Tại Việt Nam, hiện nay một nguồn văn bản pháp quy có thể tham khảo là Thông tư 66/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh
Trang 1CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2013
Tên công trình:
Kiểm toán hoạt động chuyển giá trong các công ty đa quốc gia
tại Việt Nam
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 1
HÀ NỘI, 2013
Trang 2DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHUYỂN GIÁ 5
TẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 5
1.1 Những vấn đề cơ bản về chuyển giá trong các công ty đa quốc gia 5 1.1.1 Bản chất của giá chuyển nhượng (Transfer price) 5
1.1.2 Định giá chuyển nhượng (Transfer Pricing) và hành vi áp đặt giá chuyển nhượng (Transfer Price Manipulation) 9
1.1.3 Các động cơ chuyển giá 10
1.1.4 Các phương thức chuyển giá 14
1.1.5 Các tác động tiêu cực của hành vi chuyển giá 14
1.1.6 Biểu hiện bên ngoài của hành vi chuyển giá 16
1.2 Cơ sở lý luận về chống chuyển giá 16
1.2.1 Khái niệm chống chuyển giá 16
1.2.2 Nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng (The arm’s length Principle – ALP) 18
1.2.3 Các phương pháp xác định giá chuyển giao 21
1.2.3.1 Phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled Price Method -CUP) 21
1.2.3.2 Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost plus method - CPM) 22
1.2.3.3 Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method- RPM) 23
1.2.3.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method- PSM) 24
1.2.3.5 Phương pháp so sánh lợi nhuận (Comparable profit method -CPM) 26
1.2.3.6 Thỏa thuận xác định giá trước (Advance Pricing Agreements – APA) 27
1.2.3.7 Xu hướng áp dụng các phương pháp 28
Trang 31.3 Cơ sở lý luận về kiểm toán chuyển giá 30
1.3.1 Khái niệm kiểm toán chuyển giá 30
1.3.1.1 Đôi nét về sự ra đời và bản chất của kiểm toán 30
1.3.1.2 Sự cần thiết của việc hình thành và bản chất của kiểm toán chuyển giá 34
1.3.2 Phân loại kiểm toán chuyển giá 40
1.3.2.1 Phân loại theo chủ thể thực hiện kiểm toán 40
1.3.2.2 Phân loại theo cách thức cuộc kiểm toán 42
1.3.3 Ý nghĩa của kiểm toán chuyển giá 42
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ VÀ KIỂM TOÁN CHUYỂN GIÁ TẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA Ở VIỆT NAM, KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 44
2.1 Thực trạng chuyển giá trong các công ty đa quốc gia ở Việt Nam.44 2.1.1 Chuyển giá tài sản hữu hình 44
2.1.2 Chuyển giá tài sản vô hình 46
2.1.3 Chuyển giá qua các dịch vụ cung cấp, các nghiệp vụ tài trợ 47
2.2 Thực trạng kiểm toán chuyển giá ở Việt Nam 49
2.2.1 Thực trạng kiểm toán chuyển giá tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế cần học tập 50
2.2.1.1 Đối với Kiểm toán nhà nước (KTNN) 50
2.2.1.2 Đối với Kiểm toán độc lập (KTĐL) 54
2.2.2 Những khó khăn đang tồn tại 59
2.2.2.1 Những khó khăn chủ quan 59
2.2.2.2 Những khó khăn khách quan: 61
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆNVÀ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐƯA CÔNG TÁC KIỂM TOÁN VÀO THỰC TIỄN CHỐNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM 63 3.1 Định hướng hoàn thiện công tác kiểm toán hoạt động chuyển giá
Trang 43.2 Giải pháp để đưa công tác kiểm toán chuyển giá vào hoạt động
thực tiễn chống chuyển giá tại Việt Nam 64
3.2.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm toán chuyển giá 64
3.2.2 Đảm bảo nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật 65
3.2.3 Đẩy mạnh việc nghiên cứu áp dụng kiểm toán vào thực tiễn công tác chống chuyển giá cũng như xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ hỗ trợ cho công tác này 66
3.2.4 Tăng cường việc hợp tác quốc tế, kêu gọi sự góp sức từ các tổ chức kiểm toán độc lập 67
3.2.5 Công khai và tác động vào nhận thức của người tiêu dùng đối với các sản phẩm của các công ty thực hiện hành vi chuyển giá 69
3.2.6.Ý tưởng về một đội đặc nhiệm chống chuyển giá hay Hội đồng quốc gia về quản lý chống chuyển giá 69
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 3
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHUYỂN GIÁ 5
TẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 5
1.1 Những vấn đề cơ bản về chuyển giá trong các công ty đa quốc gia 5
1.1.1 Bản chất của giá chuyển nhượng (Transfer price) 5
1.1.2 Định giá chuyển nhượng (Transfer Pricing) và hành vi áp đặt giá chuyển nhượng (Transfer Price Manipulation) 9
1.1.3 Các động cơ chuyển giá 10
1.1.4 Các phương thức chuyển giá 14
1.1.5 Các tác động tiêu cực của hành vi chuyển giá 14
Trang 51.2 Cơ sở lý luận về chống chuyển giá 16
1.2.1 Khái niệm chống chuyển giá 16
1.2.2 Nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng (The arm’s length Principle – ALP) 18
1.2.3 Các phương pháp xác định giá chuyển giao 21
1.2.3.1 Phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled Price Method -CUP) 21
1.2.3.2 Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost plus method - CPM) 22
1.2.3.3 Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method- RPM) 23
1.2.3.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method- PSM) 24
1.2.3.5 Phương pháp so sánh lợi nhuận (Comparable profit method -CPM) 26
1.2.3.6 Thỏa thuận xác định giá trước (Advance Pricing Agreements – APA) 27
1.2.3.7 Xu hướng áp dụng các phương pháp 28
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chống chuyển giá 29
1.3 Cơ sở lý luận về kiểm toán chuyển giá 30
1.3.1 Khái niệm kiểm toán chuyển giá 30
1.3.1.1 Đôi nét về sự ra đời và bản chất của kiểm toán 30
1.3.1.2 Sự cần thiết của việc hình thành và bản chất của kiểm toán chuyển giá 34
+ Về cơ sở thực hiện: ngoài những cơ sở chung của kiểm toán như các chuẩn mực kế toán, kiểm toán,… thì hoạt động kiểm toán chuyển giá cần phải có những cơ sở pháp lý đặc thù của nó như các nguyên tắc và phương pháp xác định giá giao dịch sòng phẳng, thỏa thuận xác định giá trước (APA),… cùng những văn bản pháp quy khác đã và cần được ban hành bởi các cơ quan quản lý nhà nước Trên thế giới, rất nhiều quốc gia đã ban hành văn bản hướng dẫn chống chuyển giá dựa trên Điều 9 Công ước mẫu của OECD về định giá chuyển giao Tại Việt Nam, hiện nay một nguồn văn bản pháp quy có thể tham khảo là Thông tư 66/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết 39
Trang 6chuyên biệt mang tính đặc thù của khoa học kiểm toán nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các giao dịch tài chính giữa các bên có quan hệ liên kết có ảnh hưởng trọng yếu tới kết qủa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng các phương pháp kỹ thuật phổ biến và riêng biệt được thực hiện bởi các kiểm toán viên có đủ trình độ và kinh nghiệm trong lĩnh vực chống chuyển giá dựa trên các cơ sở pháp lý có
hiệu lực” 40
1.3.2 Phân loại kiểm toán chuyển giá 40
1.3.2.1 Phân loại theo chủ thể thực hiện kiểm toán 40
1.3.2.2 Phân loại theo cách thức cuộc kiểm toán 42
1.3.3 Ý nghĩa của kiểm toán chuyển giá 42
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ VÀ KIỂM TOÁN CHUYỂN GIÁ TẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA Ở VIỆT NAM, KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 44
2.1 Thực trạng chuyển giá trong các công ty đa quốc gia ở Việt Nam 44
2.1.1 Chuyển giá tài sản hữu hình 44
2.1.2 Chuyển giá tài sản vô hình 46
2.1.3 Chuyển giá qua các dịch vụ cung cấp, các nghiệp vụ tài trợ 47
2.2 Thực trạng kiểm toán chuyển giá ở Việt Nam 49
2.2.1 Thực trạng kiểm toán chuyển giá tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế cần học tập 50 2.2.1.1 Đối với Kiểm toán nhà nước (KTNN) 50
2.2.1.2 Đối với Kiểm toán độc lập (KTĐL) 54
1.2.2 Những khó khăn đang tồn tại 59
1.2.2.1 Những khó khăn chủ quan 59
1.2.2.2 Những khó khăn khách quan: 61
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆNVÀ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐƯA CÔNG TÁC KIỂM TOÁN VÀO THỰC TIỄN CHỐNG CHUYỂN GIÁ 63
Ở VIỆT NAM 63
3.1 Định hướng hoàn thiện công tác kiểm toán hoạt động chuyển giá tại Việt Nam 63
3.2 Giải pháp để đưa công tác kiểm toán chuyển giá vào hoạt động thực tiễn chống chuyển giá tại Việt Nam 64
Trang 73.2.2 Đảm bảo nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật 66
3.2.3 Đẩy mạnh việc nghiên cứu áp dụng kiểm toán vào thực tiễn công tác chống chuyển giá cũng như xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ hỗ trợ cho công tác này 66
3.2.4 Tăng cường việc hợp tác quốc tế, kêu gọi sự góp sức từ các tổ chức kiểm toán độc lập 67
3.2.5 Công khai và tác động vào nhận thức của người tiêu dùng đối với các sản phẩm của các công ty thực hiện hành vi chuyển giá 69
3.2.6.Ý tưởng về một đội đặc nhiệm chống chuyển giá hay Hội đồng quốc gia về quản lý chống chuyển giá 69
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi dành cho các kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán độc lập 74
Trang 8ALP : Nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng (The arm’s length
Principle)APA : Thỏa thuận xác định giá trước (Advance Pricing Agreements –
APA)BCTC : Báo cáo tài chính
CPM Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost plus method - CPM)
CUP : Phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable
Uncontrolled Price Method -CUP)DNKT : Doanh nghiệp kiểm toán
KTĐL : Kiểm toán độc lập
KTNN : Kiểm toán nhà nước
KTV : Kiểm toán viên
MNE : Công ty đa quốc gia (Multi-national Enterprise)
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development)TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
Trang 9Bảng 1.1: Các loại giao dịch áp dụng cho các phương pháp xác định giá
chuyển giao 28Bảng 2.1: Chi phí bản quyền của công ty liên doanh sản xuất bia V 47Bảng 2.2: Chi phí lãi vay cao hơn mức thông thường do ngân hàng
nước ngoài tại Việt Nam trả cho trụ sở chính 48Bảng 2.3: Thuế suất thuế TNDN năm 2012 của một số quốc gia 49
Trang 11Tuy nhiên, cùng với những thành tựu kinh tế xã hội không thể phủ nhận
mà các hoạt động đầu tư nước ngoài mang lại trong những năm qua, nhiềuvấn đề phức tạp đã nảy sinh trong đó có hiện tượng chuyển giá giữa cácdoanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các công ty đa quốc gia Đây là một hiệntượng đang trở nên phổ biến với mức độ nghiêm trọng và tinh vi ngày càngtăng ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Hành vi này
Trang 12tạo nên sự bất hợp lý, mất công bằng trong môi trường kinh doanh giữa cácdoanh nghiệp, gây thiệt hại cho đối tác Việt Nam trong liên doanh, đặc biệtgây thất thoát nguồn thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến việcthực thi chính sách thuế…Nhận thức được mức độ và ảnh hưởng tiêu cực củahành vi này, chính phủ Việt Nam đã tiến hành chống chuyển giá trong nhữngnăm vừa qua Tuy nhiên những kết quả thu được của hoạt động này quá íttrong khi những hạn chế lại quá nhiều, một phần là do hiện tại hầu như chỉ có
cơ quan thuế và thanh tra chính phủ “chiến đấu” trên mặt trận này trong khicông tác kiểm toán hoạt động chuyển giá chưa được quan tâm nghiên cứu vàthực hiện đúng mức mặc dù hoạt động chuyển giá hoàn toàn có thể coi là mộtđối tượng cụ thể của kiểm toán và trực tiếp ảnh hưởng đến đối tượng chungcủa môn khoa học này – thực trạng tài chính của doanh nghiệp Có thể khẳngđịnh rằng kiểm toán hoạt động chuyển giá thực sự là một vấn đề còn khá mới
mẻ cả về lí luận và thực tiễn đối với Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh đó, đề tài “Kiểm toán hoạt động chuyển giá trong
các công ty đa quốc gia tại Việt Nam” với ý nghĩa cấp thiết cả về lí thuyết
lẫn thực tiễn đã được lựa chọn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ những vấn đề lí thuyết về công tác kiểm toán hoạt độngchuyển giá tại các công ty đa quốc gia tại Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động chuyển giá tạiViệt Nam hiện nay cùng kinh nghiệm của các nước trên thế giới
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị cơ bản nhằm cải thiện và thúc đẩycông tác kiểm toán hoạt động chuyển giá tại các công ty đa quốc gia ở ViệtNam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác kiểm toán hoạtđộng chuyển giá trong các công ty đa quốc gia tại Việt Nam trên cơ sở tập
Trang 13trung nghiên cứu các công ty đa quốc gia và công ty kiểm toán độc lập đanghoạt động tại Việt Nam.
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học hệ thống Nhóm tácgiả đã sử dụng cách tiếp cận hệ thống để nghiên cứu và phân tích các chủ thể
có liên quan, cụ thể ở đây là cơ quan quản lý của nhà nước về chuyển giá, cácdoanh nghiệp có thực hiện hoạt động chuyển giá, và các công ty kiểm toáncung cấp dịch vụ kiểm toán và dịch vụ định giá cho các doanh nghiệp có hoạtđộng chuyển giá
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, xem xét các hoạtđộng, sự việc trong mối quan hệ hữu cơ với nhau
Các phương pháp cụ thể gồm có phương pháp nghiên cứu tài liệu,phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi và phương pháp chuyên gia, cụthể như sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được vận dụng để tìm các tài liệunghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, từ đó tổng hợp và phân tích cáctài liệu nhằm đưa ra giải pháp hoàn thiện
Phương pháp chuyên gia được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp,tham khảo ý kiến thực tế của các chuyên gia trong lĩnh vực thuế, lĩnh vựcchuyển giá, định giá và các lãnh đạo cấp cao tại các công ty kiểm toán độc lậphàng đầu Việt Nam về thực tế kiểm toán hoạt động chuyển giá trong doanhnghiệp ở Việt Nam
Phương pháp điều tra được thực hiện thông qua bảng câu hỏi (Phụ lục1) được thực hiện đối với các kiểm toán viên và lãnh đạo kiểm toán cấp caođến từ hai công ty Kiểm toán độc lập hàng đầu Việt Nam là Công ty TNHHDeloitte Việt Nam và Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam do chínhnhóm tác giả thực hiện thu thập về thực tế hiện nay việc cung cấp dịch vụkiểm toán chuyển giá và định giá doanh nghiệp, sự cần thiết và khả năng thực
Trang 14hiện của dịch vụ kiểm toán chuyên sâu hoạt động chuyển giá cho các doanhnghiệp tại Việt Nam hiện nay.
Nhóm tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoahọc trên để phân tích một cách khách quan, khoa học, toàn diện nhằm giảiquyết các vấn đề đặt ra
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài nghiên cứu được chiathành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm toán chuyển giá tại các công
ty đa quốc gia
Chương 2: Thực trạng chuyển giá và kiểm toán chuyển giá tại các công
ty đa quốc gia tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy và cải thiện côngtác kiểm toán chuyển giá tại các công ty đa quốc gia tại Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHUYỂN GIÁ
TẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.1 Những vấn đề cơ bản về chuyển giá trong các công ty đa quốc gia
1.1.1 Bản chất của giá chuyển nhượng (Transfer price)
Giá chuyển nhượng là một khái niệm ra đời, phát triển cùng với sự tồntại và phát triển của thị trường nội bộ - thị trường hình thành giữa các công ty
có mối quan hệ liên kết với nhau trên phương diện này hay phương diện khác
Theo quan điểm của sách “Transfer Pricing Guidelines for
Multinational Enterprise and Tax Administration” (OECD Publisher, 2001),
“giá chuyển nhượng là giá của hàng hóa, dịch vụ được mua bán giữa hai haynhiều đơn vị trong cùng một công ty Giá chuyển nhượng có thể được xácđịnh bởi các bên có quan hệ liên kết với mức khác xa so với mức giá thịtrường nhằm đạt được mục tiêu/ lợi ích của toàn công ty (như tối thiểu hóamức thuế phải nộp của toàn công ty, tối đa hóa giá trị của toàn công ty, xâmnhập thị trường, …), khi đó, hành vi xác định giá chuyển nhượng được gọi làchuyển giá.”
Theo thông tư 66/2010/TT-BTC của Bộ Tài Chính, khái niệm “các bên
có quan hệ liên kết” được xác định như sau
“Các bên có quan hệ liên kết” là cụm từ được sử dụng để chỉ các bên cómối quan hệ thuộc một trong các trường hợp dưới đây:
- Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểmsoát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào bên kia;
- Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, gópvốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức của một bên khác;
- Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành,kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào một bên khác
Thông thường, hai doanh nghiệp trong một kỳ tính thuế có quan hệgiao dịch kinh doanh thuộc một trong các trường hợp sau thì xác định là cácbên liên kết:
Trang 16a) Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốnđầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
b) Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu
do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp;
c) Cả hai doanh nghiệp đều nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của một bên thứ ba;
d) Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn đầu tư của chủ sở hữucủa doanh nghiệp kia, nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% vốn đầu tưcủa chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
e) Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vayvốn dưới bất kỳ hình thức nào với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 20%vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổnggiá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay;
f) Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặckiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viênđược doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên banlãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thànhviên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sáchtài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai;
g) Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặccùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tàichính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba;
h) Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân
sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong cácmối quan hệ sau: vợ và chồng; bố, mẹ và con (không phân biệt con đẻ, connuôi hoặc con dâu, con rể); anh, chị, em có cùng cha, mẹ (không phân biệtcha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi); ông nội, bà nội và cháu nội; ông ngoại, bàngoại và cháu ngoại; cô, chú, bác, cậu, dì ruột và cháu ruột;
Trang 17i) Hai doanh nghiệp có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trúhoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài;
j) Một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm sử dụng tài sản vôhình hoặc quyền sở hữu trí tuệ của một doanh nghiệp khác với điều kiện chiphí phải trả cho việc sử dụng tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ đó chiếmtrên 50% giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm;
k) Một doanh nghiệp cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% tổnggiá trị nguyên vật liệu, vật tư hoặc sản phẩm đầu vào (không bao gồm chi phíkhấu hao đối với tài sản cố định) để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinhdoanh sản phẩm đầu ra của một doanh nghiệp khác;
l) Một doanh nghiệp kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% sảnlượng sản phẩm tiêu thụ (tính theo từng chủng loại sản phẩm) của một doanhnghiệp khác;
m) Hai doanh nghiệp có thỏa thuận hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợpđồng
Trong điều kiện nền sản xuất của xã hội loài người ngày càng pháttriển, nhu cầu về nguồn lực và thị trường ngày càng tăng cao, toàn cầu hóakinh tế đã và đang diễn ra như một xu thế tất yếu Đặc biệt, sự chuyên mônhóa ngày càng cao trong sản xuất kinh doanh dẫn đến việc một sản phẩmhoàn chỉnh được làm ra là công sức lao động của rất nhiều nhân công ở nhiều
cơ sở kinh doanh khác nhau mà trong đó mỗi cơ sở kinh doanh chỉ đảm nhậnmột hay một vài công đoạn mà thôi Thực tế đã chứng minh, hiện nay cùngvới xu thế toàn cầu hóa kinh tế đã nói ở trên, chuyên môn hóa không chỉ dừnglại trong phạm vi nội bộ một quốc gia mà đã diễn ra trên phạm vi toàn cầu,thông qua sự phân công lao động quốc tế ngày càng rõ rệt Quy trình sản xuất
và phân phối sản phẩm đã vượt khỏi biên giới quốc gia thông qua hoạt độngxuất nhập khẩu cũng như đầu tư quốc tế trong đó phổ biến nhất là hình thứcđầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) Hình thức nàychủ yếu được thực hiện bởi các công ty đa quốc gia (Multi-national Enterprise
Trang 18– MNE), góp phần mở rộng thêm cho khái niệm “cơ sở kinh doanh có quan
hệ liên kết” và khiến thị trường nội bộ giữa các cơ sở kinh doanh bây giờkhông chỉ bó hẹp trong một vùng miền hay một quốc gia mà đã mở rộng, pháttriển lên toàn cầu Do đó, khái niệm giá chuyển nhượng cũng đã phát triển lênmột mức mới, đa dạng hơn, phức tạp hơn và cũng được sử dụng thườngxuyên hơn
Theo các quan điểm kinh tế hiện đại, giá chuyển nhượng là giá tính cho
hàng hóa (hữu hình hay vô hình) và dịch vụ cung cấp từ một cơ sở kinh doanhnày cho một cơ sở kinh doanh khác có mối quan hệ liên kết Trên góc độ kinhdoanh và với một phạm vi liên kết chặt chẽ hơn, giá chuyển nhượng là giá màmột bộ phận của một tổ chức kinh tế tính cho sản phẩm hoặc dịch vụ đã cungcấp cho một bộ phận khác trong chính tổ chức đó
Như vậy, về bản chất, giá chuyển nhượng là một loại giá phục vụ choviệc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa các cơ sở kinh doanh có quan hệ liênkết, đặc biệt là đối với các cơ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhautrong cùng một công ty đa quốc gia Xác định giá chuyển nhượng ban đầunhằm tăng cường hiệu quả hoạt động trong một nhóm cơ sở kinh doanh cóquan hệ liên kết Trên cơ sở xác định giá chuyển nhượng trong nội bộ nhóm,các nhà quản lí có thể đưa ra các quyết định tốt nhất khi lựa chọn giữa việcmua (bán) hàng hóa, dịch vụ trong nội bộ nhóm với bên ngoài Tại một công
ty đa quốc gia, giá chuyển nhượng có thể được sử dụng làm căn cứ tính toán,xác định các nghĩa vụ thu nộp, đóng góp vào ngân sách nhà nước mà công ty
đó có hoạt động sản xuất kinh doanh
Giá chuyển nhượng đóng vai trò là một công cụ quan trọng trong côngtác quản lí sản xuất kinh doanh của các công ty đa quốc gia cũng như tronghoạt động quản lí của các cơ quan nhà nước Tuy nhiên mức độ quan trọngcủa giá chuyển nhượng và những tác động của giá chuyển nhượng tới côngtác quản lí sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào hình thức tổ chức của công ty
Trang 19đó Theo tiêu chí này, giá chuyển nhượng có thể được phân thành hai loạichính:
- Giá chuyển nhượng nội địa (Domestic Transfer Price): được thiết lậpđối với các giao dịch diễn ra trong phạm vi nội bộ một quốc gia (các bộ phận,
cơ sở kinh doanh của công ty hay tập đoàn chỉ cùng hoạt động trên phạm vimột quốc gia), với mục đích thuần túy là phục vụ các mục tiêu quản trị nội bộcủa công ty hay tập đoàn đó, không có nhiều tác động lớn đến nền kinh tế
- Giá chuyển nhượng quốc tế (International Transfer Price): là giá cả
mà các công ty đa quốc gia thiết lập và sử dụng trong các giao dịch mua bán,chuyển nhượng các loại hàng hóa, dịch vụ giữa các cơ sở kinh doanh mà cáccông ty này sở hữu hay kiểm soát đặt tại nhiều quốc gia khác nhau Giáchuyển nhượng quốc tế có tác động lớn đến lợi ích kinh tế và số thu ngân sáchnhà nước nên luôn được đặc biệt quan tâm
Trong phạm vi đề tài, giá chuyển nhượng được đề cập và nghiên cứu cũng chính là giá chuyển nhượng quốc tế được thiết lập trong các công ty đa quốc gia.
1.1.2 Định giá chuyển nhượng (Transfer Pricing) và hành vi áp đặt giá chuyển nhượng (Transfer Price Manipulation)
Có thể hiểu, định giá chuyển nhượng là việc thiết lập giá chuyểnnhượng trong các giao dịch liên kết trong hoạt động kinh doanh của các công
ty đa quốc gia
Xét trên khía cạnh các MNE, định giá chuyển nhượng đóng một vai tròquan trọng trong việc theo dõi các giao dịch nội bộ, phân bổ chi phí tới chocác hoạt động khác nhau, đánh giá tình hình chi phí và doanh thu của các chinhánh khác nhau Trong một công ty hoạt động ở một chế độ thuế duy nhất,việc xác định đúng giá chuyển nhượng là cần thiết để đánh giá khả năng sinhlời của các bộ phận riêng biệt hoặc khả năng tiết kiệm chi phí tùy theo mụctiêu quản trị nội bộ mà từng công ty đặt ra, từ đó khuyến khích, thúc đẩy cácnhà quản lý các bộ phận làm việc tốt hơn
Trang 20Tuy nhiên, “không nên nhầm lẫn giữa các vấn đề định giá chuyểnnhượng với các vấn đề trốn thuế hoặc tránh thuế, thậm chí các chính sáchđịnh giá chuyển nhượng có thể được sử dụng với các mục đích như vậy”(OECD Report, 1979)
Điều rất quan trọng ở đây là cần phải phân biệt được thuật ngữ “địnhgiá chuyển nhượng” và “áp đặt giá chuyển nhượng” Như đã nói ở trên, vềbản chất thì định giá chuyển nhượng là một hoạt động hoàn toàn bình thường,hợp pháp và cần thiết cho cả quản trị nội bộ trong công ty cũng như yêu cầuquản lí của chính phủ Tuy nhiên, áp đặt giá chuyển nhượng khác với định giáchuyển nhượng, hay nói đúng hơn đó là một biến thái của việc định giáchuyển nhượng Đó là việc định giá cao hơn hoặc thấp hơn một cách không tựnhiên, một cách có chủ ý và không phù hợp nguyên tắc thị trường của cácMNE để tránh các quy định quản lý của chính phủ hoặc khai thác sự khác biệtxuyên biên giới về tỷ lệ thuế để nhằm giảm gánh nặng về thuế và tối đa hóatổng lợi nhuận sau thuế của toàn công ty cũng như đạt được các mục tiêu cụthể khác của MNE
Theo cách nói thông thường, khái niệm “chuyển giá” thường được sửdụng theo nghĩa áp đặt giá chuyển nhượng – mặt tiêu cực của định giá chuyểnnhượng Sau phần này, thuật ngữ chuyển giá sẽ được sử dụng với nghĩa nhưtrên
1.1.3 Các động cơ chuyển giá
a Các động cơ bên trong
- Phần lớn các MNE tổ chức những công ty con như là một trung tâmlợi nhuận Để đạt được mục tiêu lợi nhuận cũng như là mục tiêu chiến lượccủa MNE, các công ty con này sẽ được công ty mẹ độc quyền ra quyết định
về chiến lược cũng như cung cấp các yếu tố đầu vào sản xuất nhằm phục vụcho việc thực hiện chiến lược đó, hay nói cách khác hoạt động của các công
ty con gần như phụ thuộc vào chiến lược và kế hoạch của công ty mẹ Do đómức thống nhất và kiểm soát trong một MNE càng lớn (tính phụ thuộc càng
Trang 21cao) thì hành vi chuyển giá càng dễ xảy ra để phục vụ cho những mục đích vàlợi ích của toàn bộ MNE đó; ví dụ như tối thiểu hóa nghĩa vụ về thuế và qua
đó tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của toàn công ty, hoặc để bù đắp phần nàonhững chi phí ở chính quốc do phải đầu tư nhiều về nghiên cứu và triển khai(R&D),…
- Chuyển giá cũng có khi được sử dụng để nhằm mục đích thâm nhậpthị trường: bằng cách định giá thấp các sản phẩm đầu ra bán trong thị trườngnước nhận đầu tư cùng với các chiến lược marketing hiệu quả, các MNE vớitiềm lực tài chính khổng lồ sẽ gia tăng cơ hội chiếm lĩnh thị trường từ các đốithủ cạnh tranh trong nước có tiềm lực nhỏ hơn, đặc biệt là ở những quốc giathu nhập trung bình thấp như Việt Nam thì chiến thuật này càng dễ phát huytác dụng Với các MNE trong thời điểm ban đầu khi mới thâm nhập vào thịtrường thì việc quảng bá được sản phầm và chinh phục thị phần (đưa đượcsản phẩm đến tay người tiêu dùng) có phần quan trọng hơn là việc thu đượclợi nhuận vì lỗ trong giai đoạn này có thể được bù đắp trong giai đoạn kháccủa quá trình kinh doanh
b Các động cơ từ bên ngoài
- Sự quy định khác biệt về mức thuế thu nhập công ty: Trong số cáccông cụ quản lí thường sử dụng để khuyến khích hoặc hạn chế sự phát triểncủa các ngành kinh tế, chính sách thuế đặc biệt là thuế thu nhập công tythường được nhắc tới như là một công cụ hữu hiệu nhất Trong xu hướngchung là hội nhập và hợp tác phát triển kinh tế, mỗi quốc gia vẫn xây dựngcho mình những chính sách phát triển kinh tế riêng, với những công cụ quản
lí riêng phù hợp với thực trạng của quốc gia đó Mặt khác, tại các quốc giakhác nhau, chính sách kiểm soát định giá chuyển nhượng thường khác nhau
về mức độ và hiệu quả thực hiện
Lợi dụng sự khác biệt về mức độ điều tiết thuế này, thông qua việcchuyển giá, các công ty đa quốc gia có thể thổi phồng chi phí, giảm doanh thuqua đó giảm lợi nhuận trước thuế tại các cơ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia
Trang 22có thuế suất thuế thu nhập công ty cao nhưng các công cụ kiểm soát chuyểngiá thiếu hoặc yếu nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp tại đây; ngược lại, tạicác quốc gia có mức độ điều tiết thuế thu nhập công ty thấp, các cơ sở kinhdoanh của MNE sẽ có doanh thu lớn, chi phí nhỏ, thu nhập chịu thuế và sốthuế phải nộp ở các quốc gia này tuy tăng nhưng tổng thuế thu nhập phải nộpcủa toàn MNE sẽ thấp hơn nhiều so với khi không có hành vi chuyển giá.
- Những quy định về thuế xuất nhập khẩu: Đối với các MNE thì nhữngquy định khác nhau về mức thuế suất thuế xuất nhập khẩu giữa các quốc giachính là cơ hội và động lực để thực hiện chính sách chuyển giá Tuy nhiên khiđịnh giá hàng hóa xuất nhập khẩu, các MNE sẽ phải cân nhắc giữa mục tiêugiảm thuế thu nhập công ty hay giảm thuế xuất nhập khẩu vì trong nhiềutrường hợp hai mục tiêu này khó có thể thực hiện đồng thời Ví dụ như, địnhgiá cao hàng nhập khẩu có thể làm giảm số thuế thu nhập công ty phải nộpnhưng lại làm tăng thuế nhập khẩu…
- Hàng rào ưu đãi: Hầu hết nhiều quốc gia đều giành nhiều ưu đãi vềthuế để thu hút nguồn vốn FDI trong một thời kỳ nhất định Tại một số quốcgia, chính phủ xây dựng các khu vực miễn thuế cho FDI như là các trung tâmtài chính ở xa và các khu chế xuất Quy mô của hàng rào ưu đãi này càng lớn,càng tạo động lực để các MNE sử dụng công cụ chuyển giá nhằm chuyển lợinhuận tới các khu vực có hàng rào ưu đãi này
- Hạn chế trong việc chuyển lợi nhuận về nước: trên thực tế không phảimọi lúc mọi nơi các chính sách đều thuận lợi và rộng mở với các nhà đầu tưnước ngoài Có những dự án có thể đạt mức lợi nhuận cao, điều kiện khai thácđầu tư rất tốt song việc chuyển lợi nhuận về nước lại hết sức hạn chế donhững khó khăn về nguồn ngoại tệ, thuế suất thuế chuyển lợi nhuận cao,…
Do đó, để đạt được mục tiêu của mình, các MNE thường sử dụng hành vichuyển giá để gián tiếp chuyển lợi nhuận về nước, tránh những hạn chế hoặcrào cản của các quốc gia nhận đầu tư đối với những món chuyển lợi nhuận vềnước của các quốc gia đầu tư
Trang 23- Sự tham gia liên doanh của các đối tác địa phương: trong thời gianđầu của quá trình đầu tư, do chưa hiểu rõ về môi trường đầu tư, về thị trườngnội đia,… các MNE thường lựa chọn các đối tác địa phương tham gia liêndoanh, liên kết đầu tư Tuy nhiên việc phải phân chia lợi nhuận với các đối tácđịa phương, không hoàn toàn tự chủ về kinh doanh, là điều mà không mộtMNE nào mong muốn Do đó, lợi dụng ưu thế hơn hẳn đối tác địa phương vềquan hệ giao dịch và thương mại quốc tế, hiểu biết luật pháp quốc tế, khảnăng cung cấp nguyên vật liệu, máy móc có nguồn gốc từ nước ngoài… cácMNE thường sử dụng chính sách chuyển giá nhằm tăng vốn góp trong liêndoanh, giảm bớt lợi nhuận của liên doanh trước khi chia cho đối tác địaphương nhằm chiếm đoạt dần vốn đầu tư, gạt đối tác địa phương ra khỏi liêndoanh…
- Khả năng can thiệp hạn chế của các cơ quan thuế đối với hành vichuyển giá: thực tế đã chứng minh, khả năng các cơ quan thuế phát hiệnchính xác hành vi chuyển giá thường không cao do những hạn chế về quan hệhợp tác quốc tế, về phương tiện thiết bị và trình độ năng lực của đội ngũ cán
bộ quản lí Điều này càng tạo thêm những động cơ và cơ hội thôi thúc cácMNE thực hiện hành vi chuyển giá
- Môi trường kinh doanh và các rủi ro khác trực tiếp đe dọa đến lợinhuận công ty: Tại các quốc gia có chế độ kiểm soát ngoại hối chặt chẽ, tỷ lệlạm phát cao, nên kinh tế, chính trị xã hội bất ổn định hay ẩn chứa nhiều rủiro… các MNE thường sử dụng chính sách chuyển giá nhằm chuyển lợi nhuận
từ đồng tiền yếu sang đồng tiền mạnh, chuyển lợi nhuận đến các quốc gia cónền kinh tế xã hội ổn định hơn… Ngoài ra, mức lợi nhuận của một công tycon đạt được cao có thể dẫn đến các áp lực cho MNE từ những người laođộng (đòi tăng lương, ưu đãi, phụ cấp,…) hay từ chính phủ nước nhận đầu tưthông qua việc tăng thuế hay yêu cầu MNE tham gia với nhiều đối tác trongnước nhằm giữ lại lợi tức thu được đó ở lại trong nước nhiều hơn
Trang 241.1.4 Các phương thức chuyển giá
Nhìn chung các MNE sử dụng rất nhiều phương thức chuyển giá khácnhau nhằm tối ưu hóa lợi ích của mình Một số phương thức chính có thể kểtới là:
- Áp đặt giá của tài sản cố định, nguyên vật liệu cao hơn giá thị trườngtrong góp vốn đầu tư giữa công ty con và đối tác liên doanh của nước tiếpnhận đầu tư
- Áp đặt giá các tài sản vô hình dưới các hình thứchợp đồng chuyểngiao công nghệ, bí quyết công nghệ, bằng phát minh sáng chế, các hợp đồng
tư vấn quản lý
- Áp đặt giá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất kinh doanh cao hoặc thấphơn giá thị trường đối với các trường hợp phải nhập khẩu nguyên liệu để sảnxuất; áp đặt chi phí cao cho người nước ngoài làm công tác điều hành haychuyên gia, phí bảo dưỡng sửa chữa thiết bị,…
- Tài trợ các nghiệp vụ, dịch vụ cho công ty liên kết ở nước tiếp nhậnđầu tư với mức lãi suất cao hoặc thấp hơn lãi suất bình thường của thị trườngđối với khoản nợ cùng loại
- Áp đặt giá bán hàng hóa, thành phẩm cao/thấp cho các công ty liênkết trong các giao dịch nội bộ…
1.1.5 Các tác động tiêu cực của hành vi chuyển giá
- Làm giảm số thu về thuế: chuyển giá đã tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đếnphân phối thu nhập Thông qua chuyển giá, vốn, thu nhập sẽ chuyển ra khỏinước chủ nhà, cùng với đó là một khoản thu thuế đáng lẽ ra phải nộp vàoNgân sách nhà nước Thất thu về thuế sẽ khiến cho các phúc lợi kinh tế- xãhội của nước nhận đầu tư bị giảm sút đồng thời làm yếu đi quyền lực củaChính phủ hay nói cách khác sẽ giới hạn khả năng của Chính phủ các nướcnày trong việc theo đuổi các mục tiêu, chính sách kinh tế đã lựa chọn
- Làm giảm các lợi ích của người lao động: khi mục tiêu của các MNE
là tối thiểu hóa số thuế phải nộp tại nước chủ nhà, thu nhập của các cơ sở kinh
Trang 25doanh ở đây sẽ cố tình “được” giảm thấp thông qua hành vi chuyển giá, điềunày sẽ khiến người lao động tại các các cơ sở kinh doanh này không thể cảithiện mức lương cũng như được hưởng một số phúc lợi khác Đồng thời, mộtkết quả kinh doanh yếu kém chắc chắn sẽ ngăn chặn mọi ý định hoặc cơ hội
để các tổ chức công đoàn đưa ra các yêu sách tăng lương, tăng phúc lợi,…cho người lao động
- Gây thiệt hại cho các đối tác địa phương trong liên doanh: khi các đốitác nước ngoài góp vốn ban đầu trong liên doanh, họ có thể tăng giá trị vốngóp bằng cách định giá các máy móc, thiết bị, dùng để góp vốn cao hơn thực
tế Khi lợi nhuận của liên doanh bị chuyển đi do hành vi chuyển giá, các đốitác địa phương trong liên doanh sẽ mất bớt lợi nhuận, thậm chí là bị lỗ Trongtrường hợp lỗ kéo dài, nếu đối tác địa phương không chịu được khoản mấtmát này thì việc đối tác nước ngoài mua lại cổ phần hoặc phần vốn góp vớigiá rẻ là kết cục tất yếu
- Xâm hại lợi ích chính đáng của các nhà sản xuất kinh doanh nước chủnhà không có quan hệ liên kết khác: chuyển giá sẽ khiến mức độ thực hiệnnghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của các công ty, doanh nghiệp khác nhau, tạonên sự mất công bằng trong môi trường kinh doanh Ngoài ra, khi thực hiệnhành vi áp đặt giá bán ra của các hàng hóa sản phẩm thấp hơn giá thị trường
sẽ giúp cho các MNE thâm nhập dần vào thị trường nước chủ nhà hoặc thậmchí có thể tạo ra một sự độc quyền về nhãn hiệu, đẩy các doanh nghiệp cạnhtranh trong nước vào thế bất lợi Đồng thời, các nhà sản xuất trong nước cònphải gánh chịu những ảnh hưởng từ việc áp đặt giá chuyển nhượng cao đốivới hàng nhập khẩu làm giảm lượng ngoại tệ có thể phục vụ hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngoài ra, trong dài hạn hành vi chuyển giá có thể làm biến dạng hìnhthái đầu tư trong nền kinh tế quốc dân Chuyển giá sẽ làm giảm tính cạnhtranh trong nước, các nhà sản xuất tiềm năng sẽ bị ngăn chặn phát triển, khảnăng sinh lời thấp do chuyển giá sẽ không khuyến khích các nhà đầu tư trong
Trang 26nước ở các ngành kinh tế bị các MNE khống chế Chuyển giá còn làm thayđổi cấu trúc ngoại thương, ảnh hưởng tiêu cực đến các điều khoản thương mại
và cán cân thanh toán khi các MNE định giá thấp giá trị hàng xuất khẩu, địnhgiá cao giá trị hàng nhập khẩu Ngoại thương sẽ không phản ánh đúng tự dothương mại trên thị trường thế giới khi các MNE gần như toàn quyền kiểmsoát thương mại của nhiều quốc gia…
1.1.6 Biểu hiện bên ngoài của hành vi chuyển giá
Nhìn bề ngoài, hành vi chuyển giá thường có những dấu hiệu, hiệntượng sau:
- Có nhiều các giao dịch nội bộ với các cơ sở kinh doanh liên kết tạicác quốc gia khác, đặc biệt khi các cơ sở kinh doanh này đặt tại các quốc gia
có mức điều tiết thuế thu nhập công ty thấp
- Cơ sở kinh doanh của MNE đặt tại nước chủ nhà kinh doanh khônghiệu quả: lãi rất ít (tỷ suất sinh lời quá thấp so với các cơ sở kinh doanh cùngngành), thậm chí bị lỗ và lỗ liên tục kéo dài Tình trạng lãi lỗ có dấu hiệu bấtthường
- Quyền lợi của đối tác địa phương trong liên doanh bị giảm sút, đối tácđịa phương trong liên doanh bị mất vốn hoặc phải bán lại phần vốn góp chophía nước ngoài
- Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp quá thấp nếu so với cácdoanh nghiệp khác cùng quy mô, cùng lĩnh vực kinh doanh
- Doanh nghiệp kinh doanh có mặt hàng có giá bán thấp hơn rất nhiều
so với các mặt hàng có cùng chức năng và thuộc cùng chủng loại đang lưuthông trên thị trường
1.2 Cơ sở lý luận về chống chuyển giá
1.2.1 Khái niệm chống chuyển giá
Vấn đề chuyển giá, như đã giải thích ở phần trước, là vấn đề hết sứcnan giải đối với một quốc gia Ở mỗi quốc gia, thuế đều là nguồn thu chủ yếucủa ngân sách nhà nước Do đó mà một đồng thất thu về thuế do hành vi
Trang 27chuyển giá gây ra cũng sẽ được coi là một sai phạm nghiêm trọng cần được
xử lý thích đáng Các chính phủ cũng lo ngại rằng chuyển giá sẽ làm ảnhhưởng trực tiếp đến giá cả của mặt hàng mà MNE đó cung cấp trong nước vàlàm ảnh hưởng đến các cán cân thanh toán cũng như cán cân xuất khẩu củanước mình Chính vì vậy chính phủ các nước luôn nhìn nhận chuyển giá như
là một mối nguy hiểm tiềm ẩn và công tác chống chuyển giá được đặt ra như
là một trong những bài toán hàng đầu đang làm nhức nhối các nhà lãnh đạonhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Theo quan điểm của OECD, chống chuyển giá bao gồm những nộidung chính sau:
Qui định rõ ràng nghĩa vụ định giá theo nguyên tắc thị trườngtrong các giao dịch với các bên liên kết, khi xác định các nghĩa vụ thuế phảinộp của các cơ sở kinh doanh Theo đó, các cơ quan chính phủ có thể quyếtđịnh các phương pháp tính giá chuyển nhượng theo yêu cầu mà doanh nghiệp
đã đăng ký
Xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật chặt chẽ, hiệu quả
để phòng chống gian lận thuế qua định giá chuyển nhượng
Tuyên truyền và phổ biến các chính sách thuế có liên quan đếnđịnh giá chuyển nhượng để các cơ sở kinh doanh, các công ty đa quốc giathực hiện tốt, có những cảnh báo rõ ràng về sự nghiêm minh của pháp luật đểngăn ngừa từ đầu ý định gian lận thuế của các cơ sở kinh doanh, các công ty
đa quốc gia
Phát hiện kịp thời, chính xác các hành vi gian lận thuế qua định giáchuyển nhượng để có biện pháp xử lí nghiêm minh các hành vi gian lận thuế
Như vậy, chống chuyển giá là một hoạt động của các cơ quan Nhà
nước trong đó sử dụng kết hợp nhiều biện pháp nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý những vụ việc có liên quan đến chuyển giá cùng những tác hại mà nó gây ra.
Trang 281.2.2 Nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng (The arm’s length Principle – ALP)
Các nghiệp vụ mua bán nội bộ của MNC là những hoạt động mua bánqua lại giữa công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con của MNCvới nhau Các công ty con của MNC hoạt động trên phạm vi của nhiều quốcgia khác nhau do đó các giao dịch nội bộ của các MNC diễn ra rất đa dạng vàphức tạp với số lượng ngày càng nhiềuvà giá trị ngày càng lớn Như đã nói,trong thực tế các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ thường được các nhà quản lýcủa MNC định giá sao cho tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp trên bình diệntoàn tập đoàn, đây chính là một trong những mục đích (và thường là mục đíchchủ yếu nhất) của hành vi chuyển giá Hành vi này không chỉ tác động lên kếtquả hoạt động của MNC mà còn tác động lên ngân sách quốc gia Để tránhtình huống này, các chính phủ thường quy định định giá chuyển giao đặc thùthành bộ phận của hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp, các quy định nàyđều phải dựa trên khái niệm nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng- ALP (còngọi là giá thị trường/ giá mua bán công bằng), được ghi nhận tại Điều 9 – Mẫuhiệp định tránh đánh thuế hai lần do OECD ban hành Đây là cơ sở pháp lýđầu tiên và quan trọng nhất đề điều chỉnh giá chuyển nhượng và xử lý cáchành vi gian lận
a Nội dung của nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng
Nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng- ALP (còn gọi là giá thị trường/giá mua bán công bằng) được ghi nhận tại Điều 9 – Mẫu hiệp định tránh đánh
thuế hai lần do OECD ban hành, theo đó thì “ khi các điều kiện giao dịch
thương mại hay tài chính giữa hai công ty có quan hệ liên kết có sự khác biệt
so với các điều kiện tương ứng được thực hiện giữa hai công ty độc lập và do
đó lợi nhuận phát sinh lý ra sẽ đổ dồn về một công ty nhưng có thể không được khai báo thì vẫn tính vào tổng lợi nhuận của công ty đó và sẽ bị đánh thuế tương ứng” Điều này có nghĩa là giá cả phải phản ánh đúng quy luật
giá trị và quy luật cung-cầu thị trường, phải giống như là sự thật họ đáng được
Trang 29hưởng (hoặc phải chịu), các bên tham gia giao dịch tuyệt đối không đượcthông đồng và liên kết với nhau Các cơ sở kinh doanh có quan hệ liên kếttrao đổi, tiến hành giao dịch với nhau như là các cơ sở kinh doanh độc lập,không quen biết chứ không xem như là các bộ phận không tách rời của một tổchức kinh doanh, các điều kiện về thương mại và tài chính của giao dịch phảiđược xác định như trên thị trường cạnh tranh.
ALP dựa trên phương pháp tính toán tách biệt hay phương pháp thựcthể riêng rẽ Tức là, ranh giới của các MNE tùy thuộc vào biên giới quốc gia,các chi nhánh nội địa và nước ngoài thống nhất với công ty mẹ về mục tiêuthuế, nhưng các chi nhánh nước ngoài và các chi nhánh khác của MNE đượcxem xét như là các công ty riêng rẽ, hoạt động độc lập
Mục tiêu của ALP là phân bổ thu nhập theo cách giống như thị trường
tự phân bổ Điều này liên quan đến việc xác định giá chuyển giao dựa trên cơ sởgiao dịch nếu các bên là không liên kết, các giao dịch không chịu sự kiểm soát
b Cách thức áp dụng nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng
Khái niệm “ giao dịch mua bán ngoài” là giao dịch giữa hai bên không
có quan hệ gì với nhau Khi đó:
- Giá luôn được xác định trên cơ sở thị trường công bằng – giá thị trường
- Không nảy sinh một xung đột về lợi ích nào cả, vì quyền lợi các bên
là hoàn toàn độc lập với nhau
- Hai bên giao dịch ở vị trí ngang bằng nhau, không chịu sự kiểm soát hayảnh hưởng của bên nào cả, các giao dịch hoàn toàn công bằng và khách quan
ALP đặt ra câu hỏi: Giá nào sẽ được các bên thương lượng nếu cácthực thể không có quan hệ liên kết với nhau? Khi có quan hệ liên kết với nhauthi giá lại được xác định như thế nào? OECD cho rằng câu trả lời tốt nhất chovấn đề này được tính toán theo một trong 2 cách sau đây:
Trang 30Giá được xác lập dựa trên giá của các bên có quan hệ liên kết trong mộtgiao dịch có thể so sánh, ở các trường hợp có thể so sánh với bên không cóquan hệ liên kết có thể sử dụng để ước tính Khi đó, giá thương lượng với cácbên không liên kết có thể được sử dụng là giá giao dịch sòng phẳng Giả sử, Amua một hàng hóa trung gian từ một chi nhánh B cùng tổ chức với nó và cũngmua một hàng hóa tương tự từ công ty C không có liên kết Giá mà A phải trảcho C được sử dụng như một giá giao dịch sòng phẳng mà A áp dụng để trảcho B thỏa mãn ALP Giá này được gọi là giá có thể so sánh nội bộ Tương tựnhư vậy trong trường hợp A bán hàng hóa cho B và C.
c Kết luận
Nguyên tắc cơ bản nằm trong quy tắc thuế về chuyển giá là giá chuyểngiao nên xấp xỉ giá ALP mà hai bên không quan hệ liên kết lựa chọn nếuchúng giao dịch ở thị trường bên ngoài
Bí quyết để xác định một giá ALP là khả năng có thể so sánh của cácbên liên kết và các giao dịch độc lập Khả năng có thể so sánh đó nên không
có sự khác biệt trong các đặc tính có liên quan về mặt kinh tế của hai tình
Bên C (không liên kết) Bên D (không liên kết)
Trang 31huống trên mà có thể ảnh hưởng quan trọng đến phương pháp chuyển giáhoặc các sự khác biệt này có thể xảy ra trong kế toán.
1.2.3 Các phương pháp xác định giá chuyển giao
1.2.3.1 Phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled Price Method -CUP)
Nội dung: so sánh giá phải trả cho các hàng hoá hoặc dịch vụ được
chuyển giao trong một nghiệp vụ chuyển giao có kiểm soát với giá phải trảcho các hàng hoá và dịch vụ chuyển giao trong một nghiệp vụ chuyển giao tự
do có thể so sánh được
Điều kiện áp dụng: thực hiện nguyên tắc giá thị trường (tức là dựa
trên quan hệ không quen biết) Nếu có sự khác biệt không lớn lắm giữa cácnghiệp vụ chuyển giao của bên có liên kết với bên không liên kết, có thể làmảnh hưởng đến giá cả giao dịch
Các yếu tố cần chú trọng khi phân tích:
- Chất lượng hàng hoá, nhãn hiệu hàng hoá
- Điều kiện giao hàng, thời hạn chuyển giao, quan hệ thanh toán
- Quyền phân phối và tiêu thụ hàng hóa có ảnh hưởng đến giá trị kinh tế
- Thị trường nơi diễn ra giao dịch
Trường hợp áp dụng: Đây là phương pháp đáng tin cậy nhất khi áp
dụng nguyên tắc thị trường nếu tìm được giao dịch độc lập có thể so sánh Vìvậy, CUP thường được áp dụng trong trường hợp giao dịch đơn lẻ theo hìnhthức:
- Các giao dịch về hàng hóa thuộc khâu lưu thông thương mại
- Các giao dịch về bản quyền, phí dịch vụ, khế ước vay nợ
Phương pháp CUP có điều chỉnh sẽ không thực hiện được khi có
những sự khác biệt trong các nghiệp vụ chuyển giao giữa các bên có liên kết
và không liên kết mà việc điều chỉnh rất khó thực hiện, hoặc không thực hiệnđược Những sự khác biệt đó bao gồm: khác biệt về chất lượng
Trang 32sản phẩm; khác biệt thị trường về mặt địa lý; khác biệt về cấp độ thị trường;khác biệt về số lượng và loại tài sản vô hình liên quan đến việc bán hàng.
1.2.3.2 Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost plus method - CPM)
Nội dung: Phương pháp giá vốn cộng thêm chi phí dựa vào giá vốn
(hoặc giá thành) của sản phẩm do doanh nghiệp mua vào từ bên độc lập đểxác định giá bán ra của sản phẩm đó cho bên liên kết Giá bán ra của sảnphẩm cho bên liên kết được xác định trên cơ sở lấy giá vốn (hoặc giá thành)của sản phẩm cộng (+) lợi nhuận gộp Lợi nhuận gộp được tính theo tỷ suấtlợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra, phản ánh mứclợi nhuận hợp lý tương ứng với chức năng hoạt động củadoanh nghiệp và điềukiện thị trường Mức lợi nhuận này phải được tính toán sao cho giá cả chuyểngiao trong nghiệp vụ này có thể so sánh căn bản với giá thị trường trong cácnghiệp vụ mua bán chuyển giao giữa một công ty là thành viên của MNE vàmột công ty độc lập hoặc là giao dịch giữa hai công ty hoàn toàn độc lập vớinhau
Điều kiện áp dụng: Không có sự khác biệt trọng yếu về điều kiện giao
dịch giữa giao dịch liên kết và giao dịch độc lập được chọn để so sánh gâyảnh hưởng đến tỉ suất lợi nhuận gộp trên tổng chi phí hoặc mặc dù có sự khácbiệt thì ta có thể dùng các biện pháp tính toán để loại trừ
Các yếu tố cần chú trọng khi phân tích: Điều quan trọng là tính phần
lợi nhuận tăng thêm bao nhiêu là hợp lý Phần lợi nhuận tăng thêm này bị ảnhhưởng bởi các yếu tố sau:
- Nếu công ty này chỉ sản xuất và thực hiện mua bán theo hợp đồngcho chỉ mỗi công ty mẹ và không gia công cho bất cứ công ty nào khác thìphần lợi nhuận tăng thêm này sẽ được tính theo một tỷ lệ trên giá vốn sao chohợp lý
- Nếu công ty sản xuất ra sản phẩm vừa bán cho công ty mẹ và công
ty độc lập khác thì phần lợi nhuận tăng thêm sẽ được phân bổ theo tỷ lệ tổngvốn tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm Bên cạnh đó, còn phải so sánh
Trang 33giá cả hàng hóa dịch vụ trong nghiệpvụ mua bán nội bộ và nghiệp vụ mua bánvới công ty độc lập Thêm vào đó, một số yếu tố như chức năng hoạt độngcủa cơ sở kinh doanh sẽ kéo theo một số các chi phí kèm theo sẽ ảnh hưởngđến tỷ lệ lãi gộp.
- Các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng như các ràng buộc giao hàng vềthời gian, sốlượng và chất lượng sản phẩm, lưu kho, lưu bãi…
- Giao dịch cung cấp dịch vụ các bên liên kết
1.2.3.3 Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method- RPM)
Nội dung: Phương pháp giá bán lại dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra)
của sản phẩm do doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vàocủa sản phẩm đó từ bên liên kết Giá mua vào của sản phẩm từ bên liên kếtđược xác định trên cơ sở giá bán ra của sản phẩm trong các giao dịch độc lậptrừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác được tính trong giá sản phẩmmua vào (nếu có) (ví dụ: thuế nhập khẩu, phí hải quan, chi phí bảo hiểm, vậnchuyển quốc tế)
Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) được xác địnhbằng giá trị chênh lệch giữa giá bán ra (doanh thu thuần) và giá vốn sản phẩmmua vào chia cho (:) giá bán ra (doanh thu thuần)
Trường hợp doanh nghiệp có chức năng là đại lý phân phối không cóquyền sở hữu sản phẩm và được hưởng hoa hồng đại lý theo tỷ lệ phần trăm(%) trên giá bán của sản phẩm thì tỷ lệ đó được coi là tỷ suất lợi nhuận gộptrên giá bán ra (doanh thu thuần)
Trang 34Điều kiện áp dụng: Không có sự khác biệt trọng yếu về điều kiện giao
dịch giữa giao dịch liên kết và giao dịch độc lập được chọn để so sánh gâyảnh hưởng đến tỉ suất lợi nhuận gộp trên tổng chi phí hoặc mặc dù có sự khácbiệt thì ta có thể dùng các biện pháp tính toán để loại trừ
Các yếu tố cần chú trọng khi phân tích: các yếu tố ảnh hưởng trọng yếuđến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) như:
- Các chi phí phản ánh chức năng của doanh nghiệp (ví dụ: đại lýphân phối độc quyền, thực hiện các chương trình quảng cáo, khuyến mại, bảohành );
- Chủng loại, quy mô, khối lượng, thời gian quay vòng của sản phẩmmua vào để bán lại và tính chất hoạt động của giao dịch trên thị trường (ví dụ:bán buôn, bán lẻ, );
- Phương pháp hạch toán kế toán (tức là phải đảm bảo các yếu tố cấuthành lợi nhuận gộp và doanh thu của giao dịch liên kết và giao dịch độc lập
là tương đương nhau hoặc cùng được áp dụng chung các chuẩn mực kế toán)
Trường hợp áp dụng: Phương pháp này thường được áp dụng cho cáctrường hợp giao dịch thuộc khâu lưu thông thương mại đối với hàng hóa cótính thời vụ, thời gian giữa thời điểm mua vào và bán ra không quá một năm.Đồng thời hàng hóa trước khi bán lại không qua khâu gia công chế biến, lắpráp, thay đổi tính chất hàng hóa hoặc gắn với nhãn hiệu thương mại tênthương mại để làm tăng giá trị hàng hóa
1.2.3.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method- PSM)
Nội dung: Phương pháp PSM được sử dụng trong những trường hợp,
các MNE có mối liên kết mua bán qua lại quá chặt chẽ, các giao dịch với khốilượng lớn và phức tạp (với nhữngtrường hợp này, các phương pháp như CUP,RPM tỏ ra không hiệu quả) Phương pháp này dựa vào lợi nhuận thu được từmột giao dịch liên kết, tổng hợp của nhiều thành viên trong MNE thực hiện,sau đó thực hiện tính toán lợi nhuận cho từng thành viên tham gia liên kếtgiống như cách các bên giao dịch độc lập phân chia lợi nhuận trong những
Trang 35điều kiện tương đương Các giao dịch tổng hợp thường là các giao dịch đặcthù, duy nhất bao gồm nhiều giao dịch liên kết có liên quan chặt chẽ về cácđặc tính sản phẩm.
Dựa vào mối liên hệ giữa các bên tham gia thì có hai cách tínhcho phương pháp chiết tách lợi nhuận như sau:
Cách 1: trước hết ta tính tỷ lệ góp vốn (chi phí), sau đó ta tổng hợp lợi
nhuận từ giao dịch tổng hợp rồi phân chia cho mỗi bên liên kết theo tỷ lệ gópvốn
Cách 2: phân chia lợi nhuận theo hai bước sau:
Bước 1:
Trước hết phân chia lợi nhuận cơ bản cho mỗi bên tham gia giao dịchliên kết tương ứng với chức năng hoạt đông của mình Sở dĩ gọi là lợi nhuận
cơ bản vì nó chưa tính đến các yếu tố đặc thù và duy nhất (ví dụ: độc quyền
sở hữu hoặc sử dụng tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ) Phần lợinhuận cơ bản này được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lợitương ứng với giá trị phù hợp nhất thuộc biên độ giá thị trường chuẩn theo tỷsuất lợi nhuận gộp
Bước 2:
Phân chia lợi nhuận phụ trội cho mỗi bên tham gia giao dịch liên kếttương ứng với tỷ lệ đóng góp liên quan đến tổng lợi nhuận phụ trội (bằng vớitổng lợinhuận thu được trừ đi tổng lợi nhuận cơ bản đã phân chia ở bước 1).Phần lợi nhuận phụ trội này phản ánh lợi nhuận của giao dịch liên kết tổnghợp mà cơ sở kinh doanh thu được ngoài phần lợi nhuận cơ bản nhờ các yếu
tố đặc thù, duy nhất
Phần lợi nhuận phụ trội của mỗi bên bằng tổng lợi nhuận phụ trội nhânvới tỷ lệ đóng góp các chi phí hoặc tài sản dưới đây của mỗi bên:
- Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm
- Giá trị (sau khi đã trừ đi khấu hao) của tài sản vô hình hoặc quyền
sở hữu trí tuệ được sử dụng để sản xuất, kinh doanh sản phẩm Trong thực tế
Trang 36phương pháp chiết tách lợi nhuận thường được áp dụng cho các trườnghợpcác bên liên kết cùng tham gia nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới hoặcphát triển sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền hoặc các giao dịch trong quytrình sản xuất, kinh doanh chuyển tiếp giữa các bên liên kết từ khâu nguyênvật liệu đến thành phẩm cuối cùng để lưu thông sản phẩm gắn liền với việc sởhữu hoặc quyền sở hữu trí tuệ duy nhất.
Các yếu tố cần chú trọng khi phân tích:
- Các khác biệt khi tính toán hoặc quy đổi giá trị bằng tiền đối với giá
trị tài sản vô hình do mỗi bên đóng góp và thời gian sử dụng của tài sản đótrong giao dịch liên kết
- Chức năng hoạt động chính của cơ sở kinh doanh
Trường hợp áp dụng: Các bên liên kết tham gia giao dịch tài sản vô
hình, sản phẩm độc quyền, giao dịch có tính liên kết chặt chẽ khép kín
1.2.3.5 Phương pháp so sánh lợi nhuận (Comparable profit method - CPM)
Phương pháp so sánh lợi nhuận là phương pháp mở rộng của phươngpháp giá bán lại và phương pháp giá vốn cộng lãi Phương pháp này dựa vào
tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong các giao dịch độc lập được chọn để sosánh làm cơ sở xác định tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kếtkhi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau Phương phápnày không cho ra kết quả về giá mà tính ra được thu nhập thuần trước thuế là
cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và được áp dụng với mộttrong các điều kiện sau:
- Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giaodịch độc lập và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinhlời;
- Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinhlời nhưng các khác biệt này đã được loại trừ bằng cách xác định giá trị bằngtiền của các khác biệt trọng yếu đó để điều chỉnh, tuỳ theo từng trường hợp cụthể có thể tăng hoặc giảm giá trị nhằm loại trừ các khác biệt trọng yếu đó
Phương pháp này được áp dụng rộng rãi
Trang 371.2.3.6 Thỏa thuận xác định giá trước (Advance Pricing Agreements – APA)
Thời gian qua, ngành Thuế đã triển khai quyết liệt việc kiểm tra, thanhtra chống chuyển giá nhưng hiệu quả chưa cao vì chuyển giá từ giao dịchquốc tế là khá phức tạp, thiếu thông tin để chứng minh vấn đề gian lận giámua - bán, khó xác minh bên mua bên bán thực tế tại nước ngoài Để kiểmsoát vấn đề này theo nguyên tắc giá thị trường, tạo điều kiện cho DN vừa tuânthủ pháp luật cả ở nước nhận đầu tư và ở nước xuất khẩu vốn, thì một trongnhững nội dung quan trọng được bổ sung, sửa đổi trong Luật Quản lý Thuế là
bổ sung Cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá (APA)
a Nội dung của APA
Thỏa thuận giá trước là một thỏa thuận đơn hoặc song phương giữangười nộp thuế và các cơ quan thuế có liên quan về chuyển giá trong mộthạng mục cụ thể của các bên liên quan trong các giao dịch Thỏa thuận nàynêu ra hạng mục của các giao dịch là đối tượng, hoàn cảnh và điều kiện củacác giao dịch và sẽ có hiệu lực trong một thời gian nhất định
Cơ chế thoả thuận trước về phương pháp xác định giá được dựa trên rấtnhiều yếu tố như giá thị trường, chi phí, tỷ suất lợi nhuận để người nộp và
cơ quan thuế cùng xác định trong vòng từ 3-5 năm Trong thời gian đó, cơquan thuế sẽ cam kết không điều chỉnh mức giá chuyển giao giữa các bênnhằm tạo ra môi trường ổn định và có thể dự đoán được cho các đối tượngnộp thuế
Khi cơ chế thỏa thuận trước về giá được áp dụng một cách nghiêm ngặt
sẽ làm giảm đi nguy cơ về áp đặt giá chuyển giao giữa các giao dịch liên kết,qua đó sẽ làm cho giá trong các giao dịch này trở nên gần với giá được xácđịnh theo nguyên tắc giá thị trường
Cơ chế này cũng góp phần giải quyết vấn đề khó khăn trong 5 phươngpháp được nêu ra trong quy định của OECD là làm thế nào để xác định đượcchính xác giá thị trường trong các giao dịch liên kết thì bằng cách này, cơquan thuế và các doanh nghiệp chủ động đặt giá cho các giao dịch đó
Trang 38Hình thức thỏa thuận giá trước ngày càng phổ biến đối với các công ty
đa quốc gia, do nó là một công cụ cung cấp khả năng dự đoán trước Khi mộtthỏa thuận trước được tuân thủ chặt chẽ thì nguy cơ điều chỉnh về chuyển giá
sẽ được loại trừ Kết quả là doanh nghiệp liên quan có thể nhận được ít hơnnhững yêu cầu về các tài liệu liên quan và điều này giảm được chi phí tuânthủ thuế
1.2.3.7 Xu hướng áp dụng các phương pháp
Ta thấy, trong hệ thống các phương pháp trên, Phương pháp so sánh giátrị thị trường độc lập, phương pháp giá bán lại, phương pháp giá vốn cộng lãiđều dựa trên cơ sở nghiệp vụ chuyển nhượng, là phương pháp truyền thống vàtrực tiếp
Trong điều kiện tính đa dạng và phức tạp trong mối quan hệ giữa các
cơ sở kinh doanh liên kết ngày một tăng thì hai phương pháp còn lại sẽ đượcxem xét sử dụng
Việc sử dụng phương pháp nào sẽ phụ thuộc vào số liệu có được
Bảng 1.1: Các loại giao dịch áp dụng cho các phương pháp xác định giá
Tài chính (vay mượn, ký quỹ, bảo lãnh) CUP, TNM, profit split
Chuyển giao tài sản vô hình
(công nghệ, nhãn hiệu, bí quyết)
CUP, CP
Trang 391.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chống chuyển giá
Để thu hút các nhà đầu tư vào thị trường nước mình, các quốc gia đềuphải xây dựng cho mình quy định về xác định giá thị trường được xác địnhtrên nền tảng là các nguyên tắc được thừa nhận ở OECD và căn cứ trên tìnhhình của nước mình Hơn thế nữa, luật lệ của mỗi quốc gia phải được đảmbảo tương thích với luật lệ của các quốc gia khác Điều này nhằm mục đíchđảm bảo tính hợp tác về quản lý thuế, tránh những bất lợi của việc cạnh tranhthu Ngân sách giữa các quốc gia Các quốc gia cần xem xét một cách thíchđáng cơ cấu của từng loại thuế đánh vào thu nhập và lợi nhuận của các cơ sởkinh doanh nộp thuế cũng như cơ sở tính thuế để đảm bảo mục tiêu về thu
ngân sách nhưng cũng hợp lí để thu hút các nhà đầu tư Có ba nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động chống chuyển giá là:
Thứ nhất là, hợp tác quốc tế trong công tác chống chuyển giá
Việc chống chuyển giá không chỉ là công việc của từng quốc gia mà nócòn là sự phối hợp giữa các quốc gia trên thế giới Để giảm đi động cơ gianlận thuế, các nước cần hợp tác để ngăn ngừa các trường hợp đánh thuế trùnglên các doanh nghiệp MNE Cơ quan thuế của các nước cần phối hợp tốt để
dễ phát hiện và xử lý các hành vi gian lận thuế và cũng tránh những hiểunhầm hoặc tranh chấp giữa các quốc gia
Thứ hai là, công tác giám định thuế
Để thực hiện tốt chống gian lận thuế qua định giá chuyển nhượng, việcthực hiện giám định tài sản là việc làm bắt buộc với cơ quan thuế Nó giúp cơquan tquản lý thuế xác định được giá trị thực của giao dịch cũng như tài sảntrong các loại góp vốn Cơ quan này cần phải xây dựng một cơ sở dữ liệu tốt,đựơc cập nhật thường xuyên, đầy đủ, toàn vẹn về đối tượng nộp thuế cũngnhư tình hình kinh tế trong nước và thế giới
Thứ ba là, trình độ của đội ngũ quản lý và trang thiết bị
Công việc chống chuyển giá là một công việc khó khănvà đòi hỏi mộtđội ngũ những người quản lý có năng lực và chuyên môn cao để hiểu sâu về
Trang 40các nhóm đối tượng nộp thuế Hơn thế nữa, chống chuyển giá là một côngviệc phức tạp nên cần có yêu cầu cao về trang thiết bị cũng như các phầnmềm chuyên dụng để xử lý liên tục hồ sơ của đối tượng nộp thuế và hỗ trợ,đánh giá khả năng thất thu thuế.
1.3 Cơ sở lý luận về kiểm toán chuyển giá
Như vậy là chúng ta đã đi qua được 2/3 chặng đường của việc đưa ranhững cơ sở lý luận: từ việc tìm hiểu về bản chất, động cơ, các phương thức
và tác động tiêu cực của hành vi chuyển giá đến những nguyên tắc và cácphương pháp xác định giá chuyển giao phục vụ cho cuộc chiến kiểm soát vàchống lại hành vi gian lận ngày càng phổ biến nhưng cũng chứa đựng không
ít phức tạp này Trong phần tiếp theo sẽ giới thiệu về nội dung chính của đềtài: bản chất, sự cần thiết (ý nghĩa) và cả các vấn đề khác xoay quanh đốitượng chính - kiểm toán chuyển giá, thông qua sự khái quát về kiểm toán vànhững lý luận về chuyển giá cũng như chống chuyển giá đã được trình bày ởtrên
1.3.1 Khái niệm kiểm toán chuyển giá
1.3.1.1 Đôi nét về sự ra đời và bản chất của kiểm toán
Trong lịch sử hình thành và phát triển văn minh nhân loại, loài ngườixưa nay vẫn có xu hướng quan tâm đến các hoạt động quản lý kinh doanhcũng như vai trò của việc kiểm tra, kiểm soát Các nhà sử học khẳng địnhrằng, cách đây 6000 năm, loài người đã biết sử dụng hình thức tính toán trongcác hoạt động của mình Thời đó các bản tính toán được lập theo yêu cầu củacác lãnh chúa, binh tướng, còn người thực thi công việc này thì được gọi là taimắt của vua quan Nhiều quy trình được coi là nền tảng của việc hình thànhnên các chuẩn mực tính toán đã được các nhà khoa học, triết học thời cổ đạidày công nghiên cứu: Platon, Aristole… Trong cuốn “Bàn về chính trị” củamình, Aristole đã đưa ra một số quan điểm về chức năng của việc kiểm tra,kiểm soát đồng thời chỉ rõ ra rằng, kiểm tra (audit-revision) chính là một phầnquan trọng của quy trình quản lý Các nhà triết học thời đó cũng đã hiểu được