trình bày về giải pháp kiến trúc, quy hoạch, quản lý đô thi, thoát nước thực hiện cải tạo môi trường
Trang 1Đô thị đợc xem là một cơ thể sống động, nhất là ở một nớc phát triễn nh nớc
ta Sự tăng trởng đi đôi với sự đòi hỏi tiện nghi và khi nền văn minh đã đợc giao
l-u trên toàn cầl-u thì nhl-u cầl-u của ngời dân đô thị không dừng lại ở sự hợp lý vềcông năng mà còn phải thỏa mãn yếu tố thẩm mỹ ngày càng cao
Một đô thị đợc hình thành không chỉ thỏa mãn một thế hệ mà phải phục vụ
từ thế hệ này sang thế hệ khác Vì vậy, vấn đề tổ chức qui hoạch, xây dựng, quản
lý môi trờng cảnh quan tiện nghi và thẩm mỹ không chỉ xem xét đến những việclàm hiện tại mà phải tận dụng tối đa cái tốt hiện có để phát triễn trong tơng lai.Chúng ta phải biết sẵn sàng hi sinh, bỏ qua những cái lợi nhỏ nhặt trớc mắt đểnghĩ xa hơn về những điều tốt đẹp trong tơng lai
Quá trình công nghiệp hóa và Đô thị hóa là xu thế tất yếu của thời đại Đikèm với nó là những tác động tiêu cực đến môi trờng sinh thái và cảnh quan đôthị nếu chúng ta không biết giữ gìn
Trong những năm qua, Hà Nội với vai trò và vị trí là thủ đô của cả nớc đã
đạt đợc những thành tựu đáng kể về kinh tế xã hội Nền kinh tế Hà Nội tăng trởngvới nhịp độ nhanh cha từng thấy, tỉ lệ tăng trởng tổng sản lợng theo khu vực(RGDP) đạt 11,8% mỗi năm Về khía cạnh phát triễn công nghiệp, Hà Nội là mộttrong những tỉnh thành có mức công nghiệp hóa cao nhất, chiếm 85% tổng sảnphẩm công nghiệp của cả nớc.trong khi dân số chỉ chiếm 3% Sự phát triễn nhanhchóng về kinh tế và công nghiệp đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa ra các vùngngoại thành Hà Nội và quá trình hiện đại hóa mạng lới đờng bộ, các khu nhà ởmới…
Qui hoạch tổng thể 2020 do UBND thành phố Hà Nội xây dựng dự báo tổngdân số Hà Nội sẽ là 1,7 triệu năm 2005 và tăng lên 2,5 triệu năm 2020 Sự tăng tr-ởng về kinh tế trong điệu kiện còn thiếu các trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở hạ tầng
cũ kỷ, quản lý kém, thiếu các biện pháp xử lý vi phạm về ô nhiễm đang gây nên
sự xuống cấp nghiêm trọng môi trờng trong thành phố Hà Nội với lịch sử hìnhthành và phát triễn mang nhiều đặc trng của một miền sông nớc tất yếu sẽ mangnhiều “thơng tích” do ô nhiễm môi trờng mang lại Từ ô nhiễm nguồn nớc, khôngkhí, tiếng ồn… đang làm mất dần hình ảnh về một thủ đô thơ mộng Vì lẽ đó, cảitạo nâng cao chất lợng môi trờng, cảnh quan đô thị càng trở nên cấp bách
Trang 2Vì thế, năm 1992, chính phủ Việt Nam đã đề nghị chính phủ Nhật Bản hỗtrợ về kỹ thuật để thực hiện nghiên cứu “Qui hoạch tổng thể hệ thống thoát nớc
và xử lý nớc thải Thành Phố Hà Nội” Theo đó, Cơ quan hợp tác Quốc Tế NhậtBản (JICA) đã tiến hành thực hiện dự án nghiên cứu này
Trong dự án đã nhấn mạnh vai trò của sông hồ để điều hoà lu lợng và thoátnớc Hệ thống thoát nớc là tổ hợp những công trình thiết bị và các giải pháp kỹthuật đợc tổ chức để thực hiện nhiệm vụ thoát nớc Muốn hệ thống hoạt động hiệuquả thì không chỉ sông hồ mà các cống rãnh, kênh mơng cũng cần nghiên cứu cảitạo
Quan niệm sống ngời Việt Nam luôn muốn gần gũi với thiên nhiên, lu giữnhững giá trị bản sắc cổ xa nên vấn đề cải tạo kênh mơng theo hớng cống hoá vàgiữ làm cảnh quan cần phải nghiên cứu thật kĩ lỡng để không mất đi những gì màthiên nhiên đã u đãi tạo ra cho chúng ta nhng vẫn phù hợp với Qui hoạch thoát n-ớc
B Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng hệ thống kênh mơng
Cơ sở khoa học để đánh giá vai trò và khả năng sử dụng cảnh quankhông gian của kênh mơng
Đề xuất một số giải pháp kiến trúc, qui hoạch, quản lý đô thị, thoát
n-ớc để thực hiện cải tạo cảnh quan và giảm bớt ảnh hởng ô nhiễm môi trờng
C Giới hạn của đề tài :
Giới hạn về không gian : phạm vi nghiên cứu của đề tài nằm trong địa bàncủa dự án “ Qui hoạch tổng thể thoát nớc thành phố Hà Nội” do UBND thành phố
Hà Nội cùng Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đề xuất Nội dung nghiêncứu của đề tài có thể xem nh phần bổ sung của dự án về vấn đề cảnh quan kênhmơng
Giới hạn về thời gian : đề tài nghiên cứu cho giai đoạn 2005-2020
Giới hạn về đối tợng : vấn đề ô nhiễm môi trờng nớc ở hệ thống kênh mơng
Hà Nội và giải pháp cho quận Đống Đa
Trang 3Phần nội dung nghiên cứuChơng 1: tổng quan về lịch sử cảnh quan sinh thái
mặt nớc và hiện trạng hệ thống kênh mơng Hà Nội
1.1 Hệ thống sông hồ mặt n ớc và cảnh quan Hà Nội qua các thời kì
1.1.1 Từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIX (thời kì phong kiến)
A Thăng Long thời Lý (1009-1225), Trần (1226-1400), Hồ (1400-1407)
Trớc ngày xây dựng Kinh thành Thăng Long, miền Hà Nội là nơi tập trungdân c đông đúc, buôn bán thịnh vợng mặc dù không phải là kinh đô của các triều
đại trớc (Ngô, Đinh, Tiền Lê) Chính nhờ những điều kiện kinh tế xã hội sẵn có
mà khi dời đô tới, Lý Thái Tổ chỉ phải lo xây dựng Hoàng thành còn những khudân c vốn có không phải xây dựng gì nhiều Khi mới xây dựng Kinh thành ThăngLong chia làm 2 phần : Hoàng thành và Kinh thành Một vòng thành ngoài cùngbao bọc toàn bộ khu vực thành và thị gọi là thành Đại La tức Thăng Long ngoạithành Vòng ngoài này đắp bằng đất với chức năng vừa phòng vệ vừa ngăn ngừa
lũ lụt Mặt Đông, thành chạy dọc theo hữu ngạn sông Hồng nh một đoạn đê củasông này, mặt Bắc dựa theo sông Tô Lịch từ phía nam hồ Tây cho đến Yên TháI(đờng Hoàng Hoa Thám ngỳa nay), mặt Tây theo tả ngạn sông Tô Lịch từ YênThái đến Ô Cầu Giấy và mặt Nam theo sông Kim Ngu đến Giảng Võ, Ô ChợDừa, Ô Cầu Dền nối với đê sông Hồng Nh vậy tổng thể thành Đại La dợc giớihạn khá rõ rệt bằng ba con sông : sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Kim Ng u.Trong qui hoạch tự nhiên, thành cũng là đê, sông cũng là hào
Phía ngoài bốn cửa thành là chợ, lớn nhất là chợ Đông (cửa sông Tô Lịch) vàchợ Tây, là nơI trao đổi trực tiếp giữa bộ phận thành và bộ phận thị, cũng là nơItập trung những hoạt động buôn bán của Kinh thành Khu vực Đông Bắc lấy sôngTô Lịch và sông Nhị làm giới hạn, là trung tâm thơng nghiệp lớn nhất của Thăng
Trang 4Long khi đó Ơ đây tập trung khá nhiều phố phờng – chợ bến, trung tâm là ờng Hà Khẩu, chợ Đông, bến cảng cửa sông Tô và ngợc lên phía trên, bến cảngTriều Đông (dốc Hoè Nhai) Phố phờng, chợ bến tấp nập tạo nên cảnh trên bến d-
ph-ới thuyền của một khu buôn bán tấp nập
Nội thành, Tô Lịch, Kim Ngu uốn khúc, nối liền với hồ Gơm và hồ Bảy Mẫu.Thuyền mành san sát, đỗ vào tận bến Giang Tân ở mạn Nghĩa Đô, Yên Thái, nơiTô Lịch nhận thêm nớc của sông Thiên Phù từ sông Nhị chảy vào, len lỏi qualàng La (Xuân La) nổi tiếng trồng da Đời Lý Nhân Tông, sông Thiên Phù bị lấp,sông Tô Lịch bị cát bồi nhiều, song nhà Lý vẫn rất cố gắn nạo vét sông Tô làmtrục giao thông thủy của Kinh thành, ven sông Tô Lịch mọc lên những vờn câytrĩu quả ở các cửa ô : bởi, dừa, mơ, nhãn …
Năm nhịp cầu bắc ngang sông Tô, thắng cảnh Thăng Long : cầu Đuống xây
đá (hàng Đờng), cầu gỗ Thái Hoà (mé dới nhà máy bia), cầu Cau (Thuỵ Khuê),cầu Tây Dơng (cầu Giấy), cầu Dừa (ô chợ Dừa) Thân cau, thân dừa hoà với gỗ,
đá, than, gạch nhói trong tay ngời Thăng Long đều là vật liệu xây dựng đẹp bền,
đa dạng về kiểu dáng … Và còn cầu Yên Quyết (cống Cót), cầu Nhân Mục (cốngMọc) … miền ven nội
Kinh thành Thăng Long có nhiều cảnh trí thiên nhiên rất đẹp, lại dợc bàn taynhân dân các thời tô điểm ngày càng phong phú Kinh thành có sông Hồng, sôngNhuệ bao bọc và có sông Tô Lịch chảy qua, ngoài ra còn có nhiều hồ lớn nh hồDâm Đàm (hồ Tây), hồ Lục Thuỷ (hồ Hoàn Kiếm), Thái Hồ… những sông hồ
ấy một mặt giúp cho kinh thành thoáng đãng êm dịu, mặt khác còn tạo ra nhữngnơi du lịch, giải trí, nghỉ ngơi tại những thăng cảnh đó
Trang 5H×nh 1.1 : thµnh th¨ng long 1490
B Th¨ng Long thêi Lª (1428-1527), M¹c (1527-1592), TrÞnh (1593-1787), T©y S¬n (1788-1802)
Trang 6Sau khi chiến thắng quân Minh, Lê Lợi và các đời vua sau đều đóng đô ở kinhthành Thăng Long Kinh thành Thăng Long trong thời nhà Hồ gọi là Đông Đô,khi quân Minh chiếm đóng thành bị đổi tên thành Đông Quan Năm 1428, saukhi lên ngôi Vua, Lê Lợi lập lại tên Đông Đô, nhng đến cuối năm 1430 thì gọi là
Đông Kinh Tuy nhiên tên Thăng Long vẫn thông dụng đến cuối thế kỷ XIX trớckhi chuyển thành Hà Nội Căn cứ vào bản đồ Hồng Đức năm 1490, thì Hoàngthành thời Lê bao gồm cả khu vực Hoàng thành Thăng Long thời Lý-Trần và khuvực tỉnh Hà Nội vào thời Nguyễn sau này, nghĩa là rộng hơn so với Hoàng thànhthời Lý-Trần và tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn Nhng những bản đồ này đợc vẽtheo kiểu ớc lệ nên các vị trí cha xác định chính xác trên bản đồ thời nay
Sự bố trí trong kinh thành Thăng Long từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIIkhông khác gì so với kinh thành Thăng Long thời Lý-Trần Khu phía Nam kinhthành vẫn là nơi binh sĩ ở Nhân dân ở khu vực các phờng dân c ngoài Hoàngthành không ngừng phát triễn Năm 1466, vùng kinh s đặt thành phủ Trung Đô(đổi thành phủ Phụng Thiên 1496) gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xơng.Khu dân c của hai huyện chia thành 36 phờng, nguồn gốc 36 phờng Thăng Longbắt nguồn từ đó
Năm 1588, nhà Mạc (Mạc Hậu Hợp) huy động quân dân bốn trấn vùng đồngbằng đắp thêm ba lần luỹ ngoài thành Đại La, đa toàn bộ khu hồ Tây vào phạm vithành Thăng Long Có thể coi công việc xây dựng của Mạc Hậu Hợp đã ấn định
vị trí và diện mạo của hoàng thành Thăng Long suốt từ cuối thế kỷ XVI cho đếncuối thế kỷ XVIII
Năm 1592, quân Trịnh sau khi đánh bại quân Mạc đã phá huỷ toàn bộ thànhluỹ phòng vệ của nhà Mạc, trong thời gian dài kinh thành Thăng Long không cóvòng thành ngoài
Sau khi thống nhất đất nớc, chấm dứt thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh,Nguyễn Huệ và vơng triều Tây Sơn đóng đô ở thành Qui Nhơn, bắt đầu một giai
đoạn đổi mới của đô thị Thăng Long từ vị trí Kinh thành trở thành trấn thành
C Thăng Long thời Nguyễn (thế kỷ XIX)
Sau khi Tây Sơn thất bại hoàn toàn 1802, nhà Nguyễn định đô ở Huế và thànhThăng Long tiếp tục sự chuyển đổi của mình từ kinh thành trong 800 năm thànhTrấn thành rồi dần trở thành tỉnh thành
Khu vực phía Bắc hồ Hoàn Kiếm ngày nay (thờng gọi là khu phố cổ 36 phốphờng) đã đợc hình thành chủ yếu trong thời kỳ nàyvà đến nay trở thành một bộ
Trang 7phận quan trọng trong di sản kiến trúc đô thị của thủ đô và cũng là một trongnhững nét hấp dẫn của khách đến thăm thủ đô mà các nơi khác không có đ ợc Ơ
đây ngời ta thấy có sự hoà trộn của những yếu tố kinh tế, chính trị, xã hộicủa mộtnông thôn và của một thành thị, những dấu tích văn hoá,lịch sử gợi lại một thời
kỳ phát triễn đô thị lâu dài Nhiều lớp nhà lô nhô bám theo một hệ thống đờngnhỏ hẹp, nhiều chỗ quanh co đã cấu tạo nên một dạng cấu trúc đô thị khá đặc biệt
và gây nhiều ấn tợng
D Đặc điểm cấu trúc không gian đô thị Thăng Long thời kỳ phong kiến
Trong sự hình thành nên không gian đô thị, yếu tố địa hình, địa thế có vai tròquan trọng hàng đầu Điều này đợc coi là chân lý nên trong các “luận chứng kinh
tế kỹ thuật phát triễn đô thị” chúng cũng thờng đợc coi là những căn cứ đầu tiênlàm chổ dựa cho việc nghiên cứu Chân lý ấy không phải đến ngày nay mới nhậnthức đợc mà ngay từ thời Vua Lý Công Uẩn đi tìm đất định đô đã chọn nơi “tiệnhình thế núi sông” có “địa thế rộng rãi mà bằng phẳng, đất đai cao ráo mà sángsủa …”
Một cách khái quát có thể xem cấu trúc không gian đô thị Thăng Long-HàNội thời phong kiến gồm những yếu tố qui hoạch
1) Khu hành chính-chính trị-quân sự : đây chính là phần đô của trung
tâm đô thị này mặc dù nơi này đã có ít nhiều dân c sinh sống (làng Hà Nội cổ).Toàn bộ khu này đợc bao bọc bởi tờng thành với cấu trúc “ thâm nghiêm, kínhcổng cao tờng ”
Khu c trú, thủ công và thơng nghiệp : chủ yếu ở vùng phía Bắc Hà Nội ngàynay, nơi có sông Tô Lịch chảy qua nối liền phía Nam hồ Tây và ăn thông vớisông Hồng (phố Chợ Gạo, Hàng Buồm ngày nay) Đó là những làng xóm nôngnghiệp ở hai bờ sông Tô Lịch, những làng nghề thủ công ở Nam hồ Tây, nhữngxóm chợ buôn bán ở ven sông Hồng nhất là nơi cửa sông Tô chảy vào sông Hồng(phờng Hà Khẩu) Đó là vùng Kẻ Bởi với những làng thủ công làm giấy, dệt vải,lụa … là vùng ven hồ Tây dệt vải, trồng hoa (làng Nghi Tàm)
Cả vùng đất ở mặt Đông, Đông-Bắc và sau đó lan xuống Đông Nam củaHoàng Thành Thăng Long trải dài ra tới sông Hồnglà nơi hình thành nên khu KẻChợ, khu thị dân của Thăng Long “ 36 phố phờng”, khu c trú với những hoạt
động thủ công và thơng nghiệp đặc sắc
2) Khu c trú nông nghiệp: đây là một nét đặc biệt của đô thị Việt Nam nói
chung Nó khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa đô thị và nông thôn, “ trongthị có thôn, trong thôn có thị” Nếu ở đoạn sông Tô phía Bắc là những làng thủcông thì gần với đoạn sông Tô ở phía Tây, sông Kim Ngu ở phía Nam đã hìnhthành khu dân c nông nghiệp, khu “thập tam trại” phía Tây kinh thành về sau là
Trang 8các làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Liễu Giai, Đại Yên, Thủ Lệ … là một khu kinh tếnông nghiệp ở Thăng Long.
3) Khu văn hoá, giáo dục và sinh hoạt công cộng : Tiêu biểu là quần thể
Văn Miếu-Quốc tử giám, bên cạnh đó là các trờng dân lập xen lẫn giữa các khudân c đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí Các sinh hoạt văn hoá mà phầnnhiều là lễ hội diễn ra tại nhiều nơi công cộng nh bên bờ sông Hồng, sông Tô, hồTây, hồ Hoàn Kiếm … tại các đình chùa …
4) Giao thông: chủ yếu giao thông đối ngoại của kinh thành Thăng Long là
giao thông đờng thuỷ qua hai con sông Hồng và sông Tô Lịch Giao thông đối nội
là đờng đất đợc lát gạch ở giữa để chống lầy, đờng xá đợc tổ chức qui cũ hơn
Hình 1.2 Hà Nội – 1831 (thời nguyễn)
Đánh giá về vai trò của các dòng sông thời kỳ Phong Kiến
Trang 91) Nét địa lý trờng tồn của Thăng Long nghìn xa và Hà Nội ngày nay, đó là
đặc trng của thành phố sông ngòi: thành phố ngã ba sông, nếu lấy cả hai dòngNhị Hà- Tô Lịch làm hệ qui chiếu, làm trục chủ đạo; thành phố một bờ sông (bờphải), nếu chỉ lấy sông Nhị làm trục chính Bên cạnh đó, do sự chuyển dòng củasông Hồng cho nên đất Hà Nội là đất bãi do phù sa cá dòng sông bồi đắp và địahình địa mạo vùng Hà Nội có nhiều sông hồ
2) Hà Nội nội thành, bên hồ Tây,có dòng ông Tô Lịch, lại có rất nhiều đầm
hồ Xem trên các bản đồ từ thời xa cho đến giữa thế kỷ này, ta thấy lãnh thổ HàNội là một vùng đầm lầy, một thành phố sông hồ, nửa đất nửa nớc Qui hoạch HàNội cổ là nơng theo và thích ứng đến mức tối đa các hình thể tự nhiên sông hồ đó.Phần lãnh thổ chủ yếu của Thăng Long-Hà Nội xa là phần đất bồi, đợc bao bọcbởi sông Hồng ở phía bắc và phía đông, bởi sông Tô Lịch và sông Kim Ng u ởphía tây và phía nam Lũy bọc ngoài là đê mà cũng là thành đất, là đờng giaothông (đê La Thành) Sông hồ là nguồn nớc mặt dùng trong sinh hoạt mà cũngdùng trong hệ thống thủy lợi và giao thông truyền thống Sông hồ cũng là những
điều kiện địa lý đợc dùng làm nguyên lý sơ khởi chỉ đạo việc qui tụ xóm làng, ờng phố và thành lũy phòng vệ (sử dụng những đoạn sông Hồng, sông Tô Lịchlàm ngoại hào) Nhị Hà,Tô Lịch, Kim Ngulà những trục chủ đạo, hồ Tây, hồ G-
ph-ơm là những điểm trung tâm, từ đó tỏa ra “phố giăng mắc cữi, đờng quanh bàncờ”
3) Tóm lại, từ buổi đầu những dòng sông vừa là trục giao thông, trục quihoạch vừa là thành lũy thiên nhiên bảo vệ Thăng Long-Hà Nội Dòng nớc của cáccon sông đó vừa là nguồn nớc sinh hoạt vừa là nguồn nớc tới cho đồng ruộng,
đồng thời cũng mang phù sa bồi đắp dần lên thành bãi, thành làng Dòng sôngmang lại nguồn lợi kinh tế, lắm cá tôm, hai bên bờ là những làng mạc, vờn cây, v-
ờn rau xanh tốt Đôi bờ sông Tô Lịch còn là nơi hội tụ mua bán sầm uất, là nơi hòhẹn, nơi diễn ra những hoạt động văn hóa cộng đồng …
1.1.2 Từ giữa thế kỷ XIX đến 1945 (thời kỳ Pháp thuộc)
A Giai đoạn bình định và bắt đầu khai thác thuộc địa (1878-1885)
Sau khi chiếm đóng Hà Nội (1883), chính quyền thực dân cùng với kế hoạchbình định và khai thác thuộc địa, đã áp dụng các biện pháp về khai thác và quihoạch khác nhau Với các mục tiêu đó ngay từ đầu thực dân Pháp đã chiếm đónghoàng thành Hà Nội, nhanh chóng phá hủy toàn bộ hệ thống tờng thànhcùng cáckiến trúc truyền thống của một nền hành chính phong kiến Việt Nam Trong khi
đó vẫn giữ nguyên khu vực kinh thành 36 phố phờng, một trung tâm buôn bánsầm uất đơng thời để khai thác nguồn lợi kinh tế qua hệ thống thuế, đồng thờiủng hộ việc xây dựng nhà thờ và các trờng dòng Toàn bộ các công trình kiến trúc
Trang 10mà Pháp đã xây dựng ở Hà Nội giai đoạn đầu đều mang tính thực dụng, dựa trêntinh thần của chủ nghĩa công năng, đơn giản trong kiến trúc.
B Giai đoạn đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần 1(1885-1920)
Từ 1885 đến 1920 là giai đoạn đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa lầnthứ nhất Đây là thời kỳ mà Pháp bình định đợc Việt Nam Các công trình xâydựng ở giai đoạn đầu đợc coi là những hạt nhân để phát triễn ra xung quanh Hệthống đờng phố rộng rãi đợc xây dựng qui hoạch theo ô bàn cờ, có trang bị hệthống kỹ thuật hạ tầng theo kiểu phơng Tây, cùng với việc đa vào sử dụng nhữngphơng tiện giao thông cơ giới đầu tiên, là những yếu tố cơ bản thúc đẩy quá trìnhphát triễn, mở rộng thành phố Cùng với thời gian, trong cấu trúc đô thị Hà Nội
đã dần hình thành những khu chức năng riêng biệt Khu thơng nghiệp, dịch vụtrung tâm trên trục đờng Tràn Tiền-Hàng Khay, khu hành chính, chính trị ở phía
Đông hồ Hoàn Kiếm và các khu vực kho tàng, nhà máy rải rác trong thành phố.Khu 36 phố phòng vẫn là khu thơng mại dịch vụ truyền thống Năm 1889, thựcdân Pháp đã lấp nhánh sông Tô từ chỗ cửa sông Hồng (Hà Khẩu) qua Hàng Cá,Hàng Lợc tới Thụy Khuê lập ra các phố Nguyễn Siêu, Ngõ Gạch, Hàng Cá, HàngLợc
C Giai đoạn đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần 2 (1920-1945)
Trong những năm từ 1920 đến 1945 thực dân Pháp tiến hành chơng trình khaithác thuộc địa lần thứ hai với nhịp điệu và qui mô lớn hơn Trong bối cảnh ấy, cáchoạt động xây dựng và qui hoạch thành phố Hà Nội có điều kiện phát triễn mạnhhơn so với các thời kỳ trớcvới nhiều loại hình và phong cách kiến trúc khác nhau.Căn cứ trên các đặc điẻm kiến trúc và qui hoạch thì khu phố Pháp ở Hà Nội đ ợcxây dựng trong 80 năm đã có sự hoàn chỉnh theo phơng pháp qui hoạch phơngTây Về phong cách kiến trúc đã có sự vận dụng linh hoạt từ kiến trúc thuần túyPháp đến các phong cách kiến trúc kết hợp khai thác các đặc điểm của kiến trúctruyền thống Việt Nam và thích nghi với điều kiện khí hậu địa phơng Khu phốPháp cùng với thời gian đã trở thành một quĩ đô thị đáng kể và có những giá trịnhất định góp phần tạo nên nét hấp dẫn của Hà Nội Đó là sự kết hợp hài hòa giữacông trình và khung cảnh thiên nhiên nhiệt đới, thông qua tỉ lệ công trình kiếntrúc vừa phải và sự chú ý đến cây xanh, cũng nh việc tạo nên một số trục chính cócông trình trọng điểm áng ngữ với vai trò là điểm nhấn, không gian và mặt nớc
hồ Hoàn Kiếm cũng đã đợc khai thác và tạo nét riêng cho Hà Nội
D Cấu trúc không gian đô thị Thăng Long- Hà Nội thời Pháp thuộc
Trang 11Cấu trúc đô thị mới đợc hình thành vào thời kỳ này (đầu thế kỷ XX) có thểnhận biết rõ ràng trên bản đồ không gian đô thị Hà Nội và đợc đặc trng bởi cácyếu tố sau :
1) Một hệ thống đờng phố kiểu bàn cờ, khác với hệ thống đờng trong khu phố
cổ “ 36 phố phờng” ít nhiều mang tính chất tự phát với những lối đi nhỏ hẹp, ítnhiều quanh co, chỗ rộng chỗ hẹp không thông nhất… Mạng lới đờng phố đợcphát triễn về phía Nam hồ Gơm, đợc hoạch định trớc với những tuyến thẳng kẻ ôvới những đờng song song và vuông góc nhau tạo thành những khu đất xây dựngtơng đối vuông vắn
2) Một phong cách kiến trúc vốn chỉ thịnh hành ở châu Âu thời đó : kiến trúcPhục Hng, cổ điển Pháp, Gô Tích, Rômăng … đợc thể hiện trên một loạt kiếntrúc công cộng từ kiến trúc hành chính (phủ Toàn Quyền, dinh Thống sứ, tòa ántối cao …), kiến trúc văn hóa (nhà hát, bảo tàng, trờng đại học …), các kiến trúccông cộng khác (bu điện, bệnh viện, ngân hàng …) cho tới nhà ở (các loại biệtthự Pháp)
3) Một hệ thống không gian mở gồm các quãng trờng, các vờn cây, hồ nớc
… liên hoàn với hệ thống không gian lu thông (các đại lộ), có ý nghĩa đáng kểtrong việc tạo nên cảnh quan đô thị có tầm nhìn rộng, đồng thời tăng thêm khảnăng thông thoáng của môi trờng đô thị
Trang 12H×nh 1.3 : hoµng thµnh vµ kinh thµnh th¨ng long -1883
Trang 13Hình 1.4: bản đồ thăng long- Hà Nội 1890
Trang 14Hình 1.5 : bản đồ Hà Nội - 1925
1.1.3 Từ 1945 đến nay (thời kỳ Cách mạng XHCN)
A Từ 1945 đến 1975 (thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc)
Trang 15Sau Cách mạng tháng 8 thành công, công việc nặng nề trớc mắt của toàn dântộc là kháng chiến chống thù trong giặc ngoài Cả Hà Nội sục sôi trong nhữngngày đầu kháng chiến, ngày 10-10-1954 thủ đô đợc giải phóng tng bừng đón Bác
Hồ cùng Chính phủ về Hà Nội Sau những năm đầu khôi phục và xây dựng, tháng9-1959, Bộ Chính trị Trung ơng Đảng đã ra nghị quyết về qui hoạch cải tạo và mởrộng thành phố Hà Nội, qui định Hà Nội phải có bộ mặt xứng đáng, ph ơng châmcải tạo và mở rộng thành phố phải phục vụ nhiệm vụ trung tâm chính trị, văn hóacủa cả nớc, phục vụ công nghiệp, sản xuất và đời sống nhân dân lao động Do yêucầu đó, địa giới của Hà Nội đã đợc mở rộng, diện tích Hà Nội cũ (năm 1954) là1200ha, đến năm 1959 đã mở rộng tới 2000ha, và dân số Hà Nội năm 1960 là
638000 ngời Về mặt hành chính, Hà Nội gồm 4 khu : khu Ba Đình, khu ĐồngXuân (về sau thuộc quận Hoàn Kiếm), khu Hoàn Kiếm và khu Hàng Cỏ (phần đấtphía Tây Bắc Hà Nội bao gồm 6 xã:Thụy Phơng,Phú Thợng, Từ Châu,Xuân La,Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế; Quận VI ở phía Tây và Tây Nam bao gồm 5 xã : Hòa Bình, Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa, Trung Hòa, Mễ Trì Quận VII ở phía ĐôngNam bao gồm 6 xã : Ngọc Thụy, Thợng Thanh, Việt Hng, Tiến Bộ, Hồng Tiến,Gia Lâm (đều ở bờ Bắc sông Hồng)
Bộ mặt đô thị đã từng bớc đợc đổi mới với những khu sản xuất công nghiệp,những khu lao động ít nhiều khang trang, một số công trình phúc lợi công cộng,cây xanh, đờng xá điện nớc … Công tác qui hoạch đã có những bớc đi ban đầu
đáng khích lệ, một đồ án kiến trúc qui hoạch xây dựng thủ đô đ ợc vạch ra với sựgiúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô nhằm xác định phơng hớng phát triễn cho
Hà Nội Dựa trên qui hoạch đó mà nhiều khu xây dựng mới đã đợc hình thành,nhiều tuyến đờng đã đợc mở rộng hoặc làm mới Các khu công nghiệp nh Thợng
Đình, Minh Khai … các khu nhà ở Nguyễn Công Trứ, Kim Liên … các khu côngviên, các công trình công cộng đều đã đợc xác định dựa trên qui hoạch này
B Từ 1975 đến 1990 (thời kỳ khôi phục và chuyển đổi cơ cấu kinh tế)
Nhìn chung thời kỳ này công cuộc xây dựng thủ đô tuy đã có những bớc pháttriễn nhng là một thời kỳ đầy khó khăn do phải khắc phục những hậu quả do chiếntranh để lại hết sức to lớn mà nhân dân ta phảI tốn nhiều công sức để hàn gắn
Mặc dù vậy không gian đô thị đã đợc mở rộng đáng kể nhờ việc phát triễnnhững khu ở mới (cao tầng và thấp tầng) ở bên trong và ở cả vùng ven nội, pháttriễn các tuyến đờng giao thông (đờng tia và đờng nan quạt), bổ sung nhiều côngtrình công cộng, công trình công nghiệp cũng nh các khu cây xanh … có thể coi
Hà Nội lúc này đã có những bớc tiến bộ quan trọng trong việc cụ thể hóa định
Trang 16h-ớng phát triễn không gian đô thị theo qui hoạch tổng thể xây dựng thủ đô đã đợcnghiên cứu từ nhiều năm trớc.
Trong thời kỳ này, các dòng sông, kênh mơng nội thành dờng nh bị quên lãngtrớc những lo toan khác của thành phố Hầu nh tất cả các dòng sông đều trở thànhnơi chứa đủ mọi loại chất thảI của tất cả các loại hoạt động sinh ra và bị biếnthành mơng rãnh, bị lấn chiếm dòng chảy …
C Từ 1990 đến nay (thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế)
Quá trình đô thị hóa của Hà Nội vào thời kỳ này diễn ra trong khung cảnh kinh tếxã hội diễn ra đầy biến động ở trong nớc cũng nh trên thế giới Sự chuyển hóa từ mộtnền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế đa dạng nhiều thành phầnvới những tác động rõ rệt của “thị trờng tự do”, chẳng những có tác động mạnh mẽ
đến đời sống kinh tế xã hội mà còn để lại nhiều dấu ấn rõ trên bộ mặt kiến trúc đôthị Cha bao giờ bộ mặt kiến trúc đô thị Hà Nội biến đổi nhanh đến thế, một sự biến
đổi đem lại nhiều điều phấn khởi lẫn nổi lo âu
Sự bung ra của việc xây dựng nhà ở t nhân đã là mối đe dọa trớc tiên cho cảnhquan đô thị ở những khu phố cổ, một cảnh quan đô thị độc đáo và một di sản quígiá Di sản đó lu giữ bên trong những truyền thống về cách ăn ở và sinh hoạt vănhóa, cách thức cấu tạo không gian kiến trúc, nghệ thuật tạo cảnh với những sântrong, những bể nớc, hoa lá và chim muông Qua nhiều năm của nền kinh tế baocấp, di sản ấy không đợc tu bổ gì thêm mà trái lại bị áp lực của sự tăng dân sốlàm cho tàn tạ đi nhiều Tuy thế sự tàn tạ ấy không nguy hại bằng sự vô ý thức vềbảo tồn di sản Khá nhiều nhà cũ này đã đợc thay bằng nhà mới, khang trang vàhiện đại hơn nhng hình ảnh ấm cúng, gần gũi của kiến trúc đô thị truyền thống đã
bị phá vỡ
Làng cũ biến dạng và xuất hiện “làng mới” Quá trình phát triễn của ThăngLong-Hà Nội cũng là quá trình lùi dần của làng truyền thống, trong quá trình lùidần ấy, dấu tích của các cộng đồng c dân nông thôn thờng đợc bảo lu, để lại cho
Hà Nội ngày nay nhiều kỷ vật có giá trị, đó là những đình chùa, đền miếu, nhàthờ họ, nhà văn chỉ … rải rác trong nội thành hiện nay và là một trong những nét
đặc sắc của đô thị cổ kính này
Các làng ở xung quanh vùng ven nội là nơI diễn ra những biến động rõ nétnhất, trớc tiên là đất ruộng của làng phải nhờng chổ cho sự phát triễn những khu ởmới của đô thị, các làng Kim Liên, Khơng Thợng, Quỳnh Lôi, Giảng Võ, ThànhCông, Nghĩa Đô … đều đã nằm trong tình hình nh vậy Mất đi đất canh tác, đơngnhiên các làng phải chuyển hớng sản xuất sang các ngành nghề khác, thủ công,
Trang 17thơng nghiệp, công nghiệp của đô thị và cũng có một số lao động chuyển đi cácvùng kinh tế mới Từ đó một sự biến động lớn hơn nữa đã diễn ra trên phần thổ ccủa những làng này,đặc biệt là từ sau khi phát triễn nền kinh tế thị trờng Tạinhững làng nghề truyền thống đặc biệt là những làng trồng hoa nh Ngọc Hà, LiễuGiai, Nghi Tàm, Quảng Bá … thì sự biến dạng ấy là một sự mất mát đáng tiếc đốivới đô thị Đặc biệt là sự biến đổi cấu trúc không gian đó cùng với sự tập trungdân c đã gia tăng sức ép ô nhiễm lên hệ thống sông hồ, kênh mơng vốn đã quá tải
và ít đợc quan tâm Các dòng sông không còn đợc xem là trục qui hoạch nữa màngời ta chú ý nhiều hơn đến sự phát triễn thành phố ra vùng ngoại ô
Nhiều làng truyền thống mất đi, có lẽ để bù lại Hà Nội đã có một số làng mới,tuy khái niệm làng ở đây không còn giống nh trớc, đó là các làng nh : làng SOSdành cho trẻ em mồ côi, làng trẻ em Birla, làng kiến trúc Việt-Nhật, làng kiếntrúc phong cảnh, khách sạn Phơng Đông (một loại làng du lịch) và tiến tới có thể
có làng văn hóa các dân tộc hoặc làng Olympic dành cho các vận động viên.Những khu xây dựng này tuy không quan hệ gì với sản xuất nông nghiệp nhngvẫn đợc gọi là làng, có lẽ là để nói lên một đặc trng của qui hoạch có đôi nét gầngũi với làng truyền thống, đó là một tổng thể với các khối kiến trúc không lớn, cónhiều đất trồng cây và cộng đồng trong đó ít nhiều có sự gắn bó với nhau trongmột ý tởng chung nào đó, một lề lối sinh hoạt nào đó và nhìn tổng quát thì nó gợisuy nghĩ, gợi hình ảnhvề một kiến trúc làng với một mong muốn chung khi xâydựng tạo lập nên một cộng đồng dân c có nếp sống văn minh, quan tâm bảo tồnnền văn hóa cổ truyền, một khu dân c đô thị nhng không xa rời nề nếp tốt đẹp củacác làng xa Những khu xây dựng với loại nhà có khối tích nhỏ, có nhiều vờn câytheo kiểu các làng nh vậy thực sự là điều tốt lành cho môi trờng sống và cảnhquan đô thị, nó sẽ là những “lá phổi nhỏ” góp phần cùng các lá phổi lớn nh hồ G-
ơm, hồ Bảy Mẫu giúp cho điều kiện vi khí hậu của đô thị đợc cải thiện
1.2 Hiện trạng hệ thống kênh mơng của thành phố Hà Nội
A Hiện trạng thoát nớc của hệ thống kênh mơng
Hiện tại, có khoảng 120km cống (hệ thống cống chung) và 31,3km mơngthoát nớc trong khu vực trung tâm đô thị chủ yếu ở 4 quận Hệ thống kênh mơngvẫn đảm nhiệm việc thoát nớc chung cả nớc ma và nớc thải sinh hoạt, côngnghiệp
Các kênh mơng có loại tiết diện nhỏ nằm gọn trong các khu dân c chủ yếu tiếpnhận nớc thải sinh hoạt Lợng bùn cặn lắng rât nhiều do cha qua xử lý Dòngchảy nhỏ, về mùa khô nhìn thấy cả đáy mơng (mơng Nam Đồng)
Các kênh mơng lớn nhận nớc thải từ các cống trong lu vực và các hồ điều hoà
để thải ra sông Lợng nớc thải từ các cống sau khi đổ vào hồ đã đợc xử lý sinh
Trang 18học, đến khi mực nớc trong hồ đủ lớn sẽ đợc bơm ra các kênh mơng để đổ rasông Do đó, chất lợng của loại nớc thải này là chấp nhận đợc
Do kết quả của việc lắng đọng bùn cặn trong một thời gian dài, hiện tại tổng ợng bùn cặn lu cửu khoảng 26.000m3 ở các cống (chiếm 32% thể tích trong lòngcống) và khoảng 90.000m3 ở các kênh mơng (chiếm 24% diện tích dòng chảy)gây giảm công suất dòng chảy một cách đáng kể Lợng bùn cặn chiếm chổ gâyngập úng thờng xuyên khu vực nội thành và gây ảnh hởng đến môi trờng sống(mùi, cảnh quan, điều kiện vệ sinh …)
l-Cách thức quản lý xây dựng đô thị không chặt chẽ dẫn đến tình trạng lấnchiếm hành lang bảo vệ kênh mơng hay tự ý xây dựng các cầu bắc ngang kênhmơng làm đờng dẫn vào nhà Các kênh mơng phần bị lấp, phần bị lấn chiếm làmgiảm diện tích dòng chảy, góp phần gây ngập úng cục bộ
Số liệu của mạng lới kênh mơng quận Đống Đa là một ví dụ
Có hànhlang(m)
Không hànhlang(m)
Trang 19Rác thải do ý thức kém của ngời dân, do sự buông lỏng quản lý của địa phơng
và cơ quan chức năng đã gây cản trở dòng chảy, lắng đọng cặn đáy, mất mỹ quan
và gây tốn kém trong việc nạo vét
Ngành GTCC đợc giao nhiệm vụ triển khai các dự án nạo vét, cải tạo sông hồ,kênh mơng nội thành Mặc dù các dự án này đều hoàn thành nhng chất lợng nớcvẫn ít chuyển biến và đang có nguy cơ ô nhiễm nặng hơn nguyên do là khi lập dự
án, các ngành chức năng chỉ đa vào các hạng mục nạo vét bùn, kè bờ chứ khôngnghĩ tới việc thiết kế hệ thống thu gom nớc thải, xây dựng trạm xử lý nớc thải tr-
ớc khi đổ vào sông hồ, kênh mơng
B Hiện trạng ô nhiễm môi trờng nớc.
Lợng nớc thải của thành phố trung bình mỗi ngày khoảng 450.000m3, trong
đó chỉ có 5% lợng nớc thải đã qua xử lý, còn lại 95% đợc đổ thẳng xuống sông
hồ, kênh mơng dẫn đến tình trạng ô nhiễm nớc thải đến mức nghiêm trọng
Dọc các kênh mơng có hàng trăm cống tiêu thoát nớc thải đợc xả thẳng xuốngmang theo trăm thứ bà dằn nh bùn đất, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế và cả chấtthải công nghiệp chảy ra từ các cơ sở sản xuất Vì nớc thải cha qua xử lý, lại lucữu lâu ngày nên biến nớc sông trở thành một thứ đen ngòm, đặc quánh, bốc mùihôi thối Việc xử lý sinh học diễn ra trong hệ sinh thái dới nớc bị quá tải và có thểhoàn toàn bị hủy hoại do các chất hữu cơ và chất thải công nghiệp
Cứ vài tháng Cty thoát nớc lại tiến hành nạo vét lòng sông nhng rốt cuộc thì
đâu vẫn hoàn đó bởi lợng bùn đất lắng đọng dới đáy sông hồ, kênh mơng là quálớn Tại các đầu cống thoát nớc , ngời ta nhận thấy không chỉ có rác thải sinhhoạt, rác thải y tế đơn thuần nh bông băng mà có cả bệnh phẩm sau phẩu thuật
Đây thực sự là một nguồn gây bệnh lớn, ảnh hởng đến sức khoẻ cộng đồng
a) Nớc thải sinh hoạt
Theo các số liệu điều tra của công ty t vấn cấp thoát nớc Hà Nội, tổng lợng
n-ớc thải sinh hoạt của 1.089.000 ngời dân tại khu vực nội thành Hà Nội hiện nay là180.000m3/ngày đêm
Tuy nhiên các phơng tiện vệ sinh tại chổ chỉ đợc sử dụng để xử lý chất thải từcác toalet Các chất thải sinh hoạt khác nh nớc bẩn và nớc thải thơng mại đợc xảtrực tiếp xuống hệ thống cống và kênh mơng Các loại toalet nh loại xí nớc, xíthải, xí 2 ngăn, xí thùng đang đợc sử dụng Theo báo cáo của tổ chức UNDP sốdân sử dụng các loại xí nêu trên đợc tính nh sau
Bảng 2 : Tình hình sử dụng các loại hố xí
Trang 20Xí thùng 180.000 18
(Nguồn : Cơ quan phát triễn liên hợp quốc – UNDP, 1997)
Mức độ xử lý của các phơng tiện vệ sinh nhìn chung là thấp, nớc bẩn đợc xảtrực tiếp vào các ao hồ, kênh mơng Nguồn nớc công cộng càng bị ô nhiễm trầmtrọng khi mật độ dân c trong lu vực tăng lên
Khu công nghiệp Văn Điển : có 14 xí nghiệp đặc trng bởi 3 phân ngành côngnghiệp là : cơ khí, hóa chất phân bón, vật liệu xây dựng, sành sứ thủy tinh và chếbiến gỗ lâm sản, khu vực này là khu vực công nghiệp nặng
Khu công nghiệp Cầu Diễn : có 8 xí nghiệp đặc trng bởi 5 ngành công nghiệpchủ yếu là : cơ khí, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến gỗ trong đó có 2 ngànhchủ chốt là chế biến thực phẩm và hóa chất
Khu công nghiệp Sài Đồng : đặc trng bởi các nhà máy, xí nghiệp điện tử côngnghệ cao …
Hàng ngày các nhà máy xí nghiệp trên xả vào hệ thống thoát nớc và nguồn
n-ớc mặt Hà Nội một lợng nn-ớc thải khoảng 85.000-90.000m3/ngày đêm Lợng nớcthải công nghiệp chiếm khoảng 27-30% tổng lợng nớc thải của thành phố và xuhớng đến năm 2020 lợng nớc thải chiếm khoảng 40-50% do quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hóa ngày càng cao
c) Nớc thải bệnh viện
Theo số liệu điều tra của bộ môn cấp thoát nớc- môi trờng nớc của trờng ĐạiHọc Xây Dựng Hà Nội, hiện nay có khoảng 29 bệnh viện trung ơng và thành phố,các bệnh viện này tập trung thành các khu vực nh khu vực bệnh viện Việt Đức,bệnh viện C, bệnh viện K; khu vực bệnh viện Hữu Nghị, Quân y, bệnh viện Nhi
Trang 21Việt Nam – Thụy Điển, bệnh viện phụ sản Hà Nội … hoặc phân bố rải rác trên
địa bàn thành phố Trong số 29 bệnh viện trên địa bàn Hà Nội chỉ có 10 bệnhviện lớn nh: Bạch Mai, Nhi TW, Quân y viện 108…có trạm xử lý nớc thải cục bộ,
số còn lại nớc thải đều xả thẳng vào hệ thống tiêu thoát chung của thành phố
Các bệnh viện trên hàng ngày xả vào hệ thống ao hồ, kênh mơng khoảng80.000-90.000m3/ngày đêm lợng nớc thải này chứa nhiều chất bẩn độc hại, hàmlợng BOD cao, chứa nhiều vi trùng gây bệnh
d) Rác thải
Rác thải là mối đe doạ trực tiếp cho việc thoát nớc vào mùa ma vì nó làm cảntrở dòng chảy của sông kênh mơng, sông ngòi Nh vậy, một cách trực tiếp hoặcgián tiếp, chất thải rắn cũng gây ra ô nhiễm môi trờng, đặc biệt là ô nhiễm nguồnnớc
Hàng ngày công ty Môi trờng Đô thị thu gom đợc 1914m3 rác/ngày,đạtkhoảng 63% tổng lợng phế thải phát sinh của thành phố Mỗi ngày công ty thugom khoảng 120 tấn phân bắc trên tổng khối lợng phát sinh toàn địa bàn thànhphố ớc tính 200 tấn, phần còn lại ngời dân tự làm phân bón
Chất thải thu gom chủ yếu đợc đem chôn lấp tại bãi chôn lấp của thành phố.Chỉ có một phần rất nhỏ đợc đem xử lý ở nhà máy chế biến phế thải Cầu Diễn
đây là nhà máy do UNDP tài trợ có công suất xử lý 30.000m3 rác/năm, chế biến
đợc 7.500 tấn phân/năm hiện tại nhà máy mới chỉ xử lý đợc gần 5% tổng lợngphế thải của toàn thành phố
Các bãi chôn lấp phế thải của Hà Nội từ trớc đến nay đều cha đạt tiêu chuẩn.Chất thải công nghiệp và chất thải bệnh viện không đợc xử lý riêng mà đem rachôn lấp cùng tất cả các loại phế phẩm khác Đây là một trong những nguyênnhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trờng sống, ô nhiễm nớc mặt, nớc ngầm của thànhphố
Trang 22Bảng 3 : Số liệu đo đạc ô nhiễm của các kênh mơng Quí 4 năm 2005
(Trạm xử lý nớc thải Kim Liên)
26/10 26.3 7.21 2.35 998 500 98 105 56.4 31 0.59 2.47 25.1 148 12125/11 21.7 7.52 4.46 1054 520 85 85 52.19 27 0.68 2.94 25.25 138 10928/12 17.9 7.47 2.86 1123 550 78 84 54.6 29 0.56 2.8 24.8 145 114M.Hoàng Cầu
26/10 26 7.45 1.24 1085 540 95 98 64.5 28 0.75 2.75 25.6 168 13225/11 21 7.5 1.32 1063 530 81 78 59.84 25 0.84 2.35 24.75 157 12128/12 17.9 7.52 2.32 1134 560 84 88 58.2 27 0.64 2.42 24.75 138 112
Y cụ - Y khoa
20/10 26.1 7.21 0.37 1344 670 140 116 42.6 28 0.62 2.5 22.6 123 9925/11 21 7.02 0.68 1456 720 64 76 51 29 0.68 2.61 19.8 156 1219/12 19.4 6.4 0.87 1382 690 40 60 49.3 31 0.56 2.08 17.8 179 134M.Trắng Chẹm
21/10 27 7.02 0.75 733 360 62 56 41.69 6 0.75 2.32 23.3 139 11125/11 19.8 7.18 1.33 748 370 55 55 53.89 20 0.98 2.14 20.7 125 9829/12 17.8 6.92 1.12 768 380 39 43 60.9 21 1.12 2.12 20.8 154 123M.Chẹm Xã
Đàn
21/10 26.9 7.07 0.73 710 350 174 157 45.09 8 0.84 2.51 23.8 119 8425/11 19.6 7.16 1.35 724 360 48 51 41.69 19 0.68 2.56 24.1 121 8629/12 17.8 6.91 0.78 771 380 41 41 49.9 24 0.85 2.44 21.3 166 130M.Lơng Sử
7/10 27.8 7.23 0.45 868 430 55 64 29.5 39 0.75 2.95 20.9 112 8411/11 27.6 7.31 0.31 610 300 47 43 23.54 42 0.64 3.04 23.25 109 8415/12 17.5 7.36 0.44 898 450 27 28 30.63 24 0.65 3.17 21.5 138 98M.Phơng Mai
7/10 28.1 7.04 0.64 687 340 62 68 56.8 25 0.84 3.01 25.6 148 12111/11 27.5 6.56 1.5 493 250 27 37 24 22 0.68 2.68 23 111 9015/12 17.5 6.57 0.31 860 430 22 37 60.13 6 0.74 2.56 11.4 126 95M.Ngọc Khánh 7/10 27.9 7.23 0.56 856 420 81 87 77.8 39 0.68 3.67 35.4 204 168
Trang 2311/11 28.2 7.19 0.44 949 470 67 95 72.89 42 0.59 3.25 31 169 12515/12 17.3 7.39 0.45 599 300 56 80 74.88 18 0.56 3.22 22 158 120M.Hµo Nam
7/10 27.8 7.56 0.34 920 460 111 131 68.5 29 0.7 2.67 28.7 202 16411/11 27.6 7.42 0.61 824 410 92 101 58.6 33 0.8 2.36 26.8 189 15015/12 17.9 7.31 0.49 938 460 66 68 46.51 32 0.4 2.58 25.75 179 148M.T©y S¬n
14/10 26.9 7.27 0.78 847 420 60 62 60.12 17 0.27 3.04 38 258 21410/11 27 7.47 0.64 980 490 50 53 69.2 28 0.58 2.75 22.4 128 10521/12 18.8 7.81 0.43 925 460 33 43 85.65 32 0.74 2.68 28.25 121 101M.IF
14/10 26.3 5.96 0.88 566 280 101 72 21.27 18 0.84 2.31 18.3 114 9510/11 26.8 6.05 0.74 612 300 84 94 35.6 16 1.1 1.98 22.5 158 12121/12 18 5.95 0.91 592 300 67 74 55.87 15 0.98 2.56 25.2 254 221M.Nam §ång
14/10 26 7.4 0.82 1838 920 164 158 68.35 37 1.24 4.56 44.25 302 26710/11 27 7.51 0.84 1805 900 95 98 71.5 35 1.14 3.67 29.4 256 21921/12 18.7 7.64 0.97 1606 800 84 98 88.5 30 0.98 3.15 23.25 284 248
Trang 24Nhìn chung các chỉ tiêu BOD5, COD và NH4 của các mẩu nớc tại các kênh(các giá trị này cao hơn nhiều so với các mẫu nớc của các hồ) đều vợt quá tiêuchuẩn cho phép theo TCVN 5949-95 : nớc thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải
Số liệu nghiên cứu về mức độ ô nhiễm nớc thải của Cty thoát nớc Hà Nội chothấy hàm lợng các chất bẩn, các chất hữu cơ, kim loại nặng gây ô nhiễm tại cácnhánh cống nớc thải ở mức độ cao Hàm lợng Amoni tại các sông cao gấp 12 đến
59 lần tiêu chuẩn cho phép (TCCP), hàm lợng BOD5 dao động từ 35-220 mg/l,hàm lợng COD thờng xuyên cao gấp 1,5 đến 1,9 lần TCCP, lợng oxygen trong n-
ớc rất nghèo, để gây mùi hôi thối, đặc biệt vào những ngày thời tiết oi bức
Khi môi trờng nớc bị ô nhiễm (chủ yếu do tác động của nớc thải đô thị) sẽ gây
ra những tác động nhiều mặt tới đời sống đô thị và môi trờng cảnh quan
Nớc bị ô nhiễm về mặt vật lý sẽ dẫn đến các hiện tợng đổi màu (nâu, xanh đen
…) làm mất mỹ quan, giảm giá trị sử dụng Khi khử trùng bằng nớc Clo, nhữnghợp chất hữu cơ có trong nớc sẽ tạo ra những sản phẩm độc hại nh Clorofooc Sựphát triển của vi khuẩn, tảo và các vi sinh vật làm tăng độ đục của nớc Nhữnghợp chất lơ lửng gây ra độ đục trong nớc làm giảm tác dụng của chất diệt khuẩn
Độ đục lớn làm giảm quá trình quang hợp kéo theo sự giảm nồng độ oxi hoà tan.Hiện tợng ô nhiễm cũng làm giảm quá trình tự làm sạch của nớc, thậm chí có thểlàm thay đổi quá trình sống và thành phần các quần thể sinh vật Các thành phầntảo, nấm, cỏ phát triển gây nguy cơ truyền bệnh và cản trở dòng chảy, gây tốnkém cho việc xử lý
Nớc bị ô nhiễm về mặt sinh lý sẽ gây mùi khó chịu, phát tán các chất độc hại,lan truyền các virus, vi khuẩn gây bệnh ảnh hởng xấu đến cuộc sống dân c Việckhắc phục hậu quả và cải tạo chất lợng nớc thờng rất tốn kém và phức tạp, thờigian ảnh hởng kéo dài
Nớc bị ô nhiễm về mặt hoá học gây hại cho tài nguyên thuỷ sinhvà sức khoẻcon ngời ngay ở nồng độ thấp Nớc có mùi hôi, khó ngửi, độ pH của nớc giảm,xuất hiện váng bọt … làm giảm khả năng phân huỷ sinh học
Tóm lại tác hại của sự ô nhiễm môi trờng nớc gây ra là vô cùng phức tạp Nógây ô nhiễm không khí (mùi, chất phát tán …), ô nhiễm nớc ngầm (các chất thẩmthấu khó phân huỷ), ô nhiễm đất (tăng độ chua, giảm sự trao đổi chất) Tất cảnhững tác động đó đều dẫn đến sự suy thoái môi trờng đô thị, gây nên sự bồi lắng
ở các kênh mơng, sông hồ, gây nguy hại sức khoẻ cộng đồng, ảnh hởng toàn bộ
hệ sinh thái đô thị
Trang 25C Hiện trạng cảnh quan không gian của các kênh mơng
Các kênh mơng hiện tại đợc sử dụng chỉ nh một cống thoát nớc bẩn mà không
hề có bất kỳ một giá trị cảnh quan nào thậm chí còn làm mất mỹ quan đô thị Việc ô nhiễm nguồn nớc mặt, rác thải trôi nổi trên các kênh mơng đã làm mất
đi giá trị sử dụng cảnh quan của các kênh mơng
Do bị lấn chiếm mà phần lớn các kênh mơng không có đờng dẫn hai bên hoặc
có nhng rất hẹp, gây khó khăn trong việc quản lý và cải tạo kênh mơng Chất lợng
đờng rất xấu nhất là vào mùa ma vì phần lớn chỉ là đờng đất Cũng do không có
đờng dẫn mà ở một số mơng, ngời dân tự ý xây cầu bắc qua để dẫn vào nhà mìnhgây nên hình ảnh lộn xộn trên các kênh mơng
Các loại kè mơng hiện tại chỉ bằng tre nứa, không đảm bảo chức năng về lâudài
Cây xanh đợc trồng ở một số kênh mơng nhng cha tạo đợc dấu ấn, chúng đợctrồng một cách tùy tiện
Ơ một số kênh mơng tồn tại các xóm liều, xóm lao động với sự tùy tiện trongxây dựng và hạ tầng yếu kém, thiếu ý thức bảo vệ môi trờng đã góp phần làm cho
bộ mặt kênh mơng xấu đi trông thấy
1.3 Dự báo tình hình vệ sinh môi trờng của TP Hà Nội (đến năm 2020)
Các yếu tố ảnh hởng tới lợng chất thải tại nội thành Hà Nội
Tổng dân số đô
thị (ngời)
Tổng dân sốngoại thành(ngời)
Trang 26B Tốc độ phát triển kinh tế đặc biệt là công nghiệp và thơng mại ảnh hởng trực tiếp đến lợng nớc thải công nghiệp
Trang 27Bang 5 : Dự bỏo một số chỉ tiờu phỏt triển cụng nghiệp- xõy dựng (theo GDP)
Đ/v 2001 - 2005 2006 - 2010 2000 - 20101- Tỷ lệ đúng gúp vào
C Tiêu chuẩn thải nớc
Theo qui hoạch tổng thể nớc cấp đến sau 2010 do cơ quan phát triễn Phần Lan(FINIDA) lập và đang đợc điều chỉnh lại thì mức độ tiêu thụ nớc của các loại hình dùng nớc nh sau :
L
ợng n ớc dùng cho sinh hoạt :
Năm 2000 là 150l/(ngời/ ngđ), đảm bảo 85% dân số đô thị đợc cấp nớc
Năm 2010 là 180l/(ngời/ ngđ), đảm bảo 95% dân số đô thị đợc cấp nớc
Năm 2020 là 200l/(ngời/ ngđ), đảm bảo 95% dân số đô thị đợc cấp nớc
Khu vực tự cấp nớc là 100l/(ngời /ngđ)
L
ợng n ớc dùng cho công nghiệp
Năm 2010 : 35m3/ha, ngày
Năm 2020 : 45m3/ha, ngày
Trang 28Lợng nớc này sẽ giảm đi so với hiện tại vì trong qui hoạch phát triễn thành phố đến 2020, một số khu công nghiệp và nhà máy sẽ đợc đa ra khỏi khu vực nội thành.
L
ợng n ớc dùng cho th ơng mại tính theo đơn vị tiêu thụ :
Việc tiêu thụ nớc thơng mại đợc ớc tính dựa trên số dân với tiêu chuẩn tiêu thụ nớc nh sau (theo qui hoạch tổng thể ngành nớc)
Bảng 6 : Tiêu chuẩn tiêu thụ nớc
1 Nớc thải sinh hoạt
Nớc thải công nghiệp (m3/ha/ngày) 28 32
Bảng 8 : Hàm lợng chất gây ô nhiễm
Nớc thải sinh hoạt BOD g/ngời/ngày 40 60
Bảng 9: Tình hình rác thải sinh hoạt của Hà Nội đến năm 2020
Thu gom rác thải sinh hoạt 2.212 2.708 3.344 4.581 5.473
Trang 29ChÊt th¶i bÖnh viÖn 3 4 5 7 10
Trang 30H×nh ¶nh hiÖn tr¹ng « nhiÔm cña c¸c kªnh m¬ng Hµ Néi
Trang 31H×nh ¶nh hiÖn tr¹ng « nhiÔm cña c¸c kªnh m¬ng Hµ Néi
Trang 32Hình ảnh hiện trạng ô nhiễm của các kênh mơng Hà Nội
1.4 Vai trò hệ thống kênh mơng đối với Hà Nội
1.4.1 Thoát nớc
Các kênh mơng là một bộ phận không thể thiếu của mạng lới thoát nớc, cónhiệm vụ truyền dẫn nớc thải từ ao hồ, cống thoát nớc để đổ ra 4 sông chính làsông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngu Về mùa ma lũ, các kênh mơngphải thoát nớc thật nhanh ra sông để giảm tình trạng úng ngập, gây mất vệ sinhmôi trờng
Hiện tại các mơng vẫn thực hiện tốt chức năng thoát nớc, viêc úng ngạpphần lớn gây ra bởi hệ thống cống thoát đã xuống cấp không đảm bảo kỹ thuậtNgoài ra một số mơng còn có chức năng chuyển dòng nớc lũ nh mơng ĐịnhCông
1.4.2 Điều hoà vi khí hậu
Sự tham gia của mặt nớc vào cảnh quan đô thị có thể dới dạng tự nhiên hoặcnhân tạo Trong môi trờng ô nhiễm của đô thị, mặt nớc góp phần làm trong lànhbầu không khí
Mặt nớc làm giảm sự nhiễm bẩn, khử bụi và các chất thải công nghiệp, làmtan chất độc trong khí quyển Mặt nớc có ảnh hởng quyết định đến việctăng cờng
độ trong suốt của bầu không khí đô thị và bức xạ tử ngoại mặt nớc ảnh hởng đến
Trang 33chế độ gió, tăng cờng không khí trong lành, giảm nhiệt độ môi trờng, nâng cao độ
ẩm không khí, thay đổi sự tơng phản của chế độ nhiệt…
Nớc có ảnh hởng tới tiểu khí hậu Nớc giữ nóng và lạnh lâu hơn giúp giảmbớt sự dao động mạnh của nhiệt độ không khí nên có tác dụng cải thiện khí hậu ởvùng ven mặt nớc Theo nghiên cứu của N.N.Galakhov, bán kính ảnh hởng phụthuộc vào độ rộng của mặt nớc, vừa là 150-200m, lớn là 400-500m Sự ảnh hởngcủa khu mặt nớc rất lớn có khi tới 2000m
Theo kết quả nghiên cứu, mặt nớc có tác dụng hạ nhiệt độ không khí mùa hè
từ 2- 4 0C, tăng độ ẩm tơng đối từ 5 – 15%, hạ nhiệt bức xạ vùng ven sông 12 –14%, ven hồ 2 -5% Mặt nớc còn tạo khả năng lu hông khôn khí theo chiều đứng
Sự khác nhau về nhiệt giữa vùng có mặt nớc và khu xây dựng đẫn đến hiệu số áplực khí quyển Không khí loãng nóng của khu xây dựng đợc thay thế bằng mảngkhông khí lạnh trên bề mặt nớc tràn tới gây chuyển động không khí Vai trò vệsinh do việc đối lu khong khí có hiệu quả ở vùng có khí nóng làm sạch khí quyển
va giảm nhẹ quá trình trao đỏi nhiệt của cơ thể con ngời
1.4.3 Tạo cảnh quan, sinh hoạt cộng đồng
Vai trò này hiện vần cha đợc khai thác nhng trong tơng lai, sự phát triễnkinh tế đòi hỏi các dự án có hệ số sử dụng đất càng cao càng tốt, điều này khiếndiện tích đất công cộng và cây xanh ngày càng giảm Khi đó không gian dọc 2bên bờ kênh mơng sẽ là nguồn đất tạo cảnh quan đáng giá
Nếu kết hợp tốt với các công trình kiến trúc có giá trị nh đền chùa, di tích,công viên, hồ nớc thì giá trị cảnh quan của kênh mơng sẽ đợc tăng lên rất nhiều,
nó có thể tạo thành điểm nhấn của đô thị khi tạo thành không gian mở với hệthống cây xanh, mặt nớc hài hoà với nhau
Bố trí các công trình kiến trúc dọc hai bờ kênh mơng hợp lý có thể tạo thànhtuyến phố đi dạo, tuyến phố du lịch hấp dẫn của cả khu vực
Kết luận :
Thực trạng của hệ thống thoát nớc và mạng lới kênh mơng hiện nay và trong
t-ơng lai với nhiều bức xúc đã đặt ra vấn đề cấp bách cần phải nghiên cứu cải tạo,hiện đại hoá mạng lới thoát nớc trong đó có kể đến vai trò cảnh quan, điều hoàkhí hậu của các kênh mơng
Giữa chất lợng môi trờng và chất lợng cảnh quan có liên quan chặt chẽ vớinhau, một khi môi trờng đã ô nhiễm thì cảnh quan cũng xuống cấp theo và ngợclại điều này đợc minh chứng bằng hình ảnh các xóm liều ven sông, kênh mơng,hình ảnh các khu phố chật chội, chen chúc trong bầu không khí vẫn đục… và một
điều đáng phải suy nghĩ là hình ảnh u tối của các kênh mơng trong nội thành HàNội Là một ngời dân thủ đô, chúng ta không thể không bức xúc, đau lòng trớc sựxuống cấp nặng nề của các kênh mơng Với t tởng xây dựng, cải tạo chứ không
Trang 34phải che đậy bằng cách cống hóa, chúng ta sẽ nghiên cứu tạo cho hệ thống kênhmơng trở thành một trong những điểm nhấn của thủ đô, là nơi ngời dân thờngxuyên đi dạo, nghỉ ngơi để th giản sau những ngày làm việc mệt nhọc.
Trang 35Bề rộng kênh mơng liên quan đến nhiều vấn đề khác nh lu lợng đủ lớn để đảmbảo dòng chảy, chiều dài đủ lớn để yếu tố cảnh quan đạt đợc là tốt nhất, và với lulợng đó đủ để ta có thể bố trí các trạm xử lý nớc thải mà hiệu quả đầu t mang lạikhá cao.
Bề rộng kênh mơng phải đủ lớn để tỉ lệ hài hoà giữa không gian trống và quimô các công trình xây dựng 2 bên Nó cũng phải đủ lớn để bố trí các công trìnhkiến trúc, trong đó bề rộng đờng dạo 2 bên đã chiếm 4-6m
Kênh mơng sẽ đợc kè bằng bêtông với các ô cỏ xanh đợc trồng trên bề mặtmái dốc
Bề rộng kênh mơng lớn còn nhằm tạo đủ độ thông thoáng để cùng với hệthống cây xanh giúp giảm sự nhiễm bẩn, khử bụi và các chất thải công nghiệp,làm tan các chất độc trong không khí, giúp tăng cờng độ trong suốt của bầukhông khí đô thị, độ sáng và bức xạ tử ngoại
Mặt nớc ảnh hởng đến chế độ gió, tăng cờng không khí trong lành, giảm nhiệt
độ môi trờng, nâng cao độ ẩm không khí, thay đổi sự tơng phản chế độ nhiệt Nớc
có ảnh hởng đến tiểu khí hậu, có tác dụng cải thiện khí hậu ở vùng ven TheoN.N.Galakhov, bán kính ảnh hởng phụ thuộc độ rộng mặt nớc, vừa là 150 -200m,lớn là 400-500m, có khi đối với mặt nớc rất lớn, bán kính ảnh hởng có thể lên tới2000m
2.1.2 Mối liên hệ với các công trình kiến trúc trong khu vực
Cảnh quan không gian của các kênh mơng nếu đứng một mình sẽ chỉ làtuyến đi bộ mà không có đích đến cụ thể, không tạo đợc điểm nhấn kiến trúc Nh-
ng khi đợc kết hợp với các công trình kiến trúc công cộng nh hồ nớc, quãng ờng, công viên… nó sẽ tạo thành một “không gian mở” rộng lớn
tr-Kênh mơng này sẽ trở thành một hớng tiếp cận mới tới các không gian mở,mang bầu không khí trong lành, yên tĩnh trong khi các hớng khác đều là các đờng