Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nước ta hoà mình trong không khí hội nhập kinh
tế của toàn cầu Mỗi thay đổi trong nền kinh tế thị trường là một lỗ lực của Đảng và
toàn dân Là một bộ phận của nền kinh tế, hoạt động kiểm toán ngày càng nhiều cơ
hội để phát triển để trở thành công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế Hoạt động kiểm
toán đẫ trở thành bắt buộc với tất cả các doanh nghiệp ở nước ta, là một môI trường
lý tưởng để hoạt động kiểm toán lớn mạnh và hoàn thiện với nhiều loại hình dịch vị
đa dạng
Kiểm toán độc lập là một hoạt động cần thiết cho doanh nghiệp và lợi ích
của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, lợi ích của chủ sở hữu vốn, của chủ nợ và
yêu cầu của Nhà nước Những cá nhân và tổ chức sử dụng báo cáo kiểm toán phải
được đảm bảo rằng thông tin họ được cung cấp trong báo cáo kiểm toán là những
thông tin chính xác, trung thực, khách quan và có độ tin cậy cao để làm căn cứ cho
các kế hoạch cũng như các quyết định quan trọng của mình
Xuất hiện ở nước ta gần 20 năm truớc đây nhưng nhàng kiểm toán đã có
những bước tiến quan trọng trên con đường cuả mình Đến nay hoạt động kiểm
toán đã có thêm nhiều loại hình dịch vụ mới Trong đó kiểm toán báo cáo tài chính
là một loại hình dịch vụ phát triển nhất và là thế mạnh của những công ty kiểm
toán độc lập tại Việt Nam
Chu kỳ bán hàng và thu tiền là một chu kỳ có mối quan hệ mật thiết với các
chi kỳ nghiệp vụ cơ bản khác, là giai đoạnh cuối cùng để đánh giá kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp Chu kỳ này ảnh hưởng đến các chỉ tỉêu quan
trọng trên báo cáo tài chính và liên quan trực tiếp đến các bên đối tác nên kiểm
toán chu kỳ bán hàng và thu tiền có ý nghĩa quan trọng đối với người sử dụng
thông tin trên báo cáo tài chính
Trang 2Nhận biết được tầm quan trọng trên, trong quá trình học tập tại trường Đại
học dân lập Phương Đông, kết hợp với qúa trình thực tập tại Công ty TNHH Kiểm
toán kế toán và dịch vụ tài chính Việt Nam em đã chọn đề tài:
“Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền trong một cuộc kiểm toán báo cáo
tài chính”
Nội dung của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có các phần
chính sau:
Ph ần I: Lý luận chung về công tác kiểm toán bán hàng và thu tiền trong một
cu ộc kiểm toán báo cáo tài chính
Ph ần II: Thực trạng công tác kiểm toán bán hàng và thu tiền trong quá trình
ki ểm toán báo cáo tài chính ở Công ty TNHH Kiểm toán kế toán và dịch vụ tài
Ph ần III: Kiến nghị và phương hướng hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ
Tuy nhiên, kiểm toán là một lĩnh vực còn khá mới mẻ ở Việt Nam cả về lý
thuyết lẫn thực tế và do những hạn chế về kinh nghiệm và chuyên môn nên bài viết
của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo cùng quý
công ty TNHH Kiểm toán kế toán và dịch vụ tài chính góp ý, giúp đỡ để chuyên đề
thực tập của em có thể hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN VÀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH
BÁN HÀNG -THU TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Khái niệm:
Có nhiều khái niệm về kiểm toán, nhưng khái niệm được chấp nhận rộng rãi
nhất hiện nay:
“Kiểm toán là một quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông
tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những
thông tin đó với những chuẩn mực đã được thiết lập Quá trình kiểm toán phai
được thực hiện bởi những kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập.”
Các thuật ngữ trong định nghĩa trên được hiểu như sau:
- Thông tin được kiểm tra có thể là báo cáo tài chính doanh nghiệp, tờ khai
thuế, quyết toán ngân sách của cơ quan nhà nước
- Các chuẩn mực kiểm toán được thiết lập là cơ sở để đánh giá các thông tin
được kiểm tra, ví dụ như đối với báo cáo tài chính của đơn vị thì kiểm toán
viên dựa vào các chuẩn mực hay chế độ kế toán hiện hành; đối với tờ khai
thuế sẽ là luật Thuế…
- Bằng chứng là các thông tin để chứng minh cho ý kiến nhận xét của kiểm
toán viên Đó có thể là tài liệu kế toán của đơn vị, thư xác nhận công nợ của
người mua…Do đó quá trình kiểm toán bao gồm việc thu thập các bằng
chứng đó có đầy đủ và thích hợp cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên hay
không?
- Báo cáo là văn bản trình bày ý kiến của kiểm toán viên về phương diện mà
những người sử dụng quan tâm Nội dung và hình thức báo cáo phụ thuộc
vào mục đích của từng loại kiểm toán
Trang 4- Kiểm toán viên có đủ năng lực và độc lập để có thể thực hiện được công việc
kiểm toán Năng lực của kiểm toán viên là trình độ nghiệp vụ được hình
thành qua đào tạo và kinh nghiệm, giúp cho kiểm toán viên có khả năng xét
đoán công việc trong từng trường hợp cụ thể Sự độc lập với đối tượng kiểm
toán là một yêu cầu cần thiết để duy trì sự khách quan của kiểm toán viên và
tạo đựơc sự tin cậy của người sử dụng kết quả kiểm toán
2 Chức năng của kiểm toán
Kiểm toán có 2 chức năng cơ bản đó là chức năng xác minh và chức năng bày tỏ ý
kiến, đây là 2 chức năng quan trọng để đưa ra những ý kiến thuyết phục, tạo niềm
tin cho những người quan tâm vào những kết luận của kiểm toán cho dù là kiểm
toán hướng vào lĩnh vực nào trong 4 lĩnh vực chủ yếu trên
pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bản khai tài chính Xem
có tuân thủ theo chế độ tài chính hiện hành hay không
Theo thông lệ Quốc tế thì chức năng xác minh được cụ thể hoá thành các mục tiêu
và tuỳ thuộc vào đối tượng hay loại hình kiểm toán mà các mục tiêu có thể khác
nhau
Góc độ tư vấn đưa ra các lời khuyên trong thư quản lý về vến đề thực hiện các quy
tắc kế toán và hoạch định các chính sách, thực thi các chế độ, pháp luật, về hiệu
quả kinh tế và hiệu năng quản lý
Góc độ bày tỏ ý kiến được thể hiện qua việc phán sử như một quan toà hoặc kết
hợp với xử lí tại chỗ như công việc của thanh tra
Như vậy, có thể nói: Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt
động được kiểm toán bằng hệ thống các phương pháp kỹ thuật của kiểm toán
Trang 5chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có nghiệp vụ tương xứng trên cơ
sở hệ thống pháp lý có hiệu lực
3.Phân loại kiểm toán
3.1 Phân loại theo tính chất hoạt động
Theo cách phân lịa này kiểm toán có 3 loại như sau: kiểm toán hoạt động, kiểm
toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính
3.1.1 kiểm toán hoạt động
kiểm toán hoạt động là việc kiểm tra đánh giá về sự hiện hữu và tính hiệu quả đối
với hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ một tổ chức, từ đó đề xuất những biện
pháp cảI tiến Sự hiện hữu là mức độ hoàn thành nhiệm vụ hay mục tiêu , còn tính
hiệu quả được tính bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí
3.1.2 kiểm toán tuân thủ
kiểm toán tuân thủ là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành một quy định
nào đó, thí dụ các văn bản pháp luật, các điều khoản của một hợp đồng hay một
quy định nội bộ của đơn vị
3.1.3 Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính là sự kiểm tra và xác nhận tính trung thực và hợp lý về
các báo cáo tài chính của các đơn vị được kiểm toán
3.2 Phân loại chủ thế kiểm toán
Theo cách phân loại này có 3 loại: kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nước và kiểm
toán kiểm toán độc lập
3.2.1 Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là việc kiểm tra và đánh giá tình hình chấp hành các quy chế nội
bộ của doanh nghiệp do người của doanh nghiệp thực hiện và do yêu cầu của doanh
nghiệp
3.2.2 Kiểm toán nhà nước
Trang 6Kiểm toán nhà nước là việc kiểm tra và xác nhận tính đúng đắn trung thực và chính
xác của các số liệu, tài liệu, thông tin kinh tế tài chính của các đơn vị được kiểm
toán do kiểm toán viên nhà nước thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước
3.2.3 Kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận tính trung thực hợp lý của các số
liệu, tài liệu, các thông tin kinh tế tài chính của các đơn vị được kiểm toán do các
kiểm toán viên chuyên nghiệp độc lập thực hiện theo yêu cầu của nhà nước, doanh
nghiệp hoặc theo thoả thuận
4 Quy trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính
Trên cơ sở trình tự chung của một cuộc kiểm toán, kiểm toán tài chính đựoc thực
hiện theo trình tự với những bứơc cơ bản sau:
Bước1: Chuẩn bị kiểm toán
Từ thư mời (hoặc lệnh) kiểm toán, kiểm toán viên tìm hiểu khách thể kiểm toán với
mục đích hình thành hợp đồng hoặc kế hoạch chung cho cuộc kiểm toán Tiếp đó,
kiểm toán viên cần thu thập các thông tin, thẩm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát
nội bộ của khách thể kiểm toán để xây dựng kế hoạch kiểm toán Để thực hiện
những công việc trên, các trắc nhiệm chủ yếu được thực hiện là các trắc nghiệm
mức đạt yêu cầu của công việc và trắc nghiệm phân tích Đồng thời với công việc
kiểm toán cần chuẩn bị cả phương tiện và lực lượng giúp việc (nếu cần) cho việc
triểm khai kế hoạch và chương trình kiểm toán đã xây dựng
Bước 2: Thực hiện công việc kiểm toán
Đây là quá trình sử dụng các trắc nghiệm chủ yếu là trắc nghiệm cơ bản, vào việc
xác minh các thông tin phản ánh trên bảng khai tài chính Trình tự kết hợp giữa các
trắc nghiệm này trước hết tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá là không có hiệu lực thì
trước hết trức nghiệm độ tin cạy được ứng dụng với số lượng ít để xác minh những
Trang 7sai sót có thể có Nếu trắc nghiệm mức đạt yêu cầu lại cho kết quả là hệ thống kiểm
soát nội bộ có hiệu lực thì trắc nghiệm độ tin cậy sẽ lại thực hiện với số lượng lớn
Quy mô cụ thế của các trắc nghiệm cũng như trình tự và cách thức kết hợp giữa
chúng phụ thuộc rất nhiêù vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán của kiểm toán
viên với mục đích có được bằng chứng đầy đủ và tin cậy với chi phí kiểm toán thấp
nhất
Bước 3:Hoàn tất công việc kiểm toán
Kết quả các trắc nghiệm trên phải được xem xét trong quan hệ hợp lý chung và
kiểm nghiệm trong quan hệ với các sự việc bất thường, những nghiệp vụ phát sinh
sau ngày lập bảng khai tài chính Chỉ trên cơ sở đó mới đưa ra được kết luận cuối
cùng và lập báo cáo kiểm toán
QUAN HỆ VỚI KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Bản chất, đặc điểm kế toán của chu kỳ bán hàng và thu tiền
Theo chế độ kế toán hiện hành của Việt nam quá trình tiêu thụ được thực hiện
khi hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã được chuyển giao cho người mua, được người mua
trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán Về bản chất tiêu thụ là quá trình thực hiện giá
trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá lao vụ, dịch vụ đồng thời tạo vốn để
tái sản xuất mở rộng Thực hiện tốt quá trình tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp mới
có thể thu hồi vốn và thực hiện được giá trị thặng dư một nguồn thu quan trọng để
tích luỹ vào ngân sách và các quỹ của doanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô sản
xuất và nâng cao đời sống người lao động
Dưới góc độ kiểm toán quá trình bán hàng và thu tiền liên quan đến nhiều chỉ
tiêu trong bảng cân đối kế toán (Như tài khoản tiền, các khoản phải thu, các khoản
dự phòng phải thu khó đòi) và bảng cân đối kết quả kinh doanh(doanh thu, các
khoản giảm trừ doanh thu, khoản chi phí dự phòng và các khoản thu nhập bất
Trang 8thường có được từ các khoản hoàn nhập dự phòng ) Đây là những chỉ tiêu cơ bản
mà những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dùng để phân
tích khả năng thanh toán, tiềm năng, hiệu quả kinh doanh, triển vọng phát triển
cũng như những rủi ro tiềm tàng trong tương lai vì thế các chỉ tiêu này thường bị
phản ánh sai lệch theo Để có được những hiểu biết sâu sắc về chu trình bán hàng
và thu tiền thì trước hết phảI nắm được các đặc điểm, các thuộc tính của chu kì
Các đặc đIểm của chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm có:
- Mật độ phát sinh của các nghiệp vụ tiêu thụ tương đối lớn và phức tạp
- Có liên quan đến đối tượng bên ngoàI doanh nghiệp
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung cầu
- Doanh thu là cơ sở để đánh giá hiệu quả của một quá trình kinh doanh và lập
phương án phân phối thu nhập đồng thời thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước nên chỉ
tiêu này dễ bị xuyên tạc
- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm dụng vốn lẫn
nhau, công nợ dây dưa khó đòi Tuy nhiên, việc lập dự phòng nợ khó đòi lạI mang
tính chủ quan và thường dựa vào khả năng ước đoán của Ban Giám đốc nên rất khó
kiểm tra và thường bị lợi dụng để ghi tăng chi phí
- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ này xảy ra theo nhiều chiều
hướng khác nhau có thể bị ghi tăng, ghi giảm hoặc vừa tăng vừa giảm theo ý đồ của
doanh nghiệp hoặc một số cá nhân Chẳng hạn khoản phảI thu có thể bị khai tăng
để che đậy sự thụt két hoặc doanh thu có thể bị ghi giảm nếu nhằm mục đích trốn
thuế, và khai tăng nhằm cảI thiện tình hình tàI chính doanh nghiệp Vì thế việc
kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền tương đối tốn kém và mất thời gian Với
chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về các thông tin tàI chính nói chung và các
thông tin về chu trình bán hàng thu tiền nói riêng thì kiểm toán viên không thể
không xem xét những đặc đIểm của chu kỳ và ảnh hưởng của nó đến việc lập kế
hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán sao cho có hiệu quả
Trang 9Chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm:
Các quyết định và các quá trình cần thiêí cho sự chuyển nhượng quyền sở hữu hàng
hoá và dịch vụ cho khách hàng sau khi chúng đã sẵn sàng chờ bán Chu kỳ bắt đầu
bằng một đơn đặt hàng của khách hàng và chất dứt bằng sự chuyển đổi hàng hoá
hoặc dịch vụ thành một khoản thu nhập Khoản thu nhập này có thể là khoản phải
thu của khách hàng, hoặc tiền mặt, hoặc là tiền gửi ngân hàng
Như vậy chu kỳ bán hàng và thu tiền thực chất là quá trình doanh nghiệp đem sản
phẩm, dịch vụ của mình ra thị trường, thu tiền về và kết thúc một chu kỳ sản xuất
kinh doanh
Chức năng kế toán của chu kỳ bán hàng và thu tiền
Việc hiểu về các chức năng của chu kỳ bán hàng và thu tiền của Công ty
khách hàng là thật sự hữu ích cho việc hiểu cuộc kiểm toán chu kỳ đó sẽ được
tiến hành như thế nào
Chu kỳ bán hàng và thu tiền thực hiện các chức năng cơ bản sau:
- Xử lý đơn đặt hàng
- Phê chuẩn phương thức bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ
- Chuyển giao hàng hoá dịch vụ
- Phát hành hoá đơn và ghi sổ
- Xử lý vào sổ doanh thu hàng bán bị trả lại hoặc được giảm giá
- Lập dự phòng nợ phải thu khó đòi
- Xoá sổ các khoản nợ phải thu không thu được
Mục tiêu kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền
Khi kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền kiểm toán viên thường tập chung
vào các mục tiêu sau:
Mục tiêu về tính đầy đủ
Mục tiêu này đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ bán hàng trong kỳ đều phải lập hoá
đơn bán hàng và ghi sổ kế toán
Mục tiêu về tính hiện hữu:
Trang 10Doanh thu về bán hàng và cung cáp dịch vụ phản ánh trên sổ kế toán phải có
thật có nghĩa là chỉ phản ánh vào tài koản doanh thu những hàng hoá dịch vụ đã
được xác định là tieu thụ
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh Thu” quy định một hàng hoá
được xác định là tiêu thụ khi nó thoả mãn đồng thời 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phân flớn rủi ro và lợi ích kinh tế gắn liền với
sản phẩm hàng hoá
- Doanh thu đựơc xác nhận một cách tương đối chắc chắn
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu
hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá
- Doanh nghiệp chác chắn thu được lợi ích kinh tế từ việc bán hàng(tức là
doanh nghiệp đã thu được tiền hoặc người mua đã chấp nhận thanh toán)
- Doanh nghiệp phải xác định được chi phí tương đối tạo nên doanh thu đó
(tức là doanh nghiệp đã bỏ tiền ra để mua nguyên vật liệu để chế tạo ra sản
phâmr hàng hoá hoặc đã bỏ tiền ra mua hàng hoá.)
• Đối với dịch vụ thì nó đòi hỏi 4 yêu cầu sau:
- Doanh nghiệp phảI xác định đuợc khối lượng công việc đã hoàn thành vào
ngày lập báo cáo tài chính
- Doanh thu dịch vụ được xác định một cách chắc chắn
- Doanh nghiệp chắc chắn thu được lợi ích kinh tế từ việc cung cấp các dịch
vụ
- Doanh nghiệp đã xác định được chi phí hoàn thành dịch vụ
1.3.3 Mục tiêu về tính chính xác
Mục tiêu náy đòi hỏi doanh thu phải được xác định mtj cách chính xác, tính
chính xác ở đây được biểu hiện là: Số tiền bán hàng phải tương ứng với số
lượng hàng hoá dịch vụ và giá bán sản phẩm đó
Doánh thu phản ánh trên sổ chi tiết bán hàng phải phù hợp với số liệu trên báo
cáo tài chính và số liệu ghi trên hoá đơn bán hàng Trường hợp hoá đơn bán
Trang 11hàng đã ghi giá có thuế GTGT thì doanh nghiệp phải xác định lại giá bán chưa
có thuế để ghi nhận doanh thu
1.3.4 Mục tiêu về tính trình bày
Mục tiêu này đòi hỏi doanh thu phải đựoc trình bày trên báo cáo tài chính đúng
với chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng và chính sách kế toán doanh nghiệp
Mục tiêu này đòi hỏi doanh thu phảI được ghi nhận trong kỳ, phù hợp với chế
độ kế toán doanh nghiệp công bố
Phương pháp kế toán ghi nhận doanh thu có thể là
- Ghi nhận doanh thu trên cơ sở tiền mặt
- Ghi nhận doanh thu trên cơ sở cộng dồn
Trường hợp doanh nghiệp xuát khẩu hàng hoá dịch vụ thì doanh thu sẽ dược ghi
nhận trên cơ sở số tiền gốc ngoại tẹ nhân với tỷ giá tại thời điểm giao hàng
Mục tiêu tính niêm độ:
Mục tiêu này dòi hỏi doanh thu phảI được ghi nhận đúng kỳ, doanh thu phát
sinh oẻ thời kỳ nào thì phảit được ghi nhận ở thờ kỳ đó hoặc doanh thu phảI
đuợc ghi nhận đúng niên độ kế toán mà doanh nghiệp áp dụng
Mục tiêu về tính phân loại
Mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phảI mở sổ theo dõi chi tiết doanh thu về
hàng hoá, dịch vụ cho từng mặt hàng, nhóm hàng, cho từng loại doanh thu xuất
Trang 12khẩu của từng loại hàng hoá, các loại doanh thu chịu thuế và doanh thu không
chịu thuế
CHu kỳ bán hàng và thu tiền là quá trình doanh nghiệp đem sản phẩm của mình
bán trên thị trường kết thúc một quá trình kinhh doanh Các chủ tiêu của chu kỳ
bán hàng và thu tiền cso ý nghĩa rất quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên
bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Do đó nó có ảnh
hưởng trọng yếu đến các chỉ tiêu trên bảng cân đôí kế toán và báo cáo kết quả
kinh doanh
Căn cứ để kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm:
- Báo cáo kết quả kinh doanh của năm tài chính được kiểm toán
- Sổ cáI tài khoản 511, TK 512, TK 521, Tk 531, TK 532, Tk 131
- Sổ chi tiết TK 131
- Hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, Hoá đơn
mua bán
- Các chứng từ thanh toán
- Đối với xuất khẩu còn có: Giấy phép xuất khẩu của hảI quan, Vận đơn, Tờ
khai hảI quan
Bán hàng-Thu tiền là một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh Là
giai đoạn thứ 2 sau quá trình mua vào và thanh toán đối với doanh nghiệp thương
mại và là giai đoạn tiếp theo giai đoạn sản xuất đối với doanh nghiệp sản xuất Do
đó cũng giống như các giai đoạn khác tổ chức kế toán Bán hàng-Thu tiền bao gồm
các nội dung sau
a T ổ chức chứng từ kế toán
Trang 13Đó là quá trình thiết kế khối lượng chứng từ kế toán và quy trình hạch toán
trên chứng từ theo chỉ tiêu hạch toán và đơn vị hạch toán cơ sở Tổ chức chứng từ
kế toán cho chu trình Bán hàng-Thu tiền được chia làm 2 trường hợp
Trường hợp 1: Hàng hoá bán ra là sản phẩm vật chất Quy trình luân chuyển
chứng từ được tổ chức theo sơ đồ sau
Biểu 1: Quy trình luân chuyển chứng từ
Thủ trưởng hoặc kế toán trưởng
Bộ phận quản
lý
h ng
Kế toán thanh toán
Lưu chứng
từ
Lập chứng
từ bán
h ng
Ký duyệt hoá đơn bán
h ng
Giao nhận
h ng theo hoá đơn
Ghi
sổ v theo dõi thanh toán
Trang 14Trường hợp 2: Hàng hoá là các sản phẩm phi vật chất thì quy trình luân chuyển
chứng từ được tổ chức theo sơ đồ sau
Bộ phận cung cấp dịch
vụ
Kế toán bán
h ng
Lưu chứn
Thu tiền
Cung cấp dịch
vụ
Ghi sổ doanh thu v các sổ khác Thủ
quỹ
Trang 15b Các tài khoản sử dụng
Hạch toán trên cơ sở sổ tài khoản là việc vận dụng phương pháp đối ứng tài
khoản để phân loại và ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào hệ
thống sổ chi tiết và sổ tổng hợp Để phản ánh được thì phải xây dựng được một bộ
tài khoản phản ánh đầy đủ toàn bộ thông tin có liên quan đến quá trình Bán
hàng-Thu tiền Bộ tài khoản đó bao gồm các tài khoản sau
Tài khoản 511 - Doanh thu Bán hàng
Tài khoản 512- Doanh thu bán hàng nội bộ
Tài khoản 515- Doanh thu hoạt động tài chính
Tài khoản 521- Chiết khấu Bán hàng
Tài khoản 531- Doanh thu hàng bán bị trả lại
Tài khoản 532- Giảm giá hàng bán
Tài khoản 131- Phải thu khách hàng
Tài khoản 3387- Doanh thu chưa thực hiện
Tài khoản 139 - Dự phòng phải thu khó đòi
Tài khoản 641- Chi phí bán hàng
Tài khoản 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Tài khoản 711- Thu nhập khác
Tài khoản 3331- Thuế giá trị gia tăng đầu ra
Tài khoản 111 - Tiền mặt tại quỹ
Tài khoản 112- Tiền gửi ngân hàng
Tài khoản 004 - Nợ khó đòi đã sử lý
111,112,131 TK521,531,532 TK511,512 TK111,112
Trang 16
Chiết khấu K/c khoản giảm doanh thu thu tiền ngay
Nay đòi được
Doanh thu Xoá nợ phải thu
chưa thu đòi
Trên cơ sở hệ thống sổ chi tiết và sổ tổng hợp cuối kỳ kế toán lập bảng cân
đối tài khoản và báo cáo kết quả kinh doanh phục vụ thông tin cho công tác quản
lý Từ đó nắm rõ được nội dung và quá trình hạch toán kiểm toán chu trình Bán
hàng-Thu tiền, kiểm toán viên tiến hành kiểm toán
Trang 175. Chu trình thu tiền bán hàng với công tác kiểm toán
5.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý chu trình bán hàng thu tiền
Đối với bất kì một nhà quản trị doanh nghiệp nào cũng luôn mong muốn hoạt động
kinh doanh tại đơn vị mình diễn ra một cách có hiệu quả nhất Điều đó thể hiện ở
việc thu hồi vốn nhanh, chi phí thấp, lợi nhuận cao từ đó có thể mở rộng sản xuất
kinh doanh theo cả chiều rộng và chiều sâu Để đạt được điều đó thì tất cả các
hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị đều phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm
đảm bảo tất cả các thông tin là đúng hiện thực, từ đó giúp cho các quản trị gia nắm
bắt được các thông tin và đưa ra các quyết định kịp thời Như vậy, lí do để doanh
nghiệp xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ là để giúp doanh nghiệp thoả mãn
các mục tiêu của mình, và điều quan trọng để đảm bảo thành công cho quá trình
kiểm tra kiểm soát trong nội bộ đơn vị là việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội
bộ phù hợp với đặc điểm và quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Theo định nghĩa của liên đoàn kế toán quốc tế thì hệ thống kiểm soát nội bộ
là một hệ thống các chính sách và thủ tục nhằm vào 4 mục tiêu sau
+) Bảo vệ tài sản của đơn vị
+) Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin
+) Bảo đảm để thực hiện các quy định pháp lý
+) Bảo đảm hiệu quả của hoạt động
Như vậy, đối với một doanh nghiệp thì hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ
các chính sách và thủ tục kiểm soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều hành
các hoạt động của đơn vị để đảm bảo các mục tiêu sau:
+) Điều khiển và quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả
+) Đảm bảo được mọi hoạt động của đơn vị đều được thực hiện đúng trật tự
và được giám sát
Trang 18+) Phát hiện kịp thời những sự kiện bất thường trong hoạt động kinh doanh
để tìm biện pháp xử lý
+) Ngăn chặn và phát hiện kịp thời các sai sót và gian lận trong đơn vị Bảo vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích
+) Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức
+) Lập báo cáo tài chính kịp thời, có đủ độ tin cậy và tuân theo các yêu cầu
pháp định có liên quan
b Các nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ
b1 Môi trường kiểm soát Bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài đơn
vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý các dữ liệu của
các loại hình kiểm soát nội bộ, 2 nhóm nhân tố này thể hiện trên 6 mặt chủ yếu sau
Mặt 1: Đặc thù, phong cách điều hành của ban quản trị
Ban quản trị gồm những nhà quản lý cấp cao nắm quyền quyết định và điều
hành mọi hoạt động của đơn vị nên quan điểm của và đường lối quản trị ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Có nhiều xu hướng khác
nhau trong hành vi quản lý và diễn ra theo 2 chiều hướng đối lập nhau đó là cách
quản lý táo bạo và cách quản lý rụt rè Nếu ban quản trị là những người táo bạo
trong việc ra quyết định thì thường dẫn đến rủi ro kiểm soát lớn Còn nếu ban quản
trị là những người quá rụt rè thì thường có những ảnh hưởng không tốt đến hoạt
động kinh doanh
Mặt 2: Cơ cấu tổ chức nói đến cách phân quyền trong bộ máy quản lý theo
những xu hướng khác nhau hoặc là quá tập trung hoặc là quá phân tán Một cơ cấu
tổ chức hợp lý xẽ tạo điều kiện cho công tác phân công phân nhiệm, tránh được
những chồng chéo đồng thời giúp cho việc kiểm tra giám sát và quy kết trách
nhiệm
Mặt 3: Chính sách cán bộ nói đến việc sử dụng và bồi dưỡng cán bộ và quá
trình sử dụng, bồi dưỡng cán bộ có mang tính kế tục và liên tiếp hay không Xây
dựng được đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi về mọi mặt là yếu tố trực tiếp gia
Trang 19tăng hiệu quả lao động Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ tốt đòi hỏi phải có
chính sách tuyển dụng, đề bạt và khen thưởng công bằng
Mặt 4: Kế hoạch và chiến lược một hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá
là có hiệu quả khi doanh nghiệp có một chiến lược trước mắt và lâu dài Kế hoạch
và chiến lược hoạt động là căn cứ để xem xét doanh nghiệp có định hướng phát
triển lâu dài
Mặt 5: Uỷ ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao
nhất của doanh nghiệp ( những thành viên chính thức của hội đồng quản trị, những
chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát) Uỷ ban kiểm soát thường được giao
trách nhiệm giám sát quá trình báo cáo tài chính của tổ chức, gồm cả cơ cấu kiểm
soát nội bộ và sự tuân thủ những điều luật và các quy định
Mặt 6: Các nhân tố bên ngoài Hoạt động của đơn vị còn chịu ảnh hưởng của
các nhân tố bên ngoài như luật pháp, sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà
nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, con nợ, đặc biệt là đường lối phát triển của đất
nước và bộ máy quản lý ở tầm vĩ mô
b2 Hệ thống kế toán là một công cụ quản lý kinh tế tài chính, có chức năng
thông tin và kiểm tra về tình hình tài sản bằng phương pháp chứng từ, phương pháp
đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán
Hệ thống kế toán bao gồm đầy đủ các yếu tố như sổ chứng từ, sổ chi tiết, hệ
thống sổ tổng hợp và hệ thống bảng tổng hợp và cân đối kế toán trong đó quá trình
lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát nội
bộ của doanh nghiệp
VD: Quá trình lập và luân chuyển chứng từ
Lập Duyệt Thực thi Ghi sổ Lưu Huỷ
b3: Các thủ tục kiểm soát Thủ tục kiểm soát là chế độ và thể thức ngoài các
yếu tố về môi trường kiểm soát và các đặc điểm của hệ thống kế toán đã được ban
Trang 20quản trị xây dựng để thoả mãn các mục tiêu của họ Các thủ tục kiểm soát được xây
dựng trên 3 nguyên tắc cơ bản sau
Nguyên tắc 1: Phân công phân nhiệm rõ ràng
Mục đích của việc phân công phân nhiệm là nhằm cách ly về trách nhiệm,
ngăn ngừa các sai sót xẩy ra và nếu có xẩy ra thì cũng dễ phát hiện do trách nhiệm
được phân cho nhiều bộ phận và nhiều người trong bộ phận Mặt khác, việc phân
công phân nhiệm rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho việc chuyên môn hoá trong hoạt động
và nâng cao hiệu quả công việc
Nguyên tắc 2: Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
Mục đích của nguyên tắc này là nhằm tách biệt trách nhiệm đối với một số
hành vi khác nhau trong quá trình quản lý để ngăn ngừa các hành vi lạm dụng
quyền hạn trong quản lý tài sản đồng thời ngăn ngừa các sai số chủ tâm hoặc cố ý
VD : Phân chia trách nhiệm trong việc xét duyệt và thực hiện, thực hiện và
kiểm soát, hoặc thu chi tiền và ghi sổ kế toán
Việc uỷ quyền được thực hiện theo 1 trong 2 hình thức
Hình thức 1: trong cả nhiệm kỳ theo một cơ chế ổn định
Hình thức 2: Chỉ thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định
b4: Hệ thống kiểm toán nội bộ
Hệ thống kiểm toán nội bộ là bộ máy độc lập trực thuộc lãnh đạo cao nhất
của đơn vị, thực hiện chức năng kiểm toán nghiệp vụ hàng ngày hoặc kiểm toán
bảng khai tài chính ở các đơn vị trực thuộc
5.2 Hệ thống các mục tiêu kiểm toán
Kiểm toán bao gồm có 2 chức năng cơ bản trong đó có chức năng xác minh và theo
thông lệ quốc tế phổ biến thì chức năng xác minh được cụ thể hoá thành các mục
tiêu và tuỳ thuộc vào đối tượng hay các loại hình kiểm toán mà các mục tiêu có thể
khác nhau
Trang 21Còn theo văn bản chuẩn mực kiểm toán 1 thì “ Mục tiêu của cuộc kiểm tra bình
thường các báo cáo tài chính của các kiểm toán viên độc lập là sự trình bày một
nhận xét về mức trung thực mà các báo cáo phản ánh tình hình tài chính, các kết
quả độc lập và sự lưu chuyển dòng tiền mặt theo các nguyên tắc kế toán đã được
thừa nhận ” Đối với bất kỳ một cuộc kiểm toán nào các mục tiêu đặt ra nhằm cung
cấp một bố cục giúp kiểm toán viên tập hợp đầy đủ bằng chứng cần thiết Các mục
tiêu đặt ra này có liên quan chặt chẽ đến việc xác nhận của doanh nghiệp mà cụ thể
là ban quản trị về các tiêu chuẩn của đặc tính thông tin đã trình bày trên báo cáo tài
chính Thông thường các bước triển khai mục tiêu kiểm toán là như sau
Các mục tiêu kiểm toán chung đối với các chu trình kiểm
Trang 22Qua các bước trên ta thấy việc xác nhận của ban quản trị về các chu trình nói
chung và chu trình Bán hàng Thu tiền nói riêng là rất quan trọng để thiết kế nên các
mục tiêu kiểm toán Từ việc xác nhận của ban quản trị mà chúng ta đi từ mục tiêu
kiểm toán chung đến các mục tiêu đặc thù của từng chu trình
Như vậy mục tiêu chung là các mục tiêu có liên quan đầy đủ đến các cơ sở dẫn liệu
và áp dụng cho toàn bộ các khoản mục trên báo cáo tài chính đối với mọi cuộc
kiểm toán tài chính Còn mục tiêu đặc thù là nét riêng biệt cho từng chu trình cụ thể
được thiết kế cho từng trường hợp cụ thể theo sự phán đoán riêng của kiểm toán
viên đối với đặc điểm riêng của chu trình và những sai sót hay sẩy ra đối với chu
trình này
Các mục tiêu chung áp dụng cho toàn bộ báo cáo tài chính của một cuộc kiểm
toán tài chính như sau:
1 Xác minh về tính hiệu lực
2 Xác minh về tính trọn vẹn
3 Xác minh về việc phân loại và trình bày
4 Xác minh về nguyên tắc tính giá
5 Xác minh về quyền và nghĩa vụ
6 Xác minh về tính chính xác, máy móc
Từ những mục tiêu chung của kiểm toán bảng khai tài chính đó ta có các mục
tiêu đặc thù cho chu trình Bán hàng- Thu tiền như sau:
1 Xác nhận về sự hiện hữu (tính có thật): Doanh thu trên báo cáo kết quả kinh
doanh phản ánh những quá trình về trao đổi hàng hoá và dịch vụ thực tế đã xẩy ra,
các khoản phải thu là có thực được lập vào ngày lập bảng cân đối kế toán
Các mục tiêu kiểm toán đặc thù đối với các chu trình kiểm toán
Trang 232 Xác nhận về tính đầy đủ (tính trọn vẹn): Doanh thu về hàng hoá và dịch vụ
đã bán, các khoản thu bằng tiền và các khoản phải thu đã được ghi sổ và đưa váo
báo cáo tài chính
3 Xác nhận về quyền sở hữu: Hàng hoá và các khoản phải thu của doanh
nghiệp tại ngày lập bảng cân đối tài sản đều thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
4 Xác nhận về sự đánh giá và phân loại: Doanh thu và các khoản phải thu
được phân loại đúng bản chất kinh tế và được đánh giá theo các chuẩn mực kế toán
và các quy định về tài chính
5 Xác nhận về sự trình bày: Doanh thu và các khoản phải thu được trình bày
trung thực và đúng đắn trên tài khoản cũng như trên các báo cáo tài chính theo
đúng chế độ kế toán của doanh nghiệp và theo các quy định kế toán hiện hành
6 Xác nhận về sự tính toán chính xác: Các khoản giảm giá, chiết khấu, hàng
bán bị trả lại, các phép tính cộng dồn, nhân, chia được tính toán đúng đắn và
chính xác
7 Xác nhận về tính đúng kỳ: Cụ thể doanh thu và các khoản phải thu phải
được ghi chép đúng kỳ, không được ghi giảm doanh thu kỳ này, ghi tăng doanh thu
kỳ sau và ngược lại
Tóm lại : Đối với mỗi một chu trình kiểm toán có các mục tiêu đặc thù
riêng và chu trình bán hàng thu tiền cũng có các mục tiêu riêng biệt Tuy nhiên với
mỗi một cuộc kiểm toán cụ thể thì mục tiêu riêng của chu trình bán hàng thu tiền là
khác nhau Vì vậy căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà kiểm toán viên xác định
các mục tiêu kiểm toán cụ thể
5.3 Các chứng từ, sổ sách sử dụng trong quá trình kiểm toán
a Các chứng từ được sử dụng trong quá trình kiểm toán bao gồm
- Báo cáo kết quả kinh doanh của năm trước và năm nay
- Các đơn đặt hàng của khách (Đây là cơ sở pháp lý cho việc ràng buộc trách nhiệm
cho các bên tham gia hợp đồng)
- Hợp đồng đã ký kết về bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ
Trang 24- Hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho
- Các bản quyết toán, thanh lý hợp đồng bán hàng
- Các chứng từ phiếu thu tiền mặt hoặc séc, giấy báo nợ, các bản sao kê của
ngân hàng
- Các hợp đồng khế ước, tín dụng
- Các chứng từ, các hợp đồng vận chuyển thành phẩm hay hàng hoá
b Các sổ sách sử dụng trong quá trình kiểm toán
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ nhật ký chung trong kỳ để hạch toán
kế toán thì hệ thống sổ bao gồm
1 Sổ nhật ký chung
2 Sổ nhật ký thu tiền
3 Sổ cái các khoản phải thu
4 Các sổ liên quan khác ( nếu cần thiết)
6 Quy trình kiểm toán chu trình Bán hàng-Thu tiền trong kiểm toán bản khai
tài chính
Sau khi kiểm toán viên đã xác nhận các mục tiêu kiểm toán đặc thù cho chu trình
Bán hàng Thu tiền thì công việc tiếp theo là tập hợp bằng chứng kiểm toán Để đảm
bảo cho công việc diễn ra theo đúng tiến độ, khoa học và hiệu quả thì việc tập hợp
và thu thập bằng chứng, đánh giá phải diễn ra theo một quy trình
Quy trình kiểm toán là một hệ thống phương pháp của quá trình tổ chức một cuộc
kiểm toán nhằm giúp cho kiểm toán viên tập hợp bằng chứng một cách đầy đủ
Chu trình Bán hàng và thu tiền là một bộ phận cấu thành của báo cáo tài chính, vì
vậy để cho toàn bộ cuộc kiểm toán diễn ra một cách thống nhất thì khi kiểm toán
chu trình này phải tuân theo quy trình kiểm toán của một cuộc kiểm toán báo cáo
tài chính mỗi một cuộc kiểm toán nào cũng phải tuân theo các bớc cơ bản sau:
Bước 1 Chuẩn bị kiểm toán
Bước 2 Thực hiện kiểm toán
Trang 25Bước 3 Kết thúc kiểm toán
Các bước này bao gồm các nội dung sau
Bước 1: Chuẩn bị kiểm toán
Đây là bước đầu tiên trong quá trình kiểm toán, nó chiếm một vị trí quan trọng
trong toàn bộ cuộc kiểm toán do mục đích của giai đoạn này là tạo ra cơ sở pháp lý,
trí tuệ, vật chất cho công tác kiểm toán Giai đoạn này cũng quyết định việc lập kế
hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán phù hợp khoa học và có hiệu quả Việc
lập kế hoạch kiểm toán nhằm để đảm bảo rằng công tác kiểm toán sẽ được tiến
hành một cách có hiệu quả và theo đúng với thời hạn dự kiến Giai đoạn này bao
gồm các bước chủ yếu sau:
1.1 Xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu và phạm vi kiểm toán
cần được xác định cụ thể cho từng cuộc kiểm toán Mục tiêu kiểm toán là cái đích
cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán cụ thể
Mục tiêu chung phải gắn chặt với mục tiêu riêng, yêu cầu của quản lý Do vậy mục
tiêu của kiểm toán phải tuỳ thuộc vào quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán,
tuỳ thuộc vào loại hình kiểm toán
Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng kiểm
toán thường được xác định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hướng cụ
thể xác định mục tiêu này Với một khách thể kiểm toán cần xác định rõ đối tượng
cụ thể của kiểm toán: Bảng cân đối tài sản hay toàn bộ các bản khai tài chính
1.2 Chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện
vật chất cơ bản:
Tuỳ thuộc vào mục tiêu và phạm vi kiểm toán, cần chỉ định trước người chủ trì
kiểm toán sẽ tiến hành lần này Công việc này có thể thực hiện đồng thời với việc
xây dựng mục tiêu cụ thể song cần được thực hiện trước khi thu thập thông tin, đặc
biệt cần làm quen với đối tượng, khách thể mới của kiểm toán
Người được chỉ định phụ trách công việc kiểm toán phải có trình độ tương xứng
với vị trí, yêu cầu, nội dung và tinh thần của cuộc kiểm toán nói chung Bên cạnh
Trang 26đó cần chuẩn bị các thiết bị và điều kiện vật chất khác như phương tiện tính toán,
kiểm tra thích ứng với đặc điểm tổ chức kế toán
1.3 Thu thập thông tin
Thu thập thông tin chỉ hướng tới việc đưa ra các bước quyết định về kiểm toán (kể
cả kế hoạch kiểm toán), chưa đặt ra các mục đích thu thập bằng chứng cho kết luận
kiểm toán Do vậy, nhiệm vụ thu thập thông tin đặt ra ở bước này là mục tiêu và
phạm vi kiểm toán song nói chung là cần quan tâm tới chiều rộng hơn là chiều sâu
Trong thu thập thông tin, trước hết cần tận dụng tối đa các tài liệu đã có song khi
cần thiết vẫn phải có các biện pháp điều tra bổ sung Các nguồn tài liệu đã có
thường bao gồm :
- Các nghị quyết có liên quan đến hoạt động của các đơn vị được kiểm toán
- Các văn bản có liên quan đến đối tượng và khách thể kiểm toán
- Các kế hoạch, dự toán, dự báo có liên quan
- Các báo cáo kiểm toán lần trước, các biên bản kiểm kê hoặc biên bản xử lý
các vụ việc đã xảy ra trong kỳ kiểm toán
- Các tài liệu khác có liên quan
1.4 Lập kế hoạch kiểm toán
Kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực giữa nhu cầu và tiềm lực đã có
Trong kiểm toán kế hoạch chung này gọi là kế hoạch chiến lược hay kế hoạch tổng
thể cho toàn bộ cuộc kiểm toán Việc xác định các nhu cầu được thực hiện chủ yếu
qua việc cụ thể hoá mục tiêu và phạm vi kiểm toán mà trước tiên là các công việc
cụ thể phải làm và trên cơ sở đó lượng hoá quy mô từng việc và xác định thời gian
kiểm toán tương ứng Để thực hiện được cả 2 quá trình đó, cần thiết không chỉ cụ
thể hoá và chính xác hoá mục tiêu và phạm vi kiểm toán mà còn cần thiết xác định
các nguồn thông tin có thể có
Bên cạnh đó cần xác định số người, kiểm tra phương tiện và xác định thời hạn thực
hiện công tác kiểm toán Số ngời tham gia công tác kiểm toán phải phù hợp với quy
mô kiểm toán nói chung, cơ cấu của nhóm công tác phải thích ứng với từng việc cụ
Trang 27thể đã chính xác hoá mục tiêu và phạm vi Hơn nữa cũng cần phải đảm bảo về chất
lượng của các thiết bị và các phương tiện kiểm toán Do đó nhiệm vụ của xây dựng
kế hoạch kiểm toán là xác định cụ thể số lượng, cơ cấu, chất lượng về người và
phương tiện tương ứng với khối lượng nhiệm vụ kiểm toán
Ngoài ra cần phaỉ xác định cụ thể thời hạn thực hiện công tác kiểm toán về thời
gian và thời điểm thực hiện từng công việc cụ thể đã phân công cho từng người
theo logic giữa các công việc cụ thể
Trên cơ sở tính toán cụ thể số người, phương tiện, thời gian kiểm toán cần xác định
kinh phí cần thiết cho từng cuộc kiểm toán Việc lập kế hoạch kiểm toán cần được
cụ thể hoá qua hợp đồng kiểm toán trong đó quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn
từng bên cả trong việc chuẩn bị và cả trong việc thực hiện kế hoạch
1.5 Xây dựng trương trình kiểm toán
Trên cơ sở kế hoạch tổng thể cần xây dựng quy trình tổng thể cho từng phần hành
kiểm toán Do mỗi phần hành kiểm toán cụ thể có những vị trí, đặc điểm khác nhau
nên phạm vi và loại hình kiểm toán cũng khác nhau dẫn đến số lượng và các bước
kiểm toán cũng khác nhau Xây dựng quy trình kiểm toán chính là việc xác định số
lượng và thứ tự các bước kể cả việc bắt đầu đến việc kết thúc
Như vậy quá trình kiểm toán cần được xây dựng trên những cơ sở cụ thể trước hết
là mục tiêu, loại hình kiểm toán và đặc điểm cụ thể của đối tượng kiểm toán
Bước 2: Thực hành kiểm toán
Đây là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã ấn định trong kế hoạch, quy
trình kiểm toán Do vậy, trong bước công việc này, tính nghệ thuật trong tổ chức
bao trùm suốt quá trình Mặc dù vậy tính khoa học trong tổ chức vẫn đòi hỏi thực
hành kiểm toán phải tôn trọng những nguyên tắc cơ bản sau:
Một: Kiểm toán phải tuyệt đối tuân thủ quy trình kiểm toán đã được xây
dựng Trong mọi trường hợp, kiểm toán viên không được tự ý thay đổi quy trình
Hai: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chép
những phát giác, những nhận định về các nghiệp vụ, các con số, các sự kiện nhằm
Trang 28tích luỹ bằng chứng, nhận định cho những kết luận kiểm toán và loại trừ những ấn
tượng, nhận xét ban đầu không chính xác về nghiệp vụ, các sự kiện thuộc đối tượng
kiểm toán
Ba: Định kì tổng hợp kết quả kiểm toán để nhận rõ mức độ thực hiện so với
khối lượng công việc chung thường là trên các bảng kê chênh lệch và bảng kê xác
minh
B ốn: Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán đều phải có ý
kiến thống nhất của người phụ trách chung công việc kiểm toán v, người ký thư
mời và hợp đồng kiểm toán Mức độ pháp lý của những điều chỉnh này phải tương
ứng với tính pháp lý trong lệnh kiểm toán hoặc hợp đồng kiểm toán
2.1 Thiết kế phương pháp kiểm toán
Phương pháp kiểm toán là cách thức kiểm toán viên đưa ra để thu thập và đánh giá
bằng chứng kiểm toán phục vụ cho việc đưa ra các nhận xét về báo cáo tàI chính
Phương pháp kiểm toán có vai trò quan trọng trong bất kỳ cuộc kiểm toán nào vì nó
có quan hệ chặt chẽ với việc thu thập, đánh giá bằng chứng kiểm toán và liên quan,
quyêt định đến hiệu quả của cuộc kiểm toán
Trong thực tế khi tiến hành kiểm toán tàI chính, người ta có thể dựa vào rủi ro
kiểm soát, rủi ro tiềm tàng để thiết kế phương pháp kiểm toán Theo cách thức này,
các phương pháp cơ bản được vận dụng theo các phép thử nghiệm và trắc nghiệm
Với mục đích thu thập và đánh giá bằng chứng, thực chất của việc kiểm toán là
việc kết hợp hai phương pháp thử nghiệm tuân thủ và phương pháp thủ nghiệm cơ
bản Bởi bằng chứng kiểm toán có quan hệ chặt chẽ đến cơ sở dẫn liệu và các mục
tiêu kiểm toán do đó việc thực hiện hai phương pháp trên là nhằm đánh giá các mục
tiêu kiểm toán là đạt hay chưa
Phương pháp thử nghiệm tuân thủ là loạI thử nghiệm để thu thập bằng chứng kiểm
toán nhằm chứng minh rằng hệ thống kiểm soát nội bộ là hữu hiệu Như vậy thử
nghiệm tuân thủ được sử dụng chỉ khi kiểm toán viên đánh giá rằng rủi ro kiểm
soát là thấp Ngược lạI khi rủi ro kiểm soát được đánh giá cao thì kiểm soát nội bộ
Trang 29là không hữu hiệu, từ đó kiểm toán viên sẽ không cần thực hiện các thử nghiệm
kiểm soát mà mở rộng phạm vi áp dụng các thử nghiệm cơ bản
Phương pháp thử nghiệm cơ bản là loạI thử nghiệm dùng để thu thập bằng chứng
về mức độ trung thực và hợp lý của những số liệu kế toán Thực chất của loạI thử
nghiệm này là chú ý đến từng bộ phận của báo cáo tàI chính và cụ thể hơn nữa là
việc rà soát từng khoản mục theo trình tự từ số dư khoản mục, số dư tàI khoản, đến
số dư phát sinh, đến chứng từ và xác định trên thực tế loạI nghiệp vụ này có thể xảy
ra hay không Khi tiến hành kiểm toán tuỳ thuộc tình huống cụ thể xác định mức
trọng yếu của khoản mục nhỏ hay lớn, rủi ro kiểm soát là nhỏ hay lớn để kết hợp
hai loạI thử nghiệm này theo các hướng khác nhau: Dùng phương pháp tuân thủ
hay phương pháp cơ bản là chủ yếu
Đối với các trắc nghiệm gồm có 3 loạI trắc nghiệm
Tr ắc nghiệm đạt yêu cầu: loạI tắc nghiệm này liên quan chặt chẽ đến việc dùng các
phép thử nghiệm tuân thủ - khi thiết kế loạI này người ta thường chú ý đến việc
phát hiện ra các thủ tục kiểm soát nào vắng mặt để người ta nhận biết được nhược
đIểm của hệ thống kiểm soát nội bộ theo hai trường hợp xảy ra
1 Có dấu vết: (có sự hiện diện của thủ tục kiểm soát nội bộ) Để tiến hành loạI trắc
nghiệm này thông thường kiểm toán viên phảI kiểm tra lạI chứng từ xem có dấu
hiệu của các chữ ký phê duyệt nghiệp vụ hay không Bên cạnh đó kiểm toán viên
có thể tiến hành lạI một số nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh như cộng dồn số hàng
bán trong tháng xem có khớp với nhật ký bán hàng hay không
2 Không có dấu vết: (không có sự hiện diện rõ ràng của kiểm soát nội bộ) Thuộc
loạI này bao gồm các nguyên tắc quản lý của các đơn vị như nguyên tắc phân định
nhiệm vụ, nguyên tắc bất kiêm nhiệm thực hiện theo cách này, kiểm toán viên có
thể quan sát hoặc phỏng vấn công việc do nhân viên đơn vị tiến hành nhằm tìm ra
nhược đIểm của hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 30Như vậy, cách thức để tiến hành loạI trắc nghiệm này bao gồm công việc quan sát,
phỏng vấn, đIều tra chứng từ sổ sách và làm lại Cách này thường được kết hợp với
nhau theo từng trường hợp cụ thể để tăng hiệu quả của kiểm toán
+Trắc nghiệm chi tiết là việc kiểm tra trực tiếp các nghiệp vụ hay các số dư
gồm có
Trắc nghiệm độ tin cậy(hay kiểm tra nghiệp vụ): Mục đích của loạI trắc nghiệm
này là kiểm tra chi tiết một số ít nhay toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh để xem xét
độ chính xác của các số dư Cách này thường được áp dụng khi số phát sinh của
các tàI khoản ít hay đối với các nghiệp vụ bất thường Trắc nghiệm này được thực
hiện tuần tự theo các bước sau:
Chọn nghiệp vụ cần kiểm tra kiểm tra về các tàI liệu chứng từ của nghiệp vụ
xem xét quá trình luân chuyển của chúng qua các tàI khoản và cuối cùng là xác
định số dư cuối kỳ
-Trắc nghiệm chi tiết các số dư (hay kiểm tra chi tiết các số dư ) Là kiểm tra
để đánh giá về độ chính xác cuả các số dư tàI khoản có nhiều nghiệp vụ phát sinh
Trắc nghiệm này được thực hiện như sau:
*Phân tích số dư thành từng bộ phận hay theo từng đối tượng
*Chọn mẫu để kiểm tra và đối chiếu giữa các tàI liệu sổ sách, đối chiếu với
các tàI liệu thu được từ bên thứ ba
*Kiểm toán viên đánh giá kết quả và xác định số dư cuối kỳ
+ Trắc nghiệm phân tích: (thủ tục phân tích) Là việc so sánh các thông tin tàI
chính, các chữ số, các tỷ lệ, để phát hiện và nghiên cứu về các trường hợp bất
thường Việc so sánh này có thể áp dụng cho các trường hớp sau:
* So sánh thông tin tàI chính giữa các kì, các niên độ, hoặc so sánh thông tin
tàI chính của doanh nghiệp với thông tin của toàn ngành
* Nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố của thông tin tàI chính, giữa thông
tin tàI chính và thông tin kong mang tính chất tàI chính
Trang 31* Mục tiêu của phân tích là giúp cho kiểm toán viên hiểu rõ về hoạt động kinh
doanh của khách hàng (xác định rủi ro tiềm tàng) trong giai đoạn lập kế hoạch, xác
định các trường hợp bất thườngvà giới hạn phạm vi kiểm tra chi tiết khi thực hiện
phạm vi kiểm toán
Việc thực hiện hai phép trắc nghiệm là chắc nghiệm chi tiết và trắc nghiệm phân
tích có liên quan trực tiếp đến việc áp dụng các phép thử nghiệm cơ bản Các phép
thử nghiệm tuân thủ và thử nghiệm cơ bản được thiết kế trong trương trình kiểm
toán sẽ giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng đầy đủ và thích hợp trong giai
đoạn thực hiện kiểm toán căn cứ vào kết quả thực hiện kiểm soát, kiểm toán viên
sẽ đánh giá lạI rủi ro kiểm soát nếu rủi ro kiểm soát không đúng với dự kiến nghĩa
là kiểm soát nội bộ hữu hiệu hơn hoặc kém hữu hiệu hơn so với những nhận định
ban đầu, lúc này kiểm toán viên sẽ đIều chỉnh tăng hoặc giảm phạm vi các thử
nghiệm cơ bản đã được thiết kế trong trương trình kiểm toán
Trong quá trình thiết kế hay thực hiện các phương pháp kiểm toán, về cơ bản là kết
hợp hai loạI hình thử nghiệmtuân thủ và thử nghiệm cơ bản tuy nhiên khi tiến hành
kiểm toán viên phảI đưa ra các loạI kiểm toán sau:
*Quyết định loạI thử nghiệm, trắc nghiệm (các thủ tục kiểm soát) nào được
dùng với từng loạI khoản mục cụ thể ví dụ như dùng thử nghiệm thuân thủ hay cơ
bản Khi tiến hành thử nghiệm cơ bản lạI quyết định dùng loạI trắc nghiệm nào
*Quy mô mẫu
Trong các loạI trắc nghiệm thì chắc nghiệm trực tiếp trên các số dư là tốn kém nhất
và mất nhiều thời gian nhất, do phảI chọn mẫu để tiến hành Trên thực tế chúng ta
không thể tiến hành kiểm tra toàn bộ 100% các loạI nghiệp vụ phát sinh, vì thế phảI
tiến hành chọn mẫu, những mẫu được chọn phảI đạI diện cho đặc trưng của tổng
thể ĐIều quan trọng nhất của quy mô mẫu là phảI xác định số lượng các phần tử
trong mẫu phù hợp để thu thập đầy đủ bằng chứng Nguyên tắc áp dụng khi xác
định quy mô mẫu là dựa vào quan hệ với rủi ro kiểm soát Khi rủi ro kiểm soát thấp
thì quy mô mẫu tăng lên, rủi ro kiểm soát tăng lên thì quy mô mẫu giảm
Trang 32*Các khoản mục được chọn
NgoàI việc xác định số lượng mẫu chọn, đIều cần thiết phảI làm là xác định phần
tử của mẫu làm sao để mẫu có tính chất đặc trưng cho tổng thể Vì vậy, kiểm toán
viên xác định phần tử mẫu theo phương pháp chọn nghẫu nhiên NgoàI ra, đối với
một số nghiệp vụ phát sinh có giá trị lớn, cũng được tiến hành chọn
*Thời gian tiến hành
*Người tiến hành
Sau khi thiết kế chương trình kiểm toán mà trọng tâm là xác định các phương
pháp kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng
2.2 Thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
Chu trình bán hàng và thu tiền bao gồm các khoản mục trong mối quan hệ chặt chẽ
với nhau Vì vậy, khi thực hiện kiểm toán kiểm toán viên sẽ vận dụng các phương
pháp cụ thể cho từng khoản mục
Một Thực hiện thử nghiệm tuân thủ và thử nghiệm cơ bản đối với nghiệp vụ
bán hàng
+ Xem xét việc phân cách các nhiệm vụ trong khi thực hiện nghiệp vụ bán
hàng Việc thực hiện nghiệp vụ bán hàng phảI do các bộ phận đảm nhiệm từng
chức năng một
- Vệc xem xét đơn đặt hàng, chuẩn y các đơn đặt hàng, lập hoá đơn bán hàng,
gửi phiếu tính tiền cho khách, vận chuyển cho khách hàng do phòng tiêu thụ
(phòng kinh doanh, phòng thị trường) lập
- Việc phê chuẩn bán chịu, xét duyệt các khoản nợ không thu hồi được, quyết
định mức dự phòng nợ khó đòi do giám đốc hoặc người có thẩm quyền của đơn vị
Trang 33- Việc xuất kho, bảo quản kho hàng do thủ kho thực hiện.Thủ tục cần tiến
hành trong trường hợp này là phỏng vấn nhân viên, quan sát viên thực hiện hay
kiểm tra các chữ ký của chứng từ, sổ sách tương ứng với các bộ phận, xem rằng
liệu đơn vị có tôn trọng nguyên tắc trách nhiệm không
+ Sổ sách và chứng từ đầy đủ Sổ sách chứng từ của chu trình này là sổ nhật
ký chung, nhật ký bán hàng, hoá đơn bán hàng (hoá đơn kiêm phiếu xuất kho),
chứng từ vận chuyển, hợp đồng đã ký kết về cung cấp hàng hoá, dịch vụ Các loạI
chứng từ này có thể tập hợp thành từng bộ tương ứng với từng nghiệp vụ bán hàng
Việc tập hợp này giúp cho kiểm toán viên biết được chứng từ nào thiếu hoặc đầy
đủ, từ đó có thể phán đoán có gian lận hoặc sai sót xảy ra hay không
Thủ tục cần tiến hành là xem từng bộ chứng từ, ví dụ như xem một chuỗi lệnh vận
chuyển, kiểm tra xem có kèm theo lệnh bán hàng hoặc hoá đơn kiêm phiếu xuất
kho hay không
+ các loạI chứng từ được đánh số trước: Sử dụng chứng từ được đánh số trước
nhằm ngăn ngừa gian lận, biển thủ tiền thu được do bán hàng hoặc sai sót do ghi sổ
trùng lặp
Thủ tục kiểm toán là thực hiện kiểm tra tính liên tục, số thứ tự của hoá đơn
bán hàng, số hạng, số quyển các loạI nhật ký bán hàng
+ Nghiệp vụ bán hàng được phê chuẩn
Hiện nay hầu hết các loạI nghiệp vụ bán hàng trong công ty, doanh nghiệp đều thực
hiện bán hàng trả chậm để khuyến khích khách mua hàng Tuy vậy luôn có rủi ro đI
kèm do việc bán chịu gắn liền với việc thanh toán của khách hàng Trong trường
hợp nào đó, nếu gặp khách hàng cố tình dây dưa trả nợ, hoặc do một nguyên nhân
nào đó như bị phá sản chẳng hạn đều dẫn đến khả năng doanh nghiệp gặp khó
khăn do không thu hồi được nợ, từ đó có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán
kèm theo tình hình tàI chính có nhiều biến động phức tạp, ảnh hưởng lớn đến công
việc kinh doanh lâu dài Cho nên khi thực hiện bán chịu đòi hỏi phảI có sự phê
chuẩn , ký duyệt của người có thẩm quyền như giám đốc hoặc kế toán trưởng
Trang 34Thủ tục kiểm toán ở đây là áp dụng thử nghiệm tuân thủ, thực hiện việc kiểm tra
các chữ ký trên các hoá đơn bán hàng, hoặc chính sách bán hàng của doanh nghiệp
+ Doanh thu bán hàng được ghi sổ là có thật:
Khi thực hiện kiểm toán viên thông thường chọn mẫu một số nghiệp vụ bán hàng,
đối chiếu giữa việc ghi sổ, hoá đơn bán hàng và các chứng từ khác kèm theo như
chứng từ vận chuyển, phiếu xuất kho hàng hoá, có thể tiến hành tính toán lạI số tiền
trên hoá đơn xem có đúng không Mục đích của việc kiểm tra chi tiết từng loạI
nghiệp vụ để xem xét liệu có thể có gian lận, khai khống, hoặc hàng chưa xuất kho,
chưa chuyển giao cho khách mà đã ghi doanh thu
+ Doanh thu bán hàng được ghi sổ đầy đủ
Khi có sự gian lận, cố tình biển thủ tàI sản hoặc ghi giảm doanh thu để chốn thuế
thì doanh thu thường bị khai thiếu
Khi kiểm toán mục tiêu này, thường kiểm toán viên thực hiện các công việc sau
Trước hết, kiểm toán viên tiến hành phân tích doanh thu năm nay và năm trước
xem có biến động gì lớn Thường thì việc phân tích này kết hợp chặt chẽ với tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giả sử như doanh nghiệp
đang mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh bởi sản phẩm sản xuất ra trên thị trường
được ưa chuộng, tình hình tiêu thụ là khả quan, trong khi đó doanh thu của công ty
lạI giảm sút so với năm trước Chính từ đặc đIểm này khiến cho kiểm toán viên
phảI chú ý đến khả năng doanh thu bị khai thiếu Mặt khác khi phân tích, để có một
cáI nhìn tổng quát thì phảI xem xét cơ cấu của doanh thu bao gồm những loạI nào
và tỷ lệ của chúng trong tổng doanh thu Một trong những nguyên nhân để tăng hay
giảm doanh thu cũng là bắt nguồn từ sự thay đổi doanh thu
Trang 35Sau khi tiến hành thủ tục phân tích(trắc nghiệm phân tích) kiểm toán viên tiếp tục
tìm hiểu về các thủ tục kiểm soát áp dụng cho việc quản lý doanh thu tạI đơn vị
như thế nào
Khi doanh thu có biến động lớn (giảm mạnh so với năm trước)kết hợp với việc tìm
hiểu các thủ tục kiểm soát và các hoạt động quản lý cho thấy có sự buông lỏng, thì
kiểm toán viên sẽ tiến hành ngay việc kiểm tra chi tiết (trắc nghiệm trực tiếp các số
dư) với số lượng đạI diện các phần tử cho mẫu Nếu các thủ tục kiểm soát đã được
thiết kế vận hành liên tục và có hiệu quả thì lúc đó lý do nghi ngờ doanh thu bị khai
thiếu là do sai sót nhiều hơn là gian lận và kiểm toán viên có thể giảm số lượng
mẫu chọn đI so với trường hợp trên
Khi doanh thu có biến động không lớn, có thể xấp xỉ so với năm trước nhưng sản
phẩm của doanh nghiệp có thể đang được ưa chuộng trên thị trường, sản lượng sản
xuất tăng hơn so với năm trước thì khả năng doanh thu bị khai thiếu là nhiều hơn
và kiểm toán viên lạI tiếp tục như trên
Khi doanh thu có biến động không lớn, kết hợp với việc kiểm tra đánh giá các thủ
tục kiểm soát thấy có hoạt động có hiệu quả, vì vậy kiểm toán viên chỉ cần kiểm tra
chi tiết ở mức độ phù hợp
Để tiến hành các công việc đã nêu như ở trên, kiểm toán viên sẽ kiểm tra việc phê
chuẩn nghiệp vụ bán hàng ( do đặc đIểm của thủ tục kiểm soát này gắn chặt chẽ với
việc ghi thiếu hay ghi đầy đủ doanh thu), thể hiện qua chữ ký của người có thẩm
quyền tạI đơn vị trên các loạI hoá đơn, chứng từ Bên cạnh đó kiểm toán viên cũng
phảI chú ý đến thủ tục quản lý chứng từ tạI đơn vị và thông thường việc ghi thiếu
doanh thu thường gắn liền với việc lập chứng từ khống, hoặc hoá đơn bán hàng bị
mất mát ngoàI ra kiểm toán viên có thể tổng hợp các hợp đồng quan trọng, tính
tổng cộng lạI để phát hiện sự chênh lệch
+ Doanh thu được ghi chép đúng kỳ
Đây là mục tiêu kiểm toán đặc thù áp dụng cho tàI khoản doanh thu bởi doanh thu
của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng được tính toán trong một quá trình lâu dài
Trang 36Nếu doanh thu bị khai thiếu thì thường có một số nghiệp vụ bán hàng được chuyển
sang kỳ sau Trong trường hợp ngược lạI doanh thu bị khai tăng thì có một số hoá
đơn bán hàng sẽ được ghi nhận trước Như vậy mục tiêu này gắn liền với mục tiêu
kiểm toán tính đầy đủ hoặc có thật của doanh thu Mục tiêu này bị vi phạm có thể
do chủ ý của doanh nghiệp muốn khai tăng doanh thu để khuếch trương danh thế,
hoặc để ghi nhận thành tích và hưởng các mức ưu đãI, hoặc ghi giảm doanh thu để
trốn thuế Cũng có thể kế toán viên sai sót, không thể quản lý hết được sự biến
động của doanh thu do nghiệp vụ bán hàng xẩy ra thường xuyên với tần xuất lớn
Đối với mục tiêu này, kiểm toán viên cũng thực hiện việc phân tích như ở trên Khi
tìm hiểu các thủ tục kiểm soát kiểm toán viên phảI đặc biệt lưu ý đến tần xuất xảy
ra các nghiệp vụ bán hàng, việc luân chuyển chứng từ bán hàng từ các bộ phận đến
phòng kế toán, cùng trình độ của kế toán viên tương ứng
Khi tiến hành kiểm tra chi tiết thông thường sẽ chọn một số hoá đơn chứng từ lập
trước và sau ngày kết thúc niên độ kế toán, kiểm tra việc ghi sổ với từng hoá đơn
và phát hiện xem có hoá đơn nào được chuyển sang ghi kỳ sau hoặc có một số
chứng từ của năm sau được ghi nhận sang năm trước hay không
+ Doanh thu bán hàng được phân loạI và trình bày đúng đắn
Việc phân loạI và trình bày các loạI doanh thu thường gắn chặt chẽ với cơ cấu
doanh thu Để thực hiện thủ tục phân tích, kiểm toán viên sẽ thực hiện việc so sánh
cơ cấu của các loạI doanh thu như doanh thu tiêu thụ nội bộ, doanh thu các loạI
hàng hoá dịch vụ, doanh thu từ bên thứ ba của năm kiểm toán và năm trước đó,
nếu thấy có sự biến động lớn thì có thể tiến hành so sánh phân tích về tình hình sản
xuất (thể hiện ở số lượng nhập kho hàng hoá thành phẩm) và tình hình tiêu thụ (thể
hiện ở số lượng hàng hoá, thành phẩm xuất kho) Do việc phân loạI và trình bày có
liên quan tới việc tính toán thuế doanh thu, ứng với mỗi loạI hàng hoá, dịch vụ
khác nhau sẽ được áp dụng các mức thuế khác nhau, kiểm toán viên có thể tiến
hành tính toán lạI các loạI thuế, đối chiếu lạI với mức thuế đã ghi nhận, nếu phát
hiện thấy sự chênh lệch đáng kể thì phảI tiến hành kiểm tra tổng doanh thu với số
Trang 37tổng hợp chi tiết từng loạI hàng bán và các hình thức tiêu thụ trong kỳ để phát hiện
sai sót khi kế toán viên không phân loạI và trình bày đúng đắn doanh thu
+ Doanh thu bán hàng được đánh giá đúng đắn
Để kiểm toán mục tiêu này, kiểm toán viên cũng thực hiện các bước phân tích và
tìm hiểu về thủ tục kiểm soát như trên Còn việc tiến hành kiểm tra chi tiết sẽ được
thực hiện như sau:
Với số hoá đơn mẫu được chọn, kiểm toán viên tiến hành thính toán lạI số liệu trên
hoá đơn bán hàng (số tiền = số lượng hàng bán* đơn giá), đối chiếu xem giá bán
trên hoá đơn có phảI được quy định trên bảng yết giá của doanh nghiệp hay không
đồng thời đối chiếu số liệu trên hoá đơn bán hàng (đã được tính lại) với các bút
toán tương ứng trên sổ nhật ký bán hàng, ngoàI ra còn đối chiếu số liệu trên hoá
đơn bán hàng và số liệu trên chứng từ vận chuyển với các đơn dặt hàng của khách
hàng và với hợp đồng đã ký trước Thông thường mục tiêu ghi nhận doanh thu
được đánh giá và tính toán đúng đắn kết hợp với việc ghi nhận các loạI chiết khấu,
giảm giá, hàng bán bị trả lạI vì những nghiệp vụ này gắn liền với việc ghi giảm
doanh thu
Các nghiệp vụ này phát sinh có liên quan đến việc giảm giá trị tàI sản của doanh
nghiệp nên trước khi nghiệp vụ xảy ra phảI có sự phê chuẩn của người có thẩm
quyền trong doanh nghiệp và kiểm toán viên phảI đặc biệt chú ý đến đặc đIểm thời
gian được hưởng chiết khấu, giảm giá với khách hàng mua nhiều hoặc hàng hoá có
chất lượng kém, mà sau khi kiểm tra công ty thấy đúng với thực tế, đặc biệt là với
hàng đã bán bị trả lạI, mỗi nghiệp vụ đều phảI có sự phê chuẩn của trưởng phòng
kinh doanh hoặc của người có thẩm quyền về lý do trả lạI hàng
Kiểm toán viên thực hiện kiểm tra chi tiết bằng cách chọn một số nghiệp vụ phát
sinh trong kỳ, so sánh với mức chiết khấu, giảm giá trên hoá đơn với mức tính cho
khách hàng thực tế trên sổ nhật ký bán hàng, các khoản phảI thu Với hàng bán bị
trả lạI kiểm tra sự phê chuẩn bằng cách đối chiếu số lượng trên hoá đơn, hàng trả
Trang 38lạI với phiếu nhập kho (nếu nhập kho) hoặc trên sổ hàng gửi bán, đối chiếu số tiền
bán hàng trả lạI với bên có của tàI khoản phảI thu nếu hàng bán chưa thanh toán
Ba: Thực hiện thử nghiệm tuân thủ và thử nghiệm cơ bản đối với tàI khoản
phảI thu khách hàng
Khi nhìn nhận chu trình bán hàng và thu tiền trong mối liên hệ giữa các bộ phận
cấu thành cho thấy khoản phảI thu khách hàng có quan hệ chặt chẽ không chỉ với
khoản tiền đã thu được mà còn phản ánh tới các khoản doanh thu đã ghi nhận và
các khoản khác như chiết khấu hàng bán, hàng bán bị trả lạI và đặc biệt là liên quan
đến khoản dự phòng nợ phảI thu khó đòi và việc xử lý các khoản này với một hệ
thống kiểm soát hoạt động mạnh thông thường các khoản phảI thu được quản lý hết
sức chặt chẽ thể hiện thông qua các biểu hiện sau
+ Các khoản bán chịu phảI được phê duyệt trước khi giao hàng hoá cho khách
Việc phê duyệt phảI được thực hiện bởi người có thẩm quyền như Giám đốc và kế
toán trưởng Chính vì thế khi thực hiện thử nghiệm tuân thủ, kiểm toán viên có thể
phỏng vấn nhân viên của doanh nghiệp và tiến hành xem xét các loạI hoá đơn
chứng từ bán chịu hàng hoá liệu đã có đầy đủ chữ ký của người có thẩm quyền hay
không, hoặc quan sát một nghiệp vụ cụ thể phát sinh
Việc thực hiện bán chịu hay bán hàng thu tiền ngay phảI được tiến hành theo một
trình tự hợp lý, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất của các bộ phận Chú ý đến
việc luân chuyển chứng từ bán hàng giữa các bộ phận, liệu các chứng từ được lập
tạI phòng kinh doanh có được chuyển đến cho phòng kế toán đúng lúc để ghi sổ
hay không Thông thường tính đúng lúc của quy trình luân chuyển chứng từ gắn
liền với việc ghi chép đúng kỳ của các loạI doanh thu và các khoản phảI thu Để
thực hiện thử nghiệm kiểm soát đối với vấn đề này, kiểm toán viên tiến hành quan
sát một số nghiệp vụ cụ thể về việc bán hàng cho khách hàng để thấy được việc lập
và luân chuyển chứng từ như thế nào, kết hợp với các tàI liệu do khách hàng cung
cấp về chính sách bán hàng, sơ đồ mô tả việc bán hàng
Trang 39Một trong những phương pháp thường được áp dụng là lập bảng so sánh các tỷ suất
của năm nay và năm trước các tỷ suất được sử dụng bao gồm:
- Các thủ tục phân tích tàI khoản phảI thu của khách hàng
Thủ tục phân tích Sai sót có thể sảy ra
So sánh doanh thu bán chịu năm nay với năm trước
Tăng hay giảm các khoản phảI thu
So sánh số dư cuả khách hàng có
số dư nợ vượt quá một giới hạn nào
đó so với năm trước
Sai sót ở tàI khoản phảI thu
So sánh giữa số dư của tàI khoản phảI thu với doanh thu bán chịu của
năm nay so với năm trước
Tăng hay giảm khoản thu được từ khách hàng
NgoàI việc so sánh chung, kiểm toán viên cần duyệt lạI các bảng kê nợ phảI thu để
chọn ra một số khách hàng có mức dư nợ vượt qua một số nào đó, hoặc có số dư
kéo dàI trong nhiều năm để nghiên cứu thêm
Từ việc tìm hiểu các thủ tục kiểm soát nội bộ và thực hiện các thủ tục phân tích
kiểm toán viên sẽ tiến hành khoanh vùng sai sót, tập trung vào việc thiết kế các
kiểm tra chi tiết theo các mục tiêu kiểm toán đặc thù
+ Các khoản phảI thu được tính toán đúng đắn
số liệu chi tiết tàI khoản phảI thu phải nhất quán với các sổ phụ có liên quan,
số tổng hợp lạI tương ứng với số liệu trên sổ tổng hợp Có thể chọn một số mẫu bao
gồm các số dư cá biệt, đối chiếu với sổ chi tiết các khoản phảI thu để kiểm tra đúng
đắn về tên khách hàng, số dư và tàI khoản nợ
+ Các khoản phảI thu là có thật
Trang 40Kiểm toán viên yêu cầu khách hàng cung cấp bảng kê khách nợ, chọn mẫu và tiến
hành gửi thư xác nhận Việc chọn khách hàng nợ để gửi thư xác nhận phụ thuộc
vào:
- Tính trọng yếu của các khoản phảI thu, nếu các khoản phảI thu thực sự là
trọng yếu theo đánh giá của kiểm toán viên thì cần phảI có dung lượng mẫu lớn
hơn
- Số lượng các khoản phảI thu
- Kết quả hiểu biết về cơ cấu kiểm soát nội bộ của khách hàng và việc thực
hiện các thủ tục phân tích
- Kết quả xác nhận của năm trước
Sau khi tiến hành chọn khách hàng để xác minh các khoản phảI thu, kiểm toán viên
có thể yêu cầu công ty khách hàng gửi thư xác nhận dưới sự kiểm soát của kiểm
toán viên hoặc do kiểm toán viên tự tiến hành Hình thức thư xác nhận thông
thường bao gồm hai loạI là: Thư xác nhận loạI tích cực (yêu cầu khách hàng trong
trường hợp nào cũng gửi thư lạI cho dù có sự thống nhất hay không về số liệu cần
xác minh) và loạI không tích cực (chỉ gửi thư trả lời trong trường hợp có sự chênh
lệch về số liệu) Tuy nhiên trên thực tế thông thường kiểm toán viên hay sử dụng
loạI thứ nhất bởi cách này tuy có tốn kém và mất thời gian nhưng thể hiện rõ sự
hợp tác hay bất hợp tác của khách hàng nợ
Thư xác nhận thường được gửi cận hoặc sau ngày lập báo cáo tài chính để tránh các
rủi ro có thể xảy ra Trong trường hợp khách nợ không đáp ứng yêu cầu xác nhận
(không nhận được thư trả lời sau hai hoặc ba lần gửi thư xác nhận ) kiểm toán viên
phảI tiếp tục kiểm tra với các khoản thu tiền mặt sau đó đối chiếu số liệu trên sổ cáI
với hoá đơn bán hàng
+ Các khoản phảI thu được ghi sổ đầy đủ
Với mục tiêu này, khi thực hiện việc tìm hiểu các thủ tục kiểm soát kết hợp
với các thủ tục phân tích đã trình bày khi thực hiện việc kiểm toán tàI khoản doanh