Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết trong kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên tại Công ty dịch vụ tư vấn kế toán tài chính kiểm toán AASC
Trang 1MỞ ĐẦU
Với sự bùng nổ nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam đang là điểm thu hút đầu
tư của các nhà đầu tư nước ngoài với việc hàng loạt các dự án, các công ty nước
ngoài thành lập tại Việt Nam, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, do vậy
nhu cầu thông tin tàI chính, tình hình sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên
quan trọng với các nhà đầu tư và những người quan tâm Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế thì các công ty kiểm toán cũng phát triển một cách
mạnh mẽ với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau cho khách hàng Nhưng dịch vụ
kiểm toán đang là dịch vụ phát triển nhất với tầm quan trọng mà các thông tin
kiểm toán đưa ra
Trong kiểm toán tài chính thì thủ tục kiểm tra chi tiết là một thủ tục rất
quan trọng nó là thủ tục nhằm khẳng đinh các xét đoán của KTV nhằm thu thập
các bằng chứng kiểm toán có tính hưu hiệu Chính vì vậy em đã chọn đề tài:’’
Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết trong kiểm toán chu trình tiền lương và
nhân viên tại Công ty dịch vụ tư vấn kế toán tài chính kiểm toán AASC cho
chuyên đề thực tập của mình
Qua trình thực tập đã giúp em trưởng thành rất nhiều, nó không những
giúp em củng cố lại những kiến thức đã học mà còn cho em những kinh nhgiêm
thực tế vô cùng bổ ích
Tuy nhiên kiến thức và kinh nghiệm của em còn hạn chế, dù đã được sự
hướng dẫn tận tình của cô giáo và các anh chị trong Công ty AASC, chuyên đề
thực tập của em không tránh khỏi những sai sót Em rất mong các thầy cô
thông cảm và giúp đỡ em hoàn thành tốt chuyên đề được giao
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA CHI TIẾT VÀ CÁCH
THỨC THỰC HIỆN KIỂM TRA CHI TIẾT TRONG KIỂM TOÁN CHU
TRÌNH TIỀN LƯƠNG VÀ NHÂN VIÊN Chương I: Khái quát chung về chu trình tiền lương và kiểm tra chi tiết
trong kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên
1.1.Tổng quan về chu trình tiền lương và nhân viên
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của tiền lương và các tài khoản trích theo
lương
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có 3 yếu tố cơ bản:
tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động, trong đó lao động là yếu tố
quyết định
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền
sản xuất hàng hoá
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm xã hội mà người
lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao phí lao động của mình trong qua
trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động
Mặt khác, tiền lương là bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao
động tạo ra Tuỳ theo cơ chế quản lý mà tiền lương có thể xác định là một bộ
phận của chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá trị của sản phẩm hay
được xác định là một bộ phận của thu nhập – kết quả tài chính cuối cùng của
hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Trong trường hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao
động như bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí hay tử tuất sẽ được
hưởng khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là trợ cấp bảo
hiểm xã hội ( BHXH )
Quỹ BHXH được tạo bằng cách trích theo tỷ lệ phần trăm trên tiền lương
phải thanh toán cho nhân viên đế tính vào tri phí sản xuất kinh doanh và khấu
trừ vào tiền lương công nhân theo quy định hiện nay thì tỷ lệ này là 20% trong
đó: tính vào chi phí sản xuất kinh doanh 15% và công nhân phải chịu là 5%
Trang 3Nhằm xã hội hoá cho việc khám chữa bệnh người lao động còn được
hưởng chế độ khám chữa bệnh không mất tiền bao gồm các khoản chi về viện
phí, thuốc men… khi bị ốm đau Muốn vậy người lao động phải có thẻ bảo
hiểm y tế ( BHYT ) mua từ tiền trích BHYT, theo quy định hiện nay BHYT
được trích theo tỷ lệ 3% trên lương phải thanh toán cho công nhân trong đó tính
vào chi phí sản xuất kinh doanh là 2% và tính khấu trừ lương của công nhân là
1%
Ngoài ra còn quỹ kinh phí công đoàn được trích lập theo quy định hiện
nay là 2% trên lương phải trả và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
Trên cơ sở các chính sách chế độ về lao động, tiền lương, tiền thưởng
BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn Nhà nước đã ban hành các doanh nghiệp
cần làm tốt dựa trên tình hình thực tế của doanh nghiệp nhằm đảm bảo tốt nhất
dựa trên tình hình thực tế của doanh nghiệp nhằm đảm bảo tốt nhất quyền lợi
của người lao động
1.1.2 Các tài khoản trong chu trình tiền lương và nhân viên
Không xét đến quá trình phân loại phương pháp tính tiền lương, chu trình
tiền lương và nhân sự liên quan đến việc thuê mướn nhân viên Chu trình này
quan trọng vì một số lý do: Một là, lương, thuế, đánh trên chủ nhân và các chi
phí khác, là một loại phí tổn chủ yếu của tất cả các công ty Hai là, chi phí lao
động là một sự xem xét quan trọng, khi đánh giá hàng tồn kho ở các công ty sản
xuất chế biến và công ty xây dựng dẫn tới sự phân loại và phân bổ không đúng
đắn chi phí lao động có thể dẫn đến sai sót trọng yếu Cuối cùng, tiền lương là
một lĩnh vực mà ở đó công ty bị lãng phí hoặc bị ăn cắp thông qua sự gian lận
Những tài khoản về chu trình này bao gồm tất cả các tài khoản phí tổn
tiền lương, các khoản thuế, các khoản trích theo lương và những khoản mục
tương tự gắn với tiền lương
Sơ đồ 1: Các tài khoản trong chu trình tiền lương và nhân viên
Trang 4TK 1441, 138, 338 TK334 TK622, 627, 641, 642,…
TK 333 (333.8 ) TK 431
Biểu 1 minh hoạ đầy đủ thông tin kế toán lưu chuyển qua các tàI khoản
khác nhau trong chu trình tiền lương và nhân viên
TK 334: Tài khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản phải trả cho công
nhân viên; TK 338 gồm các khoản phải trả phải nộp khác liên quan tới các
khoản chi phí trích tiền lương, như BHXH ( 338.3 ), BHYT ( 338.4 ) và kinh phí
công đoàn ( 338.2 ), các tài khoản chi phí liên quan tới chu trình tiền lương như
chi phí nhân công trực tiếp ( 622 ) chi phí sản xuất chung ( 627 ) , chi phí bán
hàng ( 641 ), chi phí quản lí doanh nghiệp ( 642 ) và các tài khoản có liên quan
khác…
1.1.3.Bản chất của chu trình tiền lương và nhân viên
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà
doanh nghiệp phải trả cho người lao động theo thời gian hoặc theo khối lượng
công việc, lao vụ mà người lao động đóng góp vào công ty Tiền lương của một
doanh nghiệp bao gồm lương nhân viên hành chính, lương hưởng theo giờ lao
động(sản lượng công việc thực tế, các khoản thưởng, hoa hồng, các khoản phúc
Các khoản khấu trừ lương
Tiền lương, tiền công, phụ cấp… cho công nhân viên
Các khoản khấu trừ lương
Ứng trước v thanh toán cho công nhân viên
BHXH, BHYT, BH công đo n phải trả công nhân viên
Tiền thưởng phải trả từ quĩ khen thưởng
Tính thuế thu nhập công nhân viên phải nộp Nh nước
Trang 5lợi, và những khoản trích theo lương theo qui định hiện hành của pháp luật hoặc
theo sự thoả thuận của đôi bên)
Các chức năng liên quan tới chu kì tiền lương và nhân viên gồm có việc
tuyển dụng và thuê mướn nhân viên, phê duyệt về mức lương, bậc lương và sự
thay đổi trong mức lương và bậc lương, tính toán thời gian lao động, công việc
lao vụ hoàn thành của nhân viên; tính toán tiền lương và lập thành bảng thanh
toán tiền lương; ghi chép sổ sách tiền lương; thanh toán lương và bảo đảm số
lương chưa thanh toán
Thuê mướn và tuyển dụng nhân viên: việc tuyển dụng và thuê mướn nhân
viên được tiến hành bởi bộ phận nhân sự Tất cả những trường hợp tuyển dụng
và thuê mướn đều được ghi chép trên một bản báo cáo phê duyệt bởi ban quản
lý Bản báo cáo này cần phải được chỉ rõ về phân công vị trí và trách nhiệm
công việc, mức lương khởi điểm, các khoản thưởng, các khoản phúc lợi và các
khoản khấu trừ đã được phê chuẩn Bản báo cáo này sẽ được lập thành hai bản,
một bản dùng để vào sổ nhân sự và hồ sơ nhân viên lưu ở phòng nhân sự Một
bản còn lại được gửi xuống phòng kế toán tiền lương để làm căn cứ tính lương
Việc phân chia tách bạch giữa chức năng nhân sự với chức năng thanh
toán tiền lương là hết sức cần thiết nhằm kiểm soát rủi ro của việc thanh toán
cho những nhân viên khống Bởi vì chỉ có phòng nhân sự mới có điều kiện để
đưa thêm danh sách các nhân viên vào sổ nhân sự và chỉ có phòng kế toán tiền
lương mới có điều kiện tiến hành thanh toán lương cho người lao động Nên
việc tách bạch trách nhiệm này sẽ hạn chế nhân viên của bộ phận nhân sự với
các mức lương đã được ấn định cụ thể Sự kết hợp của hai chức năng này lại
một sẽ tạo điều kiện để gian lận và sai phạm nảy sinh
Phê duyệt các thay đổi của mức lương, bậc lương, thưởng và các khoản
phúc lợi: những thay đổi mức lương, bậc lương và các khoản đi kèm thường xảy
ra khi các nhân viên được thăng chức, thuyên chuyển công tác hoặc tăng bậc tay
nghề…Khi đó, các nhà quản đốc hoặc đốc công sẽ đề xuất với ban quản trị về sự
thay đổi mức lương hoặc bậc lương cho cấp dưới của họ Tuy nhiên, tất cả các
sự thay đổi đó đều phải được kí duyệt bởi phòng nhân sự hoặc người có thẩm
Trang 6quyền trước khi ghi vào sổ nhân sự Việc kiểm soát đối với những thay đổi này
nhằm bảo đảm tính chính xác về các khoản thanh toán tiền lương
Bộ phận nhân sự cũng cần phải công bố những trường hợp đã mãn hạn
hợp đồng hoặc bị đuổi việc hoặc thôi việc nhằm tránh tình trạng những nhân
viên đã rời khỏi công ty rồi nhưng vẫn được tính lương
Theo dõi, tính toán thời gian lao động và khối lượng công việc, sản phẩm
hoặc lao vụ hoàn thành: Việc ghi chép, phản ánh kịp thời, tính chính xác số ngày
công, giờ công làm việc thực tế hoặc ngừng sản xuất, nghỉ việc và số lượng
công việc / lao vụ hoàn thành của người lao động, từng đơn vị sản xuất, từng
phòng ban trong doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong quản lý lao động tiền
lương Đây là căn cứ dùng để tính lương, tính thưởng và các khoản trích trên
tiền lương cho các nhân viên
Đối với các doanh nghiệp áp dụng Chế độ chứng từ kế toán Việt Nam thì
chứng từ ban đầu sử dụng để hạch toán thời gian lao động và khối lượng công
việc/ lao vụ hoàn thành là Bảng chấm công (Mẫu số 02 – LĐTL – Chế độ chứng
từ kế toán ) và Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc lao vụ hoàn thành ( Mẫu số 06 –
LĐTL – Chế độ chứng từ kế toán ), Hợp đồng giao khoán ( Mẫu số 08 – LĐTL
– Chế độ chứng từ kế toán ) Ngoài ra, doanh nghiệp còn sử dụng các chứng từ
có liên quan như Thẻ thời gian, Giấy chứng nhận nghỉ ốm, thai sản, hoặc nghỉ
phép…để làm căn cứ tính lương và các khoản theo lương
Thông thường, Bảng chấm công được lập riêng cho từng bộ phận ( sản
xuất , phòng, ban, tổ, nhóm,…) và dùng cho mọt kỳ thanh toán (thường là một
tháng) Mọi thời gian thực tế làm việc, nghỉ việc, vắng mặt của người lao động
đều được ghi chép hàng ngày vào Bảng chấm công Người giám sát (đốc công,
quản đốc, đội trưởng…) của bộ phận thực hiện công tác chấm công cho nhân
viên của mình căn cứ vào số lao động có, vắng mặt đầu ngày làm việc ở đơn vị
mình Bảng chấm công phải để tại một địa điểm công khai để người lao động có
thể giám sát thời gian lao động của mình
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc lao vụ hoàn thành là chứng từ xác nhận số
sản phẩm hoặc lao vụ hoàn thành cảu đơn vị, cá nhân người lao động Do người
Trang 7giao việc lập, phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, và
người kiểm tra chất lượng sản phẩm hoặc lao vụ và người duyệt Phiếu được
chuyển cho kế toán tiền lương để tính lương
Hợp đồng giao khoán là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận
khoán về một lượng công việc cụ thể, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền
lợi của mỗi bên khi thực hiện hợp đồng Chứng từ chính là cơ sở để thanh toán
lương
Thẻ thời gian là hình thức được sử dụng phổ biến bởi doanh nghiệp ở các
nước phát triển nhằm ghi nhận thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc mỗi ngày
của nhân viên Hình thức này cũng đã bắt đầu được vận dụng ở các doanh
nghiệp liên doanh hoặc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam trong
những năm gần đây Tất cả các Thẻ thời gian của các nhân viên phải được theo
dõi giám sát bởi một nhân viên độc lập hoặc bằng hệ thống thông tin tự động và
báo cáo tình hình theo thẻ tuần Để đo thời gian mà người lao động thực tế làm
thì một số công ty đã dùng đồng hồ điện tử tự động đo bằng việc khi nhân viên
tới làm việc đầu giờ phải đưa thẻ vào máy và khi kết thúc ra về thì rút thẻ ra
Tuy nhiên với hình thức này thì có thể gây ra tình trạng gian lận thời gian bằng
cách một nhân viên nào đó đưa thẻ vào máy đo thời gian nhưng lại không thực
tế làm việc tại cơ quan mà làm việc riêng của mình ở đâu đó, sau đó, cuối giờ
làm việc thì rút thẻ ra Cho nên phải giám sát chặt chẽ thì mới kiểm soát được
tình hình này Thẻ thời gian phải được ký duyệt bởi người giám sát tại bộ phận
hoạt động trước khi gửi đi phòng kế toán để tính lương
Tất cả các trường hợp ngừng sản xuất, ngừng việc đều phải có Biên bản
ngừng sản xuất, ngừng việc để phản ánh rõ tình hình về thời gian kéo dài, thiệt
hại gây ra và những nguyên nhân để làm căn cứ tính lương và xử lý thiệt hại
Ngoài ra, các trường hợp do ốm đau, thai sản, hay tai nạn lao động đều
cần phải có Phiếu nghỉ ốm, Phiếu nghỉ thai sản hoặc Phiếu xác nhận ttai nạn lao
động và được chứng nhận bởi các cơ quan có thẩm quyền để làm căn cứ ghi vào
Bảng chấm công theo ký hiệu riêng
Trang 8Tính lương và lập bảng lương: Căn cứ vào các chứng tù theo dõi thời gian
lao động và kết quả công việc, sản phẩm lao vụ hoàn thành cũng như các liên
quan khác gửi từ bộ phận hoạt động tới bộ phận kế toán tiền lương, kế toán tiền
lương phải kiểm tra tất cả các chứng từ trước khi tính lương nhằm bảo đảm đầy
đủ các yêu cầu của chứng từ Sau khi đã kiểm tra các chứng từ thì kế toán tiến
hành tính lương, thưởng, phụ cấp và các khoản khấu trừ bằng việc lấy số thời
gian lao động thực tế hoặc khối lượng công việc, sản phẩm hoặc lao vụ hoàn
thành nhân với mức lương hoặc bậc lương hoặc đơn giá đac được phê duyệt bởi
phòng nhân sự cho từng người lao động, từng bộ phận Các khoản trích theo
lương hay các khoản khấu trừ như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn, và thuế thu nhập… đều phải được tính dựa trên các qui định của pháp luật
hiện hành hoặc thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động
Sau khi tính toán xong thì kế toan phải lập thành các Bảng thanh toán tiền
lương, Bảng thanh toán tiền thưởng( Theo các Mẫu số 02 và 03 – LĐTL – Chế
độ chứng từ kế toán) để làm căn cứ thanh toán tiền lương, phụ cấp và thưởng
cho người lao động Bên canh đó kế toán cũng phải lập bảng khai thác các
khoản phải nộp phải trả về các khoản trích theo tiền lương Đồng thời nó cũng
chính là cơ sở để kiểm tra việc thanh toán kương cho người lao động và thanh
toán nghĩa vụ với các cơ quan chức năng
Trong quá trình lập các Bảng thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho
người lao động thì kế toán phải tiến hành phân loại tiền lương, tiền thưởng phải
trả cho từng nhóm người lao động theo bộ phận sử dụng lao động và chức năng
của người lao động như lao động trực tiếp, lao động phục vụ quản lý ở bô phận
sản xuất, lao động phục vụ bán hàng, hay lao động phong ban để làm căn cứ
phân bổ tiền lương, thưởng vào chi phí kinh doanh một cách hợp lý và đúng đắn
Ghi chép sổ sách: Trên cơ sở các Bảng thanh toán tiền lương, thưởng và
các chứng từ gốc đính kèm kế toán tiến hành vào Sổ nhật ký tiền lương Định
kỳ, sổ nhật ký tiền lương sẽ được kết chuyển sang Sổ cái Đồng thời với việc
vào sổ, kế toán tiền lương viết các phiếu chi hoặc séc chi lương dựa vào Bảng
Trang 9thanh toán tiền lương, tiền thưởng và gửi các phiếu chi kèm theo Bảng thanh
toán tiền lương cho thủ quỹ sau khi đã được duyệt bởi người có thẩm quyền
( kế toán trưởng, giám đốc tài chính…)
Thanh toán tiền lương và bảo đảm những khoản lương chưa thanh toán:
Khi thủ quỹ nhận được phiếu chi hoặc séc chi lương kèm theo Bảng thanh toán
tiền lương, tiền thưởng thì thủ quỹ phải kiểm tra đối chiếu tên và số tiền được
nhận giữa phiếu chi hoặc séc chi lương với danh sách trên Bảng thanh toán tiền
lương, tiền thưởng Các phiếu chi hoặc séc chi lương phải được ký duyệt bởi
người có thẩm quyền ( kế toán trưởng, giám đốc tài chính…)
Thanh toán tiền lương và bảo đảm những khoản lương kèm theo Bảng
thanh toán tiền lương, tiền thưởng thì thủ quỹ phải kiểm tra đối chiếu tên và số
tiền được nhận giữa phiếu chi hoặc séc chi lương với danh nghĩa trên Bảng
thanh toán tiền lương, tiền thưởng Các phiếu chi hoặc séc chi lương phải được
ký duyệt bởi người mà không trực tiếp tính toán tiền lương hay vào sổ sách kế
toán tiền lương Sau khi thủ quỹ kiểm tra xong phiếu chi hoặc séc chi lương thì
tiến hành chi lương cho nhân viên và yêu cầu người nhận ký vào phiếu chi hoặc
séc chi đồng thời thủ quỹ phải đóng dấu và ký vào phiếu “ Đã chi tiền “ Các
phiếu chi hoặc séc chi phải được đánh số theo thứ tự cho mỗi chu trình thanh
toán
Đối với những phiếu chi hoặc séc chi lương chưa thanh toán thì được cất
trữ cẩn thận và bảo đảm đồng thời phải được ghi chép đầy đủ, chính xác trong
sổ sách kế toán Đối với các phiếu chi hoặc séc chi hỏng thì phải được cắt góc
và lưu lại nhằm bảo đảm ngăn ngừa các phiếu chi hoặc séc chi giả mạo
Đối với những phiếu chi hoặc séc chi lương chưa thanh toán thì được cất
trữ cẩn thận và bảo đảm đồng thời phải được ghi chép đầy đủ, chính xác trong
sổ sách kế toán Đối với các phiếu chi hoặc séc chi hỏng thì phải dược cắt góc
và lưu lại nhằm bảo đảm ngăn ngừa các phiếu chi hoặc séc chi giả mạo
Sơ đồ 2: sẽ tóm tắt lại các chức năng của chu trình tiền lương và nhân viên để
thấy rõ được mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận hoạt động, bộ phận nhân sự
và bộ phận kế toán tiền lương và bản chất của chu trình
Trang 101.1.4 Vai trò của chu trình tiền lương và nhân viên
Chu trình tiền lương của nhân viên đóng vai trò quan trọng vì một số
nguyên nhân sau đây Thứ nhất, tiền lương và các khoản trích trên tiền lương
là một khoản chi phí lớn trong hầu hết các doanh nghiệp cũng như
Sơ đồ 2: Chu trình tiền lương và nhân viên
các tổ chức Thứ hai, chí phí tiền lương được xem là một khoản mục trọng yếu
khi đánh giá giá trị hàng tồn kho của công ty sản xuất và xây dựng vì nếu việc
phân loại và phân bổ chi phí tiền lương mà không đúng đắn cho các đối tượng
chịu phí thì sẽ dẫn đến sai sót trọng yếu về giá trị sản phẩm dở dang và giá trị
hàng tồn kho và tất nhiên ảnh hưởng tới lợi tức Thứ ba, tiền lương là một lĩnh
vực có thể xảy ra các hình thức gian lận của nhân viên làm một lượng tiwnf lớn
của công ty bị sử dụng kém hiệu quả hoặc bị thất thoát Với những lý do trên
nên việc kiểm toán chu trình tiền lương và nhânviên thương được kiểm toán
viên chú trọng trong các cuộc kiểm toán tài chính
1.2 Khái quát về kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ trong chu trình
tiền lương và nhân viên
1.2.1 Khái niệm về kiểm tra chi tiết
Bộ phận hoạt động:
Chức năng l theo dõi thời gian, khối
lượng công việc/lao vụ ho n th nh:
* Chấm công, theo dõi thòi gian lao động
* Xác nhận công việc/ lao vụ ho n th nh
* Duyệt thời gian nghỉ ốm, thai sản, tai
* Tuyển chọn, thuê mướn
* Lập báo cáo tình hình nhân sự
* Lập sổ nhận sự
Bộ phận kế toán tiền lương :
* Tính lương, thưởng v lập bảng thanh toán lương, thưởng v các khoản phải nộp
* Ghi chép sổ sách kế toán
* Thanh toán lương thưởng v các khoản liên quan
Trang 11Đề cập đến khái niệm của kiểm tra chi tiết thì không có một chuẩn mực hay
cuốn sách nào có một khái niệm chính xác nhưng có nhiều quan điểm về vấn đề
này
Với tư cách là cách thức thu thập bằng chứng và triển khai các trắc nghiệm,
kiểm tra chi tiết được xem là một trong ba thủ tục kiểm toán thực hiện trong một
cuộc kiểm toán BCTC Theo cuốn "Kiểm toán tài chính" (chủ biên:
GS.TS.Nguyễn Quang Quynh), "kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp
kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiệm công việc và trắc
nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toán từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số
dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ"
Nếu nghiên cứu trên giác độ thủ tục thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm
phát hiện ra những sai sót trọng yếu trong BCTC, Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế
IAS 500 xác định: "kiểm tra chi tiết" bao gồm hai loại:
Kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ
Thủ tục phân tích
Như vậy, đã có sự đồng nhất trong cách gọi "kiểm tra chi tiết" Tuy nhiên,
trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500 "Bằng chứng kiểm toán" đã có sự
phân định rằng: bằng chứng được thu thập thông qua phối hợp thử nghiệm kiểm
soát và thử nghiệm cơ bản Trong đó, thử nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục phân
tích và kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ Và như đã đề cập, nội dung nghiên
cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ, gọi tắt
là "kiểm tra chi tiết" Và Chuẩn mực số 530 "lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục
lựa chọn khác" mới được ban hành cho biết: "khi kiểm tra chi tiết, KTV có thể
lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục khác để kiểm tra một hay nhiều cơ sở dẫn liệu
của BCTC hoặc ước tính độc lập về một khoản tiền"
Bên cạnh đó, theo định nghĩa trong cuốn "Audit System/2" của Hãng Kiểm
toán Deloitte Touche Tohmatsu: "Kiểm tra chi tiết (Tests of Detail) là việc thực
hiện các thủ tục chi tiết nhằm kiểm tra các bằng chứng bổ trợ cho số liệu của
Trang 12nghiệp vụ trong các số dư tài khoản được kiểm tra, nhằm xác định xem liệu số
dư đó có sai sót trọng yếu hay không"
Nhìn chung, kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ có thể coi là một thủ tục
kiểm toán hướng tới số phát sinh và số dư trên mỗi tài khoản, đồng thời là thủ
tục hỗ trợ cho hai thủ tục kiểm toán còn lại trong một cuộc kiểm toán
1.2.2 Đặc điểm của kiểm tra chi tiết trong chu trình tiền lương và nhân
viên
Đặc điểm của kiểm tra chi tiết trong chu trình tiền lương và nhân viên được
nhấn mạnh ở mục đích sử dụng và phạm vi áp dụng của kiểm tra chi tiết
Mục đích:
Mục đích thực hiện kiểm tra chi tiết được xây dựng từ lúc bắt đầu tiến hành
kiểm tra chi tiết, trong quá trình kiểm tra cho đến khi kết thúc kiểm tra
Kiểm tra chi tiết trước hết nhằm kiểm tra số dư tài khoản bằng cách kiểm
tra bằng chứng cho một số hoặc tất cả khoản mục hình thành nên số dư tài khoản
đó Nếu trong quá trình kiểm tra, phát hiện thấy không có sai sót hoặc sai sót
không trọng yếu thì KTV có thể kết luận tổng thể không có sai sót trọng yếu
Mục đích sau khi kết thúc kiểm tra chi tiết là xây dựng tính chính xác về mặt
tiền tệ và phân loại nghiệp vụ của các tài khoản hoặc khoản mục cần kiểm tra
Do mục đích của kiểm tra chi tiết hướng vào số dư và nghiệp vụ nên phạm
vi áp dụng của nó có nhiều đặc điểm đặc thù
Phạm vi áp dụng:
Kiểm tra chi tiết không phải được áp dụng trong mọi trường hợp mà phạm
vi sử dụng nó tuỳ thuộc nội dung từng cuộc kiểm toán Nội dung cuộc kiểm toán
ở đây không chỉ bó hẹp ở các công việc cụ thể cần làm đối với từng thủ tục kiểm
toán mà còn bao hàm cả kinh phí về nhân lực, vật lực cho cuộc kiểm toán cũng
như sự linh hoạt, kinh nghiệm của KTV thực hiện cuộc kiểm toán đó Từ đó,
kiểm tra chi tiết được thực hiện xét trên phạm vi các thủ tục kiểm toán và phạm
vi số dư được kiểm toán
Trang 13Trên cơ sở các thủ tục kiểm toán bao gồm đánh giá hệ thống KSNB và
phân tích sơ bộ, kiểm toán viên có kế hoạch kiểm tra chi tiết ở phạm vi thích
hợp Phạm vi mở rộng hay thu hẹp thể hiện trong hai trường hợp:
Kiểm tra chi tiết sẽ được tiến hành thay thế thủ tục kiểm soát và thủ tục
phân tích đối với:
Các nghiệp vụ ít xảy ra và số lượng các nghiệp vụ có quy mô lớn là
nh ỏ
Hiệu quả kiểm tra đạt ở mức cao nhất
Kiểm tra chi tiết cũng có thể được áp dụng với tư cách là một thủ tục
tiếp theo thủ tục kiểm soát và thủ tục phân tích nếu:
Không phát hiện sai sót trọng yếu khi thực hiện các thủ tục kiểm tra hệ
th ống kiểm soát nội bộ và phân tích đối với các nghiệp vụ thường
xuyên
Trường hợp kiểm tra chi tiết có tác dụng hỗ trợ thủ tục phân tích
Bên cạnh đó, phạm vi áp dụng của kiểm tra chi tiết còn tuỳ thuộc vào chi
phí bỏ ra thực hiện kiểm tra chi tiết để lựa chọn số dư thích hợp cho việc kiểm
tra
Có thể nói, phương pháp kiểm tra chi tiết ra đời sớm nhất là kiểm tra và ghi
chép từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là phương pháp thích hợp để
kiểm tra các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, các loại nghiệp vụ có tính chất không
phức tạp, hoặc những bộ phận, những khoản mục dễ "cảm xúc" trong kinh
doanh Tuy nhiên phương pháp kiểm tra chi tiết này trở nên không thực tế khi
quy mô hoạt động và khối lượng giao dịch ngày càng tăng lên bởi gắn liền với
sự tăng lên về nhân lực và vật lực Do vậy, KTV thường không kiểm tra chi tiết
toàn bộ các nghiệp vụ và các số dư tài khoản, mà việc kiểm tra chi tiết chủ yếu
dựa trên cơ sở kiểm tra mẫu một số nghiệp vụ cùng loại và số dư chọn mẫu Rõ
ràng, phạm vi áp dụng kiểm tra chi tiết đã có sự thu hẹp lại về số dư và nghiệp
vụ
Trang 14Như vậy, mục đích và phạm vi sử dụng của kiểm tra chi tiết rất cụ thể và
linh hoạt Tuy nhiên, đặc tính đó còn được thể hiện trong vai trò của kiểm tra chi
tiết như thế nào?
1.2.3.Vai trò của kiểm tra chi tiết trong chu trình tiền lương và nhân viên
Vai trò của kiểm tra chi tiết trong kiểm toán tiền lương không chỉ ở mục
đích và phạm vi sử dụng của nó mà cụ thể hơn và quan trọng hơn, đó là vai trò
của kiểm tra chi tiết trong mối liên hệ với các thủ tục kiểm toán khác như thế
nào, trong mối quan hệ với một số kiểu mẫu bằng chứng kiểm toán, trong tương
quan với chi phí tương đối cho một cuộc kiểm toán và trong mối liên hệ với các
cuộc kiểm toán khác nhau
Thứ nhất, nếu xem xét kiểm tra chi tiết trong mối liên hệ với các thủ tục
ki ểm toán khác: Mối quan hệ đó được thể hiện cơ bản qua Bảng số 1
Bảng số 1: Quan hệ giữa các thủ tục kiểm toán 1
Các thủ tục
kiểm soát +
Các thủ tục phân tích +
Các thủ tục kiểm tra chi tiết
=
Bằng chứng đầy
đủ và có giá trị
theo GAAS
Để có bằng chứng đầy đủ và có giá trị cho một cuộc kiểm toán, sự kết hợp
linh hoạt và hợp lý 3 thủ tục kiểm toán nêu trên vô cùng quan trọng Các thủ tục
kiểm soát đem đến cho KTV sự hiểu biết về cơ cấu KSNB, nhằm đánh giá xem
liệu các quá trình kiểm soát có đủ hiệu lực và tin cậy cho việc giảm rủi ro kiểm
soát, từ đó giảm các thử nghiệm cơ bản hay không Thử nghiệm cơ bản chú
trọng vào quá trình kiểm tra những nghiệp vụ ghi sổ trong sổ nhật ký rồi sau đó
chuyển vào sổ cái tổng hợp; trong đó, bao gồm những thủ tục phân tích nhằm
vào tính hợp lý toàn bộ của các nghiệp vụ và các số dư trên số cái tổng hợp, và
kiểm tra chi tiết số dư chú trọng vào các số dư cuối kỳ trong sổ cái tổng hợp
1 Tham khảo t i liệu Auditing Alvin A Arens tr 235
Trang 15Do vậy, các thủ tục cần có sự hỗ trợ bổ sung cho nhau để có kết luận thích
đáng về các khoản mục tiền lương được kiểm toán KTV không thể bỏ qua bất
kỳ thủ tục nào mà chỉ có thể hạn chế mức độ và phạm vi áp dụng một trong các
thủ tục mà thôi Kiểm tra chi tiết chính là một trong ba nhân tố cơ bản để giúp
KTV thu thập đủ bằng chứng cần thiết, đồng thời là thủ tục hỗ trợ đắc lực cho
hai thủ tục kiểm toán còn lại
Thứ hai, vai trò của kiểm tra chi tiết còn được minh hoạ thông qua mối
quan h ệ giữa các thủ tục với một số kiểm mẫu bằng chứng:
Trang 16Bảng số 2: Quan hệ thủ tục kiểm toán với bằng chứng kiểm toán 2
Xác nhận
Tài liệu chứng minh
Qua
n sát
Thẩm vấn
Chính xác về
kỹ thuật
Thể thức phân tích
Qua Bảng số 2, ứng với mỗi cách thức kiểm tra, KTV có cách thức thu thập
bằng chứng phù hợp Chẳng hạn, khi thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, để có
đánh giá về độ tin cậy của hệ thống KSNB, KTV chủ yếu vận dụng việc quan
sát, thẩm vấn cùng những tài liệu chứng minh và chú ý vào tính chính xác kỹ
thuật Hoặc khi thực hiện kiểm tra chi tiết, phương pháp thu thập bằng chứng
như kiểm kê vật chất, xác nhận, tài liệu chứng minh, thẩm vấn và tính chính xác
kỹ thuật lại được chú trọng hơn Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy rằng, mặc dù
kiểm tra chi tiết được vận dụng linh hoạt tuỳ thuộc vào kết quả của hai thủ tục
trước đó nhưng đây là cách thức kiểm tra mà số kiểu mẫu bằng chứng thu thập
được là nhiều hơn cả Hơn nữa, các bằng chứng có độ tin cậy cao thu thập từ
việc kiểm kê vật chất và lấy xác nhận chỉ có thể được áp dụng trong kiểm tra chi
tiết Chính tính độc lập và khách quan của hai kiểu mẫu bằng chứng này đã nhấn
mạnh vai trò của kiểm tra chi tiết trong một cuộc kiểm toán nói riêng và trong
kiểm toán tài chính nói chung
2 Tham khảo t i liệu Auditing Alvin A Arens tr 235
Trang 17Vai trò kiểm tra chi tiết không chỉ phản ánh trong quan hệ với thủ tục khác,
trong cách thức thu thập bằng chứng mà còn gắn liền với chi phí bỏ ra tiến hành
các thủ tục kiểm toán
Thứ ba, chi phí tương đối cho cuộc chu trình tiền lương và nhân viên
được thể hiện qua chi phí của các thủ tục kiểm toán cơ bản:
Các thủ tục kiểm toán được liệt kê theo thứ tự tăng dần của chi phí thu thập
bằng chứng như sau:
Trang 18Sơ đồ 3: Tương quan chi phí cho các thủ tục kiểm toán
Các thể thức phân tích ít tốn kém nhất đơn giản bởi việc thực hiện tính toán
và so sánh tương đối dễ dàng Thông thường những thông tin hữu ích và đáng kể
về sai sót tiềm tàng có thể có được chỉ thông qua việc so sánh hai hoặc ba con số
với nhau
Thủ tục kiểm soát cũng ít tốn chi phí vì kiểm toán viên có thể thực hiện các
cuộc thẩm vấn, quan sát và kiểm tra cho một số lượng lớn khoản mục về tính
chính xác kỹ thuật chỉ trong thời gian ngắn, thậm chí vài phút
Kiểm tra chi tiết hầu như luôn tốn kém hơn các thủ tục khác KTV luôn cố
gắng lập kế hoạch kiểm toán sao cho hạn chế tối đa việc thực hiện kiểm tra chi
tiết nhưng không thể bỏ qua, đồng thời khi thực hiện sao cho có hiệu quả nhất
Cuối cùng, vai trò của kiểm tra chi tiết cũng được xem xét cùng với các
th ủ tục khác gắn với các cuộc kiểm toán khác nhau:
Bảng số 3: Vai trò thủ tục kiểm toán trong các cuộc kiểm toán khác nhau 3
THỦ TỤC KIỂM SOÁT
THỦ TỤC PHÂN TÍCH
KIỂM TRA CHI TIẾT Cuộc kiểm toán
Trang 19Cuộc kiểm toán
T: s ố lượng trung bình K: Không
♦ Đối với cuộc kiểm toán 1: Khách hàng là một công ty lớn với các quá
trình KSNB tinh vi Do đó, KTV thực hiện các thủ tục kiểm soát trên
quy mô rộng và dựa vào cơ cấu KSNB của khách hàng để giảm thiểu
các thử nghiệm cơ bản Các thủ tục phân tích tiến hành sâu rộng để làm
giảm các thử nghiệm cơ bản khác Các cuộc kiểm tra chi tiết khi đó sẽ
được giảm đến mức tối thiểu Do sự chú trọng vào các thử nghiệm kiểm
soát và thể thức phân tích nên chi phí tiến hành cuộc kiểm toán này là
thấp
♦ Đối với cuộc kiểm toán 2: Công ty có quy mô trung bình Các thủ tục
kiểm toán được thực hiện ở mức độ trung bình ngoại trừ thủ tục phân
tích phải được thực hiện sâu rộng
♦ Đối với cuộc kiểm toán 3: Khách hàng này là một công ty có quy mô
vừa nhưng quá trình kiểm soát ít có hiệu quả KTV không thực hiện thủ
tục kiểm soát vì không tin cậy vào hệ thống KSNB Kiểm tra chi tiết
được chú trọng nhưng một số thể thức phân tích vẫn được thực hiện Lý
do mà các thể thức phân tích được hạn chế là vì KTV có thể dự đoán
xảy ra sai số trong các số dư tài khoản Chi phí cuộc kiểm toán có khả
năng tương đối cao vì số lượng quá trình kiểm tra chi tiết
♦ Đối với cuộc kiểm toán 4: Kế hoạch ban đầu về cuộc kiểm toán này là
theo cách thức sử dụng ở cuộc kiểm toán 2 Tuy nhiên, KTV tìm thấy
Trang 20những xu hướng khác nhau qua thủ tục kiểm soát và những sai lầm đáng
kể qua thủ tục phân tích Do đó, KTV kết luận là cơ cấu KSNB không
có hiệu quả Kiểm tra chi tiết phải được thực hiện để bù đắp những kết
quả không chấp nhận được của các thử nghiệm khác Chi phí cho cuộc
kiểm toán này cao hơn vì phải thực hiện cả thử nghiệm kiểm soát và thủ
tục phân tích và cũng không thể vì chúng mà giảm bớt việc kiểm tra chi
tiết
Do đặc thù riêng của mỗi cuộc kiểm toán, các thủ tục kiểm toán được vận
dụng khác nhau và do đó, kiểm tra chi tiết cũng phát huy vai trò của mình ở mức
độ phù hợp
Với những nhận định chung về kiểm tra chi tiết trong trình tự kiểm toán
chu trình tiền lương và nhân viên trình bày ở trên, cách thức kiểm tra chi tiết
được thực hiện cụ thể như thế nào, sử dụng phương pháp nào và được đánh giá
ra sao là những vấn đề được đề cập ở Chương thứ hai
Chương thứ hai - Cách thức tiến hành kiểm tra chi tiết trong Chu trình
tiền lương và nhân viên
2.1 Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết
Việc thiết kế kiểm tra chi tiết số dư được nhằm vào các mục tiêu kiểm toán
Để thoả mãn mục tiêu này, KTV thực hiện theo một phương pháp pháp luận
chung nhất theo Sơ đồ 4
Các thiết kế cho kiểm tra chi tiết thường là phần khó nhất của toàn bộ quá
trình lập kế hoạch Việc thiết kế này rất mang tính chủ quan và đòi hỏi những
phán xét nghề nghiệp quan trọng
Các quá trình kiểm soát hiệu quả làm giảm rủi ro kiểm toán và do đó bằng
chứng quy định cho các cuộc thử nghiệm cơ bản, trong đó có kiểm tra chi tiết số
dư và nghiệp vụ cũng giảm đi, còn các quá trình kiểm soát không đầy đủ làm
tăng số lượng của bằng chứng cần thiết thông qua kiểm tra chi tiết Việc thiết kế
Trang 21các cuộc khảo sát nghiệp vụ và các thủ tục phân tích dự kiến thu được một số
kết quả nhất định Những kết quả được dự kiến trước này có ảnh hưởng đến
cách thiết kế các kiểm tra chi tiết
Sơ đồ 4: Khái quát trình tự kiểm tra chi tiết trong mô hình chung
Kiểm tra chi tiết được thiết kế bao gồm các thể thức kiểm toán, quy mô
mẫu, các khoản mục phải chọn và thời hạn Các thể thức phải được chọn lọc và
thiết kế cho từng TK và từng mục tiêu kiểm toán trong từng TK
Khó khăn mà KTV gặp phải khi thiết kế kiểm tra chi tiết là nhu cầu phải dự
kiến kết quả của các thử nghiệm kiểm soát và thủ tục phân tích trước khi thực
hiện chúng Điều này cần thiết vì KTV phải thiết kế các thủ tục kiểm tra chi tiết
Đánh giá tính trọng yếu v rủi ro cố hữu
đối với các t i khoản tiền lương
Đánh giá rủi ro kiểm soát đối với số dư
t i khoản tiền lương
Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát v thể
thức phân tích đối với t i khoản tiền
lương cần kiểm tra
Thiết kế thủ tục phân tích đối với số dư
các t i khoản tiền lương liên quan (nếu
cần)
Thiết kế các bước kiểm tra chi
tiết đối với số dư các t i
khoản tiền lương cần kiểm tra
để thoả mãn các mục tiêu
kiểm toán đặc thù
Các thủ tục kiểm toán Quy mô mẫu Các khoản mục được
Thời hạn
Trang 22trong giai đoạn lập kế hoạch, nhưng cách thiết kế thích hợp phụ thuộc vào kết
quả của những thử nghiệm khác Nếu các kết quả của các thủ tục kiểm soát, thủ
tục phân tích không phù hợp với dự kiến, kiểm tra chi tiết sẽ phải thay đổi khi
cuộc kiểm toán đang tiến hành
2.2 Các bước thực hiện kiểm tra chi tiết
Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch, kiểm tra chi tiết được thực hiện sau
các thủ tục phân tích được xem là lý tưởng nhất Trong một số cuộc kiểm toán,
tất cả các kiểm tra chi tiết đều làm sau ngày lập Bảng cân đối kế toán Tuy vậy,
khi khách hàng muốn công bố báo cáo sớm ngay sau ngày lập Bảng cân đối kế
toán, do kiểm tra chi tiết mất nhiều thời gian hơn nên được thực hiện giữa kỳ
trước khi niên độ kế toán kết thúc Các công việc bổ sung cũng được thực hiện
để cập nhật các số dư giữa kỳ đã kiểm toán thành số dư cuối kỳ
2.2.1.Xác định khoản mục để kiểm tra chi tiết
Trên cơ sở kế hoạch đặt ra, KTV xác lập mục tiêu kiểm tra và những khoản
mục trọng yếu
Mục tiêu của các phương pháp kiểm tra được xác lập
Trên cơ sở của các cơ sở dẫn liệu thuộc mục tiêu kiểm toán, KTV xác định
những bằng chứng cần thu thập cho các sai sót trọng yếu
Đối với các cơ sở dẫn liệu có khả năng chứa đựng các sai phạm trọng yếu
thì KTV có thể ước tính giá trị chênh lệch, sai phạm trọng yếu
Lựa chọn khoản mục trong tổng thể
Xác định số lượng các khoản mục (số lượng mẫu) cần kiểm tra chi tiết
Số lượng khoản mục được lựa chọn nhiều hay ít đều phải thoả mãn
mục tiêu về tính đầy đủ và tin cậy của bằng chứng Tính “đầy đủ” của bằng
chứng thể hiện ở việc không bỏ sót khoản mục hay nghiệp vụ nào trong
mẫu chọn bởi vì chúng sẽ không có cơ hội được lựa chọn lại Bên cạnh đó,
việc phân tách các số mẫu chọn thành các nhóm khác nhau và áp dụng kỹ
Trang 23thuật kiểm toán đối với từng nhóm nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra chi
tiết cũng như tăng độ “tin cậy” của bằng chứng
Chọn mẫu khoản mục (mẫu chọn)
Xác định mẫu chọn cụ thể phải căn cứ vào tình hình thực tế của khách
thể kiểm toán và kinh nghiệm của KTV Với loại hình nghiệp vụ, xác định
mẫu chọn cần chú ý tới thời điểm chọn mẫu để bảo đảm tính đại diện của
mẫu chọn
Việc xác định khoản mục được kiểm tra chi tiết có thể hiểu rộng là những
khoản mục lớn trên chu trình tiền lương, là những TK trong khoản mục lớn đó,
là những tiểu khoản của mỗi TK, thậm chí là những nghiệp vụ phát sinh trong
mỗi tiểu khoản
2.2.2.Thực hiện kỹ thuật lựa chọn số dư và nghiệp vụ cho kiểm tra chi
tiết
Với số lượng mẫu và mẫu chọn được xác định, có thể áp dụng các biện
pháp kiểm tra chi tiết với từng số dư trong tổng thể mẫu đó hoặc với một nhóm
các số dư
Việc áp dụng kiểm tra chi tiết đối với 100% số dư trong tổng thể là một
công việc hết sức khó khăn, không phải bởi sự phức tạp của nghiệp vụ mà sự
dàn trải về quy mô, lãng phí thời gian và tiền bạc Do đó, việc áp dụng kiểm tra
chi tiết không phải với tất cả số dư mà chỉ là một số số dư trọng yếu hoặc số dư
có khả năng chứa đựng sai phạm trọng yếu sẽ trở nên hiệu quả hơn Điều đó
đồng nghĩa với việc kiểm toán viên sẵn sàng chấp nhận sự chính xác tương đối
bởi vì:
Bằng chứng phải được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, không chỉ
riêng kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ mà kết hợp cả thủ tục phân
tích chi tiết
Hơn nữa, vẫn luôn tồn tại một mức độ không chắc chắn nào đó cho dù
KTV kiểm tra 100% tổng thể
Trang 24Đặc biệt chi phí cho việc kiểm tra tất cả các số dư TK thường rất tốn
kém Điều này không những làm tăng phí kiểm toán mà còn gây ra sự
mệt nhọc, vất vả cho KTV
Nếu không lựa chọn tất cả các TK từ một khoản mục thì có thể lựa chọn
một số TK, thậm chí tiểu khoản dựa trên cơ sở chọn điển hình những TK chính
hoặc chọn mẫu đại diện hoặc kết hợp cả hai phương pháp
Lựa chọn khoản mục chính
Khoản mục chính được quan niệm chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, hiểu biết
của KTV về tình hình kinh doanh của khách hàng cũng như những đánh giá đối
với khoản mục có khả năng chứa đựng những sai phạm trọng yếu
Lựa chọn khoản mục chính có thể hiệu quả hơn khi xuất hiện một trong
những điều kiện sau:
KTV có được một số bằng chứng tin cậy đối với số liệu tổng thể sau khi
thực hiện thủ tục phân tích Khi đó, kiểm tra chi tiết chỉ tập trung vào
khoản mục chính
Tổng thể bao gồm một số lượng nhỏ các khoản mục giá trị lớn Vì thế
quá trình kiểm tra một số lượng tương đối nhỏ các khoản mục chính, tức
là đã kiểm tra được phần lớn giá trị tổng thể
Tổng thể chủ yếu bao gồm những nghiệp vụ không thường xuyên hoặc
các ước tính kế toán Việc lựa chọn những nghiệp vụ đó được xem là
hiển nhiên mà không cần sử dụng kỹ thuật chọn mẫu đại diện
Chọn mẫu kiểm tra
Việc áp dụng các thủ tục kiểm toán để kiểm tra một lượng nhỏ hơn 100%
số các khoản mục trong phạm vi số dư của một tài khoản hoặc một loại nghiệp
vụ để thu thập và đánh giá bằng chứng của các số dư, nghiệp vụ có đặc điểm
tương tự như nhau gọi là chọn mẫu kiểm toán (theo nguyên tắc 19 của Chuẩn
mực kiểm toán được IAPC phê chuẩn tháng 10 năm 1984)
Trang 25Ngoài những điều kiện nêu trên mà lựa chọn khoản mục chính có hiệu quả
thì chọn mẫu kiểm tra có hiệu lực khi:
Có ít hoặc không có bằng chứng kiểm toán từ những thủ tục phân tích,
vì thế đòi hỏi nhiều bằng chứng hơn từ quá trình kiểm tra chi tiết số dư
và nghiệp vụ
Tổng thể bao gồm một số lượng lớn các khoản mục với giá trị tương đối
lớn Việc kiểm tra chỉ thực hiện với một số lượng tương đối lớn các
khoản mục chính để đưa ra kết luận cho phần lớn khoản mục của tài
khoản
Tổng thể chủ yếu bao gồm các nghiệp vụ thường xuyên Kiểm tra chọn
mẫu sẽ hạn chế việc kiểm tra trùng lắp đối với một số khoản mục tương
tự nhau
Có nhiều cách khác nhau để tiến hành chọn mẫu Có thể phân chia kỹ thuật
chọn mẫu thành cách chọn xác suất và cách chọn không xác suất 4:
Cách chọn xác xuất (trong đó phổ biến là: Chọn ngẫu nhiên)
B ảng số ngẫu nhiên: là một bảng liệt kê ngẫu nhiên các chữ số độc lập,
được sắp xếp một cách thuận lợi dưới dạng bảng biểu để làm dễ dàng cho việc
chọn các số ngẫu nhiên có nhiều chữ số
Ch ọn bằng máy tính: hầu hết các công ty kiểm toán đều thuê mướn hoặc có
sự giúp đỡ của các thiết bị máy vi tính có lập sẵn các chương trình để chọn lựa
các số ngẫu nhiên
Ch ọn mẫu có hệ thống: KTV tính một khoảng cách rồi sau đó chọn lựa
tuần tự các phần tử của mẫu dựa trên độ lớn khoảng cách đó Khoảng cách được
xác định bằng cách chia dung lượng của tổng thể cho số lượng phần tử mong
muốn của mẫu
Trang 26Ch ọn theo lô: là cách chọn một số phần tử liên tiếp Một khi phần tử đầu
tiên của lô đã được chọn thì phần tử còn lại của lô sẽ tự động được chọn
Ch ọn đại: là sự chọn lựa một cách vô tư khi KTV nghiên cứu tổng thể và
chọn lựa các phần tử của mẫu mà không xét đến quy mô, nguồn gốc, hoặc các
đặc điểm phân biệt khác của chúng
Ch ọn phán xét: có nhiều trường hợp KTV tin rằng nên sử dụng óc phán xét
nghề nghiệp khi chọn lựa các phần tử của mẫu
Hầu hết các phương pháp chọn mẫu nêu trên đều được áp dụng cho quá
trình kiểm tra chi tiết bởi vì kiểm toán viên mong muốn suy diễn toàn bộ tổng
thể dựa trên mẫu
Về bản chất, cũng với những kỹ thuật đó, mỗi một hãng kiểm toán lại có
những quan niệm và thay đổi cho phù hợp Với các hãng kiểm toán quốc tế, việc
phân chia các phương pháp có phần chi tiết và cụ thể hơn Thật vậy, với Hãng
Kiểm toán DTT, chọn mẫu bao gồm những kỹ thuật dưới đây5 :
Kiểm tra mẫu đại diện: là phương pháp chọn mẫu một số nghiệp vụ nhất
định trong số dư tài khoản, kiểm tra các bằng chứng có liên quan, để rồi
từ đó có thể đưa ra kết luận cho toàn bộ số dư tài khoản đó Có hai
phương pháp kiểm tra mẫu đại diện là thống kê và phi thống kê
♦ Phương pháp thống kê: là phương pháp chọn mẫu đại diện nhằm giúp
KTV định lượng chính xác độ tin cậy kiểm tra chi tiết Với phương pháp
thống kê, kiểm tra mẫu đại diện có ba loại: chọn mẫu phát hiện, chọn
m ẫu ước tính và chọn mẫu theo giá trị gộp
Ch ọn mẫu phát hiện
Kỹ thuật chọn theo giá trị luỹ tiến: thường được áp dụng để kiểm tra các
TK có các nghiệp vụ phản ánh bằng giá trị tiền tệ Theo phương pháp
này, tất cả các nghiệp vụ trong một số dư TK để có khả năng được chọn
như nhau Công thức mẫu chọn được xác định như sau:
Trang 27Giá trị trọng yếu chi tiết (MP) Bước chọn mẫu
(J)
=
Chỉ số về độ tin cậy kiểm tra (R)
Số dư cần kiểm tra (Pop)
Số mẫu kiểm tra
(N)
=
Bước chọn mẫu (J)
Số mẫu chọn (N) sau khi được xác định, KTV bắt đầu chọn những nghiệp
vụ từ tổng thể vào mẫu cho đến khi đủ số lượng mẫu cần chọn Công việc đó
được bắt đầu theo các bước:
Chọn điểm bắt đầu một cách ngẫu nhiên nhưng giá trị bắt đầu phải nhỏ
hơn J
Chọn khoản mục mà số tiền cộng dồn lớn hơn hoặc bằng giá trị bắt đầu
Chọn khoản mục mà số tiền cộng dồn lớn hơn hoặc bằng giá trị bắt đầu
cộng với J
Chọn khoản mục mà số tiền cộng dồn lớn hơn hoặc bằng giá trị bắt đầu
cộng với hai lần J
Cứ thế cho đến khi nào đủ số mẫu chọn
Ví dụ: Số dư cần kiểm tra (Pop) = 5000.000
Bước chọn mẫu (J) =10.000 => Số mẫu cần kiểm tra (N) =
Trang 28Kỹ thuật này có phần nào giống chọn mẫu hệ thống đã đề cập ở trên
Kỹ thuật phân tầng: là kỹ thuật phân bổ các mẫu sẽ chọn theo từng phần
trên tổng số các nghiệp vụ phát sinh dựa trên số lượng mẫu sẽ chọn
Khi sử dụng kỹ thuật này, số dư cần kiểm tra của mỗi tầng sẽ được
xác định trên tổng của một nhóm các nghiệp vụ được phân tầng (tách ra
khỏi số dư chung toàn bộ) Tổng số mẫu chọn của các tầng nghiệp vụ bằng
tổng số mẫu được chọn của số dư TK đó, xác định theo công thức: số mẫu
được chọn bằng số dư cần kiểm tra chia cho bước chọn mẫu
Phương pháp phân tầng thông dụng nhất khi áp dụng kỹ thuật này là
chọn toàn bộ các nghiệp vụ có giá trị lớn hơn bước chọn mẫu (J) Nếu số
mẫu đã chọn vẫn ít hơn số mẫu cần phải chọn thì số nghiệp vụ còn lại sẽ
Trang 29được phân làm hai tầng Mỗi tầng sẽ chọn một nửa số mẫu còn lại chưa
được chọn
Kỹ thuật chọn số lớn: được sử dụng để kiểm tra các TK có số dư nợ và
có nhiều nghiệp vụ phát sinh lớn Sử dụng kỹ thuật này, tất cả các
nghiệp vụ có giá trị lớn hơn 2 lần bước chọn mẫu sẽ được chọn để kiểm
tra Theo đó, KTV sẽ bảo đảm được rằng giá trị phần kiểm tra trên số dư
sẽ bao phủ ở mức tối da, tránh được các sai sót về báo cáo vượt số thực
tế Thông thường, kỹ thuật này được sử dụng đi đôi với áp dụng phần
mềm mang tên "ACL"
Ch ọn mẫu ước tính
Ch ọn mẫu theo giá trị gộp: tương tự như phương pháp ước tính, sử dụng để
ước tính giá trị tối đa có thể có số dư được kiểm tra, sau đó chỉ chọn mẫu
kiểm tra trên phần chênh lệch giữa số ước tính và số đã ghi sổ
Nếu áp dụng đúng mức phương pháp này, KTV sẽ giảm được số
lượng mẫu kiểm tra cần chọn, đồng thời có thể phần nào đánh giá được bản
chất của sự biến động của TK được kiểm tra
♦ Phương pháp phi thống kê: là phương pháp chọn mẫu đại diện nhưng
không giúp KTV định lượng chính xác được mức độ tin cậy chi tiết của
TK
Khi chọn mẫu đại diện phi thống kê, KTV cần có sự tính toán hợp lý trước,
nhằm bảo đảm rằng các mẫu được chọn không có khuynh hướng nằm trong
nhóm các nghiệp vụ không mang đặc tính đại diện cho số dư TK đó
Phương pháp này sử dụng đối với TK có các nghiệp vụ mang giá trị tương
tự nhau, hoặc bản chất số dư TK là phi tiền tệ
Ki ểm tra mẫu phi đại diện: là kỹ thuật kiểm tra phi thống kê được sử dụng
để chọn mẫu các nghiệp vụ có tính chất tương tự nhau trong một số dư TK
Khi sử dụng phương pháp này, KTV chỉ đạt được độ tin cậy trên các mẫu
đã chọn mà khó đạt được độ tin cậy cho toàn bộ số dư TK được kiểm tra
Trang 30Thông thường, phương pháp này chỉ áp dụng khi kiểm tra các nghiệp vụ
theo một tiêu thức đặc biệt để đạt mục đích kiểm tra cụ thể Ví dụ, kiểm tra và
tính lại hao mòn cho các tài sản cố định thuộc nhóm tài sản cố định văn phòng,
được khấu hao theo tỷ lệ 20%/năm
Kết hợp lựa chọn khoản mục chính và chọn mẫu đại diện:
Trong một số trường hợp, tổng thể bao gồm những khoản mục chứa đựng
tính chất của hai trường hợp nêu trên, tuỳ theo trình độ và kinh nghiệm, KTV có
thể kết hợp lựa chọn khoản mục chính đối với số dư nhóm TK này và chọn mẫu
đại diện với số dư nhóm TK khác
Tuy nhiên, dù lựa chọn kỹ thuật nào để chọn khoản mục kiểm tra chi tiết,
KTV luôn nắm chắc đặc trưng của đối tượng cần kiểm tra, để từ đó có phương
pháp kiểm tra thích hợp
2.2.3.Thực hiện các phương pháp kiểm tra chi tiết đối với khoản mục đã
chọn
Trên cơ sở các khoản mục đã chọn, cần thực hiện các phương pháp cần
thiết để kiểm tra chi tiết Có thể áp dụng các phương pháp kiểm toán thích hợp
đối với mỗi khoản mục lựa chọn để tiến hành kiểm tra chi tiết nhằm xác định
khả năng tồn tại những chênh lệch đến mức đòi hỏi điều tra và theo dõi Bốn
phương pháp được áp dụng phổ biến trong kiểm tra chi tiết là: quan sát, xác
nh ận, tính toán và xác minh tài liệu
Quan sát vật chất (kiểm kê vật chất)
Là phương pháp kiểm tra cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất bởi
vì phương pháp này cho phép KTV xác minh sự hiện hữu của tài sản Đối với
kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ, phương pháp này đem lại kết quả khá chính
xác và bảo đảm độ tin cậy, tính khách quan của bằng chứng
Kiểm tra vật chất được ứng dụng rộng rãi trong kiểm toán tài sản vật chất
nói chung và đặc biệt trong kiểm toán hàng tồn kho Khi hàng tồn kho chiếm
Trang 31một phần đáng kể thì bằng chứng kiểm toán về sự tồn tại và tình trạng của hàng
tồn kho được KTV qua thu nhận qua việc tham dự vào cuộc kiểm kê kho tại đơn
vị được kiểm toán, trừ khi việc tham dự vào kỳ kiểm kê này không thể thực hiện
được Thông thường những thủ tục kiểm toán bao gồm quá trình quan sát những
thủ tục kiểm kê của khách hàng và trực tiếp kiểm kê chọn mẫu và đối chiếu với
hồ sơ kho
Tham dự kiểm kê kho không chỉ tạo điều kiện cho KTV kiểm tra thực tế
hàng tồn kho mà còn giúp KTV quan sát hoạt động của những thủ tục kiểm soát
trong quá trình kiểm kê Thông qua đó, kiểm toán viên có thể thu nhận được
bằng chứng kiểm toán về tính hiệu lực của hệ thống KSNB
Nghiệp vụ này ít được sử dụng trong kiểm tra chi tiết tron chu trình tiền
lương vì nghiệp vụ này chỉ áp dụng cho các vật chất có thể cân đo đong đếm
được
Xác nhận
Là xác thực đối với số dư và nghiệp vụ từ một nguồn bên ngoài Đây là
phương pháp kiểm tra chi tiết cung cấp bằng chứng kiểm toán có tính thuyết
phục cao Xác nhận thường là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả vì thủ tục này
có thể xác nhận được thời điểm xảy ra nghiệp vụ cũng như quá trình xử lý
nghiệp vụ đó
Xác nhận được biết đến với nhiều loại khác nhau, phạm vi ứng dụng rộng
rãi và các bước công việc tiến hành tương đối đơn giản
Về loại xác nhận, tuỳ theo loại câu hỏi và câu trả lời tương ứng, các loại
xác nhận có thể áp dụng là:
Xác nhận mở: những thư xác nhận mở yêu câu cung cấp thông tin chứ
không yêu cầu minh chứng cho những dữ liệu do khách hàng cung cấp
Xác nhận đóng: chỉ yêu cầu trả lời đúng hoặc sai để chứng minh cho
những dữ liệu cần xác nhận
Tuỳ theo yêu cầu minh chứng, xác nhận đóng lại chia ra 2 loại hình cụ thể:
Trang 32Xác nhận chủ động hay khẳng định: yêu cầu trực tiếp minh chứng về số
liệu do khách hàng cung cấp theo hướng mọi thư xác nhận gửi đi đều
cần được thu về cho dù người xác nhận có đồng ý với những thông tin
đưa ra hay không
Nhằm tăng được tỷ lệ thư trả lời, xác nhận tập trung vào những chi tiết cụ thể như từng hóa đơn riêng lẻ, chứ không phải vào số dư TK Mặt
khác, càng có nhiều khả năng xác nhận được trả lời nếu như nội dung
câu hỏi xác nhận càng nhất quán với nguồn thông tin người xác nhận
cung cấp
Xác nhận thụ động hay phủ định: chỉ yêu cầu trả lời khi người xác nhận
không đồng ý với thông tin đưa ra trong thư
Tuy nhiên, việc phân biệt giữa những người không đồng ý với thông tin cần xác nhận và những người không thể trả lời hoặc không
quan tâm đến việc trả lời là rất khó Do vậy, kết quả thu được từ cách
thức xác nhận này không có độ tin cậy cao KTV không thường xuyên sử
dụng cách này để thu thập bằng chứng Mặc dù vậy, thư xác nhận thụ
động được áp dụng khi khả năng xảy ra sai sót trọng yếu là thấp
Bên cạnh đó, ngoài xác nhận qua thư (văn bản), KTV còn có thể sử dụng
xác nhận qua đối thoại Tuy nhiên, những xác nhận miệng này cũng được lưu lại
trong giấy tờ làm việc Với những thông tin quan trọng, KTV yêu cầu người trả
lời cung cấp bản xác nhận trực tiếp hoặc biên bản cụ thể
Phạm vi ứng dụng của xác nhận:
Nếu câu trả lời đối với câu hỏi xác nhận do người trả lời thiết lập dựa trên
những nguồn riêng của họ thì những câu trả lời này độc lập với tài liệu khách
hàng Do đó, phạm vi sử dụng phương pháp này rất phổ biến cho nhiều TK
Tuy nhiên, việc đưa ra kết luận dựa trên sự hiểu biết từ những câu trả lời
này không phải bao giờ cũng chính xác Vì thế, KTV luôn có sự thận trọng thích
đáng vì: Thứ nhất, những câu trả lời này chủ yếu chỉ cung cấp bằng chứng kiểm
Trang 33toán về việc báo cáo quá cao hay báo cáo quá thấp Thứ hai, khả năng sửa đổi
bằng miệng đối với những thoả thuận đã ghi vào bản xác nhận rất dễ xảy ra
Mức độ hoài nghi nghề nghiệp được tăng lên nếu KTV có được thông tin
mà những thông tin này khiến KTV có nghi ngờ về năng lực, kiến thức, động
cơ, khả năng hay ý muốn trả lời, của người trả lời Khi đó, xác nhận sẽ có
hiệu quả không cao
Phạm vi sử dụng xác nhận thu hẹp nhất khi thủ tục thay thế được thực hiện
vì KTV không nhận được thư trả lời xác nhận vì một lý do nào đó Tuy nhiên,
cũng có thể không tiến hành những thủ tục kiểm toán thay thế nếu: không phát
hiện thấy dấu hiệu bất thường của những thư xác nhận không được phúc đáp
Các bước công việc tiến hành khi gửi thư xác nhận:
Lập các câu hỏi xác nhận hay yêu cầu khách hàng lập chúng
Kiểm tra lại các câu hỏi xác nhận, bỏ chúng vào phong bì ghi địa chỉ
của KTV để người trả lời gửi lại khi có phúc đáp
Đối với câu hỏi xác nhận đã gửi đi nhưng bị gửi trả lại, KTV điều tra
xác minh địa chỉ và bằng chứng chứng tỏ người nhận thư xác nhận còn
tồn tại
Theo dõi những TK không được trả lời, đồng thời cân nhắc tới khả năng
gửi thư xác nhận lần thứ hai và thứ ba Nếu cần thiết, các thủ tục kiểm
toán khác được thực hiện
Biện pháp gửi thư xác nhận ít được áp dụng trong kiểm toán chu trình và
tiền lương vì phần lớn các nghiệp vụ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp
Tính toán lại
Phương pháp này tập trung vào kỹ thuật kiểm tra tính chính xác về mặt số
học của tính toán và ghi sổ
Phương pháp này được vận dụng đối với những số dư và nghiệp vụ có khả
năng sai sót trọng yếu thuần tuý về mặt số học KTV có thể tính lại số tiền trên
Trang 34các chứng từ gốc như: các phiếu chi tiền, Bảng phân bổ chi phí lương, Bảng
thanh toán lương, Bảng thanh toán BHXH,…
Ưu điểm của phương pháp này là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao về
mặt kỹ thuật tính toán Không chỉ có vậy, thông qua đó, KTV có thể phát hiện
những sai sót tiềm tàng khác chưa được phát hiện Nhưng do tính chất phức tạp
về tính toán nên khi tiến hành phương pháp này, KTV thường kết hợp với các
phương pháp khác
Soát xét lại chứng từ, sổ sách
Đây là phương pháp kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ bằng cách xem
xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ, sổ sách có liên quan sẵn có trong đơn vị
Phương pháp này có thể tiến hành theo hai hướng:
KTV thu thập tài liệu làm cơ sở cho một kết luận cần khẳng định
KTV thu thập tài liệu của nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi vào sổ
KTV quyết định kiểm tra từ chứng từ gốc lên sổ sách hoặc từ sổ sách
kiểm tra ngược về chứng từ gốc
Phương pháp kiểm tra này tương đối thuận tiện do tài liệu sẵn có, do đó,
chi phí thu thập bằng chứng thấp hơn các phương pháp khác Tuy nhiên, mức độ
tin cậy của bằng chứng mà phương pháp này đem lại phụ thuộc vào nguồn gốc
của bằng chứng Việc sửa đổi hay giả mạo chứng từ gốc có thể làm mất đi tính
khách quan và xác thực của bằng chứng
2.3 Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết
Công việc kiểm tra chi tiết không chỉ dừng lại ở việc xác định các bằng
chứng thông qua các phương pháp nêu trên cho số liệu được kiểm tra mà quan
trọng hơn là bằng chứng đó được đánh giá như thế nào Mức độ "đầy đủ" và "tin
cậy" của bằng chứng là điều kiện để đưa ra kết luận sát thực nhất
Trong quá trình đánh giá kết quả kiểm tra, các sai sót không chỉ về TK mà
còn về chức năng hoạt động của hệ thống KSNB, hệ thống thông tin, hoặc về
Trang 35tính khách quan của Ban Giám đốc, và năng lực của đội ngũ nhân viên có thể
được phát hiện ra
Nếu sau kiểm tra, KTV xác định có chênh lệch thì KTV hướng tới biện
pháp lượng hoá chênh lệch và xử lý các chênh lệch, đồng thời cân nhắc ảnh
hưởng của chênh lệch này đối với tình hình kinh doanh của khách hàng
2.4 Phát hiện và xử lý các chênh lệch kiểm toán hay sai sót kiểm
toán
Xử lý chênh lệch kiểm toán tuỳ thuộc vào loại chênh lệch kiểm toán,
nguyên nhân của những chênh lệch và cả những thủ tục tiến hành khi phát hiện
trong quá trình kiểm toán cho thấy có sai sót
Các loại chênh lệch kiểm toán
Nếu phân loại theo kỳ quyết toán: chênh lệch của năm trước và chênh lệch
c ủa năm nay
Chênh lệch năm nay: thường là chênh lệch đã được lượng hoá, bao gồm
những chênh lệch do không thống nhất về giá trị, cách phân loại, trình
bày hay thuyết minh những khoản mục hay tổng số trong các khoản
mục tiền lương và những chênh lệch do lỗi hay sai sót được phát hiện
Chênh lệch năm trước: là chênh lệch kiểm toán từ năm trước mà khách
hàng đã không điều chỉnh, do đó ảnh hưởng tới khoản mục tiền lương
năm nay
Tính chất và nguyên nhân dẫn đến chênh lệch kiểm toán
Với mức độ hoài nghi thích đáng, kiểm toán viên tìm hiểu tính chất và
nguyên nhân của những chênh lệch đã được lượng hoá
Nếu xem xét tính chất của sai sót thì có thể là do cố tình hay vô ý Qua đó,
KTV cũng xem xét khả năng chênh lệch kiểm toán chỉ xảy ra trong một loại
hình nhất định nào đó
Trang 36Từ tính chất của sai sót phát hiện được, KTV tìm nguyên nhân của chênh
lệch Những nguyên nhân cấu thành nên những sai sót được làm rõ sẽ là cơ sở
cho những kiến nghị hay điều chỉnh cần thiết
Những kiến nghị và điều chỉnh ban đầu được thoả thuận với khách hàng
một cách nghiêm túc và cẩn thận trước khi kiểm toán viên tiến hành các thủ tục
tiếp theo
Thủ tục thực hiện khi phát hiện các sai sót kiểm toán
Thủ tục thực hiện tuỳ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của sai sót tiềm tàng tới
các khoản mục tiền lương Nếu tin rằng những vi phạm là những sai phạm
trọng yếu trong khoản mục tiền lương thì cần thực hiện những thủ tục kiểm toán
khác hoặc những thủ tục kiểm toán bổ sung thích hợp Trong nhiều trường hợp,
nếu phát hiện có hiện tượng chủ ý bóp méo BCTC, KTV cân nhắc các mục tiêu
đặc thù và cơ sở dẫn liệu có thể bị ảnh hưởng
Thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán hay thực hiện các thủ tục kiểm toán
khác giúp KTV khẳng định hay loại bỏ nghi ngờ về các vi phạm Tuy nhiên, với
cách làm như vậy không phải lúc nào cũng có thể đưa ra một kết luận về nguyên
nhân thực sự của một chênh lệch kiểm toán hoặc ý định của người liên quan đến
chênh lệch Do đó, trước khi thực hiện các thủ tục này, KTV cân nhắc khả năng
có đạt được mục đích hay không
Nếu như chênh lệch và vi phạm được khẳng định, KTV phải bảo đảm
rằng sai sót đó đã ảnh hưởng đến BCTC với đầy đủ những thuyết minh
cần thiết
Nếu không thể khẳng định hoặc xoá bỏ được mối nghi ngờ về sai phạm
thì KTV sẽ cân nhắc ảnh hưởng có thể có đối với BCTC đồng thời xem
xét những luật định liên quan cùng tư vấn pháp lý trước khi phát hành
báo cáo kiểm toán
Báo cáo về những chênh lệch kiểm toán được phát hiện