Trong đó, hoạt động đầu tư ra nước ngoài nổi lên như một xu thế chung của các quốc gia, nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tận dụng nguồn tài nguyên và nhân
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, các hoạt động đầu tư ngày càng phát triển sôi động ở phạm vi cả trong nước và trên thế giới Trong đó, hoạt động đầu tư ra nước ngoài nổi lên như một xu thế chung của các quốc gia, nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tận dụng nguồn tài nguyên và nhân lực ở nước tiếp nhận, tránh hàng rào bảo hộ và tận dụng các chính sách ưu đãi của nước sở tại, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Ngành dầu khí nước ta hôm nay có vị trí trong cộng đồng các quốc gia khai thác dầu trên thế giới và đứng thứ ba ở khu vực Ðông - Nam Á Với lòng yêu nghề và khát vọng tìm dầu, những người làm dầu khí nước ta không chỉ nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, mà còn vượt qua những thách thức để tìm kiếm, khai thác nhiều dầu và khí cho Tổ quốc Nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng PVN ngày càng lớn mạnh, phát triển bền vững, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cùng với việc thúc đẩy các hoạt động điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò gia tăng trữ lượng tài nguyên dầu khí trên đất liền và thềm lục địa Việt Nam, mở rộng hoạt động đầu tư tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài, cùng với đó là phát triển các nghành kinh doanh - dịch vụ liên quan đến dầu khí được xem là hướng đi chiến lược của Tập đoàn Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu tích cực, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn tồn tại khá nhiều vướng mắc, khó khăn Có thể
kể đến một số những khó khăn chính mà các doanh nghiệp phải đối mặt
Trang 2như: khuôn khổ pháp lý thiếu đồng bộ và minh bạch, tình trạng thiếu thông tin, hiệu quả của dự án đầu tư còn chưa cao, số lượng các dự án đầu tư còn hạn chế,
Do đó, cần có sự nhìn nhận, đánh giá cụ thể và khách quan về thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm khắc phục những vướng mắc còn tồn tại, củng cố và phát huy thành tựu đã đạt được, thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phát triển hơn nữa trong thời gian tới.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài này
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của nghành dầu khí đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất
nước, chuyên đề “Tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam” tập trung xem xét tình hình đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong thời gian qua, đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại, từ đó đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong thời gian tới.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Về đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề tập trung nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
3.2 Về phạm vi nghiên cứu
Tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam từ 1999 đến nay, và tầm nhìn đến 2025.
Trang 34 Các câu hỏi nghiên cứu
- Tập đoàn Dầu khí ở Việt Nam phát triển như thế nào trong thời gian
qua đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế? Những thành tựu và hạn chế trong qua trình phát triển ?
- Tại sao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần mở rộng hoạt động đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài ?
- Để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần
tuân theo những quy định nào ? Trình tự thủ tục ra sao?
- Những hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam trong thời gian qua là gì? Hình thức nào là chủ yếu?
- Những khu vực hợp tác chủ yếu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
trong thời gian qua khi đầu tư ra nước ngoài ? Khu vực nào chiếm tỷ trọng lớn nhất ?
- Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam:
thành tựu, hạn chế ?
- Các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư trực
tiếp Tập đoàn Dầu khí ra nước ngoài?Các phương pháp, công cụ được sử dụng?
- Một số giải pháp, kiến nghị góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư của
Tập đoàn Dầu khí ra nước ngoài và nâng cao hiệu quả của hoạt động này ?
5 Các phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp tổng hợp, quan sát, nhận xét và phân tích các số liệu, phương pháp so sánh và dự báo, phương pháp duy vật biện chứng để đánh giá tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong thời gian từ năm 1999 đến nay và dự báo xu hướng phát triển đến năm 2025.
Trang 46 Kết cấu của đề tài
Ngoài danh mục các từ viết tắt, lời mở đầu, kết luận và danh mục tàiliệu tham khảo, nội dung của chuyên đề gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn dầu khí Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho Tập đoàn dầu khí Việt Nam.
Trang 5CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm, vai trò, phân loại
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Đầu tư: tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một
chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian tương đối dàinhằm thu được lợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư, cho xã hội và cộng đồng
- Ðầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) :
+ Định nghĩa của tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) đã đưa ra vào năm
1977 như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện
để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tếkhác với nền kinh tế của nhà đầu tư Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tưcòn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và
mở rộng thị trường”
+ Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam: có đưa ra định nghĩa về đầu tư
trực tiếp (phân biệt với đầu tư gián tiếp – FII (Indirect Foreign Investment)như sau “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vàtham gia quản lý hoạt động đầu tư ” (Điều 3.2 Luật Đầu tư )
- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: Theo Luật Đầu Tư Việt Nam 2005
( có hiệu lực từ ngày 1/7/2006): Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhàđầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra
Trang 6nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt độngđầu tư.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hoàn toàn vì mục đích lợinhuận Nhà đầu tư trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư,
do đó họ trực tiếp chịu trách nhiệm trước sự thành công hay thất bại trongquyết định đầu tư của mình Trong quá trình hợp tác đầu tư, quyền lợi củacác bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, tỷ lệ mỗi bên đầu tư vào dựán
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.1.2.1 Đối với nước đi đầu tư:
- Đứng trên góc độ quốc gia:
Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là cách để các quốc gia cóthể mở rộng và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc giakhác mà mình sẽ đầu tư
Mặt khác, khi đầu tư FDI nước đi đầu tư có rất nhiều có lợi về kinh tếcũng như chính trị
+ Thứ nhất, quan hệ hợp tác với nước sở tại được tăng cường và vị thếcủa nước đi đầu tư được nâng lên trên trường quốc tế
+ Thứ hai, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, khi trong nướcsản phẩm đang thừa mà nước sở tại lại thiếu
+ Thứ ba, giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động, vì khi đầu
tư sang nước khác, thì nước đó phải cần có những người hướng dẫn, hay còngọi là các chuyên gia trong lĩnh vực này Đồng thời tránh được việc phảikhai thác các nguồn lực trong nước, như tài nguyên thiên nhiên hay ô nhiễmmôi trường
Trang 7+ Thứ tư, đó là vấn đề chính trị, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợidụng những kẻ hở của pháp luật, sự yếu kém về quản lý hay sự ưu đãi củaChính phủ nước sở tại sẽ có những mục đích khác như làm gián điệp.
- Đứng trên góc độ doanh nghiệp:
Mục đích của doanh nghiệp cũng như mục đích của một quốc giathường là lợi nhuận, lợi nhuận càng nhiều càng tốt Một khi trong nước haycác thị trường quen thuộc bị tràn ngập những sản phẩm của họ và sản phẩmcùng loại của đối thủ cạnh tranh thì họ phải đầu tư ra nước khác để tiêu thụ
số sản phẩm đó Trong khi đầu tư ra nước ngoài, họ chắc chắn sẽ tìm thấy ởnước sở tại những lợi thế so sánh so với thị trường cũ như lao động rẻ haytài nguyên chưa bị khai thác nhiều.Một nguyên nhân nữa là họ có thể bánđược những máy móc và công nghệ cũ kỹ lạc hậu hay bị hao mòn vô hình dothời gian với giá cao nhưng lại là mới đối với nước nhận đầu tư (khi nướcđầu tư là nước đang phát triển).Thêm vào đó, là sản phẩm của họ được bántại thị trường này sẽ ngày càng tăng uy tín và tiếng tăm cho nó và làm tăngsức cạnh tranh đối với các đối thủ có sản phẩm cùng loại
1.1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
Đối với các nước đang phát triển: FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triểnkinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm laođộng, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này, khắc phục tìnhtrạng thiếu vốn kéo dài Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mớigiúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học – kỹ thuật mới Các tổchức sản xuất trong nước bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại,lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc công nghiệp cũng nhưhình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi Và FDI giúp tăng thucho ngân sách Nhà nước
Trang 81.1.2.3 Lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các nước đang phát triển
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho nước đầu tư sử dụng
có hiệu quả nguồn lực "dư thừa" tương đối trong nước, nâng cao tỷ suất đầu
tư, khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia Khi đầu tư trực tiếp ra nướcngoài, các quốc gia này sẽ đem các nguồn lực có lợi thế của mình để tiếnhành đầu tư và có thể sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn khi tiến hành đầu tưtrong nước bởi: trong môi trường mới, nguồn lực mà nhà đầu tư đem đi đầu
tư sẽ được khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn, các nguồn lực được khai tháctối đa
Thứ hai, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho nước đầu tư tìm kiếm
và tận dụng được các nguồn lực ở nước ngoài một cách có hiệu quả hơn ởtrong nước, xây dựng được thị trường cung cấp đầu vào ổn định với giá cảhợp lý Nguồn lực và khả năng khai thác các nguồn lực này tại mỗi quốc giakhác nhau là khác nhau Do vậy, mới dẫn đến tình trạng là có những nơi
"thừa" tương đối và "thiếu" tương đối các nguồn lực Khi tiến hành sản xuấtkinh doanh, mỗi nhà quản lý đều phải luôn tìm cách tối thiểu chi phí và tối
đa lợi nhuận nên họ cố gắng sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất
và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một giải pháp
Thứ ba, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mở rộng thị trường xuất khẩu
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một cách để thâm nhập vào thịtrường nước ngoài Thâm nhập thị trường theo cách này sẽ giúp người tiêudùng nước sở tại làm quen với sản phẩm của nước đầu tư do vậy góp phần
mở rộng thị trường xuất khẩu cho sản phẩm, thúc đẩy hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Trang 9Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các nhà đầu tư tránh được
hàng rào thương mại
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng thuế quan, hạn ngạch
và các hình thức phi thuế quan khác để kiểm soát việc xuất nhập khẩu hànghoá và dịch vụ Thông thường chính phủ của các nước kiểm soát thương mạiquốc tế nhằm mục đích tăng thu ngân sách, bảo hộ các ngành công nghiệp
và thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế của mình
Ngoài thuế quan và hạn ngạch, chi phí vận tải cũng là một bộ phậncấu thành hàng rào thương mại Các loại sản phẩm như khoáng sản, xi măng,vật liệu xây dựng có hàm lượng giá trị tương đối thấp lại cồng kềnh nênchi phí vận chuyển chúng đã thực sự làm giảm lợi nhuận biên của nhà sảnxuất và là trở ngại thực sự cho việc xuất khẩu.Trong các trường hợp nhưvậy, các nhà sản xuất thay vì xuất khẩu hàng hoá, họ xuất khẩu tư bản hayđầu tư trực tiếp nước ngoài để giảm chi phí và tránh được hàng rào bảo hộthương mại của các nước
Thứ năm, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp cho các nhà
đầu tư kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, đổi mới công nghệ thông qua việc
di chuyển công nghệ cũ, đã hao mòn về vô hình sang các nước nhận đầu tư
Thứ sáu, đầu tư trực tiếp nước ngoài nước đầu tư có thể nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, qua đó nâng cao được năng lực quản lý thông quaviệc học hỏi kinh nghiệm quản lý kinh tế
1.1.3 Phân loại đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài:
Trang 10Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được thực hiện qua 2 kênhchủ yếu là : Liên minh sát nhập ( M&A) và Đầu tư mới ( GI ).
1.1.3.1 Liên minh và sát nhập ( M&A ):
Liên minh và sát nhập là hình thức chủ yếu được thực hiện ở nhữngnước phát triển, chủ đầu tư tiến hành thông qua mua lại, liên minh và sátnhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài.Nguyên tắc cơ bản để tiến hànhsáp nhập và mua lại (M&A) là phải tạo ra được giá trị cho cổ đông, giá trịcủa công ty sau khi tiến hành M&A phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của haicông ty khi còn đứng riêng rẽ Ngoài ra, những công ty mạnh mua lại công
ty khác nhằm tạo ra một công ty mới với năng lực cạnh tranh cao hơn, đạthiệu quả về chi phí, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, hiệu quả vận hành caohơn…
Tại điều 107 và điều 108 Luật Doanh Nghiệp Việt Nam đã có địnhnghĩa rõ ràng về hình thức đầu tư này:
Hợp nhất doanh nghiệp là: “Hai hay một số công ty cùng loại (gọi làcông ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công tyhợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ vàlợi ích hợppháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bịhợp nhất”
Sáp nhập là: “Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sápnhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập)bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sangcông ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sápnhập”
Trang 111.1.3.2 Đầu tư mới (GI): là hình thức chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước
ngoài thông qua một doanh nghiệp mới, đây là kênh đầu tư thường thấy ởcác nước đang phát triển
Đầu tư mới (GI) được áp dụng thông qua các hình thức chủ yếu sau:
(1) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là hình thức mà hai hay nhiều bên hợp tác kinh doanh với nhaudựa trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh Hình thức này có đặc điểm:
Không thành lập pháp nhân mới
Hoạt động dựa trên văn bản ký kết giữa các bên Khi hết thờihạn hiệu lực thì các bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý
(2) Hình thức doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do một hoặcnhiều chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp tại nước sở tạitrên cơ sở hợp đồng liên doanh Đặc điểm:
Thành lập doanh nghiệp có tư cách pháp nhân
Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận
và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên
(3) Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Đây là hình thức doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn
bộ vốn để thành lập Đặc điểm:
Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ doanhnghiệp theo quy định của pháp luật nước sở tại Doanh nghiệp hoàntoàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên
Trang 12nước ngoài tự thành lập, quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinhdoanh.
Doanh nghiệp là một pháp nhân của nước nhận đầu tư
(4) Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh và chuyển giao.
Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước sởtại với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạtầng trong một thời gian Hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giaokhông bồi hoàn hoặc với một giá tượng trưng công trình đó cho nước sở tại
Các hình thức biến tướng của BOT là BT và BTO
- BTO là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước sở tại và nhà đầu tư
nước ngoài về việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xâydựng xong nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại Chính phủnước sở tại sẽ cùng với nhà đầu tư nước ngoài khai thác công trình đó trongmột khoảng thời gian nhất định để thu hồi vốn và đảm bảo có lãi
- BT là hình thức văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước sở tại và nhà
đầu tư nước ngoài về xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xâydựng song nhà đầu tư nước n i nhuận hợp lý
1.2 Động lực đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp
Tháng 2-2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án "Thúc đẩyđầu tư của Việt Nam ra nước ngoài" Đây được xem như "bệ phóng" cho cácdoanh nghiệp mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài với quy mô và tầm nhìn mangtính chiến lược Không chỉ tiếp tục khai thác và phát huy thế mạnh của cácthị trường truyền thống như Lào, Campuchia, các nước trong khu vực, Nga
mà còn từng bước mở rộng đầu tư sang các nước, thị trường mới như Mỹ Latinh, Đông Âu, châu Phi Vậy đâu là động lực cho các doanh nghiệp ViệtNam đầu tư ra nước ngoài?
Trang 131.2.1 Định vị trên bản đồ kinh tế thế giới
Cùng với tiếp nhận dòng vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài
là hướng đi tất yếu và phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta hiện nay nhằmtận dụng tài nguyên tại chỗ (nước tiếp nhận đầu tư), mở rộng thị trường,quảng bá hình ảnh…Đầu tư ra nước ngoài là xu thế tất yếu, đồng thời là lựachọn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay nhằmtận dụng có hiệu quả tài nguyên tại chỗ (địa bàn tiếp nhận dòng vốn đầu tư),
mở rộng thị trường,tăng cường sức cạnh tranh cũng như đẩy mạnh quảng bá,tiếp thị hình ảnh Việt Nam, vươn mình ra thế giới
1.2.2 Thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư
Trên dòng chảy toàn cầu, doanh nghiệp sẽ vươn mình ra một thịtrường rộng lớn hơn và tìm kiếm những cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mànâng cao hiệu quả sử dụng vốn.Ví dụ nhiều công ty chế biến mì ăn liền đầu
tư vào Nga, Ucraina… đã tạo ra các sản phẩm mì ăn liền hợp với khẩu vịngười châu Âu và sử dụng sản phẩm bột mì tại chỗ, nhờ đó mà giảm giáthành sản xuất
Rõ rang đây chính là cơ hội hiếm có để các nhà đầu tư Việt Nam hộinhập vào một đại dương rộng lớn hơn với những “chú cá khổng lồ” mang lạinhững cơ hội vàng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế
1.2.3 Giúp các doanh nghiệp tăng nội lực kinh doanh
Doanh nghiệp tham gia vào thị trường toàn cầu có nghĩa là tích lũykinh nghiệm trên thương trường quốc tế; học hỏi tiếp thu công nghệ và bíquyết công nghệ; sử dụng đội ngũ quản lý và khoa học kỹ thuật bản xứ…và
áp dụng những thành công ở nước ngoài vào hoạt động kinh doanh của công
Trang 14ty mẹ trong nước Tiếp thu và học hỏi là những kỹ năng quan trọng của tưduy giúp cho quá trình quản lý doanh nghiệp trở nên đồng bộ hơn, chấtlượng nguồn nhân lực được nâng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn dẫn đếntăng cường sức mạnh cho toàn bộ doanh nghiệp, tạo ra sức cạnh tranh mạnh
mẽ trên thị trường
1.2.4 Đầu tư ra nước ngoài tạo ra khả năng cho doanh nghiệp thực hiện
”chuyển giá”
Tăng chi phí và giảm doanh thu đến mức lợi nhuận âm là phương thức
để nhiều doanh nghiệp giảm thiểu mức thuế đóng góp cho toàn bộ hệ thốngcông ty đóng ở các nước khác nhau Nhờ đó mà tối đa hóa lợi nhuận thuđược Hiện nay nhiều công ty VN mở công ty con của mình tại Singapore đểthực hiện mục tiêu ”chuyển giá”, vì Singapore có môi trường kinh doanh tốtvới hệ thống thuế thấp
1.2.5 Đầu tư ra nước ngoài giúp các công ty phát triển vốn vô hình của mình
Nguồn lực trong doanh nghiệp bao gồm nguồn lực hữu hình và vôhình.Nếu như sự hữu hình làm nên một sản phẩm thì những yếu tố vô hìnhlại làm nên sức sống của sản phẩm đó trong lòng người tiêu dùng.Thươnghiệu, công nghệ, bí quyết công nghệ….của doanh nghiệp chính là nguồn vốn
vô hình đó Khi doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài cũng có nghĩa là mangtheo những yếu tố vô hình ra thi thố với bạn bè thế giới Việc mở rộng thịtrường, tăng cường giao lưu, hợp tác giữa các bên chính là làm cho thươnghiệu, công nghệ và bí quyết của mình được thế giới biết đến và công nhận
Ví dụ: thương hiệu cà phê Trung Nguyên, Phở 24, bệnh viện Châm cứu…
1.2.6 Đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp có điều kiện phân tán rủi
ro kinh doanh
Trang 15Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thế giới đầy biến động
về kinh tế – chính trị như hiện nay.Người xưa đã có câu “ không nên bỏtrứng vào một giỏ” là hàm ý về sự rủi ro trong hoạt động kinh doanh Nếudoanh nghiệp chỉ đầu tư trong nước, khi có những biến động lớn xảy ra nhưkhủng hoảng kinh tế, bất ổn chính trị thì nền sản xuất cũng lao đao theo cónghĩ là rủi ro rất lớn Nhưng khi các doanh nghiệp đã vươn mình ra thế giới,đầu tư vào nhiều nước hơn thì nguy cơ này cũng được giảm thiểu có nghĩa làmột cách phân tán rủi ro trong kinh doanh hiệu quả.Chính vì thế mà cácdòng vốn đầu tư trực tiếp trên toàn cầu hiện nay đang luân chuyển rất nhanhchóng và mạnh mẽ
Tuy nhiên đầu tư ra nước ngoài cũng không hẳn là không có nhữngnhược điển riêng của nó Đối với doanh nghiệp, đầu tư ra nước ngoài là hoạtđộng đầu tư phức tạp, nhiều rủi ro, liên quan đến luật lệ khác biệt, văn hóa,ngôn ngữ, chính trị, xã hội, sắc tộc…
Tuy có những hạn chế, nhưng theo khảo sát của UNCTAD thì lợi íchkhi đầu tư ra nước ngoài vẫn nhiều hơn, mang lại lợi ích cho các nước đi đầu
tư lẫn nước tiếp cận đầu tư, cho nên hoạt động này vẫn phát triển và ngàycàng khẳng định vai trò đối với quá trình toàn cầu hóa về kinh tế, mà VNkhông phải là ngoại lệ
1.3 Quy trình thủ tục đầu tư ra nước ngoài
Ngày nay, các doanh nghiệp VN được chính phủ khuyến khích đầu tư
ra nước ngoài Theo đó, thủ tục đầu tư ra nước ngoài được quy định nhưdưới đây
Trang 161.3.1 Cơ sở pháp lý
- Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Luật Đầu tư năm 2005
- Luật của nước tiếp nhận đầu tư
- Nghị định 108/2006/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 22/09/2006quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Đầu Tư
1.3.2 Điều kiện đầu tư ra nước ngoài
Theo quy định tại điều 76 Luật Đầu tư Để được đầu tư ra nước ngoàitheo hình thức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư phải có các điều kiện sau đây:
- Có dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam
- Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhànước đối với các trường hợp sử dụng vốn nhà nước để đầu tư trực tiếp ranước ngoài
- Được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư
- Đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài;
- Dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước tiếpnhận đầu tư chấp thuận theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư
Trang 17Mọi giao dịch chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài và vào ViệtNam liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải thực hiện thông quamột tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài bằng ngoại tệ được mở tại một tổchức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối và cung ứng ngoại hối.
Sau khi mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài nêu trên, nhà đầu tưphải đăng ký tài khoản này với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và phải đượcNgân hàng Nhà nước Việt Nam xác nhận trước khi chuyển vốn đầu tư ra
nước ngoài (khoản 2 Điều 18 Nghị định số 160/2007/NĐ-CP)
1.4 Kinh nghiệm quốc tế hoá của một số công ty dầu khí quốc gia thành công trên thế giới.
1.4.1 Petronas
Petronas (Malaysia) không có tiềm lực tài chính lớn nhưng cũng đã
tiến ra nước ngoài rất mạnh mẽ với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận dựa vào
ưu thế kinh nghiệm kỹ thuật và lợi thế của một quốc gia Hồi giáo trong quan
hệ với các nước Hồi giáo đang nắm giữ phần lớn nhất trong tổng trữ lượngdầu khí còn lại của thế giới.Gần đây Petronas đã có những thành công ngoạnmục trong các cuộc đấu thầu quốc tế giành quyền thăm dò- khai thác dầu khí
ở Trung Đông, ở Phi Châu và nhiều nơi khác mà kinh nghiệm của họ lànhững bài học rất bổ ích đối với chúng ta
Trước khi đầu tư ra nước ngoài các công ty dầu phải xác định rõ mụctiêu, đối tượng mà mình nhắm tới sao cho tương thích với tầm vóc củamình.Sau đó, điều tối quan trọng là phải hiểu biết về địa chất khu vực mộtcách tương đối đầy đủ để từ đó chọn địa bàn hoạt động sao cho ít rủi ro nhất.Công việc này thường do các viện dầu khí và các trường đại học tiếnhành, các công ty dầu tiếp tục nghiên cứu tỉ mỉ những lô, những mỏ, những
Trang 18tầng chứa…mà họ dự định tham gia đấu thầu để cùng với những kết quảnghiên cứu về luật pháp, về môi trường đầu tư nói chung, nhất là những rủi
ro để làm cơ sở cho những quyết định lựa chọn đề án, quyết định đầu tư.Khi không có đủ điều kiện để tiến hành các công việc nói trên thìPetronaschọn phương án tham gia vào các đề án đã có chủ là những công ty
có tiềm lực và uy tín lớn
1.4.2 PTTEP
PTTEP là công ty đầu tiên và duy nhất của Thái Lan hoạt động trong
lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí (E&P) với nhiệm vụ chính là thăm dò,phát triển và khai thác các nguồn dầu khí từ các mỏ trên bờ và ngoài khơi tạiThái Lan và các nước khác PTTEP đã mở rộng hoạt động kinh doanh chủyếu về thăm dò và khai thác dầu khí (E&P) khi ra đời một kế hoạch đầu tưvào E&P độc đáo như chế biến khí hóa lỏng tự nhiên bằng tàu nổi (FLNG),một cách để tăng thêm giá trị cao nhất cho các dự án mà PTTEP đang thựchiện
PTTEP cũng đang đầu tư vào thăm dò và khai thác dầu khí tại ViệtNam tại Khu B & 48/95, Block 52/97, Lô Lô 9-2 và 16-1
Hiện nay, PTTEP có 40 dự án dầu khí ở Thái Lan, Malaysia,Myanmar, Indonesia, Campuchia, Oman, Iran, Bahrain, Algérie, Ai Cập,New Zealand và Australia
PTTEP cùng với Unocal Thái Lan và Moeco Thái Lan đã đầu tư vào
dự án thăm dò dầu khí ở ngoài khơi phía Tây - Nam của Việt Nam từ năm2000
Nói chung , các công ty lần đầu đầu tư ra nước ngoài để tìm thăm dò khai thác dầu khí thường chọn phương án giảm thiểu rủi ro bằng
Trang 19kiếm-con đường liên doanh, liên danh, liên kết với các công ty khác hoặc mua các
mỏ đang khai thác
Rủi ro khó đánh giá nhất là rủi ro địa chất, rủi ro an ninh, chính trị vàrủi ro thị trường nên các công ty thường rất thận trọng, không phiêu lưutrong quyết định của mình Đối với một đơn vị sản xuất- kinh doanh thì tiêuchí quan trọng nhất là đầu tư phải có lãi
Cuối cùng để đánh giá hoạt động đầu tư trong lĩnh vực thượng nguồnngười ta dùng 3 chỉ tiêu sau đây để xem xét:
- Khả năng vất thể hóa kết quả đầu tư: Chỉ tiêu này được phản ảnh qua
số lượng phát hiện dầu khí thương mại , cụ thể là số mỏ, số trữ lượng tạichỗ, trữ lượng thu hồi gia tăng trong mỗi năm
- Hiệu quả vốn đầu tư, thể hiện qua chi phí phát hiện và chi phí khai
thác - vận chuyển trên mỗi thùng dầu trữ lượng thu hồi
- Tốc độ đưa phát hiện vào khai thác: Thông thường một công ty dầu
được đánh giá là giỏi khi thời gian từ khi phát hiện mỏ thương mại đến khikhai thác dòng dầu đầu tiên nằm trong khoảng từ 2 đến 3 năm
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đầu tư ra nước ngoài của DN
1.5.1 Tổng số dự án đầu tư ra nước ngoài
Đây là chỉ tiêu được tính trên tổng số các dự án mà một quốc gia đãtiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong một giai đoạn nhất định hay cảmột quá trình đầu tư Nếu số lượng các dự án đầu tư ra nước ngoài của cácdoanh nghiệp càng lớn thì hoạt động đầu tư trực tiếp của quốc gia đo cànglớn mạnh
1.5.2 Số lượng quốc gia có các dự án FDI của quốc gia đi đầu tư
Trang 20Chỉ tiêu này cho thấy khả năng khai thác thị trường thế giới của cácdoanh nghiệp đồng thời xem xét quốc gia nào được các nhà đầu tư quan tâmnhiều nhất và lý do vì sao nhà đầu tư lại chọn thị trường đó.
1.5.3 Quy mô bình quân của các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Đây là chỉ tiêu phản ánh số vốn đầu tư dăng ký trung bình trên một dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài của doanh nghiệp và được tính theo công thức
Quy mô bình quân 1 dự án = Số vốn đầu tư đăng ký /Số dự án đầu tư đăng
ký
1.5.4 Tốc độ tăng của nguồn vốn đầu tư
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động đầu tư trựctiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp qua các năm và được tính theo côngthức sau:
(tổng số vốn đầu tư năm nay- tổng số vốn đầu tư năm trước) * 100% Tổng số vốn đầu tư năm trước
1.5.5 Doanh thu tăng thêm / vốn đầu tư
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động đầu tư, một đồng vốn
bỏ ra thu được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì hoạtđộng đầu tư càng hiệu quả Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Doanh thu tăng thêm của năm đang xem xét so với năm trước
Vốn đầu tư của năm đang xem xét
1.5.7 Lợi nhuận tăng thêm / vốn đầu tư
Trang 21Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động đầu tư, một đồng vốn
bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi Nhuận Chỉ tiêu này càng lớn thì hoạtđộng đầu tư càng hiệu quả Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Lợi nhuận tăng thêm của năm đang xem xét so với năm trước
Vốn đầu tư của năm đang xem xét
1.6 Sự cần thiết phải tiến hành hoạt động tìm kiếm và khai thác dầu khí
ra nước ngoài
Dầu khí là ngành công nghiệp lâu đời và phát triển của thế giới,nhưng là một ngành công nghiệp trẻ của Việt Nam.Có thể nói ngành dầu khítrên thế giới đang sử dụng những công nghệ hiện đại nhất trong tất cả cáclĩnh vực và đang là ngành dẫn đầu trong phát triển và ứng dụng các côngnghệ ngày càng tiên tiến hơn Chính vì vậy mà hoạt động đầu tư ra nướcngoài chính là một trong những phương thức ngắn nhất giúp cho tất cả cácnước đang phát triển nói chung, cho ngành dầu khí Việt Nam nói riêng cóthể trực tiếp tiếp cận với trình độ khoa học kĩ thuật cao của thế giới, học hỏinhững ứng dụng mới trong công nghệ, làm quen và thích nghi với thị trườngthế giới Qua đó ngành dầu khí Việt Nam có thể nâng cao khả năng cạnhtranh, dần tạo được vị thế trong khu vực và trên thế giới
Nhận thức được vai trò quan trọng của vấn đề cung cấp năng lượngcủa thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng; với mục tiêu đảm bảo an ninhnăng lượng cho đất nước, cân đối nhu cầu năng lượng phục vu cho phát triểnkinh tế; những năm gần đây, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã không ngừngđẩy mạnh, mở rộng hoạt động đầu tư thăm dò và khai thác dầu khí ra nướcngoài Hoạt động đầu tư này không chỉ cung cấp một nguồn dầu khí bổ sung
Trang 22cho nhu cầu năng lượng của đất nước, mà còn tạo được một nguồn thu ngoại
tệ đáng kể, góp phần vào việc duy trì, phát triển nền kinh tế đất nước nóichung và ngành dầu khí nói riêng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT
NAM
2.1 Quá trình hình thành và phát triển tập đoàn dầu khí VN
2.1.1 Giới thiêu chung về PVN
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là Công ty nhà nước được Thủ tướngChính phủ Việt Nam ký quyết định; là Công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu (tên giao dịch là Tập đoàn Dầu khí
Trang 23Việt Nam) tại Quyết định số 924/QĐ-TTg ngày 18-6-2010 Tên giao dịchquốc tế là VIETNAM OIL AND GAS GROUP; gọi tắt là Petrovietnam, viếttắt là PVN.
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là một tập đoàn kinh tế mạnh của ViệtNam, được biết nhiều trong khu vực và trên thế giới
Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Tại Quyết định số 190/QĐ-TTg ngày 29-01-2011, Thủ tướng Chínhphủ Việt Nam phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Dầu khíViệt Nam PVN có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau:
a) Tiến hành các hoạt động dầu khí và ký kết các hợp đồng dầu khí với tổchức, cá nhân; tiến hành các hoạt động dầu khí theo quy định của Luật Dầukhí; tổ chức quản lý, giám sát công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chếbiên dầu khí trên cơ sở hợp đồng với các nhà thầu dầu khí, với công ty con
và với các tổ chức, cá nhân khác
b) Trực tiếp sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định củapháp luật Các quan hệ kinh tế phát sinh giữa PVN và các doanh nghiệpkhác trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam được thể hiện bằng hợpđồng kinh tế
c) Đầu tư vào công ty con, công ty liên kết; chi phối công ty con theo quyđịnh của pháp luật và điều lệ này
d) Thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu phần vốn nhà nước tạicông ty con và công ty liên kết
đ) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh trongTập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
e) Thực hiện những công việc khác mà Nhà nước trực tiếp giao cho PVN
và theo các quy định tại Điều lệ này
Trang 24 Sứ mệnh: Góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và là đầu tàu
kinh tế trong xây dựng và phát triển đất nước việt nam hùng cường
Slogan: Petrovietnam - Năng lượng cho phát triển đất nước
Tầm nhìn chiến lược đến 2025:
“Tập đoàn kinh tế dầu khí hàng đầu trong khu vực - Niềm tự hào của
dân tộc Việt Nam".
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt nam
Sau đây xin nêu vắn tắt về các lĩnh vưc hoạt động chính của Tập đoànDầu khí Việt Nam trong giai đoạn 2006- 2010:
2.1.2.1 Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí
Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí được triển khai tích cực
ở cảtrong nước và ngoài nước Việc kêu gọi đầu tư nước ngoài tiến hành tìmkiếm thăm dò dầu khí ở những lô còn mở, các lô nước sâu, xa bờ, nhạy cảm
ở trong nước và công tác tìm kiếm dự án và triển khai hoạt động thăm dòdầu khí ở nướcngoài của Petrovietnam đã thu được kết quả tốt, đã đạt đượcnhiều phát hiện dầu khí mới ở cả trong và ngoài nước
2.1.2.2 Công nghiệp khí
Trong giai đoạn 2008-2010, các hệ thống đường ống dẫn khí RạngĐông - Bạch Hổ - Bà Rịa-Vũng Tàu và Nam Côn Sơn tiếp tục được vậnhành an toàn và hiệu quả, đảm bảo ổn định nguồn khí cung cấp cho pháttriển công nghiệp và các hộ tiêu thụ dân sinh trong cả nước
Từ các đường ống dẫn khí của Tập đoàn, trong 5 năm 2006-2010 đãcung cấp cho nhu cầu tiêu thụ khí trong nước:
Trang 25- Khí khô là 35,97 tỷ m3;
- Sản phẩm khí hoá lỏng (LPG) là 1.372 nghìn tấn;
- Condensat là 385 nghìn tấn
2.1.2.3 Công nghiệp điện
Trong giai đoạn này, Tập đoàn đã hoàn thành kế hoạch về sản lượngđiện sản xuất, góp phần tích cực cùng ngành điện đảm bảo an ninh nănglượng điện quốc gia Tiến độ đầu tư các dự án điện (đặc biệt là các dự ántrọng điểm nhà nước Cà Mau 1 và 2, Nhơn Trạch 1) được đảm bảo, đã gópphần đáng kể vào việc giảm bớt căng thẳng về nguồn cung điện phục vụ chocông nghiệp, quốc phòng, dân sinh và các lĩnh vực khác
Từ năm 2007, tổng sản lượng điện Tập đoàn đã cung cấp cho lướiđiện quốc gia là 25,53 tỷ KWh, bằng 102,1% kế hoạch
2.1.2.4 Công nghiệp chế biến dầu khí
Việc đầu tư phát triển công nghiệp chế biến dầu khí được đẩy mạnh
và đã thu được nhiều kết quả quan trọng, đặc biệt Việt Nam đã chính thức cósản phẩm xăng dầu sản xuất trong nước, từ tháng 2-2009 Trong đó điểnhình là Nhà máy đạm Phú Mỹ và Nhà máy lọc dầu Dung Quất, ngoài ratrong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010, hàng loạt dự án lọc dầu và hóadầu được triển khai nghiên cứu và khởi công xây dựng
2.1.2.5 Hoạt động dịch vụ dầu khí
Hoạt động dịch vụ kỹ thuật dầu khí đã có bước phát triển vượt bậc,đạt tốc độ tăng trưởng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu toànngành Việc xúc tiến mở rộng thị trường dịch vụ sang các nước trong khu
Trang 26vực và trên thế giới gắn liền với các dự án của Tập đoàn ở nước ngoài đượctriển khai tích cực.
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
2.2.1 Luật pháp, chính sách phát triển kinh tế hiện tại của Việt Nam
Với các chính sách phát triển, cùng với đó là việc ban hành các bộ luậtchung về thương mại- đầu tư; các bộ luật ban hành sửa đổi, điều chỉnh và
bổ sung trong hoạt động dầu khí cùng với đó là các chính sách chiến lượcphát triển nghành dầu khí đã có tác động tích cực tới hoạt động đầu tư trựctiếp ra nước ngoài của Tập đoàn
2.2.2 Hê thống luật pháp của quốc gia tiếp nhận đầu tư
Tùy tình hình từng quốc gia mà Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tưvào sẽ có những quy định khác nhau về việc tiếp nhận vốn đầu tư từ nướcngoài vào Đó là các luật điều tiết dự án đầu tư vào quốc gia tiếp nhận đầu tưtương tự như các luật đầu tư, luật đầu tư nước ngoài, luật doanh nghiệp… ởViệt Nam
2.2.3 Mối quan hệ chính trị của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới
Với Việt Nam, việc xem trọng mối quan hệ chính trị với tất cả cácquốc gia trên thế giới nhằm có nền chính trị hòa bình, hợp tác cùng thúc đẩy
Trang 27kinh tế phát triển có tác động tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác giữa Tậpđoàn Dầu khí Việt Nam với các tập đoàn của các quốc gia khác trên thế giới.
2.2.4 Môi trường đầu tư của các quốc gia mà Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư vốn
Môi trường đầu tư tại quốc gia đầu tư là một trong những yếu tố làmnên thành công của một dự án đầu tư Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hiện đangđầu tư tại một vài khu vực có mức độ rủi ro cao như Venezuela, Algeria,Iran Vì vậy, nó đã có ảnh hưởng xấu đến các dự án đầu tư hiện tại của tậpđoàn Và để cho sự thành công đến được với chúng ta thì cần phải nắm rõđược tình hình thay đổi môi trường của các quốc gia tiếp nhận đầu tư
2.2.5 Nhu cầu và khả năng cung cấp dầu khí
2.2.5.1 Nhu cầu và khả năng cung cấp dầu khí của thế giới
Theo các tài liệu được công bố bởi cơ quan quản lý năng lượng Mỹ,nhu cầu năng lượng toàn cầu sẽ tăng 44% sau 20 năm nữa Các nhà khoa học
đã lên tiếng cảnh báo cộng đồng quốc tế rằng thời điểm khủng hoảng nănglượng thế giới đang đến gần khi mà các nguồn cung cấp dầu mỏ và khí đốttrên thế giới đang cạn kiệt nhanh với tốc độ 4-5% hàng năm Điều này cónghĩa là khả năng cung ứng dầu mỏ cho thế giới chỉ có thể duy trì thêmkhoảng 20 năm nữa
Đây là vấn đề đặt ra cho các quốc gia, tập đoàn trong việc tìm ranhững mỏ dầu mới và khám phá ra những nguồn năng lượng mới
2.2.5.2 Nhu cầu và khả năng cung cấp dầu khí của Việt Nam
Trang 28Theo nghiên cứu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam: Việt Nam sẽ phảiđối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn dầu khí trong tương lai không xa.Chúng ta sẽ trở thành nước nhập khẩu dầu khí trước năm 2020 Nếu khôngđảm bảo được kế hoạch khai thác các nguồn nội địa hợp lý, tình huống phảinhập khẩu năng lượng sẽ xuất hiện vào khoảng năm 2015 Điều đó cho thấyvấn đề của Việt Nam sẽ chuyển từ giới hạn trong phạm vi một quốc giathành một phần của thị trường quốc tế và chịu sự tác động thay đổi của nó.
Điều này đặt ra trọng trách nặng nề cho Tập đoàn Dầu khí Việt Namtrong việc tìm ra các mỏ dầu- khí mới trong lãnh thổ Việt Nam, cũng nhưđầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm và khai thác nhằm cung cấp đủ nhu cầucho người dân Việt Nam
2.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành ảnh hưởng đến đầu tư ra nước ngoài
Hoạt động của lĩnh vực dầu khí cũng mang những đặc điểm cơ bảncủa hoạt động đầu tư phát triển như: Đòi hỏi một lượng vốn lớn, lượng vốnnày nằm trong suốt quá trình đầu tư; thời gian tiến hành đầu tư và thời gianthu hồi vốn kéo dài; các thành quả của hoạt động đầu tư có giá trị sử dụnglâu dài; thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình sẽ tồn tại và pháthuy tác dụng ngay tại nơi đầu tư; hoạt động đầu tư phát triển diễn ra trongthời gian dài nên phải chịu mức rủi ro rất cao
Tuy nhiên, lĩnh vực của Tập đoàn dầu khí Việt Nam còn có sự khácbiệt so với các dự án đầu tư phát triển khác ở một số đặc điểm sau:
2.3.1 Công nghê cao và phức tạp
Trang 29Với đặc thù của hoạt động khai thác và thăm dò dầu khí nói chungcũng như đối với hoạt động của PVN thì công nghệ dùng trong hoạt độngkhai thác và thăm dò dầu khí thường là những công nghệ ở mức độ rất cao,
hệ thống dây chuyền, thiết bị, dàn ống dùng trong hoạt động khai thác vàthăm dò rất nhiều và vận hành thì vô cùng phức tạp, đòi hỏi một sự chuẩnxác cao độ về mặt thông số cũng như các yếu tố hỗ trợ, hậu cần
2.3.2 Dự án dầu khí cần có nguồn lực đầu tư
2.3.2.1 Dự án dầu khí đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn
Dự án dầu khí với tính chất đặc thù khai thác ở những vị trí có địa thếhiểm trở, xa đất liền, thời tiết khắc nghiệt, cùng với đó là yêu cầu công nghệcao và phức tạp Vì vậy, có thể đánh giá khách quan rằng các dự án dầu khíđều đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn
Sau đây là bảng thống kê chi phí của một số hạng mục của công tácthăm dò khai thác dầu khí :
Bảng 2.1: Bảng thống kê chi phí một số hạng mục của hoạt động đầu tư
thăm dò khai thác dầu khí (đối với 1 mỏ từ 100-200 triệu thùng)
1 Khoan thăm dò 3-5 giếng 15-30 triệu USD/ giếng
2 Khoan thẩm lượng 3-5 giếng 70-150 triệu USD/ giếng
3 Khoan khai thác 15-25 giếng 56-120 triệu USD/ giếng
Trang 304 Ống dẫn dầu 50-100 km 1 triệu USD / km
Vậy nên, sự tìm kiếm các mỏ dầu là điều kiện tiên quyết để giúp chodoanh nghiệp sản xuất- kinh doanh, cũng như đứng vững và phát triển trênthị trường trong nước và thế giới
2.3.3 Rủi ro lớn.
- Rủi ro về tài chính: Với 2 đặc điểm là công nghệ cao, phức tạp với
vốn lớn thì DN hoạt động trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí luôngặp những rùi ro lớn về mặt tài chính, đặc biệt là rủi ro tín dụng
- Rủi ro về an toàn: Rủi ro về an toàn ở đây chính là rủi ro về khai
thác, thiên tai trong quá trình hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí Doquá trình thăm dò và khai thác dầu khí chủ yếu diễn ra trên các vùng biểnngoài khơi, cách xa đất liền, điều kiện khí hậu khắc nghiệt, gây ra khó khăn
Trang 31cho việc đi lại, di chuyển, vận chuyển trang thiết bị, máy móc, đến vị tríthăm dò và khai thác
- Tranh chấp tài nguyên, rủi ro chính trị: Dầu khí là một tài nguyên
quý giá mà bất kì một quốc gia nào đều muốn sở hữu Với tầm quan trọngcủa tài nguyên dầu khí đã khiến các nước ra sức tìm kiếm và khai thác tàinguyên này Nếu các tài nguyên dầu khí trên đất liền coi như đã rõ ràng thìtài nguyên dầu khí trên biển vẫn chưa có sự nhập nhằng về quyền sở hữu tàinguyên này, lí do đó là: chủ quyền lãnh hải trên biển của các nước vẫn chưa
rõ ràng, cho đến tận bây giờ vẫn còn rất nhiều tranh chấp trên biển về lãnhhải, chủ quyền biển đảo của các nước có biển
- Tranh chấp thương mại: Trong kinh tế, tranh chấp thương mại luôn là
tranh chấp diễn ra thường xuyên nhất và có nhiều tác động nhất tới một hoạtđộng đầu tư ra nước ngoài của một DN Điều đó hoàn toàn phù hợp với tínhcạnh tranh trong nền kinh tế thị trường mà bất kì một DN hoạt động nàomuốn thành công đều phải đối mặt
2.4 Thực trạng đầu tư ra nước của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
2.4.1 Tổng mức vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2011
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, Tập đoàn đã nỗ lực tìm kiếm cơhội đầu tư ra nước ngoài Sau nhiều năm chuẩn bị, nghiên cứu, đến năm
2000 việc đầu tư ra nước ngoài đã có bước chuyển biến rõ rệt Tuy nhiênđây mới chỉ là những bước đầu, còn một số hạn chế về thủ tục đầu tư, vềtrình độ công nghệ, số dự án tham gia còn ít nên lượng vốn đầu tư còn thấp.Với số vốn hàng năm như sau:
Bảng 2.2: Tổng mức vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam đến năm 2011
Trang 32Năm Vốn
(triệu USD)
Tốc độ tăng củanguồn vốn so vớinăm trước
Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Qua bảng số liệu 2.2 ta thấy: nếu trước năm 2005 tổng lượng vốn đầu
tư nước ngoài chỉ đạt 10 triệu USD, thì đến năm 2007 là năm đánh dấu bướcnhảy vọt trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, thể hiện nỗ lực tìmkiếm các cơ hội đầu tư của Tập đoàn nhằm đạt được mục tiêu gia tăng trữlượng dầu khí của Quốc gia Tổng vốn đầu tư thăm dò khai thác dầu khí rathăm dò khai thác dầu khí của Tập đoàn trong năm 2007 là 109.5 triệu USD,cao hơn nhiều so với năm 2006 (44 triệu USD) Tận dụng vị trí chính trị củaViệt Nam trên trường quốc tế ngày một lớn mạnh và chủ trương của chínhphủ cho phép trao đổi cổ phần với một số đối tác quốc tế (các công ty dầukhí quốc tế), các năm kế tiếp đó số dự án dầu khí đầu tư ra nước ngoài ngàycàng tăng lên kéo theo sự tăng lên của nguồn vốn đầu tư của từng năm.Bước nhảy lớn nhất của nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài là vào năm 2011(theo số liệu mới nhất) là 347 triệu USD bằng 170,48% so với năm 2010 vàgấp khoảng 19 lần so với năm 2005 Đến hết năm 2011 tổng mức vốn màTập đoàn đã đầu tư ra nước ngoài đạt xấp xỉ 1008 triệu USD
Trang 332.4.2 Tình hình cụ thể các dự án đầu tư ra nước ngoài của PVN
Hầu hết các dự án của Tập đoàn hiện tại đang thực hiện đều tập trungvào lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm dầu khí với nguồn vốn tự có Xét dưới góc
độ lĩnh vực đầu tư, tính đến hết năm 2010 Tập đoàn có 21/27 dự án thăm dò
và tìm kiếm dầu khí, 5/27 dự án khai thác dầu khí và 1/27 dự án đầu tư xâydựng nhà máy thủy điện tại Lào Trong đó có 15/27 dự án là tự điều hànhchiếm 56% tổng số dự án, 6/27 dự án điều hành chung (22%) còn lại 6/27(22%) dự án là góp vốn mà không tham gia điều hành Từ đó có thể thấymức độ tự chủ của Tập đoàn trong việc đầu tư vốn ra nước ngoài và trực tiếpquản lý điều hành các dự án đó Chi tiết các dự án đầu tư trực tiếp ra nướcngoài của PVN theo thời gian:
(1) Các lô 19, 21 và 22 vùng Tamtsang, Mông Cổ: dự án thăm dò vàthầm lượng có hiệu lực từ ngày 15/11/1999 với tỷ lệ tham gia là 5%;
(2) Các lô PM304 và 306 ngoài khơi Malaixia: dự án phát triển khai thác– PVEP là nhà điều hành với tỷ lệ tham gia là 15% (31/3/2000);
(3) Mỏ dầu Amara, Irac – dự án phát triển mỏ do PVEP tự điều hành với100% vốn đầu tư (29/4/2002);
(4) Các lô 433a và 416b Sahara, Angieri – dự án phát triển mỏ, tự điềuhành của PVEP vốn đầu tư chiếm 40% tổng vốn dự án (30/6/2003);
(5) Lô SK 305 ngoài khơi Malaixia: dự án phát triển mỏ của PVEP –tham gia điều hành chung với tỷ lệ 30% (16/6/2003);
(6) (7) Lô 01 và 02 Đông Java ,Indonexia: dự án thăm dò và thẩm lượngcủa PVEP – tự điều hành với tỷ lệ góp vốn là 100% (14/10/2003);
Trang 34(8) Lô Majunga, Madagaxca: dự án thăm dò và thẩm lượng với tỷ lệ gópvốn là 10%, có hiệu lực từ ngày 16/11/2006;
(9) (10) Các lô 16,17 và các lô N31,32,42,43, Cuba - dự án thăm dò vàthẩm lượng do PVEP tự điều hành với 100% vốn góp (13/6/2007);
(11) Lô Randugunting, Indonexia: dự án thăm dò và thẩm lượng – điềuhành chung với tỷ lệ góp vốn là 30% tổng vốn (9/8/2007);
(12)(13) Lô Z47 (22/11/2007) và lô 162 (1/6/2009), Peru: dự án thăm dò
và thầm lượng – tự điều hành với 100% tỷ lệ vốn góp;
(14)(15) Lô Guellala và Tanit, Tuynidi: dự án thăm dò và thẩm lượng dầukhí do PVEP tự điều hành với tỷ lệ góp vốn là 60% (2/2008);
(16) Lô Champasak và Saravan, Lào: dự án thăm dò và thẩm lượng, tựđiều hành của PVEP với tỷ lệ góp vốn là 80% (4/3/2008);
(17) Lô Marine 11, Công gô (4/3/2008): PVEP tham gia đầu tư thăm dò
Trang 35(21)(22) Lô 01- 04, Nhenhetxki và lô Nagumanov, Nga: do PVN đầu tưtham gia thăm dò và thẩm lượng – điều hành chung với tỷ lệ vốn góp là 49%năm 2009;
(23) Lô M2, Mianma: dự án thăm dò và thầm lượng của PVEP – tự điềuhành với tỷ lệ 45% (2/1/2009);
(24) Lô XV, Campuchia: PVEP tự điều hành dự án đầu tư thăm dò vàthẩm lượng với 100% vốn góp, có hiệu lực từ ngày 12/11/2009;
(25) Lô Kossor, Uzobekixtan: dự án thăm dò và thẩm lượng do PVEPđầu tư 100% vốn và tự điều hành (29/1/2010);
(26) Khu vực Junin 2, Venezuela: PVEP đầu tư phát triển mỏ khí – điềuhành chung với tỷ lệ góp vốn là 40% (12/11/2010);
(27) Thủy điện Luông phrabang, Lào: do PVN đầu tư – điều hành chung
và bắt đầu khởi công vào năm 2010
2.4.3 Đầu tư ra nước ngoài phân theo khu vưc đia lý
Bảng 2.3: Dự án đầu tư phân theo khu vực địa lý
Nguồn:Tập đoàn dầu khí Việt Nam
Qua bảng số liệu 2.3 cho thấy các dự án đầu tư ra nước ngoài củaPVN trải rộng trên khắp thế giới Điều đó cho thấy tầm nhìn chiến lược củaTập đoàn khi mở rộng hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, một phần là
Trang 36để tận dụng nguồn tài nguyên khoáng sản sẵn có và phong phú của các quốcgia trên thế giới, phần nữa là để phân tán rủi ro trong kinh doanh ra nhiềukhu vực khác nhau Tập trung chủ yếu các dự án vẫn là khu vực Châu Á với
14 dự án chiếm hơn một nửa - 51,85% tổng số dự án đầu tư ra nước ngoài.Tiếp đó là khu vực Châu Phi và Châu Mỹ với số dự án lần lượt là 6 và 5 dự
án chiếm 22,22% và 18,52% tổng số dự án Cuối cùng, khu vực thứ 4 màTập đoàn đầu tư vào là khu vực có nền công nghiệp dầu khí phát triển nhấtthế giới - Trung Đông Tuy vậy, Tập đoàn vẫn chưa khai thác được nhữnglợi thế ở khu vực này với số dự án đầu tư chỉ là 2 dự án (tại Iran và Iraq)chiếm có 7,41% tổng số dự án đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn Có thểnói nguồn tiềm năng về dầu khí trên thế giới vẫn còn phong phú điều này làmột thách thức lớn cho tập đoàn để đầu tư hợp lý, tận dụng lợi thế về vị tríđịa lý cũng như lợi thế về chính trị của các quốc gia mình phát triển hơnngành công nghiệp dầu khí của Việt Nam
2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đầu tư thăm dò khai thác dầu khí
ra nước ngoài tại Tập đoàn dầu khí Việt Nam
2.5.1 Tổng số dự án và số lượng quốc gia tiếp nhận đầu tư
Bảng 2.4: Tổng số dự án đầu tư ra nước ngoài và số nước nhận đầu tư của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2010
Số nướcnhận đầu tư
Trang 37Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Ở nước ngoài, kể từ khi bắt đầu triển khai các dự án thăm dò khai thácdầu khí đến cuối năm 2006, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã tham gia vào 8
đề án thăm dò khai thác dầu khí Sang đến giai đoạn 2007 - 2008, Chính phủ
đã có chủ trương cho phép trao đổi cổ phần với đối tác nước ngoài là cáccông ty dầu khí quốc tế, hoạt động ngoại giao phục vụ cho phát triển kinh tếđược đẩy mạnh Có thể nói đây là 2 năm thành công trong công tác tìm kiếmcác hợp đồng thăm dò khai thác dầu khí ra nước ngoài của Tập đoàn Năm
2008, Tập đoàn đã kí mới 8 hợp đồng dầu khí ở nước ngoài nâng tổng số dự
án dầu khí ở nước ngoài lên 21 dự án tăng lên 61,5% so với tổng số dự ánnăm 2007 (5 dự án) Tiếp theo đó là hai năm 2009, 2010 tập đoàn ký mớiđược 6 dự án Tổng số dự án đến thời điểm hết năm 2010 là 27 dự án tại 18quốc gia và vùng lãnh thổ trải dài khắp thế giới từ Châu Mỹ đến Châu Á
Có thể thấy việc Tập đoàn dầu khí Việt Nam không ngừng kí kết thêmđược các dự án mới, không ngừng mở rộng số lượng quốc gia nhận đầu
tư ( chỉ trong một thời gian ngắn đã kí mới được 27 dự án, mở rộng thêmhoạt động đầu tư tại 18 quốc gia) đã nói lên sự lớn mạnh không ngừng củaTập đoàn trong lĩnh vực đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra nước ngoài,cũng như các lĩnh vực khác tại thời điểm hiện tại và trong tương lai, gópphần mở rộng sự đầu tư của Việt Nam ra thế giới
2.5.2 Quy mô vốn bình quân của 1 dự án
Bảng 2.5: Quy mô vốn bình quân cho một dự án đầu tư ra nước ngoài
của PVN trong từng năm tính đến hết năm 2010
Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Trang 38Nội dung Trước
2006
2006 2007 2008 2009 2010
Tổng vốn đầu tư (triệu USD) 28.42 44 109.5 151.2 124.6 203.54
Quy mô vốn bình quân/dự án 4.06 5.5 8.42 7.2 4.98 7.54
Biểu đồ 2.1: Quy mô vốn bình quân/dự án tính đến hết năm 2010
Nhìn vào bảng số liệu 2.5 và biểu đồ 2.1, trong giai đoạn từ trước năm
2006 đến hết năm 2007, tình hình đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra nướcngoài của Tập đoàn đạt nhiều bước tiến đáng kể: quy mô vốn đầu tư, tốc độtăng của nguồn vốn, số dự án, quy mô vốn bình quân/ dự án đều tăng dầnqua các năm Trong đó chỉ tiêu về quy mô vốn bình quân/ dự án là có sựchuyển dịch rõ rệt nhất
Trang 39Nếu như trong thời kỳ trước năm 2006 vốn bình quân cho một dự án
là 4,06 triệu USD thì đến năm 2006 vốn bình quân đã tăng lên đạt 5,5 triệuUSD/dự án (tăng xấp xỉ 36%) Cho đến năm 2007 thì sự tăng lên đến đỉnhđiểm đạt 8,42 triệu USD/ dự án, tăng 53% so với năm 2006 và gấp hơn 2 lần
so với giai đoạn trước năm 2006 Đây là những bước tiến vững chắc choviệc xúc tiến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Năm 2008 mặc dù tổng vốn đầu tư lẫn số lượng dự án kí kết mới đềutăng so với năm 2007, nhưng chỉ tiêu quy mô vốn bình quân/ dự án của năm
2008 giảm so với năm 2007, chỉ đạt mức 7,2 triệu USD/ dự án do tình hìnhkinh tế thế giới có nhiều biến động, nhiều dự án thăm dò khai thác của Tậpđoàn mặc dù đã được kí kết nhưng vẫn chưa thể đẩy mạnh triển khai đầu tư.Năm 2009, khi các nền kinh tế đang rơi vào trạng thái suy thoái nghiêmtrọng khiến cho mức vốn đầu tư trên thế giới giảm nhanh, PVN cũng khôngphải là một ngoại lệ Nhằm thiết lập lại bộ máy tổ chức trong nước, cơ cấulại nguồn vốn đầu tư, vì vậy nguồn vốn cho đầu tư ra nước ngoài cũng theo
đó giảm xuống
Mức vốn đầu tư bình quân cho 25 dự án ở nước ngoài chỉ là 4,98 triệuUSD/dự án Năm 2010, chỉ số đó đã tăng lên 7,54 triệu USD/ dự án đúngvới kịch bản của thế giới khi nền kinh tế đã qua thời kỳ suy thoái
2.5.3 Tốc độ tăng nguồn vốn đầu tư
Trang 40Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của PVN
Qua tính toán tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn ở bảng số liệu 2.2 vàbiểu đồ 2.2, trong giai đoạn 2005 – 2011: năm 2007 là năm có lượng vốnđầu tư tăng lớn nhất cả về tốc độ lẫn giá trị vốn đầu tư ( tăng gần 150%,tương đương với tăng 65.5 triệu USD so với năm 2005)
Sang năm 2008, mặc dù tốc độ tăng có giảm đi ( tăng 38.08% so vớinăm 2007) nhưng nếu xét về giá trị của nguồn vốn đầu tư thì có thể nói năm
2008 là một năm thành công đối với hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ranước ngoài của Tập đoàn ( tăng 41.7 triệu USD so với năm 2007), nâng tổngmức vốn đầu tư của giai đoạn 2005- 2008 lên 323.12 triệu USD, tăng hơn300% so với giai đoạn trước năm 2005
Đến năm 2009 tốc độ nguồn vốn đầu tư giảm, theo nhận định chủquan có thể do khủng hoảng nền kinh tế thế giới lúc bấy giờ, tuy nhiên theotổng quan thì Tập đoàn vẫn có dự án và nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài xấp