1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÍ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM

147 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứuTrong chính sách tài khóa của chính phủ ,việc quản lý nợ công luôn là một vấn đềquan trọng luôn được xem xét dưới nhiều góc độ nhằm đảm bảo

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG 1

1.1 Tổng quan về nợ công 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Phân loại nợ công 2

1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn của khoản nợ 2

1.1.2.2 Phân loại nợ công theo chủ nợ 2

1.1.2.3 Phân loại theo các hình thức vay nợ 3

1.1.2.4 Phân loại theo đối tượng vay 5

1.1.3 Ảnh hưởng của nợ công đến kinh tế -xã hội 5

1.1.3.1 Nợ công đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư, giúp tăng trưởng kinh tế .5 1.1.3.2 Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước 7

1.1.3.3 Góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hội nhập 7

1.1.3.4 Tạo công cụ cho ngân hàng nhà nước điều tiết thị trường 8

1.2 Quản lý nợ công 8

1.2.1 Khái niệm quản lý nợ công 8

1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nợ công 9

1.2.2.1 Quản lý nợ công trước hết để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn nợ và an ninh của nền tài chính quốc gia 9

1.2.2.2 Quản lý để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn vay 10

1.2.2.3 Nhu cầu quản lý nợ xuất phát từ yêu câu đòi hỏi khắt khe của người cho vay, bên tài trợ 11

1.2.3 Nội dung quản lý nợ công 11

1.2.3.1 Xây dựng chiến lược và kế hoạch quản lý nợ công 12

Trang 2

1.2.3.2 Ban hành khung thể chế, xây dựng cơ chế , tổ chức bộ máy quản lý

nợ công từ trung ương đến địa phương 13

1.2.3.3 Đánh giá nợ công 14

1.2.3.4 Kiểm soát và Đánh giá việc sử dụng các khoản nợ 19

1.2.3.5 Đánh giá khả năng trả nợ hiện có của nền kinh tế 21

1.2.4 Tình hình nợ công và quản lý nợ công ở một số quốc gia trên thế giới .22 1.2.4.1 Khủng hoảng nợ công ở Argentina năm 2001 22

1.2.4.2 Khủng hoảng nợ công tại Hi Lạp đầu năm 2010 25

1.2.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 36

2.1 Khái quát tình hình kinh tế -chính trị- xã hội trong giai đoạn vừa qua.36 2.1.1 Tình hình kinh tế, thương mại và đầu tư 37

2.1.2 Diễn biến tiền tệ và hoạt động ngân hàng 50

2.2 Thực trạng quản lý nợ công ở Việt Nam 53

2.2.1 Tình hình nợ công của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua 53

2.2.1.1 Cơ sở dữ liệu về nợ công ở Việt Nam 53

2.2.1.2 Tình trạng nợ công 53

2.2.1.3 Đánh giá tình hình nợ công 63

2.2.2 Khung pháp lý và thể chế quản lý nợ công ở Việt Nam 66

2.2.3 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nợ công 66

2.2.4 Cơ chế quản lý nợ công ở Việt Nam hiện nay 66

2.2.4.1. Cơ chế quản lý Nợ Công 66

2.2.4.2. Tình hình sử dụng và công tác quản lý sử dụng 66

2.3 Đánh giá công tác quản lý nợ công ở Việt Nam 66

2.3.1 Kết quả đạt được: 66

Trang 3

2.3.2 Tồn tại trong công tác quản lý nợ ở Việt nam 66

2.4 Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản lý nợ công 66

2.4.1 Nguyên nhân khách quan 66

2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 66

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM 66

3.1 Mục tiêu, nguyên tắc quản lý nợ công và những nguy cơ về quản lý của Việt Nam trong những năm tới 66

3.1.1 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý 66

3.1.1.1 Mục tiêu quản lý nợ công 66

3.1.1.2 Nguyên tắc quản lý nợ công: 66

3.1.2 Những nguy cơ làm gia tăng nợ công ở Việt Nam 66

3.1.2.1 Nguy cơ vay thêm hàng năm do mất cân đối trong tiết kiệm và đầu tư và thâm hụt ngân sách hàng năm ngày càng gia tăng 66

3.1.2.2 Nguy cơ mất khả năng thanh toán lãi vay từ các nhân tố tác động đến chi phí sử dụng nợ vay 66

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ công 66

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế quản lý nợ công 66

3.2.2 Tăng cường năng lực quản lý 66

3.2.2.1 Tăng cường năng lực con người 66

3.2.2.2 Tăng cường khả năng lưu trữ thông tin, thu thập cơ sở dữ liệu 66

3.2.3 Hoàn thiện công tác phát hành trái phiếu chính phủ 66

3.2.5 Các biện pháp vĩ mô 66

3.2.4.1 Gia tăng dự trữ ngoại hối 66

3.2.4.2 Chính sách tỷ giá phù hợp 66

3.2.4.3 Ổn định lạm phát 66

3.2.4.4 Gia tăng hệ số tín nhiệm 66

Trang 4

3.2.4.5 Cải thiện môi trường đầu tư 66

3.2.5 Hoàn thiện công tác đánh giá nợ 66

3.2.6 Kiến nghị với Cơ Quan chức năng trong việc sử dụng vốn vay từ TPCP, vốn ODA 66

3.2.6.1 Đối với các Bộ, ngành trung ương và địa phương 66

3.2.6.2 Đối với Bộ Tài chính 66

3.2.6.3 Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư 66

3.2.6.4 Đối với việc quản lý Vốn ODA 66

KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC KÈM THEO

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

Bảng 1.1Các chỉ số dùng để đánh giá mức độ nợ của ngân hàng thế giới,

UNDP và dự án VIE/01/010 18

Biểu đồ 1.1So sánh thâm hụt ngân sách và nợ của Hy Lạp với một số quốc gia châu Âu trong năm 2009 27

Bảng1.2 so sánh rủi ro nợ công ở các nước năm 2010 28

Biểu đồ1.2 Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp từ tháng 9/2009 đến nay 29

Biểu 1.3 Tỷ lệ nợ công so với GDP tại châu Âu 30

Biểu đồ 1.4 Thâm hụt ngân sách so với GDP tại các quốc gia châu Âu 31

Biểu đồ 1.5 GDP và GDP trên đầu người tại châu Âu 32

Biểu đồ 1.6 Tăng trưởng kinh tế trong quý I/2010 tại châu Âu 33

Biểu đồ1.7 Tình trạng thất nghiệp tại châu Âu trong quý I/2010 34

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng GDP bình quân theo Quý giai đoạn 2006-2010 37

Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng GDP theo giá so sánh phân theo các khu vực kinh tế 38

Biểu đồ 2.3: Chỉ số chu kỳ kinh tế và chu kỳ kinh tế làm trơn 38

Bảng 2.1: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam 39

Biểu đồ 2.4: Vốn đầu tư phát triển qua các năm 40

Biểu đồ 2.5: Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển bình quân trong từng thời kỳ.41 Biểu đồ 2.6: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong từng giai đoạn 41

Biểu đồ 2.7: GDP/Vốn đầu tư trong các giai đoạn 42

Biểu đồ 2.8: Hệ số ICOR trong các giai đoạn 43

Biểu đồ 2.9: Số lao động đang làm việc qua các năm 45

Bảng 2.2: Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia của các nước trong khu vực 46

Bảng 2.3: Bội chi Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001-2010 47

Bảng 2.4: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại 48

Biểu đồ 2.10: Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) theo tháng năm 2010 49

Bảng 2.5 Số liệu nợ côngcủa Việt Nam giai đoạn 2001-2010(USD) 55

Bảng 2.6 Tỷ trọng Nợ chính phủ trên GDP(đơn vị %) 56

Trang 6

Biểu đồ 2.11 Nợ công và Nợ chính phủ trên GDP 56

Bảng 2.7 Nợ nước ngoài của chính phủ giai đoạn 2004-6/2010(Triệu USD) .57 Biểu đồ 2.12 Cơ cấu chủ nợ trong nợ nước ngoài của chính phủ(Triệu USD)58 Bảng 2.8 Nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh 2005-6/2010(Triệu USD).62 Biểu đồ 2.13 Nợ chính phủ bảo lãnh theo chủ nợ( triệu USD) 62

Bảng 2.9 Hệ thống các chỉ số đánh giá nợ công VN 2004-2010 63

Biểu đồ 2.14 Các chỉ tiêu đánh giá nợ công ở Việt Nam 64

Biểu đồ 2.15 Cơ cấu nợ nước ngoài theo chủ nợ 65

Biểu 2.16 Cơ cấu nợ nước ngoài theo loại tiền vay 65

Biểu 2.17 Cơ cấu nợ chính phủ theo khoản nợ 65

Biểu 2.18 Cơ cấu nợ chính phủ theo thời hạn nợ 66

Bảng 3.1 Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư so với GDP của Việt Nam giai đoạn 1999-2010 66

.Bảng 3.2 Cán cân thanh toán trong giai đoạn 2008-2010 66

Biểu đồ 3.1 Chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam giai đoạn 2000-2010 66

Bảng 3.3 Diễn biến lãi suất điều hành năm 2010 của NHNN 66

Bảng 3.4 Lãi suất huy động VND một số kỳ hạn tại một số thời điểm năm 2010 (đơn vị: %) 66

Bảng 1: Giải thích các chỉ số cảnh báo ảnh hưởng đến xác suất xảy ra khủng hoảng của Kaminsky 66

Bảng : Các dấu hiệu cảnh báo rủi ro 66

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU1) Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Trong chính sách tài khóa của chính phủ ,việc quản lý nợ công luôn là một vấn đềquan trọng luôn được xem xét dưới nhiều góc độ nhằm đảm bảo khả năng phát triểnđồng thời giữ độ an toàn cần thiết cho nền tài chính quốc gia.Cuộc khủng hoảng nợcông ở các nước Mỹ latinh năm 2001 như Peru, Argentina…hay gần đây nhất là cuộckhủng hoảng nợ công ở Hy lạp sau đó lan rộng khắp các nước thuộc khối liên minh

EU đầu năm 2010 là tiếng chuông cảnh tỉnh cho các quốc gia đang mang gánh nặng

nợ công nếu không có những bước đi thích hợp trong tương lai sẽ có thể đẩy nướcmình vào tình trạng khủng hoảng nợ, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế-chính trị-xã hội Để đạt được tăng trưởng cao trong điều kiện tiết kiệm trong nước còn thấp,chính phủ các nước đang phát triển thường sử dụng biện pháp thu hút vốn nước ngoàitrong đó vay nợ là phương thức phổ biến gồm cả vay hỗ trợ chính thức và vay thươngmại.Không thể phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của nguồn vốn này trong Nợ côngtuy nhiên đây cũng là các khoản nợ tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro tỷ giá, rủi ro lãisuất….đặc biệt khi những dòng vốn này được sử dụng không hiệu quả.Những thất bạicủa việc vay nợ công đã chỉ ra nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc buông lỏngquản lý Do vậy chính sách quản lý nợ công là một bộ phận thiết yếu trong hệ thốngchính sách tài khóa quốc gia

Đối với Việt Nam để phục vụ quá trình phát triển đất nước nguồn vốn nhà nướcluôn chiếm một tỷ trọng lớn trong đầu tư toàn xã hội Số vốn này được huy động cả ởtrong nước thông qua phát hành trái phiếu chính phủ, công trái, trái phiếu địaphương… và huy động cả ở nước ngoài trong đó có ODA, phát hành công cụ nợ, vaythương mại….Nguồn vốn này đã phát huy tác dụng to lớn của nó trong việc đầu tư vàcác dự án quan trọng của nhà nước góp phần tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giaiđoạn vừa qua Việc chính phủ trong những năm qua đã đổi mới cải thiện công tácquản lý nợ đặc biệt là sự ra đời của Luật quản lý Nợ công có hiệu lực đầu năm 2010

Trang 8

được coi là bước tiến lớn để Việt Nam tiến gần hơn so với hệ thống quản lý nợ ở cácquốc gia phát triển.Tuy nhiên trong thực vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong công tác nàynhư hệ thống khung pháp lý thiếu đồng bộ, cơ chế vay trả nợ chưa hợp lý, sử dụng nợcông lãng phí kém hiệu quả….Vấn đề nợ công Việt Nam trở thành một vấn để nóngbỏng trong mỗi kỳ họp chính phủ và quốc hội nhất là sau khi “con tàu” VinaShin làm

ăn thua lỗ và để lại khoản nợ khổng lồ cho Nợ công đòi hỏi một sự thay đổi lớn trongkhâu quản lý nợ nếu không muốn lặp lại bài học của Argentina hay Hi Lạp Vấn đềđầu tư công hiệu quả là yêu cầu bức thiết hơn lúc nào hết.Trước tình hình lạm pháttăng cao cuối năm 2010 kéo dài sang 4 tháng đầu năm 2011 nhằm triển khai Nghịquyết 11 của Chính phủ về việc kiềm chế lạm phát, một loạt các biện pháp mạnh tay

đã được thực hiện trong đó có việc rà soát lại vấn đề nợ công và đầu tư công Chínhphủ không còn coi cắt giảm đầu tư công là giải pháp tình thế mà đặt nó trong lộ trìnhdài hạn và biện pháp tổng thể Theo đó, cùng với thắt chặt và điều chỉnh cơ cấu hoạtđộng tín dụng, tiền tệ (khống chế mức tăng dư nợ tín dụng cả năm dưới 20%) để nângcao hiệu quả và giảm dần tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư xã hội; giảm tổngcầu phi sản xuất để kiềm chế lạm phát, nhập siêu, tiết kiệm năng lượng Nói cáchkhác, cắt giảm đầu tư công năm 2011 không chỉ là cắt giảm để chống lạm phát mà làdịp để rà soát tính hợp lý, nâng cao hiệu quả của đầu tư công và tái cấu trúc nền kinhtế… Do vậy yêu cầu đổi mới cách thức quản lý nợ công là khách quan để một bướcđệm tốt giúp chính phủ nâng cao hiệu quả của hoạt động tài chính công nói chung vàhoạt động đầu tư công nói riêng Tính cấp thiết của việc đổi mới này còn xuất phát từviệc tăng cường hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào quá trình toàn cẩu hóa nhưgia nhập Tổ chức thương mại thế giới năm 2006, là thành viên của WB hay IMF tạo

cơ hội hội nhập với nền kinh tế toàn cầu đặc biệt là những cam kết mở cửa thị trườngtài chính của Chính phủ sẽ đem lại khả năm tiếp cận vốn nước ngoài nhiều hơn chonước ta.Do kinh nghiệm và thực tiễn quản lý nợ công trong nền kinh tế thị trường củanước ta còn chưa nhiều hệ thống quản lý nợ công còn nhiều hạn chế nên việc tiếp tụchoàn thiện kỹ thuật phân tích để cập nhật giám sát nợ đảm bảo an toàn là hết sức cầnthiết đối với các nước nói chung , với Việt Nam nói riêng ở hiện tại và trong tươnglai

Trang 9

2) Mục đích của đề tài

Đề tài nhằm ba mục tiêu cơ bản sau.Thứ nhất hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết

về nợ công và quản lý nợ công, xem xét một số bài học kinh nghiệm về quản lý nợcông của các quốc gia trên thế giới.Thứ hai là đề tài tập trung nghiên cứu về thựctrạng quản lý nợ công của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, rút ra hạn chế và tìm ranguyên nhân.Cuối cùng trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý nợ nước ngoài củaViệt Nam hiện nay đề tài đưa ra một số các đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả trongcông tác quản lý nợ công trong tương lai

3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung vào việc phân tích hệ thống quản lý nợ công từ các quan điểm quản

lý nợ công hiệu quả và tình hình thực trạng nợ công ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm công tác quản lý nợ công tập trung vào khâuđánh giá nợ và các chính sách kinh tế vĩ mô ảnh hưởng tới tính bền vững của nợ côngtrong giai đoạn 2004-2010

4) Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng tổng hợp các phương pháp thống kê, phân tích thống kê, so sánh,

mô hình toán, phương pháp định lượng kết hợp lý thuyết với thực tiễn nhằm giảithích đánh giá những vấn đề quan trọng phục vụ mục đích nghiên cứu

Đề tài sử dụng số liệu thống kê về tăng trưởng, xuất nhập khẩu, đầu tư… của ViệtNam được lấy từ nguồn chính thức do tổng cục thống kê công bố trên website củaTổng cục.Các số liệu thống kê về nợ chủ yếu lấy từ nguồn cơ sở dữ liệu của quỹ tiền

tệ thế giới IMF , ngân hàng thế giới WB, của tạp chí The Ecomomist…

Trang 10

5) Cấu trúc của đề tài

Đề tài gồm có 3 chương:

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG

Chương này trình bày các vấn đề lý thuyết chung về nợ công, tổng quan vềquản lý nợ công và nhiệm vụ quan trọng của nợ công trong sự phát triển của kinhtế.Đồng thời đề tài đưa ra hai ví dụ về các thất bại trong việc quản lý nợ dẫn đếnkhủng hoảng nợ đã sảy ra trên thế giới trong thời gian qua , qua đó rú ra bài học kinhnghiệm cho Việt Nam

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

Chương này đi sâu phân tích tình trạng nợ công và tình hình quản lý nợ côngcủa Việt Nam trong bối cảnh kinh tế xã hội giai đoạn từ 2005-2010 đặc biệt saukhủng hoảng tài chính kinh tế 2008.Từ đó làm rõ những thành tựu cũng như phân tíchcác tồn tại trong công tác quản lý làm cơ sở cho các giải pháp hoàn thiện công tácquản lý

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM.

Trên cơ sở phân tích thực trạng của chương 2 và những bài học rút ra từ kinhnghiệm quốc tế trong quản lý nợ công.Chương 3 của đề tài đưa ra một số giải phápnhằm tăng cường tính bền vững và quản lý nợ công ở Việt Nam đảm bảo an toàn nềntài chính quốc gia , phục vụ phát triển kinh tế trong tương lai

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG

1.1 Tổng quan về nợ công

1.1.1 Khái niệm

Thuật ngữ “nợ công” được sử sụng khá phổ biến trong các thống kê tài chínhquốc gia và trong thống kê của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF hay WB Trongthống kê thì

“Nợ công được hiểu là các khoản nợ trung ương, của chính quyền địa phương, ngân

hàng trung ương và các tổ chức hoạt động do ngân sách nhà nước cấp(>50%) và trong trường hợp vỡ nợ thì nhà nước phải có trách nhiệm trả nợ thay.”

Theo luật quản lý nợ công Việt Nam có hiệu lực vào ngày 1/1/2010, khái niệm

nợ công được hiểu theo nghĩa hẹp :

“Nợ công bao gồm các khoản nợ của chính phủ, nợ của chính phủ bão lãnh và nợ của chính quyền địa phương”

Theo đó :

+Nợ chính phủ là các khoản nợ mà chính phủ trực tiếp vay trong nước(qua phát hành

trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, giáo dục, y tế….)hoặc vay nước ngoài(từ cácnguồn vốn vay ODA,phát hành trái phiếu quốc tế hoặc vay thương mại….) được kíkết, phát hành nhân danh nhà nước nhân danh chính phủ hoặc các khoản vay khác do

bộ tài chính ký kết ủy quyền theo quy định.Nợ chính phủ không bao gồm Các khoản

nợ của ngân hàng nhà nước Việt Nam vay nhằm thực hiện chính sách tiền tệ

+Nợ được chính phủ bảo lãnh là các khoản nợ mà các doanh nghiệp, tổ chức tài

chính, tín dụng vay trong nước hoặc nước ngoài được chính phủ bảo lãnh

+Nợ chính quyền địa phương là các khoản nợ do Ủy Ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành

Trang 12

Bên cạnh những khái niệm trên cần hiểu về khái niệm “Nợ nước ngoài của quốc gia”:

“Nợ nước ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nước ngoài của chính phủ, nợ

được chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp, tổ chức được vay theo hình thức tự vay tự trả theo quy định của phát luật Việt Nam.”

Như vậy ta thấy có sự khác biệt không nhỏ trong định nghĩa nợ công của Việt Namvới định nghĩa nợ công được sử dụng trên thế giới.Tuy nhiên trong giời hạn của đềtài, đểbám sát tình hình Nợ công ở Việt Nam phần trình bày dưới đây sẽ sử dụng địnhnghĩa Nợ công theo Luật quản lý nợ công

1.1.2 Phân loại nợ công

1.1.1 Căn cứ vào thời hạn của khoản nợ

+ Nợ dài hạn

Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã giahạn kéo dài trên một năm từ ngày kí kết vay nợ cho tới ngày đến hạn thanh toán cuốicùng.Nợ dài hạn thường là các khoản nợ có quy mô lớn do đó nó được quan tâm quản

lý nhiều hơn do khả năng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia.Nguồn vốn này chủyếu là nguồn vốn vay nước ngoài từ các tổ chức tài chính đa phương như WB, ADB,IMF… hay đơn phương như các nguồn ODA Cho nên các tổ chức tài chính quốc tếthường xuyên theo dõi và phân tích nợ dài hạn của tất cả các quốc gia trên thế giớimột cách có hệ thống nhằm đảm bảo an ninh tài chính cho mỗi quôc gia cũng nhưnền kinh tế toàn cầu

+ Nợ ngắn hạn

Nợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống.Thông thường

nợ ngắn hạn chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nợ công.Tuy nhiên nếu khoản nợcông trong ngắn hạn không có khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín cũngnhư an toàn của hệ thống tài chính-tiền tệ của quốc gia

1.1.2 Phân loại nợ công theo chủ nợ

Trang 13

+ Nợ song phương

Nợ song phương là các khoản nợ của hai chính phủ đàm phán kí kết.Thôngthường hình thức này thường chỉ được thực hiện trên cơ sở quan hệ kinh tế -quan hệngoại giao hữu nghị.Nợ song phương thường dễ kí kết, đàm phán tuy nhiên quy môcủa nguồn vốn vay này lại thường không lớn và thường xuyên chịu ảnh hưởng củatình hình kinh tế-chính trị-xã hội giữa hai quốc gia

+ Nợ đa phương

Nợ đa phương là các khoản nợ mà chính phủ một nước vay từ nhiều chính phủhoặc vay từ các tổ chức tài chính đa phương trên thế giới như quỹ tiền tệ thế giớiIMF, ngân hàng thế giới WB hay ngân hàng phát triển Châu Á ADB… Các nguồnvốn từ nguồn này thường có quy mô lớn, lãi suất ưu đãi, thời hạn kéo dài Tuy nhiên

để kí kết được khoản vay nợ này khó khăn hơn đôi khi còn phải chấp nhận điều kiệnkinh tế-chính trị của bên đối tác, khi vay từ nguồn vốn này thì chính phủ thường phảichịu sự kiểm soát chặc chẽ của các định chế tài chính này

1.1.3 Phân loại theo các hình thức vay nợ

+ Vay từ nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA

Theo đinh nghĩa của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển OECD: “Hỗ trợ pháttriển chính thức bao gồm các khoản chuyển song phương (giữa chính phủ hai nước)hoặc đa phương (từ các tổ chức quốc tế cho các chính phủ trong đó có ít nhất 25%tổng giá trị chuyển khoản là cho không”

Hỗ trợ phát triển chính thức có thể bao gồm: Các khoản cho không gồm cả hỗ trợ

kỹ thuật, các khoản vay ưu đãi, các đóng góp bằng hiện vật, tín dụng của cácnước.Hỗ trợ phát triển chính thức không bao gồm các khoản viện trợ quân sự giữacác chính phủ và chuyển khoản giữa các tổ chức phi chính phủ

Tính ưu đãi của nguồn vốn vay hỗ trợ chính thức: là loại có nhiều điều kiện ưu đãi

về lãi suất, thời gian trả nợ, thời gian ân hạn Lãi suất của ODA thường thấp hơn hẳn

so với cac khoản vay thương mại.Thời hạn cho vay của ODA kéo dài 10, 15 hoặc 20

Trang 14

năm.Thời gian ân hạn dài do vậy chính phủ các nước đang phát triển thường muốnhướng đến nguồn vốn này để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

Mặt hạn chế của ODA : Tính ưu đãi của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

rất rõ rệt tuy nhiên việc chính phủ vay ODA đôi khi kèm theo là các điều kiện ràngbuộc về kinh tế -xã hội đôi khi còn cả chính trị, làm tăng cái giá phải trả cho khoảnvay tăng lên đáng kể chẳng hạn như việc các nước vay phải mua hàng hóa dịch vụ từnước cho vay…

Vay hỗ trợ phát triển chính thức có nhiều điều kiện ưu đãi song đối với chính phủ

đi vay, các khoản vay này sẽ kéo theo nghĩa vụ trả nợ gốc lẫn lãi gây nên áp lực trongtương lai Do vậy trước khi vay cần phải cân nhắc kỹ trên cơ sở so sánh hiệu quả giữanguồn lực và hiệu quả trong tương lai

+ Vay thương mại.

Khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại không còn những ưuđãi về lãi suất, thời gian ân hạn Lãi suất này là lãi suất trên thị trường tài chính quốc

tế và thường xuyên biến động theo lãi suất thị trường Chính bởi vậy mà vay thươngmại giá khá cao và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro.Việc vay thương mại thường chỉ áp dụngđối với các nước có độ tín dụng thấp nên không có khả năng vay nợ bằng cách pháthàng trái phiếu chính phủ Cho nên việc vay thương mại cần được cân nhắc hết sứcthận trọng, kĩ lưỡng

+ Vay bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ.

Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoản nợ được phát hành bởi chính phủ củamột quốc gia.Trái phiếu chính phủ có thể được phát hành bằng đồng nội tệ ở trongnước hoặc bằng ngoại tệ ra nước ngoài

Trái phiếu bằng đồng nội tệ thường được coi là ít rủi ro bởi chính phủ có thể tăngthuế hoặc in thêm tiền để chi trả khi trái phiếu đáo hạn.Trái phiếu được coi là công cụ

nợ có độ tin cậy cao nhất.Trong môi trường kinh doanh thì đầu tư vào trái phiếu làmột cách để duy trì nguồn thu nhập thường xuyên.Đối với chính phủ ,vay nợ bằng

Trang 15

phát hành trái phiếu giúp chính phủ huy động được số vốn lớn cho đầu tư phát triểnkinh tế ,tăng đầu tư của chính phủ là một cách tác động nhanh đến tổng cầu khôngnhững vậy mà còn là công cụ để chính phủ điều hành kinh tế vĩ mô thông qua nghiệp

vụ thị trường mở của ngân hàng nhà nước Việc ngân hàng nhà nước mua vào haybán ra trái phiếu chính phủ sẽ tác động đến tổng cung tiền từ đó ảnh hưởng đến tăngtrưởng, tỷ lệ lạm phát…

1.1.4 Phân loại theo đối tượng vay

+ Vay trong nước

Là các khoản vay của chính phủ từ cá nhân hay tổ chức ở trong nước.Các khoảnvay này thông thường được thực hiện bằng cách phát hành trái phiếu, công trái.Tráiphiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì Chínhphủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáohạn.Các khoản vay này được sử dụng để đầu tư các công trình trọng điểm quốc gianhư nhà máy thủy điện, hay các tuyến đường quốc lộ Nhưng nếu tăng phát hànhtrái phiếu sẽ dẫn đến tình trạng giảm Vốn đầu tư ở khu vực tư nhân

+ Vay nước ngoài

Là các khoản vay của chính phủ từ các đối tác nước ngoài thông thường là cáckhoản vay song phương giữa chính phủ hai nước hoặc các khoản vay từ các định chếtài chính trên thế giới như IMF, WB, ADB…hoặc vay trực tiếp bằng các phát hànhtrái phiếu quốc tế.Các khoản vay này thường có quy mô lớn tuy nhiên lại chứa đựngnhiều rủi ro hơn các khoản vay trong nước đó là rủi ro về lãi suất, rủi ro tỷ giá, khủnghoảng tài chính….hơn nữa khả năng trả nợ phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng thặng dưhay thâm hụt cán cân thanh toán.Nên các nước đang phát triển , luôn trong tình trạngthâm hụt BOP thì khi sử dụng hình thức vay này cần phải xem xét kỹ lưỡng nếukhông muốn đẩy nền kinh tế tới một cuộc khủng hoảng nợ

1.1.3 Ảnh hưởng của nợ công đến kinh tế -xã hội

1.1.1 Nợ công đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư, giúp tăng trưởng kinh tế

Trang 16

Trước yêu cầu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế-xã hội, nhu cầu vốn đầu tưcủa các nước đang phát triển là rất cần thiết.Trong khi đó nguồn vốn của các khu vực

tư nhân và dân cư lại phân tán và phụ thuộc vào thu nhập cũng như chi tiêu của hộgia đình.Mặt khác để đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội, quốcphòng an ninh, hỗ trợ các dự án lớn của doanh nghiệp cần có sự tham gia của khu vựcnhà nước.Việc tự vay vốn đã tạo ra nguồn lực cần thiết để phát triển kinh tế khi mànền sản xuất trong nước duy trì ở mức thấp.Đặc biệt là các khoản vay nước ngoài lànguồn tài trợ đầu tư bổ sung phổ biến của chính phủ các nước có nền kinh tế thịtrường trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển

Tuy nhiên khi các khoản nợ công lớn (tỷ trọng % trên GDP) làm cho tăngtrưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì:

-Khi tăng nợ nước ngoài khiến quốc gia có cơ hội đầu tư ở mức cao hơn tronghiện tại mà không phải giảm tiêu dùng trong nước và nhờ vậy có thể đạt tăng trưởngcao trong hiện tại.Tuy nhiên cái giá của việc này là giảm sút đầu tư trong tương laikhi quốc gia sẽ phải trả lãi nợ và vốn gốc.Mặt khác tăng nợ nước ngoài thì buộc quốcgia đó phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài dẫn đến khả năng tiêu dùng bịgiảm sút

-Khi nợ công lớn lên gây nên hiệu ứng thế chỗ vốn tư nhân (Crowding Out)thay vì sở hữu cổ phiếu ,trái phiếu của công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (tráiphiếu chính phủ ) dẫn đến việc cung vốn tư nhân cạn kiệt.Mặt khác khi phát hànhthêm trái phiếu chính phủ để huy động được nhiều người mua ,chính phủ phải nânglãi suất trái phiếu Lãi suất trái phiếu sẽ làm cho mặt bằng lãi suất chung cũng tănglên.Điều này tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân khiến họ giảm đầu tư Nó cònlàm cho lãi suất trong nước cao tương đối so với lãi suất nước ngoài làm tăng dòngtiền từ nước ngoài đổ vào trong nước , tạo áp lực tăng giá đồng nội tệ ảnh hưởng tớixuất khẩu ròng Do vậy tăng nợ công có thể làm tăng tổng cầu song mức tăng khôngnhiều do tác dụng phụ làm giảm tổng cầu

Trang 17

-Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế vìchính phủ chỉ nợ công dân nước mình tuy vậy nếu nợ trong nước quá lớn thì chínhphủ phải tăng thuế để trả nợ vay.Thuế làm méo mó nền kinh tế gây ra tổn thất vô ích

về phúc lợi xã hội

1.1.2 Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước

Vấn đề thiếu hụt ngân sách là một vấn đề lớn và khó khăn dối với những nhàlãnh đạo giữa một bên là phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tếvới một bên là nguồn lực có hạn Đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải lựa chọn để phù hợpvới yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai Từ sự lựa chọn đó họđưa ra mức bội chi "hợp lý", bảo đảm nhu cầu tài trợ cho chi tiêu cũng như đầu tưphát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý Bội chi NSNNđược hiểu một cách chung nhất là sự vượt trội về chi tiêu so với tiền thu được trongnăm tài khóa hoặc thâm hụt NSNN do sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiệnchính sách kinh tế vĩ mô Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách nhưtăng thu từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nướcngoài Cách bù đắp thâm hụt NSNN hay được sử dụng là vay nợ nước ngoài vàtrong nước Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề thuộc nước ngoài

cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ, làm cạn

dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãisuất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng vàkéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ sau Hiện nay, nguồn bù đắpthâm hụt chủ yếu sẽ là trái phiếu (nội tệ, ngoại tệ) huy động từ nội địa Tình hình nàycho thấy trước mắt Chính phủ có thể huy động đủ lượng tiền cần thiết cho kích cầu

mà không phải vay từ bên ngoài

1.1.3 Góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hội nhập.

Tổng số vốn cam kết, kí kết giải ngân tăng lên hàng năm thể hiện sự ủng hộmạnh mẽ của nhà tài trợ đối với các nỗ lực cải cách của Việt Nam cũng như kì vọng

Trang 18

của họ về những bước cải cách trong tương lai về thể chế, môi trường kinh doanhcũng như việc hoàn thiện công tác quản lý nợ của Việt Nam.Các dự án vay nợ nướcngoài thường là các dự án ODA thường đi kèm với các hỗ trợ máy móc thiết bị,chuyển giao công nghệ, khả năng quản lý … điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ViệtNam phát triển đất nước và hội nhập với thị trường tài chính quốc tế sôi động.

1.1.4 Tạo công cụ cho ngân hàng nhà nước điều tiết thị trường

Cùng với việc huy động vốn cho ngân hàng dưới các hình thức tiền gửi tiếtkiệm, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng thương mại việc phát hành các loại trái phiếuchính phủ đã góp phần quan trọng trong việc ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ.Từtháng 7 năm 2001 ngân hàng nhà nước đã khai trương hoạt động thị trường mở màhàng hóa chủ yếu là tín phiếu kho bạc.Năm 2003 luật ngân hàng nhà nước sửa đổicác loại trái phiếu dài hạn được sử dụng trên thị trường tiền tệ, vai trò của trái phiếuchính phủ càng được mở rộng.Thông qua thị trường này các ngân hàng thương mạiđược phép mua bán trái phiếu chính phủ để giải quyết tình trạng thừa hoặc thiếu vốntạm thời trong thanh toán.Ngân hàng nhà nước là người tổ chức và điều hành thịtrường tiền tệ liên ngân hàng đồng thời là một thành viên giao dịch mua bán tráiphiếu trên thị trường để điều tiết lượng tiền cung ứng nhằm thực hiện chính sách tiền

tệ nới lỏng hay thắt chặt

1.2 Quản lý nợ công

1.1 Khái niệm quản lý nợ công

Theo nghĩa hẹp: “Quản lý nợ” bao hàm việc khống chế mức gia tăng nợ trong

quan hệ tỷ lệ với năng lực tăng trưởng GDP và tăng trưởng khả năng xuất khẩu củađất nước, hay nói cách khác, giữa mức nợ công tương ứng với năng lực trả nợ củamột nước.Cụ thể hơn là giảm mức nợ gốc, nợ lãi phải trả cho tương xứng với khảnăng kinh tế của nước vay nợ và tránh nợ chồng chất vượt quá mức vay nợ thận trọngcủa quốc gia ,đảm bảo khả năng thanh toán của quốc gia

Trang 19

Theo nghĩa rộng: “Quản lý nợ công” hàm chứa trong nó một hệ thống điều hành

vĩ mô sao cho vốn được sử dụng có hiệu quả và không gia tăng đến mức quá khảnăng thanh toán để không làm tích lũy thêm nợ Hay nói cách khác, quản lý nợ công

là đảm bảo một cơ cấu vốn vay hợp lý thích hợp với các yêu cầu phát triển của nềnkinh tế, thực hiện phân bổ một cách hợp lý và kiểm soát tình trạng nợ và sử dụng vốnvay

Như vậy quản lý nợ công được hiểu là một phần của công tác quản lý nền kinh tế

vĩ mô bao gồm việc hoạch định, thực hiện vay-sử dụng-trả nợ thuận lợi cho tăngtrưởng kinh tế, giảm tình trạng nghèo đói và tiếp tục duy trì sự phát triển mà khôngtạo ra những khó khăn trong thanh toán.Quản lý nợ công không thể tách rời quản lýchính sách vĩ mô, quản lý ngân sách nhà nước ,dự trữ ngoại tệ và cán cân thanh toán

1.2 Sự cần thiết của quản lý nợ công

1.1 Quản lý nợ công trước hết để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn nợ và an ninh của nền tài chính quốc gia.

Một quốc gia phát triển bền vững phải được xây dựng trên nền tảng nền tàichính vững mạnh, ổn định nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càngsâu rộng.Việc quản lý nợ trong đó quản lý nợ công của chính phủ là một việc hết sứcquan trọng Kinh nghiệm quản lý nợ công ở nhiều nước trên thế giới trong nhữngnăm vừa qua có thể kể đến cuộc khủng hoảng nợ ở các nước Mỹ Latinh nhưArgentina, Peru … hay gần đây nhất là cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp sau đólan rộng ra các nước thuộc liên minh Châu Âu Cho thấy một thực tế rằng : “Việcquản lý nợ công không chặt chẽ cùng các sai lầm trong chính sách vĩ mô có thể đưanước đó đối mặt với tình trạng khó khăn về tài chính, thậm chí còn rơi vào một cuộckhủng hoảng Nợ” Do vậy trong bối cảnh nền kinh tế thề giới có nhiều diễn biếnphức tạp ,việc quản lý vay và sử dụng nợ công cần phải được chính phủ các nướcxem xét cẩn trọng trên cơ sở cân đối giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng trong tươnglai nhằm phát huy tối đa tác động đến nền kinh tế của các nguồn vốn vay đồng thờikhông khiến các nước vay nợ có nguy cơ trở thành con nợ trầm trọng

Trang 20

Nợ công đặc biệt là các khoản vay nợ nước ngoài luôn luôn tiềm ẩn rủi ro chonền kinh tế Để hạn chế và khắc phục những rủi ro đó cần sự quản lý chặt chẽ vốnvay từ cơ quan hữu quan mà ở đây đại diện là chính phủ.Các khoản vay của chínhphủ từ người dân trong nước được coi là khoản vay an toàn tuy nhiên các khoản vaynước ngoài bao gồm cả khoản viện trợ và các khoản vay thương mại chiếm tỷ trọnglớn trong tổng nợ công lại tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Trước hết và là rủi ro lớn nhất là rủi ro lãi suất.Lãi suất vay thương mại cao,

lại thường xuyên biến động theo lãi suất thị trường vốn quốc tế Do vậy nước đi vayrất dễ lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán nếu như lãi suất tăng đột biến

Rủi ro tiếp theo là rủi ro tỷ giá.Các khoản vay chủ yếu thường từ đối tác nước ngoài,

sử dụng ngoại tệ mạnh làm đồng tiền thanh toán chính.Các biến động bất lợi củađồng tiền này trong thời gian đi vay dài có thể chứa đựng những nguy cơ bất lợi chongười vay đặc biệt đối với các khoản vay bằng đồng tiền có xu hướng tăng giá nhưEURO, NDT ,JPY…Ngoài ra gánh nặng nợ nần cũng trở nên trầm trọng hơn khiđồng nội tệ bị mất giá do tỷ lệ lạm phát trong nước cao, do thâm hụt cán cân thươngmại Việc này đẽ đẩy các nước đến một cuộc khủng hoảng nợ Điều này dễ dàng nhận

ra trong lịch sử ở các nền kinh tế đang phát triển

Rủi ro tiếp theo là trình độ và kinh nghiệm quản lý nợ vốn vay ơ các nước tiếp nhận thường thấp.Vay vốn đã khó –quản lý và sử dụng vốn này còn khó và phức tạp

hơn.Thực tế chỉ ra rằng : Các khoản nợ của chính phủ thường có hiệu quả sử dụngthấp cộng vào đó là những sai lầm trong khâu quản lý Hậu quả nghiêm trọng làchính phủ đi vay rơi vào tình trạng nợ nần nặng nề trong khi hiệu quả kinh tế khôngđược cải thiện.Tình trạng này sẽ trầm trọng hơn nếu như kết hợp với các điều kiện bấtlợi trên thị trường quốc tế như lãi suất, tỷ giá ,hay khủng hoảng kinh tế thế giới…

1.2 Quản lý để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn vay

Mọi quốc gia đều muốn giải quyết câu hỏi: “Việc vay vốn bao nhiêu hợp lý, sửdụng vốn như thế nào để đạt hiệu quả cao”.Để làm được việc này đòi hỏi công tácquản lý, giảm sát chặt chẽ mọi khâu từ huy động-giải ngân-sử dụng vốn-trả nợ Đặcbiệt là các khoản vay nước ngoài, dù là chính phủ trực tiếp đi vay hay chính phủ bảolãnh, dù dưới hình thức viện trợ ưu đãi hay vay thương mại thì đều phải trả cả gốc và

Trang 21

lãi đúng hạn.Do vậy việc sử dụng vốn đó như thế nào vừa để thúc đẩy kinh tế pháttriển vừa không tạo ra gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai là vần đề hết sức quantrọng cần được chính phủ các nước xem xét kỹ lưỡng.

1.3 Nhu cầu quản lý nợ xuất phát từ yêu câu đòi hỏi khắt khe của người cho vay, bên tài trợ.

Mặc dù mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu cần hướng tới đối với người cho vaytuy vậy nhưng một yếu tố khác mà không một nhà đầu tư nào bỏ qua khi thực hiện lạikhông nhắc đến đó là sự an toàn.Không chỉ các khoản vay thương mại mà ngay cảcác nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nhà tài trợ cũng rất quan tâm đến sốtiền của họ được sử dụng như thế nào, có đúng mục đích không, hiệu quả của vốnđến đâu.Việc quản lý kém hiệu quả của bên đi vay có thể dẫn đến tình trạng rút vốn,cắt giảm thậm chí ngừng hỗ trợ.Do vậy công tác quản lý đòi hỏi sát sao, liên tục trongsuốt các khâu vay –giải ngân- sử dụng vốn vay đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả nhằmmang lại niềm tin, sự hài long của bên cho vay hoặc bên tài trợ

Tóm lại Quản lý nợ công có mối quan hệ mật thiết với quản lý vĩ mô nền kinh tế

vì những tác động to lớn của khoản nợ này đến toàn bộ nền kinh tế.Chất lượng quản

lý nợ công liên quan trực tiếp đến hiệu quả vốn đầu tư và tác động đến hiệu quảchung của nền kinh tế Do vậy Quản lý nợ công đã trở thành vấn đề bức thiết mà cácchính phủ đang muốn giải quyết trong giai đoạn hiện nay

1.3 Nội dung quản lý nợ công

Là một công việc phức tạp, đặc thù và liên quan đến nhiều cơ quan chính phủ ,

do vậy nội dung của công tác quản lý nợ công cũng đa dạng và phức tạp khôngkém.Quản lý nợ bao gồm khía cạnh kỹ thuật và khía cạnh thể chể Khía cạnh kĩ thuậttập trung vào định mức nợ công cần thiết như quy mô, cơ cấu nợ, giám sát sử dụng vàđảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai Khía cạnh thể chế liên quan đến việc xâydựng chiến lược nợ, xây dựng khung pháp lý, sắp xếp thể chế, chức năng nhiệm vụ

Trang 22

của các cơ quan quản lý đảm nhiệm,giám sát thông tin nợ Công việc này được cụ thểbằng sơ đồ:

1.1 Xây dựng chiến lược và kế hoạch quản lý nợ công

Một trong những công cụ quản lý nợ của chính phủ là chiến lược và kế hoạchquản lý nợ.Chiến lược vay trả nợ được lập trong dài hạn trong khi kế hoạch vay trả

nợ được lập trong trung và ngắn hạn

+Chiến lược vay trả nợ công là một văn kiện đưa ra mục tiêu, định hướng ,các nhóm

giải pháp, chính sách đối với quản lý nợ công được xây dựng trong chiến lược tổngthể về hoạt động vốn đầu tư cho nền kinh tế; phù hợp với chiến lược phát triển kinhtế- xã hội trong khoảng thời gian 5-10 năm.Nội dung chính của chiến lược là đánh giátình hình nợ công, công tác quản lý nợ trong thời gian vừa qua Mục tiêu, địnhhướng, các giải pháp, chính sách đối với quản lý nợ công

+Chương trình quản lý nợ công trung hạn là văn kiện đưa cụ thể hóa nội dung chiến

lược nợ trong khoảng 3-5 năm được xây dựng phù hợp với chính sách kinh tế , tàichính trong trung hạn của chính phủ.Nội dung chủ yếu là đánh giá tình hình, dự báocác điều kiện của thị trường vốn trong nước va quốc tế, cân đối ngoại tệ, biến động tỷ

Trang 23

giá, lãi suất từ đó điều chỉnh chính sách vay trả nợ phù hợp với từng thời kỳ ;xâydựng các phương án huy động vốn vay, ngưỡng an toàn, cơ chế sử dụng vốn vay Đềxuất các giải pháp và phương án xử lý nợ cơ cấu danh mục nợ nhằm xử lý nợ xấu vàgiảm nhẹ nghĩa vụ trả nợ.

+Kế hoach hàng năm là văn kiện được xây dựng trên cơ sở chương trình quản lý nợ

tuy nhiên bám sát với tình hình kinh tế -xã hội thực tế diễn ra nhằm phân tích tìnhhình vay trả nợ công, đánh giá rủi ro, lên kế hoạch huy động-sử dụng-trả nợ hiệu quả,hợp lý

1.2 Ban hành khung thể chế, xây dựng cơ chế , tổ chức bộ máy quản lý nợ công

từ trung ương đến địa phương.

Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước trong việc giám sát, quản lýnhà nước về nợ công là phải xây dựng được một khuôn khổ pháp lý, thể chế quản lý

nợ công Trong đó phải phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của quốc hội,chính phủ , các cơ quan nhà nước được ủy quyền của chính phủ trong việc vay, trả nợcác khoản nợ

+Khung pháp lý: Do tính chất phức tạp và tác động mạnh mẽ của nợ công đối với

toàn bộ nền kinh tế do vậy sự phân định trách nhiệm trong công tác quản lý cần phảiđược luật pháp hóa bằng các văn bản pháp luật như Luật Quản Lý Nợ Công, LuậtNgân Sách Nhà Nước, các Thông Tư có liên quan.Hệ thống văn bản pháp luật nàycần phải chặt chẽ, nhất quán, đồng bộ để thuận tiện cho công tác thực hiện

+Tổ chức bộ máy quản lý là một nội dung vô cùng quan trọng trong công tác quản lý

nợ công.Việc vay nợ, sử dụng vốn vay có hiệu quả chỉ có thể đạt được dựa trên một

bộ máy tổ chức hành chính gọn nhẹ, thống nhất, hoạt động hiệu quả.Trước hết là cơquan lập pháp-Quốc hội phải chịu trách nhiệm điều chỉnh, hoàn thiện, thông qua các

dự luật về Nợ và các kế hoạch Nợ Công hàng năm do chính phủ đề xuất.Tiếp theo đó

là kể đến vai trò của Chính Phủ với các cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm triểnkhai, thực hiện các nội dung quản lý Nợ.Thông thường thì Bộ Tài Chính là cơ quantrực tiếp nhận trách nhiệm về vay nợ Tiếp đến là vai trò của ngân hàng Nhà Nước,

Bộ Kế Hoach và Đầu Tư, Chính Quyền địa phương trong việc xây dựng ,đề xuất

Trang 24

chiến lược Nợ Công phù hợp với tình hình kinh tế -xã hội chung của đất nước và vớitừng địa phương mình nói riêng.

1.3 Đánh giá nợ công

Đối với tất cả các quốc gia đang phát triển trên thế giới nói chung và Việt Namnói riêng, việc tăng cường vay nợ đặc biệt là vay nợ ở khu vực Công để đáp ứng nhucầu về vốn để phát triển đất nước đã trở thành tất yếu.Tuy nhiên việc vay bao nhiêu,

cơ cấu như thế nào để tránh những tác động tiêu cực của nợ công cho thế hệ tương laicần phải được xem xét kỹ lưỡng trên cơ sở vận dụng lý thuyết nghiên cứu tình hìnhthực tế

+Tính bền vững của nợ công là khái niệm được các tổ chức quốc tế như IMF, WB,

hay UNCTAD, các cơ quan quản lý nợ của các nước cho vay, đi vay và các chuyêngia kinh tế nói đến rất nhiều trong thời gian gần đây đặc biệtkhi cuộc khủng hoảng nợcông sảy ra ở Hi lạp và lan rộng ra EUROZONE đầu năm 2010.Một định nghĩa của

cơ quan phát triển quốc tế (IDA thuộc WB) và quỹ tiền tệ quốc tế IMF phát biểu nhưsau:

“Tính bền vững nợ là khái niệm dùng để chỉ trạng thái nợ của quốc gia tại đó nước

vay nợ có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tả nợ cả gốc và lãi một cách đầy đủ-không phải nhờ đến các biện pháp miễn giảm hay cơ cấu lại khoản nợ nào, cùng những biện pháp hoãn nợ, đồng thời nền kinh tế vẫn phải đạt được một tỷ lệ trăng trưởng chập nhận được.”

Định nghĩa về tính bền vững –an toàn của nợ nói trên đưa ra một khuôn khổmang tính chất nguyên tắc, trên cơ sở này các nước xây dựng hệ thống quản lý nợcông hiệu quả.Chính sách kết hợp hài hòa giữa chính sách vĩ mô và chính sách vaytrả nợ nhằm đảm bảo an toàn cho nền tài chính quốc gia đồng thời tạo điều kiện để

phát triển kinh tế được gọi là “Chính Sách Nợ Công bền vững”.

Để việc vay nợ đảm bảo hiệu quả, không dẫn đến những xáo trộn kinh tế vĩ môtrong ngắn hạn cũng như trong dài hạn ,Chính phủ cần phải xem xét tới các yếu tốsau:

+Mức nợ tích lũy và tốc độ tăng của nợ công tại thời điểm hiện tại

Trang 25

Đánh giá quy mô của nợ công là việc làm hết sức quan trọng trong đánh giá tìnhtrạng nợ công của một quốc gia nhằm đưa ra chiến lược vay trả nợ phù hợp.Quy môtuyệt đối cho ta biết chính xác về số công nợ của chính phủ nhưng lại không thấyđược mối tương quan với các yếu tố khác của nền kinh tế như GDP, thâm hụt ngânsách nhà nước ….Do vậy ta cần xem xét quy mô tương đối của nợ công được thểhiện qua các chỉ số nợ:

-Tỷ lệ nợ công/ GDP được đo bằng tỉ lệ phần trăm giữa tổng nợ công tích lũy trên tổng

sản phẩm trong nước hàng năm.

Tổng dư nợ công cuối năm

Tỷ lệ nợ công so với GDP = x 100%

GDP trong năm

Tỷ lệ này thể hiện mối tương quan giữa tổng khoản nợ với năng lực tạo ra thunhập chịu thuế(nguồn dùng để thanh toán nợ công).Do phụ thuộc vào thu nhập chịuthuế nên tỷ lệ này được đánh giá cao hay thấp là tùy thuộc vào mức độ ổn định củanền kinh tế và năng lực thu thuế của chính phủ.Ví dụ ở Việt Nam tỷ lệ này được cho

là an toàn nếu như < 50% ở các nước thuộc liên minh Châu Âu (EU) mức nợ công/GDP chấp nhận được là không quá 60% theo tiêu chí của Mastricht

-Nợ nước ngoài trên /GDP được đo bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng nợ nước ngoài và

và tổng sản phẩm trong nước hàng năm.

Tổng dư nợ nước ngoài cuối năm

Tỷ lệ nợ nước ngoài so GDP = x 100%

GDP trong nămNhư đã nói ở trên chỉ số nợ nước ngoài trên GDP có thể được biểu diễn bằngtổng nợ danh nghĩa trên GDP hoặc giá trị hiện tại ròng của tổng nợ trên GDP Đây làchỉ số tổng hợp tổng hợp nhất để đánh giá gánh nặng nợ quốc gia.Nó cũng biển hiệumối tương quan giữa tổng nợ nước ngoài so với năng lực tạo ra thu nhập để trả nợ

-Nợ Chính phủ so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ Chính phủ so với

thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm

Chỉ số này được tính như sau:

Trang 26

Tổng dư nợ Chính phủ cuối năm

Tỷ lệ nợ Chính phủ so với

GDP

= x 100% GDP trong năm

-Nợ vay thương mại của Chính phủ so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô

nợ vay thương mại nước ngoài Chính phủ so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế vàđược tính tại thời điểm 31/12 hàng năm

Chỉ số này được tính như sau:

Tổng dư nợ Chính phủ cuối năm

Tỷ lệ nợ vay thương mại

nước ngoài Chính phủ so

với GDP

= x 100%

GDP trong năm

-Nợ được Chính phủ bảo lãnh so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ

được Chính phủ bảo lãnh so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tạithời điểm 31/12 hàng năm

Chỉ số này được tính như sau:

Tổng dư nợ bảo lãnh cuối năm

Tỷ lệ nợ được Chính phủ

bảo lãnh so với GDP

= x 100%

GDP trong năm

-Nợ chính quyền địa phương so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ của

Chính quyền địa phương so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thờiđiểm 31/12 hàng năm

Chỉ số này được tính như sau:

Tổng dư nợ địa phương cuối năm

Tỷ lệ nợ địa phương so với

GDP

= x 100%

Trang 27

GDP trong nămViệc phân tích mức độ nợ công được thực hiện dựa trên kinh nghiệm thực tế vềvay và trả nợ của các nước đang phát triển đi trước có điều kiện kinh tế tương đốigiống Việt Nam từ đó xây dựng một mức trần để từ đó đánh giá gánh nặng nợ nầncủa mình.Mỗi chỉ số thể hiện một khía cạnh khác nhau của mức độ nợ công của mộtnước.Để đánh giá mức độ nợ và khả năng trả nợ của nước đó cần xem xét tất cả cácchỉ số trong mối quan hệ với nhau.Tuy nhiên chỉ số tổng nợ công /GDP, nợ nướcngoài /GDP là quan trọng nhất bởi lẽ nó thể hiện khả năng trả nợ lâu dài của nền kinhtế.Vì vậy khi dùng các chỉ số này để đánh giá mức nợ không nên chỉ dùng duy nhấtmột chỉ số mà nên kết hợp chúng với nhau để có những kết luận chính xác.Thứ nhất

là nợ công không vượt quá 50-60% GDP hoặc không quá 150% kim ngạch xuất khẩu.Thứ hai là dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch vụtrả nợ của chính phủ không vượt qua 10% chi ngân sách.Ngân hàng thế giới đưa rangưỡng an toàn nợ công là 50% và theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp

lý cho các quốc gia đang phát triển nên ở mức dưới 50%.Tuy nhiên không có hạnmức an toàn nào chung cho các nền kinh tế, không phải tỷ lệ nợ công /GDP thấp làtrong ngưỡng an toàn và ngược lại.Mức độ an toàn của nợ công còn phụ thuộc vàotình trạng mạnh hay yếu của nền kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.Ví

dụ cho điều này là Hoa Kỳ có tỷ lệ nợ công là 96%GDP, Nhật Bản có mức nợ côngvào loại cao nhất thế giới 200% GDP nhưng do năng suất lao động cao đảm bảo cho

nợ công của hai nước là bền vững.Trong khi đó nhiều nước lại có chỉ số nợ trên GDPthấp hơn lại rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ như Venezuela năm 1981 là 15%GDP, Argentina năm 2001 là 45% GDP ,Ukraina năm 2007 chỉ với 13% GDP ,Rumani là 20% Hay gần đây nhất là Hy lạp lên đến 113,5% ,Ireland khoảng 98,5%GDP.Chính vì vậy mà để xác định đánh giá đúng đắn mức độ an toàn của nợ côngkhông chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ trên GDP mà cần phải xem xét nó một cách toàndiện trong mối lien hệ với hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế như tốc độ

và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động tổng hợp, hiệu quả sử dụngvốn, thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm nội địa và mức đầu tư toàn xã hội… bên cạnh

đó còn phải xem xét các chỉ tiêu về cơ cấu nợ như: lãi suất, kì hạn trả nợ…

Trang 28

Bảng 1.1Các chỉ số dùng để đánh giá mức độ nợ của ngân hàng thế giới, UNDP

và dự án VIE/01/010

NPV của nợ/thu ngân sách trừ khoản hỗ trợ 250%

Dịch vụ nợ /nguồn thu ngân sách trừ khoản hỗ trợ 10%

Đối với nợ nước ngoài:

Mức nợ nước

ngoài

Đánh giá sức mạnh của thể chế và chính sáchKém CPIA<3 Vừa 3<CPIA<3,9 Mạnh CPIA>3,9

Trong đó: “Mạnh” là tình trạng nợ nghiêm trọng và “Kém” là không gặp vấn đề về nợ

Đối với nợ trong nước

+Quản lý cơ cấu các khoản nợ công Bao gồm việc quản lý:

 Cơ cấu nợ trung dài hạn- nợ ngắn hạn đối với nợ công và nợ nước ngoài

 Cơ cấu nợ vay trong nước (tín phiếu, trái phiếu) và nước ngoài (ODA, thươngmại…) của chính phủ

 Lãi suất vay trung bình của các khoản vay được tính trên cơ sở bình quân giaquyền của các khoản vay với điều kiện vay khác nhau

Trang 29

 Kỳ hạn trung bình của các khoản vay tính trên cơ sở bình quan gia quyền của cáckhoản vay với kỳ hạn khác nhau.

Đối với cơ cấu tiền tệ, không nên tập trung các khoản nợ vào một số các đồngtiền, đặc biệt là các đồng tiền thường xuyên biến động và các khoản vay đa tiền tệnhằm tránh rủi ro tỷ giá dẫn đến gia tăng gành nặng nợ.Để chủ động bảo vệmình,nước đi vay có thể linh hoạt áp dụng các công cụ tài chính sẵn có trên thịtrường như các hợp đồng quyền chọn, kỳ hạn, tương lai… để làm cho cơ cấu tiền vay

và cơ cấu ngoại tệ thi được phù hợp với nhau.Bên cạnh đó các quốc gia đi vay cầncân đối giữa cơ cấu tiền đi vay với cơ cấu ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu

và cơ cấu dự trữ ngoại hối để đề phòng rủi ro thanh khoản có thể sảy ra.Đối với thờihạn vay, nên cân đối giữa vay ngắn hạn và vay dài hạn nhằm giảm rủi ro vốn đổichiều đột ngột.Đối với lãi suất nên cân đối tối đa giữa lãi suất thả nổi và lãi suất cốđịnh.Đối với các công cụ tài chính sử dụng, lựa chọn các nghiệp vụ sao cho có lợinhất trong đó có các nghiệp vụ như chuyển nợ thành vốn, chuyển nợ thành các tráiquyền khác, chuyển nợ thành nợ, mua bán lại nợ nhằm giảm đến mức tối đa cáckhoản nợ quá hạn.Tuy nhiện việc tái cơ cấu các khoản nợ này chỉ được xem như làcác biện pháp tạm thời khi chính phủ rơi vào tình trạng không có khả năng trả nợ và

có thành công hay không phụ thuộc vào quan hệ giữa chủ nợ và chính phủ đi vay

1.4 Kiểm soát và Đánh giá việc sử dụng các khoản nợ

Kiểm soát việc sử dụng vốn vay

Kiểm soát việc sử dụng vốn từ các khoản nợ công là quá trình theo dõi những hoạtđộng sử dụng vốn để biết chắc chúng có được sử dụng theo đúng kế hoạch và để sửachữa những sai lệch sảy ra và tìm biện pháp khắc phục.Như vậy công tác kiểm soátthực hiện vốn vay là công tác quan trọng không thể thiếu để đảm bảo cho các chươngtrình, dự án thành công và đảm bảo cho các chương trình dự án cũng như việc cungứng nhân lực, phương tiện, vốn… được thực hiện theo kế hoạch đặt ra.Nội dung củakhâu kiểm soát cần tập trung vào các điểm nút của dự án như tiến độ, vật lực, tài lực,nhân lực…các chủ thể thực hiện việc kiểm soát các chương trình dự án chủ yếu gồmcác cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến vốn nợ công như Bộ tài chính, Bộ kếhoạch và đầu tư, ngân hàng nhà nước, chính quyền địa phương… mức độ, cách thức

Trang 30

thực hiện việc kiểm soát phải nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả của dự

ta biết giá trị tuyệt đối của lượng vốn đã giải ngân.Khối lượng vốn giải ngân / lượngvốn kế hoạch là giá trị tương đối cho thấy tốc độ thực hiện dự án chậm hay nhanhhơn khá hoạch.Hiệu quả của dự án được đánh giá bằng các chỉ tiêu như thu nhậpthuần, chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng NPV, chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn đầu tư ROI, thờigian hoàn vốn đầu tư, giá trị đóng góp vào GDP…

+ Về mặt định tính :

Hầu hết nợ công được ưu tiên sử dụng vào các công trình dự án mang ý nghĩa pháttriển toàn diện, kinh tế không phải vấn đề quan trọng hàng đầu mà còn phải xét tới ýnghĩa tạo dựng đối với xã hội, cộng đồng.Hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện quacác chỉ tiêu như:

Tác động lan tỏa của các dự án

Các dự án sử dụng vốn nợ mang tính chất phát triển cộng đồng.Kết quả của dự ánthường mang tính tiềm ẩn và chỉ được phát huy theo thời gian.Các kết quả sẽ tácđộng lan tỏa nhân rộng cả trên phạm vi không gian và thời gian.Do vậy hiệu quả nàycần được theo dõi tổng hợp đánh giá trong một thời gian dài sau khi dự án kết thúc để

có thể thấy được toàn diện chính xác vai trò hiệu quả của việc sử dụng vốn vay chocác dự án này

Đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội

Chỉ tiêu đánh giá này thực chất là chỉ tiêu tổng hợp các chỉ tiêu định tính và địnhlượng nói trên.Hiệu quả sử dụng vốn dưới bất kì góc độ nào, bất cứ chủ thể nào thìxét cho cùng cũng đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước.Đối vớicác dự án thông thường, hiệu quả thường thiên về tính kinh tế nhưng hiệu quả dự án

sử dụng vốn nợ công mang đậm tính kinh tế xã hội –gắn giữa hiệu quả kinh tế và hiệu

Trang 31

quả xã hội thông qua giải quyết và thực hiện tốt các vấn đề:tăng cường năng lực quản

lý, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, sức khỏe cộngđồng , số lao động có việc làm….Các yếu tố xã hội tuy không phải nhân tố then chốttrong việc tạo ra giá trị kinh tế nhưng chúng lại là những điều kiện cần thiết cấu thànhmôi trường tổng thể để duy trì hiệu quả kinh tế, hướng tới một sự phát triển chungbền vững

1.5 Đánh giá khả năng trả nợ hiện có của nền kinh tế

Ngoài các chỉ số như nợ/ xuất khẩu hay nợ/ thu ngân sách nhà nước dùng để đánhgiá tính bền vững của nợ cũng có thể được sử dụng để đánh giá khả năng trả nợ củanền kinh tế thì tập hợp các chỉ số kinh tế vĩ mô của quốc gia vay nợ cho phép đánhgiá một cách khả chính xác nguồn lực có thể huy động cho việc trả nợ, mức độ chắcchắn của việc đúng hạn, đồng thời có thể chỉ báo tình trạng mất khả năng trảnợ(khủng hoảng nợ) sắp xảy ra.Phân tích động thái của các chỉ số này sẽ cho quốcgia cái nhìn khái quát toàn cảnh về tình trạng nợ của mình

+ Tăng trưởng kinh tế :

Tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quyết định đối với độ lớn của nguồn tài chínhthu được để trả nợ.Tốc độ tăng trưởng giảm dần đồng thời xuất hiện thêm các vấn đềnhư chi phí nợ vay tăng, tính cạnh tranh của quốc gia giảm sút, các vấn đề tín dụngtrong nước… là dấu hiệu chỉ báo tình trạng mất khả năng thanh toán trong tươnglai.Bài học có thể thấy rõ điều này chính là cuộc khủng hoảng tại Thái lan năm 1998

+ Tình trạng của cán cân thanh toán.

Đối với các nước đang phát triển, tình trạng của cán cân thanh toán phản ánhlượng ngoại tệ có để trả nợ.Tình trạng thặng dư hay thâm hụt của cán cân liên quanđến dự trữ ngoại hối quốc gia.Việc nhập khẩu quá lớn so với xuất khẩu làm thâm hụtcán cân thương mại, qua đó làm tăng thêm tình trạng thâm hụt cán cân thanh toánquốc tế chỉ ra rằng khả năng hạn chế trả nợ trong tương lai

+ Lãi suất –tỷ giá-lạm phát

Ba yếu tố quan trọng này tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế của quốc gia

và khả năng trả nợ của quốc gia Lãi suất cao, lạm phát và tỷ giá biến động làm ảnhhưởng đến chi phí vay nợ, đồng thời gây khó khăn cho khả năng tiếp cận tín dụng của

Trang 32

doanh nghiệp trong nước ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước do vậy ảnh hưởngđến khả năng trả nợ của chính phủ

1.4 Tình hình nợ công và quản lý nợ công ở một số quốc gia trên thế giới

1.1 Khủng hoảng nợ công ở Argentina năm 2001

Vào đầu thế kỷ 20 Argentina là một trong những quốc gia giàu mạnh nhất trênthế giới.Với tài nguyên thiên nhiên giàu có, Argentina xuất khẩu mạnh thực phẩm vànguyên vật liệu.Trong 4 thập kỷ từ sau thế chiến thứ hai đến cuối những năm 80Argentina áp dụng các chính sách sau:

-Chính sách phát triển hướng nội

-Chính sách ngân sách mở rộng làm tăng thâm hụt ngân sách Chính phủ tài trợbằng cách in tiền từ năm 1976-1989, hai cuộc siêu lạm phát và hai cuộc khủng hoảngngân hàng sảy ra.Nguyên nhân là do Argentina áp dụng chế độ độc tài quân sự trongnhiều năm mà kết quả là ảnh hưởng một số vấn đề quan trọng về kinh tế.Trong quátrình đổi mới tổ chức quốc gia từ năm 1976 đến 1983 đã vay nợ nhiều sau đó lại mấtvốn trong những dự án chưa hình thành.Đến cuối của chính quyền quân sự thì ngànhcông nghiệp bị ảnh hưởng rất nhiều, thất nghiệp cao

-Năm 1983 dân chủ ở Argentina đã được phục hồi với cuộc bầu cử tổngthống.Chính phủ mới đưa ra kế hoạch ổn định kinh tế.Tuy nhiên chính sách quản lýsai lầm đã làm cho nền kinh tế sụp đổ và lạm phát tăng cao năm 1989 lạm phát ở mức200%/tháng, 3000% năm, năng suất giảm mạnh.Để vượt qua khủng hoảng chính phủ

đã đề ra các chính sách sau:

- Năm 1991 lập ra một hệ thống tiền tệ với nhiệm vụ gắn chặt ty giá đồng Perovới đồng USD theo tỷ giá cố định 1 đổi 1 và chỉ được phép phát hành đủ số tiền choviệc trao đổi trên thị trường.Đây là giải pháp nhằm khống chế lạm phát, nhưng nócũng tạo ra hạn chế cho NHTW trong việc hỗ trợ bù đắp thâm hụt ngân sách nhànước và giúp đỡ các NHTM tăng tính thanh khoản

-Xây dựng hệ thống tiền tệ kép đảm bảo vai trò ngang nhau giữa đồng Pero vớingoại tệ (chủ yếu là USD) người dân Argentina có quyền trả bẳng bất kỳ đồng tiềnnào trong giao dịch của mình

Trang 33

- Tự do hóa hệ thống ngân hàng bao gồm việc tư nhân hóa gần như tất cả cácngân hàng địa phương và bán một số ít các tổ chức tài chính trung bình và lớn chonước ngoài.

-Tự do hóa hoàn toàn việc luân chuyển tư bản cả tài chính lẫn đầu tư trực tiếp

mà không có bất cứ hạn chế nào

-Tư nhân hóa các công ty nhà nước từ công ty hàng không đến công ty điện vàbưu điện trong khi nước này chưa hề có một hệ thống luật lệ mạnh và đầy đủ

-Loại bổ gần như hoàn toàn tất cả các hàng rào phi thuế quan và cắt giảm thuế

từ trung bình 45% thập niên 90 xuống còn 11% năm 2000

Từ chương trình tư hữu hóa hang loạt xí nghiệp quốc doanh nhất là việc bánchúng cho các ông chủ nước ngoài bước đầu đã mang lại lượng ngoại tệ lớn cho quốcgia này.Nguồn thu từ chương trình này cùng với việc vay nợ nước ngoài đã giúp chochính phủ Argentina ổn định giá trị đồng nội tệ.Tất cả điều này đã làm nền tảng chotăng trưởng ngoạn mục thời gian sau đó.Thêm vào đó, những thành tựu về kinh tế và

sự ổn định trong giá trị đồng nội tệ đã dẫn tới một hệ quả đương nhiên là dòng vốnquốc tế chảy ồ ạt vào Argentina.Những yếu tố đó đã khiến Argentina được ngợi khen

là một điển hình của sự thần kỳ mới và là một trong những ‘học trò xuất sắc’ được

IMF thừa nhận.Đồng thời chính phủ Argentina tận dụng uy tìn của mình đang lên đểtiếp tục vay nợ nước ngoài.Đương nhiên qua thời gian khoản nợ nước ngoài cứ tiếptục tăng lên, bắt đầu là ngưỡng an toàn từ tỷ lệ dưới 50% GDP( 35% GDP trong năm

1995 cho đến gần 65% GDP năm 2001).Khoản nợ nươc ngoài này dẫn đến hậu quảtai hại là làm cho chính phủ mất đi sức đề kháng trước những rủi ro trong thâm hụtngân sách.Với suy nghĩ dù làm gì đi nữa, chính phủ cũng dư sức bù đắp thâm hụtngân sách bằng nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào va cả bằng biện pháp vay nợ nữa

Những biện phát trên của chính phủ đã có hiệu quả ngay tức thời Trong 3 nămsau đó nền kinh tế Argentina phát triển tốt trong khi lạm phát giảm mạnh.Tuy nhiên

sự tự do hóa quá nhanh và trên qui mô quá lớn đã để lại những mầm mống của sự bất

ổn tài chính.Cuối thập kỷ 90 của thế kỷ đồng USD tăng giá kéo theo việc đồng Pesocũng tăng giá theo so với các đông tiền của các đối tác thương m,ại của nước này làmgiảm khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu

Trang 34

Năm 1994 khủng hoảng của đồng Peso- Mexico làm ảnh hưởng đến nguồn vốntrong nước, năm 1997 cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Châu Á nỗ ra và lan rộng khắp cácnước đang phát triển trên thế giới.Năm 1998 tình hình tài chính thế giới rối loạn docác vấn đề của Nga và nỗi lo lắng của các nhà đầu tư vào Brazil đã làm cho lãi suấttrong nước tăng lên mức cao nhất trong vòng hơn ba năm làm giảm đi một nửa tỷ lệtăng trưởng của nền kinh tế.Từ những năm 1999 Argentina đã bắt đầu gặp phảinhững mất cân đối trong chi tiêu ngân sách.Do đã tư hữu hóa ồ ạt các doanh nghiệpquốc doanh trong thời gian trước đó, chính phủ giờ đây đã không còn nguồn thu nàokhác ngoài thuế để bù đắt thâm hụt.Đó là còn chưa kể vấn đề còn them trầm trọnghơn bởi chính phủ liên tục phải trả nợ cho các khoản nợ nước ngoài đến hạn.Điềukiên lúc này càng thêm tồi tệ khi mà tỷ lệ tăng trưởng năm 1999 chỉ đạt 3%, năm

2000 còn chỉ đạt 0,8%.Các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều hoài nghi về khảnăng trả nợ của chính phủ và việc giữ tỷ giá hối đoái cố định theo đồng USD.Kinh tếArgentina bắt đầu suy thoái, các điểm yếu trong nền kinh tế dần lộ ra dẫn đến cuộctháo chay ồ ạt của nhà đàu tư nước ngoài.Vì nền kinh tế tự do hóa hết mức nên việcrút vốn càng diễn ra dễ dàng Argentina buộc phải cầu viện IMF.Năm 2000 IMF đồng

ý cho Argentina vay tiền với điều kiện phải thắt chính sách tài khóa như không thâmhụt ngân sách và nâng lãi suất.Đầu Năm 2001 IMF đã cho Argentina vay 13,7 tỷUSD nhưng đến cuối năm 2001 IMF ngừng cấp khoản vay mới do Argentina khôngđáp ứng được đòi hỏi tài chính Argentina tuyên bố phá sản ngay sau đó

Như vậy cuốc khủng hoảng nợ kéo theo là một cuộc khủng hoảng chính trị kéo dàinhiều năm, sau nhiều năm sảy ra tại Argentina nhưng sức nóng của nó hiện tại vẫncòn, nó luôn là bài học cho các nhà lãnh đạo các nước đặc biệt là các nước đang pháttriển trong việc điều hành chính sachs tài khóa, tiền tệ của quốc gia mình.Có thể tómgọn nguyên nhân dẫn đến tình trạng khủng hoảng nợ này như sau:

+ Chính sách hối đoái gắn đồng peso với đồng USD theo tỷ giá cố đinh 1:1 do bộtrưởng kinh tế Domigo Cavallo đề xuất năm 1991 nhằm giải quyết nạn siêu lạmphát và tăng khả năng thanh toán nợ nần trong các năm trước.tuy nhiên sự thayđổi này đã khiến Argentina rơi vào tình trạng khó khăn hơn khi các nước láng

Trang 35

giềng như Brazil phá giá đồng nội tệ vì thế làm đầu tư nước ngoài vào Argentina

và ngành xuất khẩu của nước này chủy yếu là nông sản sụt giảm ghê gớm

+ Việc chính phủ thẳng tay vay nợ khiến cho tổng số nợ đến nay lên đến 132 tỷUSD khoảng 1/7 tổng số nợ của các nước đang phát triển.Mỗi khi lâm và tìnhtrạng khủng hoảng , Argentina lại vay nợ nên đã chấp nhận mức lãi suất cao.Việcchính phủ mắc nợ quá nhiều làm cho lãi suất tăng cao dẫn đến nhiều công ty tỏngnước phải đóng cửa vì tín dụng cho sản xuất vượt quá khả năng thanh toán củamình

+ Nguyên nhân nữa là bắt nguồn từ làn sóng tư nhân hóa trong những năm 90 dướithời của Tổng thống Menem dẫ đến nhiều người mất việc.Và do phần lớn cáccông ty tư nhân hóa thuộc các ngành thiết yếu như điện, nước, lương thực thựcphẩm… nên các công ty này tự ý nâng giá hàng hóa, dịch vụ của mình lên caohơn.Cuộc khung hoảng thêm trầm trọng khi nhu cầu trong nước giảm mạnh làmcho nhiều doanh nghiệp phá sản và ngày càng nhiều người mất việc làm.Cáckhoản nợ chính phủ cũng theo đó mà gia tăng vì thất thu nguồn thuế thu nhậpdoanh nghiệp.Trong khi quĩ tiền tệ IMF lại khẳng định sẽ không giúp Argentinathoát khỏi khủng hoảng băng cách cho vay để nước này thanh toán nợ

1.2 Khủng hoảng nợ công tại Hi Lạp đầu năm 2010.

Trong báo cáo “Rủi ro toàn cầu năm 2011” phân tích 37 rủi ro mà thế giới phảiđối mặt trong năm gần đây đã được công bố trước thềm hội nghị thường niên kinh tếthế giới WEF diễn ra tại Davos ,Thụy Sĩ đã chỉ ra rằng:

“Nguy cơ các chính phủ có mức thâm hụt ngân sách và nợ nần cao bị đẩy tới bờ vực

vỡ nợ vẫn là một trong những mối đe dọa lớn nhất mà thế giới phải đối mặt năm 2011”

“Chính sách tài khóa hiện nay của phần lớn các nền kinh tế công nghiệp là không bền vững.Trong bối cảnh còn chưa đạt được nhũng điều chỉnh sâu sắc về cơ cấu ,thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ vỡ nợ công ở mức cao”

Đầu năm 2010 khủng hoảng nợ công ở Hy lạp đã làm rung chuyển thị trườngtài chính Châu Âu và toàn cầu.Như một hiệu ứng Đomino, bóng mây đen tối củacuộc khủng hoảng nợ đã bao phủ toàn khu vực đồng tiền chung Châu Âu Bắt đầu từIreland sau đó đe dọa nhấn chìm Bồ Đào Nha thậm chí cả Tây Ban Nha –nền kinh tế

Trang 36

lớn thứ 4 trong khu vực.Thị trường chứng khoán thế giới đã có những phiên giao dịchdiễn ra trong sự hoảng loạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đà phục hồi kinh tế thế giớisau khủng hoảng.Đây là tiếng chuông cảnh báo cho các quốc gia trên thế giới khixem xét vấn đề nợ công của mình trong chiến lược phát triển dài hạn.Vậy vì đâu mà

từ một nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế từng nhanh nhất khu vực EU lại rơi vàotình trạng như vậy.???

Hi lạp là một mắt xích tương đối yếu trong khối sử dụng đồng tiền chung ChâuÂu.Gia nhập khu vực này là cơ hội để Hy lạp tiếp cận với thị trường vốn Quốctế.Đáng tiếc, việc quản lý dòng vốn không hiệu quả đã khiến cho quốc gia này lâmvào cảnh nợ nần chồng chất.Theo nhiều nghiên cứu và đánh giá của các tổ chức tàichính uy tín,những nguyên nhân trực tiếp gây nên cuộc khủng hoảng nợ ở Hy lạp đólà:

+ Tiết kiệm trong nước thấp, vay nợ nước ngoài dành cho chi tiêu công quá lớn.

Kinh tế hy Lạp tăng trưởng mạnh mẽ bình quân ở mức 4,2% năm trong giai đoạn2002-2007.Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên minh Châu Âu,tạo điều kiện thuận lợi cho Hy Lạp tăng cường việc phát hành trái phiếu quốc tế vay

nợ để sử dụng cho chi tiêu chính phủ.Số tiền này có thể giúp Hy lạp tiến rất xa nếunhư chính phủ có kế hoạch chi tiêu, đầu tư hợp lý.Nhưng điều này đã không như vậy,Nhà chức trách dường như đã “ngủ quên” trên số tiền mà chính phủ vay được.Chínhphủ Hy lạp chủ yếu chi tiêu cho xây dựng cơ sở hạ tầng chứ không quan tâm đến kếhoạch phát triển kinh tế và trả nợ.Ví dụ điển hình cho điều này chính là công tác tổchức cho kì thế vận hội mùa hè Olympic 2004-một kì thế vận hội được coi là hoànhtráng và tốn kếm nhất trong lịch sử thế giới.Hy lap đã chi tận 12 tỷ EURO( cao hơn

dự kiến 10 tỷ) cộng với việc không cho phép bất cứ một quảng cáo nào xuất hiện tại

kì thế vận hội đã làm cho ngân sách quốc gia thâm hụt 6,1% GDP (giới hạn của EU là3%).Thêm vào đó là tỉ lệ tiết kiệm nội địa của nước này sụt giảm nghiêmtrọng.Những năm cuối thập niên 90, tỷ lệ tiết kiệm chỉ ở mức 11% so với mức 20%của các nước như Bồ Đào Nha,Italia, Tây Ban Nha Do vậy mà đầu tư trong nướcphụ thuộc khá nhiều vào các dòng vốn nước ngoài vốn luôn chứa đựng nhiều rủi ro

+ Chi tiêu kích thích kinh tế sau khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 càng làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách và nợ công thêm trầm trọng

Trang 37

Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến cácngành công nghiệp chủ chốt của nước này Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thuđều sụt giảm trên 15% trong năm 2009 Kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khókhăn, nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh Trong khi đó HyLạp lại phải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh tế Tính đến tháng 01/2010,

nợ công của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế được dự báo cóthể vượt mức 120% GDP

Biểu đồ 1.1So sánh thâm hụt ngân sách và nợ của Hy Lạp với một số quốc gia

châu Âu trong năm 2009

Nguồn:Báo cáo của Nguồn ngân hàng Châu Âu năm 2009

Bên cạnh đó, trong suốt thời gian dài Chính phủ Hy Lạp đã phải ngụy tạo các báo cáo

về tình hình kinh tế trong nước, sắp xếp lại các giao dịch nhằm che dấu mức vay thực

tế, nhằm phù hợp với các quy định gia nhập, giám sát của EU và có thể chi tiêu caohơn Ví dụ Tháng 3/2000, dưới một tiêu chuẩn kế toán mới, cho thấy thâm hụt thực

sự của Hy Lạp vào năm 1998 là 3,2% Đến năm 2004 một báo cáo khác lại chỉ ra con

số thâm hụt của Hy Lạp vào năm 1998 là 4,3%, bởi Hy Lạp đã nhập nhằng tiền chitiêu mua sắm công với viện trợ chính phủ đến 2 tỉ euro

Không chỉ thế, Hy Lạp còn cố ý không tính đến một số chi tiêu quân sự cũng như y tếtrong tổng chi chính phủ Ngược lại, quốc gia này còn xem một số viện trợ từ châu

Âu là khoản thu vào của chính phủ.Với cách này, Hy Lạp cố tình chê giấu thâm hụt

Trang 38

ngân sách năm 2003 Vào tháng 3/2004, Hy Lạp công bố thâm hụt ngân sách 2,6 tỉeuro tương đương 1,7%, tức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của EU là 2,7%.Điều đó khiến nhiều người nghi ngờ và EU gây áp lực khiến Hy Lạp công bố lại.

Dưới áp lực từ châu Âu, Hy Lạp công bố là 3,2% bởi trước đó đã tính các trợ cấpthuế ước tính của châu Âu vào nguồn thu chính phủ Bốn tháng sau đó, Hy Lạp thừanhận đã bỏ qua một số khoản chi tiêu quân sự, tính cao lên giá trị thặng dư an sinh xãhội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải là 4,6% Đến tháng 3.2005, Hy Lạp

“thành thật” thông báo thâm hụt của năm 2003 là 5,2% Và trong lần “thành thật”cuối cùng vào cuối năm đó, con số tăng lên mức 5,7% Sau 18 tháng, số liệu thâm hụtnăm 2003 đã tăng từ 2,6 tỉ lên 8,8 tỉ euro

Bảng1.2 so sánh rủi ro nợ công ở các nước năm 2010

Nguồn: World bank, IMF

+ Rủi ro lớn nhất của hy Lạp là vay nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn,

Tỷ trọng nợ nước ngoài lên đến 80% lượng trái phiếu chính phủ phát hành.Chủ nợphần lớn là các ngân hàng Châu Âu.Các nước Ireland, Italia cũng trong tình cảnhthâm hụt ngân sách và nợ công cao tuy nhiên không bị đánh giá là nghiêm trọng bằng

Hy Lạp.Sở dĩ như vậy là vì các nươc này có nền kinh tế tương đối lớn, khả năng kiểmsoát nợ trong nước cao hơn.Chính vì vậy khi những báo cáo về nợ công của Hy Lạpđược đưa ra, các tổ chức định mức tín nhiệm như S&P, Moody’s và Fitch Rating đãnâng tái phiếu chính phủ Hy Lạp xuống mức độ rủi ro cao mức BBB- vào ngày16/12.Trước nguy cơ mất khả năng thanh toán,nhà đầu tư có thể mất đến 30-50% giá

Trang 39

trị khoản đầu tư.Ngay lập tức sau đó lợi tức trái phiếu chính phủ tăng mạnh.Điều nàykhiến cho Chính phủ Hy Lạp khó khăn hơn trong việc huy động vốn trên thị trườngQuốc tế nhằm tái cấu trúc các khoản vay.

Biểu đồ1.2 Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp từ tháng 9/2009 đến nay

đơn vị: %.

Nguồn: Thomson Reuters

Hy lạp là một nền kinh tế nhỏ trong khối liên minh EU hàng năm đóng gópkhoảng 2% vào GDP của khu vực.Tuy vậy,Hy Lạp mất khả năng thanh toán đã gâynên hậu quả lan rộng khắp “Lục Địa Già”, làm mất ổn định nền tài chính khu vực đẩymột số nước tới bờ vực khủng hoảng.Có thể nói rằng Hy lạp chính là “cái nôi” củakhủng hoảng và bóng đen nợ nần vẫn tiếp tục lan rộng ra khắp Châuâu

Trang 40

Biểu 1.3 Tỷ lệ nợ công so với GDP tại châu Âu.

Nguồn Cơ quan thống kê châu Âu Eurostat

Nhìn tổng thể, khó có quốc gia nào tại Châu Âu có thể so sánh với Hy Lạp vềmức độ “chúa chổm” với số nợ lên tới 115,1% GDP (2009) và thâm hụt ngân sách ởmức 13,6% tổng sản phẩm quốc nội Tình trạng thu không đủ chi cũng diễn biến khánghiêm trọng tại Tây Ban Nha với mức thâm hụt tương đương 11,2% GDP Trongkhi đó, nếu so sánh riêng về tỷ lệ nợ quốc gia so với tổng thu nhập, Italy thậm chí còn

bi đát hơn cả Hy Lạp Tuy không nằm trong khối nhưng do có liên quan mật thiết vềkinh tê - xã hội, tỷ lệ nợ 68,1% GDP và thâm hụt 11,5% tại Anh cũng không khỏikhiến các quốc gia dùng đồng euro phải lo lắng

Biểu đồ 1.4 Thâm hụt ngân sách so với GDP tại các quốc gia châu Âu

Ngày đăng: 11/11/2015, 11:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam - ĐỀ TÀI NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÍ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng 2.1 Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam (Trang 44)
Bảng 2.3: Bội chi Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001-2010 - ĐỀ TÀI NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÍ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng 2.3 Bội chi Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001-2010 (Trang 51)
Bảng 2.4: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại - ĐỀ TÀI NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÍ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng 2.4 Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại (Trang 52)
Bảng 2.8 Nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh 2005-6/2010(Triệu USD) - ĐỀ TÀI NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÍ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng 2.8 Nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh 2005-6/2010(Triệu USD) (Trang 65)
Bảng 2.9 Hệ thống các chỉ số đánh giá nợ công VN 2004-2010 - ĐỀ TÀI NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÍ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng 2.9 Hệ thống các chỉ số đánh giá nợ công VN 2004-2010 (Trang 66)
Bảng các ký hiệu trong mô hình - ĐỀ TÀI NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÍ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Bảng c ác ký hiệu trong mô hình (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w