1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trợ giúp pháp lý ở việt nam tổ chức và hoạt động

127 373 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 910,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TGPL là một trong những hình thức đưa chủ trương chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và bảo đảm công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống nhằm tăng cường pháp c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH THỊ THANH

TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM – TỔ CHỨC

VÀ HOẠT ĐỘNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

Hà Nội – 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trịnh Thị Thanh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

Từ viết tắt

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: VỊ TRÍ, VAI TRÒ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 9

1.1 Vị trí, vai trò TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay 9

1.1.1 Vị trí, vai trò TGPL trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa10 1.1.2 Vị trí, vai trò TGPL trong bảo đảm quyền con người 13

1.1.3 Vị trí, vai trò TGPL trong triển khai Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền bào chữa, nguyên tắc tranh tụng và công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính 14

1.1.4 Vị trí, vai trò TGPL trong công tác xóa đói giảm nghèo và chính sách an sinh xã hội 16

1.1.5 Vị trí, vai trò TGPL trong thị trường dịch vụ pháp lý 16

1.1.6 Vị trí, vai trò TGPL trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và khắc phục hệ quả của mặt trái nền kinh tế thị trường 18

1.1.7 Vị trí, vai trò TGPL trong quá trình hội nhập thế giới một cách toàn diện….19 1.2 Khái niệm và đặc điểm TGPL 21

1.2.1 Khái niệm TGPL 21

1.2.2 Đặc điểm TGPL 25

1.3 Các loại hình TGPL 27

1.3.1 Loại hình TGPL chia theo người thực hiện 27

1.3.2 Loại hình TGPL chia theo hình thức hoạt động 29

1.3.3 Chia loại hình TGPL theo lĩnh vực hoạt động 31

Trang 4

1.4 Tổ chức và hoạt động TGPL một số nước trên thế giới 32

1.4.1 Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL 32

1.4.2 Quản lý nhà nước hoạt động TGPL 35

1.4.3 Người thực hiện TGPL 37

1.4.4 Người được TGPL 38

1.4.5 Lĩnh vực TGPL 39

1.4.6 Hình thức TGPL 40

1.4.7 Về chất lượng TGPL 41

1.4.8 Về kinh phí dành cho TGPL 42

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 45

2.1 Khái quát tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam giai đoạn trước khi ban hành Luật TGPL 45

2.1.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1997 45

2.1.2 Khái quát tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2006 48

2.2 Tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam từ khi ban hành Luật TGPL năm 2006 cho đến nay 54

2.2.1 Thực trạng 08 năm triển khai Luật TGPL 55

2.2.2 Đánh giá chung về thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL 70

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 87

3.1 Yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam 87

3.1.1 Đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL để phù hợp với xu hướng phát triển TGPL trên thế giới 87

3.1.2 Đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL để phù hợp với các chính sách của Đảng, Nhà nước 88

Trang 5

3.1.3 Công tác TGPL đang đặt trong bối cảnh có sự thay đổi về thể chế liên quan

đến hoạt động TGPL 93

3.1.4 Đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu TGPL của người dân 95

3.1.5 Đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL để khắc phục những tồn tại, hạn chế thực tiễn triển khai công tác TGPL……… ….97

3.2 Các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam 97

3.2.1 Nhóm giải pháp xây dựng, hoàn thiện thể chế 98

3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức TGPL 107

3.2.3 Nhóm giải pháp về hoạt động TGPL 112

KẾT LUẬN 115

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 6

TỪ VIẾT TẮT:

Trợ giúp pháp lý: TGPL

Trợ giúp viên pháp lý: TGVPL

Cộng tác viên: CTV

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Ra đời vào những năm cuối thế kỷ XX, TGPL ở Việt Nam được biết đến như là một trong những chính sách xã hội rộng lớn thể hiện bản chất tốt đẹp của nền tư pháp nhân dân TGPL không chỉ giúp cho người nghèo, đối tượng chính sách và những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt được tiếp cận pháp luật, hỗ trợ họ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp mà còn góp phần xây dựng và hình thành lối sống và làm việc theo pháp luật Đây cũng là một trong những hoạt động thể hiện đậm nét truyền thống, đạo lý tương thân, tương ái, đền ơn đáp nghĩa của dân tộc và phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và xu thế phát triển của cộng đồng quốc tế

Trong những năm qua, có thể khẳng định rằng, hoạt động TGPL đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội Trên thực

tế đã hình thành hệ thống TGPL miễn phí với đội ngũ TGVPL, CTV đông đảo làm TGPL và sự hưởng ứng, tham gia của các cấp chính quyền, cơ quan, ban, ngành, tổ chức và nhân dân ở các địa phương Một bộ phận đáng kể người nghèo, đối tượng chính sách đã có thêm địa chỉ tin cậy giúp đỡ để tiếp cận đến với công lý, qua đó có điều kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Điều này nói lên tính đúng đắn, kịp thời của việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa

và tăng cường trợ giúp về mặt pháp luật cho nhân dân nhằm hỗ trợ các đối tượng được hưởng bình đẳng trong việc tiếp cận pháp luật Nhất là từ sau khi Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ 9 thông qua Luật TGPL (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2007) đã tạo cơ sở pháp lý bền vững thúc đẩy công tác này phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu giúp đỡ pháp luật cho người dân

Trang 8

Sau 08 năm triển khai thi hành, đến nay, Luật TGPL và các văn bản pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động TGPL cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập dẫn đến hiệu quả công tác này chưa cao Hơn nữa, với tư cách là một nhiệm vụ mới của ngành Tư pháp, công tác TGPL trên thực tế còn nhiều khó khăn, thách thức tồn tại Hơn nữa, trước sự thay đổi của những yếu tố liên quan đến công tác này cũng đòi hỏi cần có sự nghiên cứu về tổ chức và hoạt động TGPL cho phù hợp với tình hình mới

Do đó đặt ra vấn đề trong giai đoạn tới là cần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL bảo đảm tính bền vững trên cơ sở hoàn thiện thể chế về TGPL; đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống TGPL Từ yêu cầu trên, tác giả lựa chọn việc nghiên cứu phương diện lý luận lẫn phương diện

thực tiễn về “TGPL ở Việt Nam – tổ chức và hoạt động” trước những điều

kiện và tình hình mới nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới hệ thống chính trị, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và tìm ra những giải pháp thiết thực thúc đẩy sự phát triển của nhiệm vụ mang tính nhân văn cao cả này

2 Tình hình nghiên cứu

Có thể nói, trong các lĩnh vực pháp luật đang tồn tại hiện nay ở nước

ta, TGPL là một lĩnh vực có bề dày hình thành và phát triển chưa lâu đời (năm 1997) Cho đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài khoa học cấp Bộ và bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu về TGPL, cụ thể:

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL,

phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” do Viện Khoa học pháp lý

– Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, mục đích, ý nghĩa của hoạt động TGPL; thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL, từ

Trang 9

đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động này trong thời gian tới

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng

Pháp lệnh TGPL” do Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện,

tập trung nghiên cứ cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Pháp lệnh TGPL thông qua việc phân tích, đánh giá, so sánh các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện về pháp luât TGPL trong thời gian qua

- Luận án Tiến sĩ “Điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam trong

điều kiện đổi mới” của tác giả Tạ Thị Minh Lý, tập trung nghiên cứu cơ sở lý

luận, cơ sở pháp lý điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về TGPL; thực trạng điều chỉnh pháp luật về TGPL và phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về TGPL về TGPL trong điều kiện đổi mới

- Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện TGPL ở

Việt Nam” của tác giả Vũ Hồng Tuyến, tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ

sở pháp lý và thực tiễn về người thực hiện TGPL, từ đó có các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về người thực hiện TGPL

- Luận văn Thạc sĩ “Bảo đảm quyền được TGPL” của tác giả Phan Thị

Thu Hà, tập trung nghiên cứu việc thực hiện quyền TGPL của công dân do hệ thống TGPL của Nhà nước thực hiện và đề xuất một số giải pháp bảo đảm quyền này của công dân

- Luận văn Thạc sĩ “Phát triển TGPL ở cơ sở” của tác giả Đặng Thị

Loan, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về TGPL tại cơ

sở và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, tăng cường hiệu quả phát huy tích cực của các phương thức này

- Luận văn Thạc sĩ “Hoạt động TGPL trong các chương trình giảm

nghèo” của tác giả Lê Thị Thúy, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận

và thực tiễn về hoạt động TGPL trong các hoạt động giảm nghèo và đề xuất

Trang 10

một số giải pháp nhằm thực hiện chính sách này có hiệu quả trong thời gian

tới

- Luận văn Thạc sĩ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

TGPL” của tác giả Nguyễn Bích Ngọc, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý

luận, pháp lý, thực tiễn về hoạt động TGPL, hiệu quả hoạt động TGPL ở Việt

Nam và đề xuất các định hướng, nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL trong

thời gian tới

- Luận văn Tiến sĩ “Thực hiện pháp luật về TGPL trong điều kiện xây

dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huỳnh Huyện,

tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận thực hiện về TGPL trong điều kiện xây

dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, từ đó đưa ra các quan điểm và giải

pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về TGPL trong điều kiện xây dựng nhà

nước pháp quyền ở Việt Nam

- Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về TGPL ở Việt Nam” của

tác giả Cù Thu Anh, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và

thực tiễn về pháp luật TGPL ở Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp

luật TGPL trong thời gian tới

- Luận văn Thạc sĩ “Chất lượng hoạt động TGPL ở Việt Nam” của tác

giả Phạm Quang Đại, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về

chất lượng hoạt động TGPL, đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động TGPL ở

Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về TGPL, cơ

chế quản lý chất lượng dịch vụ pháp lý miễn phí

- Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về Quỹ TGPL Việt Nam” của tác giả

Nguyễn Thị Mận, tập trung nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn,

thực trạng pháp luật điều chỉnh về Quỹ TGPL Việt Nam và tìm ra giải pháp,

định hướng hoàn thiện pháp luật về Quỹ TGPL Việt Nam trong thời gian tới

Trang 11

Ngoài ra, còn rất nhiều Luận án thạc sĩ, tiến sĩ Luật học và các bài tạp chí đã nghiên cứu về tổ chức và hoạt động TGPL như Luận án tiến sĩ “Quản

lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Tùng; Luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huỳnh Huyện; Luận văn Thạc sĩ “Chất lượng TGPL của Trung tâm TGPL tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Đức Trực; Luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách ở tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy; Luận văn Thạc sĩ “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Hoàng Hà.v.v

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu về vị trí, vai trò TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay và thực tiễn tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam từ khi hình thành đến nay, đặc biệt là từ khi triển khai Luật TGPL

2006 Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa vị trí, vai trò của chính sách có ý nghĩa nhân văn này trong thời gian tới, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL trong việc tiếp cận dịch vụ TGPL miễn phí và giúp cho việc quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL hiệu quả hơn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu, Đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Làm rõ vị trí, vai trò của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện

nay Cụ thể, đề tài cần nghiên cứu về sự cần thiết của TGPL trong đời sống xã

hội Việt Nam hiện nay thông qua việc phân tích vị trí, vai trò của TGPL trong

Trang 12

các khía cạnh lý luận và thực tiễn, đồng thời nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của TGPL và các loại hình TGPL

- Nghiên cứu và tổng hợp theo vấn đề về tổ chức và hoạt động TGPL của một số nước trên thế giới có giá trị tham khảo và vận dụng trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Phân tích, đánh giá về thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam trước khi ban hành Luật TGPL và sau khi ban hành Luật TGPL Mỗi giai đoạn làm rõ những mặt làm được, những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân Đặc biệt, cần làm rõ những vấn đề cơ bản của tổ chức và hoạt động TGPL trong giai đoạn hiện nay làm cơ sở đề xuất những giải pháp ở phần sau

- Đề xuất các giải pháp đổi mới nhằm tăng cường hiệu quả tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam trong thời gian tới

5 Phạm vi nghiên cứu

Việc xác định phạm vi nghiên cứu là một phần quan trọng, mang tính chất định hướng để thực hiện Đề tài Nhận thức được điều đó, ngay từ đầu, Đề tài lựa chọn xác định phạm vi nghiên cứu là một số vấn đề mang tính chất lý luận về TGPL trong và ngoài nước và thực tiễn về tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam qua 02 giai đoạn: Trước khi ban hành Luật TGPL (gồm hai thời điểm: trước năm 1997 và từ năm 1997 đến năm 2005) và đặc biệt là từ khi ban hành Luật TGPL năm 2006 đến nay, trong đó tập trung phân tích hạn chế, bất cập để đề ra những giải pháp về tổ chức và hoạt động TGPL nhằm đổi mới công tác này theo hướng phát triển ổn định, bền vững

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TGPL

Trang 13

nói riêng Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, Luật TGPL và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lê nin là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê Đồng thời, đề tài còn vận dụng một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến TGPL; những tài liệu về TGPL trong các giai đoạn trước

và tư liệu thực tiễn đã được đúc kết để làm sâu sắc hơn những nội dung đưa

ra

7 Những đóng góp của đề tài

Các công trình nghiên cứu về TGPL đã phân tích rất nhiều khía cạnh khác nhau của tổ chức và hoạt động TGPL như hiệu quả hoạt động TGPL; quản lý nhà nước về hoạt động TGPL; chất lượng hoạt động TGPL, TGPL tại

cơ sở Tuy nhiên, qua gần 18 năm thành lập và phát triển, từ thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống TGPL hiện nay đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn, đồng thời tham khảo một số mô hình TGPL trên thế giới để từ đó đưa ra một số giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động

TGPL trong thời gian tới Đó là lý do tác giả chọn đề tài “TGPL ở Việt Nam – tổ chức và hoạt động” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học của mình

Những đóng góp của đề tài:

- Làm sâu sắc hơn vị trí, vai trò của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam, giải quyết vấn đề vì sao cần tồn tại chế định TGPL ở Việt Nam; nghiên cứu khái niệm và đặc điểm TGPL, các loại hình TGPL, đồng thời cung cấp các thông tin mang giá trị tham khảo tổng hợp theo các vấn đề về tổ chức và hoạt động TGPL của một số nước trên thế giới

- Đi sâu phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL hiện nay ở Việt Nam; đánh giá những kết quả của công tác này trong mối tương quan với

Trang 14

các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và đặc biệt là nhu cầu của các đối tượng thuộc diện được TGPL

- Đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm đổi mới công tác TGPL bảo đảm tổ chức và hoạt động TGPL hiệu quả, phát triển bền vững

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1

VỊ TRÍ, VAI TRÒ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG ĐỜI SỐNG

XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

1 1 Vị trí, vai trò TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

TGPL ở nước ta ra đời khá muộn so với lịch sử nền tư pháp Việt Nam Hoạt động này được nghiên cứu từ năm 1995 và ra đời vào những năm cuối của thế kỷ XX (1997) trên nền tảng những thành tựu phát triển của những năm đầu đổi mới, sự kiểm nghiệm thành công của những định hướng đúng đắn được vạch ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển của dịch vụ pháp lý Cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; nhu cầu giúp đỡ pháp luật của nhân dân ngày một tăng đã trở thành động lực quan trọng mang tính quyết định thúc đẩy sự ra đời và phát triển của hoạt động TGPL

Cho đến nay, sau gần 18 năm hình thành và phát triển, công tác TGPL

đã đạt được nhiều kết quả, khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong giúp đỡ về mặt pháp luật cho đông đảo người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng khác, góp phần phát huy vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,

ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội

Có thể khẳng định vai trò và ý nghĩa của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết và quan trọng TGPL thể hiện được bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tạo lập cơ chế bảo đảm công bằng xã hội, mọi công dân dù giàu hay nghèo đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tiếp cận dịch vụ pháp lý như nhau trong điều

Trang 16

kiện phát triển nền kinh tế thị trường TGPL là một trong những hình thức đưa chủ trương chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và bảo đảm công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần hoàn thiện bộ máy Nhà nước, hoàn thiện pháp luật và nâng cao trách nhiệm công vụ, đồng thời TGPL góp phần thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; nâng cao ý thức pháp luật và trình độ dân trí để người dân biết cách tự ứng xử phù hợp với các quy định pháp luật, góp phần lành mạnh hóa quan hệ xã hội, một phần củng cố lòng tin của người dân vào Nhà nước, pháp luật, góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế

Vị trí, vai trò của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay được thể hiện qua các khía cạnh lý luận và thực tiễn sau:

1.1.1 Vị trí, vai trò TGPL trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trong Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng, Nhà nước có trách nhiệm là xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật, phải quan tâm đến người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội bằng các chính sách pháp luật và các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ cụ thể để đưa pháp luật đến với người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội và đưa họ vào đời sống nhà nước và pháp luật để pháp luật thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lại càng phải quan tâm, chú trọng hơn nhằm tăng cường các biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích của nhóm dân cư này, hạn chế phân hóa giàu nghèo, bảo đảm công bằng xã hội, thực thi trên thực tế nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trang 17

Ngày nay nội dung “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”

[33, Điều 2] có yêu cầu mới là Nhân dân không chỉ chủ yếu thực hiện quyền lực nhà nước thông qua dân chủ đại diện, mà còn từng bước thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, đó sẽ là cơ sở, là tiêu chí để Nhân dân kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của Nhà nước Vì vậy, chính Nhà nước phải là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong bảo đảm cho người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội có được chính sách pháp luật bình đẳng, tạo điều kiện cho họ được hỗ trợ, giúp đỡ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp Từ đó, đặt ra yêu cầu TGPL phải giúp người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội nâng cao năng lực, tự mình tham gia quyết định các công việc chung; kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của Nhà nước và hiệu quả điều chỉnh của

pháp luật, bảo đảm để cho “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”

không những được ghi nhận trong Cương lĩnh, Hiến pháp và được thể chế trong các đạo luật mà còn phải được bảo đảm thực hiện trên thực tế, đến với mọi người, đặc biệt là người nghèo, người thuộc nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương để cho quyền lực nhà nước thật sự là của Nhân dân, được Nhân dân

ủy quyền cho Nhà nước mà không bị mất quyền, không bị lạm quyền

Vì vậy, TGPL cần phải tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh hơn nữa để đưa pháp luật đến với người nghèo, những người thuộc nhóm yếu thế để họ được thụ hưởng giá trị tiến bộ mà pháp luật mang lại Chính vì vậy, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi TGPL phải tồn tại và hướng đến mục tiêu nâng cao nhận thức pháp luật của người nghèo và các nhóm người thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, giúp họ biết sử dụng pháp luật để bảo vệ và thực thi các quyền và thực hiện các nghĩa vụ trách nhiệm của công dân

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, TGPL gắn với quá trình giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ xã hội đã

Trang 18

giúp nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo, người thuộc nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội Đây là một quá trình giáo dục ý thức pháp luật đối với xã hội thông qua sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể đối với Nhà nước và xã hội và các trước chủ thể khác, để từ đó họ nhận thấy được những hành vi được phép làm và những hành vi không được phép làm Đặc biệt, thông qua những vụ việc cụ thể, TGPL đã giúp những nhóm người này nắm bắt được nội dung pháp luật và cách thức áp dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể trong cuộc sống để các chủ thể này nắm được nội dung các văn bản pháp luật, hiểu và vận dụng, sử dụng pháp luật một cách chính xác, tích cực để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các quan hệ xã hội

TGPL trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn giúp làm sáng

tỏ nguyên tắc Hiến pháp “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” [33, Điều 8], “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” [33, Điều 16] Thông qua

hoạt động của mình, TGPL giúp người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội nhận thức được vị trí, vai trò của mình trước pháp luật; vị trí, vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ

xã hội; các thiết chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ

TGPL trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có ý nghĩa quan trọng trong việc dần dần hình thành thói quen tuân thủ và chấp hành pháp luật, nghĩa là trong thói quen xử sự đó pháp luật đã thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của con người Thói quen đó chỉ có thể đạt được do kết quả nhận thức sâu sắc của cá nhân về việc thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội khi tuân thủ pháp luật

Tóm lại, TGPL giúp người nghèo, người thuộc nhóm yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội thấy được pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Nó vừa là biện pháp tăng

Trang 19

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa góp phần thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa Có thể nói, TGPL là một trong những khâu làm hoàn chỉnh hơn vai trò của ngành Tư pháp từ việc xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống xã hội có hiệu quả

1.1.2 Vị trí, vai trò TGPL trong bảo đảm quyền con người

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã ghi nhận “Quyền được coi

là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật và quyền được bào chữa” [23, Điều 11); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và

chính trị ghi nhận “Mọi người đều bình đẳng trước các toà án, cơ quan tài

phán và có quyền được hưởng một cách đầy đủ, bình đẳng quyền được bào chữa, ngay cả khi họ không có điều kiện chi trả” (24, Điều 14) Bên cạnh đó,

các quyền con người, quyền công dân trong từng lĩnh vực được tiếp tục khẳng định trong nhiều công ước của Liên Hợp quốc như Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường Ngày càng có nhiều điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành các đạo luật để bảo đảm quyền con người, quyền công dân Việc Việt Nam là thành viên của nhiều Công ước quốc tế về quyền con người, đặt ra yêu cầu Nhà nước cần có trách nhiệm bảo đảm thực thi trên thực tế các quyền đó, hạn chế giàu nghèo, kiểm soát được các tiêu cực mới phát sinh Nhà nước phải thể hiện vai trò của mình trong bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền con người, quyền công dân cho người nghèo và nhóm yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội để họ có điều kiện bình đẳng với các chủ thể khác trong tham gia đời sống xã hội và pháp luật Nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho nhóm người này, đồng thời kiểm soát được chất lượng các dịch vụ này bảo đảm công bằng, bình đẳng với các đối tượng khác trong xã hội

Trang 20

Do đó, TGPL hình thành và phát triển nhằm góp phần thi hành dân chủ, giải phóng con người mọi áp bức, bất công, tôn trọng nhân quyền Giải phóng con người khỏi mọi áp bức bất công, khơi dậy và phát huy tiềm năng con người, coi con người là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển Đây là một chính sách góp phần bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người nghèo, nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương không chỉ thực hiện trên thực tế quyền con người mà còn giúp họ thực hiện đầy đủ trên thực tế quyền và nghĩa vụ, giúp

họ có điều kiện sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Bởi vì

họ là nhóm đối tượng yếu thế, không có đủ năng lực, điều kiện nắm bắt, sử dụng pháp luật để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, vì thế, hơn ai hết, người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội phải được quan tâm, giúp đỡ Có như vậy, mới phản ánh đúng đắn và đầy

đủ bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, mới bảo đảm để tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tạo lập công bằng, bình

đẳng trên thực tế giữa các chủ thể

1.1.3 Vị trí, vai trò TGPL trong triển khai Hiến pháp nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền bào chữa, nguyên tắc tranh tụng và công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận:

“Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” [33, Điều 31];“nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” [33, Điều 103] tức là phán quyết của

Tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng, như vậy vai trò của người bào chữa trong phiên tòa ngày càng quan trọng, nếu không có người bào chữa tham gia thì không thể bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và khó có phiên tòa công bằng Như vậy, đội ngũ người bào chữa nói chung cần được tăng cường hơn nữa

Trang 21

nhằm đáp ứng nguyên tắc tranh tụng tại Tòa án và quyền bào chữa theo tinh thần Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hơn nữa, một trong những cách thức để tổ chức thi hành những quy định mới về quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tư pháp là sử dụng đúng mục đích, hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và huy động tối đa nguồn lực xã hội để đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu TGPL cho người nghèo, người có công với cách mạng, đối tượng yếu thế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó nâng cao vị thế, vai trò của pháp luật trong quản lý đất nước, quản lý

xã hội và bảo vệ quyền công dân, góp phần xây dựng nền tư pháp công bằng, dân chủ

Đồng thời, qua quá trình thực hiện nghiệp vụ, hoạt động TGPL cũng sẽ góp phần thực thi công lý, giúp Tòa án thực hiện đúng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, đưa ra các phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật giảm thiểu các lượng án oan sai trong các phiên tòa hình sự Hơn nữa, góp phần hướng dẫn giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc phức tạp, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài trong thời gian dài do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến giảm lòng tin của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách đối với pháp luật của Nhà nước; góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phù hợp với mục tiêu cải cách tư pháp Đồng thời, công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp cũng đòi hỏi phải đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động TGPL góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp công trong lĩnh vực TGPL, phát huy tính chủ động, nâng cao ý thức thực hiện trách nhiệm xã hội của các tổ chức xã hội, nhất là của đội ngũ luật sư và các

tổ chức hành nghề luật sư trong việc TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội

Trang 22

1.1.4 Vị trí, vai trò TGPL công tác xóa đói giảm nghèo và chính sách

an sinh xã hội

Trong những năm qua một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm là công tác xóa đói, giảm nghèo, coi đây là một quyết sách lớn để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Công tác này đã được triển khai khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, y tế, giáo dục Với mục tiêu xóa đói giảm nghèo toàn diện, bền vững và bảo đảm các chính sách an sinh xã hội trên thực tế, đặt ra yêu cầu TGPL phải trở thành một nội dung quan trọng trong tổng thể chương trình xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội Có ý nghĩa giảm nghèo về mặt pháp luật, TGPL đóng vai trò là cầu nối để người dân nhận thức và thực hiện các chính sách ưu đãi mà Nhà nước dành cho họ hiệu quả, đồng thời giúp chính sách giảm nghèo của Đảng

và Nhà nước càng trở nên toàn diện hơn

Do đó, TGPL là một bộ phận cấu thành trong tổng thể giải pháp xóa đói, giảm nghèo, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng xã hội, là một chính sách lớn trong tổng thể các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta Việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác ở Việt Nam xuất phát từ chủ trương xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước Chính vì vậy đòi hỏi công tác này cần phải lấy người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác làm trung tâm cho mọi chính sách và hoạt động của mình

1.1.5 Vị trí, vai trò TGPL trong thị trường dịch vụ pháp lý

Trong thị trường dịch vụ pháp lý nói chung, luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư là một bộ phận giữ vai trò lớn bên cạnh các thiết chế của Nhà nước và xã hội khác là Trung tâm TGPL nhà nước, Trung tâm tư vấn pháp luật của các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, chính trị - xã hội; luật gia,

Trang 23

chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp Tính đến hết năm 2014, cả nước có 3.417 tổ chức hành nghề luật sư với 9.375 luật sư, tuy nhiên số lượng luật sư này so với tổng dân số trên cả nước còn rất thấp và có sự phát triển mất cân đối giữa khu vực thành thị và khu vực miền núi, trung du Tính trên tổng dân số 90,5 triệu thì trung bình gần 10.000 dân mới có 01 luật sư Tỷ lệ này là quá nhỏ so với nhu cầu tiếp cận và sử dụng pháp lý của người dân, đặc biệt là người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội Trong khi đó, tỷ lệ này ở Thái lan là 1/1.526, Singgapore là 1/1.000, Nhật Bản là 1/4.546, Pháp là 1/1.000, Mỹ là 1/250

Có thể thấy số lượng luật sư ở nước ta hiện nay chưa đủ để đáp ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng tăng của cơ quan, tổ chức, cá nhân, ngay cả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng Trên thực tế, chỉ khoảng trên 20% vụ án hình sự trong cả nước có sự tham gia của luật sư Ở nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng luật sư chưa đủ để bào chữa trong các vụ án bắt buộc có sự tham gia của luật sư mà phải mời các luật sư ở địa phương khác, do đó nhiều vụ án phải tạm hoãn, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng Sự thiếu vắng luật sư trong nhiều vụ

án hình sự (khoảng 80%) đã không bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án

Khi mà đội ngũ luật sư còn quá ít, chưa đủ số lượng để đáp ứng được nhu cầu pháp lý trong dân số, hơn nữa việc cung cấp dịch vụ pháp lý của luật

sư là hoạt động có thu phí thì người nghèo, người có công với cách mạng, người yếu thế khác trong xã hội… khó có thể tiếp cận được dịch vụ của luật

sư Họ thường không có điều kiện về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không có luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm hại Xuất

Trang 24

phát từ yêu cầu trên, tổ chức TGPL của nhà nước ra đời và phát triển đã tạo

cơ chế cần thiết để người nghèo và người có công với cách mạng, người yếu thế khác trong xã hội được tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình để tham gia vào các quan hệ xã hội, củng

cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội

1.1.6 Vị trí, vai trò TGPL trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và khắc phục hệ quả của mặt trái nền kinh tế thị trường

Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và việc hội nhập với nền kinh tế thế giới, mặt tích cực là thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển nhưng đi kèm với nó là một số biểu hiện tiêu cực như gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, đồng thời đưa đến những hệ lụy khác trong xã hội Những vấn đề đó, nhất là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt, khoảng cách về kinh tế ngày càng cách xa thì tất yếu sẽ dẫn đến

sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các điều kiện y tế, giáo dục, văn hóa…, trong đó có việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý Hơn nữa, từ các vấn đề của nền kinh tế đã dẫn đến phát sinh những mối quan hệ trong xã hội đòi hỏi sự điều chỉnh của pháp luật

Mặt khác, trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì việc người dân tiếp cận với pháp luật

để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, xử sự phù hợp trong các quan hệ xã hội không phải dễ dàng, do đó TGPL của Nhà nước cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và các nhóm người yếu thế khác là yêu cầu khách quan và cần thiết Hơn nữa, thông qua hoạt động TGPL cũng có thể phát hiện ra các quy định pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Đồng thời, các vụ việc kiến

Trang 25

nghị công vụ cũng góp phần tăng thêm vai trò, trách nhiệm cho cơ quan nhà nước khi thực thi công vụ

1.1.7 Vị trí, vai trò TGPL trong quá trình hội nhập thế giới một cách toàn diện

Cách đây 500 năm, trên thế giới hoạt động TGPL đã ra đời Trong những thập kỷ gần đây, khi xây dựng và phát triển đất nước trong hoà bình, các nhà nước trên thế giới có điều kiện chăm lo hơn các vấn đề xã hội và bảo đảm công bằng xã hội thì hoạt động TGPL phát triển mạnh mẽ hơn Đây được coi là kết quả tất yếu của sự phát triển xã hội, là công cụ để nhà nước thực hiện nghĩa vụ đối với công dân Như vậy, nếu thừa nhận trật tự xã hội trong nhà nước pháp quyền là một mục tiêu cần hướng tới thì cần coi hoạt động TGPL là một trong những phương tiện để đạt được mục tiêu đó TGPL cần thiết đối với việc củng cố luật pháp, với việc xây dựng nhà nước pháp quyền

và có tầm quan trọng như một bộ phận không thể tách rời của việc thực thi công lý và cũng cần thiết như một bộ phận không thể thiếu trong quá trình xét

xử

Hiện nay, có một nhận thức mang tính quốc tế, đó là tiếp cận công lý là một quyền cơ bản của con người liên quan đến pháp luật hình sự Con người không thể bị cản trở tiếp cận với công lý, đặc biệt khi quyền tự do hoặc cuộc sống của họ bị đe dọa do thiếu nguồn lực để thuê luật sư bảo vệ Nhiều nước trên thế giới coi TGPL là một trong các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người Hiến pháp nhiều nước quy định quyền được TGPL trong tư pháp hình sự là một trong các quyền cơ bản của công dân, bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho những người không có khả năng thuê luật sư, đặc biệt trong vụ án hình sự Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật Xuất phát từ việc hội nhập thế giới mang tính toàn

Trang 26

diện, chế định TGPL là rất cần thiết để giúp đỡ pháp lý cho người nghèo và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội

Tóm lại, TGPL có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện

nay Đối với Nhà nước, hoạt động TGPL thể hiện trách nhiệm của mình trong

việc tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, đồng thời tăng thêm gắn bó giữa Nhà nước và người dân, nâng cao vị thế, vai trò của pháp luật trong quản lý đất nước, quản lý xã hội và bảo

vệ quyền công dân TGPL đã góp phần quan trọng cho sự nghiệp cải cách tư pháp, cải cách hành chính; hỗ trợ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực thi công vụ, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng tuỳ tiện, lạm quyền, góp phần giải tỏa vướng mắc pháp luật, giảm bớt khiếu kiện, giảm thiểu các tranh chấp phải đưa ra cơ quan tư pháp giải quyết; đồng thời qua đó kịp thời phát hiện những vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật

Đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội khác, TGPL hỗ trợ, giúp đỡ, hướng dẫn họ tự mình hoặc có thể nhờ người khác bảo vệ các quyền

và lợi ích hợp pháp khỏi sự xâm hại, từng bước nâng cao ý thức pháp luật, hạn chế, phòng ngừa các vi phạm pháp luật, đặc biệt thông qua việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các vụ việc, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân Hơn nữa trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế đi đối với bảo đảm công bằng xã hội, chủ động hội nhập quốc tế

và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì TGPL ngày càng có ý nghĩa, vai trò quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo, động viên người dân tích cực tham gia các hoạt động xã hội và phát triển kinh tế

Trang 27

Đối với xã hội, TGPL góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp chế, đưa pháp luật đến với người dân, tạo lập thói quen và nếp sống làm việc theo pháp luật, đồng thời góp phần thúc đẩy kinh

tế - xã hội phát triển gắn với giải quyết vấn đề an sinh xã hội, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.2 Khái niệm và đặc điểm TGPL

1.2.1 Khái niệm TGPL

1.2.1.1 Khái niệm TGPL

Thuật ngữ “TGPL” được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ XX, xuất phát từ tiếng Anh là “legal aid” Tuy nhiên, mỗi quốc gia, quan niệm TGPL cũng có sự khác biệt, phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước Mặc dù có sự khác nhau giữa các nước nhưng các khái niệm TGPL đưa ra đều có điểm chung là gắn liền với người nghèo, nhóm yếu thế,

dễ bị tổn thương trong xã hội; gắn với dịch vụ pháp lý (miễn phí hoặc giảm phí) do những người hành nghề luật thực hiện; quá trình tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật nhằm bảo đảm công bằng xã hội, hướng đến mục tiêu công lý bình đẳng cho mọi người Tùy thuộc chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ mà phạm vi TGPL có khác nhau, có thể chỉ tập trung vào tư vấn pháp luật hoặc tham gia tố tụng, đại diện tại Tòa án hoặc bao gồm toàn bộ nội hàm của dịch vụ pháp lý TGPL vừa là trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, vừa mang tính xã hội rộng lớn, là trách nhiệm của toàn xã hội mà trước hết là của những tổ chức, cá nhân hành nghề luật đối với nhóm người nghèo, người yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội Ở mỗi thể chế chính trị - pháp lý khác nhau, mức độ tham gia, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, của các thiết chế xã hội trước vấn đề TGPL là khác nhau; phạm vi hoạt động TGPL cũng không giống nhau,

có thể rộng, hẹp tùy thuộc vào khả năng đáp ứng từ phía Nhà nước và xã hội

Trang 28

“Legal aid” có nghĩa là “trợ cấp pháp lý” [26] ; “legal aid” trong cụm

từ “legal aid schem” có nghĩa là “bảo trợ tư pháp” [30] Ngoài ra, trong một

số tài liệu khác còn gọi là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý”, “hỗ trợ tư pháp” Như vậy, dù có nhiều cách gọi khác nhau nhưng thuật ngữ “TGPL” có nghĩa chung nhất là sự giúp đỡ, hỗ trợ đối với những người khó khăn về mặt pháp lý Ở Việt Nam, năm 1995, thuật ngữ “TGPL” lần đầu tiên xuất hiện khi bắt đầu xây dựng Đề án về phát triển hoạt động TGPL ở Việt Nam Đến năm

1996, thuật ngữ “TGPL” được sử dụng trong tiêu đề của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp: “Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” và được sử dụng chính thức trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách Tiếp đó, trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực này và nhiều lĩnh vực khác cũng sử dụng thuật ngữ “TGPL” Tuy nhiên, phải đến khi Luật TGPL năm 2006 được ban hành thì khái niệm TGPL mới được đề cập một

cách chính thức: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người

được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” [34, Điều 3]

Với cách tiếp cận như trên, khái niệm TGPL đã thể hiện được những thuộc tính chung của hoạt động này trên thế giới (tính kinh tế, tính nhân đạo

và tính pháp lý) vừa thể hiện được những đặc tính riêng của hoạt động TGPL

ở Việt Nam Thông qua nội hàm khái niệm này, TGPL được hiểu là một hoạt động nhằm giúp đỡ cho những đối tượng không có khả năng về tài chính hay

Trang 29

khó khăn về tài chính để chi trả cho các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tính kinh tế và tính nhân đạo); thông qua sự giúp đỡ, hỗ trợ về các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích được pháp luật quy định (tính pháp lý)

Ở Việt Nam, bản chất của TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL Dịch vụ pháp lý miễn phí có chủ thể cung cấp (tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL) và đối tượng cung cấp (người được TGPL bao gồm: người nghèo, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số và những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác); dịch vụ được cung cấp (tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải

và thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật) Ngoài ra, bản chất TGPL

còn thể hiện ở mục đích của hoạt động này nhằm “giúp người được TGPL

bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật” (mục đích trực tiếp) và “góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” (mục đích gián tiếp)

Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu, tác giả cho rằng, khái niệm TGPL trên chưa phân biệt rõ tính chất miễn phí giữa hoạt động TGPL cho đối tượng được TGPL do Nhà nước tổ chức thực hiện và dịch vụ TGPL miễn phí của luật sư cho người dân Cụ thể, tính chất miễn phí của hoạt động TGPL theo quy định Luật TGPL chỉ áp dụng cho người thụ hưởng dịch vụ, còn bản chất thì người thực hiện TGPL vẫn được Nhà nước trả tiền để thực hiện, còn dịch

vụ miễn phí của luật sư thì không được trả tiền dưới bất kỳ hình thức nào cho tất cả mọi người Mặt khác, khái niệm này cũng thể hiện cả mục đích gián tiếp, do đó, trong quá trình triển khai dễ gây ra hiểu nhầm về bản chất của hoạt động TGPL

Trang 30

Qua nghiên cứu quan niệm về TGPL, có thể thấy rằng đây là một chế định pháp luật gắn với chế định bảo trợ tư pháp, xác lập trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể khác trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân cho nhóm đối tượng đặc biệt cần được Nhà nước và xã hội phải quan tâm giúp đỡ thông qua các hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ họ tiếp cận và sử dụng pháp luật để nắm bắt đầy đủ các thông tin pháp luật, biết sử dụng pháp luật để bảo

vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tham gia quản lý nhà nước, quản

lý xã hội nhằm bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ công lý để mọi người không phân biệt giàu nghèo, địa vị, thành phần xã hội đều bình đẳng trước pháp luật Đồng thời, nó là một trong những chức năng xã hội của nhà nước, một bộ phận cấu thành chính sách an sinh xã hội, gắn với xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, chính sách dân tộc; một bộ phận cấu thành của cơ chế tổ chức thực thi pháp luật và bảo vệ pháp luật, thực thi công tác dân vận của Đảng và Nhà nước ta nhằm đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người nghèo, nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong

xã hội

1.2.1.2 Khái niệm tổ chức TGPL

Tổ chức được cắt nghĩa là “làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu

tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định” [54]; “sắp đặt và đưa vào nền nếp hoặc sắp xếp để một số đông người tập hợp nhằm thực hiện một mục đích” [31] Như vậy, tổ chức được hiểu là cách thức sắp xếp, bố trí

cho các bộ phận cấu thành một chỉnh thể có cấu trúc và những chức năng nhằm thực hiện mục đích chung nhất định

Tổ chức TGPL được hiểu theo hai nghĩa, với nghĩa hẹp tổ chức TGPL

là những tổ chức thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những người được TGPL theo quy định của Luật TGPL (gồm Trung tâm TGPL nhà nước và các tổ chức tham gia TGPL) Theo nghĩa rộng, tổ chức TGPL là hệ

Trang 31

thống TGPL, được cấu tạo từ các bộ phận gồm bộ máy TGPL giữ chức năng quản lý và bộ máy thực hiện nhiệm vụ TGPL theo quy định Để có cách nhìn toàn diện, bao quát về TGPL, luận văn nghiên cứu theo cách hiểu nghĩa rộng

về tổ chức TGPL

1.2.1.3 Khái niệm hoạt động TGPL:

Hoạt động được hiểu là “tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau

chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [54]; “tham gia việc gì đòi hỏi phải tốn công sức” [31] Có thể hiểu, hoạt động là cụm từ

được sử dụng chỉ sự vận động do con người thực hiện nhằm đạt được mục đích nhất định

Theo đó, hoạt động TGPL, theo nghĩa chung nhất được hiểu là những công việc do các chủ thể có trách nhiệm thực hiện để giúp những người được TGPL tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí nhằm đạt được mục đích của việc TGPL

1.2.2 Đặc điểm TGPL

Như đã phân tích trên, TGPL ở Việt Nam ngoài những đặc điểm chung trên thế giới còn có những đặc trưng riêng phù hợp với điều kiện thực tiễn bao gồm:

- TGPL là một loại dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp TGPL được

xác định là một trong những chức năng xã hội của Nhà nước; đối tượng được hưởng TGPL là những người yếu thế, không có đủ điều kiện tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, cần có sự trợ giúp của Nhà nước; các chi phí cho hoạt động TGPL do ngân sách Nhà nước bảo đảm Đây là một loại hình dịch vụ pháp lý cấu thành nên thị trường pháp lý, do những người có trình độ

am hiểu pháp luật thực hiện trên cơ sở pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu giúp

đỡ pháp luật của người nghèo và đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài

Trang 32

tố tụng, giúp đỡ thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải

quyết khiếu nại…

- TGPL là một dịch vụ mang đậm tính nhân văn, bởi mục tiêu hướng

tới, đối tượng phục vụ là những người có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm người nghèo, người có công và các đối tượng yếu thế khác cần phải được Nhà nước

và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ Sự hỗ trợ này sẽ làm giảm bớt những khó khăn của nhóm đối tượng yếu thế, góp phần tạo sự công bằng trong xã hội

- TGPL là hoạt động mang tính pháp lý, thể hiện qua phương thức hoạt

động và mục đích hướng tới của nó Đây là một trong các biện pháp thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống bởi Nhà nước phải có trách nhiệm tạo

ra các cơ chế để giúp người dân biết các quy định pháp luật để thực hiện, sử dụng, tuân thủ trong cuộc sống để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay khi Nhà nước tăng cường thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật và giải quyết các vấn đề phát sinh hàng ngày trên cơ sở pháp luật thì yêu cầu cần phải giúp cho người dân hiểu biết pháp luật trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

- TGPL mang tính chất miễn phí dành cho người được TGPL: Tính chất

miễn phí được ghi nhận trong Luật TGPL ngay tại khái niệm “TGPL là việc

cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL” [34, Điều 3];

nguyên tắc hoạt động “ Không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được TGPL” [34, Điều 4] và là một trong những hành vi bị nghiêm cấm là “Nhận, đòi hỏi

bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người được TGPL; sách nhiễu người được TGPL” [34, Điều 9] Tính chất miễn phí ở đây nghĩa là đối tượng

thụ hưởng dịch vụ này không hề mất một khoản chi phí nào, kể cả chi phí thủ tục, giấy tờ yêu cầu được TGPL Pháp luật TGPL nghiêm cấm tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người được TGPL Các chi phí thực hiện do ngân sách Nhà

Trang 33

nước bảo đảm và huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đây là một đặc điểm ghi nhận sự cố gắng của Đảng và Nhà nước trong điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn

- TGPL thể hiện tính chính trị - xã hội: TGPL được xác định là trách

nhiệm của Nhà nước, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt nhằm góp phần khắc phục sự bất bình đẳng trong tiếp cận với pháp luật và xóa nghèo về pháp luật Thông qua đó, góp phần thiết lập sự ổn định chính trị, bảo vệ chế độ chính trị

và các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước, làm tăng niềm tin của người dân vào chế độ Do đó, nó là một trong những phương thức có hiệu quả để Nhà nước bảo đảm ổn định trật tự và an toàn xã hội Đồng thời, đây là một trong những biện pháp bảo vệ quyền con người, quyền công dân đối với nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội, là một bộ phận cấu thành nên chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực thi chính sách người có công và chính sách dân tộc của Nhà nước

1.3 Các loại hình TGPL

1.3.1 Loại hình TGPL chia theo người thực hiện

Người thực hiện TGPL là người cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được TGPL theo quy định pháp luật Theo quy định của Luật TGPL thì người thực hiện TGPL gồm có TGVPL và người tham gia TGPL (bao gồm CTV TGPL; luật sư, tư vấn viên pháp luật đăng ký tham gia TGPL) Chia theo người thực hiện thì loại hình TGPL gồm 04 loại:

- Loại hình TGPL do TGVPL thực hiện

TGVPL là viên chức của Trung tâm được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và cấp thẻ Đây là đội ngũ nòng cốt của Trung tâm TGPL Nhà nước và của công tác TGPL Tiêu chuẩn của TGVPL phải là viên chức của Trung tâm có bằng Cử nhân luật, có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL sau khi đã hoàn thành khoá đào tạo nghề luật sư; có thời gian làm

Trang 34

công tác pháp luật từ 02 năm trở lên; có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao

TGVPL thực hiện tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự; người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính; đại diện ngoài tố tụng cho người được TGPL để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật, hoà giải, tham gia quá trình giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các hình thức TGPL khác

có uy tín trong cộng đồng CTV TGPL là luật sư được tham gia TGPL với các hình thức như TGVPL CTV TGPL không phải là luật sư chỉ tham gia TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật

- Loại hình TGPL do luật sư (không phải là CTV TGPL) thực hiện

Ngoài việc tham gia TGPL với tư cách là CTV TGPL Luật sư có thể tham gia TGPL thông qua tổ chức hành nghề của luật sư (Văn phòng luật sư, Công ty luật) có đăng ký tham gia TGPL mà luật sư đó là thành viên, hoặc TGPL theo nghĩa vụ của luật sư theo pháp luật về luật sư Luật sư tham gia TGPL thông qua tổ chức hành nghề thực hiện trong phạm vi, hình thức, lĩnh

Trang 35

vực TGPL đã đăng ký với Sở Tư pháp Luật sư thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật luật sư được thực hiện các hình thức như TGVPL trong thời gian 08 giờ/năm Như vậy, luật sư thực hiện TGPL thông qua 03 tư cách: CTV TGPL, thành viên của tổ chức hành nghề đăng ký tham gia TGPL và thực hiện theo nghĩa vụ quy định tại Luật Luật sư

- Loại hình TGPL do tư vấn viên pháp luật (không phải là CTV TGPL) thực hiện

Ngoài việc thực hiện TGPL với tư cách là CTV TGPL, Tư vấn viên pháp luật làm việc tại các Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị

- xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp còn tham gia TGPL khi Trung tâm tư vấn pháp luật đó có đăng ký tham gia TGPL Tư vấn viên pháp luật khi tham gia TGPL với tư cách này chỉ được thực hiện tư vấn pháp luật theo sự phân công của tổ chức tư vấn pháp luật nơi họ làm việc Như vậy, tư vấn viên pháp luật thực hiện TGPL với 02 cách: CTV TGPL và thành viên của Trung tâm tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL

1.3.2 Loại hình TGPL chia theo hình thức hoạt động

Theo quy định pháp luật hiện hành, người thực hiện TGPL được cung cấp các dịch vụ TGPL bằng các hình thức gồm tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác như hoà giải, tham gia vào quá trình khiếu nại, kiến nghị Theo đó, có thể phân chia loại hình TGPL theo 04 hình thức hoạt động như sau:

- Loại hình TGPL theo hình thức tư vấn pháp luật

Người thực hiện TGPL hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc TGPL cho người được TGPL Tư vấn pháp luật có thể được thực hiện trực tiếp bằng lời nói cho người được TGPL tại trụ sở hoặc ngoài trụ sở; qua điện thoại, bằng văn bản; tư vấn bằng lời nói hoặc bằng văn bản cũng có thể thực hiện thông

Trang 36

qua TGPL lưu động; thông qua sinh hoạt của Câu lạc bộ TGPL hoặc tại sinh hoạt chuyên đề pháp luật

- Loại hình TGPL theo hình thức tham gia tố tụng

Người thực hiện TGPL tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được TGPL là người bị hại, là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự; tham gia tố tụng dân sự,

tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính Trong vụ án hình sự, TGVPL tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp; Luật sư CTV, Luật sư không phải CTV tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa để bào chữa cho người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo Trong vụ án dân sự, hành chính, TGVPL, Luật sư CTV, luật sư không phải là CTV đều tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

- Loại hình TGPL theo hình thức đại diện ngoài tố tụng

Người thực hiện TGPL làm đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL khi họ không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan, tổ chức không phải là cơ quan tiến hành tố tụng Việc đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm

vi yêu cầu của người được TGPL

- Loại hình TGPL thông qua các hình thức TGPL khác

+ Tham gia hoà giải giúp người được TGPL tự giải quyết tranh chấp

Khi có yêu cầu hoặc được sự đồng ý của một hoặc các bên, tổ chức thực hiện TGPL cử người thực hiện TGPL làm trung gian để phân tích các tình tiết của

vụ việc, giải thích quy định của pháp luật, hướng dẫn để các bên tự thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc mà không phải đưa vụ việc ra Toà

án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tự nguyện rút đơn kiện, tự giải

Trang 37

quyết các tranh chấp và tự nguyện chấp hành kết quả giải quyết vụ việc

+ Người thực hiện TGPL giúp người được TGPL thực hiện các công việc có liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại hoặc tham gia trong quá trình giải quyết trong trường hợp họ không thể tự mình thực hiện được để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp hoặc thực hiện nghĩa vụ cơ bản của công dân TGVPL, luật sư có quyền tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại theo đề

nghị của người khiếu nại là người được TGPL

+ Kiến nghị thi hành pháp luật: Thông qua hoạt động TGPL, tổ chức

thực hiện TGPL kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật

1.3.3 Chia loại hình TGPL theo lĩnh vực hoạt động

Theo quy định tại Điều 5 Luật TGPL thì vụ việc TGPL không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại Theo đó, tổ chức thực hiện TGPL được cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến hầu hết các lĩnh vực pháp luật trừ loại

vụ việc thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại Theo quy định pháp luật hiện hành thì hoạt động TGPL được thực hiện vụ việc trong các lĩnh vực pháp luật sau:

- Loại hình TGPL theo lĩnh vực pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự

- Loại hình TGPL theo lĩnh vực pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự

- Loại hình TGPL theo lĩnh vực pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật về trẻ em

- Loại hình TGPL theo lĩnh vực pháp luật hành chính, khiếu nại, tố cáo

và tố tụng hành chính

- Loại hình TGPL theo lĩnh vực pháp luật đất đai, nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng

Trang 38

- Loại hình TGPL theo lĩnh vực pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm

- Loại hình TGPL theo lĩnh vực pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng và pháp luật về chính sách ưu đãi xã hội khác

- Loại hình TGPL theo lĩnh vực khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân

1.4 Tổ chức và hoạt động TGPL một số nước trên thế giới

1.4.1 Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL

Tổ chức và hoạt động TGPL ở nước ta được hình thành trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những thành tựu, kinh nghiệm của các nước trên thế giới và điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta Trên thế giới TGPL được đại đa số các nước áp dụng, đó là kết quả tất yếu của sự phát triển trong xã hội, là công cụ

để Nhà nước thực hiện nghĩa vụ đối với công dân của mình Tổ chức và hoạt

động TGPL trên thế giới rất phong phú và đa dạng tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi nước

Mô hình tổ chức TGPL là các thiết chế được lập ra để thực hiện việc TGPL cho những người thuộc diện được thụ hưởng loại hình dịch vụ này Các thiết chế đó có thể do Nhà nước hoặc do các tổ chức xã hội thành lập (trong

đó tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đóng vai trò nòng cốt hoặc quan trọng trong việc hình thành, tổ chức và hoạt động thiết chế TGPL do xã hội thành lập) Về mặt lý luận, có thể phân loại tương đối mô hình TGPL của các nước trên thế giới theo 03 loại mô hình sau: mô hình từ thiện; mô hình luật sư trợ giúp được trả lương từ ngân sách Nhà nước (luật sư nhà nước hoặc luật sư công); mô hình hỗn hợp

- Mô hình từ thiện được hình thành từ rất sớm vào giữa thế kỷ thứ XIX

ở Đức, Hà Lan, Anh và lan sang một số nước khác Trong mô hình này, hoạt

Trang 39

động TGPL mang tính tự phát, xuất phát từ ý chí của mỗi luật sư, do luật sư hành nghề tự do thực hiện trên cơ sở tự nguyện

Ưu điểm của mô hình này là dựa trên cơ sở tự nguyện của các luật sư; người được trợ giúp không phải đóng góp bất cứ khoản chi phí nào, Nhà nước cũng không cần đầu tư nguồn lực Tuy nhiên, các nhược điểm của việc áp dụng mô hình này là mang tính tự phát, không phải là quyền của công dân mà xuất phát từ ý chí của mỗi luật sư, do luật sư hành nghề tự do thực hiện trên

cơ sở tự nguyện, phụ thuộc vào hoạt động từ thiện của luật sư và các tổ chức

tư vấn, vì vậy không mang tính thường xuyên, liên tục, không giúp đỡ được nhiều người, không đáp ứng được tất cả các nhu cầu TGPL trong xã hội, chỉ được thực hiện khi có luật sư tình nguyện giúp đỡ miễn phí; phần lớn các vụ việc tư vấn đều do luật sư trẻ, luật sư tập sự, chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện Phạm vi, phương thức thực hiện trợ giúp hoàn toàn phụ thuộc vào vụ việc cụ thể, luật sư cụ thể mà không có sự ràng buộc của pháp luật, vì vậy người nhận trợ giúp không được chủ động trong các yêu cầu hay nói cách khác là bị phụ thuộc vào ý chí tự nguyện và điều kiện thực tế của luật sư Nhược điểm lớn nhất của mô hình này là việc kiểm soát chất lượng, bởi vì chất lượng dịch vụ hoàn toàn phó mặc do luật sư tư quyết định, đồng thời, khó khuyến khích luật sư tư tham gia TGPL

- Mô hình luật sư nhà nước (luật sư công): Mô hình luật sư TGPL được

Nhà nước tuyển dụng và trả lương hàng tháng từ ngân sách nhà nước Nhà nước tuyển dụng các luật sư làm việc thường xuyên cho tổ chức TGPL và trả lương cho họ theo tháng mà không trả theo vụ việc Trong mô hình này, hoạt động TGPL được thực hiện miễn phí, toàn bộ chi phí cho hoạt động TGPL do ngân sách nhà nước cấp, đối tượng TGPL không phải đóng góp một khoản tiền nào

Trang 40

Ưu điểm của mô hình này là tính chủ động của tổ chức TGPL được nâng cao, không bị động, phụ thuộc vào đội ngũ luật sư tư; chi phí vụ việc TGPL thấp hơn so với luật sư tư, do việc tính chi phí trên cơ sở mức lương cố định, mà không theo số lượng vụ việc hàng tháng Tuy nhiên, áp dụng mô hình này cũng có những nhược điểm là đương sự chỉ được lựa chọn trong số các luật sư công của tổ chức TGPL mà không được tự do lựa chọn luật sư tư Nguồn nhân lực và tài lực hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước, không khuyến khích được sự tham gia rộng rãi của xã hội, do vậy không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội

- Mô hình hỗn hợp: Mô hình hỗn hợp là mô hình hữu hiệu và phổ biến

nhất hiện nay vì nó giúp phát huy được các ưu điểm và khắc phục các nhược điểm từ hai mô hình trên Mô hình này là sự kết hợp giữa hoạt động TGPL do

tổ chức TGPL nhà nước (luật sư công) thực hiện và do tổ chức luật sư tư thực hiện được Nhà nước tài trợ hoặc do các luật sư tư thực hiện trên cơ sở tự nguyện mang tính từ thiện, nhưng được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện Mô hình này được áp dụng phổ biến ở các nước như Anh, Ailen, Úc, Thụy Điển, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia, Hungary, một số nước chuyển đổi từ mô hình thuê luật sư thực hiện TGPL theo vụ việc sang mô hình hỗn hợp trên cơ sở xây dựng đội ngũ luật sư nhà nước (luật sư công) thực hiện TGPL và sử dụng luật sư tư (Lít va từ năm 1999 đến nay, Nhật Bản từ năm

2012 đến nay và Nam Phi trong những năm trở lại đây) và một số nước khác

Theo mô hình này, cơ quan nhà nước đóng vai trò chủ đạo như là cơ quan trung gian giữa khách hàng (đối tượng được TGPL) và luật sư (công và tư); đối tượng lựa chọn luật sư theo nguyện vọng; được thu một phần chi phí của đối tượng, nghĩa là đối tượng phải nộp một phần chi phí tuỳ theo điều kiện hoàn cảnh khó khăn của đối tượng

Ngày đăng: 11/11/2015, 18:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012), Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 1/6/2012 về một số chính sách xã hội giai đoạn 2011- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 1/6/2012 về một số chính sách xã hội giai đoạn 2011- 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2012
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2013
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2013
4. Ban Chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2020 (2015), Báo cáo kết quả thực hiện công tác giảm nghèo năm 2014, phương hướng năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác giảm nghèo năm 2014, phương hướng năm 2015
Tác giả: Ban Chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2020
Năm: 2015
5. Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương (2014), Báo cáo tổng kết 08 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 08 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương
Năm: 2014
6. Bộ Tư pháp (2014), Báo cáo kết quả 02 năm triển khai thực hiện Chiến lược phát triển TGPL Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 02 năm triển khai thực hiện Chiến lược phát triển TGPL Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2014
7. Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo kết quả 05 năm triển khai Luật Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 05 năm triển khai Luật Luật sư
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
8. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
9. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
10. Bộ Chính trị (2011), Thông báo số 37-TB/TW ngày 26/52011 Kết luận về Đề án đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 37-TB/TW ngày 26/52011 Kết luận về Đề án đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2011
12. Bộ Tư pháp (2013), Thông tư só 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư só 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
13. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo kết quả 05 năm triển khai thi hành Luật TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 05 năm triển khai thi hành Luật TGPL
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
14. Chính phủ (2007), Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TGPL
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
15. Chính phủ (2011), Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
16. Chính phủ (2008), Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
17. Chính phủ (2008), Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 về tư vấn pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 về tư vấn pháp luật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
18. Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
19. Chính phủ (2014), Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
20. Chính phủ (2013), Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/1/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật TGPL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/1/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật TGPL
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
55. Website: http://www.trogiupphaply.gov.vn; http://www.moj.gov.vn; http://www.quochoi.vn; http://www.chinhphu.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w