1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM

80 1,5K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống các chính sách đó thì chính sách bộichi ngân sách nhà nước giữ một vị trí quan trọng và trên thực tế, những năm qua đãđược Chính phủ sử dụng linh hoạt để đạt được các mục

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT 3

DANH MỤC HÌNH VẼ 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ 1

1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1

1.1.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước 1

1.1.2 Cân đối ngân sách nhà nước 5

1.1.3 Bội chi ngân sách nhà nước 9

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH ĐẾN CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ 14

1.2.1 Tác động đến tổng cầu 14

1.2.2 Tác động đến lạm phát 15

1.2.3 Tác động khác 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM 18

2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM 18

2.1.1 Tình hình kinh tế 18

2.1.2 Tình hình xã hội 19

2.2 THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA.20 2.2.1 Thực trạng thu ngân sách nhà nước 20

2.2.2 Thực trạng chi ngân sách nhà nước 22

2.2.3 Bội chi ngân sách nhà nước những năm qua 24

2.3 TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM 26

2.3.1 Bội chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế 26

2.3.2 Bội chi ngân sách nhà nước và lạm phát 29

2.3.3 Bội chi ngân sách nhà nước và nợ công 33

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 34

Trang 2

2.4.1 Kết quả đạt được 34

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 36

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM 45

3.1 ĐỊNH HƯỚNG VỀ CÂN ĐỐI NSNN NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 45

3.1.1 Định hướng cân đối NSNN bền vững 45

3.1.2 Quan điểm về cân đối NSNN trong bối cảnh hiện hay 48

3.2 GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT BỘI CHI NSNN NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM 51

3.2.1 Các giải pháp mang tính kinh tế để kiểm soát bội chi NSNN 51

3.2.2 Các giải pháp tài chính nhằm kiểm soát bội chi NSNN 54

3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ khác 67

KẾT LUẬN 1

DANH MỤC THAM KHẢO 2

Trang 4

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 – Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2002 – 2010

Hình 2.2 – Lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2002 – 2010

Hình 2.3 – Tổng thu ngân sách theo dự toán Quốc hội và tỷ lệ so với GDP

Hình 2.4 – Tổng chi theo dự toán Quốc hội và tỷ lệ so với GDP

Hình 2.5 – Chi thường xuyên và tỷ lệ so với GDP

Hình 2.6 – Chi đầu tư phát triển và tỷ lệ so với GDP

Hình 2.7 – Mức bội chi và tỷ lệ bội chi so với GDP giai đoạn 2002 – 2010

Hình 2.8 – Nguồn bù đắp bội chi ngân sách

Hình 2.9 – Đóng góp của các thành phần cho tăng trưởng kinh tế 2005 – 2010

Hình 2.10 – Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 2002 – 2010

Hình 2.11 – Tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 1991 – 2010

Hình 2.12 – Biểu đồ dòng tiền lưu chuyển

Hình 2.13 – CPI và tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 2002 – 2010

Hình 2.14 – Mức vay thuần của NSNN và tỷ lệ so với GDP

Hình 2.15 – ICOR Việt Nam qua các giai đoạn

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 – Tỷ trọng các nguồn thu ngân sách nhà nước

Bảng 2.2 – Tỷ trọng chi theo dự toán Quốc hội

Bảng 2.3 – Thống kê quy mô gói kích cầu

Bảng 2.4 – So sánh quốc tế: Quy mô chi ngân sách (% GDP)

Bảng 2.5 – Tăng trưởng GDP và ICOR của một số quốc gia Đông Á

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 2011, kinh tế thế giới được dự báo sẽ tiếp tục hồi phục, song vẫn cònchứa đựng những bất ổn khó lường như vấn đề tỷ giá, khủng hoảng nợ của một sốnước khu vực đồng tiền chung Châu Âu… Trong những yếu tố gây mất ổn định đó,bội chi ngân sách cũng là một vấn đề nhận được sự quan tâm, theo dõi sát sao củacác quốc gia bởi hiện nay, nhiều nước đang phải đối mặt với mức thâm hụt ngânsách khổng lồ, chưa từng thấy trong thời kỳ trước đây, đe dọa tới ổn định tài chínhcủa các quốc gia đó Do đó, vấn đề kiểm soát bội chi ngân sách đối với mỗi nướctrở nên vô cùng cấp thiết, nhằm đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế trong nhữngnăm tiếp theo

Ở Việt Nam, sau thời gian bị suy giảm do tác động từ khủng hoảng kinh tếthế giới, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đã phục hồi và tiếp tục tăng trưởng Để

ổn định kinh tế vĩ mô và tạo cơ sở cho tăng trưởng bền vững giai đoạn tới, Nhànước cần thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô – chính sách tài chính, tiền tệ mộtcách hợp lý và có định hướng Trong hệ thống các chính sách đó thì chính sách bộichi ngân sách nhà nước giữ một vị trí quan trọng và trên thực tế, những năm qua đãđược Chính phủ sử dụng linh hoạt để đạt được các mục tiêu như kích cầu, tăng vốncho đầu tư phát triển… Tuy nhiên, bội chi ngân sách của Việt Nam luôn ở mức khácao, nhiều năm vượt mức trần 5% mà Quốc hội đưa ra Điều đó có thể gây ra mất antoàn vĩ mô, nhất là khi hiệu quả đầu tư chưa cao, nợ công của Việt Nam ngày mộtgia tăng Vì vậy, trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô, ngân sách nhà nước cần phảiđược sử dụng hợp lý, hạn chế bội chi ngân sách để góp phần tích cực vào sự pháttriển kinh tế xã hội của đất nước

Xuất phát từ việc nghiên cứu, tìm hiểu lý luận và thực tiễn tình hình quản lý

bội chi ngân sách nhà nước, đề tài nghiên cứu khoa học về “Kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước nhằm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam” hy vọng tìm ra những

giải pháp có tính nguyên tắc phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế và hệ thốngtài chính nước ta trong giai đoạn hiện nay để quản lý và sử dụng công cụ bội chingân sách nhà nước một cách có hiệu quả, góp phần vào sự tăng trưởng bền vữngcủa nền kinh tế đất nước

Trang 6

2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Bội chi ngân sách nhà nước và sử dụng bội chi ngân sách nhà nước là một bộphận trọng yếu trong tổng thể chính sách tài chính quốc gia, có tầm bao quát rộng

và phức tập, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tài này Trong khuônkhổ bài nghiên cứu khoa học này chỉ nghiên cứu, phân tích một số lý luận cơ bản vềngân sách nhà nước; bội chi và cân đối ngân sách nhà nước; đánh giá thực trạng bộichi ngân sách nhà nước trong những năm vừa qua và các tác động đến nền kinh tế

vĩ mô; thiết lập các giải pháp có tính nguyên tắc để kiểm soát bội chi ngân sách nhànước trong những năm tới

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được các mục đích sau đây:

- Hệ thống hóa và phát triển lý luận về bội chi NSNN sao cho phù hợp vớibối cảnh nền kinh tế thị trường

- Đánh giá thực trạng bội chi NSNN Việt Nam trong những năm gần đây, từ

đó rút ra những mặt ưu điểm và những mặt hạn chế của chính sách bội chi NSNN

- Phân tích những tác động của bội chi NSNN đến một số yếu tố kinh tế vĩmô

- Đề xuất hệ thống các giải pháp vừa mang tính khoa học vừa mang tính thựctiễn nhằm hoàn thiện thể chế và chính sách bội chi NSNN Việt Nam nhằm ổn địnhkinh tế vĩ mô hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử trong nghiên cứu và xử lý thông tin

Phương pháp cụ thể và phổ biến trong đề tài là thống kê, phân tích, tổng hợp,

và so sánh

Trang 7

CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ

1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường phát triển, Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõrệt là: can thiệp, quản lý và điều hòa phúc lợi Để thực hiện các mục tiêu kinh tế xãhội của mình, Nhà nước đã tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia Từ

đó khái niệm ngân sách nhà nước xuất hiện như một công cụ tài chính quan trọng

Sự tồn tại và phát triển NSNN trên cơ sở hai tiền đề khách quan là tiền đề nhà nước

và tiền đề kinh tế hàng hóa – tiền tệ

Cho đến nay, thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trongđời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Thế nhưng người ta vẫn chưa có sự nhất trí

về NSNN là gì? Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm NSNN, tuỳ theo quanđiểm của người định nghĩa thuộc các trường phái kinh tế khác nhau, hoặc tuỳ theomục đích nghiên cứu khác nhau

- Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, thì: Ngân sách nhànước là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ, được thiếtlập hàng năm

- Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau vềNSNN Chẳng hạn:

+ Theo các nhà kinh tế phương Tây, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhànước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước

+ Các nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng, NSNN là kế hoạch thu, chi tài chínhhàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp luật quy định

+ Các nhà kinh tế Nga cũng cho rằng, NSNN là bảng liệt kê các khoản thu,chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước

Chúng ta có thể thấy, quan điểm của các nhà kinh tế Nga và Trung Quốc khágần gũi với quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển

Trang 8

- Theo Điều 1 – Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hoà

XHCN Việt Nam Khoá X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 16-12-2002: “Ngân sách

nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.”

Các ý kiến trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân tốhợp lý song chưa đầy đủ Bởi chúng mới chỉ mô tả hình thức biểu hiện bên ngoàicủa NSNN, mà chưa phản ánh được nội dung kinh tế bên trong – mặt bản chất củaNSNN

Về mặt bản chất Ngân sách nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tếgiữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụngcác nguồn tài chính nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước Cácquan hệ kinh tế bao gồm:

− Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịchvụ

− Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các tổ chức tài chính trung gian

− Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các tổ chức xã hội

− Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các hộ gia đình

− Quan hệ kinh tế giữa NSNN và thị trường tài chính

− Quan hệ kinh tế giữa NSNN với hoạt động tài chính đối ngoại

Trong giai đoạn hiện nay, cơ chế quản lý ngân sách rất được Nhà nước quantâm, từng bước được đổi mới, khái niệm NSNN được xem là mắt xích quan trọng,giữ vai trò chủ đạo trong tài chính quốc gia Từ đó, Luật Ngân sách Nhà nước năm

2002 và các quy định pháp luật về quản lý thu chi Ngân cách đã được xây dựng

theo tiêu chí “quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và

trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã

Trang 9

hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại” (trích

luật Ngân sách Nhà nước)

1.1.1.2 Thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chínhnhững để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêucủa nhà nước

Theo Điều 2 – Luật NSNN quy định: Thu NSNN bao gồm các khoản thu chủ

yếu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ của nước ngoài.

- Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập cá nhân, doanhnghiệp cho Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thuế làkhoản đóng góp bắt buộc không mang tính hoàn trả trực tiếp mà gián tiếpthông qua các công trình công cộng mà Nhà nước xây dựng Người nộp thuếkhông được đòi hỏi Nhà nước cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng tươngxứng với số tiền thuế mình đã nộp

- Lệ phí là khoản thu do Nhà nước quy định để phục vụ công việc quản lýhành chính Nhà nước theo yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật Tiền lệphí thu được dùng để bù đắp các khoản chi phí phát sinh khi giải quyết côngviệc của bộ phận quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp Lệ phí vừa mang tính chấtphục vụ cho người nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính,vừa mang tính chất động viên đóng góp cho NSNN

- Phí là khoản thu do Nhà nước quy định nhằm bù đắp một phần chi phí củaNSNN mà nhà nước đã dùng để: đầu tư xây dựng, mua sắm, bảo dưỡng vàquản lý tài sản quốc gia; tài trợ cho tổ chức, cá nhân hoạt động sự nghiệp,hoạt động công cộng như giao thông Phí là một khoản thu mang tính bù đắp

và bắt buộc khi một cá nhân hay tổ chức hưởng một lợi ích hoặc được sửdụng một dịch vụ công do Nhà nước cung cấp, vì vậy phí mang tính hoàn trảtrực tiếp

- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước:

+ Thu lợi tức từ hoạt động góp vốn liên doanh, cổ phần của Nhà nước vào các

cơ sở kinh tế

Trang 10

+ Thu tiền sử dụng vốn NSNN từ các doanh nghiệp nhà nước

+ Tiền thu hồi vốn nhà nước cấp tại các cơ sở kinh tế (tiền bán cổ phần tại cácdoanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, bán doanh nghiệp nhà nước)

+ Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi) từ các tổ chức, cá nhântrong nước vay qua tổng cục đầu tư phát triển hoặc qua hệ thống ngân hàng

và từ chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế

+ Thu từ hoạt động sự nghiệp

+ Thu từ bán sản phẩm các đơn vị sự nghiệp Các đơn vị sự nghiệp có cơ chếtài chính là dự toán NSNN nên toàn bộ các khoản thu phải nộp vào NSNN

+ Các khoản chênh lệch thu – chi cả các đơn vị hoạt động sự nghiệp có thu

- Ngoài ra thu NSNN bao gồm các khoản tiền bán cho thuê tài sản Nhà nước,các khoản huy động đóng góp, viện trợ, thu kết dư ngân sách và các khoảnthu khác theo quy định của pháp luật

1.1.1.3 Chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước phân bố và sử dụng các quỹtiền tệ đã được tập trung vào ngân sách để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền vớiviệc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Chi ngân sách nhà nước baogồm các khoản chi đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, các khoản chi thường xuyên;chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác

- Chi đầu tư phát triển về:

+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội

+ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tàichính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp

+ Chi bổ sung dự trữ nhà nước

+ Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhànước

- Chi thường xuyên về:

Trang 11

+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tinvăn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp

xã hội khác

+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế

+ Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

+ Hoạt động của các cơ quan nhà nước

+ Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và hỗ trợ các tổ chức chính trị xãhội

+ Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội

+ Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật

- Ngoài các khoản thực chi còn có các khoản được liệt kê vào chi NSNN là:chi trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi) các khoản tiền do Chính phủ vay; chi chovay; chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các chính phủ và tổ chứcnước ngoài; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính NSNN

1.1.2 Cân đối ngân sách nhà nước

1.1.2.1 Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước

Cân đối NSNN là quan hệ cân bằng giữa thu và chi của NSNN trong mộtthời kỳ (thường là một năm ngân sách) Khái niệm cân đối NSNN xuất phát từ yêucầu khách quan đối với phân bổ và điều hòa thu, chi NSNN trong sự vận động củanguồn lực tài chính, cũng là quá trình kinh tế do Nhà nước vận dụng các biện phápđiều tiết tài chính để tiến hành kiểm soát và điều hòa sự phân phối nguồn lực tàichính xã hội

Về bản chất, cân đối NSNN là cân đối giữa nguồn lực tài chính mà nhà nướchuy động và tập trung được vào quỹ NSNN trong một năm, với nguồn lực đượcphân phối, sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của nhà nước cũng trong năm đó Theo đó,xét trên góc độ tổng thể, cân đối NSNN phản ánh mối tương quan giữa thu và chiNSNN trong một năm tài khóa và cả tính hài hòa, hợp lý trong cơ cấu giữa cáckhoản thu và các khoản chi NSNN, để qua đó thực hiện các mục tiêu phát triển kinh

tế – xã hội ở tầm vĩ mô cũng như trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể Xét trênphương diện phân cấp quản lý NSNN, cân đối NSNN là cân đối về phân bổ và

Trang 12

chuyển giao nguồn lực giữa các cấp ngân sách, để qua đó các cấp chính quyền thựchiện chức năng, nhiệm vụ được giao

1.1.2.2 Các trạng thái của ngân sách nhà nước

Mối tương quan giữa thu và chi NSNN trong một năm tài khóa được biểuhiện qua 3 trạng thái sau:

- NSNN cân bằng: nhà nước huy động nguồn thu vừa đủ để trang trải chi tiêu

- NSNN thặng dư: thu ngân sách lớn hơn chi ngân sách Nhà nước đã huyđộng nguồn lực quá mức cần thiết hoặc không xây dựng được chương trình chi tiêuhợp lý tương ứng với số thu hoặc kinh tế phát triển thịnh vượng làm tăng thu ngânsách ngoài dự toán và Nhà nước có thể chủ động sắp xếp phân bổ thặng dư chonhững năm tiếp theo

- NSNN bội chi (thâm hụt): nghĩa là chi NSNN lớn hơn thu NSNN Trongtrường hợp này, thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi Nguyên nhân có thể là

do Nhà nước không sắp xếp được nhu cầu chi cho phù hợp với khả năng; cơ cấu chitiêu dùng và đầu tư không hợp lý gây lãng phí; do tình trạng thất thu ngân sách;nhưng cũng có thể là do nền kinh tế suy thoái theo chu kỳ hoặc ảnh hưởng bởi thiêntai hay chiến tranh, thu NSNN giảm sút tương đối so với nhu cầu chi để phục hồinền kinh tế

Việc thay đổi trạng thái cân đối thu chi ngân sách tác động nhất định đến cácmục tiêu phát triển kinh tế – xã hội Vì vậy, sự tính toán thu – chi cân đối NSNNkhông phản ảnh một cách thụ động các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, mà ngược lại vềphần mình, cân đối NSNN có tác động làm thay đổi hoặc điều chỉnh một cách hợp

lý các chỉ tiêu kinh tế xã hội bằng khả năng quản lý các nguồn lực và phân bổ cácnguồn lực có hiệu quả Như vậy, vấn đề cốt lõi của cân đối NSNN là đánh giá vàkhai thác nguồn thu một cách hợp lý; phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả; phầnthiếu hụt sẽ bù đắp bằng vay nợ được đặt trong một chiến lược quản lý nợ công tốiưu

1.1.2.3 Các quan điểm về cân đối ngân sách nhà nước

- Lý thuyết cổ điển về cân đối NSNN

Nhà nước không can thiệp vào các hoạt động kinh tế mà phải để cho nềnkinh tế thị trường tự do cạnh tranh vận hành và chi phối các hoạt động sản xuất

Trang 13

Theo quan điểm cổ điển, nhà nước chỉ nên thực hiện những chức năng quản lý hànhchính, an ninh quốc phòng, tư pháp, đối ngoại còn những hoạt động khác nên đểcho khu vực tư nhân đảm nhận Do đó, nhà nước không có đóng góp gì vào việc tạo

ra của cải vật chất cho xã hội mà chỉ cần huy động đủ nguồn thu cho những nhu cầuchi tiêu thường xuyên Để thu hẹp ảnh hưởng của NSNN người ta đã cắt giảm tớimức tối thiểu các khoản chi của NSNN, không để cho chúng vượt quá các khoảnthu của NSNN Vì vậy, cân đối NSNN cần phải tôn trọng triệt để nguyên tắc tổngthu bằng tổng chi NSNN mỗi năm

Theo quan điểm này NSNN phải cân bằng tuyệt đối, thặng dư hay bội chiNSNN, đều biểu hiện sự lãng phí nguồn lực xã hội Bên cạnh đó, thuyết cổ điển về

sự cân đối NSNN cũng cho rằng NSNN phải cân bằng cả khi lập kế hoạch và trongquá trình thực hiện Nếu NSNN chỉ cân bằng khi lập kế hoạch, còn trong quá trìnhthực hiện lại không cân bằng được thì không thể coi là cân bằng thực sự

- Lý thuyết ngân sách chu kỳ

Quan điểm này cho rằng ngân sách nhà nước không cần cân bằng hàng năm

mà nên cân bằng theo chu kỳ, vì nền kinh tế phát triển theo chu kỳ, có thời kỳ tăngtrưởng, có thời kỳ suy thoái Cân bằng ngân sách theo chu kỳ sẽ giúp nhà nước thựchiện được các chính sách kinh tế phù hợp với từng giai đoạn Các nhà kinh tế theoquan điểm này đưa ra phương án: Tạo lập quỹ dự trữ trong giai đoạn phồn thịnh để

dự phòng cho những năm thiếu hụt của thời kỳ suy thoái Còn trong thời kỳ suythoái của nền kinh tế nên cố ý tạo ra tình trạng thâm hụt ngân sách để châm ngòicho sự phục hồi kinh tế Sự thâm hụt này sẽ được đền bù bằng những khoản thặng

dư ngân sách của các năm tăng trưởng

- Lý thuyết ngân sách cố ý thiếu hụt

Nếu muốn thực hiện nguyên tắc ngân sách cân bằng tuyệt đối trong giai đoạnkinh tế suy thoái, nhà nước phải tiết kiệm chi tiêu và/hoặc tăng thuế Cả hai phươngpháp trên đều kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, và càng làm cho nền kinh tếkhó thoát khỏi suy thoái hơn Do vậy, khi kinh tế suy thoái cần phải tránh sử dụngbiện pháp cân bằng ngân sách tuyệt đối và thực hiện cách cố ý hi sinh sự cân bằngcủa NSNN Hơn thế nữa, phải sử dụng sự mất cân bằng của ngân sách để góp phầnđưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái trên cơ sở tăng chi tiêu ngân sách và/hoặc giảmthuế để kích cầu Tuy nhiên, việc cố ý tạo sự thiếu hụt NSNN có thể tác động tiêu

Trang 14

cực đến tình hình lưu thông tiền tệ, lạm phát có thể gia tăng Bởi vì, muốn có tiền đểtài trợ cho những chương trình, dự án trong giai đoạn kinh tế suy thoái thì nhà nước

có thể phải phát hành thêm tiền Thế nhưng, lý thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụtcũng cho rằng sự phục hồi kinh tế sẽ đem lại nguồn để NSNN trở về tình trạng cânbằng và đẩy lùi lạm phát Những lí luận để chứng minh quan điểm này như sau:chính sách cố ý tạo ra sự mất cân đối của NSNN xét cho cùng chỉ là một việc làmtrước hạn, căn cứ vào những việc chắc chắn sẽ xẩy ra trong tương lai Nhờ chínhsách kích cầu hiệu quả, kinh tế sẽ dần dần hồi phục, và khi đó nhà nước có thể dầndần cắt giảm chi tiêu Mặt khác, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn hưng thịnh,nguồn thu thuế sẽ tăng do đánh thuế một cách lũy tiến Kết quả là tránh được nạnlạm phát và NSNN sẽ cân bằng

Trên cơ sở quan điểm hiện đại về cân đối ngân sách, bội chi NSNN trongmột vài năm tài khóa là điều không thể tránh khỏi, và nó cũng chưa chắc là do tìnhtrạng yếu kém của nền kinh tế hay do thiếu hiệu quả trong điều hành NSNN củanhà nước Tuy nhiên, dù là chấp nhận bội chi NSNN theo chu kỳ, hay cố ý gây bộichi thì cũng để tạo tiền đề nhằm đạt được sự cân bằng NSNN trong dài hạn

Ngày nay, cân đối NSNN được xem là một công cụ mà Nhà nước có thể tácđộng đến nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn Vìvậy, đòi hỏi cân đối ngân sách phải được điều chỉnh một cách linh hoạt và kịp thời,phù hợp với thực trạng nền kinh tế từng giai đoạn và định hướng theo mục tiêu ổnđịnh trong dài hạn Có thời kỳ cân đối NSNN được điều chỉnh theo quan điểm thắtchặt, tức là cố gắng cân đối NSNN chỉ trong phạm vi số thu và nếu có bội chi ngânsách thì cũng chỉ ở mức thấp nhất Ngược lại, có những thời kỳ, do đòi hỏi của nềnkinh tế, chính phủ lại cần đến một cân đối NSNN theo hướng mở rộng, tức là chấpnhận một mức bội chi có thể kiểm soát được

Để thực hiện chính sách cân đối NSNN hiệu quả, các nhà hoạch định chínhsách phải phân tích được chính xác thực trạng nền kinh tế và dự báo trong tương laigần, để có thể điều chỉnh một cách kịp thời và năng động cân đối ngân sách, tránhtình trạng khi bối cảnh kinh tế – xã hội thay đổi, nhưng chính phủ không hoặc chưakịp thời điều chỉnh cân đối NSNN dẫn đến mất tác dụng của chính sách hoặc thậmchí gây phản tác dụng

Trang 15

1.1.3 Bội chi ngân sách nhà nước

1.1.3.1 Khái niệm và nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước

Bội chi NSNN là tình trạng chi NSNN vượt quá thu NSNN trong một nămtài khóa NSNN không cân đối thể hiện trong sự thiếu hụt giữa cung và cầu vềnguồn lực tài chính của nhà nước gây ra bởi các nguyên nhân:

- Các nguyên nhân khách quan:

+ Do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ, làm cho nguồn thu NSNN sút giảm.Nhằm hạn chế tác động tiêu cực của suy thoái như thất nghiệp, sản xuất bịđình trệ, thu hẹp, nhà nước sử dụng các biện pháp kích cầu làm cho chi tiêugia tăng (chi trợ cấp xã hội, chi kích cầu để phục hồi nền kinh tế), kết quảNSNN có thể bị bội chi

+ Thiên tai, hoặc bất ổn của an ninh thế giới Tình hình bất ổn của an ninh thếgiới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu chi cho quốcphòng và an ninh trật tự xã hội Các khoản chi này không được có trong dựtoán ngân sách, do đó nhà nước không nắm quyền chủ động trong việc khắcphục hậu quả của thiên tai, cũng như tái thiết nền kinh tế

- Các nguyên nhân chủ quan:

+ Do nhà nước chủ động sử dụng bội chi như một công cụ của chính sách tàikhóa để kích cầu, mở rộng sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm mới Việc chitiêu mạnh tay hơn đôi khi cũng để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế

xã hội

+ Do quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý Quản lý và điều hành NSNN bấthợp lý được thể hiện qua việc đánh giá và khai thác nguồn thu chưa tốt;phân bổ và sử dụng NSNN còn nhiều bất cập, gây thất thoát, lãng phí nguồnlực tài chính nhà nước; phân cấp quản lý NSNN chưa khuyến khích địaphương nỗ lực trong khai thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu quả Kếtquả là thu NSNN không đủ để trang trải nhu cầu chi tiêu

+ Do cách đo lường bội chi Các tổ chức và quốc gia có cách hiểu khác nhau

về bội chi NSNN nên cách tính toán, đo lường bội chi tùy thuộc vào mụcđích của báo cáo cũng như thời gian ghi nhận số liệu

Trang 16

1.1.3.2 Đo lường mức bội chi NSNN

a Phạm vi tính bội chi ngân sách nhà nước

- Bội chi ngân sách toàn diện (tính trên phạm vi toàn bộ khu vực công) TheoWorld Bank, khu vực công bao gồm:

+ Chính phủ

+ Các cấp chính quyền địa phương

+ Ngân hàng trung ương

+ Các các công ty, tổ chức thuộc sở hữu nhà nước (trên 50% vốn thuộc sở hữunhà nước), nguồn vốn hoạt động của nó do ngân sách nhà nước quyết định

và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay cho các tổ chức đó.Như vậy, khi các thể chế trong khu vực công vỡ nợ, hoặc không vỡ nợ nhưngtrong trường hợp muốn tái cấu trúc lại các thể chế này, thì trách nhiệm thanh toáncuối cùng thuộc về chính phủ Và khi đó, khoản thanh toán nợ này nếu thực tế phátsinh trong năm thì được tính vào chi NSNN của năm thanh toán Từ đó, bội chingân sách toàn diện bao gồm mức bội chi được xác định cho toàn bộ khu vực công.Đây là thước đo rộng nhất để xác định mức bội chi

- Bội chi ngân sách chính phủ

Khác với WB, IMF lại cho rằng để phân biệt chính sách tài khóa với chínhsách tiền tệ, đồng thời làm cơ sở đối chiếu giữa thống kê tài chính tiền tệ với thống

kê tài chính chính phủ thì phạm vi xác định bội chi chỉ nên giới hạn trong khu vựcchính phủ Theo sổ tay Thống kê Tài chính Chính phủ của IMF, khái niệm chínhphủ gồm tất cả các cấp chính quyền mà không bao gồm hoạt động ngân hàng trungương, cho dù nó có trực thuộc chính phủ hay không Tại mỗi cấp chính quyền, bêncạnh quỹ NSNN còn có các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và quỹ hoạtđộng bảo hiểm xã hội Các quỹ này được trợ cấp một phần lớn từ NSNN

Do vậy, bội chi ngân sách chính phủ theo nghĩa rộng là số bội chi của cáccấp chính quyền với các hoạt động với sự hỗ trợ hoặc bao cấp của NSNN cho tất cảcác quỹ nói trên Nhưng nếu hiểu theo nghĩa hẹp, bội chi ngân sách chính phủ chỉbao gồm bội chi của các cấp chính quyền liên quan đến hoạt động của quỹ ngânsách nhà nước mà thôi

Trang 17

- Bội chi ngân sách trung ương

Một số quốc gia khi tính bội chi NSNN chỉ tính bội chi liên quan đến hoạtđộng NSNN do chính quyền trung ương trực tiếp thực hiện Đi đôi với quan điểmnày là việc không cho phép ngân sách địa phương bội chi Cách xác định phạm vitính bội chi ngân sách hẹp như vậy là nhằm thiết lập kỷ luật tài chính tổng thể trongđiều kiện năng lực quản lý có nhiều hạn chế Luật Ngân sách nhà nước Việt Namnăm 2002 hiểu theo nghĩa này Khoản 3 điều 8 Luật Ngân sách nhà nước quy định:

“Về nguyên tắc, ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không vượt quátổng số thu”

b Xác định các khoản thu, chi trong cân đối ngân sách nhà nước

- Trên thực tế, tùy thuộc vào mục đích chính trị, mục tiêu của chính sách tàikhóa mà các quốc gia trên thế giới có những quan điểm khác nhau về vấn đề này

Chẳng hạn, khoản vay nợ qua phát hành trái phiếu và viện trợ (nếu có) cónên ghi vào cân đối NSNN hay không thì câu trả lời đôi khi là khác nhau giữa cácquốc gia Ở Việt Nam, Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 quy định tính các khoảnviện trợ không hoàn lại vào thu ngân sách nhưng không tính các khoản vay nợ kể cảtrong và ngoài nước

Việc ghi các khoản này vào số thu NSNN hàng năm để cân đối NSNN nổilên hai vấn đề cần xem xét: (i) nếu đưa các khoản này vào cân đối NSNN, thì sẽ làmcho mức bội chi NSNN trở nên nhỏ hơn Ở mức độ nào đó, đây cũng là cách để cácnhà chính trị vẽ lại bức tranh cân đối NSNN tốt hơn, qua đó không làm mất đi tínnhiệm đối với cử tri về năng lực quản lý chính phủ; (ii) tuy vậy, việc đưa khoản nàyvào cân đối NSNN sẽ làm gia tăng rủi ro tiềm ẩn đối với cân đối NSNN, tính ổnđịnh của NSNN không cao Và gánh nặng nợ là mối đe dọa lớn đến tính ổn định củanền tài chính quốc gia trong dài hạn

- Ngoài ra, mục đích sử dụng của các báo cáo về bội chi NSNN cũng ảnhhưởng đến việc quyết định các khoản thu, chi trong cân đối NSNN

Nếu báo cáo được sử dụng cho mục đích đánh giá sự tích lũy của chính phủcho nhu cầu đầu tư phát triển thì bội chi NSNN là bội chi ngân sách vãng lai Làchênh lệch của số thu, chi thường xuyên

Bội chi ngân sách vãng lai = Chi thường xuyên – Thu thường xuyên

Trang 18

Nếu báo cáo được sử dụng cho mục đích đánh giá tình hình ngân sách tổngthể của nhà nước và tác động của nó đến môi trường kinh tế vĩ mô (tình hình lưuthông tiền tệ, cầu trong nước và cán cân thanh toán quốc tế) thì bội chi NSNN là bộichi ngân sách quy ước (bội chi ngân sách thông thường).

Bội chi ngân sách quy ước = Thu thường xuyên và viện trợ không hoàn lại –tổng chi (bao gồm cả cho vay thuần)

Trong đó: Cho vay thuần = Số cho vay ra – Số thu hồi nợ gốc

Tuy nhiên, cách tính này chưa cho phép phân tích sự tác động của bội chiNSNN đến tổng cầu cũng như sự phân bổ nguồn lực và tái phân phối thu nhập trongnền kinh tế Cùng một mức bội chi như nhau nhưng nếu cơ cấu thu, chi và nguồn bùđắp bội chi khác nhau thì tác động hoàn toàn khác nhau

IMF khuyến cáo rằng khi phân tích ngân sách để lập dự toán thì chỉ nên coicác nguồn viện trợ, kể cả viện trợ không hoàn lại, là nguồn bù đắp thâm hụt như cáckhoản vay nợ Vì các khoản viện trợ thường không có kế hoạch chắc chắn, không

ổn định, nếu lập dự toán chi ngân sách có tính đến các khoản viện trợ có thể sẽ phảiđiều chỉnh chi NSNN trong quá trình thực hiện, gây những tác động tiêu cực đếnhoạt động ngân sách

Nếu báo cáo được sử dụng cho mục đích đánh giá tính bền vững tài khóa thìbội chi ngân sách căn bản sẽ thích hợp

Bội chi ngân sách căn bản = Bội chi ngân sách qui ước – Chi trả lãi

Với các tính này, nếu chính phủ có các quyết định thu – chi làm giảm bội chingân sách căn bản, thì số chi cho hoạt động của chính phủ trong cung cấp hàng hóa,dịch vụ công sẽ ít đi Nếu chính phủ mở rộng các nhu cầu tài chính của mình và làmtăng chi trả lãi thì có nghĩa là chính phủ phải giảm các cơ hội chi thường xuyênkhông bắt buộc cũng như chi đầu tư để có thể cải thiện hệ thống giáo dục, y tế, cơ

sở hạ tầng Nói cách khác, quyết định bội chi ở mức nào, như thế nào có liên quanđến việc xác định các lựa chọn, đánh đổi giữa một mặt là lợi ích của việc đi vay, chiphí cho việc đi vay và mặt khác là lợi ích của việc tăng những khoản chi không bắtbuộc

Trong trường hợp muốn so sánh với quốc gia khác trong bối cảnh mức độlạm phát của hai quốc gia là khác nhau, hoặc khắc phục tình trạng bội chi bị đánh

Trang 19

giá quá cao do lạm phát (đặc biệt là đối với những nước có mức lạm phát và nợcông cao) thì bội chi NSNN là bội chi ngân sách nghiệp vụ Bởi vì, lạm phát sẽ làmgiảm giá trị thực số dư nợ danh nghĩa của khu vực công, khi chính phủ trả lãi tiềnvay thì một phần trong đó mang tính chất hoàn lại tiền gốc đã bị trượt giá theo nămtháng cho chủ thể cho vay Khi tính bội chi NSNN nếu phần này không được loại rathì mức bội chi thực chất đã bị đánh giá cao hơn mức bội chi thực sự

Bội chi ngân sách nghiệp vụ = Bội chi ngân sách quy ước – Trả lãi do lạmphát = Bội chi ngân sách căn bản + Trả lãi thực

(Trả lãi danh nghĩa = Trả lãi do lạm phát + Trả lãi thực)

Theo thông lệ quốc tế, thu trong cân đối NSNN bao gồm các khoản thu vàoquỹ NSNN mà khoản thu đó không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàntrả trực tiếp Chi trong cân đối NSNN là các khoản chi ra từ NSNN được đảm bảobằng các nguồn thu NSNN trong cân đối Điều này cũng có nghĩa là những khoảnchi của nhà nước nhưng do các nguồn khác đảm nhiệm thì không tính vào chi trongcân đối NSNN Như vậy, theo thông lệ quốc tế, thu trong cân đối NSNN bao gồm:các khoản thu thuế, phí và các khoản thu khác (kể cả viện trợ không hoàn lại) màkhông bao gồm các khoản vay trong và ngoài nước Chi trong cân đối NSNN baogồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, các khoản chi khác, chi trả lãi vay màkhông bao gồm chi trả nợ gốc tiền vay Chi trả lãi tiền vay cần được xếp vào chiNSNN vì nó là hệ quả của việc điều hành chính sách NSNN có bội chi và đượcchính nguồn thu trong cân đối NSNN đảm bảo

Ở Việt Nam hiện nay, cách tính bội chi khác với thông lệ quốc tế này ở điểm

là Việt Nam tính vào chi NSNN tất cả các khoản chi trả nợ cả gốc và lãi Cách tínhnày cho kết quả định lượng bội chi cao hơn so với cách tính không bao gồm trả nợgốc nhưng thuận tiện khi nhận thấy được số bội chi của một năm chính bằng cáckhoản vay bù đắp bội chi trong năm đó

c Xác định thời gian ghi nhận thu, chi ngân sách nhà nước

Việc phân định thời gian ghi nhận thu, chi NSNN trong cân đối hợp lý sẽgiúp cho chính phủ tổng kết và đánh giá tình hình tài chính của quốc gia, qua đó cóbiện pháp điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tàichính công Trên thực tế, xác định thời gian ghi nhận thu – chi NSNN tùy thuộc vào

Trang 20

quy tắc kế toán chính phủ được áp dụng là kế toán thực thu – thực chi hay kế toándồn tích Qui tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng đến kết quả đo lường bội chiNSNN trong từng tài khóa Với kế toán thực thu – thực chi, nghiệp vụ kinh tế phátsinh chỉ được ghi chép vào sổ sách kế toán khi thực sự có phát sinh thu chi tiền tệ.Trong khi đó, với kế toán dồn tích thì bất kỳ nghiệp vụ kinh tế nào phát sinh cũngphải được ghi nhận đúng với bản chất của vấn đề.

Tóm lại xác định phạm vi, xác định các khoản thu, chi trong cân đối khi đolường mức bội chi NSNN và qui tắc kế toán chính phủ nào được sử dụng sẽ phụthuộc vào:

- Việc xác định vai trò của nhà nước

- Mục đích chính trị và mục đích sử dụng báo cáo

- Mục tiêu của chính sách tài khóa

- Năng lực quản lý của các cấp chính quyền

- Bối cảnh kinh tế – xã hội

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH ĐẾN CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ

1.2.1 Tác động đến tổng cầu

Tổng cầu là lượng nhu cầu có khả năng tài chính của toàn bộ nền kinh tế đốivới các hàng hóa cuối cùng Do đó, tổng cầu bao gồm nhu cầu trong nước và nhucầu nước ngoài Nhu cầu trong nước lại bao gồm đầu tư của xí nghiệp, tiêu dùngcủa cá nhân, chi tiêu ròng của chính phủ Nhu cầu nước ngoài chính là xuất khẩuròng (chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu)

Trang 21

Chi tiêu chính phủ (G) bao gồm các khoản chi tiêu của chính phủ cho cáccấp chính quyền từ trung ương đến địa phương như chi cho quốc phòng, luật pháp,đường xá, cầu cống, giáo dục, y tế…

Xuất khẩu ròng (NX) = giá trị xuất khẩu (X) – giá trị nhập khẩu (M)

 I = Y – (C + G + NX)

 I = (Y – C – T ) + (T – G) – NX

Đặt S = GDP – C – T là tiết kiệm tư nhân T – G là tiết kiệm chính phủ

Trong bối cảnh NSNN bội chi, chính phủ phải tìm cách bù đắp bội chi bằngcách vay trong nước hoặc nước ngoài Vay trong nước làm cho tiết kiệm tư nhângiảm, tổng đầu tư giảm; để duy trì được mức tổng đầu tư chính phủ phải lựa chọnphương án đi vay nước ngoài Mỗi khi chính phủ chi tiêu quá một đồng vượt số thungân sách, buộc phải tài trợ bằng cách tăng nợ công một đồng

Trong bối cảnh kinh tế rơi vào giai đoạn suy thoái, với chính sách tài khóa

mở rộng: giảm thuế và tăng chi tiêu, chính phủ coi bội chi là một công cụ tài khóa

để thực hiện chính sách kích cầu để phục hồi kinh tế Sự phục hồi kinh tế nhờ thựchiện chính sách này phải làm tăng thu cho NSNN, giảm nhẹ gánh nặng của NSNNđối với khoản chi trợ cấp xã hội, đem lại nguồn thu để NSNN trở về tình trạng cânbằng và đẩy lùi lạm phát Muốn đạt được kết quả trên, chính sách kích cầu phải thậntrọng trong việc tạo ra thêm sức mua, nghĩa là dung lượng sức mua mới tạo rakhông được vượt quá sức sản xuất mới tăng của nền kinh tế, sau khi nền kinh tế đạtmức toàn dụng Thêm vào đó, các nhà điều hành chính sách phải đủ khả năng đểđánh giá đúng thực trạng nền kinh tế, có những phương pháp dự báo đáng tin cậy đểgiảm thu thuế cho đúng đối tượng, tăng chi tiêu và đầu tư đúng chỗ, hoặc điều chỉnh

cơ cấu đầu tư để thực sự có tác động thúc đẩy nâng cao tổng thu nhập, tạo tiền đềthực sự cho phục hồi kinh tế

1.2.2 Tác động đến lạm phát

Lạm phát là một quá trình giá cả hàng hóa tăng liên tục, tức là mức giá chungtăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá Nguyên nhân ít nhiều là dotăng cung tiền tệ quá mức cầu của nền kinh tế Với quan điểm này thì lạm phát xuấthiện khi có một khối lượng tiền bơm vào lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cầnthiết cho lưu thông của thị trường

Trang 22

Để phân tích rõ hơn tác động do cung tiền quá mức ta giả sử Y là mức sảnlượng mà nền kinh tế tạo ra trong một năm, P là giá một đơn vị sản lượng điển hình,khi đó số đồng được trao đổi trong một năm là P*Y Với V là tốc độ chu chuyểntiền tệ, M là số đơn vị tiền tệ trao đổi trong năm thì:

M * V = P * Y

Nhìn chung, tốc độ chu chuyển tiền tệ tương đối ổn định theo thời gian Khi

đó, lạm phát tăng chỉ có thể xảy ra khi lượng cung tiền M tăng nhanh hơn sản lượng

Y M/Y càng cao thì lạm phát càng lớn

Như trên đã phân tích bội chi NSNN tăng cao thể hiện chính sách tài khoálỏng lẻo, nói lên sự chi tiêu của Chính phủ cho đầu tư và cho thường xuyên vượtquá mức có thể của nền kinh tế Nếu như bù đắp bội chi NSNN bằng phát hànhthêm tiền thì trực tiếp tác động gây ra lạm phát vì đã làm tăng cung tiền tệ nhiềuhơn cầu tiền tệ trên thị trường Cung tiền tăng là một yếu tố quan trọng làm tăngtổng cầu Trong bối cảnh suy thoái kinh tế tăng cung tiền có tác dụng kích thích nềnkinh tế, thúc đẩy đầu tư tăng tổng sản phẩm tiến tới mức tiềm năng, ảnh hưởng lạmphát là chấp nhận được Tuy nhiên duy trì bội chi kéo dài trong thời kỳ kinh tế tăngtrưởng phát hành tiền sẽ gây ra lạm phát cao, rất nguy hại

Việc bù đắp thâm hụt NSNN bằng nguồn huy động từ bên ngoài về cơ bảncũng tăng cung tiền vào trong thị trường trong nước Điều này có thể giải thích là

do phần huy động từ vay nước ngoài đã làm tăng cung luợng tiền vào thị trườngtrong nước vì số tiền vay nước ngoài về để bù đắp thâm hụt NSNN phải đổi ra nội

tệ để chi tiêu trên cơ sở bán cho Ngân hàng Nhà nước là chính, mà NHNN lại pháthành tiền ra để mua ngoại tệ là cơ bản Đây chính là phần làm cho lạm phát tăng lênnếu lượng vay từ bên ngoài vào bù đắp thâm hụt NSNN quá lớn

1.2.3 Tác động khác

- Nợ công và những bất ổn trong nền kinh tế

Quy mô nợ công của Chính phủ tùy thuộc vào số nợ vay là để tài trợ cho tiêudùng hay đầu tư và hiệu quả của việc đầu tư đó đến đâu Nếu chính phủ chấp nhậnbội chi để tài trợ cho các dự án có hiệu quả, có khả năng sinh lời trong dài hạn, thìchính lợi tức từ dự án lại tạo ra và làm tăng nguồn thu trong dài hạn cho ngân sáchnhà nước, giúp NSNN trả được gốc và lãi cho các khoản vay tài trợ bội chi trong

Trang 23

quá khứ Trường hợp bội chi NSNN được sử dụng cho mục đích tiêu dùng tức thờithì phần lớn ảnh hưởng của nó chỉ tác động đến tổng cầu trong ngắn hạn (tại thờiđiểm bội chi xảy ra), và trong dài hạn nó không tạo ra một nguồn thu tiềm năng chongân sách mà chính nó làm nặng nề hơn khoản nợ công trong tương lai.

- Hệ số tín nhiệm quốc gia

Hệ số tín nhiệm (Credit rating) – là hệ số đánh giá khả năng tài chính và khảnăng thanh toán của một quốc gia đối với các khoản tiền nghĩa vụ – gốc và lãi – củacác công cụ nợ mà quốc gia đó phát hành.Công cụ nợ bao gồm cả công cụ ngắn hạnnhư hối phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, hoặc dài hạn như trái phiếu dài hạn.Đối với các quốc gia: kết quả xếp hạng hệ số tín nhiệm có ảnh huởng rất lớn đến sựthành công của việc phát hành trái phiếu, nhất là khi phát hành trái phiếu ra nuớcngoài, cũng như việc xác định lãi suất trái phiếu (hệ số tín nhiệm càng cao thì lãitrái phiếu càng thấp và ngược lại)

Trang 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ TẠI VIỆT

NAM

2.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM

2.1.1 Tình hình kinh tế

Năm 2010 sau thời gian bị suy giảm do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh

tế toàn cầu, các ngành, lĩnh lực của nền kinh tế nước ta đã hồi phục và đang dần lấylại được đà tăng trưởng cao, nhất là lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Tăng trưởngGDP ước đạt 6,78%, cao hơn mức 5,32% của năm 2009 và vượt kế hoạch đề ra là6,5% Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,78%; khu vực côngnghiệp và xây dựng tăng 7,7%; khu vực dịch vụ tăng 7,52% Trong những năm qua,nước ta luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thuộc vào loại tốt nhất trênthế giới bất chấp những tác động từ tình hình kinh tế thế giới bất lợi

Nguồn: Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ

Hình 2.1 – Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2002 – 2010Tuy nhiên, lạm phát đã không được kiểm soát tốt trong năm 2010, nhất làvào giai đoạn cuối năm Lạm phát cuối tháng 12/2010 tăng 11,75% so với tháng12/2009, chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2010 cũng tăng 9,19% so với bìnhquân năm 2009 Ngoài những nguyên nhân khách quan như thiên tai, lũ lụt, sự tănggiá của nguyên vật liệu đầu vào, nhất là giá dầu trên thế giới thời gian gần đây, cácyếu tố chủ quan là sự điều hành chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa

mở rộng vào lĩnh vực đầu tư công kém hiệu quả; chính sách tiền tệ giật cục, thiếuđịnh hướng ổn định dài hạn đã gây nên tình trạng lạm phát cao trong năm 2010

Trang 25

Chính những yếu kém nội tại của nền kinh tế là cơ cấu kinh tế bất hợp lý và sự vậnhành kém hiệu quả mới là nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát tại Việt Nam trongthời gian dài.

Nguồn: Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ

Hình 2.2 – Lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2002 – 2010Bên cạnh lạm phát, nền kinh tế còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớnnhư tăng trưởng thiếu bền vững do dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, cơ cấu kinh tếchuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng yếu kém, hiệu quả đầu tư kém, nhập siêu còn lớn,bội chi ngân sách cao

Trong năm 2011, Chính phủ đã đặt mục tiêu là tăng trưởng ổn định kinh tế vĩmô; kiểm soát lạm phát gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấunền kinh tế, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2010, nâng cao chấtlượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

2.1.2 Tình hình xã hội

GDP đầu người được cải thiện qua các năm: 642 USD/người năm 2005, 730USD/người năm 2006, 843 USD/người năm 2007, 1052 USD/người năm 2008 vàđến năm 2010 ước tính đạt 1160 USD/người Mặc dù những con số trên vẫn cònkhiêm tốn so với các nước trong khu vực, song đã cho thấy quá trình chuyển biếntích cực trong việc gia tăng thu nhập của người dân Tuy nhiên, cùng với quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế, khoảng cách thu nhập giữa khu vực thành thị và nôngthôn, giữa các vùng miền và chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng Đây cũng làvấn đề xã hội cần giải quyết, đặt ra yêu cầu Nhà nước phải phân phối thu nhập trong

Trang 26

các tầng lớp dân cư, đảm bảo phát triển hài hòa giữa nông thôn và thành thị, cácvùng miền, thực hiện công bằng xã hội.

Về công tác giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tỷ lệ hộ nghèo đã giảmxuống đáng kể nhờ việc thực hiện đồng bộ nhiều chính sách về giảm nghèo và ansinh xã hội trong nhiều năm liền Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê, tỷ

lệ hộ nghèo năm 2010 ước tính là 10,6%, giảm so với mức 12,3% năm 2009 ViệtNam được quốc tế đánh giá cao thành công trong việc xóa đói giảm nghèo Bêncạnh đó, các hoạt động chăm sóc người có công, trợ cấp xã hội được đảm bảo; cáclĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, thanh niên và phòng chống tệ nạn

xã hội được quan tâm chỉ đạo và đạt nhiều tiến bộ, tạo động lực quan trọng thực hiệntốt các mục tiêu phát triển xã hội

Lĩnh vực lao động, tạo việc làm cũng thu được kết quả đáng khích lệ, gópphần hạ tỷ lệ thất nghiệp Ước cả năm 2010, số lao động được giải quyết việc làmđạt 1,605 triệu người, tăng 6,64% so với thực hiện năm 2009 Tỷ lệ thất nghiệptrong độ tuổi lao động năm 2010 là 2,88% giảm nhẹ so với mức 2,9% của năm

2009 Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe nhân dân đượcchú trọng và đạt được nhiều thành tựu

Trong những năm tới, Chính phủ cần tiếp tục đẩy mạnh bảo đảm an sinh vàphúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị; tiếp tụccủng cố quốc phòng; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quảcông tác đối ngoại và hội nhập quốc tế

2.2 THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA

2.2.1 Thực trạng thu ngân sách nhà nước

Trong những năm qua, tổng thu theo dự toán Quốc hội tăng khá về con sốtuyệt đối Số thu đã tăng gấp 2 chỉ sau 4 năm, từ mức 279.472 tỷ đồng của năm

2006 lên mức 559.170 tỷ đồng năm 2010 Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách nhànước giai đoạn này đạt 28,09%, đây là tỷ lệ khá cao so với các nước trong khu vực

và trên thế giới Riêng năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giớinên tốc độ tăng thu so với năm 2008 chỉ là 2,74% và tỷ lệ tổng thu so với GDP cũngkhông cao so với các năm trước đó, đạt 26,34%

Bảng 2.1 – Tỷ trọng các nguồn thu ngân sách nhà nước

Trang 27

Đơn vị: %

2005 2006 2007 2008 2009 2010

Tổng thu theo dự toán Quốc hội 100 100 100 100 100 100

Thu từ dầu thô và lĩnh vực XNK

• Thu từ dầu thô

• Thu từ XNK

45,8529,1616,7

45,1429,8215,32

42,3623,9818,38

42,0520,8121,24

37,5613,6823,89

36,4713,4123,06Thu viện trợ không hoàn lại 1.66 2.83 1.83 2.19 1.47 1.04

Nguồn: Bộ Tài chính

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 2.3 – Tổng thu ngân sách theo dự toán Quốc hội và tỷ lệ so với GDP

Về cơ cấu thu, tỷ trọng nguồn thu nội địa tăng dần qua các năm, đặc biệt làcác năm 2009 và 2010 tỷ lệ này lên tới mức 60,96% và 62,49% Trong khi đónguồn thu từ dầu thô có xu hướng giảm dần qua mỗi năm, tỷ lệ đã giảm mạnh từmức 29,16% của năm 2005 xuống mức 13,41% của năm 2010 Điều này chứng tỏhiệu quả trong công tác thu NSNN khi giảm được sự phụ thuộc vào các nguồn thu

từ dầu thô và xuất nhập khẩu – những nguồn thu thường hay biến động do tình hìnhkinh tế và giá cả thế giới

Trang 28

2.2.2 Thực trạng chi ngân sách nhà nước

Trên cơ sở thu ngân sách hàng năm tăng trưởng khá, tổng chi theo dự toánQuốc hội cũng tăng lên qua từng năm Nếu như tổng thu theo dự toán Quốc hội tănggấp đôi từ năm 2006 đến năm 2010 thì tổng chi theo dự toán Quốc hội cũng tăngtương ứng gấp gần 2 lần, từ mức 308.058 tỷ đồng lên 615.640 tỷ đồng Đặc biệtnăm 2009, do tăng chi NSNN để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế và đảm bảo an sinh

xã hội, tốc độ tăng chi năm 2009 so với năm 2008 lên tới 25,33% Bước sang năm

2010, tình hình kinh tế dần đi vào ổn định, tốc độ tăng chi theo dự toán Quốc hội đãđược kiểm soát, chỉ tăng 8,49% so với năm 2009 Về tỷ lệ so với GDP, chi theo dựtoán của Quốc hội trong giai đoạn 2005 – 2010 trung bình bằng 32% GDP Đây là

tỷ lệ rất cao so với các nước trên thế giới và cao hơn so với tỷ lệ 28,09 % thu theo

dự toán Quốc hội/GDP cùng thời kỳ

Bảng 2.2 – Tỷ trọng chi theo dự toán Quốc hội

Đơn vị: %

Chi đầu tư phát triển 30.15 28.68 27.39 26.38 31.71 27.77Chi thường xuyên 50.37 52.54 53.77 55.74 56.48 70.6Chi trả nợ và viện trợ 15.38 15.64 15.16 12.90 11.42 8.77

Nguồn: Bộ Tài chính

Về cơ cấu chi theo dự toán Quốc hội, chi thường xuyên chiếm tỷ lệ ngàycàng cao trong tổng chi, từ 50,37% năm 2005 lên tới 70,6% năm 2010 Do đó, trongthời gian tới, chi thường xuyên đòi hỏi phải được điều hành ở mức chi ổn định vàvừa phải Trong khi đó, tỷ lệ chi đầu tư phát triển/tổng chi có xu hướng giảm dần,trừ năm 2009, do yêu cầu thực hiện chính sách tài khóa mở rộng để kích cầu đầu tư

và tiêu dùng, tỷ lệ này tăng lên mức 31,71%

Trang 29

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 2.4 – Tổng chi theo dự toán Quốc hội và tỷ lệ so với GDP

Chi thường xuyên đã tăng lên nhanh chóng trong những năm qua; tốc độtăng đã từ mức 23,66% bình quân giai đoạn 2005 – 2008 trước khủng hoảng vọt lênmức 26,99% năm 2009 và 35,62% năm 2010 Cùng với đó, tỷ trọng chi thườngxuyên/GDP trong hai năm gần nhất đã tăng lên mức 19,09% và 22,28% Bởi vậy,trong thời gian tới, chi thường xuyên đòi hỏi phải được điều hành ở mức chi ổn định

và vừa phải

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 2.5 – Chi thường xuyên và tỷ lệ so với GDPĐối với chi đầu tư phát triển, tốc độ tăng giai đoạn 2005 – 2008 là15,98%/năm thấp hơn so với tốc độ tăng chi thường xuyên 26,99%/năm trong cùng

Trang 30

thời kỳ Điều này được giải thích một phần là do sự tham gia tốt hơn của nguồn vốnđầu tư từ khu vực nhà nước và dân cư trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Mặc dùvậy, năm 2009, do Chính phủ chủ trương kích cầu để ngăn chặn đà suy giảm kinh

tế, chi đầu tư phát triển trong năm 2009 đã tăng mạnh trong khi năm 2010 lại giảm

về con số tuyệt đối Ngoài ra, tỷ lệ chi đầu tư phát triển/GDP được giữ tương đối ổnđịnh trong giai đoạn vừa qua, dao động quanh mức 9,2%

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 2.6 – Chi đầu tư phát triển và tỷ lệ so với GDP

2.2.3 Bội chi ngân sách nhà nước những năm qua

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 2.7 – Mức bội chi và tỷ lệ bội chi so với GDP giai đoạn 2002 – 2010

Trang 31

Việt Nam đã liên tục duy trì tình trạng bội chi NSNN những năm qua Từbiểu đồ trên có thể thấy, tỷ lệ bội chi đã được duy trì tương đối ổn định quanh mức5% trong giai đoạn 2002 – 2006 và biến động vào những năm sau đó Theo giới hạn

mà Quốc hội đề ra, bội chi ngân sách tối đa được phép là 5% GDP nhưng trên thực

tế quy định này không được áp đặt chặt chẽ đối với hoạt động của ngân sách nhànước Tỷ lệ bội chi các năm 2007, 2009 và 2010 đã vượt mốc 5%; thậm chí là vọtlên mức rất cao 6,9% vào năm 2009 Về con số tuyệt đối, trong vòng 5 năm gầnđây, mức bội chi đã tăng gấp hơn 2 lần, từ mức 48.613 tỷ đồng năm 2006 lên mức109.460 tỷ đồng năm 2010 Đây là thực trạng rất đáng lưu tâm bởi những năm tớiđây nếu chúng ta không thực hiện được sự lành mạnh trong cán cân ngân sách thìchắc chắn nó sẽ gây sức ép rất lớn lên việc điều hành kinh tế vĩ mô

Để nguồn bù đắp bội chi, Chính phủ đã sử dụng hai nguồn là vay trong nước

và vay nước ngoài theo đúng khoản 2 Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước 2002 quy

định: “Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và

Trang 32

và thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế đảm bảo tăng trưởng bền vững thì vai trò tíchcực, định hướng của ngân sách nhà nước càng cần được phát huy trong những nămtới.

2.3 TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM

2.

3 1 Bội chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế

Nguồn: World Bank và Tổng hợp của Vietstock

Hình 2.9 – Đóng góp của các thành phần cho tăng trưởng kinh tế 2005 – 2010Những năm qua, chúng ta đã sử dụng vốn từ NSNN để chi tiêu cho các hoạtđộng đầu tư thúc đẩy kinh tế phát triển Như đã trình bày trong phần cơ sở lý thuyết,chi tiêu Chính phủ chính là một trong những yếu tố cấu thành nên GDP:

GDP = C + I + G + NX

Trong khi cán cân thương mại liên tục thâm hụt nhiều năm liền thì chi tiêuChính phủ chính là một trong những thành phần giúp duy trì đà tăng trưởng GDPcủa Việt Nam Theo như tính toán từ biểu đồ trên, những năm qua, chi tiêu củaChính phủ đóng góp từ 6,1 – 7,55% vào GDP của Việt Nam Đặc biệt trong năm

2009, khi Chính phủ thực hiện các biện pháp kích thích kinh tế để đối phó với cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu, tiêu dùng Chính phủ đã đóng góp tới 7,55% vàoGDP trong năm này

Trang 33

Nguồn: Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê

Hình 2.10 – Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 2002 – 2010Tuy nhiên có một điểm cần lưu ý rằng trong năm 2009, bội chi NSNN ở mức6,9% còn tốc độ tăng trưởng GDP chỉ là 5,32% Để làm rõ nguyên nhân tại sao bộichi năm 2009 là cao nhất trong nhiều năm qua trong khi tốc độ tăng trưởng GDP lại

là thấp nhất, chúng ta cần đặt trong bối cảnh tình hình kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ

Do tình hình kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, các hoạt động tiêu dùng,đầu tư cũng như xuất khẩu chịu tác động lớn, từ đó ảnh hưởng tới nguồn thu NSNN.Trên thực tế, nguồn thu theo dự toán Quốc hội năm 2009 so với năm 2008 chỉ tăng

có 2,74% từ 430.549 tỷ đồng lên mức 442.340 tỷ đồng, tức là còn thấp hơn tốc độtăng trưởng GDP cùng năm Tuy vậy, để hạn chế tác động không thuận của cuộckhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, Quốc hội đã đề ra nguyên tắcđiều hành là không thực hiện cắt giảm tổng mức chi NSNN; đồng thời sử dụng góikích thích kinh tế nhằm mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởnghợp lý và bảo đảm an sinh xã hội Gói kích thích kinh tế có quy mô lên tới 160.000

tỷ đồng là một trong những yếu tố giúp nền kinh tế hồi phục nhưng đồng thời khiếnkhoản mục chi đầu tư phát triển trong năm 2009 tăng tới 50,64% so với năm 2008

và gây ra thâm hụt ngân sách lớn

Trang 34

Bảng 2.3 – Thống kê quy mô gói kích cầu

Đơn vị : tỷ đồng

Giá trị Tỉ trọng

Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng 17.000 10,6%Thu hồi vốn đầu tư XDCB ứng trước 3.400 2,1%Ứng trước nguồn cho các dự án cấp bách 37.200 23,3%Chuyển nguồn vốn 2008 sang 2009 30.200 18,9%

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trước tiên, chúng ta phân tích tác động của gói kích thích kinh tế tới GDP.Tiếp cận theo lý thuyết tổng cung – tổng cầu, phương trình tổng cầu của nền kinh tếlà:

AD = C + I + G + NX

Trong các biện pháp nằm trong gói kích cầu, giảm thuế làm tăng thu nhậpkhả dụng, từ đó làm tăng tiêu dùng (C), chẳng hạn giảm thuế và lệ phí trước bạ đãkích thích các hoạt động mua bán ô tô, xe máy, giao dịch bất động sản trong nhữngtháng cuối năm 2009 (chỉ tính riêng xe ô tô, mức tiêu thụ bình quân tháng trong quýIV/2009 bằng 1,5 lần mức tiêu thụ bình quân 9 tháng đầu năm) Giải pháp hỗ trợ lãisuất vay tín dụng giúp giảm lãi suất, khai thông nguồn vốn, từ đó tăng đầu tư (I)trong ngắn hạn Chi tiêu của Chính phủ (G) cũng tăng lên thông qua việc sử dụngvốn kích cầu thực hiện các dự án cấp bách Những yếu tố trên đã làm tăng tổng cầu,cải thiện tốc độ tăng trưởng, ngăn chặn đà suy giảm của nền kinh tế

Tiếp theo, chúng ta phân tích ảnh hưởng của gói kích cầu đối với thâm hụtngân sách Cán cân ngân sách được tính như sau:

BB = (Tx – Tr) – G

Trang 35

Trong đó: BB là cán cân ngân sách

Tx là tổng nguồn thu từ thuế, phí và lệ phí

Tr là chuyển giao thu nhập

G là chi tiêu chính phủ mua hàng hóa và dịch vụGiảm thuế trong gói kích cầu làm giảm nguồn thu từ thuế Tx của Chính phủcho dù cuối quý IV/2009 nhờ tác dụng của biện pháp giúp kích thích tiêu dùng vàđầu tư trong chu kỳ sau, lượng hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ tăng lên giúp cảithiện mức thuế thu được Thực tế đã kiểm chứng rằng số thuế, phí và lệ phí thuđược trong năm 2009 không chênh lệch nhiều so với số thu được trong năm 2008bất chấp nền kinh tế vẫn tăng trưởng Trong khi đó, với biện pháp hỗ trợ lãi suất,thay vì Chính phủ trả hộ doanh nghiệp một phần lãi suất mà doanh nghiệp vay củacác ngân hàng thương mại, có thể coi là doanh nghiệp vẫn đi vay vốn với lãi suấtnhư ở điều kiện không có hỗ trợ và Chính phủ chuyển giao một khoản tiền đúngbằng phần hỗ trợ lãi suất lại cho doanh nghiệp Chính vì vậy, biện pháp trên sẽ làmtăng khoản chuyển giao thu nhập Tr Và rõ ràng, chi tiêu G của Chính phủ tăng lên

là một phần trong gói kích cầu Tổng hợp các nhân tố trên, bội chi ngân sách sẽ giatăng, điều đã thực sự diễn ra trong năm 2009

Thời điểm Chính phủ đưa ra gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng là vào quýI/2009 khi GDP đạt 3,2%, mức thấp nhất trong vòng 5 năm trước đó Tác dụng củagói kích cầu thực sự rõ ràng kể từ quý III/2009 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đượckhôi phục; quý III/2009 tăng 5,98%, quý IV/2009 tăng 6,99% Tính chung cả năm

2009, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 5,32%, vẫn được đánh giá là tốt và rất đángkhích lệ Chính sách tài khóa mở rộng cũng đồng thời khiến bội chi ngân sách năm

2009 vọt lên 6,9% Đây là điều phải chấp nhận bởi trong tình hình kinh tế nước tagặp nhiều khó khăn, nguồn thu từ thuế tự động giảm trong khi các khoản mục chitiêu chính phủ, đảm bảo an sinh xã hội tăng lên; để giảm bội chi Chính phủ buộcphải tìm cách tăng thuế và giảm chi tiêu, mà các biện pháp này sẽ làm giảm tổngcầu, đẩy nền kinh tế lún sâu hơn vào suy thoái Do đó, việc sử dụng bội chi ngânsách trong năm này là cần thiết và đã góp phần không nhỏ trong việc ngăn chặn đàsuy giảm kinh tế; mức bội chi 6,9% của năm 2009 vẫn dưới mức giới hạn đượcQuốc hội chấp nhận là 7%

2.3.2 Bội chi ngân sách nhà nước và lạm phát

Giai đoạn 1996 – 2000

Trang 36

Tình hình cân đối NSNN trong giai đoạn này có nhiều chuyển biến tích cực,thu không những đủ chi thường xuyên mà còn dành cho đầu tư phát triển, thâm hụtNSNN được khống chế ở mức thấp Tuy vậy, do tác động của cuộc khủng hoảng tàichính châu Á nên nền kinh tế gặp không ít khó khăn Tăng trưởng kinh tế giảm dần

từ 1996 đến 1999 và chỉ tăng nhẹ trở lại vào năm 2000 Tỷ lệ bội chi NSNN thời kỳnăm ở mức 2,49% đến 4,95% (năm 1996: 3%, năm 1997: 4,05%, năm 1998: 2,49%,năm 1999: 4,37%, năm 2000: 4,95%) Tỷ lệ bội chi bình quân 5 năm là 3,87 %GDP cao hơn mức bình quân 1991 – 1995 (2,63%) Đây là thời kỳ suy thoái vàthiểu phát, nên mức bội chi NSNN như vậy không tác động gây ra lạm phát (lạmphát các năm 1999 và 2000 lần lượt chỉ là 0,1% và -0,6%) mà có tác động làm chonền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên

Giai đoạn sau năm 2000

Trong giai đoạn này, tỷ lệ bội chi về cơ bản được cân đối ở mức 5% GDP(ngoại trừ các năm 2007: 6% GDP; năm 2009: 6,9% GDP và năm 2010: 5,6% GDP

là cao hơn so với mức 5% được Quốc hội đề ra) Tỷ lệ này cao hơn hẳn so với cácgiai đoạn trước đó bởi giai đoạn 1991 – 1995 mức bội chi bình quân chỉ là 2,63%GDP; giai đoạn 1996 – 2000 là 3,87% GDP

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 2.11 – Tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 1991 – 2010Chính sách tài khóa trong những năm qua có phần nới lỏng nhằm mục đíchkích cầu đầu tư, và bội chi NSNN là một trong những công cụ thực hiện chính sách

Trang 37

tài khóa đó Thế nhưng, với việc chi tiêu không hiệu quả, kỷ luật ngân sách cònlỏng lẻo thì chi tiêu của Chính phủ cho chi đầu tư và chi thường xuyên đã vượt mứccần thiết, gây ra sự mất cân đối giữa lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế vàlượng hàng sản xuất ra, tạo áp lực lên lam phát Theo số liệu từ ADB, quy mô chingân sách so với GDP của Việt Nam lớn hơn hẳn so với các nước khác trong khuvực trong khi chất lượng đầu tư còn ở mức thấp Đây chính là nguyên nhân có tính

cơ cấu gây ra lạm phát và chỉ có thể được thay đổi thông qua cải thiện hiệu quả đầutư

Bảng 2.4 – So sánh quốc tế1: Quy mô chi ngân sách (% GDP)

21.89

12.1816.4215.7614.3914.6822.0719.1716.115.35

23.85

16.2917.7118.9115.4115.8322.8919.2718.8417.33

23.36

19.215.8323.615.920.0724.9217.3115.816.38

29.79

Nguồn: ADB

Không chỉ vậy, nếu như phát hành thêm tiền để bù đắp bội chi thì sẽ trực tiếplàm tăng cung tiền gây ra lạm phát, điều đã được minh chứng rõ trong giai đoạn

1986 – 1990 (Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách các năm 1986, 1987, 1988,

1989 và 1990 lần lượt là 22,9 tỷ; 89,1 tỷ; 450 tỷ; 1.655 tỷ và 1.200 tỷ khiến chonăm 1986 lạm phát lên tới 774,7%; năm 1987 là 223,1%; năm 1988 là 393,7%) thìviệc bù đắp thâm hụt NSNN bằng nguồn vốn huy động từ bên ngoài và từ trong

1 Trích từ nghiên cứu “Về chính sách chống suy thoái ở Việt Nam hiện nay: Nghiên cứu số 1:

Chính sách kích cầu” của nhóm tác giả Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, Phạm Thế Anh, Đinh Tuấn

Minh, Bùi Bá Cường, Dương Mạnh Hùng, tháng 12 năm 2008

Trang 38

nước về cơ bản cũng tăng lượng tiền cung ứng vào thị trường Đối với nguồn vaynước ngoài, điều này có thể giải thích là do tiền vay nước ngoài phải được nội tệhóa để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thông qua việc bán ngoại tệ cho Ngân hàng Nhànước Thực tế, trong những năm trờ lại đây, lượng tiền vay từ bên ngoài vào bủ đắpthâm hụt NSNN chiếm khoảng 1/4 số thâm hụt, tương đương với khoảng 1,5%GDP Nếu tính cả phần vay về cho vay lại thì lượng tiền từ bên ngoài vào nền kinh

tế thông qua bù đắp bội chi NSNN vào khoảng 2 – 3% GDP Cơ sở tiền tệ tăng lênlàm tăng cũng tiền và dẫn tới lạm phát

Đối với phần bù đắp thâm hụt NSNN từ nguồn vốn vay trong nước, hìnhthức vay phổ biến nhất là phát hành trái phiếu Đối tượng nắm giữ trái phiếu chủyếu là các ngân hàng thương mại Khi có nhu cầu về vốn, các ngân hàng này có thểmang trái phiếu lên Ngân hàng Nhà nước cầm cố và rút một lượng tiền tương ứng ra

từ NHNN Các ngân hàng thương mại càng có động cơ để thực hiện mua trái phiếu

và vay tái chiết khấu khi mà lãi suất trái phiếu chính phủ cao hơn lãi suất tái chiếtkhấu những năm trở về trước Thông qua cơ chế này, một lượng tiền đã được bơm

ra từ NHNN và làm tăng cơ sở tiền tệ trong nền kinh tế

Ở một số nước khác, như Nhật Bản, trái phiếu chính phủ được nắm giữ chủyếu bởi người dân Người dân mua trái phiếu từ nguồn tiền tiết kiệm, như vậy chitiêu từ người dân giảm xuống trong khi chi tiêu của Chính phủ gia tăng, tổng cầukhông bị ảnh hưởng lớn Hay nói cách khác, tiền chỉ thu từ lưu thông vào ngânsách, sau đó lại chuyển ra lưu thông nên không làm tăng lượng tiền cơ bản của nềnkinh tế và không gây áp lực lên lạm phát Ở đây không xét đến yếu tố gia tăng tốc

độ chu chuyển tiền tệ làm tăng lạm phát vì ảnh hưởng của yếu tố này là không lớn

Hình 2.12 – Biểu đồ dòng tiền lưu chuyển

(1)

Nền kinh tế(2)

Chính

phủ

Các NHTM

NHNN

Trái phiếu

Tiền

Trái phiếu

Tiền T

i ề n

phủ (2) Chính phủ chi tiêu công (3) Các NHTM cầm cố trái phiếu trên thị trường mở

(4) Các NHTM tiến hành cho vay trong nền kinh tế

Trang 39

Ở Việt Nam, nếu loại bỏ yếu tố trung gian là các ngân hàng thương mại, sẽthấy dòng tiền được bơm ra từ NHNN thông qua cơ chế thị trường mở và đích cuốicùng lại là bù đắp thiếu hụt chi tiêu ngân sách Cung tiền tăng lên, áp lực lạm phát

là không thể tránh khỏi Chính vì vậy, việc ban hành các quyết định nâng lãi suấtchiết khấu của Ngân hàng Nhà nước (quyết định 379/QĐ – NHNN nâng lãi suấtchiết khấu lên 12% kể từ 8/3/2011, quyết định 929/QĐ – NHNN nâng lãi suất chiếtkhấu lên 13% kể từ 1/5/2011) được coi là những tín hiệu tích cực nhằm quản lý cơchế thị trường mở một cách hiệu quả hơn, góp phần kiềm chế lạm phát

Nguồn: Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê

Hình 2.13 – CPI và tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 2002 – 2010

Như vậy có thể nói, những năm qua, Chính phủ đã thực hiện một chính sáchtài khóa lỏng lẻo với tỷ lệ bội chi NSNN duy trì ở mức 5% hoặc cao hơn trong mộtgiai đoạn dài trong khi hiệu quả đầu tư thấp Đây chính là một trong những nguyênnhân góp phần làm cho lượng tiền tệ trong lưu thông tăng cao Kết quả là lạm pháttăng mạnh kể từ năm 2004 (năm 2004 lạm phát đột ngột lên tới 9,5%; năm 2008thậm chí cao đến mức 19,9%), gây mất ổn định cho kinh tế vĩ mô

2.

3 3 Bội chi ngân sách nhà nước và nợ công

Những năm qua, tỷ lệ nợ công và nợ Chính phủ so với GDP không ngừngtăng lên Tính đến hết ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công chiếm 56,6% GDP sovới tỷ lệ 52,6% GDP của năm 2009 Đối với nợ Chính phủ, nợ Chính phủ có xuhướng tăng dần: bằng 33,8% GDP năm 2007; 36,2% GDP năm 2008; 41,9% GDPnăm 2009 và 44,3% GDP tính đến hết ngày 31/12/2010 Việc tăng bội chi và pháthành trái phiếu chính phủ chính là nguyên nhân dẫn tới nợ Chính phủ và nợ côngtăng lên qua từng năm

Trang 40

Trong hai năm gần đây, mức vay thuần của ngân sách nhà nước, được tínhbằng nguồn vay mới để bù đắp bội chi trừ đi số chi trả nợ và viện trợ, đã tăng lên rấtcao, từ mức 9.287 tỷ đồng (năm 2008) lên mức 51.100 tỷ đồng (năm 2009) và55.470 tỷ đồng (năm 2010) làm gia tăng dư nợ công và dư nợ Chính phủ.

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 2.14 – Mức vay thuần của NSNN và tỷ lệ so với GDP

Không chỉ tăng mạnh về con số tuyệt đối, tỷ lệ vay thuần so với GDP cácnăm 2009 và 2010 lần lượt là 3,04% và 2,84% Đây là những tỷ lệ khá cao khiếncho tỷ lệ nợ công và nợ chính phủ so với GDP tăng lên trong hai năm vừa qua

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA

2.4.1 Kết quả đạt được

- Tổng thu ngân sách tăng lên qua các năm, trong đó tỷ trọng nguồn thu nộiđịa ngày càng gia tăng; giảm sự phụ thuộc vào các nguồn thu từ dầu thô và xuấtnhập khẩu; từ đó tăng cường sự bền vững của hoạt động thu ngân sách

- Công tác thu ngân sách có nhiều chuyển biến đáng khích lệ Thời gian qua,các cơ quan quản lý thu đã triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả nhiều nhóm giảipháp để cải tiến phương thức hành thu ngân sách, tăng cường chất lượng công tác quản

lý thu, chống thất thu và xử lý nợ đọng thuế, như: đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đểnâng cao sự hiểu biết và sự tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế; đẩy mạnh kiểm tra, đônđốc thanh tra phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Ngày đăng: 11/11/2015, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2 – Lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2002 – 2010 - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.2 – Lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2002 – 2010 (Trang 25)
Hình 2.3 – Tổng thu ngân sách theo dự toán Quốc hội và tỷ lệ so với GDP - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.3 – Tổng thu ngân sách theo dự toán Quốc hội và tỷ lệ so với GDP (Trang 27)
Bảng 2.2 – Tỷ trọng chi theo dự toán Quốc hội - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Bảng 2.2 – Tỷ trọng chi theo dự toán Quốc hội (Trang 28)
Hình 2.4 – Tổng chi theo dự toán Quốc hội và tỷ lệ so với GDP - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.4 – Tổng chi theo dự toán Quốc hội và tỷ lệ so với GDP (Trang 29)
Hình 2.5 – Chi thường xuyên và tỷ lệ so với GDP Đối   với   chi   đầu   tư   phát   triển,   tốc   độ   tăng   giai   đoạn   2005   –   2008   là 15,98%/năm thấp hơn so với tốc độ tăng chi thường xuyên 26,99%/năm trong cùng - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.5 – Chi thường xuyên và tỷ lệ so với GDP Đối với chi đầu tư phát triển, tốc độ tăng giai đoạn 2005 – 2008 là 15,98%/năm thấp hơn so với tốc độ tăng chi thường xuyên 26,99%/năm trong cùng (Trang 29)
Hình 2.7 – Mức bội chi và tỷ lệ bội chi so với GDP giai đoạn 2002 – 2010 - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.7 – Mức bội chi và tỷ lệ bội chi so với GDP giai đoạn 2002 – 2010 (Trang 30)
Hình 2.6 – Chi đầu tư phát triển và tỷ lệ so với GDP - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.6 – Chi đầu tư phát triển và tỷ lệ so với GDP (Trang 30)
Hình 2.8 – Nguồn bù đắp bội chi ngân sách - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.8 – Nguồn bù đắp bội chi ngân sách (Trang 31)
Hình 2.9 – Đóng góp của các thành phần cho tăng trưởng kinh tế 2005 – 2010 - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.9 – Đóng góp của các thành phần cho tăng trưởng kinh tế 2005 – 2010 (Trang 32)
Hình 2.10 – Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 2002 – 2010 - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.10 – Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 2002 – 2010 (Trang 33)
Bảng 2.3 – Thống kê quy mô gói kích cầu - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Bảng 2.3 – Thống kê quy mô gói kích cầu (Trang 34)
Hình 2.11 – Tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 1991 – 2010 Chính sách tài khóa trong những năm qua có phần nới lỏng nhằm mục đích kích cầu đầu tư, và bội chi NSNN là một trong những công cụ thực hiện chính sách - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.11 – Tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 1991 – 2010 Chính sách tài khóa trong những năm qua có phần nới lỏng nhằm mục đích kích cầu đầu tư, và bội chi NSNN là một trong những công cụ thực hiện chính sách (Trang 36)
Bảng 2.4 – So sánh quốc tế 1 : Quy mô chi ngân sách (% GDP) - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Bảng 2.4 – So sánh quốc tế 1 : Quy mô chi ngân sách (% GDP) (Trang 37)
Hình 2.12 – Biểu đồ dòng tiền lưu chuyển(1) - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.12 – Biểu đồ dòng tiền lưu chuyển(1) (Trang 38)
Hình 2.13 – CPI và tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 2002 – 2010 - KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NHẰM ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM
Hình 2.13 – CPI và tỷ lệ bội chi/GDP giai đoạn 2002 – 2010 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w