Đánh Giá HệThực Vật Vùng Cảnh Quan Hành Lang Xanh, Tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam
Trang 1Đánh Giá Hệ Thực Vật Vùng Cảnh Quan Hành Lang Xanh, Tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam
Dự án Hành lang xanh: Báo cáo kỹ thuật số 1
Phần 1
Trang 2Những quan điểm trình bày trong báo cáo này là của tác giả và nhà biên soạn Không nhất thiết phản ánh quan điểm của tổ chức WWF
Các bản đồ địa lý trong tài liệu này không hàm ý của các tác giả hoặc WWF về địa vị pháp lý của bất kỳ quốc gia, lãnh thổ, vùng hoặc thẩm quyền hay ranh giới nào
Tác giả, người biên soạn và WWF không chịu trách nhiệm cho bất kỳ một sai sót nào của tài liệu
do biên dịch tài liệu này sang các ngôn ngữ khác
Xuất bản: WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam
Bản quyền: WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế
Số đăng ký xuất bản:
Việc tái bản bất kỳ phần nào của ấn phẩm này vì mục đích giáo dục, bảo tồn hay phi lợi nhuận khác có thể được thực hiện không cần xin phép trước mà chỉ nêu đầy đủ nguồn cung cấp thông tin
Sao chép các ảnh tư liệu cho bất kỳ mục đích nào không được phép khi không có sự đồng ý của tác giả và người gữ bản quyền
Tái bản để kinh doanh hay vì mục đích thương mại khác không được thực hiện nếu không xin phép trước các nhà giữ bản quyền
Trích dẫn: Leonid V Averyanov, L.V., Phan Kế Lộc, Nguyễn Tiến Vinh, Trần Minh Đức, Ngô Trí Dũng, Dương Văn Thành, Lê Thái Hùng, Nguyễn Tiến Hiệp, Phạm Văn Thế, Averyanova
A.L and Regalado, J (2006) Đánh giá Hệ thực vật vùng cảnh quan Hành lang xanh, Tỉnh Thừa
Thiên Huế, Việt Nam Báo cáo số 1: Phần 1 Dự án Hành lang xanh, WWF Greater Mekong &
Chương trình Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam
Biên tập: Chris Dickinson, Văn Ngọc Thịnh và Danny Lenain
Ảnh trang bìa: Averaynov © WWF Greater Mekong; Phan Kế Lộc © WWF Greater Mekong; WWF © WWF Greater Mekong
Tài liệu được lưu dữ tại:
Dự án Hành lang xanh – WWF WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh Thừa Thiên Huế 39 Xuân Diệu
18 Đoàn Hữu Trưng, Thành phố Huế Quận Tây Hồ
Tỉnh Thừa Thiên Huế Hà Nội
www.huegreencorridor.org www.panda.org/greatermekong
Trang 3DỰ ÁN HÀNH LANG XANH: GÓP PHẦN VÀO MỤC TIÊU BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TOÀN CẦU TẠI MỘT CẢNH QUAN HIỆU SUẤT
BÁO CÁO KỸ THUẬT SỐ 1
Cơ quan/ tổ chức:
1 Viện thực vật học Kômarốp, Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga, Xanh Pêtécxbua
2 Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, Hà Nội
3 Vườn thực vật Mítxuri, Xanh Lui
4 Trường Đại học Nông lâm Huế, Đại học Huế
Báo cáo này là kết quả của Dự án “Hành lang xanh: Góp phần vào mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu tại một cảnh quan hiệu suất”, Dự án nhận được sự tài trợ của Ngân hàng thế giới - Quỹ môi trường toàn cầu, Số: TF052526, WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam, Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thừa Thiên Huế và SNV - Tổ chức phát triển Hà lan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 11
TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN HÀNH LANG XANH 12
TÓM TẮT 13
1.0 LỜI GIỚI THIỆU 15
1.1 Tổng Quan 15
1.2 Trung Trường Sơn 15
1.3 Những Nghiên Cứu Trước Đây 16
2.0 MỤC TIÊU VÀ ĐỐI TƯỢNG 17
2.1 Mục Tiêu của Dự Án 17
2.2 Các Đối Tượng Điều Tra 17
3.0 CÁC PHƯƠNG PHÁP 18
3.1 Các Khu Vực Nghiên Cứu 18
3.1.1 Địa Hình 19
3.1.2 Địa Chất 20
3.1.3 Khí Hậu 20
3.1.4 Thảm Thực Vật 20
3.1.5 Địa Lý Học Sinh Vật 21
3.2 Lựa Chọn Vị Trí Điều Tra 22
3.3 Thời Gian và Cán Bộ Thu Thập Mẫu 23
3.4 Phương Pháp Thu Mẫu 24
3.4.1 Kỹ Thuật Điều Tra Thực Vật Tiêu Chuẩn 24
3.4.2 Phương Pháp Nghiên Cứu Cây Không Cây Gỗ ở Các Ô Mẫu 25
3.4.3 Các Tài Liệu Phân Loại và Các Tài Liệu Khác Được Sử Dụng 25
4.0 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Đánh Giá Các Thảm Thực Vật và Hệ Thực Vật 25
4.3 Sự Đánh Giá Các Taxôn Bậc Cao 27
4.3 Tường Trình Các Điểm Nghiên Cứu của Dự Án 28
4.3.1 Huyện Nam Đông, Xã Thượng Quảng 30
4.3.2 Huyện A Lưới, Xã A Roàng 30
4.3.3 Huyện A Lưới, Các Xã Hồng Kim và Hồng Vân 31
4.3.4 Huyện A Lưới, Xã Hương Nguyên 33
4.3.5 Huyện Hương Thủy, Xã Dương Hòa 34
4.4 Sử Dụng Lan như Mô Hình để Phân Tích Hệ Thực Vật 36
4.5 Các Nhóm Thực Vật Quan Trọng Khác ở Vùng Nghiên Cứu 41
4.5.1 Ráng 42
4.5.2 Hạt Trần 44
4.5.3 Cây Gỗ 46
4.5.4 Các Loài Cây Dùng Làm Thuốc Trong Nền Y Học Dân Tộc 49
4.5.5 Các Loài Cây Có Ý Nghĩa Trồng Làm Cảnh 51
4.5.6 Các Loài Đặc Hữu và Gần Đặc Hữu 55
4.5.7 Các Loài Mới 58
4.6 Đánh Giá Môi Trường Sống 59
4.6.1 Tóm Tắt 59
Trang 54.6.2 Rừng Nguyên Sinh Chưa Bị Tác Động Rậm Thường Xanh Cây Lá Rộng ở Đất
Thấp 60
4.6.3 Rừng Thứ Sinh Rậm và Thưa Thường Xanh Cây Lá Rộng ở Đất Thấp 62
4.6.4 Trảng Cây Bụi Thứ Sinh Rậm và Thưa 64
4.6.5 Trảng Cỏ Thưa và Các Quần Xã Ráng Thứ Sinh 65
4.6.6 Các Quần Xã Thực Vật ở Ven Suối 66
4.6.7 Các Quần Xã Thực Vật Sống trên Đá 68
4.7 Nghiên Cứu Các Ô Tiêu Chuẩn 69
4.7.1 Thảm Thực Vật và Các Ô Không Cây Gỗ 75
4.7.2 Các Ô Cây Gỗ 84
4.7.3 Phân Tích và Đánh Giá 85
4.7.3.1 Độ Giàu Loài 85
4.7.3.2 Phân Vùng Sinh Thái 86
4.7.3.3 Tình Trạng Bảo Tồn 88
4.7.3.4 Một Vài Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc và Phân Bố Tài Nguyên Rừng Ở Vùng Dự Án 89
5.0 THẢO LUẬN 90
5.1 Đánh Giá Tầm Quan Trọng của Bảo Tồn ở Vùng Nghiên Cứu của Dự Án 90
5.1.1 Các Loài Thực Vật Bị Đe Dọa Tuyệt Chủng ở Mức Toàn Cầu và Quốc Gia 90
5.1.2 Các Loài Thực Vật Hiếm và Đặc Hữu 90
5.1.3 Những Loài Thực Vật Mới Phát Hiện 90
5.1.4 Các Loài Có Tầm Quan Trọng về Kinh Tế và Các Loài Khác Có Giá Trị Tiềm Năng 90
5.2 Bảo Tồn Nơi Sống 91
5.3 Cây Gỗ và Sự Tái Sinh Rừng 91
5.4 Đánh Giá Các Điểm Nghiên Cứu của Dự Án trong Khung Cảnh của Vùng và Tỉnh .92
5.5 Đánh Giá Các Mối Đe Dọa Bảo Tồn 92
6.0 ĐỀ XUẤT 93
6.1 Bảo Tồn 93
6.1.1 Chiến Lược Bảo Tồn theo Vùng 93
6.1.2 Chiến Lược Bảo Tồn theo Loài 95
6.2 Phục Hồi và Quản Lý Rừng 96
6.2.1 Phục Hồi Rừng 96
6.2.2 Theo Dõi Tình Trạng Rừng 98
6.2.3 Hoạch Định Quản Lý Rừng dựa vào Công Cụ GIS 98
6.3 Nâng Cao Năng Lực cho Địa Phương và Hỗ Trợ Công Tác Bảo Tồn 99
6.4 Tăng Cường Các Nghiên Cứu Hợp Tác và Phối Hợp trong Các Lĩnh Vực Bảo Tồn .99
7.0 KẾT LUẬN 101
8.0 TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.0 Bản đồ của khu vực Trung Trường Sơn; cảnh quan ưưu tiên (CA1) (xem Tordoff và
cộng sự, 2003) 16
Hình 2.0 Bản đồ khu vực dự án Hành lang xanh 17
Hình 3.0 Bản đồ các khu vực nghiên cứu thực vật tỉnh Thừa Thiên Huế 19
Hình 4.0 Bản đồ địa chất Tỉnh Thừa Thiên Huế 20
Hình 5.0 Bản đồ hành chánh khu vực dự án Hành Lang Xanh (lập vào 06/2005) 21
DANH SÁCH BẢNG Bảng 1.0 Độ cao, địa chất, kiểu rừng và các nhân tố ảnh hưởng của các điểm nghiên cứu thực vật chính 23
Bảng 2.0 Thời gian nghiên cứu thực địa và các thành viên tham gia 23
Bảng 3.0 Tóm tắt các dữ liệu thu thập thực vật ở mỗi điểm nghiên cứu của Dự án Hành Lang Xanh 25
Bảng 4.0 Tính đa dạng các họ thực vật dựa vào số loài đã được thu thập 27
Bảng 5.0 Phổ dạng sống của các loài trong vùng nghiên cứu của Dự án 28
Bảng 6.0 Sự so sánh số lượng loài trong vùng Dự án Hành Lang Xanh; biểu diễn số lượng họ, chi và loài với tỉ lệ phần trăm đối với toàn vùng nghiên cứu 29
Bảng 7.0 Số lượng loài độc nhất phỏng chừng có trong khu vực Dự án 29
Bảng 8.0 Các loài Lan của tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn được ghi nhận ở vùng nghiên cứu của Dự án Hành làng xanh và VQG Bạch Mã 37
Bảng 9.0 Sự so sánh số lượng loài Lan của các hệ thực vật vùng nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh và VQG Bạch Mã 40
Bảng 10.0 Các chi Ráng (kèm theo số loài) ghi nhận được ở vùng nghiên cứu của Dự án và so sánh với VQG Bạch Mã và các KBTTN Đáckrông-Phong Điền 42
Bảng 11.0 Các loài Hạt trần ghi nhận được ở vùng nghiên cứu của Dự án và so sánh với VQG Bạch Mã và các KBTTN Đáckrông-Phong Điền 44
Bảng 12.0 Các loài và chi cây gỗ chọn lọc ghi nhận được ở vùng nghiên cứu của Dự án và so sánh với VQG Bạch Mã và các KBTTN Đăckrông-Phong Điền 46
Bảng 13.0 Các loài cây dùng làm thuốc ở vùng nghiên cứu của Dự án và so sánh với VQG Bạch Mã và các KBTTN Đáckrông-Phong Điền 49
Bảng 14.0 Các loài cây có ý nghĩa trồng làm cảnh ghi nhận ở vùng nghiên cứu của Dự án và so sánh với VQG Bạch Mã và các KBTTN Đáckrông-Phong Điền 51
Bảng 15.0 Các loài đặc hữu và gần đặc hữu ghi nhận ở vùng nghiên cứu của Dự án và so sánh với VQG Bạch Mã và các KBTTN Đáckrông-Phong Điền 55
Bảng 16.0 Các loài cây ở vùng nghiên cứu của Dự án có thể là mới cho khoa học 58
Bảng 17.0 Sự phân bố các loài cây không gỗ theo các ô nghiên cứu 75
Bảng 18.0 So sánh các loài cây không gỗ trong các ô ở vùng nghiên cứu của Dự án với VQG Bạch Mã và KBTTN Đáckrông-Phong Điền 81
Bảng 19.0 Các kiểu rừng phân theo trạng thái ở vùng nghiên cứu của Dự án 85
Bảng 20.0 Số liệu phân loại của các nhóm cây gỗ 85
Bảng 21.0 Hai mươi họ thực vật thân gỗ có nhiều loài nhất ở vùng nghiên cứu của Dự án (đường kính lớn hơn 10 cm) 86
Bảng 22.0 Các chi được lựa chọn để tìm ra sự tương đồng giữa các điểm nghiên cứu của Dự án 87
Bảng 23.0 Chỉ số J ở các điểm nghiên cứu của Dự án so với VQG Bạch Mã 88
Trang 7Bảng 24.0 Tình trạng bảo tồn (Sách đỏ Việt Nam) của một số loài cây gỗ ở vùng nghiên cứu
của Dự án 89
Bảng 25.0 Các nhân tố phá hoại ở các điểm nghiên cứu của Dự án 92
Bảng 26.0 Đề xuất kế hoạch bảo tồn theo vùng 93
Bảng 27.0 Đề xuất kế hoạch bảo tồn theo loài 95
Bảng 28.0 Đề xuất các loài cây gỗ tại chỗ (bản địa) cho chương trình phục hồi rừng 97
DANH SÁCH PHỤ LỤC Phụ lục 1.0 Danh sách các thực vật ghi nhận ở vùng nghiên cứu, ở VQG Bạch Mã và ở các KBTTN Đáckrông-Phong Điền 105
Trang 8FIPI Viện Điều tra và Quy hoạch Rừng
FPD Chi cục Kiểm lâm
GIS Hệ thống thông tin địa lý
ha Héc ta
HAL Hiệp, Averyanov, Lộc
HN Phòng mẫu thực vật khô của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Hà Nội IEBR Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
IUCN Tổ chức bảo tồn quốc tế
m mét
masl mét, độ cao tuyệt đối trên mặt biển
mm milimét
NP Vườn Quốc gia
NR Khu dự trữ thiên nhiên
NTFP Lâm sản ngoài gỗ
s.l theo nghiã rộng
sp Loài
subsp Dưới loài
WWF Tổ chức bảo tồn toàn cầu
Trang 9ĐỊNH NGHĨA TỪ VÀ THUẬT NGỮ
Cảnh quan – toàn bộ các tính chất tự nhiên tạo nên sự phân biệt một phần của bề mặt trái đất với các phần khác
Cỏ – cây không có hay chỉ có ít mô hóa gỗ lâu năm trên đất
Đá mẹ - đá nền cứng nằm dưới lớp đất và phong hóa thành đất
Đặc hữu – chỉ phân bố giới hạn ở một vùng địa lý nhất định, không gặp ở các vùng khác
Đặc hữu địa phương là taxôn với sự phân bố hạn chế ở một hoặc hai tiểu vùng hệ thực vật, Đặc hữu là các taxôn chỉ gặp ở Việt Nam
Gần đặc hữu là các taxôn phân bố trong giới hạn của bán đảo Đông Dương (Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia, Đông Bắc Thái Lan, Đông Nam Mianma và những vùng ở cực nam Trung Quốc)
Địa đới – thảm thực vật được xác định bởi khí hậu và thổ nhưỡng
Hạt trần – thực vật mang hạt lộ ra bên ngoài, không được bao kín trong quả
Hệ sinh thái – một quần xã thực vật và động vật (gồm cả người) có quan hệ phụ thuộc với nhau và với tổng thể môi trường
Hệ thực vật – toàn bộ các loài thực vật (hoặc môt nhóm loài) gặp ở một vùng
Hoại sinh – một loài cây sống phụ thuộc vào mô của một loài (cây hay con) khác đã chết để lấy nguồn thức ăn và năng lượng trao đổi chất
Kiểu thảm thực vật – thuật ngữ được dùng để chỉ một loại (hay nhóm) quần xã thực vật trong phạm vi rộng về ngoại mạo và cấu trúc
Ký sinh – một sinh vật sinh trưởng, lấy thức ăn, và nương nấu trên hay trong một cơ thể khác (vật chủ) mà không đóng góp gì cho sự tồn tại của vật chủ đóLoài bị đe dọa tuyệt chủng – một loài mà do tác động của một số nhân tố đã ảnh hưởng đến sự sống sót của nó
Loài chỉ thị – một sinh vật nhậy cảm đặc biệt với tác động của sự phát triển và các hoạt động của con người
Loài hiếm – không gặp phổ biến
Loài ngoại lai - loài không có nguồn gốc tại điểm nghiên cứu mà di cư từ nơi khác đến
Loài tại chỗ (bản địa) – là thành phần của một hệ thực vật hay động vật có nguồn gốc tại chỗ
ở vùng đó (đã được hình thành tại chỗ)
Loài xâm chiếm – một sinh vật chuyển đến sống ở một nơi sống khác và sinh sản đến mức xâm chiếm, thay thế một số lòai có nguồn gốc tại chỗ
Môi trường sống – môi trường tự nhiên của một sinh vật
Nhân tác- Bị con người làm thay đổi hay được con người tạo ra
Ô tiêu chuẩn – một đơn vị thảm thực vật mẫu dùng để vạch ranh giới một tổng thể nhất định nhằm đánh giá thảm thực vật
Phong phú – số lượng loài thực vật trong một quần xã
Quần xã phi địa đới – quần xã phát triển ở các điều kiện môi trường không điển hình như ở các điểm bị ngập nước thường xuyên hay theo chu kỳ, thung lũng suối hay trên các tảng đá lộ đầu
Trang 10Quần xã thực vật- một tập hợp các cây sống chung với nhau trong mối quan hệ phụ thuộc vào môi trường và có ảnh hưởng lẫn nhau cũng như thay đổi môi trường sống
Rêu - bao gồm cả Rêu theo nghĩa rộng và Địa y
Sự diễn thế – một chuỗi tiến hóa tự nhiên của các quần xã, mỗi giai đoạn phụ thuộc vào giai đoạn trước, và vào môi trường và các nhân tố quản lý
Sự khôi phục – quá trình khôi phục các điều kiện như trước khi bị hủy hoại
Tầng – một lớp riêng biệt trong một quần xã thực vật
Tầng (lớp) đất – một lớp đất nằm ít nhiều song song với bề mặt, phân biệt với các lớp tiếp giáp bởi các tính chất sinh học, vật lý và hóa học
Tầng - một lớp cây trong thảm thực vật có cành và tán lá ít nhiều liên tục
Taxôn (số nhiều là taxa) – là một nhóm sinh vật có thực được xếp bất kỳ bậc phân loại nào, ví
dụ ngành, lớp, bộ, họ, chi hay loài
Thảm thực vật – lớp thực vật bao phủ cảnh quan
Thông – là một lớp thuộc ngành Hạt trần có lá hình kim hay hình vẩy
Thực vật Hạt kín - Thực vật có hoa, hạt được bao bọc kín trong quả
Ven sông suối – vùng thảm thực vật tách rời đất liền và nước, thường bị ngập theo chu kỳ Sống trên đá – cây mọc trên bề mặt hay khe đá
Vùng sinh thái- một vùng được đặc trưng bởi các điều kiện khí hậu khác biệt thể hiện lên thảm thực vật
Trang 11Chúng tôi bày tỏ lòng cảm ơn đến thành viên của các Hạt kiểm lâm Nam Đông, A Lưới và Hương Thủy và các lâm trường đã tận tình giúp đỡ trong quá trình điều tra
Lời cảm ơn cũng xin được chuyển đến Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR) thuộc Viện khoa học và công nghệ Việt Nam (VAST), đến Viện thực vật học Kômarốp thuộc Viện Hàn lâm khoa học liên bang Nga và Chương trình bảo tồn thực vật Việt Nam (VBCP), một chương trình hợp tác giữa Viện Sinh thái và Tài nguên sinh vật và Vườn thực vật Mítxuri (MBG) và Trường Đại học nông lâm Huế vì đã tận tình hỗ trợ để hoàn thành nghiên cứu này
Trang 12TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN HÀNH LANG XANH
Dự án Hành lang xanh: đáp ứng các mục tiêu bảo tồn toàn cầu trong một cảnh quan hiệu suất
là một sáng kiến 4 năm bắt đầu từ tháng 6 năm 2004 do WWF Greater Mekong & Chương
trình Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện Dự án nhận được sự tài trợ của Ngân hàng thế giới - Quỹ môi trường toàn cầu, WWF, ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và SNV - Tổ chức phát triển Hà lan Mục tiêu chính của dự án là nhằm bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học cao của các khu rừng trong cảnh quan Hành lang xanh Khu vực này
đã được xác định thông qua các đánh giá bảo tồn cảnh quan có hệ thống như là một trong những ưu tiên bảo tồn cao nhất ở vùng Trung Trường Sơn vì nó hỗ trợ cho một số khu rừng thấp còn lại cuối cùng ở Việt Nam và là nơi cư trú của nhiều loài đặc hữu và đang bị đe dọa như Sao la (Tordoff et al., 2003; MARD, 2004)
Mục tiêu chính của dự án là nhằm bảo vệ và duy trì giá trị bảo tồn cảnh quan Hành lang xanh, một khu vực mang tính quan trọng toàn cầu hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng do khai thác và săn bắt phi pháp và các mối de dọa phát triển không bền vững Mục tiêu thứ yếu là thiết lập một mô hình có thể nhân rộng cho việc bảo vệ và duy trì các giá trị bảo tồn toàn cầu trong các cảnh quan rừng đa dụng với tầm quan trọng chiến lược đối với bảo tồn đa dạng sinh học
Dự án tiến hành các cơ chế can thiệp và các phương pháp kịp thời nhằm đạt được lợi ích nhiều mặt từ việc quản lý rừng trong các cảnh quan hiệu suất để đẩy lùi mối đe dọa đa dạng sinh học chính trong khu vực Hành lang xanh Điều này bao gồm việc xác định các ưu tiên bảo tồn và phục hồi rừng thông qua các đánh giá về đa dạng sinh học có hệ thống và lập bản
đồ rừng Đặc biệt dự án sẽ cải thiện chất lượng quản lý và lập kế hoạch đất và tài nguyên nhằm tăng cường cấp độ bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp một cảnh quan hiệu suất Để đạt được điều này, dự án sẽ làm việc với các cán bộ lâm nghiệp, các cộng đồng địa phương và các cán bộ cấp tỉnh bao gồm cả những nhà lập kế hoạch phát triển
Các kết quả chính của phương pháp cộng tác này sẽ là công tác lập kế hoạch khoanh vùng bảo tồn và các thoả thuận bảo tồn có sự tham gia Các công cụ này sẽ đảm bảo rằng những người
ra quyết định về môi trường và xã hội sẽ tiến đến xem xét tất cả các cấp độ từ cấp xã trở lên Ngoài ra, chúng cũng sẽ là công cụ trong việc giảm thiểu mối đe dọa đối với các khu vực bên ngoài các khu rừng đặc dụng khỏi các kế hoạch và các chiến lược đối kháng và sẽ đảm bảo các mục tiêu bảo tồn có thể đạt được ở Hành lang xanh Điều này sẽ nhằm thúc đẩy việc nhận biết một cảnh quan hiệu suất nơi mà các cộng đồng địa phương hưởng lợi thông qua công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên được cải thiện và không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các hoạt động pháp triển không thích hợp ở cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia
Liên lạc:
Hoàng Ngọc Khanh Chris Dickinson
Giám đốc dự án Cố Vấn trưởng dự án
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm WWF Dự án Hành lang xanh
Thừa Thiên Huế WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam
Việt Nam Chris.dickinson@wwfgreatermekong.org
huespam@vnn.vn www.huegreencorridor.org
Trang 13TÓM TẮT
Báo cáo này trình bày các kết quả khảo sát nghiên cứu đa dạng thực vật và thảm thực vật tiến hành từ giữa đến cuối tháng 3 và từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 5 năm 2005 ở 5 điểm nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh ở các huyện A Lưới, Hương Thủy và Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế (16º04’00’’–16º22’30’’ độ vĩ Bắc và 107º08’35’’–107º40’30’’ độ kinh Đông) Đây là một phần công việc của Chương trình khảo sát đa dạng sinh học rộng hơn trong tỉnh
do Dự án Hành lang xanh (GCP), và hiện nay đang được Quỹ Quốc tế bảo tồn Động thực vật hoang dã WWF Greater Mekong & Chương trình Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện
Mục đích chính của cuộc khảo sát là mô tả các kiểu rừng chính trong khu vực Dự án Hành lang xanh, nâng cao sự hiểu biểt tính đa dạng loài thực vật, đánh giá và định giá các khu vực
có ý nghĩa sinh học và xác định các mức độ ưu tiên cho sự bảo tồn Việc điều tra ngoài trời bao gồm lấy mẫu nghiên cứu ở tất cả các môi trường sống trong khu vực nghiên cứu có độ cao giữa 80 và 1150 m trên mặt biển Chúng tôi đã tiến hành quan sát và mô tả các kiểu thảm thực vật chính và hệ thực vật dựa vào bộ 3550 mẫu vật thuộc 1517 số hiệu đã thu thập và dựa vào sự nghiên cứu thực vật ở các ô tiêu chuẩn, bao gồm các ô của các loài cây gỗ và cây không phải gỗ Tổng số gồm 101 ô tiêu chuẩn, đại diện cho tất cả các kiểu quần xã thực vật địa đới chủ yếu của các điểm đã được thành lập, bao gồm 52 ô các loài cây không phải gỗ và
49 ô các loài cây gỗ Các kiểu địa mạo, đá mẹ, thổ nhưỡng chủ yếu, các mẫu vật đã được thu thập làm bằng chứng cùng khoảng 800 bức ảnh
Những kết quả của cuộc điều tra, nghiên cứu, mặc dầu còn sơ bộ, đã cho thấy hệ thực vật ở các điểm nghiên cứu ít nhiều có sự đồng nhất, nhưng có tính đa dạng cao và bao gồm nhiều loài đặc hữu địa phương, đặc hữu và gần đặc hữu Trong quá trình khảo sát đã ghi nhận được
869 loài Thực vật bậc cao có mạch (bao gồm Ráng (Dương xỉ) và các nhóm có quan hệ với Ráng, Hạt trần và Hạt kín), thuộc 489 chi và 131 họ Trong số này có 64 loài đặc hữu địa phương, đặc hữu và gần đặc hữu, 15 loài có thể mới cho khoa học, và một số chi và loài ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam Dựa trên kết quả nghiên cứu ở các vùng khác có các điều kiện tương tự có thể dự đoán tổng số loài Thực vật bậc cao có mạch ở vùng nghiên cứu của
Dự án Hành lang xanh sau khi kiểm kê đầy đủ sẽ lên đến 1700-2000 loài Hệ thực vật của tất
cả các điểm nghiên cứu là điển hình cho hệ thực vật ở đất thấp của tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn Các loài thuộc yếu tố tại chỗ (bản địa), yếu tố thường có sự phân bố hẹp, tạo thành phần lõi chủ yếu (ít nhất 60%) của hệ thực vật ở thảm thực vật nguyên sinh Thêm vào đó cũng có những yếu tố phân bố rộng và yếu tố không mọc tự nhiên, bao gồm cả các loài xâm lấn, tạo nên phần quan trọng ở thảm thực vật thứ sinh Hệ thực vật của khu vực nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh thể hiện rõ sự tương tự với các hệ thực vật ở đất thấp của Vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã và Khu dự trữ thiên nhiên (KBTTN) Phong Điền-Đắckrông Tuy nhiên, ở VQG Bạch Mã có một số loài mọc ở vành đai núi thấp với các chỏm cao hơn 1000m, mà không gặp trong vùng nghiên cứu của chúng tôi Chúng tôi đã chọn Lan là họ mẫu
để so sánh các hệ thực vật vì họ này có khá đủ dẫn liệu khoa học Trong số 138 loài Lan được biết trong cả hai hệ thực vật thì 69 loài (50%) tìm thấy trong cả hai khu vực Sự khác nhau về
độ cao đã giải thích các sự khác nhau về tập hợp các loài Hệ Lan của vùng nghiên cứu của
Dự án Hành lang xanh bao gồm nhiều loài ở đất thấp hơn là của VQG Bạch Mã, nơi có nhiều loài phân bố ở cao hơn Các nhóm thực vật chủ chốt khác được sử dụng để so sánh các hệ thực vật của khu vực nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh với VQG Bạch Mã và KBTTN Phong Điền-Đắckrông là Ráng và các nhóm có quan hệ gần gũi, Hạt trần, một số loài cây gỗ được chọn lọc, cây thuốc, cây cảnh, các loài đặc hữu địa phương, đặc hữu và gần đặc hữu
Trang 14Các dữ liệu trong ô tiêu chuẩn cây gỗ và cây không phải gỗ cũng chỉ ra sự giống nhau với thành phần loài ở đai đất thấp của VQG Bạch Mã và KBTTN Phong Điền- Đắckrông Các kết quả điều tra đã chứng minh rằng các vùng nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh có nhiều loài cây ở đất thấp hơn là ở VQG Bạch Mã, nơi mà có biên độ độ cao rộng hơn
Môi trường tự nhiên trong vùng nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh khá đồng nhất Hầu hết vùng ở cùng một đai cao, có cảnh quan bị chia cắt và bào mòn mạnh tổ hợp với hệ thống sông suối nhỏ, ngắn và dốc Vì thế, tập hợp các loài thực vật ở các điểm của vùng nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh có mức độ tương tự cao Có thể chia các quần xã thực vật địa đới ở đây thành 7 loại thảm thực vật chính:
1) Rừng nguyên sinh chưa bị tác động rậm thường xanh cây lá rộng ở đất thấp
2) Rừng nguyên sinh bị khai thác một phần rậm thường xanh cây lá rộng ở đất thấp
3) Rừng thứ sinh rậm thường xanh cây lá rộng ở đất thấp
4) Rừng thứ sinh thưa cây lá rộng ở đất thấp
5) Trảng cây bụi thứ sinh rậm
6) Trảng cây bụi thứ sinh thưa và
7) Các quần xã trảng cỏ và Ráng thứ sinh thưa
Chúng tôi cũng gặp ở nhiều chỗ các quần xã thực vật phi địa đới khác nhau như các quần xã thực vật dọc bờ suối có độ cao so với mặt biển rất thấp và các quần xã mọc trên đá ở các đường đỉnh và các vách đá dựng đứng Những sự khác nhau về độ cao so với mặt biển, địa chất, các điều kiện vi khí hậu, thủy văn và nhiều nhân tố lịch sử và hiện đại tác động đến thảm thực vật đã tạo nên những sự khác nhau chủ yếu về thành phần loài thực vật giữa các điểm nghiên cứu thuộc Dự án Hành lang xanh
Hầu hết các khu vực rừng nghiên cứu là rừng nguyên sinh và thứ sinh đã bị tác động bởi chặt chọn hay chặt hoàn toàn gỗ, chiến tranh (bom, mìn, chất khai quang), làm nương rẫy hay lửa rừng Các cuộc khảo sát đã cho thấy điều đáng ngạc nhiên là rừng ở đây tái sinh nhanh chóng
và có xu hướng phục hồi lại trạng thái giống như rừng nguyên sinh nếu các điều kiện thuận lợi được duy trì Hành lang xanh bao gồm một trong những khu rừng ở đất thấp rộng lớn đang còn lại ở Việt Nam với tổng diện tích khoảng 134.000ha Vùng nghiên cứu giầu và đa dạng về thành phần thực vật, bao gồm nhiều yếu tố của hệ thực vật rừng ở đất thấp Mặc dầu chúng tôi không thể điều tra toàn bộ khu vực của Dự án Hành lang xanh nhưng các điểm, đặc biệt là ở
A Ròang và các khu vực xung quanh đã được xác định là ưu tiên bảo tồn cao nhất bởi ưu điểm của hệ thực vật rừng giàu có và hầu như chưa bị tác động Dự án Hành lanh xanh mở ra một cơ hội rất tốt cho sự bảo tồn rừng nhiệt đới vùng đất thấp, điển hình cho vùng Trung Trường Sơn và hiện chỉ còn phân bố hạn chế
Giá trị bảo tồn đầy đủ của vùng Dự án Hành lang xanh có thể được thấy rõ thông qua các sáng kiến bảo tồn trong tương lai như chiến lược bảo tồn, chiến lược định hướng loài, quản lý rừng cũng như các nghiên cứu phục hồi rừng, xây dựng năng lực địa phương và hỗ trợ bảo tồn, nghiên cứu đời sống hoang dã kết hợp và quy hoạch rừng dựa trên cơ sở Thông tin địa lý
Trang 151.0 LỜI GIỚI THIỆU
1.1 Tổng Quan
Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới, và được công nhận là quốc gia có tỉ lệ các loài động, thực vật quí hiếm và đặc hữu có ý nghĩa toàn cầu (Regalado và các cộng tác, 2005) Những đánh giá ban đầu (Tolmachev, 1974; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997; Phan Kế Lộc, 1998) cho biết rằng có khoảng 9600 loài Thực vật bậc cao có mạch bản địa đã phát hiện ở Việt Nam Thêm vào đó, có khoảng 750 loài cây trồng được nhập nội và loài tự nhiên hóa Theo đánh giá gần đây nhất, ở Việt Nam đã biết khoảng 10.350 loài, thuộc 2.256 chi và 305 họ (Phan Ke Loc, 1998) Các nghiên cứu đó cũng dự đoán
có khoảng 2400 loài sẽ được phát hiện và bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam (Phan Kế Lộc, 1998)
Hệ thực vật của Việt Nam không chỉ phong phú mà còn giầu các loài đặc hữu, bổ sung thêm vào ý nghĩa về sinh học và bảo tồn Một thực vật đặc hữu được xác định như là một loài mà chỉ gặp ở một vùng địa lý nhất định Tỷ lệ của các loài đặc hữu ở Việt Nam được ước đoán
có khoảng từ 20% (Pocs, 1965) đến trên 50% (Thái Văn Trừng, 1978) Một đánh giá khiêm tốn hơn (Võ Quý, 1995) cho rằng ở Việt Nam chỉ có khoảng 10% số loài và 3% số chi là đặc hữu
Trong báo cáo này, chúng tôi đã chia ra 3 mức độ đặc hữu:
Đặc hữu địa phương là taxôn với sự phân bố hạn chế ở một hoặc hai tiểu vùng hệ thực
vật,
Đặc hữu là các taxôn chỉ gặp ở Việt Nam và
Gần đặc hữu là các taxôn phân bố trong giới hạn của bán đảo Đông Dương (Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia, Đông Bắc Thái Lan, Đông Nam Mianma và những vùng ở cực nam Trung Quốc)
Khối núi trung tâm chính của dãy Trường Sơn (hình 1.0) được xác định là cảnh quan ưu tiên
để bảo tồn tính đa dạng sinh học của phức hợp vùng sinh thái hạ Mê Kông (Baltzer và cộng
sự, 2001) Vùng sinh thái Trường Sơn Lớn là một trong 200 vùng sinh thái toàn cầu của Quỹ Quốc tế Bảo vệ các loài động thực vật hoang dã (WWF) Chúng được lựa chọn dựa trên sự sắp xếp có cơ sở khoa học các nơi sống nổi bật nhất về đa dạng sinh học toàn cầu Vùng sinh thái Trường Sơn Lớn được chia thành 3 tiểu vùng sinh thái, mỗi tiểu vùng có một số cảnh quan ưu tiên (Baltzer và cộng sự, 2001) Đó là các tiểu vùng cảnh quan Bắc Trường Sơn, Trung Trường Sơn và Nam Trường Sơn Riêng cảnh quan Trung Trường Sơn (ký hiệu là cảnh quan ưu tiên CA1) đã được xác định như là một trong những vùng ưu tiên cao nhất cho sự bảo tồn trong vùng sinh thái khu vực Trung Tường Sơn (Baltzer và cộng sự, 2001) Thêm vào đó, Schmid (1969) đã xác định khu vực này như là một trong 9 khu vực ở Đông Dương có sự hấp dẫn đặc biệt về thực vật Hệ thực vật ở cảnh quan Trung Trường Sơn đặc biệt đa dạng, gồm những yếu tố có mối quan hệ Ấn Độ-Himalaia ở núi như: Thông, Thông đỏ và Thông tre và các yếu tố Ấn Độ-Malaixia ở rừng vùng đất thấp như Dẻ, Dầu Những rừng này vẫn giữ được tính ổn định trong thời gian khí hậu toàn cầu thay đổi và xẩy ra những chấn động địa chất mạnh Do đó đây là nơi trú ẩn của một tập hợp độc nhất của những loài mà đã tiến hóa và tồn tại trong những khu rừng này Những khu rừng này bảo tồn được các hệ thực vật nhiệt đới cổ xưa còn sót lại Trước đây, vào kỷ Đệ tam sớm, cách đây khoảng 40-70 triệu năm, chúng đã từng bao phủ các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới của Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ Ví dụ nổi
bật nhất là việc khám phá cách đây không lâu loài “hóa thạch sống” ở Ngọc Linh, tỉnh Kon
Trang 16Tum, Diplopanax vietnamensis (Averyanov và Nguyễn Tiến Hiệp, 2002) Gần đây loài này
cũng được phát hiện ở VQG Bạch Mã (Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô, 2003)
Tordoff và cộng sự, 2003)
1.3 Những Nghiên Cứu Trước Đây
Những khu rừng ở Trung Trường Sơn vẫn còn ít được nghiên cứu đối với phần lớn các nhóm động vật và thực vật, và kiến thức về tính đa dạng sinh học giầu có ở đây còn lâu mới được biết đầy đủ Những kiểm kê thực vật chưa hoàn thiện đã được xuất bản cho VQG Bạch Mã (Mai Văn Phô, 1994; Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô, 2003), KBTTN Phong Điền-Đáckrông (Lê Trọng Trải và cộng sự, 1999a) và KBTTN Ngọc Linh (Lê Trọng Trải và cộng
sự, 1999b)
Trang 172.0 MỤC TIÊU VÀ ĐỐI TƯỢNG
2.1 Mục Tiêu của Dự Án
Hành lang xanh là một vùng rừng trải dài giữa VQG Bạch Mã và KBTTN Phong Điền (hình 2.0) Nó bao phủ một diện tích 134.000 ha, nằm ở 3 huyện A Lưới, Nam Đông và Hương Thủy Ý nghĩa bảo tồn toàn cầu của Dự án Hành lang xanh đã được giải thích thông qua việc đánh giá có hệ thống về những ưu tiên bảo tồn ở cảnh quan Trung Trường Sơn Kết quả của
sự đánh giá đã khẳng định ý nghĩa đáng kể của rừng ở Trung Trường Sơn , và xác định Trung Trường Sơn là cảnh quan chứa đựng tính đa dạng sinh học thực vật và động vật có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ giá trị bảo tồn của vùng sinh thái khu vực TrungTrường Sơn
Mục tiêu đầu tiên của Dự án Hành Lang Xanh là bảo vệ và duy trì giá trị bảo tồn cảnh quan phong phú trong Hành lang xanh Điều này sẽ phần nào đạt được nhờ vào việc phân loại và sắp xếp thành khu vực các rừng có giá trị bảo tồn cao trong vùng dự án, mà sẽ tạo ra một cảnh quan rừng đa năng được chú trọng trong công tác bảo tồn và các mục tiêu quản lý khác
Hình 2.0 Bản đồ khu vực dự án Hành lang xanh
Điều tra thực vật là một thành phần của Chương trình điều tra đa dạng sinh học rộng lớn được
Dự án Hành lang xanh, Quỹ Quốc tế Bảo tồn Động thực vật hoang dã- chương trình Khu vực
Mê Kông và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện Một đội ngũ các nhà thực vật học và nhà lâm học của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Trường Đại học Nông Lâm
Trang 18Huế, Viện Thực vật Komarov và Vườn Thực vật Mítxuri đã ký thỏa thuận với Dự án để thực hiện điều tra thực vật và thảm thực vật với các mục tiêu sau:
1 Tiến hành những cuộc điều tra thực vật nhằm mô tả sự phân bố, thành phần và cấu trúc của các kiểu thực vật, bao gồm vẽ những sơ đồ mặt cắt miêu tả những kiểu rừng đại diện trong khu vực nghiên cứu Tiến hành điều tra bằng cách sử dụng hệ phương pháp mà kết quả sẽ mô tả về định tính và định lượng của môi trường sống trong khu vực dự án
2 Tiến hành những cuộc điều tra vạch ranh giới tính đa dạng sinh học của vùng dự án nhằm cung cấp danh sách các loài và ghi nhận sự phân bố trong quá trình điều tra, xác định các loài có mối liên quan đến bảo tồn do bị ảnh hưởng bởi những hoạt động về môi trường và xã hội
3 Xác định các thành phần đa dạng sinh học đó và các vùng có giá trị bảo tồn cao, và đặt chúng trong các bối cảnh quốc gia, khu vực và quốc tế
4 Cung cấp những kiến nghị cho việc quản lý rừng trong tương lai trong phạm vi vùng điều tra
5 Bồi dưỡng năng lực đánh giá môi trường sống và kỹ thuật điều tra thực vật cho đội ngũ cán bộ kiểm lâm được dự án tuyển chọn bằng việc đào tạo chuyên môn và truyền đạt những kinh nghiệm trong suốt quá trình nghiên cứu thực địa
6 Viết báo cáo cho mỗi đợt khảo sát bao gồm ảnh chụp và cung cấp sự định giá và đầu vào kỹ thuật cho bất kỳ nghiên cứu khả thi nào trong tương lai cho khu vực bảo vệ mà
sẽ được tạo ra bởi dự án
Những khu vực khảo sát bao gồm một trong những khu rừng đất thấp rộng nhất còn lại ở Việt Nam (Hình 2.0), nằm trong một ô được phân định bởi tọa độ địa lý: 16º04’00’’-16º22’30’’độ
vĩ Bắc và 107º08’35’’–107º40’30’’độ kinh Đông (Hình 3.0) Những thông tin địa lý của vùng nghiên cứu được tổng hợp trong bảng 1.0
Trang 19Hình 3.0 Bản đồ các khu vực nghiên cứu thực vật tỉnh Thừa Thiên Huế
3.1.1 Địa Hình
Các điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu tương đối đồng nhất Hầu hết chúng nằm ở đai đất thấp, từ khoảng 80 đến 1000 m trên mặt biển (hiếm khi cao hơn một chút, lên đến phần dưới của vành đai núi thấp, như ở một vài nơi của xã Hồng Vân, nơi có độ cao được ghi nhận lên đến 1150 m) Khu vực nghiên cứu là nơi có nhiều đồi và núi thấp với cảnh quan bị chia
cắt và bào mòn mạnh kết hợp với nhiều hệ thống suối nhỏ, ngắn và dốc (Bản ảnh 1: ảnh
1-9)1; xem Hình 4.0
1 Trong phần viết tài liệu liên quan đến các bản ảnh màu in đậm và nghiêng
Trang 20Hình 4.0 Bản đồ địa chất Tỉnh Thừa Thiên Huế (Aylward et al., 2002)
3.1.2 Địa Chất
Dãy Trường Sơn theo nghĩa rộng là phần kéo dài về phía Nam của dãy Himalaia Chúng nằm trên thềm kết tinh cổ cấu tạo bởi gnai Tiền Cămbri Ở vùng nghiên cứu nó được bao phủ bởi các trầm tích biển và lục địa bị biến thái ít nhiều sâu sắc như các đá cát khác nhau, đá phiến
sét, đá xanh xám (Bản ảnh 2: ảnh 10-13) Ở vài nơi các mạch granít có tuổi Mêsôsốic muộn
cổ xâm nhập như ở phần đất thấp của xã Thượng Quảng, huyện Nam Đông (Bản ảnh 2: ảnh
14) Ở phần lớn vùng nghiên cứu đá mẹ (đá nền) gắn kết với các mạch quáczít ít nhiều chặt
chẽ để tạo nên các tảng quáczít lộ dầu gây ấn tượng mạnh ở một số nơi (Bản ảnh 2: ảnh
17-18) Các vách đá như vậy tạo nên môi trường sống riêng biệt cho các quần thể của một số loài
3.1.4 Thảm Thực Vật
Hầu hết các khu vực rừng ở các xã Hương Sơn, Thượng Quảng và Thượng Quảng (huyện Nam Đông), các xã Trà Lệnh và Hương Nguyên (huyện A Lưới) và xã Dương Hoà (huyện Hương Thủy) đã và cho đến nay vẫn coi là rừng sản xuất tại thời điểm điều tra (Hình 5.0) Tuy nhiên, theo sửa đổi của Tổ chức Kinh doanh Rừng Quốc gia, ở tỉnh Thừa Thiên Huế vào năm 2005, nhiều khu vực rừng hiện có mà trước đây được quản lý dưới dạng tổ chức này sẽ được thiết kế dưới dạng rừng bảo vệ lưu vực sông Việc đốn gỗ ở mức độ lựa chọn hoặc trung
Trang 21bình Nhưng sau những hoạt động đốn gỗ, thảm thực vật vẫn giữ lại được các đặc điểm nguyên sinh của rừng Thật may mắn, trong quá trình điều tra chúng tôi đã tìm được một vài mảnh rừng còn tương đối nguyên vẹn ở độ cao rất thấp, 200- 300m trên mặt biển (như ở xã Dương Hoà), thậm chí còn thấp hơn, đến 80- 90 m (như ở xã Hương Nguyên) Các quần xã thực vật gặp ở đây đã bị biến mất từ lâu ở các vùng khác của đất nước Hơn nữa, hầu hết các khu vực nghiên cứu đều ở xa các cộng đồng dân cư địa phương vì thế các tác động lên thảm thực vật ở đây có lẽ thấp hơn Trong khi loại rừng này ở các khu vực khác từ lâu đời đã là đối tượng đầu tiên để chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác Những tác động của người địa phương lên rừng hiện nay hạn chế chủ yếu là khai thác các lâm sản ngoài gỗ (mây, lá nón, tre nứa) Ở một vài nơi chúng tôi điều tra, cụ thể ở các xã Hồng Kim và Hồng Vân và rặng núi Mang Trang, vẫn rơi rớt ảnh hưởng của sự ném bom và rải chất gây rụng lá dioxin từ thời chiến tranh (Bản ảnh 32, ảnh 285-286), và hiện nay thảm thực vật là thứ sinh Hình 6.0 cho thấy bản đồ rải chất gây rụng lá dioxin ở Thừa Thiên Huế trong thời chiến tranh Mỹ (Hatfield, 2002) Một vài điểm ở phần thấp của Trà Lệnh trước đây đã bị ảnh hưởng của phương thức đốt nương làm rẫy, đến nay hầu hết đã được bao phủ bởi rừng thứ sinh khoảng 30 tuổi Ở một vài vị trí gần làng của các xã Hồng Vân và Hồng Kim việc phát nương làm rẫy vẫn tiếp tục Ở đây nhận thấy tất cả các giai đọan của quá trình diễn thế phục hồi Việc chăn thả gia súc và phát rừng để trồng trọt vẫn còn là một vấn đề ở gần thôn bản
Hình 5.0 Bản đồ hành chánh khu vực dự án Hành Lang Xanh (lập vào 06/2005)
3.1.5 Địa Lý Học Sinh Vật
Trong sơ đồ địa lý học thực vật hiện đại khu vực nghiên cứu thuộc tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn của miền hệ thực vật Đông Dương, dưới xứ Ấn Độ-Malaixia của xứ Cổ nhiệt đới (Averyanov và cộng sự, 2003a, b). Ở Việt Nam, tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn bao gồm từ phần nam của tỉnh Quảng Bình, các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum và Bình Định, cũng như thành phố Đà Nẵng và các
Trang 22huyện miền Bắc của các tỉnh Gia Lai và Phú Yên (Averyanov và cộng sự, 2003a,b) Phần lớn nhất của tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn bao gồm các khu vực núi liên kết với dãy Trường Sơn Các hệ thống núi thấp, khu vực đồng bằng và đồi núi thấp với nhiều sơng,
thung lũng rộng là tiêu biểu cho phần đơng của tiểu vùng này (Bản ảnh 1, ảnh 1-9).
Hệ thực vật của tất cả các điểm nghiên cứu đều thuộc tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn, ít nhiều cĩ thành phần lồi đồng nhất nhưng cĩ tính đa dạng cao và bao gồm khơng ít lồi thực vật đặc hữu Theo dự đốn ở khu vực nghiên cứu cĩ khoảng 1700-1800 lồi Thực vật bậc cao cĩ mạch Nĩ bao gồm một chi đặc hữu (Oligoceras, thuộc họ Euphorbiaceae) và nhiều lồi đặc hữu và gần đặc hữu Theo các dẫn liệu trước đây, khoảng 28,4% số lồi đặc hữu của Việt Nam gặp ở tiểu vùng Trung Trường Sơn, trong đĩ 10,8% là đặc hữu địa phương của tiểu vùng này (Averyanov và cộng sự, 2003a) Các yếu tố tại chỗ, những lồi thường phân
bố hạn chế, tạo nên phần lõi chủ yếu của các quần xã thực vật nguyên sinh Ngồi ra cịn cĩ những yếu tố cĩ sự phân bố rộng và yếu tố ngoại lai, bao gồm các lồi xâm lấn tạo nên phần chủ yếu ở các quần xã thứ sinh
Chúng tơi liệt kê ở danh sách sau các lồi đặc hữu của tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn (xếp theo họ):
Anacardiaceae (Semecarpus anacardiopsis, S
annamensis, S humilis, S perniciosa, S velutina)
Annonaceae (Artabotrys aeneus, A harmandii, A
phuongianus, A tetramerus, Cyathocalyx annamensis,
Goniothalamus albiflorus, G elegans, G multiovulatus,
Meiogyne subsessilis, Melodorum kontumense, Orophea
desmos, Phaeanthus vietnamensis, Polyalthia barenensis,
P clemensorum, Uvaria dac)
Apiaceae (Hydrocotyle pseudosanicula)
Araceae (Amorphophallus arnautovii, Amorphophallus
glossophyllus, A rhizomatosus, Pothos penicilliger, P
touranensis, Raphidophora sulcata, Schismatoglottis
cadieri, Typhonium bachmặnse, T huense)
Araliaceae (Dendropanax venosus, Macropanax
simplicifolius, M skvortsovae, M vidalii, Schefflera
alongensis, Sch kontumensis, Sch quangtriensis, Sch
vidaliana, Sch violea),
Bignoniaceae (Radermachera eberhardtii)
Combretaceae (Anogeissus rivularis, Terminalia
harmandii)
Connaraceae (Rourea acropetala)
Cornaceae (Mastixia poilanei)
Euphorbiaceae (Baccaurea harmandii, B oxycarpa,
Breynia grandiflora, Cleidion sathayensis, Cleistanthus
eberhardtii, Croton cubiensis, C potabilis, C sathayensis,
C touranensis, Epiprinus poilanei, Flueggea spirei,
Glochidion bachmặnsis, Mallotus canii, M eberhardtii,
M poilanei, M sathayensis, Oligoceras eberhardtii,
Phyllanthus annamensis, Ph carinarius, Ph pireyi, Ph
ruber, Ph rubescens, Ph thaii, Ph touranensis, Ph tui,
kontumensis, M quangnamensis, M spathulata, Sabia kontumensis)
Sapotaceae (Eberhardtia krempfii, Palaquium annamense, P poilanei, Sarcosperma affinis, S kontumense)
Scrophulariaceae (Adenosma annamensis, Brandisia
annamica, Lindernia eberhardtii)
Styracaceae (Styrax litseoides, S rufopilosus) Symplocaceae (Symplocos disepala) Taxaceae (Amentotaxus poilanei) Theaceae (Adinandra grandifolia, Camellia corallia, C
elongata, C gaudichaudii, Gordonia gigantiflora)
Thymelaeaceae (Aquilaria banặnsis, Wikstroemia
poilanei
3.2 Lựa Chọn Vị Trí Điều Tra
Việc nghiên cứu và mơ tả cấu trúc và thành phần lồi của các kiểu quần xã thực vật và thảm thựcvật khác nhau thực hiện chủ yếu ở dọc theo các mặt cắt cảnh quan, từ độ cao thấp nhất đến cao nhất của vùng nghiên cứu, dọc theo các sơng/ suối và dọc theo các con đường và đường mịn cĩ sẵn (Hình 3.0) Điều này bao gồm việc nghiên cứu các quần xã thực vật
Trang 23nguyên sinh và thứ sinh như rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, trảng cây bụi thứ sinh, trảng cỏ thứ sinh, quần xã sống ở ven sông/suối và quần xã sống bám trên đá Chúng là các giai đoạn diễn thế thoái hóa từ rừng nguyên sinh
Việc mô tả thảm thưc vật và hệ thực vật dựa trên nghiên cứu các ô tiêu chuẩn, quan sát và thu mẫu vật ở thực địa kèm theo các dẫn liệu cần thiết Những ô tiêu chuẩn được chọn trong tất cả các kiểu thảm thực vật chính của quần xã thực vật địa đới gặp ở khu vực nghiên cứu
Bảng 1.0 Độ cao, địa chất, kiểu rừng và các nhân tố ảnh hưởng của các điểm nghiên cứu thực vật chính
Địa điểm
nghiên cứu
Độ cao (m)
Những dạng đá địa chất ưu thế trong
Các nhân tố ảnh hưởng
Khai thác một phần, đốt nương làm rãy
Huyện A Lưới,
xã A Roàng 500-800
Đá phiến sét, đá cát, granít
Rừng nguyên sinh và thứ sinh rậm thường xanh cây
lá rộng ở đất thấp
Xây dựng đường, đốt nương làm rãy
Huyện A Lưới,
xã Hồng Vân
và Hồng Kim 600-1150 Đá phiến sét, granít
Rừng và trảng cây bụi thứ sinhrậm và nửa rậm thường xanh cây lá rộng đất thấp (và phần dưới của núi thấp)
Khai thác trầm trọng, đốt nương làm rãy, ném bom thời chiến, cháy và thả chất khai quang
Huyện A Lưới,
xã Hương
Nguyên 80-300 Đá phiến sét
Rừng nguyên sinh và thứ sinh rậm và nửa rậm thường xanh cây lá rộng, đất thấp sót lại
Khai thác trầm trọng, đốt nương làm rãy, ném bom thời chiến, cháy và thả chất khai quang
Huyện Hương
Thủy, xã
Dương Hòa
200-825 Đá phiến sét với đá quáczít
Rừng nguyên sinh bị khai thác một phần và rừng thứ sinh rậm và nửa rậm thường xanh cây lá rộng ở đất thấp
Khai thác một phần, thả chất khai quang(trên các rặng núi)
3.3 Thời Gian và Cán Bộ Thu Thập Mẫu
Năm điểm ở tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc các huyện A Lưới, Hương Thủy và Nam Đông, trong một ô giới hạn ở tọa độ địa lý: 16º04’00’’–16º22’30’’độ vĩ Bắc và 107º08’35’’–107º40’30’’độ kinh Đông (Hình 3, Bảng 1.0)
Đã thực hiện 32 ngày nghiên cứu thực địa trong suốt khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2005 (xem bảng 2.0) bởi các chuyên gia đến từ Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Thực vật Komarov, Vườn Thực vật Mítxuri và Trường Đại học Nông Lâm Huế (xem Bảng 2.0) Một số thành viên của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tham gia phân tích và xác định tên mẫu vật
Bảng 2.0 Thời gian nghiên cứu thực địa và các thành viên tham gia
Trang 24Địa điểm Thời gian làm việc Các thành viên tham gia
Huyện Nam Đông, xã
Thượng Quảng
Từ ngày 23-31/3/05
(9 ngày)
LVA; PKL, NTV,TMD, NTD, DVT, LTH, NTH, PVT, ALA.L
LVA (Leonid V Averyanov); PKL(Phan Kế Lộc), NTV (Nguyễn Tiến Vinh), TMD (Trần Minh Đức), NTD (Ngô Trí Dũng), DVT (Dương Văn Thành), LTH (Lê Thái Hùng), NTH (Nguyễn Tiến Hiệp), PVT (Phạm Văn Thế), ALA (Anna L Averyanova); JRE (Jacinto Regalado)
3.4 Phương Pháp Thu Mẫu
3.4.1 Kỹ Thuật Điều Tra Thực Vật Tiêu Chuẩn
Trong quá trình điều tra, những quan sát và mô tả ngoài hiện trường các kiểu thảm thực vật chính và hệ thực vật dựa trên việc thu thập mẫu cây trong các ô tiêu chuẩn cây gỗ và cây không phải gỗ và thu thập tiêu bản thực vật Các ghi nhận bằng hình ảnh của thực vật, cảnh quan, đất mẹ, thổ nhưỡng được dùng để làm tài liệu Chúng tôi đã sử dụng các máy ảnh
“Canon” (bao gồm phim và kỹ thuật số) với các ống kính “Canon”, “Nikon”, “Cosina” và
“Sigma” để chụp các ảnh thực vật, môi trường sống và cảnh quan cho các khoảng cách khác nhau Chúng tôi cũng sử dụng ánh sáng nhân tạo bàng đèn ánh sáng thẳng National “PE-201M” và ánh sáng vòng “Starblitz 1000 AUTOMACRO-LITE”
Chúng tôi đã chụp khoảng 800 bức ảnh về các kiểu địa chất, đá mẹ, thổ nhưỡng, cảnh quan và mẫu vật làm bằng chứng, phần lớn nhất được giới thiệu trong các bản ảnh màu của báo cáo này dưới dạng đĩa CD Chúng tôi đã mô tả, nghiên cứu các loài cây không phải gỗ trong 52 ô tiêu chuẩn và các loài cây gỗ trong 49 ô tiêu chuẩn
Tất cả các mẫu vật đã gắn số hiệu và nhãn ngay ở ngoài hiện trường dựa trên cơ sở quan sát
và phân tích trực tiếp các môi trường sống thực vật Nhãn hiệu cho mỗi số hiệu bao gồm tên khoa học sơ bộ, vị trí địa lý của môi trường sống (gồm tọa độ được ghi nhận từ hệ thống GPS), mô tả ngắn gọn kiểu thảm thực vật và môi trường sống, dẫn liệu về dạng sống và đặc điểm hình thái, ngày thu thập, tên người thu và số hiệu tiêu bản Tất cả các tiêu bản thu thập được giữ trong cồn để xử lý thích hợp trong phòng thí nghiệm Tất cả các quan sát và nghiên cứu là tài liệu để làm bằng chứng, toàn bộ sẽ được lưu giữ ở Phòng mẫu thực vật khô của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế Mỗi số hiệu thu ít nhất là 2 mẫu Số lượng mẫu của các số hiệu cần chú ý hoặc của các loài thường là hiếm được thu nhiều hơn, nhiều nhất đến 10
Trang 253.4.2 Phương Pháp Nghiên Cứu Cây Không Cây Gỗ ở Các Ô Mẫu
Khái quát hệ thực vật và mô tả các kiểu thảm thực vật chủ yếu cũng như nghiên cứu các quần
xã thực vật địa đới và phi địa đới điển hình đã được tiến hành sử dụng phương pháp ô tiêu chuẩn kết hợp với phương pháp nghiên cứu thực địa truyền thống có thu mẫu vật Đội điều tra chủ yếu làm theo những phương pháp đã được Dự án quyết định, cụ thể là Tiếp cận Ô-Tuyến
và các điều tra theo dãy Toa độ địa lý
3.4.3 Các Tài Liệu Phân Loại và Các Tài Liệu Khác Được Sử Dụng
Việc nhận dạng sơ bộ các loài thực vật được thực hiện ngoài hiện trường và được khẳng định trong phòng mẫu thực vật tại Hà Nội trong khung thời gian của bản hợp đồng dự án Hoa của những loài quan trọng, hiếm và có ý nghĩa về khoa học cũng được thu thập trong lọ và hãm bằng cồn và bảo quản để nghiên cứu và quan sát lâu dài tại Phòng mẫu thực vật khô của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Những bức ảnh về cảnh quan, các kiểu thảm thực vật, ô tiêu chuẩn và phần lớn các laòi thực vật có ý nghĩa nhất được quan sát trong khu vực nghiên cứu đã được xử lý và lưu trữ trong hệ thống điện tử
Việc xác định tên thực vật sử dụng nhiều nguồn tài liệu phân loại có liên quan đến hệ thực vật Đông Nam Á và một số tài liệu chuyên khảo đặc biệt khác về chi và họ đơn lẻ
3 Chữđầu của những số hiệu thu thập trong sự nghiên cứu này được sử dụng là “HAL”, đại diện tên viết tắt là các thành viên chính của dự án này- Nguyễn Tiến Hiệp, Leonid Averyanov và Phan Kế Lộc (HAL 6792-8308).
Các kết quả nghiên cứu hệ thực vật đã ghi nhận được tổng cộng 869 loài, thuộc 489 chi của
131 họ Thực vật bậc cao có mạch (Bảng 3.0) Danh sách các loài được trình bày trong phụ lục 1.0 Dựa vào kiến thức phân loại của đội điều tra và kinh nghiệm tổ chức các cuộc điều tra như thế tại hệ sinh thái rừng Việt Nam, số loài đã ghi nhận được chiếm khoảng 50 % tổng số loài ở đây
Bảng 3.0 Tóm tắt các dữ liệu thu thập thực vật ở mỗi điểm nghiên cứu của Dự án Hành Lang Xanh
Vị trí nghiên
cứu
Số lượng mẫu (Số hiệu) Tọa độ
Số lượng mẫu khô Họ Chi Loài
Số ô tiêu chuẩn cây gỗ
Số ô tiêu chuẩn cây không phải
16º09’30’’–
16º10’30’’B 107º35’40’’–
Huyện A Lưới,
xã A Roàng
264 (HAL 7166- 7429)
16º04’00’’–
16º05’20’’B 107º28’30’’–
107º30’00’’Đ
650
(AL 01 đến AL 08)
8 (AL 01 to AL 08)
16º17’40’’–
16º22’30’’B 107º08’35’’–
Huyện A Lưới,
xã Hương
Nguyên
252 (HAL 7752-
16º14’35’’–
16º17’30’’B 107º25’30’’– 600
(AL 19 đến AL 28)
10 (AL 19 to AL 28)
Trang 26Vị trí nghiên
cứu
Số lượng mẫu (Số hiệu) Tọa độ
Số lượng mẫu khô Họ Chi Loài
Số ô tiêu chuẩn cây gỗ
Số ô tiêu chuẩn cây không phải
16º12’30’’–
16º14’20’’B 107º33’40’’–
107º39’00’’Đ
750
(HT 01 đến HT 10)
10 (HT 01 to HT 10)
Tổng số (HAL 1517
8308)
6792-3550
Hệ thực vật trong vùng nghiên cứu của Dự án tương đối đồng nhất Chỉ có một kiểu rừng
được ghi nhận: Rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng ở đất thấp (Bản ảnh 3,
ảnh 25-27; bản ảnh 4, ảnh 28-33) Tuy nhiên, trong thảm thực vật ở đây có thể thấy được
các giai đoạn khác nhau của sự thoái hóa liên tiếp của rừng nguyên sinh Thành phần loài và cấu trúc của hệ thực vật này thuộc hệ thực vật đồi đất thấp của phần Đông của tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn Hệ thực vật này cũng tiêu biểu cho phần đất thấp của Trung Việt Nam về tính đa dạng và phong phú Phần lõi của các loài tại chỗ (bản địa) trong hệ thực vật này vẫn bao gồm đầy đủ hình ảnh của các yếu tố thực vật nguyên sinh Bên cạnh đó tính đa dạng về thành phần loài của một số điểm nghiên cứu cũng như toàn bộ hệ thực vật của vùng
đã tăng lên rõ rệt trong thời gian gần đây do xuất hiện các loài cỏ dại xâm lấn Tuy nhiên do tính phức tạp của cảnh quan nên ở đây có nhiều môi trường sống hẹp Ở chân đồi núi và dọc theo suối do địa hình riêng có gặp vài mảnh rừng phát triển ở nơi ẩm ướt quan năm, không có mùa khô rõ rệt Thỉnh thoảng quan sát thấy những quần xã thực vật phi đia đới như thảm thực
vật dọc suối ở độ cao rất thấp, đôi chỗ thấp hơn 100m so với mặt biển (Bản ảnh 20, ảnh
173-180; bản ảnh 21, ảnh 181) hoặc các quần xã thực vật sống bám trên các vách đá và đường
Một vài loài thuộc nhóm vừa kể như Hopea pierrei, Dipterocarpus hasseltii, Freycinetia
sumatrana, Parkia sumatrana, Harmandia mekongensis có thể đóng vai trò quan trọng trong
việc hình thành môi trường sống Các yếu tố địa lý thực vật khác bao gồm các loài đặc hữu hẹp địa phương, đặc hữu và gần đặc hữu Những nhóm này là các đại diện đặc biệt nhất cho
hệ thực vật của vùng nghiên cứu, tạo nên nét riêng biệt và tính độc nhất của nó Sự phân tích
về mặt hệ thực vật của những yếu tố này trong họ Lan của vùng nghiên cứu được trình bầy ngắn gọn trong bảng 8 Hiếm khi tìm thấy những địa điểm nhỏ lẫn lộn các loài Thông như
Dacrycarpus imbricatus, Dacrydium elatum, Nageia wallichiana và Podocarpus neriifolius
Nhóm thực vật đáng quan tâm cuối cùng trong vùng nghiên cứu là các loài cây cỏ dại xâm lấn Những loài này thường có sự phân bố rộng ở khắp các miền nhiệt đới hoặc cổ nhiệt đới Thông thường các phần tử thực vật này là các yếu tố xâm chiếm, có thể lan rộng nhanh chóng
ở những nơi mà rừng nguyên sinh đã bị tàn phá, và chúng sẽ thay thế các loài thực vật tại chỗ
Trang 274.3 Sự Đánh Giá Các Taxôn Bậc Cao
Phổ các họ theo số loài trong vùng nghiên cứu của Dự án Hành Lang Xanh được giới thiệu
trong bảng 4 Mười (10) họ giầu loài nhất trong hệ thực vật được nghiên cứu là Polypodiaceae
(theo nghĩa rộng), Orchidaceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Zingiberaceae, Annonaceae,
Melastomataceae, Myrsinaceae, Fabaceae và Moraceae Những họ này gồm khoảng 52% tổng
số loài đã ghi nhận được cho toàn hệ thực vật (xem bảng 4.0)
Mười (10) chi lớn nhất trong hệ thực vật này là Ardisia (Myrsinaceae), Ficus (Moraceae),
Asplenium, Diplazium và Tectaria (Polypodiaceae), Alpinia (Zingiberaceae), Hedyotis và
Lasianthus (Rubiaceae), và Begonia (Begoniaceae) Phổ này tiêu biểu cho hệ thực vật của các
tiểu vùng hệ thực vật Trung Trường Sơn và Đông Dương
Những họ thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các quần xã thực vật ở đây
là đại diện của những chi và họ đã được trình bầy cũng như một số họ khác như Acanthaceae,
Anacardiaceae, Dipterocarpaceae, Fagaceae, Lauraceae, Magnoliaceae, Meliaceae, Moraceae,
Myrtaceae, Podocarpaceae, Sapotaceae, Sterculiaceae, Styracaceae, Symplocaceae, Theaceae
và Verbenaceae Các chi và họ kể trên mang những đặc trưng nhiệt đới đích thực của hệ thực
vật và tiêu biểu cho tiểu vùng hệ thực vật Trung Trường Sơn
Bảng 4.0 Tính đa dạng các họ thực vật dựa vào số loài đã được thu thập
Begoniaceae, Celastraceae, Gesneriaceae, Menispermaceae 8 1-7
Fagaceae, Poaceae, Selaginellaceae, Smilacaceae 7 1-7
Asclepiadaceae, Asteraceae, Myrtaceae, Sterculiaceae 6 1-6
Elaeocarpaceae, Myristicaceae, Rosaceae, Sapotaceae,
Loganiaceae, Magnoliaceae, Malpighiaceae, Oleaceae, Piperaceae,
Podocarpaceae, Polygalaceae, Sapindaceae, Styracaceae, Urticaceae,
Aquifoliaceae, Araliaceae, Commelinaceae, Dipterocarpaceae,
Ebenaceae, Lamiaceae, Loranthaceae, Lycopodiaceae, Marantaceae,
Meliaceae, Pandanaceae
3 1-3 Alangiaceae, Anacardiaceae, Aristolochiaceae, Balsaminaceae,
Capparidaceae, Clusiaceae, Connaraceae, Dilleniaceae,
Dracaenaceae, Flacourtiaceae, Hypericaceae, Hypoxidaceae,
Icacinaceae, Illiciaceae, Leeaceae, Lentibulariaceae, Musaceae,
Nyssaceae, Proteaceae, Ranunculaceae, Simaroubaceae, Taccaceae,
Ulmaceae
2 1-2
Trang 28Họ Số loài Số chi
Actinidiaceae, Amaranthaceae, Ancistrocladaceae, Apiaceae,
Aponogetonaceae, Balanophoraceae, Betulaceae, Burmanniaceae,
Cecropiaceae, Caryophyllaceae, Chloranthaceae, Costaceae,
Convolvulaceae, Dichapetalaceae, Elaeagnaceae, Ericaceae,
Eriocaulaceae, Flacourtiaceae, Flagellariaceae, Gnetaceae,
Hamamelidaceae, Hernandiaceae, Hydrangeaceae, Iteaceae,
Juglandaceae, Lardizabalaceae, Lecythidaceae, Meliosmaceae,
Nepenthaceae, Ochnaceae, Olacaceae, Ophioglossaceae, Opiliaceae,
Orobanchaceae, Pandaceae, Pentaphragmaceae, Phormiaceae,
Pittosporaceae, Pontederiaceae, Primulaceae, Rhamnaceae,
Sabiaceae, Saurauiaceae, Staphyleaceae, Thymelaeaceae, Tiliaceae,
Trilliaceae, Triuridaceae, Violaceae, Fam 1-8
1 1
Tỷ lệ cao của các loài cây gỗ (16.7%) là phổ biến cho các hệ thực vật của các kiểu thảm thực vật nguyên sinh và thứ sinh già Tỷ lệ cao của các loài cây bụi (23.8%) và của các loài cỏ (45.9%) cũng là chỉ thị cho những vùng có thảm thực vật thứ sinh trẻ Các loài cỏ có tỷ lệ phần trăm cao và giầu yếu tố bản địa đôi khi cũng được thấy trong hệ thực vật nguyên sinh với nhiều kiểu môi trường sống phi địa đới (như các thung lũng suối hoặc trên đá lộ lên ) Một
số lượng lớn thực vật sống bám trên cây cũng được ghi nhận (172 loài, chiếm 14,1% hệ thực vật, xem phụ lục 1.0) Đó là bằng chứng rõ ràng cho sự bảo tồn tốt các quần xã rừng trong vùng nghiên cứu Đồng thời sự có mặt của không ít loài thực vật hoại sinh-không có diệp lục cũng như thực vật ký sinh được ghi nhận trong khi nghiên cứu thực địa đã cho thấy có sự duy
trì tốt lớp thổ nhưỡng ở nhiều điểm nghiên cứu Trong số các loài thuộc nhóm này có thể kể
Burmannia sp., Didymoplexiopsis khiriwongensis, Galeola nudifolia, Gastrodia sp., Lecanorchis sp.1., Lecanorchis sp.2., Pristiglottis saprophytica, Stereosandra javanica, Epirixanthes elongata, Sciaphila clemensiae (thực vật hoại sinh) và Rhopalocnemis phalloides, Christisonia hookeri (ký sinh trên rễ trong đất)
Bảng 5.0 Phổ dạng sống của các loài trong vùng nghiên cứu của Dự án
Phần trăm trong
4.3 Tường Trình Các Điểm Nghiên Cứu của Dự Án
Hệ thực vật khu vực Dự án Hành lang xanh hầu như giống nhau trong giới hạn trung bình của
số lượng loài thực vật (cũng như chi và họ) đã được thu thập trong suốt đợt khảo sát đầu tiên này, mặc dầu điều này đã bị ảnh hưởng bởi những nỗ lực thu mẫu khác nhau (Bảng 6.0) Số loài thực vật đã thu được trong những điểm nghiên cứu này khoảng từ 221 đến 322 (tương ứng chiếm 25,4 đến 37,0% tổng số loài đã thu thập được trong toàn bộ hệ thực vật) Trung bình số loài thực vật thu được trong mỗi ngày làm việc ở ngoài thực địa là từ 36 đến 46 loài Những dữ liệu đồng nhất này cho phép chúng ta đánh giá tính đa dạng thực vật ở vùng nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh
Dựa vào lịch sử hình thành các quần xã thực vật trong vùng này chúng đại diện cho các quần
hệ đồng dạng có có quan hệ chặt chẽ với nhau Thành phần chính của các loài tại chỗ và xâm lấn ở tất cả các điểm nghiên cứu là rất giống nhau Hầu hết các loài (được nhận biết ở ngoài thực địa đến mức độ loài) xuất hiện trong tất cả hoặc ít nhất trong phần lớn các điểm nghiên cứu Những loài tại chỗ hiếm, thường là đặc hữu và gần đặc hữu với những yêu cầu về sinh
Trang 29thái hẹp, độc nhất (như các loài sống trên một số loại đá) thường xác định sự khác nhau chủ yếu giữa các điểm nghiên cứu Hơn nữa, chúng được xác định rõ bởi sự khác nhau về độ cao, thành phần cấu tạo của đá mẹ, vi khí hậu đặc biệt, các điều kiện thủy văn và các nhân tố phá hủy hiện đại Thành phần cơ bản của các loài trong mỗi điểm nghiên cứu rất giống nhau, nhưng sự tham gia của các nhóm của các yếu tố lịch sử khác nhau là khác nhau rõ rệt và phụ thuộc trực tiếp vào mức độ xáo trộn của thảm thực vật nguyên sinh Ở nơi các quần xã thực vật rừng thứ sinh chiếm ưu thế vai trò của các loài bản địa bị suy giảm, ngược lại của các loài xâm lấn tăng lên Điều này đặc biệt đúng đối với các loài cây gỗ trong các ô nghiên cứu; ở đây khó có thể tìm thấy những cây con và cây non tái sinh từ hạt Số lượng loài nói chung có thể vẫn còn cao nhưng các loài cỏ tiên phong xâm lấn và các phần tử ngoại lai chiếm ưu thế
Bảng 6.0 Sự so sánh số lượng loài trong vùng Dự án Hành Lang Xanh; biểu diễn số lượng họ, chi và loài với tỉ lệ phần trăm đối với toàn vùng nghiên cứu
Huyện Nam Đồng, xã Thượng Quảng
Huyện A Lưới, xã
A Roàng
Huyện A Lưới, các xã Hông Vân và Hông Kim
Huyện A Lưới, xã Hương Nguyên
Huyện Hương Thủy, xã Dương Hòa
Bảng 7.0 Số lượng loài độc nhất phỏng chừng có trong khu vực Dự án
(Dữ liệu chỉ dựa vào các loài đã thu thập)
Địa điểm nghiên cứu (Dựa vào số loài thu thập trong nghiên cứu Số lượng loài độc nhât
thực địa, trong ô và ngoài ô tiêu chuẩn)
Huyện A Lưới, xã Hồng Kim và Hồng Vân 72
Trang 304.3.1 Huyện Nam Đông, Xã Thượng Quảng
Vị trí được chọn cho sự phân tích là xã Thượng Quảng thuộc huyện Nam Đông, là vùng đồi có
độ cao ưu thế ở 300- 450 m trên mặt biển Các sườn dốc và đỉnh núi thấp ở đây phần lớn bao
gồm đá phiến sét và đá cát (Bản ảnh 2, ảnh 10, 12, 16) Ở phần phía tây có độ cao thấp hơn, đá granít cổ bị bào mòn là loại đá mẹ cơ bản (Bản ảnh 2, ảnh 14,15) Các vách đá phiến sét phân
bố ở gần đỉnh của các chỏm núi và trong những hẻm sông gắn kết với mạch thạch anh mà
thỉnh thoảng xuất hiện như các khối đá lộ dốc đứng (Bản ảnh 2, ảnh 17; bản ảnh 24, ảnh 213)
Rừng nguyên sinh bị khai thác một phần và rừng thứ sinh thường xanh cây lá rộng ở đất thấp
là kiểu thảm thực vật chính ở điểm nghiên cứu (Bản ảnh 4, ảnh 29, 32, 34) Rừng thứ sinh nửa
thưa, trảng cây bụi (thường chỉ với Nứa), các quần xã cỏ cao và Ráng rất tiêu biểu ở độ cao
thấp hơn, nhất là ở phía Tây (Bản ảnh 4, ảnh 36; bản ảnh 5, ảnh 39, 40, 42) Thảm thực vật
trong vùng này có đặc tính thứ sinh Các hoạt động khai thác một phần, ảnh hưởng của chiến tranh (đặc biệt do ném bom) và làm nông nghiệp theo lối nương rãy là các nhân tố lịch sử chính gây sự xáo trộn thảm thực vật rừng Tuy nhiên, trên các sườn dốc và dọc theo các thung lũng hẻm núi và dòng sông có bóng râm có thể vẫn còn thấy thành phần các loài thực vật nguyên sinh
Trong thời gian nghiên cứu chúng tôi đã ghi nhận ở điểm này được 322 loài Thực vật bậc cao
có mạch, thuộc 215 chi của 74 họ thực vật Một số loài sau đây đã giúp chỉ rõ đặc trưng của điểm nghiên cứu này:
Huperzia carinata, Lecanorchis sp.nov.1., Leea aequata, Lepisorus macrosphaerus, Memecylon angustifolium, Microdesmis casearifolia, Ormosia balansae, Pinanga banaensis, Pinanga paradoxa, Pteris finotii, Rhapis laosensis,
Sarcodum scandens, Sciaphila clemensiae, Styrax liseoides, Styrax
rufopilosus, Tectaria pseudodecurrens, Tectaria subdecurrens, Trigonospora ciliata
Nhiều loài trong số kể trên là các thành phần không thể thiếu của thành phần loài của rừng nguyên sinh và nhiều loài tại chỗ là đặc hữu hoặc gần đặc hữu cho điểm nghiên cứu Các
loài Arenga caudatum, Chirita colaniae, Cryptophragmium langbianense, Ormosia
balansae, Pinanga banaensis, Rhapis laosensis và Sciaphila clemensiae là chỉ thị của môi
trường sống của rừng nguyên sinh Một vài loài phát hiện ở điểm nghiên cứu này hi vọng
sẽ là loài mới cho khoa học (Aspidistra sp HAL 7010, Gastrodia sp nov và Lecanorchis
sp.nov.1; xem bản ảnh 25-27, ảnh 224-241)
Một nhóm thực vật đặc biệt khác ở điểm nghiên cứu này là các loài cỏ xâm lấn tiêu biểu
cho các quần xã thực vật thứ sinh như Cardiospermum halicacabum, Pteris ensiformis,
Pteris finotii, Sarcodum scandens, Sterculia lanceolata và Trema cannabina
4.3.2 Huyện A Lưới, Xã A Roàng
Vị trí được chọn cho sự phân tích là xã A Roàng, huyện A Lưới, nằm trong vùng núi thấp
với những dãy chính có sườn rất dốc hướng về Đông Bắc (Bản ảnh 3, ảnh 25, 27) Độ cao
chủ yếu ở điểm nghiên cứu này là 500-800 m trên mặt biển Các loại đá mẹ chủ yếu là đá
Trang 31cát và đá phiến sét (Bản ảnh 2, ảnh 13) xen với đá granít rải rác Rừng nguyên sinh rậm thường xanh cây lá rộng ở đất thấp là kiểu thảm thực vật chính ở đây (Bản ảnh 3, ảnh 25-
27) Ở độ cao thấp hơn về phía Đông Bắc là rừng thứ sinh và cây bụi Trong quá khứ, làm
nông nghiệp theo lối đốt nương làm rãy là nhân tố chính gây xáo trộn thảm thực vật Việc xây dựng đường to, và liên quan với nó làm xói mòn và là các nhân tố phá hủy nghiêm
trọng thảm thực vật rừng nguyên sinh ở đây trong thời gian gần đây (Bảng 32, 33; ảnh
287-291) Tuy nhiên, nhìn chung thảm thực vật ở điểm nghiên cứu này vẫn còn mang các
đặc điểm khá nguyên sinh với cấu trúc ổn định của các loài tại chỗ tiêu biểu cho rừng nguyên sinh ở khu vực này Sự tham gia của các loài xâm chiếm trong cấu trúc thảm thực vật ở đây kém mãnh liệt hơn so với các điểm nghiên cứu khác
Chúng tôi đã thu thập được 231 loài Thực vật bậc cao có mạch, thuộc 162 chi, của 57 họ Một số loài sau đây đã giúp chỉ rõ đặc trưng của điểm nghiên cứu này:
Lasianthus wallichii, Lecanorchis sp.nov.2., Licuala fatua, Liparis balansae, Liparis tixieri, Lophopetalum wightianum, Loxogramme avenia
Medinilla assamica, Phoebe tavoyana, Stereosandra javanica, Thelasis pygmaea, Thrisxpermum
formosanum
Tất cả các loài trong nhóm này đều thuộc yếu tố rừng nguyên sinh Chúng làm nổi bật tính chất tại chỗ củađiểm nghiên cứu này Số loài đặc hữu hoặc gần đặc hữu ở đây khá cao, bao
gồm Blastus pauciflorus, Ceratostylis siamensis, Cleisostoma simondii, Collabium
chinense, Diplopanax vietnamensis, Eria obscura, Lecanorchis sp.nov.2., Liparis balansae
và Liparis tixieri Một vài loài trong nhóm này (Diplopanax vietnamensis) là loài ưu thế
của tầng tán cao nhất của rừng nguyên sinh Các loài không có diệp lục cộng sinh với nấm
(Burmannia sp., Lecanorchis sp.nov.2., Stereosandra javanica) chỉ ra rằng ở nhiều nơi của
điểm nghiên cứu vần bảo tồn được tầng đất ẩm giầu mùn
Các loài đặc trưng cho điểm nghiên cứu đã được lựa chọn (bao gồm cả một số loài chưa
xác định đến bậc loài) trình bày trong các bản ảnh 27, hình 242, 243 và bản ảnh 28, ảnh
244-247 Một vài loài trong số này có như Phyllagathis sp (HAL 7400) và Lecanorchis sp
(HAL 7247) có thể là loài mới cho khoa học
4.3.3 Huyện A Lưới, Các Xã Hồng Kim và Hồng Vân
Vị trí được chọn cho sự phân tích là các xã Hồng Kim và Hồng Vân thuộc huyện A Lưới,
đại diện cho một khu vực đồi núi nâng lên về phía Đông Bắc thành hệ thống núi thấp (Bản
ảnh 1, ảnh 3, 4) Các đồi và núi trong khu vực là rất dốc, thường xuất hiện ở các vách dốc
đứng và dốc thẳng đứng cao, đặc biệt là dọc theo các hẽm núi (Bản ảnh 1, ảnh 6-8) Các kiểu đá mẹ chính trong khu vực là đá phiến sét (Bản ảnh 1, ảnh 6-9) với rải rác đá granít,
thường phổ biến ở độ cao thấp hơn Phần phía Tây Nam của điểm nghiên cứu là các thung
lũng dọc sông suối rộng lớn với đất đá phiến và granít thô bồi tụ (Bản ảnh 1, ảnh 4) Độ
cao trung bình từ 600-1100 m (điểm cao nhất của điểm nghiên cứu là phía Đông Bắc lên tới 1150 m trên mặt biển)
Rừng thứ sinh rậm và nửa rậm thường xanh cây lá rộng ở đất thấp và trảng cây bụi thứ sinh
là kiểu thảm thực vật phổ biến nhất (Bản ảnh 4, ảnh 33; bản ảnh 5, ảnh 37, 38) Ở góc
phía Đông Bắc của điểm nghiên cứu, độ cao lên đến 1150 m trên mặt biển là mảng rừng
Trang 32thường xanh cây lá rộng ở núi thấp còn sót lại Những khối rừng lớn còn sót lại đã thấy trên sườn dốc núi phía Đông Bắc của điểm nghiên cứu) Các quần xã cỏ thứ sinh và Ráng
cũng phổ biến (Bản ảnh 5, ảnh 41) Chúng đặc biệt tiêu biểu cho những khu vực bị ảnh hưởng của các chất hóa học gây rụng lá với cường độ cao trong thời kỳ chiến tranh (Bản
ảnh 32, ảnh 285, 286) Chúng tôi cũng đã quan sát các quần xã như vậy trên quy mô lớn ở
phía Tây Nam của điểm nghiên cứu Sự tái sinh của thảm cây gỗ ở đây không có hoặc rất
nghèo nàn (Bản ảnh 32, ảnh 285, 286) Việc đốn gỗ trầm trọng, đốt nương làm rãy, ném
bom và sử dụng chất khai quang (với cường độ từ thấp đến vừa và mạnh) trong thời gian chiến tranhlà các nhân tố chính gây xáo trộn thảm thực vật rừng Các loài tại chỗ nguyên sinh phổ biến sống sót ở dọc suối và các hẽm núi,thung lũng hoặc ở các vùng được che bóng, thông thường ở sườn Bắc Tuy nhiên, chúng là các loài cỏ và cây bụi Các loài cây
gỗ tại chỗ không thấy hoặc rất hiếm khi sót lại
Chúng tôi đã ghi nhận được tổng số 253 loài Thực vật bậc cao có mạch, thuộc 213 chi của
87 họ Một số loài sau đây đã giúp chỉ rõ đặc trưng của điểm nghiên cứu này:
Eria pusilla, Eulophia spectabilis, Fagraea auriculata, Flickingeria angustifolia, Gelsemium elegans, Gleichenia truncata, Hoya multiflora, Licuala ternata, Luisia psyche, Lysimachia chapaensis, Malaxis ophridis,
Melientha suavis, Meliosma simplicifolia, Melodinus myrtiflorus, Monochoria ovata, Nepenthes mirabilis, Ophioglossum reticulatum, Ormosia cambodiana, Paphiopedilum appletonianum, Phaius longicornu, Prunus ceylanica, Rauvolfia cambodiana, Rhomboda petelotii,
Rhopalocnemis phalloides, Selaginella tamariscina, Sphenomeris chinensis, Sporoxeia sp., Stixis scandens, Tainia latifolia, Tectaria polymorpha, Tetracera scandens, Thottea sp nov
Utricularia odorata, Utricularia scandens, Woodwardia harlandii, Youngia japonica
Vai trò của một nhóm loài đại diện cho các yếu tố tiêu biểu của các quần xã thực vật thứ
sinh ở điểm nghiên cứu là rất cao, trung bình trên 30% Các loài này là Alniphyllum
fortunei, Arundina graminifolia, Breynia fruticosa, Callicarpa rubella, Cissampelos pareira, Diplopterygium blotianum, Drymaria diandra, Elaeagnus sp., Embelia ribes, Eulophia spectabilis, Euodia crassifolia, Euodia sutchuenensis, Gelsemium elegans, Gleichenia truncata, Litsea cubeba, Lygodium salicifolium, Melodinus myrtiflorus, Ophioglossum reticulatum, Pericampylus glaucus, Rauvolfia cambodiana, Saurauia tristyla, Stixis scandens và Tetracera sarmentosa Các loài khác thuộc nhóm khá tiêu biểu
cho các quần xã thực vật nguyên sinh Đó là Actinidia latifolia, Aristolochia contorta,
Aspidopteris sp nov., Asplenium tenuifolium, Betula alnoides, Bousigonia mekongense, Calymnodon asiaticus, Chloranthus erectus, Cibotium barometz, Dischidia acuminata, Engelhardia roxburghiana, Eria corneri, Fagraea auriculata, Hoya multflora, Licuala ternata, Malaxis ophridis, Melientha suavis, Meliosma simplicifolia, Microlepia hookeriana, Monochoria ovata, Nepenthes mirabilis, Ormosia cambodiana, Rhopalocnemis phalloides, Sphenomeris chinensis, Sporoxeia sp., Tectaria polymorpha và Woodwardia harlandii
Toàn bộ tính đa dạng thực vật của điểm nghiên cứu tăng lên khithu thập ở độ cao hơn của phần Tây Bắc, nơi có một số đỉnh núi lên đến 1150 m trên mặt biển Các loài của nhóm
này khá phổ biến ở đai núi thấp Đó là Anemone sumatrana, Dipteris conjugata,
Epigeneium chapaense, Flickingeria angustifolia, Gordonia axillaris, Luisia psyche, Lysimachia chapaensis, Paphiopedilum appletonianum, Prunus ceilanica, Rhomboda petelotii và Tainia latifolia Chúng không thể mọc ở độ cao thấp hơn và không thấy ở các
địa điểm nghiên cứu khác
Trang 33Nhiều vách đá là nơi sống của các quần xã thực vật đặc biệt sống bám trên đá Các loài tại chỗ sống bám trên đá làEria pusilla, Phaius longicornu và Selaginella tamariscina Các
loài thực vật sống ở dưới nước hoặc ít nhiều ở dưới nước trong các thung lũng suối ẩm thu
thập được là Ceratopteris thalictroides, Monochoria ovata và đặc biệt là chi Utricularia
Trong số các loài đặc hữu và gần đặc hữu được chúng tôi tìm thấy trong điểm nghiên cứu
là các loài đáng chú ý đặc biệt như Epigeneium chapaense, Ormosia cambodiana,
Paphiopedilum appletonianum, Phaius longicornu, Rauvolfia cambodiana và Rhomboda petelotii Một số loài này có ý nghĩa làm cảnh cao (Paphiopedilum appletonianum, Phaius longicornu) hay làm thuốc (Rauvolfia cambodiana)
Chúng tôi đã lựa chọn một số loài thực vật (bao gồm một số chưa được xác định đến mức
độ loài) để minh họa trong bản ảnh 28-30, ảnh 248-263 Một loài trong số đó có tên
Achasma sp (HAL 7547) có thể được mô tả là loài mới cho khoa học Một số loài thực vật
được minh họa khác là những loài đang muốn trồng làm cảnh với lá đặc sắc và hoa sặc sỡ
(Impatiens spp HAL 7528, Nepenthes mirabilis, Selaginella tamariscina, Phaius
longicornu và Paphiopedilum appletonianum)
4.3.4 Huyện A Lưới, Xã Hương Nguyên
Rộng rãi, gần như bằng phẳng, các thung lũng sông và quanh các đồi núi là tiêu biểu cho điểm nghiên cứu này Các địa khảo sát trải rộng từ thung lũng sông suối ở độ cao khoảng
80 m trên mặt biển lên tới các đỉnh đồi cao nhất 300 m Đây là khu vực thấp nhất của tất cả các điểm nghiên cứu trong đợt điều tra hiện nay Đá mẹ chiếm ưu thế là các loại phiến đá
sét khác nhau (Bản ảnh 2, ảnh 11) với một ít đá cát rải rác Đất phù sa phiến sét gồ ghề
lấp đầy các thung lũng sông và suối Đây là vùng bị khai thác gỗ từ lâu nên không còn rừng nguyên sinh nữa Rừng thứ sinh rậm và nửa rậm, trảng cỏ và trảng cây bụi là các
quần xã thực vật hình thành chính gặp ở điểm nghiên cứu này (Bản ảnh 4, ảnh 35) Một
số mảnh rừng nguyên sinh rất nghèo nàn còn sót lại ở vài điểm dọc theo các đỉnh đồi và ở sườn Bắc dựng đứng Tuy nhiên, ở điểm nghiên cứu này vẫn còn gặp một số loài, nhất là
cỏ của nhân nguyên sinh tại chỗ Chúng thường sống sót dọc theo các thung lũng và các hẻm núi đá ẩm ướt Một số cây trưởng thành của các loài cây gỗ tại chỗ vẫn thỉnh thoảng thấy trên các đỉnh đồi và các sườn dốc cao
Chúng tôi đã ghi nhận được 221 loài Thực vật bậc cao có mạch, thuộc 180 chi của 69 họ Một số loài sau đây đã giúp định rõ đặc trưng của vị trí nghiên cứu này:
Microdesmis casearifolia, Naravelia laurifolia, Paederia microcephala, Parkia sumatrana, Pronephrium triphyllum, Pteridium aquilinum, Rhynchothecum obovatum, Robiquetia spathulata,
Sapium discolor, Streblus ilicifolia, Tacca plantaginea, Tectaria decurrens, Turpinia cochinchinensis, Uncaria cordata, Zingiber sp
Số lượng loài đặc biệt đại diện cho các quần xã thực vật thứ sinh là rất cao, trung bình
khoảng 43,9% Những loài này là Acacia pennata, Albizia corniculata, Ancistrocladus
cochinchinensis, Boehmeria macrophylla, Clausena excavata, Derris acuminata, Embelia scandens, Macaranga denticulata, Maclura cochinchinensis, Maesa indica, Microdesmis casearifolia, Naravelia laurifolia, Paederia sp., Pteridium aquilinum, Rubus alceaefolius,
Trang 34Sapium discolor, Turpinia cochinchinensis và Uncaria cordata Một số loài trong nhóm
này như Pteridium aquilinum có thể xuất hiện nhiều nhất trong các quần xã Ráng và cỏ
trên đất bị thoái hóa mạnh ở các khu vực bị phát quang rộng lớn
Các loài thực vật đặc biệt khác ở điểm nghiên cứu thuộc nhóm khá tiêu biểu cho các quần
xã thực vật nguyên sinh Các loài vùng đất rừng thuộc nhóm này là Amomum unifolium,
Artocarpus melinoxyla, Dysoxylon sp., Geophila repens, Gordonia intricata, Lemmaphyllum microphyllum, Parkia sumatrana, Pothos repens, Pronephrium triphyllum, Rhynchothecum sp., Robiquetia spathulata, Streblus ilicifolia, Zingiber sp và Tectaria decurrens Một vài loài trong số đó như Parkia sumatrana và Streblus ilicifolia là cùng ưu
thế của tán cây gỗ và cây bụi và đóng vai trò rất quan trọng trong các quần xã thực vật ở điểm nghiên cứu này
Các loài thực vật tiêu biểu của thung lũng sông suối đất bồi tụ thấp tạo nên một nhóm
khác Đó là loài cây gỗ Allospondias lakonensis, cây bụi (Adina pilulifera, Elaeocarpus
hainanensis) và các loài cỏ (Athyrium mackinnonii, Diplazium subsinuatum, Donax cannaeformis, Lindsaea lucida, Tacca plantaginea)
Amomum unifolium và Arundina chinensis là hai loài đặc hữu của Việt Nam tìm thấy ở
điểm nghiên cứu này Loài thứ hai là loài mọc trên đá rất hiếm ở thung lũng sông thấp cho đến gần đây chỉ mới gặp ở một điểm của Việt Nam (tỉnh Gia Lai) Loài này có ý nghĩa quan trọng để trồng làm cảnh
Chúng tôi đã lựa chọn một số loài thực vật (bao gồm cả một số chưa xác định đến mức
loài) để minh họa trong bản ảnh 30-31, ảnh 264-274 Một số loài có tên Aspidistra sp
(HAL 7761) và Amomum sp (HAL 7896) có thể là loài mới cho khoa học Aponogeton
robinsonii, một loài đặc hữu mọc dưới nước được phát hiện ở điểm nghiên cứu này là chỉ
thị cho môi trường nước sạch ở các dòng suối của rừng mới bị thoái hóa
4.3.5 Huyện Hương Thủy, Xã Dương Hòa
Vị trí được chọn cho sự phân tích là xã Dương Hóa thuộc huyện Hương Thủy Nó bao gồm
phần chính là khu vực đồi thấp và núi (Bản ảnh 1, ảnh 9) Độ cao từ 200 m trên mặt biển,
ở các thung lũng sông trải rộng và bằng phẳng (Bản ảnh 1, ảnh 2) tới các rặng núi cao với đỉnh lên tới 825 m (Bản ảnh 1, ảnh 9; bản ảnh 4, ảnh 28; bản ảnh 24, ảnh 210) Hệ
thống đồi núi ở điểm nghiên cứu này bị chia cắt từ Bắc đến Nam bởi các hẻm núi sâu, phổ
biến với các vách đá dốc đứng (Bản ảnh 1, ảnh 5) Đá phiến cấu kết với các mạch quáczít
là kiểu đá mẹ chính ở khu vực nghiên cứu này (Bản ảnh 1, ảnh 5) Trên đỉnh núi cao nhất (thuộc dãy Mang Chan) chúng tôi đã quan sát thấy có nhiều tảng quáczít nhô lên (Bản ảnh
2, ảnh 18)
Rừng nguyên sinh giầu bị khai thác một phần và rừng thứ sinh rậm thường xanh cây lá
rộng ở đất thấp là các kiểu thảm thực vật ưu thế ở điểm nghiên cứu (Bản ảnh 4, ảnh 28,
30) Đồng thời, ở độ cao thấp nhất, đặc biệt trên các vách dốc lưu vực sông và dọc theo các
thung lũng sông rừng thứ sinh nửa rậm, trảng cây bụi vàtrảng cỏ thứ sinh chiếm ưu thế trên
các khu vực rất rộng lớn (Bản ảnh 1, ảnh 2; bản ảnh 20, ảnh 174) Tuy nhiên, ở nhiều
điểm nghiên cứu rừng ven sông suối vẫn còn giầu các loài thực vật tại chỗ và các quần xã
thực vật nguyên sinh hầu như không bị thay đổi (Bản ảnh 20, ảnh 178, 180) Chúng tôi đã
quan sát thấy thảm thực vật trên đá có thành phần loài rất phong phú đặc biệt tiêu biểu cho
các khối quáczít lộ đầu trên một số đỉnh núi cao nhất ở điểm nghiên cứu (Bản ảnh 24,
ảnh 210, 212)
Trang 35Việc khai thác ở mức độ vừa phải là nhân tố chính gây xáo trộn thảm thực vật nguyên sinh trên các khu vực rộng lớn của điểm nghiên cứu này Việc phun các chất hóa học gây rụng
lá đã phá hủy nghiêm trọng thảm thực vật trên nhiều đỉnh núi cao nhất mà hiện nay vẫn chỉ được bao phủ bới các quần xã tre nứa nghèo nàn Ở những độ cao thấp trong phần Đông của điểm nghiên cứu không có thảm thực vật nguyên sinh vì toàn bộ đã bị cháy và khai thác kiệt
Chúng tôi đã ghi nhận được 263 loài Thực vật bậc cao có mạch, thuộc 184 chi của 67 họ Một số loài sau đây đã giúp xác định đặc trưng của vị trí nghiên cứu này:
annamense, Eria floribunda, Eria lasiopetala, Flagellaria indica, Grewia bullot, Harmandia mekongensis, Knoxia sumatrensis, Liparis petelotii, Luvunga scandens,
Manglietia rufobarbata, Peperomia parcilia, Phymatosorus scolopendria, Polygala tonkinensis, Popowia cambodiana, Pristiglottis saprophytica, Prosaptia urceolare, Rhapis excelsa, Schizaea dichotoma, Scindapsus schotii,
Stenochlaena palustris, Strychnos wallichiana, Taeniophyllum pahangense, Vaccinium dunalianum Viola betonicaefolia, Xerospermum noronhianum.
Phần lớn nhất các loài thuộc các loài tại chỗ tiêu biểu cho các quần xã thực vật nguyên sinh Chỉ có 3 loài của nhóm này là khá phổ biến trong kiểu thảm thực vật thứ sinh, cụ thể
làBrucea javanica, Luvunga scandens và Micromelum falcatum Nhóm này chiếm không
đến 6,3% số loài đặc trưng cho điểm nghiên cứu Tất cả các loài duy nhất cho điểm nghiên cứu là thành phần không thể thiếu của các quần xã thực vật tại chỗ nguyên sinh tiêu biểu cho điểm nghiên cứu Trong số đó có nhiều loài thực vật sống bám trên cây như
Dendrobium nobile, Dendrobium ochraceum, Eria lasiopetala, Phymatosorus scolopendria, Taeniophyllum pahangense và Scindapsus schotii Nhiều khối đá nhô lên
dọc theo các hẻm suối và trên các đỉnh núi tạo nên môi trường sống cho một tập hợp giàu
các lòai sống bắt buộc trên đá Trong số đó có các loài rất hiếm, cụ thể như Appendicula
cornuta, Argostemma sp., Bulbophyllum sigaldiae, Dendrobium aduncum, Elaphoglossum annamense, Eria floribunda, Liparis petelotii, Peperomia parcilia, và Viola betonicaefolia
Một số loài cây bụi phổ biến trên đá có thể chỉ tìm thấy ở những nơi có nhiều quáczít nhô
lên dọc theo các rặng núi cao nhất trên đất axít đặc biệt (Camellia spp., Vaccinium
dunalianum)
Những yếu tố rừng rừng nguyên sinh thực thụ hình thành một nhóm lớn nhất của các loài
đặc biệt cho địa điểm nghiên cứu Những loài này là Adiantum flabellulatum, Aquilaria
sp., Asystasia sp., Atalantia sp., Bolbitis heteroclita, Campylospermum striatum, Gonocaryum lobbianum, Grewia bullot, Harmandia mekongensis, Knoxia sumatrensis, Lophaterum gracile, Manglietia rufobarbata, Polygala tonkinensis, Popowia sp., Prosaptia sp., Pteris semipinnata, Rhapis excelsa, Schizaea dichotoma, Strychnos wallichii
và Xerospermum noronhianum
Các loài tiêu biểu cho các quần xã cỏ đầm lầy ngập nước của các thung lũng suối trong địa
điểm nghiên cứu là Flagellaria indica và Stenochlaena palustris Chúng tôi đã phát hiện
và ghi nhận một loài Lan hiếm cộng sinh với nấm không có diệp lục có tên Pristiglottis
saprophytica ở điểm nghiên cứu Điều này chỉ ra rằng đất ở đây còn rất tốt, tiêu biểu cho
rừng nguyên sinh Trong số các loài đặc hữu và gần đặc hữu thì các loài đáng chú ý là
Bulbophyllum sigaldiae, Campylospermum striatum, Dendrobium ochraceum, Harmandia mekongensis, Liparis petelotii, Pristiglottis saprophytica và Taeniophyllum pahangense
Trang 36Chúng tôi đã lựa chọn các loài thực vật để minh họa trong bản ảnh 31-32, ảnh 275-284
Một số loài có tên Argostemma sp (HAL 8127) và Amomum sp (HAL 8150) có thể được
mô tả là loài mới cho khoa học Việc phát hiện ở điểm nghiên cứu loài Dendrobium
ochraceum, một loài đặc hữu địa phương rất hiếm có ý nghĩa quan trọng Nó có giá trị lớn
để trồng làm cảnh hay đểlai tạo những dạng Lan mới để trồng
4.4 Sử Dụng Lan như Mô Hình để Phân Tích Hệ Thực Vật
Họ Lan (Orchidaceae) được sử dụng như là một taxôn chỉ thị để phân tích sơ bộ hệ thực vật và để so sánh với thảm thực vật của các khu vực bởi vì nó là họ thực vật duy nhất ở Việt Nam mà hiện nay có đủ dữ liệu để so sánh Lan là họ thực vật có hoa lớn nhất trong
hệ thực vật Việt Nam, bao gồm đại diện của tất cả các yếu tố địa lý và hệ thực vật xuất hiện ở những môi trường sống Hơn nữa, họ này bao gồm nhiều taxôn bị đe dọa tuyệt chủng với giá trị bảo tồn cao Các dẫn liệu sơ bộ cơ bản thu được từ việc phân tích và so sánh họ này có thể ngoại suy cho toàn bộ khu vực của Dự án Hành lang xanh
Tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn có khoảng 375 loài Lan, thuộc 103 chi (Averyanov và cộng sự 2003a) Trong đó 22 loài là đặc hữu địa phương của vùng nghiên cứu (Averyanov và cộng sự 2003a; Averyanov and Averyanova, 2003; bao gồm cả các dẫn
liệu gốc của nghiên cứu này) Những loài này là Anoectochilus acalcaratus, A echinatus,
Aphyllorchis annamensis, Arundina chinensis, Bulbophyllum averyanovii, B hiepii, B ngoclinhensis, B orientale, Cleisostoma equestre, Cymbidium banaense, C wilsonii, Dendrobium amabile, D kontumense, D ochraceum, D oxyphyllum, Epipactis atromarginata, Eria carunculosa, Gastrochilus simplicilabius, Gastrodia sp.nov., Lecanorchis sp.nov.1, Lecanorchis sp.nov.2, Pleione vietnamensis, P umbrosa Saccolabiopsis sp.nov., Taeniophyllum fasciculatum, Thrixspermum poilanei và Vanilla pierrei (Bảng 8.0)
Hệ thực vật của khu vực Dự án Hành lang xanh và hệ thực vật của VQG Bạch Mã bao gồm
một số loài đặc hữu Trung Trường Sơn (Anoectochilus echinatus, Arundina chinensis,
Dendrobium amabile, D kontumense, D ochraceum), cũng như số loài đặc hữu cho Đông
Dương (Anoectochilus lylei, B flabelloveneris, Ceratostylis siamensis, Dendrobium
uniflorum, Didimoplexiopsis khiriwongensis, Taeniophyllum pahangense) và Việt Nam
(Bulbophyllum astelidum, Bulbophyllum sigaldiae, Cleisostoma melanorachys,
Cleisostoma simondii, Eria obscura, E thao, Epigeneium chapaense, Eria gagnepainei, L chapaensis, L tixieri, Liparis balansae, Listera latilabris, Neuwiedia balansae, Phaius longicornu, Pholidota guibertiae, Pristiglottis saprophytica, Pteroceras simondianum, Rhomboda petelotii, Thrixspermum annamense, Vanilla annamica) Một số loài có vị trí
phân loại rất cách ly thể hiện mức đặc hữu cao của các điểm nghiên cứu Công việc kiểm
kê ở cả hai hệ thực vật vẫn chưa được hoàn thành, và mỗi khám phá mới đều mang lại cho chúng ta nhiều điều hiểu biết về vấn đề này
Đội điều tra đã khám phá và ghi nhận 4 chi (Gastrodia, Pristiglottis, Robiquetia và
Stereosandra) và 19 loài Lan mới cho hệ thực vật của tiểu vùng địa lý thực vật Trung
Trường Sơn (Apostasia odorata, Bulbophyllum clandestinum, B macranthum, Cleisostoma
melanorachys, Eria floribunda, E gagnepainei, E pusilla, Eulophia spectabilis, Liparis chapaensis, L petelotii, L stricklandiana, L tixieri, Neuwiedia balansae, Oberonia rufilabris, Pristiglottis saprophytica, Robiquetia spathulata, Stereosandra javanica, Thrixspermum fragrans và T pricei) Một số loài hy vọng có thể là mới cho khoa học như Gastrodia sp.nov., Lecanorchis sp.nov.1, Lecanorchis sp.nov.2 và Saccolabiopsis sp.nov
Trang 37Bảng 8.0 Các loài Lan của tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn được ghi nhận ở vùng nghiên cứu của Dự án Hành làng xanh và VQG Bạch Mã
Các loài Lan của tiểu vùng hệ
thực vật Trung Trường Sơn
Vùng nghiên cứu của
Dự án
VQG Bạch
Dự án
VQG Bạch
Trang 38Các loài Lan của tiểu vùng hệ
thực vật Trung Trường Sơn
Vùng nghiên cứu của
Dự án
VQG Bạch
Dự án
VQG Bạch
Trang 39Các loài Lan của tiểu vùng hệ
thực vật Trung Trường Sơn
Vùng nghiên cứu của
Dự án
VQG Bạch
Dự án
VQG Bạch
Trang 40Các loài Lan của tiểu vùng hệ
thực vật Trung Trường Sơn
Vùng nghiên cứu của
Dự án
VQG Bạch
Dự án
VQG Bạch
Chú thích:
(Các dẫn liệu của tiểu vùng Trung Trường Sơn dựa vào Averyanov và cộng sự, 2003a và Averyanov và
Averyanova, 2003; 2005a,b) Các dẫn liệu của vùng nghiên cứu chỉ dựa duy nhất vào nghiên cứu thực địa và chưa bao gồm một số lượng lớn các loài đã thu thập và ghi nhận nhưng cần phân tích hình thái trong phòng thực vật để xác định tên chính xác Các dẫn liệu cho VQG Bạch Mã dựa vào Averyanov và Nguyễn Tiến Hiệp, 2003 và Averyanov và Averyanova, 2003; 2005a,b Những dẫn liệu liên quan khác có giá trị khoa học thấp (Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô, 2003) không thể sử dụng được vì chúng bao gồm các loài được suy đoán cao không dựa vào các mẫu vật thực vật thu thập)
• Những loài không có dấu chữ thập có nghĩa là chúng được trích dẫn trong tài liệu nhưng chưa được thu thập trong khu vực Dự án Hành lang xanh
• Tên của các đặc hữu địa phương của tiểu vùng Trung Trường Sơn được in đậm
• Tên của các loài được phát hiện lần đầu tiên cho tiểu vùng được đánh bằng dấu *
• Tên của các loài mới và nghi ngờ mới cho khoa học được phát hiện trong vùng nghiên cứu trong thời gian nghiên cứu thực địa được đánh bằng dấu**
Hiện tại, chúng tôi đã ghi nhận được khoảng 100 loài Lan (27% số loài Lan của hệ thực vật Trung Trường Sơn) trong vùng nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh và khoảng 107 loài (29% tương ứng) được ghi nhận cho VQG Bạch Mã (Averyanov và cộng sự, 2003a và Averyanov và Averyanova, 2005a,b; Averyanov và Hiệp, 2003) Cả hai hệ thực vật bao gồm chủ yếu các loài Lan ở đất thấp Hệ Lan trong vùng Dự án Hành lang xanh và VQGBạch Mã là ít nhiều tương tự Có khoảng 69% số loài gặp ở cả hai khu vực nghiên cứu (Bảng 9.0) Các loài gặp chung cho cả hai hệ thực vật cũng như các loài riêng biệt cho từng vùng được liệt kê bên dưới
Bảng 9.0 Sự so sánh số lượng loài Lan của các hệ thực vật vùng nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh và VQG Bạch Mã
Các loài Lan chỉ gặp
ở VQG Bạch Mã
Các loài Lan gặp trong cả hai hệ thực vật
138 31 38 69 100% 22.5% 27.5% 50.0
Sau đây là danh sách các loài Lan được ghi nhận trong cả hai hệ thực vật của vùng nghiên cứu của Dự án Hành lang xanh và VQG Bạch Mã:
C melanorachys,
C striatum, Collabium chinense, Cryptostylis arachnites, Cymbidium aloifolium,
C dayanum,
C lancifolium, Dendrobium aduncum,
E gagnepainei,
E lasiopetala,
E obscura,