1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT HUY TÍNH ƯU VIỆT CỦA HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

30 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 219 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT HUY TÍNH ƯU VIỆT CỦA HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN...22 3.1... Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ phiếu đánh giá của sinh viên về sự

Trang 1

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

Trang 2

HÀ NỘI, 2012

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU 3

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 7

1.1 Lịch sử của phương thức đào tạo theo tín chỉ 7 1.2 Tín chỉ là gì? 7 1.3 So sánh đào tạo theo hệ thống tín chỉ và đào tạo theo niên chế 8 1.4 Các chính sách về đào tạo theo hệ thống tín chỉ 12 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 13

2.1 Phân tích thực trạng hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân 13 2.1.1 Cơ hội lựa chọn thời gian học 13

2.1.2 Lựa chọn ngành nghề đào tạo và chuyển trường 13

2.1.3 Khả năng rút ngắn thời gian kết thúc chương trình đào tạo 14

2.1.4 Sự gắn kết và quản lý sinh viên 14

2.1.6 Vấn đề học tập 15

2.1.7 Quy chế tính điểm môn học 17

2.1.8 Cơ sở vật chất 18

Trang 3

2.2 Những mặt tích cực đã đạt được 18

2.2.1 Về phía nhà trường 182.2.2 Về phía giảng viên và cố vấn học tập 202.2.3 Về phía sinh viên 20

2.3 Cho điểm mức độ hiệu quả của hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân 20

CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT HUY TÍNH ƯU VIỆT CỦA HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 22 3.1 Về phía nhà trường 22

3.2 Về phía sinh viên 23

KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 PHỤ LỤC 26

Trang 4

Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ phiếu đánh giá của sinh viên về sự gắn kết và quản lý sinhviên của hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ phiếu đánh giá của sinh viên về vấn đề học tập tại trườngĐại học Kinh tế Quốc dân khi học tập theo hình thức tín chỉ

Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ phiếu cho điểm mức độ hiệu quả của hệ thống đào tạotheo tín chỉ tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chất lượng và tiện ích của đào tạo theo tín chỉ so với đào tạo theo niên chế làđiều đã được khẳng định qua quá trình đào tạo nhiều năm ở các trường đại học uytín trên thế giới Cùng với các trường đại học trong cả nước, Đại học Kinh tế Quốcdân tổ chức thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ đã được năm năm (từ năm 2008)

Vì vậy, vấn đề được đặt là phải thực hiện phương thức đào tạo theo tín chỉnhư thế nào cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nhà trường

Do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Phát huy tính ưu việt của hệ thống đào tạo

theo tín chỉ tại trường đại học Kinh tế Quốc dân” để từ việc nghiên cứu sâu hơn về

thực trạng đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường, chúng tôi phân tích đánh giánhững mặt tích cực đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong việc thựchiện Thông qua đó, chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy tính ưuviệt của hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường

2 Mục đích nghiên cứu

- Phát hiện những mặt tích cực đã đạt được và những hạn chế còn tồn tạitrong việc thực hiện chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường Đại họcKinh tế Quốc dân

- Phát hiện các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát huy tính ưu việt của hệthống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Việc thực hiện đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân

3.2.Phạm vi nghiên cứu

Những ưu thế của đào tạo tín chỉ đối với sinh viên tại Đại học Kinh tế Quốcdân, áp dụng cho các nhóm sinh viên khóa 50, 51, 52, 53 thuộc các nhóm ngành:

Trang 6

Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng , Kế toán, Hệ thống thông tinkinh tế.

4 Các phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp nghiên cứu tư liệu

- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài và xây dựng các khái niệm công cụcũng như các giả thuyết nghiên cứu

- Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp những tài liệu có liên quan đến

đề tài nghiên cứu

4.2.Phương pháp phân tích thống kê

4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn bằng bảng hỏi

Nhóm đã tiến hành phát bảng hỏi cho 1500 sinh viên tại trường Đại học Kinh

tế Quốc dân để tìm hiểu về thực trạng đào tạo tín chỉ tại trường (Mẫu bảng hỏi

được đính kèm trong phụ lục) và thu về được 1083 phiếu điều tra Trong đó gồm có

270 sinh viên khóa 50, 540 sinh viên khóa 51, 273 sinh viên khóa 52 và 120 sinhviên khóa 53 đến từ 22 chuyên ngành

+ Những khó khăn của việc đăng ký các môn học vào mỗi kỳ

+ Hạn chế của hệ thống tín chỉ trường Đại học Kinh tế Quốc dân

+ Ý kiến đóng góp của sinh viên cho nhà trướng

Trang 7

- Danh sách các sinh viên được phỏng vấn:

+ Phùng Thu Hà lớp Tài chính Doanh nghiệp K51

+ Thái Thị Mỹ Hạnh lớp Quản trị nhân lực K52

+ Nguyễn Thu Hiền lớp Quản trị nhân lực K52

+ Đinh Đắc Vũ lớp Quản trị nhân lực K51

+ Nguyễn Thị Yến lớp Quản trị nhân lực K51

4.2.2 Phương pháp phân tích

Phân tích, xử lí số liệu thu được bằng phần mềm Excel 2007 và phần mềm thống kê toán học SPSS

5 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu tính ưu việt của hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại họcKinh tế Quốc dân

- Tìm hiểu những hạn chế và những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thựchiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường để từ đó phát hiện ra những cách thức, biện pháp phát huy tính ưu việt đó

Trang 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ

1.1 Lịch sử của phương thức đào tạo theo tín chỉ

Phương thức đào tạo theo tín chỉ được sử dụng đầu tiên ở Mỹ vào cuối thế kỷ

19, xuất phát từ việc số lượng học sinh trung học phổ thông đăng ký vào học đạihọc ngày càng tăng, hệ thống tín chỉ đã được thiết kế ra, tránh gây áp lực cho quátrình xét tuyển của các trường Hiện nay tín chỉ đang bước đầu được áp dụng ở ViệtNam

Đào tạo theo học chế tín chỉ là một trong bảy bước đi quan trọng trong lộtrình đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006 - 2020 Vì vậy, tại Chỉ thị năm học

2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức yêu cầu các trường đại học vàcao đẳng “chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ vào năm học 2009 – 2010hoặc muộn nhất là năm học 2010 – 2011” Cho đến nay, gần như tất cả các trườngđại học và cao đẳng trên toàn quốc đã và đang chuyển đổi từ kiểu đào tạo niên chếsang đào tạo theo tín chỉ với nhiều mức độ khác nhau

1.2 Tín chỉ là gì?

Tín chỉ là khối lượng kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của môn học màngười học cần phải tích lũy được trong một thời gian nhất định

Tín chỉ được làm rõ qua bảy điểm sau:

Thứ 1: Hoạt động dạy - học được tổ chức theo ba hình thức: Lên lớp, thực

hành và tự học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ

Thứ 2: Trong ba kiểu giờ tín chỉ, lượng kiến thức sinh viên thu được có thể

khác nhau nhưng để thuận lợi cho việc tính toán thì ba kiểu giờ tín chỉ này được coi

là có giá trị ngang nhau

Thứ 3: Một tín chỉ gồm 15 giờ tín chỉ, thực hiện trong một học kỳ, kéo dài 15

tuần, mỗi tuần 01 giờ tín chỉ

Trang 9

Thứ 4: Có thể có môn học chỉ gồm một kiểu giờ tín chỉ, nhưng có thể có

những môn học nhiều hơn một kiểu giờ tín chỉ

Thứ 5: Người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ được cấp bằng theo

hình thức tích luỹ đủ tín chỉ

Thứ 6: Người học được cấp bằng không chỉ phụ thuộc vào số tín chỉ tích luỹ

được mà còn phụ thuộc vào điểm trung bình chung quy định cho từng học kỳ, từngkiểu văn bằng

Thứ 7: Với phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học được xem như một thành

phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của sinh viên, những nội dung tự học cũngđược đưa vào thời khoá biểu và đưa vào các bài kiểm tra, bài thi

(Nguồn tham khảo: ThS.Nguyễn Thị Hương Giang, Bộ môn Tâm lý giáo dục – Trường Đại học

Hà Tĩnh (2009), Tìm hiểu về phương thức đào tạo theo tín chỉ)

1.3 So sánh đào tạo theo hệ thống tín chỉ và đào tạo theo niên chế

Có thể thấy được sự khác nhau cơ bản giữ hai hình thức học trên là:

1 Tôn chỉ

- Người dạy học là trung tâm, người

học xoay quanh quỹ đạo của người dạy

- Người học là trung tâm của quá trìnhđào tạo

- Sinh viên phải hoàn thành nội dung

học đã được ấn định theo năm học;

- Rất khó trong việc xét để học trước kỳ

hạn dù điều kiện và năng lực tốt;

- Đơn vị đo lường khối lượng học tập

- Tổ chức theo học kỳ;

- Một năm học có thể 2 hoặc 3 học kỳ;

- Cấu trúc thành những học phần, lịchtrình thực hiện chính xác;

- Sinh viên tích lũy kiến thức theo họcphần, tích lũy số tín chỉ theo học kỳ;

- Cho phép sinh viên đăng ký học vượt;

- Đơn vị đo lường khối lượng học tập làtín chỉ;

Trang 10

của sinh viên là đơn vị học trình;

- Chương trình học trên lớp dài hơn so

3 Phương pháp đánh giá kết quả học tập

- Kết quả được đánh giá theo năm học

với số đơn vị học trình được quy định

sẵn;

- Nếu sinh viên nào không đạt yêu cầu

học tập đối với một năm học thì có thể

phải học lại năm học đó (lưu ban)

- Sinh viên phải thi đạt tất cả các môn

học qui định

- Sử dụng thang điểm 10 (hoặc 100) và

đề cao cách tính điểm tuyệt đối

- Xem trọng các kỳ thi hết môn (chiếm

- Sinh viên cần đạt đủ số tín chỉ và điểmtrung bình chung tích lũy qui định theotừng năm và cả khóa;

- Sử dụng thang điểm 4 kết hợp thangđiểm chữ, cho phép cách tính điểmtương đối;

- Xem trọng đánh giá quá trình (chiếm

cỡ 50% điểm môn học)

4 Phương pháp học tập

- Sinh viên cần chấp hành tốt các quy

định đã đề ra từ đầu chương trình;

- Tham khảo giảng viên chủ nhiệm lớp

tại các buổi họp lớp hàng tháng Tuy

nhiên, vai trò chủ nhiệm thường không

rõ nét;

- Khả năng tự học chịu ảnh hưởng trực

- Sinh viên phải chủ động nghiên cứu

kỹ, nắm chắc các tài liệu của nhàtrường;

- Sinh viên cần thường xuyên gặp gỡ cốvấn học tập;

- Tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồinhét kiến thức của người dạy, phát huy

Trang 11

tiếp của chương trình, khoa và giảng

viên giảng dạy trên lớp;

- Thường phải hoàn thành chương trình

học theo số năm quy định, có thể kéo

dài nhưng rất khó rút ngắn;

- Khó chọn lựa môn học theo thực tế

của nhà tuyển dụng;

- Sinh viên cùng một lớp học có chung

thời khóa biểu, được quy định cụ

thể.v.v…

được tính chủ động, sáng tạo của ngườihọc;

- Có thể hoàn thành chương trình bằngcách tích lũy tín để được cấp bằng tùytheo khả năng và nguồn lực của cá nhân;

- Có thể lựa chọn các môn tự chọn theokhuynh hướng nhà tuyển dụng…

- Mỗi sinh viên đều có thời khóa biểuriêng, không theo một quy luật nhất địnhnào

Theo đánh giá của ThS Nguyễn Thị Hương Giang Trưởng Bộ môn Tâm lý –

Giáo dục Đại học Hà Tĩnh, đào tạo theo tín chỉ có một số điểm ưu việt sau:

Thứ nhất, trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của

sinh viên được coi trọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình

Thứ hai, độ mềm dẻo và linh hoạt của chương trình

Thứ ba, sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ

do trường đại học quy định

Thứ tư, phương thức đào tạo theo tín chỉ phản ánh được những mối quan tâm

và những yêu cầu của người học và nhu cầu của các nhà sử dụng lao động

Thứ năm, phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ khuyến khích sự di chuyển của

sinh viên, mở rộng sự lựa chọn học tập của họ, làm tăng độ minh bạch của hệ thốnggiáo dục, và giúp cho việc so sánh giữa các hệ thống giáo dục đại học trên thế giớiđược dễ dàng hơn

Để học tốt theo hình thức tín chỉ, sinh viên cần đảm bảo thực hiện:

- Tham gia đầy đủ các buổi hướng dẫn và tập huấn về hình thức học theotín chỉ

Trang 12

- Nghiên cứu và thực hiện đúng quy định của trường về đào tạo theo hệthống tín chỉ và các quy định khác.

- Để tránh chủ quan trong việc học nên nghiên cứu kỹ các khác biệt trongđánh giá kết quả học giữa học theo tín chỉ và học theo niên chế

- Cần chủ động theo dõi thời khóa biểu các học phần, chủ động chọn sốmôn học trong kỳ học dưới sự tư vấn và hướng dẫn của cố vấn học tập

- Trong đào tạo theo tín chỉ, đối với sinh viên tự học là vấn đề quan trọngnhất, sinh viên phải tự học ngay trên lớp (chứ không phải đi nghe giảng, dự giờ)

- Sinh viên học ở trên lớp phải ghi chép bài đầy đủ, hăng hái phát biểu ýkiến, chưa hiểu vấn đề gì phải hỏi giảng viên hoặc trao đổi với nhóm học tập

Nhà trường cần phải thực hiện một số yêu cầu đặt ra như sau:

- Giảm tỉ trọng các môn quy định của Bộ, của trường; tăng các môn củaKhoa, của chuyên ngành

- Giảm bớt môn học để sinh viên có thời gian đọc tài liệu tham khảo

- Có nhiều chuyên đề mở trong chương trình đào tạo

- Tăng các môn tự chọn và giảm sự quy định cứng về trật tự các môn phảitích lũy

Yêu cầu đặt ra với hệ thống cơ sở vật chất là:

- Hệ thống thư viện phong phú

- Có phòng làm việc riêng để tạo điều kiện cho thầy cô có thể tư vấn trả lờithắc mắc của sinh viên

- Có phòng vi tính được nối mạng internet

- Có phòng tự học

- Có phòng thí nghiệm hiện đại

- Đổi mới trang thiết bị phục vụ giảng dạy để bắt kịp với tiến độ khoa công nghệ tân tiến trên thế giới

học-I.4. Các chính sách về đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Trang 13

- Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm

2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo): gồm 5 chương, 29 điều.

- Quy định đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ tại Trường

Đại học Kinh tế Quốc dân (Ban hành kèm theo Quyết định số 95 /QĐ-KTQD, ngày

14 tháng 01 năm 2008 của Hiệu trưởng): gồm 6 chương, 35 điều.

Trang 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

2.1 Phân tích thực trạng hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Kinh

tế Quốc dân

2.1.1 Cơ hội lựa chọn thời gian học

Qua thống kê điều tra, có tới 80,98% sinh viên được khảo sát cho rằng đượcchủ động lựa chọn và sắp xếp thời gian học Với việc được chủ động lựa chọn thờigian học như vậy, nhiều bạn còn có thể học tập tại hai trường đại học

Tuy nhiên, một số ý kiến chỉ ra những hạn chế sau: Việc sắp xếp lịch học chocác lớp tín chỉ và các môn học còn chưa hợp lý Việc sắp xếp để có một lịch họcphù hợp đối với sinh viên cũng là một vấn đề khó khăn Nếu không sắp xếp đượcmột lịch học phù hợp, tiết kiệm nhất thời gian thì sinh viên sẽ mất nhiều thời gianhơn cho việc đi lại và tốn kém nhiều khoản chi phí Ngay cả khi sắp xếp được mộtlịch học hợp lý thì sinh viên cũng có thể phải thay đổi lịch do lớp học mình lên lịchhoặc lớp học có thời gian tương tự không còn chỗ trống hoặc là số lượng quá ít dẫnđến bị hủy Việc giảng viên sắp xếp một buổi học bù do buổi học bị nghỉ gặp nhiềukhó khăn

2.1.2 Lựa chọn ngành nghề đào tạo và chuyển trường

Hiện nay, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân chưa có quy định nào cho sinhviên được chuyển đổi ngành nghề đào tạo

Vấn đề này nên được nhìn nhận ở cả hai mặt Một mặt, việc học một ngànhkhông yêu thích và không có khả năng phù hợp sẽ gây ra tâm lí chán trường chosinh viên, từ đó dẫn đến việc học tập và đào tạo không thu được hiệu quả cao nhưmong muốn từ cả phía người học và người đào tạo Mặt khác, cũng phải xét đếnkhó khăn của nhà trường Việc chuyển khoa, chuyển chuyên ngành trong thời gianhọc tập cũng có rất nhiều phức tạp trong vấn đề đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá,

Trang 15

xem xét điều kiện của sinh viên có đủ đáp ứng cho chuyên ngành mới không Vànếu áp dụng chính sách cho phép chuyển khoa, chuyển chuyên ngành thì rất có thể

sẽ dẫn đến tình trạng sinh viên ồ ạt đổ xô vào đăng kí một chuyên ngành đang nóngtrên thị trường

2.1.3 Khả năng rút ngắn thời gian kết thúc chương trình đào tạo

Kết quả điều tra cho thấy, 70,08% sinh viên được khảo sát đồng ý với việcchủ động lựa chọn số lượng môn học và đăng ký tín chỉ Sinh viên học nhanh cóthể ra trường sớm từ 1- 2 kỳ Trên lý thuyết việc học tín chỉ giúp sớm hoàn thành

và rút ngắn số năm học nhưng thực tế thì lại không được như vậy Bên cạnh đó,việc áp dụng chế độ ra trường sớm này chỉ áp dụng với một số khoa có số lượngsinh viên lớn như Tài chính Ngân hàng hay Quản trị Kinh doanh

2.1.4 Sự gắn kết và quản lý sinh viên

Sự gắn kết giữa sinh viên với sinh viên

72,02% sinh viên được khảo sát đồng ý rằng sinh viên trong các lớp chuyênngành ít gắn kết hơn do việc gặp gỡ và sắp xếp thời gian để tham gia hoạt động lớp

là khá khó khăn Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng việc học các lớp tín chỉ giúpcác bạn có cơ hội được học tập, giao lưu với các sinh viên đến từ các chuyên ngànhkhác nhau, tạo được sự đổi mới và phong phú hơn trong học tập

Sự gắn kết giữa sinh viên với giảng viên

Với việc áp dụng hệ thống đào tạo tín chỉ, nhà trường rất khó kiểm soát đượcviệc học của sinh viên, không cập nhật, nắm rõ được thông tin của sinh viên, gâykhó khăn cho cán bộ quản lý lớp cũng như giảng viên trong việc nắm sĩ số lớp vàđánh giá quá trình học tập của sinh viên Thầy cô không quan tâm đến sinh viênnhư trong việc đào tạo theo niên chế

Sự gắn kết giữa sinh viên với quản lí của khoa

Hiện nhà trường đã xây dựng một đội ngũ cố vấn học tập cho các lớp, cáckhoa, tuy nhiên cố vấn học tập vẫn chưa phát huy hết vai trò của mình Ngoài ra,

Ngày đăng: 11/11/2015, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w