uy quyền nhà nước Đến khi nhà Lý được thành lập, đất nước ngày càng phát triển cường thịnh, các mặt kinh tế, văn hóa xã hội đều có những bước phát triển vượt bậc, nhiều vấn
đề trong xã hội phát sinh Do đó, đòi hỏi nhà Lý phải xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật mới, hoàn chỉnh hơn và phù hợp hơn
Vua Lý Thái Tông thấy luật pháp thời Đinh - Tiền Lê còn hà khắc mới sai Trung
thư san định luật lệ Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép: “Trước kia, trong nước
việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ luật văn, cốt làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng Vua lấy làm thương xót sai trung thư sửa định luật lệnh” 15 , châm chước
sao cho vừa phù hợp với thời, chia ra môn loại, mà soạn thành điều mục riêng Hiện nay,
bộ Hình thư không còn nhưng thông qua những tư liệu lịch sử, chủ yếu thông qua các chiếu lệnh mà nhà vua ban ra mà có thể xác định được một số điều luật
Năm 1042, bộ luật Hình thư ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành luật pháp nước ta Bộ luật này gồm có ba quyển, hiện nay không còn nhưng có thể biết được nội dung của nó thông qua các sắc lệnh của vua ban ra Đây là bộ luật thành văn
đầu tiên của nước ta, “khi ban hành, dân lấy làm tiện lắm” Đến tháng 11, vua lại xuống
chiếu cho những người từ 70 tuổi trở lên, 80 tuổi trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những người ốm yếu, cho đến các thân thuộc nhà vua từ để tang 9 tháng, 1 năm trở lên, có phạm tội thì cho dùng tiền để chuộc tội, riêng phạm vào tội thập ác16 thì không tha Việc đặt lệ dùng tiền chuộc tội cũng xuất phát từ tấm lòng thương dân, muốn cho họ
có cơ hội để làm lại từ đầu Với chiếu lệnh này, cho thấy được luật pháp nhà Lý có tính nhân văn và nhân đạo sâu sắc
Trong xét xử các vua Lý thường có tính khoan dung, lấy việc giáo dục là chính
Có lần vua Thánh Tông xem xét xử ở điện Thiên Khánh, có công chúa Động Thiên và
Bảo Ngọc hầu bên cạnh, nhà vua chỉ vào công chúa mà nói: “Lòng trẫm yêu dân cũng
như yêu con trẫm vậy, hiếm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm Từ rày về sau tội gì cũng giảm bớt đi”17 Với sự ảnh hưởng bởi lòng nhân ái, khoan
Trang 40GVHD: Khoa Năng Lập
dung của Phật giáo, các vua triều Lý đã áp dụng một hình phạt rất nhẹ đối với những người phạm tội, không hà khắc như thời Đinh - Tiền Lê
Luật pháp triều Lý coi trọng việc giáo hóa lòng người hơn là trừng phạt, điều này
chứa đựng tinh thần nhân ái, khoan dung mang dấu ấn tư tưởng từ bi hỷ xả của đạo Phật Chẳng hạn như năm 1028, vua Thái Tổ mất, trong cung xẩy ra vụ loạn Tam vương Đại
Việt Sử Ký Toàn thư có chép lại: “Vua Thái Tổ mất ở điện Long An, Thái tử Phật Mã lên ngôi Lúc trước vua đau mệt lắm; Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương nghe tin đưa phủ binh vào phục sẵn ở Long Thành đợi Thái tử đến thì phục kích Thái tử biết tin nói: Ta không có điều gì phụ lòng anh em mà ba vị vương lại làm điều bất nghĩa, thế là sao?”
Lý Nhân Nghĩa mới nói với Thái tử xin đem quân ra đánh Thái tử nói: “ta muốn che giấu việc xấu để cho ba vương phải tự biết mà lui đi cho toàn tình cốt nhục là hơn” Như vậy, ta thấy được Thái Tông là một người có tấm lòng tấm lòng khoan dung, độ lượng không muốn cốt nhục tương tàn Sau khi dẹp được loạn, Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương xin về chịu tội, riêng Vũ Đức Vương thì chết trong chiến trận Thái Tông nghĩ tình cốt nhục bèn tha cho tội cho và lại phục chức cũ cho cả hai người Quả thật, sự khoan dung, độ lượng của vua Thái Tông không phải ai cũng có thể làm được
Về sau, vua Thái Tông mới lập lệ cứ hàng năm, các quan phải đến đền Đồng Cổ (ở
làng Yên Thái, Hà Nội nay là làng Bưởi) làm lễ đọc lời thề rằng: “làm con bất hiếu, làm
tôi bất trung, xin thần linh giết chết” Các quan ai trốn không đến thề, đều bị phạt 50
trượng Việc vua Thái Tông cho lập lễ thề đền Đồng Cổ thể hiện mong muốn xây dựng khối đoàn kết trong nội bộ triều đình
Khi Nùng Trí Cao làm phản, vua cử người đi đánh, bắt được Trí Cao nhưng vua nghĩ tình trước đó đã giết cha và anh của Trí Cao nên cũng không giết Điều này đã khiến
cho nhà sử học Lê Văn Hưu đánh giá là “không phân biệt mức độ, mất sự cân nhắc nặng
nhẹ”, gây mối nguy hại về sau Nhưng rồi, ông chỉ ra rằng: “Đó là vì Thái Tông say đắm cái lòng nhân nhỏ nhặt của nhà Phật mà quên mất cái nghĩa lớn của người làm vua”18 Hay việc vua Nhân Tông tha tội chết cho tội mưu phản của Thái sư Lê văn Thịnh, cũng