Lý do nghiên cứu Tài khoản vãng lai là bộ phận chính yếu trong cán cân thanh toán quốc tế, nó ghi nhận các giao dịch thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ;thu nhập và chuyển g
Trang 1CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2013
Tên công trình:
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG CÁN CÂN VÃNG LAI VIỆT NAM - GÓC
NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN LIÊN THỜI KỲ VÀ
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội
HÀ NỘI, 2013
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iii
PHỤ LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
Chương I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 3
1 Lý do nghiên cứu 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi và số liệu 3
4 Cấu trúc bài nghiên cứu 3
Chương II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ với tài khoản vãng lai 3
1.1 Các phương pháp tiếp cận cổ điển 3
1.2 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ 3
2 Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm 3
2.1 Quy mô ban đầu của tài sản nước ngoài ròng (NFA) 3
2.2 Độ mở thương mại (Trade Openness) 3
2.3 Tỷ giá hữu hiệu thực (REER) 3
2.4 Giai đoạn phát triển kinh tế 3
2.5 Phát triển tài chính 3
2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 3
2.7 Tỷ giá thương mại 3
2.8 Một số biến số khác 3
Chương III: THỰC TRẠNG CÁN CÂN VÃNG LAI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1996 - 2012 3
1 Quy mô cán cân vãng lai 3
Trang 32 Cơ cấu cán cân vãng lai 3
2.1 Diễn biến cán cân thương mại 3
2.1.1 Xuất khẩu hàng hoá 3
2.1.2 Nhập khẩu hàng hoá 3
2.2 Cán cân dịch vụ 3
2.3 Cán cân thu nhập 3
2.4 Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều 3
3 Các nguồn bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai 3
3.1 Đầu tư nước ngoài (FDI và FPI) 3
3.2 Vay nợ nước ngoài 3
4 Diễn biến các chính sách liên quan tới cán cân vãng lai 3
4.1 Chính sách thương mại quốc tế 3
4.1.1 Hiệp định thương mại và chính sách thuế xuất nhập khẩu 3
4.1.2 Chính sách phát triển xuất khẩu 3
4.2 Chính sách tỷ giá 3
4.3 Chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ 3
4.4 Chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 3
4.5 Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài 3
Chương IV: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CÁN CÂN VÃNG LAI 3
1 Phương pháp nghiên cứu 3
2 Số liệu và biến 3
3 Kết quả thực nghiệm 3
3.1 Quy mô ban đầu tài sản ròng nước ngoài 3
3.2 Giai đoạn phát triển kinh tế 3
3.2.1 Tăng trưởng kinh tế 3
3.2.2 Thu nhập tương đối 3
3.3 Độ mở thương mại 3
Trang 43.4 Tỷ giá thực hữu hiệu 3
3.5 Độ sâu tài chính 3
3.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
Chương V: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 3
1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 3
2 Hàm ý chính sách 3
3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 3
3.1 Hạn chế 3
3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 3
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 3
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai - kết quả ước
lượng từ các nghiên cứu thực nghiệm điển hình 19
Bảng 2: Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư qua các năm, %GDP 24
Bảng 3: Diễn biến cán cân thương mại giai đoạn 1996-2012 26
Bảng 4: Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu 31
Bảng 5: Cơ cấu xuất khẩu phân theo khu vực kinh tế qua các năm 33
Bảng 6: Cơ cấu nhập khẩu trung bình phân theo khu vực kinh tế qua các giai đoạn 37
Bảng 7: Cán cân dịch vụ của Việt Nam, triệu USD 39
Bảng 8: Cán cân thu nhập, triệu USD 41
Bảng 9: Nợ nước ngoài của Việt Nam qua các năm, %GDP 48
Bảng 10: Danh mục hàng hóa trong khuôn khổ CEPT của Việt Nam 50
Bàng 11: Các biến số, nguồn số liệu và cách đo lường 62
Bảng 12: Kết quả hồi quy cán cân vãng lai và cán cân thương mại 64
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Cán cân vãng lai Việt Nam qua các thời kỳ 23
Hình 2: Cán cân vãng lai một số nước, triệu USD 24
Hình 3: Cán cân thương mại theo khu vực kinh tế 27
Hình 4: CCTM theo nước, khối nước chính, tỷ USD 29
Hình 5: Xuất khẩu hàng hoá qua các năm 30
Hình 6: Cơ cấu xuất khẩu hàng hoá theo nhóm hàng 32
Hình 7: Cơ cấu xuất khẩu phân theo nước, khối nước chính 34
Hình 8: Nhập khẩu hàng hoá qua các năm 35
Hình 9: Cơ cấu nhập khẩu phân theo nhóm hàng 36
Hình 10: Cơ cấu nhập khẩu chia theo nước, khối nước chính 38
Hình 11: Chuyển giao thu nhập ròng, triệu USD 43
Hình 12: Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỷ USD 45
Hình 13: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác 45
Hình 14: Đầu tư gián tiếp nước ngoài, triệu USD 47
Hình 15: Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu (NEER) và tỷ giá thực hữu hiệu (REER) 54
Trang 7PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Hiệu ứng đường cong J 79
Phụ lục 2: Cơ chế tỷ giá Việt Nam giai đoạn 1997 – 2012 79
Phụ lục 3: Tính toán REER 80
Phụ lục 4: Các kiểm định tự tương quan 81
Phụ lục 5: Cán cân thanh toán Việt Nam giai đoạn 1996-2011 81
Phụ lục 6: Biến động thu nhập tương đối (ΔRel_y) Rel_y) 83
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACFT
A ASEAN China Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC Asia-Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế ChâuÁ - Thái Bình Dương
ASEM Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á - Âu
CEPT Common Effective Preferential
EMEs Emerging market economies Các nền kinh tế thị trường mới
nổiFDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FGLS Feasible Generalized Least
Squares
nước xuất khẩuFPI Foreign Portfolio Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoàiGDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GMM Generalized method of moments
Trang 9GSO,
TCTK General statistics office Tổng cục thống kê
IDCs Industrial developed countries Các nước công nghiệp phát triển
IFS International Financial Statistics Thống kê tài chính quốc tếIMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
LIFEs Low-income and fragile economies Các nước thu nhập thấp và dễ bị tổn thương
MENA Middle East and North Africa Khu vực Trung Đông và Bắc Phi
NEER Nominal effective exchange rate Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệuNFA Net Foreign Assets Tài sản ròng nước ngoài
OECD Organisation for Economic Co-operation and Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế
OER Official exchange rate Tỷ giá chính thức thống nhất do NHNN công bố
OLS Ordinary least squares Phương pháp bình phương nhỏnhất
REER Real effective exchange rate Tỷ giá thực hữu hiệu
SBV,
NHNN The State Bank of Vietnam
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
VECM Vector error correction model Mô hình véctơ hiệu chỉnh sai
Trang 10WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế Giới
Trang 11Chương I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1 Lý do nghiên cứu
Tài khoản vãng lai là bộ phận chính yếu trong cán cân thanh toán quốc
tế, nó ghi nhận các giao dịch thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ;thu nhập và chuyển giao ròng từ nước ngoài; và là một trong những chỉ sốquan trọng để đánh giá hành vi trong tương lai của nền kinh tế Theo cáchtiếp cận liên thời kỳ, cán cân vãng lai phản ánh mức độ chênh lệch giữa tiếtkiệm và đầu tư trong nước Thâm hụt cán cân vãng lai đồng nghĩa với việctiết kiệm trong nước không đủ mức đầu tư lớn hơn trong nước, đòi hỏi phảithu hút các nguồn vốn từ bên ngoài như FDI, kiều hối hay là các khoản vay
nợ nước ngoài Với một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và đang ởgiai đoạn đầu của sự phát triển như Việt Nam hiện nay thì thâm hụt cán cânvãng lai là điều dễ hiểu Thậm chí, xét ở một góc độ nào đấy, điều này còn
là cần thiết để Việt Nam có thể tận dụng được nguồn vốn từ bên ngoàinhằm phát triển kinh tế Tuy nhiên, tình trạng này kéo dài có thể ảnh hưởngtới khả năng thanh toán của một quốc gia, tiềm ẩn nhiều rủi ro và tác độngxấu tới nền kinh tế Tác động này có thể xảy ra như là một cú sốc đối vớicân bằng bên ngoài của nền kinh tế dưới hai hình thức: (i) như một cuộckhủng hoảng tiền tệ đi kèm với sự mất giá mạnh đồng nội tệ hay suy kiệt
dự trữ ngoại tệ của quốc gia đó; (ii) như một cuộc khủng hoảng nợ nướcngoài, dưới dạng mất khả năng trả nợ nước ngoài và/hoặc không có khảnăng vay nợ nước ngoài Thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài nếu khôngđược tài trợ bằng thặng dư cán cân vốn sẽ dẫn tới thâm hụt cán cân thanhtoán, gây ra sức ép giảm giá đồng nội tế Đối với những nước với thịtrường vốn phát triển, cơ chế tỷ giá linh hoạt thì vấn đề này không phải lànghiêm trọng Nhưng đối với những nước đang phát triển, khi mà thịtrường vốn còn bị kiểm soát chặt chẽ, cơ chế tỷ giá neo cố định thì sự mất
Trang 12giá đồng nội tệ liên tục không những không thể giúp cải thiện cán cânthương mại mà còn gây ra những tác động tiêu cực tới nền kinh tế KhiChính phủ theo đuổi chính sách tỷ giá cố định, họ buộc phải sử dụng dữ trữngoại hối nhằm ổn định tỷ giá như đã cam kết với người dân, do đó thâmhụt vãng lai kéo dài có thể dẫn tới mất cạn kiệt dự trữ ngoại hối và cuốicùng là một cuộc khủng hoảng tiền tệ Mặt khác, được tài trợ bằng cán cântài khoản vốn sẽ giúp quốc gia đó tránh một cuộc khủng hoảng tiền tệ Tuynhiên, một quốc gia không thể mãi là người đi vay và cũng không mộtnước nào có thể cho nước khác vay mãi nếu không chắc chắn rằng họ có đủkhả năng trả nợ Khi phải vay nợ nước ngoài kéo dài, niềm tin của các nướcvào nước đi vay sẽ giảm sút và đến một lúc nào đó quốc gia này sẽ khó cókhả năng vay nợ thêm cũng như mất khả năng thanh toán nợ cũ Cuối cùng
sẽ dẫn tới một cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài Roubini & Wachel (1998)
cho rằng thâm hụt cán cân vãng lai trong các nền kinh tế đang chuyển đổiphản ánh cả hai khía cạnh trên
Có quan điểm cho rằng, thâm hụt cán cân vãng lai phản ánh nhữngthành công trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần thu hútvốn đầu tư nước ngoài và mở ra triển vọng tăng trưởng kinh tế nhanh Ởmột góc độ khác, thâm hụt vãng lai lại phản ánh một sự quản lý tồi trongquá trình chuyển đổi, thể hiện những mất cân đối quá mức và là nguy cơ
của một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán (Roubini và Wachel, 1998).
Như vậy thì thâm hụt vãng lai là tốt hay xấu là một câu hỏi không dễ trảlời, điều này còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô cũng như tình hìnhtài khoản vốn Nó chỉ thực sự trở nên xấu khi thâm hụt kéo dài và dẫn tớikhủng hoảng cán cân thanh toán, mất giá đồng nội tệ Tuy nhiên, hiện nay
ở Việt Nam vẫn có một quan niệm phổ biến là cứ nhập siêu, thâm hụtthương mại cũng như thâm hụt tài khoản vãng lai là xấu, là phản ánh củamột nền kinh tế yếu kém và ngược lại, thặng dư tài khoản vãng lai thể hiệnmột nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt
Trang 13Ngoài ra, cân bằng tài khoản vãng lai cũng quyết định tới thay đổi tàikhoản ròng của một nước so với các nước khác thế giới, phản ánh nhữngquyết định liên thời gian của cả cư dân trong và ngoài nước Chính bởi vậy
mà biến động tài khoản vãng lai luôn là một trong những chỉ số quan trọng
để đánh giá hành vi nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đồng thời ảnhhưởng sâu sắc tới các phân tích của các nhà hoạch định chính sách về sựphát triển của nền kinh tế, và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ trong
đó Kể từ năm 1996 tới nay, cán cân thương mại cũng như cán cân vãng laicủa Việt Nam liên tục thâm hụt trong nhiều năm liền và có xu hướng giatăng trong những năm gần đây Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á1997-1998, cán cân vãng lai chuyển từ thâm hụt 8,2% GDP năm 1996 sangthặng dư trong những năm 1999-2001 (khoảng từ 2-4% GDP) Tuy nhiênthâm hụt vãng lai bắt đầu quay trở lại từ năm 2002 và liên tục trong nhiềunăm liền, đặc biệt với mức thâm hụt lên tới 11,88% GDP năm 2008 Đốivới cán cân thương mại, kể từ năm 2003 trở đi, thâm hụt liên tục ở mức caovới đỉnh điểm là hai năm 2007-2008 lên tới 20% GDP Do đó việc hiểu rõcác phương thức của sự mất cân đối tài khoản vãng lai có ý nghĩa rất quantrọng đối với những chính sách kinh tế vĩ mô
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các nhân tố ảnhhường tới cán cân vãng lai và nguồn gốc của mất cân bằng cán cân vãng lai
toàn cầu Điền hình như của Debelle & Faruquee (1996); Chinn & Prasad (2003), và gần đây là của Lucun Yang (2011) hay Haddad & Nedeldjkovic (2012) v.v Mặc dù hầu hết những nghiên cứu này đều dựa trên phương
pháp tiếp cận liên thời kỳ nhưng mỗi nghiên cứu lại thực hiện trên mộtphạm vi các quốc gia khác nhau, cũng như do mục tiêu khác nhau dẫn tớicác biến đưa vào mô hình cũng có những sự khác biệt nhất định
Còn tại Việt Nam, cho tới thời điểm này vẫn chưa có những nghiêncứu cụ thể nào thực hiện kiểm định những nhân tố tác động tới cán cân
Trang 14vãng lai của Việt Nam Những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở phân tíchthâm hụt và khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai, cán cân thương
mại như Nguyễn Thị Hiền (2009); Nhật Trung (2008); hay gần đây là của Mai Thu Hiền và Cao Thị Thanh Thủy (2011); Tô Trung Thành (2012) Để
có thể lấp đầy khoảng trống học thuật đồng thời bổ sung bài nghiên cứutheo phương pháp định lượng dựa trên những số liệu về Việt Nam, đồngthời góp phần đưa ra những tài liệu tham khảo có ý nghĩa thực tiễn cho cácnhà hoạch định chính sách nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Nhân tố tác động cán cân vãng lai Việt Nam - góc nhìn từ cách tiếp cậnliên thời kỳ và hàm ý chính sách”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với số liệu thu nhập được về Việt Nam, nhóm tác giả xác định mụctiêu chính là tìm ra những nhân tố ảnh hường tới cán cân vãng lai của ViệtNam, chiều hướng tác động của các biến số cũng như ảnh hưởng về độ lớncủa nó Đồng thời cố gắng bổ sung vào khoảng trống học thuật nghiên cứuvề cán cân tài khoản vãng lai Với mục tiêu tổng quát như vậy, đề tàinghiên cứu này tập trung giải quyết các vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, phân tích thực trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt
Nam qua các năm
Thứ hai, phân tích những nguồn tài trợ chính cho thâm hụt vãng lai ở
Việt Nam, đồng thời tìm hiểu những chính sách có liên quan tới cán cânthương mại, cán cân vãng lai trong giai đoạn 1996 - nay
Thứ ba, xem xét tác động của các yếu tố tới cán cân vãng lai của Việt
Nam theo phương pháp tiếp cận liên thời kỳ Đồng thời giải thích nguyênnhân gây ra thâm hụt cán cân vãng lai trong giai đoạn nghiên cứu
Từ những kết quả thu được, chúng tôi đề xuất các lựa chọn chính sáchnhư là ý kiến đóng góp đối với các nhà hoạch định
Trang 153 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi và số liệu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng phương pháp tiếp cận liênthời kỳ tới cán cân vãng lai Đồng thời chúng tôi ước lượng mô hình hồiquy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để xem xét tác độngcủa các biến giải thích tới cán cân vãng lai
Ở Việt Nam, do số liệu thống kê còn chưa đầy đủ nên chúng tôi lựachọn bộ số liệu từ quý I năm 1996 tới quý II năm 2012 Đây là giai đoạn
mà số liệu phục vụ cho nghiên cứu khá đầy đủ, đồng thời cũng phản ánhđược giai đoạn Việt Nam bắt đầu có sự hội nhập sâu hơn với nền kinh tếkhu vực cũng như thế giới Điều này giúp cho mô hình hồi quy đạt đượckết quả tốt nhất
Số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu được chiết xuất từ nguồn chính
là IFS (IMF), ngoài ra, để phục vụ cho bài nghiên cứu chúng tôi cũng sửdụng một số số liệu từ các nguồn khác như GSO, MOF, WB, SBV
4 Cấu trúc bài nghiên cứu
Cấu trúc của bài nghiên cứu bao gồm 5 chương:
Chương I giới thiệu đề tài nghiên cứu, đưa ra lý do, mục tiêu, câu hỏi
nghiên cứu cũng như phương pháp, số liệu được sử dụng trong bài nghiêncứu
Chương II cung cấp cơ sở lý thuyết của phương pháp tiếp cận liên thời
kỳ, đồng thời đưa ra tổng quan tài liệu, kết quả thực nghiệm của các nghiêncứu quốc tế đã đạt được
Chương III sẽ xem xét diễn biến cán cân vãng lai của Việt Nam trong
giai đoạn nghiên cứu cũng như các chính sách liên quan Trong đó chúngtôi đề cập đến thực trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam, cơ cấucán cân vãng lai cũng như các nguồn tài trợ thâm hụt Sau đó xem xét các
Trang 16chính sách có liên quan tới biến động cán cân thương mại, cán cân vãng laicủa Việt Nam giai đoạn 1996 - nay.
Chương IV mô tả phương pháp nghiên cứu, số liệu và cách đo lường
cụ thể, kết quả thực nghiệm từ mô hình hồi quy Từ đó phân tích tác độngcủa các nhân tố tới sự thay đổi trong cán cân vãng lai
Chương V trình bày tóm tắt các kết quả ước lượng cũng như đưa ra
các khuyến nghị chính sách Đồng thời xem xét những hạn chế của bàinghiên cứu và đề ra định hướng nghiên cứu trong tương lai
Trang 17Chương II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN
NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ với tài khoản vãng lai
Từ trước đến nay đã có rất nhều mô hình, phương pháp tiếp cận tìmcách giải thích biến động của tài khoản vãng lai Một số phương pháp cóthể kể đến như cách tiếp cận chi tiêu - absorption approach; cách tiếp cận
co giãn thương mại – trade elasticity approach; và từ giữa những năm 90của thế kỷ trước cho tới này là sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp tiếpcận liên thời kỳ tới tài khoản vãng lai – intertemporal approach to currentaccount Trong đó, chúng tôi gộp hai phương pháp tiếp cận đầu tiên vàonhóm các phương pháp tiếp cận cổ điển bởi các phương pháp tiếp cận này
là những phương pháp đầu tiên xem xét giải thích cán cân vãng lai và chođến hiện nay ít được áp dụng
1.1 Các phương pháp tiếp cận cổ điển
Thứ nhất, phương pháp tiếp cận chi tiêu do A.Marshall, A.Lerner,
Joan Robinson và F Machlup phát triển, là một phương pháp theo địnhhướng kinh tế vĩ mô Điều đó có nghĩa mô hình được xây dựng mà khôngcần tham chiếu trực tiếp tới hành vi tối ưu hóa của người dân Nó dựa trênmột vài đặc điểm kinh tế vĩ mô, điểm mạnh của phương pháp này là đơngiản và tính thực tiễn Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý là phương pháp nàythiếu nền tảng lý thuyết sâu Theo đó, thì cán cân vãng lai là sự dư thừa sảnxuất của một quốc gia (Y) so với chi tiêu (A) được cho bởi công thức:
CA = Y - Atrong đó Y là thu nhập quốc dân; A = C + I + G là nhu cầu nội địa; C,
I, G lần lượt là tiêu dùng, đầu tư trong nước và chi tiêu Chính phủ Nhưvậy, một tài khoản vãng lai thặng dư có nghĩa là nước đó đang chi tiêu dưới
Trang 18mức thu nhập của mình (như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc); và thâmhụt cán cân vãng lai có nghĩa là nước này chi tiêu lớn hơn thu nhập củamình (như Hoa Kỳ và nhiều nước đang phát triển) Với một quốc gia đangtrải qua giai đoạn thâm hụt cán cân vãng lai, chỉ có hai giải pháp khắc phụctheo mô hình này: tăng Y hoặc giảm A.
Tăng Y là vấn đề về phía cung, IMF cho rằng tự do hóa kinh tế(thương mại tự do, tư nhân hóa, v.v.) sẽ mở ra sự năng động trong khu vựckinh tế tư nhân kéo theo sự gia tăng sản lượng Nhưng điều này sẽ tốn rấtnhiều thời gian, ngay cả khi nó có thể đạt được hiệu quả như mong muốn.Giải pháp thứ hai là vấn đề về phía cầu, giảm cầu chi tiêu trong nước A.Thông thường điều này đồng nghĩa với các chính sách thắt lưng buộc bụng– ngân sách eo hẹp và thắt chặt tiền tệ Đây chính là những điều kiện truyềnthống của IMF, một chính sách có thể đạt được kết quả gần như ngay lậptức Vì vậy các giải pháp cổ điền mà IMF đề xuất đó là: điều chỉnh kinh tếvĩ mô (hiệu quả ngay lập tức nhưng phải chịu những tác động tiêu cực) kếthợp với tự do hóa kinh tế (mở rộng “chiếc bánh kinh tế” theo thời gian).Như vậy phương pháp tiếp cận này chỉ xem xét cán cân vãng lai dựa trênnhững đặc điểm của kinh tế vĩ mô mà không xem xét đến những nhân tốtác động tới các đặc điểm này như hành vi của người dân Đồng thời như
đã nói, nó còn thiếu một nền tảng lý thuyết sâu, do đó chỉ áp dụng đượctrong một số trường hợp cụ thể mà không thể áp dụng rộng rãi
Thứ hai, cách tiếp cận co giãn thương mại do Alexander (1952) phát
triển là một lý thuyết hoàn toàn khác Nó rất dễ hiểu những cũng rất dễ hiểunhầm, do đó nhiều nhà kinh tế học cho rằng phương pháp này đòi hỏingười đọc phải nắm khá vững kiến thức về kinh tế học Ban đầu, cán cânvãng lai được coi như là cán cân xuất khẩu ròng của một quốc gia Theocách tiếp cận này thì giá quốc tế tương đối và các yếu tố quyết định điềunày được xem là trung tâm của sự thay đổi tài khoản vãng lai Một quốc gia
Trang 19trong tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai có thể sử dụng chính sách tỷ giánhằm cải thiện tình hình, cụ thể là chính sách phá giá đồng nội tệ Theohiệu ứng đường cong J1, trong ngắn hạn phá giá sẽ làm trầm trọng thêmthâm hụt cán cân vãng lai Nhưng sau đó trong trung hạn và dài hạn, tàikhoản vãng lai sẽ được cải thiện và chuyển sang thặng dư Ngoài ra, theophương pháp này, điều kiện để phá giá có hiệu quả là tổng hệ số co giãncầu nước ngoài đối với hàng xuất khẩu và cầu trong nước đối với hàngnhập khẩu theo tỉ giá lớn hơn một:
EX+EM>1 (điều kiện Marshall-Lerner)Trong những năm 1980, nhiều nhà kinh tế Mỹ (bao gồm cả FredBergsten và Paul Krugman) cho rằng một sự phá giá của đồng đô la Mỹ làhiệu quả trong việc giảm thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ Mặc dùphương pháp tiếp cận co giãn thương mại có lợi ích là dự đoán thựcnghiệm đơn giản, thường được tìm thấy là hữu ích trong việc kiểm tra tácđộng ngắn hạn của sự thay đổi tỷ giá tới cán cân tài khoản vãng lai, do tínhchất cân bằng từng phần của nó2 Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng hạnchế trong việc giải thích trạng thái dài hạn hoặc cân bằng của cán cân vãnglai
1.2 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ
Nghiên cứu cán cân vãng lai theo cách tiếp cận liên thời kỳ là một xuhướng mới và đang phát triển trên thế giới, theo đó cho phép đi sâu hơn tácđộng của nhiều biến số tới thâm hụt tài khoản vãng lai, bao gồm cả các
biến chính sách Theo cách tiếp cận liên thời kỳ, biến động tài khoản vãng
lai là hệ quả của các quyết định tiêu dùng và đầu tư trong dài hạn đặt dướinhững kỳ vọng tương lai Theo đó, mô hình này cho thấy những thay đổicủa cán cân thương mại có thể phản ánh những nhân tố ảnh hưởng đến tình
1 Xem phụ lục 1
2 tức là cách tiếp cận này chỉ nhìn vào giao dịch trên thị trường hàng hoá mà bỏ qua sự tương tác của các thị trường khác trong nền kinh tế
Trang 20hình tiết kiệm và đầu tư quốc gia Điều này cho phép mô hình có thể mởrộng ra rất nhiều biến số có thể tác động tiềm ẩn lên tài khoản vãng lai.
Phương pháp tiếp cận này được đề xuất bởi Sachs (1981), Buiter (1981) và được phát triển thêm bởi Obstfeld & Rogoff (1994) Thực nghiệm
các ứng dụng của mô hình liên thời kỳ đi theo hai hướng chính Một mặt,nhiều nghiên cứu cố gắng thiết lập bằng chứng ủng hộ mô hình cơ bản sửdụng các “chiến lược kiểm định” khác nhau (different testing strategies)
(Bergin & Sheffrin, 2000; Nason & Rogers, 2006) Mặt khác, một số bài
viết đã xem xét các mối quan hệ dài hạn giữa cán cân vãng lai và các nhân
tố vĩ mô cơ bản quyết định nó bằng cách áp dụng các kỹ thuật kinh tế
lượng chuẩn (Debelle & Faruquee, 1996; Chinn & Prasad, 2003; Gruber
& Kamin, 2005; Lucun Yang, 2011) Bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ đi
theo hướng thứ hai tương tự như những nghiên cứu này
Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ xem xét tài khoản vãng lai như là sựkhác biệt giữa tiết kiệm và đầu tư trong nước:
CA= S - I
và tập trung vào các yếu tố vĩ mô mà quyết định tới hai biến này Phươngpháp tiếp cận liên thời kỳ cho rằng hệ quả quyết định tiết kiệm và đầu tưdài hạn được tính toán dựa trên giá trị kỳ vọng của các yếu tố kinh tế vĩ môkhác nhau Phương pháp này cố gắng giải thích sự phát triển của tài khoảnvãng lai thông qua việc xem xét kỹ hơn các quyết định tiêu dùng, tiết kiệm
và đầu tư theo thời kỳ Cách tiếp cận này đã tổng hợp quan điểm thươngmại và dòng chảy tài chính bằng cách xem xét các yếu tố vĩ mô ảnh hưởngnhư thế nào tới giá tương đối trong tương lai và giá tương đối này lại ảnh
hưởng như thế nào tới quyết định tiết kiệm và đầu tư (Obstfeld & Rogoff, 1994).
Cách tiếp cận liên thời kỳ chỉ ra rằng, đối với nền kinh tế đang pháttriển, tăng trưởng dài hạn có thể làm phức tạp thêm các phân tích bởi việc
Trang 21cho phép cán cân tài khoản vãng lai khác không tại trạng thái ổn định Điềunày đồng nhất với tỷ lệ NFA/GDP là ổn định, ngụ ý rằng tại trạng thái ổnđịnh ta có:
CA/Y = g*NFA/Yvới g là tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa (g=ΔRel_y) Y/Y) Trong quá trìnhchuyển sang trạng thái ổn định dài hạn, có thể có nhiều yếu tố tác động ảnh
hướng tới mối quan hệ trên (Calderon et al., 2000) Cụ thể, xu hướng trong
tỷ giá hối đoái thực tế có thể làm phức tạp thêm mối quan hệ này nếu nó có
ảnh hưởng khác nhau tới NFA và GDP (Debelle & Faruqee, 1996).
Cũng có sự khác nhau giữa nước đi vay và nước cho vay trong mối
quan hệ giữa NFA và CA Kraay & Ventura (2003) lập luận rằng những
dấu hiệu của tài khoản vãng lai với những cú sốc tạm thời phụ thuộc vàophần tài sản nước ngoài (đi vay hoặc cho vay) trên tổng tài sản trong nướccủa một quốc gia Theo một số giả định, họ cho rằng phản ứng của tàikhoản vãng lai trước những cú sốc tạm thời bằng sự gia tăng tiết kiệm đượctạo ra trong thời gian xảy ra cú sốc Quy tắc này ngụ ý rằng với một cú sốc
có lợi sẽ tạo ra thâm hụt cán cân vãng lai đối với nước đi vay và thặng dư ởnước cho vay
Cách tiếp cận liên thời kỳ cũng cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế đóngmột vai trò quan trọng trong giải thích sự phát triển dài hạn sự phát triển tàikhoản vãng lai thông qua mức độ của xu hướng tiết kiệm Đặc biệt, sự đánhgiá cao của tỷ giá hối đoái thực làm tăng sức mua hàng hoá nhập khẩu bằngcả thu nhập hiện tại và tương lai Hiệu ứng này gây ra xu hướng tăng tiêudùng và giảm tiết kiệm, do vậy làm giảm số dư tài khoản vãng lai
Ngoài ra cách tiếp cận này chỉ ra rằng có thể xác định tài khoản vãnglai thông qua tập trung rõ hơn vào phần còn lại trong cán cân thanh toán đó
là tài khoản vốn Trong một nền kinh tế mở, tài khoản vốn có thể bị ảnhhưởng bởi đặc điểm các quốc gia và sự phản ứng lại đối với các chính sách
Trang 22kinh tế vĩ mô Ví dụ, mức độ mở thương mại quốc tế có thể phản ánh cáclựa chọn chính sách, bao gồm cả các chế độ thuế quan, hạn ngạch Theocác nghiên cứu chỉ ra, các quốc gia cởi mở hơn trong thương mại quốc tế
có xu hướng thu hút vốn nước ngoài để tài trợ cho chi tiêu liên quan tới thunhập, góp phần tạo ra thâm hụt tài khoản vãng lai Do đó, các quốc gia màduy trì tài khoản vốn tương đối mở sẽ có khả năng có sự mất cân bằng lớntrong cán cân vãng lai hơn là không duy trì Vì vậy độ mở thương mại cóthể có tác động quan trọng trong dài hạn đối với tài khoản vãng lai
Một nhân tố khác quyết định tới tiết kiệm mà theo Edwards (1995) làđộ sâu tài chính, thường được đại diện bởi tỷ lệ cung tiền M2/GDP Có thểgiải thích rằng biến này như là một thước đo cho sự phát triển của hệ thốngtài chính, hệ thống tài chính càng phát triển có thể gây ra tiết kiệm nhiềuhơn Nhưng biến này cũng có thể xem như là đại diện cho các hạn chế chovay đối với các cá nhân, do đó, thực sự có liên quan với mức độ thấp hơn
trong tiết kiệm tư nhân Tuy nhiên, Chinn & Prasad (2003) cho rằng những
ảnh hưởng của độ sâu tài chính thường ít rõ ràng hơn từ góc độ lý thuyết.Biến động tỷ giá thương mại (TOT) là một yếu tố khác quyết địnhbiến động tài khoản vãng lai trung hạn Các đại lý của các công ty xuyênquốc gia tại các nước đối diện với TOT biến động có thể sẽ tiết kiệm nhiềuhơn với lý do dự phòng Các nước có nhiều biến động trong tỷ giá thươngmại cũng có thể sẽ kém hấp dẫn đối với các dòng vốn bên ngoài Tuy
nhiên, Aizenman (1994) và cộng sự đã lập luận rằng các công ty xuyên
quốc gia có xu hướng đa dạng hoá cơ sở sản xuất của họ tại nhiều quốc giavới tỷ giá thương mại biến động để có sự linh hoạt nhằm tận dụng nhữngthuận lợi trong TOT cho bản thân họ
2 Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm
Trang 23Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã xuất hiện sự mất cânbằng lớn trong cán cân vãng lai toàn cầu, bắt đầu có nhiều nghiên cứu hơn
xem xét cán cân vãng lai theo cách tiếp cận liên thời kỳ như của Calderon, Chong & Loayza (2000); Karaay & Vetura (2003); Chinn & Prasad (2003); M Busière, M Fratzscher & G J Muller (2004) ; Gruber & Kamin (2005); Chinn & Ito (2007, 2008); Lucun Yang (2011) v.v Hầu hết
các nghiên cứu đều chỉ ra một nhóm các biến số có ảnh hưởng tới cán cânvãng lai trong ngắn và dài hạn bao gồm: quy mô ban đầu của tài sản nướcngoài ròng; độ mở thương mại; tỷ giá thực hữu hiệu; thu nhập tương đối;tốc độ tăng trưởng; tỷ giá thương mại; phát triển tài chính; ngoài ra còn
có yếu tố khác như chính sách và thể chế (Chinn & Ito 2008) Tuy nhiên do
mỗi khu vực kinh tế lại có các đặc điểm riêng biệt nên tác động của cácnhân tố này tới cán cân vãng lai là có thể khác nhau
2.1 Quy mô ban đầu của tài sản nước ngoài ròng (NFA)
Chinn & Prasad đã tìm thấy mối quan hệ tích cực của NFA tới cán
cân vãng lai khi nghiên cứu số liệu của 18 nước công nghiệp và 71 nước
đang phát triển giai đoạn 1971-1995 Strom & Cashin (2011) cũng kết luận rằng NFA tác động tích cực tới tài khoản vãng lai Lucun Yang (2011) nhận
thấy tác động của NFA là quan trọng hơn trong giải thích sự thay đổi dàihạn của cán cân vãng lai Tuy nhiên, theo kết quả khi nghiên cứu trên 8 nềnkinh tế mới nổi châu Á thì lại có sự khác nhau giữa các nước, một số nước
có mối quan hệ cùng chiều như Hồng Kông, Hàn Quốc, Ấn Độ trong khicác nước còn lại thì lại có mối quan hệ ngược chiều Ngoài ra, nghiên cứunày cũng tìm thấy mối quan hệ ngược giữa cán cân vãng lai tới NFA trong
trường hợp của Trung Quốc Haddad & Nedeldjkovic (2012) lại tìm thấy
mối quan hệ ngược chiều giữa NFA và CA trong trường hợp của Thổ NhĩKỳ, tuy nhiên ảnh hưởng của NFA tới thâm hụt cán cân vãng lai là tươngđối nhỏ
Trang 242.2 Độ mở thương mại (Trade Openness)
Chinn & Prasad (2003) đã tìm thấy mối tương quan âm giữa các chỉ
số mở cửa thương mại với cán cân vãng lai trong khu vực các nước đang
phát triển Strom & Cashin (2011) cũng chỉ ra có tác động tiêu cực của độ
mở thương mại đối với các nước đang phát triển khi nghiên cứu sự mất cân
đối tài khoản vãng lai khu vực Trung Đông Gruber & Kamin (2005) khi cố
gắng giải thích sự mất cân bằng cán cân vãng lai toàn cầu, đặc biệt là thặng
dư tài khoản vãng lai các nước châu Á, đã dựa trên cơ sở bài viết của Chinn
& Prasad Tuy nhiên nghiên cứu này lại chỉ ra mối tương quan dương của
thương mại quốc tế tới cán cân vãng lai Chinn & Ito (2008) cũng tìm thấy
mối tương quan dương giữa độ mở thương mại tới cán cân vãng lai trongkhu vực các nước công nghiệp (IDCs) Kết quả nghiên cứu trong trường
hợp của Thổ Nhĩ Kỳ (Haddad & Nedeldjkovic, 2012) cũng tương đồng với kết quả của Gruber & Kamin hay của Chinn & Ito Lucun Yang (2011) khi
xem xét 8 nền kinh tế mới nổi châu Á cũng chỉ ra rằng độ mở thương mại
có tác động tới sự thay đổi trong dài hạn của tài khoản vãng lai Và mốiquan hệ này là cùng chiều hay ngược chiều lại tuỳ thuộc vào từng nướcđược xét đến
2.3 Tỷ giá hữu hiệu thực (REER)
Debelle & Faruqee (1996) khi nghiên cứu số liệu của 21 nước công
nghiệp giai đoạn 1971- 1993 đã tìm thấy tỷ giá thực có tác động tới cán cân
vãng lai trong ngắn hạn Calderon, Chong và Loayza (2000) cũng chỉ ra
rằng việc tỷ giá thực được đánh giá cao có xu hướng làm xấu đi cán cânvãng lai Mối quan hệ tương tự cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của
Lucun Yang (2011), tuy nhiên tác động này chủ yếu xảy ra trong ngắn hạn
còn trong dài hạn chỉ tìm thấy được ở một số nước Như vậy hầu hết cácnghiên cứu đều chỉ ra rằng có tương quan âm giữa REER với cán cân vãnglai Biến số này cũng có thể được xem như một biến chính sách do đó kết
Trang 25quả nhận được ngụ ý một số vai trò của chính sách tỷ giá trong việc điều
chỉnh bên ngoài (Haddad & Nedeldjkovic, 2012).
2.4 Giai đoạn phát triển kinh tế
Thông thường để xem xét mức độ phản ánh giai đoạn phát triển kinh
tế của một quốc gia người ta thường xem xét tốc độ tăng trưởng và/hoặcthu nhập tương đối so với các quốc gia phát triển
Chinn & Prasad (2003) chỉ ra hiệu ứng dương của thu nhập tương đối
và hiệu ứng âm của bình phương biến này Điều này hàm ý rằng khi thunhập tương đối tăng có thể cán cân vãng lai sẽ được cải thiện nhưng mức
độ giảm dần Tuy nhiên Chinn & Ito (2008) lại chỉ thấy mối tương quan
dương trên khu vực các nước công nghiệp còn các nước đang phát triển lại
không thấy được mối quan hệ này Haddad & Nedeldjkovic (2012) cũng
tìm thấy kết quả tương đồng khi nghiên cứu yếu tố này tại Thổ Nhĩ Kỳ
Ngược lại, Aristovnik (2007) lại phát hiện được tương quan âm giữa thu
nhập tương đối (so với thu nhập khối OECD) của khu vực Trung Đông và
Bắc Phi (MENA) với cán cân vãng lai Lucun Yang (2011) lại tìm thấy tác
động tích cực ở một số nước và tác động tiêu cực ở một số nước trong dàihạn, tuy nhiên tác động này nhỏ hơn tác động của NFA hay độ mở thươngmại
Calderon, Chong & Loayza (2000) khi nghiên cứu các nước đang phát
triển nhận thấy tăng trưởng kinh tế góp phần làm gia tăng thâm hụt cán cân
vãng lai Haddad & Nedeldjkovic (2012) cũng ước lượng được 1% tăng trưởng làm giảm cán cân vãng lai 0,11% GDP tại Thổ Nhĩ Kỳ Chinn & Prasad (2003) không tìm thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng với cán cân
vãng lai với toàn bộ mẫu tuy nhiên khi xem xét trong khu vực các nước
công nghiệp lại cho thấy tương quan dương khá mạnh Aristovnik (2007)
cũng chỉ ra tăng trưởng kinh tế giúp cải thiện cán cân vãng lai của khu vựcMENA, kết quả này tương đồng với kết quả của Chinn & Prasad
Trang 262.5 Phát triển tài chính
Biến phát triển tài chính thường được đo bằng “độ sâu tài chính financial deepening”, đại diện bởi tỷ lệ mức cung tiền M2 so với GDP và
-là biến số quan trọng tại Việt Nam tác động tới cán cân thương mại Biến
số này được giả thuyết là có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại ViệtNam, bởi tình trạng bùng nổ tín dụng và nới lỏng điều kiện cho vay trongnhững năm gần đây đã dẫn đến đầu tư gia tăng mạnh mà không có sự giatăng tương ứng trong tiết kiệm do sự phát triển tài chính yếu kém Biến nàycũng được sử dụng để đánh giá tác động của chính sách tiền tệ lên cán cânthương mại
Chinn & Prasad (2003) xem xét tỷ lệ cung tiền M2/GDP đại diện cho
biến “độ sâu tài chính”, kết quả cho thấy biến này có tác động tích cực khámạnh lên các nước đang phát triển tuy nhiên lại không tìm thấy điều này ở
các nước công nghiệp Aristovnik (2007) cũng thu được kết quả tương tự
khi nghiên cứu biến động cán cân vãng lai của khu vực MENA, độ sâu tàichính có tác động tích cực trong ngắn hạn tới cán cân vãng lai
2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Vốn đầu tư nước ngoài tăng thêm sẽ là nguồn tài chính ổn định để tàitrợ cho thâm hụt thương mại, bởi vì khả năng duy trì thâm hụt của mộtquốc gia bị hạn chế bởi nguồn tài chính bên ngoài Vốn đầu tư nước ngoàicao hơn cũng có thể giúp tăng nhập khẩu Hơn nữa, tác động của FDI trêncán cân thương mại có thể được thể hiện thông qua các yếu tố khác nhưtăng trưởng kinh tế cao hơn và tích lũy NFA cao hơn Tuy nhiên, FDI cũng
có thể là một nguồn lực quan trọng để cải thiện năng lực sản xuất trongnước, sau đó là xuất khẩu, khiến cán cân thương mại được cải thiện hơn.Biến này cũng có thể giúp đánh giá các chính sách về FDI tại Việt Nam.Tổng dòng vốn FDI trong các giai đoạn trước có thể có tác động tiêucực tới cán cân vãng lai, Haddad chỉ ra tại Thổ Nhĩ Kỳ rằng nếu FDI tăng
Trang 27thêm 10% GDP sẽ làm giảm cán cân vãng lai 1,8% GDP (Haddad & Nedeldjkovic, 2012) A Aristovnik (2007) cũng chỉ ra mối quan hệ ngược
chiều này khi ước lượng GMM, FGLS đối với 17 nước khu vực TrungĐông - Bắc Phi
2.7 Tỷ giá thương mại
Một biến số vĩ mô nữa cũng có tác động lớn tới hoạt động xuất nhậpkhẩu do đó ảnh hưởng tới cán cân thương mại cũng như cán cân vãng lai đó
là tỷ giá thương mại Những cú sốc TOT tích cực có thể cải thiện cán cân
thương mại Tuy nhiên, một hàm ý trong phương pháp tiếp cận liên thời kỳ
là phản ứng của tài khoản vãng lai đối với các cú sốc về TOT phụ thuộcvào ảnh hưởng lâu dài của những cú sốc Nếu tồn tại lâu dài thì hiệu ứngđầu tư sẽ cao hơn hiệu ứng tiết kiệm, khiến cán cân thương mại xấu đi
(Kent và Cashin, 2003) Các kết quả thực nghiệm về tác động của TOT, thu
nhập tương đối và tăng trưởng đối với cán cân thương mại có thể có ýnghĩa đối với hành vi tiết kiệm - đầu tư của quốc gia và sẽ có ngụ ý liênquan đến cơ cấu nền kinh tế
Tỷ giá thương mại tăng có tác động tích cực tới tài khoản vãng lai khuvực đang phát triển nhưng lại có tác động tiêu cực tới các nước công
nghiệp phát triển (Chinn & Prasad, 2003) Strom & Cashin (2011) cũng
tìm thấy mối tương quan dương giữa TOT và cán cân vãng lai, trong đó cácnước xuất khẩu dầu là khá lớn và thấp hơn ở các nước thu nhập thấp (khu
vực MENA) Kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ (Haddad
& Nedeldjkovic, 2012)
2.8 Một số biến số khác
Ngoài ra trong một số nghiên cứu các tác giả còn xem xét tác động
của các biến số như giá dầu (Aristovnik, 2007); các biến chính sách, thể chế (Chinn & Ito, 2008); tăng trưởng ở các nước công nghiệp phát triển hay là OECD tuỳ theo đặc điểm của từng khu vực nghiên cứu cụ thể Thậm chí
Trang 28một số tác giả còn cố gắng đưa yếu tố nhân khẩu học vào phân tích các
nhân tố tác động tới tài khoản vãng lai (Morsy, 2009; Gruber & Kamin, 2005; Strom & Cashin, 2011) tuy nhiên điều này là rất khó xem xét.
Chinn & Prasad (2003) đưa ra một biến số là biến kiểm soát vốn đại
diện cho sự di chuyển dòng vốn có dễ dàng hay không giữa một quốc giavới thế giới bên ngoài Tuy nhiên, các tác giả chỉ tìm thấy tác động tích cựccủa biến kiểm soát vốn tới cán cân vãng lai đối với các nước công nghiệp
Chong & Loayza (2000) chỉ ra rằng với sự tăng trưởng cao hơn trong các
nước công nghiệp sẽ góp phần làm giảm thâm hụt cán cân vãng lai ở cácnước đang phát triển Điều này hàm ý chúng ta có thể đưa thêm biến tăngtrưởng ở các nước phát triển khi nghiên cứu cán cân vãng lai của Việt Nam
Ngược lại, Aristovnik (2007) lại chỉ ra tăng trưởng của khu vực OECD lại
có ảnh hưởng ngược chiều tới cán cân vãng lai của các nước xuất khẩu dầutrong khu vực MENA
Như vậy, từ khi phương pháp tiếp cận liên thời kỳ được áp dụng trongnghiên cứu tài khoản vãng lai tới nay đã có rất nhiều nghiên cứu được thựchiện Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về cả khu vực phát triển hayđang phát triển như MENA, các nền kinh tế mới nổi châu Á Tuy nhiên lạichưa có nghiên cứu cụ thể nào nghiên cứu cán cân tài khoản vãng lai của
Việt Nam Mặc dù Lucun Yang (2011) đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu
Việt Nam khi nghiên cứu nhóm các nền kinh tế mới nổi châu Á nhưng dohạn chế về số liệu nên đã không thực hiện được Do vậy mà nghiên cứu nàyđược thực hiện nhằm phân tích các tác nhân chính gây ra tình trạng thâmhụt cán cân vãng lai của Việt Nam hiện nay
Trang 29Bảng 1: Tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai - kết
quả ước lượng từ các nghiên cứu thực nghiệm điển hình
Biến số
Chinn & Prasad (2003) Chong & N LoayzaC Calderón & A.
(2000)
W Gruber & Kamin (2005) Hồi quy chéo (cross
section)
Hồi quy mảng (panel)
Hồi quy chéo
Ước lượng GMM
Hồi quy mảng
Toàn mẫu
Các nước đang phát triển
Toàn mẫu
Các nước đang phát triển
Tài sản ròng nước
Bình phương thu
Tỷ giá thương mại
Độ sâu tài chính
FDI (hoặc FDI t-1 )
Tốc độ tăng sản
Ghi chú: *, **, ***: có ý nghĩa thống kê mức 10%, 5%, 1%
Trang 30Biến số
Chinn & Ito (2008) A Aristovnik (2007) Strom & Cashin (2011)
Ước lượng OLS Ước lượng
LSDV
Ước lượng FGLS
Ước lượng GMM
Ước lượng GMM
Toàn mãu IDCs
Các nước
Tài sản ròng nước
Bình phương thu
Tỷ giá thương mại
Độ sâu tài chính
Tốc độ tăng sản
R-square 0,42 0,50 0,708 (Adj.R2 )
Mẫu
19 nước công nghiệp
& 69 nước đang phát triển
17 nước khu vực Trung Đông, Bắc Phi
24 nước NOEs, 39 nước EMEs, 43 nước LIFEs
Ghi chú: *, **, ***: có ý nghĩa thống kê mức 10%, 5%, 1%
Trang 31Biến số Estimated J-JCointegrating VectorsLucun Yang (2011)
(Long-Run Determinants)
Estimated Δcat Equation of the VECM Sys (Short-Run Dynamics
Tài sản ròng nước
Δnfa t-2
Tài sản ròng nước
India, Hong Kong &
Ghi chú: *, **, ***: Có ý nghĩa thống kê mức 10%, 5%, 1%
Trang 32Chương III: THỰC TRẠNG CÁN CÂN VÃNG LAI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1996 - 2012
Chương này cung cấp một cái nhìn tổng quan về diễn biến cán cân tàikhoản vãng lai từ năm 1996 đến nay theo quy mô, cơ cấu cũng như cácnguồn bù đắp chính thâm hụt cán cân vãng lai Đồng thời tìm hiểu nhữngchính sách liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp tới tài khoản vãng laitrong giai đoạn này Tài khoản vãng lai là bộ phận chính yếu trong cán cânthanh toán quốc tế, nó ghi nhận các giao dịch thương mại quốc tế về hànghóa và dịch vụ; thu nhập và chuyển giao ròng từ nước ngoài và là mộttrong những chỉ số quan trọng để đánh giá hành vi trong tương lai của nềnkinh tế Trong nghiên cứu này, chũng tôi bắt đầu nghiên cứu tài khoản vãnglai của Việt Nam kể từ năm 1996 sau sự kiện Việt Nam chính thức gia nhậpKhu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) Đây được coi là một bước độtphá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu(ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp táckinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Đặc biệt, tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Namchính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập tổ chứcnày Không chỉ có những nỗ lực tham gia các khu vực mậu dịch tự do, cácHiệp định thương mại, nước ta đã có những chính sách tác động tới cán cânvãng lai trong thời kỳ này như chính sách phát triển xuất khẩu, chính sáchthu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,
1 Quy mô cán cân vãng lai
Trang 33Theo dõi cán cân vãng lai của Việt Nam từ đó đến nay ta có thể thấyphần lớn thời kỳ đều trong tình trạng thâm hụt vãng lai Lùi lại một vài nămtrước thời điểm bài viết này nghiên cứu, kể từ năm 1989 khi nền kinh tế bắtđầu có những chuyển đổi quan trọng, tình trạng thâm hụt cán cân vãng laicủa Việt Nam giảm nhanh Tuy nhiên bắt đầu từ năm 1993 thì thâm hụt trởlại với mức độ ngày càng nghiêm trọng.
Hình 1: Cán cân vãng lai Việt Nam qua các thời kỳ
*: 2012 sử dụng số liệu 3 quý đầu năm
Nguồn: IFS (IMF)
Sau khi gia nhập AFTA thâm hụt cán cân vãng lai ở mức 8,2% GDPnăm 1996 và có giảm dần sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-
1998 Khi cơn bão khủng hoảng qua đi, hầu hết các nước trong khu vựcĐông Nam Á, Đông Á đều chuyển từ trạng thái thâm hụt sang thặng dưmạnh cán cân vãng lai thì Việt Nam dường như chậm hơn một nhịp và phảiđến giữa năm 1999 mới chuyển sang thặng dư Nguyên nhân là do nỗ lựccủa Chính phủ nhằm kiểm soát nhập khẩu; lượng vốn đầu tư FDI vào cũnggiảm mạnh do đó các máy móc thiết bị nhập khẩu thuộc khối FDI cũnggiảm theo Nhìn vào đồ thị dưới đây ta thấy hầu hết các nước này từ sau
Trang 34năm 1998 liên tục duy trì thặng dư trong tài khoản vãng lai, đặc biệt là
Trung Quốc liên tục duy trì ở mức rất cao
Hình 2: Cán cân vãng lai một số nước, triệu USD
Nguồn: IFS
Tuy nhiên khác những quốc gia này, cán cân vãng lai Việt Nam chỉ
duy trì thặng dư được trong một thời gian ngắn Thặng dư vãng lai chỉ duy
trì được trong 3 năm 1999-2001 với mức thặng dư giảm dần từ 4,1% xuống
2,1% GDP Đến cuối năm 2001, đầu năm 2002 cán cân vãng lai lại chuyển
sang trạng thái thâm hụt Mặc dù thâm hụt trong giai đoạn này là không lớn
(dao động dưới 5% GDP) nhưng với thời gian dài như vậy cũng cho thấy
nhiều điều đáng ngại đối với nền kinh tế Theo cách tiếp cận liên thời kỳ thì
cán cân vãng lai thể hiện mức độ chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư trong
nước Xem xét tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư trong giai đoạn này, ta thấy được
rằng sự chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư trong nước lớn hơn hẳn so với
giai đoạn có thặng dư vãng lai trước đó (bảng 2)
Bảng 2: Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư qua các năm, %GDP
199 9
200 0
200
1 2002
200 3
200 4
200 5
200 6
200 7
200
8 2009
201 0
201 1
S 17,1 20,2 21,7 24,8 27,1 28,9 28,0 27,1 27,9 31,4 31,7 27,3 24,5 27,8 28,6 30,8
I 32,1 34,6 32,4 32,8 34,2 35,4 37,4 39,0 40,7 40,9 41,5 46,5 41,5 42,7 41,9 34,6
Trang 35S-I -15,0 -14,4 -10,7 -8,0 -7,1 -6,5 -9,3 -11,9 -12,8 -9,5 -9,9 -19,2 -17,0 -15,0 -13,3 -3,8
Nguồn: TCTK, WB
Đặc biệt sau khi gia nhập WTO, cán cân vãng lai của Việt Nam lập
tức đạt thâm hụt kỷ lục trong 2 năm 2007 và 2008 với mức tương ứng là
9,8% GDP và 11,9% GDP Còn nếu xét theo quý thì mức thâm hụt còn có
phần nghiêm trọng hơn, nếu như quý II năm 2007 chỉ là thâm hụt 9,5%
GDP thì sang đến quý I năm 2008 đã lên tới 38,8% GDP Đồng thời, thời
kỳ này chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư đã lên tới trên 15% Năm 2008,
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra khiến nước ta cũng chịu nhiều
tác động lớn tới kênh xuất nhập khẩu, tuy nhiên thời kỳ này lại là thời kỳ
nước ta nhận được một lượng kiều hối lớn gửi về Điều này đã giúp cho cán
cân vãn lai có xu hướng giảm dần mức độ thâm hụt chì còn ở mức 6,8%
GDP năm 2009 và 4,0% GDP năm 2010 Sang đến năm 2011, nền kinh tế
Việt Nam rơi vào suy giảm tăng trưởng sau những dấu hiệu phục hồi tạm
thời năm 2010 nhờ vào chính sách kích cầu Tốc độ tăng trưởng cả năm chỉ
đạt 5,89% so với 6,78% năm 2010 Cùng với đó là mức tăng trưởng tổng
tích lũy tài sản, tiêu dùng cuối cùng đều âm đã khiến cho tổng cầu năm
2011 suy giảm so với năm trước3 Đồng thời, nhu cầu đầu tư, mở rộng sản
xuất cũng thấp hơn nhiều do lãi suất tăng cao, hạn chế tốc độ tăng tín dụng
và điều kiện tín dụng ngặt nghèo Những điều này dẫn tới nhu cầu nhập
khẩu giảm, tốc độ tăng nhập khẩu trong 2 năm 2011, 2012 luôn thấp hơn
tốc độ tăng xuất khẩu Do đó mà kể từ nửa cuối năm 2011 cho tới nay, cán
cân vãng lai nước ta đã chuyển sang trạng thái thặng dư, đồng thời mức
chênh lệch tiết kiệm - đầu tư cũng giảm xuống còn 3,8% năm 2011
2 Cơ cấu cán cân vãng lai
2.1 Diễn biến cán cân thương mại
3 Chương 2, “Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2012: Đối diện thách thức tái cơ cấu”, Nguyễn Đức
Thánh (cb), Nxb ĐHQG HN.
Trang 36Kể từ năm 1996 tới nay, cán cân thương mại của nước ta luôn trong
tình trạng thâm hụt, đặc biệt là từ sau năm 2003, tình trạng này ngày càng
trở nên nghiêm trọng Trong cả giai đoạn nghiên cứu, duy chỉ có 3 năm
1999-2001 là cán cân thương mại tương đối ổn định với mức thâm hụt
không đáng kể
Bảng 3: Diễn biến cán cân thương mại giai đoạn 1996-2012
Năm Giá trị xuất khẩu (triệu
Nhập
khẩu
(%GDP)
Cán cân thương mại (triệu USD)
Cán cân thương
mại
(%GDP)
Độ mở thương mại
((XK+NK)/G DP)
Trang 37Sau năm 2002, thâm hụt đã tăng nhanh và vượt ngưỡng 10% GDP.Đặc biệt sau khi gia nhập WTO, hội nhập sâu rộng với thế giới thì thâm hụtcán cân thương mại tăng mạnh cả về mức độ lẫn tỷ lệ so với GDP Năm
2007 thâm hụt lên tới 14,2 tỷ USD và 18 tỷ USD vào năm 2008 (tươngđương mức 20% và 19,8% GDP) Trong những năm trở lại đây mức độthâm hụt có giảm, chỉ còn khoảng 9,8 tỷ USD vào năm 2011 tuy nhiên sovới GDP thì vẫn ở mức 8% GDP là tương đối lớn Đến năm 2012, lần đầutiên kể từ năm 1993 nước ta đạt được thặng dư cán cân thương mại dù chỉ ởmức thấp là 284 triệu USD Nguyên nhân chủ yếu do suy giảm của sản xuất
và tiêu dùng trong nước dẫn tới suy giảm nhập khẩu Đáng chú ý là xuấtsiêu hàng hóa chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với mức xuấtsiêu đạt gần 12 tỷ USD, tập trung ở nhóm hàng gia công lắp ráp Ngược lạikhu vực kinh tế trong nước nhập siêu 11,7 tỷ USD, cho thấy một thực trạngtrong xuất nhập khẩu Việt Nam là trong xuất siêu vẫn có nhập siêu
Rõ ràng, đây là một vấn đề cần quan tâm khi xem xét đến thâm hụtthương mại ở Việt Nam Nếu như khu vực kinh tế trong nước liên tục thâmhụt qua các năm thì ở khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài lại thấy sựnổi lên rõ ràng khi khu vực này liên tục đạt thặng dư thương mại góp phầngiảm bớt mức độ thâm hụt cho cán cân thương mại tổng thể
Hình 3: Cán cân thương mại theo khu vực kinh tế
Trang 38Nguồn: TCTK
Đặc biệt, sự đóng góp lớn trong khối khu vực có vốn FDI trong năm
2012 lại chủ yếu tập trung nhờ một "đại gia" là Samsung4 Năm trước,Samsung xuất khẩu được 6 tỷ USD, năm nay xuất khẩu lên tới 12 tỷ USD.Sản phẩm chủ yếu là điện thoại Samsung Galaxy và tivi màn hình phẳng.Chính vì vậy đã giúp cho Samsung thặng dư lên tới khoảng 10 tỷ USDtrong năm nay và là nhân tố chính đưa cán cân thương mại Việt Nam đạtđược thặng dư Như vậy, kể tử năm 1999-2000, khi mà khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài bắt đầu nổi lên thì tỷ trọng đóng góp của khu vực này vàohoạt động xuất nhập khẩu ngày càng lớn Cùng với đó là hoạt động của cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phần lớn nhắm tới thị trường xuấtkhẩu, có hiệu quả cao, liên tục đạt được thặng dư thương mại đã góp phầncải thiện cán cân thương mại nước ta
Về thị trường xuất nhập khẩu, xuất khẩu Việt Nam phụ thuộc quá
nhiều vào một nhóm các quốc gia, khu vực bao gồm EU, ASEAN, NhậtBản, Trung Quốc, Mỹ Trong khi đó với nhập khẩu thì châu Á (đặc biệt làcác nước ASEAN và APEC) vẫn chiếm đa số do lợi thế về khoảng cách,chất lượng và giá cả hàng hóa phù hợp Việc tập trung vào một số thị
4 http://news.zing.vn/kinh-doanh/viet-nam-xuat-sieu-nho-samsung/a293272.html
Trang 39trường làm cho nhập khẩu của Việt Nam rất dễ rủi ro khi có những biếnđộng bất lợi từ các thị trường này Một vấn đề đặt ra hiện nay là càng ngàynước ta càng phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, khi mà nhập siêu củanước ta chủ yếu là nhập siêu với Trung Quốc Kể từ sau khi Việt Nam thamgia khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, thâm hụt thương mạivới Trung Quốc ngày càng lớn trong khi thâm hụt với các nước trong khốiASEAN có xu hướng giảm dần Nếu như năm 2002, thâm hụt thương mạivới Trung Quốc chỉ là 0,6 tỷ USD chiếm khoảng 20% tổng thâm hụt cáncân thương mại năm đó thì tới năm 2012, thâm hụt song phương với TrungQuốc đã lên tới 16,7 tỷ USD trong khi cán cân thương mại đạt thặng dư
248 triệu USD Bên cạnh đó, ta có thể thấy cán cân thương mại của nước tađạt thặng dư chủ yếu với 2 thị trường xuất khẩu chính là Mỹ và EU Đặcbiệt kể từ năm 2001 sau khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ được ký kết,thặng dư thương mại với Mỹ đã liên tục tăng mạnh qua các năm Năm
2002, thặng dư thương mại với Mỹ đạt 2,0 tỷ USD tăng gấp 3 lần so với0,65 tỷ USD năm 2001 Đến nay, thặng dư thương mại với Mỹ đã đạt mức14,9 tỷ USD năm 2012 cho thấy Mỹ ngày càng là một đối tác quan trọngtrong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Hình 4: CCTM theo nước, khối nước chính, tỷ USD
Trang 40Nguồn: TCTK
Như vậy, hiện nay xuất nhập khẩu của nước ta từ phụ thuộc vào mộtnhóm nước và khối nước dần chuyển sang phụ thuộc quá nhiều vào mộtnước đó là Trung Quốc, điều này sẽ là rất bất lợi bởi thị trường Trung Quốc
là một thị trường rất khó xác định và chứa nhiều điều rủi ro trong bối cảnhhiện nay
2.1.1 Xuất khẩu hàng hoá
Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, với những tác động tíchcực từ chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước theo hướng thịtrường định hướng XHCN, mở cửa và hội nhập kinh tế, năng lực sản xuấtcủa nền kinh tế đã được giải phóng, lực lượng sản xuất trong nước pháttriển mạnh mẽ Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực, dần dần
từ sản xuất nhằm thay thế hàng nhập khẩu sang sản xuất nhằm mục đíchxuất khẩu Trong cả giai đoạn 1996-2012, xuất khẩu nước ta tăng bình quân17,6%/năm, tổng giá trị xuất khẩu đạt mức 11,46 tỷ USD năm 2012, gấphơn 15 lần so với 7,26 tỷ USD năm 1996 Về giá trị tương đối, tỷ lệ xuấtkhẩu/GDP cũng liên tục tăng qua các năm cho thấy Việt Nam ngày cànghội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới Sau khi gia nhập AFTA, tỷ lệxuất khẩu của Việt Nam mới chỉ đạt 29,4% GDP thì đến nay, sau 5 nămchính thức gia nhập WTO con số này đã lên tới 80,71% năm 2012
Hình 5: Xuất khẩu hàng hoá qua các năm