Hoàn thiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền được thực hiện bởi Kiểm toán nội bộ tại Công ty Hoá chất Mỏ Hà Nội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán là một loại hoạt động đã có từ rất lâu đời và thuật ngữ này
cũng không còn mới mẻ gì so với nhiều quốc gia phương Tây Tuy nhiên đối
với Việt Nam, một quốc gia vừa bước qua một cuộc cải cách cơ bản về cơ cấu
kinh tế từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường
nên còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết Để có thông tin kinh tế tài chính trung
thực, hợp lý để điều hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả là cần thiết Về vai
trò cũng như sự cần thiết của kiểm toán đối với công tác tài chính - kế toán của
Doanh nghiệp nhà nước hay ngoài quốc doanh thì đã rất rõ ràng và được khẳng
định của nhiều người có trách nhiệm cao trong Chính phủ Nhận thức được sự
cần thiết của Kiểm toán năm 1992 Chính phủ đã ban hành chỉ thị cho phép các
Tổng công ty trong nước được thành lập bộ phận Kiểm toán nội bộ, có nhiều
Tổng công ty đã có phòng Kiểm toán nội bộ riêng Hiện nay, có một thực tế nổi
bật là nhiều Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động không có hiệu quả mặc dù đã
cố gắng rất nhiều, chỉ có số ít là làm ăn có lãi, rất nhiều đơn vị rơi vào tình
trạng làm ăn thua lỗ triền miên Để trợ giúp Doanh nghiệp thì cần phải xem xét
đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp do chính bản thân doanh nghiệp
thực hiện Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Phòng Kiểm toán nội bộ
của Công ty Hoá chất Mỏ thuộc Tổng công ty Than Việt Nam em đã chọn đề
tài: “Hoàn thiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền được thực hiện bởi
Kiểm toán nội bộ tại Công ty Hoá chất Mỏ Hà Nội’’ Tuy nhiên, do có hạn
chế nhất định về kinh nghiệm cũng như chuyên môn nên trong chuyên đề thực
tập này không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự chỉ bảo của các
thầy cô giáo
Nội dung của chuyên đề ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm các vấn
đề chính sau:
Phần một: Cơ sở lý luận về kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
trong Kiểm toán Báo cáo tài chính
Trang 2Phần hai: Thực trạng kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong
kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán nội bộ tại Công ty Hoá chất Mỏ
Phần ba: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán chu trình bán
hàng và thu tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính được thực hiên bởi kiểm
toán nội bộ tại Công ty Hoá chất Mỏ
PHẦN MỘT
Trang 3CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG
VÀ THU TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
I - TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1- Khái niệm
Kiểm toán nội bộ giữ một vai trò quan trọng trong doanh nghiệp Với
chức năng chủ yếu là kiểm toán hoạt động, kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp
phát hiện, ngăn chặn xử lý các hành vi tiêu cực và gian lận trong quản lý và
điều hành các hoạt đông kinh tế, tài chính góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
tài sản nhân lực tiền vốn, hạn chế tham nhũng, nâng cao hiệu quả hoạt động và
hiệu năng quản lý, hoàn thiện và đổi mới phong cách làm việc tại các cơ quan
đơn vị
Có nhiều ý kiến khác nhau về kiểm toán nội bộ Theo các chuẩn mực
hành nghề của kiểm toán nội bộ do Viện kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ ban hành thì:
“ Kiểm toán nội bộ là một chức năng xác minh độc lập đặt tại bên trong
một tổ chức để xem xét đánh giá các hoạt động và được coi là một dịch vụ (sự
hỗ trợ) đối với tổ chức’’
2- Bản chất của kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là hoạt động cần thiết của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường, để kiểm soát chất lượng hoạt động và chất lượng thông tin
kinh tế, tài chính Kiểm toán nội bộ là công cụ cũng như biện pháp quản lý điều
hành bản thân chủ doanh nghiệp
2.1- Mục đích của kiểm toán
Mục đích của kiểm toán nội bộ là thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát chất
lượng hoạt động và chất lượng thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp,
giúp cho công tác điều hành của chủ sở hữu, nhà quản lý doanh nghiệp trong
việc giúp phát hiện và khắc phục khâu yếu, ngăn ngừa sai sót, gian lận trong
hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiêp Đồng thời kết quả kiểm toán nội
Trang 4bộ sẽ góp phần đắc lực và hiệu quả vào việc đảm bảo thông tin kinh tế, tài
chính cung cấp cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
2.2- Chức năng của kiểm toán nội bộ
Thẩm tra các thủ tục kiểm soát để xác định tính thích hợp và ưu việt của
nó Mục đích nhằm khẳng định rằng hệ thống kiểm soát vận hành đều đặn và có
hiệu quả, đáp ứng mọi mục tiêu đã đặt ra Việc thẩm tra sẽ phơi bày mọi hành
vi gian lận, không bình thường và gây lãng phí với bản chất lặp đi lặp lại nhằm
ngăn chặn và giảm tối thiểu chúng
Kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông tin bao gồm các thông
tin tài chính, các hoạt động và phương tiện được sử dụng để xác định đo đạc,
phân loại và báo cáo thông tin đó Đây là cơ sở để khẳng định các sổ sách, báo
cáo tài chính chứa đựng các thông tin chính xác, kịp thời và hữu ích
Kiểm tra việc tuân thủ các chính sách và thủ tục hiện hành Các kiểm
toán viên nội bộ phải kiểm tra các hệ thống thiết lập xem có đảm bảo sự tuân
thủ đối vơí các chính sách thủ tục luật pháp và các quy định mà có thể tác động
quan trọng tới mọi hoạt động của tổ chức Tiếp nối với chức năng này, trong
một số trường hợp nếu được phép của uỷ ban quản trị tối cao, kiểm toán viên
nội bộ đánh giá tính hợp lý và sự ưu việt của các chính sách, quy định kế hoạch
trước khi đi đến việc xác định mức độ tuân thủ Họ sẽ chỉ ra khoản lợi nhuận
từ các hoạt động bởi việc tuân thủ thích đáng các chính sách, các kế hoạch và
tuân thủ được lập và mất mát nếu không có sự tuân thủ đó
Kiểm tra các phương tiện đảm bảo an toàn cho tài sản đánh giá việc thực
hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của các nguồn lực Công việc này đòi hỏi
kiểm toán viên nội bộ phải đánh giá chất lượng thực hiện các nhiệm vụ được
giao Kiểm toán nội bộ phải quan tâm đến việc các nhóm hay các nhân viên
thực hiện công việc của họ một cách có hiệu quả, tiết kiệm, đồng thời quan tâm
đến việc thực hiện của họ có mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp
hay không
Trang 5Kiểm tra việc tuân thủ các mục tiêu đề ra đối với các chu trình hay các
nghiệp vụ hoạt động Bên cạnh đó, kiểm toán nội bộ cần trợ giúp cho những
người lãnh đạo khi xây dựng các mục tiêu cho các chương trình
Ngoài các chức năng trên, kiểm toán nội bộ còn thực hiện một số chức
năng đặc biệt khác như thực hiện các nhiệm vụ giúp ích cho Ban giám đốc hoặc
Hội Đồng Quản Trị
2.3- Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Để thực hiện tốt các chức năng trên, kiểm toán nội bộ thực hiện tốt các
nhiệm vụ sau:
Kiểm tra tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, của
hoạt động sản xuất kinh doanh và hệ thống điều hành quản lý kinh doanh trong
doanh nghiệp
Kiểm tra kiểm soát chất lượng thông tin kinh tế, tài chính, kiểm tra và
đánh giá tính chuẩn xác và tin cậy của báo cáo tài chính trước khi duyệt
Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, đặc biệt sự tuân thủ luật
pháp, chính sách, chế độ tài chính kế toán
Tư vấn về công tác tài chính kế toán, tham gia hướng dẫn nghiệp vụ về
công tác tài chính kế toán cho các đơn vị thành viên trong doanh nghiệp
Thông qua kiểm toán phát hiện những tồn tại, yếu kém sơ hở trong quản
lý trong doanh nghiệp
2.4- Quyền hạn của kiểm toán nội bộ
Được quyền yêu cầu cung cấp tài liệu thông tin về tình hình hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp
Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ Trường hợp cần thiết có quyền yêu
cầu sự hỗ trợ về chuyên môn và nhân sự của các bộ phận chức năng
Kiến nghị mang tính chất xây dựng đối với các cấp lãnh đạo, các bộ phận
trong doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả các mặt hoạt động sản xuất, kinh
doanh và công tác quản lý, điều hành doanh nghiệp
Có quyền bảo lưu ý kiến có liên quan đến kết quả kiểm toán
Trang 62.5- Đối tương, phạm vi của kiểm toán nội bộ
* Đối tượng: tất cả các doanh nghiệp trong nề kinh tế, kể cả doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để phải tổ chức công tác kiểm toán nội bộ phù
hợp với quy mô, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Trước mắt, quy định bắt
buộc đối với các doanh nghiệp , đặc biệt đối với các Tổng công ty Tuy nhiên,
Nhà nước cũng khuyến khích, hướng dẫn thực hiện công tác kiểm toán nội bộ
đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế
* Phạm vi: bao gồm
- Kiểm toán hoạt động;
- Kiểm toán Báo cáo tài chính;
- Kiểm toán tuân thủ;
II - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG -THU TIỀN
CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1- Đặc điểm của chu trình Bán hàng - Thu tiền
Theo chế độ kế toán Doanh nghiệp quá trình tiêu thụ được thực hiện khi
hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã được chuyển giao cho người mua, được người mua
trả tiền và chấp nhận thanh toán Về bản chất tiêu thụ là quá trình thực hiện giá
trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá lao vụ, dịch vụ đồng thời tạo vốn
để tái sản xuất mở rộng Thực hiện tốt quá trình tiêu thụ sản phẩm doanh
nghiệp mới có thể thu hồi vốn và thực hiện được giá trị thặng dư- một nguồn
thu quan trọng để tích luỹ vào ngân sách và các quỹ của doanh nghiệp nhằm mở
rộng quy mô sản xuất và nâng cao đời sống người lao động
Dưới góc độ kiểm toán quá trình bán hàng và thu tiền liên quan đến nhiều
chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán (như tài khoản tiền, các khoản phải thu, các
khoản dự phòng phải thu khó đòi) và báo cáo kết quả kinh doanh (doanh thu,
các khoản giảm trừ doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí tài chính bất thường và
các khoản thu nhập tài chính bất thường có được từ các khoản hoàn nhập dự
phòng ) Đây là những chỉ tiêu cơ bản mà những người quan tâm đến tình hình
tài chính của doanh nghiệp dùng để phân tích khả năng thanh toán hiệu quả
Trang 7kinh doanh, tiền năng, triển vọng phát triển cũng như những rủi ro tiềm tàng
trong tương lai Để có được những hiểu biết sâu sắc về chu trình bán hàng và
thu tiền thì trước hết phải nắm được các đặc điểm, các thuộc tính của chu kỳ
Các đặc điểm của chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm có:
- Mật độ phát sinh của các nghiệp vụ tiêu thụ tương đối lớn và phức tạp
- Có liên quan đến đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung cầu
- Doanh thu là cơ sở để đánh giá hiệu quả của một quá trình kinh doanh và
lập phương án phân phối thu nhập đồng thời thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
nên chỉ tiêu này dễ bị xuyên tạc
- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm dụng vốn lẫn
nhau, công nợ dây dưa khó đòi Tuy nhiên, việc lập dự phòng nợ khó đòi lại
mang tính chủ quan và thường dựa vào khả năng ước đoán của Ban Giám đốc
nên rất khó kiểm tra và thường bị lợi dụng để ghi tăng chi phí
- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ này xảy ra theo nhiều chiều
hướng khác nhau có thể bị ghi tăng, ghi giảm hoặc vừa tăng vừa giảm theo ý đồ
của doanh nghiệp hoặc một số cá nhân Chẳng hạn khoản phải thu có thể bị
khai tăng để che đậy sự thụt két hoặc doanh thu có thể bị ghi giảm nếu nhằm
mục đích trốn thuế, và khai tăng nhằm cải thiện tình hình tài chính doanh
nghiệp Vì thế việc kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền tương đối tốn kém và
mất thời gian Với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về các thông tin tài
chính nói chung và các thông tin về chu trình bán hàng thu tiền nói riêng thì
kiểm toán viên không thể không xem xét những đặc điểm của chu kỳ và ảnh
hưởng của nó đến việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán sao cho
có hiệu quả
2- Tổ chức kế toán bán hàng và thu tiền
Bán hàng-Thu tiền là một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh
Đây là giai đoạn thứ 2 sau quá trình mua vào và thanh toán đối với doanh
nghiệp thương mại và là giai đoạn tiếp theo giai đoạn sản xuất đối với doanh
Trang 8nghiệp sản xuất Do đó cũng giống như các giai đoạn khác tổ chức kế toán Bán
hàng-Thu tiền bao gồm các nội dung sau:
2.1- Tổ chức chứng từ kế toán
Đó là quá trình thiết kế khối lượng chứng từ kế toán và quy trình hạch
toán trên chứng từ theo chỉ tiêu hạch toán và đơn vị hạch toán cơ sở Tổ chức
chứng từ kế toán cho chu trình Bán hàng-Thu tiền được chia làm 2 trường hợp
* Trường hợp 1: Hàng hoá bán ra là sản phẩm vật chất
Quy trình luân chuyển chứng từ được tổ chức theo sơ đồ sau:
* Trường hợp 2: Hàng hoá là các sản phẩm phi vật chất thì quy trình luân
chuyển chứng từ được tổ chức theo sơ đồ sau
BIỂU2 :QUY TRÌNH LUÂN CHUYỂN CHỨNG TỪ
B
phn cung
ng
Th
trưng hoc k
B phn cung
BIỂU 1: QUY TRÌNH LU N CHUYỂN CHỨNG TỪ
Th
trưng hoc k
toán trưng
Lưu chng
h ng
Ký duyt
HĐ bán
h ng
Giao nhn
h ng theo HĐ
Ghi s
v theo dõi thanh toán
Trang 9
2.2- Các tài khoản sử dụng
Hạch toán trên cơ sở sổ tài khoản là việc vận dụng phương pháp đối ứng
tài khoản để phân loại và ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
vào hệ thống sổ chi tiết và sổ tổng hợp Để phản ánh được thì phải xây dựng
được hệ thống tài khoản phản ánh đầy đủ toàn bộ thông tin có liên quan đến
quá trình Bán hàng - Thu tiền Các tài khoản đó gồm:
Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng Tài khoản 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ Tài khoản 531 - Doanh thu bán hàng bị trả lại Tài khoản 532 - Giảm giá hàng bán
Tài khoản 131 - Phải thu khách hàng Tài khoản 3387 - Doanh thu nhận trước Tài khoản 139 - Dự phòng phải thu khó đòi Tài khoản 641 - Chi phí bán hàng
Tài khoản 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp Tài khoản 721 - Thu nhập bất thường
Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán
2.3- Hệ thống sổ sách sử dụng
Doanh nghiệp lựa chọn 1 trong 4 hình thức sổ kế toán phổ niến hiện nay
Lưu chng
Ghi s
doanh thu v các s
Ký duyt hoá đơn
Trang 10Trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ kế toán Nhật ký chung
thì đối với chu trình bán hàng và thu tiền doanh nghiệp có các sổ kế toán sau:
- Sổ Nhật ký chung
- Sổ Nhật ký thu tiền
- Sổ Nhật ký bán hàng
- Sổ cái (Trong đó có các TK liên quan đến chu kỳ)
- Sổ chi tiết các khách hàng phải thu
- Sổ chi tiết doanh thu bán hàng
- Sổ chi tiết thuế VAT đầu ra
2.4- Quy trình hạch toán quá trình tiêu thụ
TK 521,531,532 TK511,512 TK 111,112
Doanh thu thu
tiền ngay
TK3387 Doanh thu
kỳ n y
Doanh thu nhận trước
Doanh thu chưa thu tiền
Xoá nợ phải thu khó đòi
TK642
Ho n nhập dự phòng phải thu khó đòi
Lập dự phòng
phải thu khó đòi
TK 33311
Thuế VAT đầu ra
TK131,136
TK 33311
Bán h ng chưa VAT
VAT của khoản chiết
khấu bán hàng
giảm giá hàng bán
hàng bán bị trả lại
Trang 112.5- Báo cáo kế toán
Trên cơ sở các bảng tổng hợp chi tiết và sổ cái, sổ tổng hợp cuối kỳ kế
toán lập Bảng cân đối tài khoản và báo cáo kết quả kinh doanh phục vụ thông
tin cho công tác quản lý
III- CHU TRÌNH BÁN HÀNG -THU TIỀN VỚI CÔNG TÁC KIỂM TOÁN
1- Chức năng cơ bản của chu trình bán hàng - thu tiền
Để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra kiểm toán viên phải thực
hiện tốt các chức năng sau:
* Xử lý đặt hàng của người mua:
Đặt hàng của người mua có thể là đơn đặt hàng, là phiếu yêu cầu mua
hàng, là yêu cầu qua thư, fax, điện thoại và sau đồ là hợp đồng về mua - bán
hàng hoá dịch vụ Về pháp lý, đó là việc bày tỏ sự sẵn sàng mua hàng hoá theo
những điều kiện xác định Do đó, có thể xem đây là điểm bắt đầu của toàn bộ
chu trình Trên cơ sở pháp lý này, người bán có thể xem xét để đưa ra quyết
định bán qua phiếu tiêu thụ và lập hoá đơn bán hàng
* Xét duyệt bán chịu:
Do bán hàng gắn liền với thu tiền trong cùng một khái niệm “tiêu thụ”
nên ngay từ thoả thuận ban đầu, sau khi quyết định bán cần xem xét và quyết
định bán chịu một phần hoặc toàn bộ lô hàng Quyết định này đã được thoả
thuận trong quan hệ mua bán trong hợp đồng Tuy nhiên, ở nhiều công ty việc
ghi đúng bán chịu được tiến hành trên các lệnh bán hàng trước khi vận chuyển
hàng hoá do một người am hiểu về tài chính và về khách hàng xét duyệt Việc
xét duyệt có thể được tính toán cụ thể trên lợi ích của hai bên theo hướng
khuyến khích người mua trả tiền nhanh qua tỷ lệ giảm giá khác nhau theo thời
hạn thanh toán Trên thực tế, cũng có doanh nghiệp bỏ qua chức năng này và
dẫn tới nợ khó đòi và thậm chí thất thu do khách hàng mất khả năng thanh toán
hoặc cố tình không thanh toán do sơ hở trong thoả thuận ban đầu này
* Chuyển giao hàng:
Trang 12Là chức năng kế tiếp chức năng duyệt bán Theo nghĩa hẹp của khái niệm
“tiêu thụ” thì vận chuyển hàng hoá đến người mua là điểm bắt đầu của chu trình
(đặc biệt đối với các công ty bán buôn) nên thường là điểm chấp nhận được ghi
sổ bán hàng Chứng từ vận chuyển thường là hoá đơn vận chuyển hay vận đơn
Các Công ty có quy mô lớn, có diễn biến thường xuyên về nghiệp vụ bán hàng
thường lập sổ vận chuyển để cập nhật các chứng từ vận chuyển Mặt khác, các
cơ quan thuế quan thường quy định: Khi vận chuyển hàng hoá phải có hoá đơn
bán hàng Trong trường hợp này hoá đơn bán hàng phải được lập đồng thời với
vận đơn hoặc kiêm chức năng chứng từ vận chuyển
* Gửi hoá đơn tính tiền cho người mua và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng:
Hoá đơn bán hàng là chứng từ chỉ rõ mẫu mã, số lượng, giá cả hàng hoá
gồm cả giá gốc hàng hoá, chi phí vận chuyển, bảo hiểm và các yếu tố khác theo
Luật Thuế gia trị gia tăng Hoá đơn được lập thành 3 liên: liên đầu được gửi
cho khách hàng, các liên sau được lưu lại ghi sổ và theo dõi thu tiền Như vậy
hoá đơn vừa là phương thức chỉ rõ cho khách hàng về số tiền và thời hạn thanh
toán của từng thương vụ, vừa là căn cứ ghi sổ Nhật ký bán hàng và theo dõi các
khoản phải thu
Nhật ký bán hàng là sổ ghi cập nhật các thương vụ, nhật ký ghi rõ doanh
thu gộp của nhiều mặt hàng và phân loại theo các định khoản thích hợp
* Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền:
Sau khi thực hiện các chức năng về bán hàng cùng ghi sổ kế toán các
nghiệp vụ này cần thực hiện tiếp các chức năng thu tiền cả trong điều kiện bình
thường và không bình thường Trong mọi trường hợp đều cần xử lý và ghi sổ
các khoản thông thường về thu tiền bán hàng Trong việc xử lý này, cần đặc
biệt chú ý khả năng bỏ sót hoặc dấu diếm các khoản thu nhất là thu tiền mặt
trực tiếp
* Xử lý và ghi sổ bán hàng bị trả lại và khoản bớt giá:
Các khoản giảm trừ doanh thu xảy ra khi người mua không thoả mãn về
hàng hoá Khi đó, người bán có thể nhận lại hàng hoá hoặc bớt giá Trường hợp
Trang 13này phải lập bảng ghi nhớ hoặc có thư báo Có hoặc hoá đơn chứng minh cho
việc ghi giảm các khoản phải thu Trên cơ sở đó ghi đầy đủ và kịp thời vào nhật
ký hàng bị trả lại và các khoản bớt giá đồng thời ghi sổ vào sổ phụ
* Thẩm định và xoá sổ khoản phải thu không thu được:
Có thể có những trường hợp người mua không chịu thanh toán hoặc
không còn khả năng thanh toán Sau khi thẩm định, nếu thấy khoản thất thu này
là “bất khả kháng’’, cần xem xét xoá sổ khoản phải thu đó
* Dự phòng nợ khó đòi:
Được lập với yêu cầu đủ trang trải các khoản đã tiêu thụ kỳ này song
không có khả năng thu được cả trong tương lai Tuy nhiên, ở nhiều công ty, dự
phòng này là số dư do điều chỉnh cuối năm của quản lý về bớt giá đối với các
khoản không thu được tiền
2- Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý chu trình Bán hàng-Thu
tiền
2.1- Các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Đối với bất kì một nhà quản trị doanh nghiệp làm ăn chân chính nào cũng
luôn mong muốn hoạt động kinh doanh tại đơn vị mình diễn ra một cách có
hiệu quả nhất Điều đó thể hiện ở việc thu hồi vốn nhanh, chi phí thấp, lợi
nhuận cao từ đó có thể mở rộng sản xuất kinh doanh theo cả chiều rộng và
chiều sâu Để đạt được điều đó thì tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh
tại đơn vị đều phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo tất cả các thông tin
là đúng hiện thực, từ đó giúp cho các quản trị gia nắm bắt được các thông tin và
đưa ra các quyết định kịp thời Như vậy, lí do để doanh nghiệp xây dựng một hệ
thống kiểm soát nội bộ là để giúp doanh nghiệp thoả mãn các mục tiêu của
mình, và điều quan trọng để đảm bảo thành công cho quá trình kiểm tra kiểm
soát trong nội bộ đơn vị là việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ phù
hợp với đặc điểm và quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán Quốc tế thì hệ thống kiểm soát
nội bộ là một hệ thống các chính sách và thủ tục nhằm vào 4 mục tiêu sau
Trang 14- Bảo vệ tài sản của đơn vị
- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin
- Bảo đảm để thực hiện các quy định pháp lý
- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động
Như vậy, đối với một doanh nghiệp thì hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn
bộ các chính sách và thủ tục kiểm soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều
hành các hoạt động của đơn vị để đảm bảo các mục tiêu sau:
- Điều khiển và quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả
- Đảm bảo được mọi hoạt động của đơn vị đều được thực hiện đúng trật tự
- Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức
- Lập báo cáo tài chính kịp thời, có đủ độ tin cậy và tuân theo các yêu cầu
pháp luật hiện hành
2.2- Các nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ
a- Môi trường kiểm soát
Bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị có tính môi trường
tác động đến việc thiết kế, hoạt động kiểm soát nội bộ, 2 nhóm nhân tố này thể
hiện trên 6 mặt chủ yếu sau
Mặt 1: Đặc thù, phong cách điều hành của ban quản trị
Ban quản trị gồm những nhà quản lý cấp cao nắm quyền quyết định và
điều hành mọi hoạt động của đơn vị nên quan điểm của và đường lối quản trị
ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Có nhiều
xu hướng khác nhau trong hành vi quản lý và diễn ra theo 2 chiều hướng đối
lập nhau đó là cách quản lý táo bạo và cách quản lý rụt rè Nếu ban quản trị là
những người táo bạo trong việc ra quyết định thì thường dẫn đến rủi ro kiểm
Trang 15soát lớn Còn nếu ban quản trị là những người quá rụt rè thì thường có những
ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh
Mặt 2: Cơ cấu tổ chức
Nói đến cách phân quyền trong bộ máy quản lý theo những xu hướng khác
nhau hoặc là quá tập trung hoặc là quá phân tán Một cơ cấu tổ chức hợp lý xẽ
tạo điều kiện cho công tác phân công phân nhiệm, tránh được những chồng
chéo đồng thời giúp cho việc kiểm tra giám sát và quy kết trách nhiệm
Mặt 3: Chính sách cán bộ
Nói đến việc sử dụng và bồi dưỡng cán bộ và quá trình sử dụng, bồi
dưỡng cán bộ có mang tính kế tục và liên tiếp hay không Xây dựng được đội
ngũ cán bộ công nhân viên giỏi về mọi mặt là yếu tố trực tiếp gia tăng hiệu quả
lao động Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ tốt đòi hỏi phải có chính sách
tuyển dụng, đề bạt và khen thưởng công bằng
Mặt 4: Kế hoạch và chiến lược
Một hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là có hiệu quả khi doanh
nghiệp có một chiến lược trước mắt và lâu dài Kế hoạch và chiến lược hoạt
động là căn cứ để xem xét doanh nghiệp có định hướng phát triển lâu dài
Mặt 5: Uỷ ban kiểm soát
Bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp
(những thành viên chính thức của hội đồng quản trị, những chuyên gia am hiểu
về lĩnh vực kiểm soát) Uỷ ban kiểm soát thường được giao trách nhiệm giám
sát quá trình báo cáo tài chính của tổ chức, gồm cả cơ cấu kiểm soát nội bộ và
sự tuân thủ những điều luật và các quy định
Mặt 6: Các nhân tố bên ngoài
Hoạt động của đơn vị còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài như
luật pháp, sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước, ảnh hưởng của các
chủ nợ, con nợ, đặc biệt là đường lối phát triển của đất nước và bộ máy quản lý
ở tầm vĩ mô
b- Hệ thống kế toán
Trang 16Là một công cụ quản lý kinh tế tài chính, có chức năng thông tin và kiểm
tra về tình hình tài sản bằng phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài
khoản,phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán
Hệ thống kế toán bao gồm đầy đủ các yếu tố như sổ chứng từ, sổ chi tiết,
hệ thống sổ tổng hợp và hệ thống bảng tổng hợp và cân đối kế toán trong đó
quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác
kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
VD: Quá trình lập và luân chuyển chứng từ
Lập Duyệt Thực hiện Ghi sổ Lưu Huỷ
Huỷ phải theo quy định của Pháp luật
c- Các thủ tục kiểm soát
Thủ tục kiểm soát là chế độ và thể thức ngoài các yếu tố về môi trường
kiểm soát và các đặc điểm của hệ thống kế toán đã được ban quản trị xây dựng
để thoả mãn các mục tiêu của họ Các thủ tục kiểm soát được xây dựng trên 3
nguyên tắc cơ bản sau
Nguyên tắc 1: Phân công phân nhiệm rõ ràng
Mục đích của việc phân công phân nhiệm là nhằm cách ly về trách nhiệm,
ngăn ngừa các sai sót xảy ra và nếu có xảy ra thì cũng dễ phát hiện do trách
nhiệm được phân cho nhiều bộ phận và nhiều người trong bộ phận Mặt khác,
việc phân công phân nhiệm rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho việc chuyên môn hoá
trong hoạt động và nâng cao hiệu quả công việc
Nguyên tắc 2: Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
Mục đích của nguyên tắc này là nhằm tách biệt trách nhiệm đối với một số
hành vi khác nhau trong quá trình quản lý để ngăn ngừa các hành vi lạm dụng
quyền hạn trong quản lý tài sản đồng thời ngăn ngừa các sai số chủ tâm hoặc cố
ý
VD : Phân chia trách nhiệm trong việc xét duyệt và thực hiện, thực hiện và
kiểm soát, hoặc thu chi tiền và ghi sổ kế toán
Nguyên tắc 3: Chế độ uỷ quyền
Trang 17Việc uỷ quyền được thực hiện theo 1 trong 2 hình thức
Hình thức 1: Trong cả nhiệm kỳ theo một cơ chế ổn định
Hình thức 2: Chỉ thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định
d- Hệ thống kiểm toán nội bộ
Hệ thống kiểm toán nội bộ là bộ máy độc lập trực thuộc lãnh đạo cao nhất
của đơn vị, thực hiện chức năng kiểm toán nghiệp vụ hàng ngày hoặc kiểm toán
Bảng khai tài chính ở các đơn vị trực thuộc
3- Kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
3.1- Hệ thống các mục tiêu kiểm toán
Kiểm toán bao gồm có 2 chức năng cơ bản trong đó có chức năng xác
minh và theo thông lệ quốc tế phổ biến thì chức năng xác minh được cụ thể hoá
thành các mục tiêu và tuỳ thuộc vào đối tượng hay các loại hình kiểm toán mà
các mục tiêu có thể khác nhau
Còn theo văn bản chuẩn mực kiểm toán 1 thì “ Mục tiêu của cuộc kiểm
tra bình thường các báo cáo tài chính của các kiểm toán viên là sự trình bày một
nhận xét về mức trung thực mà các báo cáo phản ánh tình hình tài chính, các
kết quả độc lập và sự lưu chuyển dòng tiền mặt theo các nguyên tắc kế toán đã
được thừa nhận ” Đối với bất kỳ một cuộc kiểm toán nào các mục tiêu đặt ra
giúp kiểm toán viên tập hợp đầy đủ bằng chứng cần thiết Các mục tiêu đặt ra
này có liên quan chặt chẽ đến việc xác nhận của doanh nghiệp mà cụ thể là ban
quản trị về các tiêu chuẩn của đặc tính thông tin đã trình bày trên báo cáo tài
chính Thông thường các bước triển khai mục tiêu kiểm toán như sau
Biểu 3: CÁC BƯỚC TRIỂN KHAI MỤC TIÊU KIỂM TOÁN
Các báo cáo t i chính
Các b phn c u th nh ca báo cáo
t i chính
Trang 18
Qua các bước trên ta thấy việc xác nhận của ban quản trị về các chu trình
nói chung và chu trình bán hàng - thu tiền nói riêng là rất quan trọng để thiết kế
nên các mục tiêu kiểm toán Từ việc xác nhận của ban quản trị mà chúng ta đi
từ mục tiêu kiểm toán chung đến các mục tiêu đặc thù của từng chu trình
Như vậy mục tiêu chung là các mục tiêu có liên quan đầy đủ đến các cơ sở
dẫn liệu và áp dụng cho toàn bộ các khoản mục trên báo cáo tài chính đối với
mọi cuộc kiểm toán tài chính Còn mục tiêu đặc thù là nét riêng biệt cho từng
chu trình cụ thể được thiết kế cho từng trường hợp cụ thể theo sự phán đoán
riêng của kiểm toán viên đối với đặc điểm riêng của chu trình và những sai sót
hay xẩy ra đối với chu trình này
Các mục tiêu chung áp dụng cho toàn bộ báo cáo tài chính của một cuộc
kiểm toán tài chính như sau:
1 Xác minh về tính hiệu lực
2 Xác minh về tính trọn vẹn
3 Xác minh về việc phân loại và trình bày
4 Xác minh về nguyên tắc tính giá
5 Xác minh về quyền và nghĩa vụ
Trang 19Từ những mục tiêu chung của kiểm toán bảng khai tài chính đó ta có các
mục tiêu đặc thù cho chu trình bán hàng và thu tiền như sau:
1 Xác nhận về sự hiện hữu ( tính có thật): Doanh thu trên báo cáo kết quả
kinh doanh phản ánh những quá trình về trao đổi hàng hoá và dịch vụ thực tế
đã xẩy ra, các khoản phải thu là có thực được lập vào ngày lập bảng cân đối kế
toán
2 Xác nhận về tính đầy đủ ( tính trọn vẹn): Doanh thu về hàng hoá và dịch
vụ đã bán, các khoản thu bằng tiền và các khoản phải thu đã được ghi sổ và đưa
vào báo cáo tài chính
3 Xác nhận về quyền sở hữu: Hàng hoá và các khoản phải thu của doanh
nghiệp tại ngày lập bảng cân đối tài sản đều thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp
4 Xác nhận về sự đánh giá và phân loại: Doanh thu và các khoản phải thu
được phân loại đúng bản chất kinh tế và được đánh giá theo các chuẩn mực kế
toán và các quy định về tài chính
5 Xác nhận về sự trình bày: Doanh thu và các khoản phải thu được trình
bày trung thực và đúng đắn trên tài khoản cũng như trên các báo cáo tài chính
theo đúng chế độ kế toán của doanh nghiệp và theo các quy định kế toán hiện
hành
6 Xác nhận về sự tính toán chính xác: Các khoản giảm giá, chiết khấu,
hàng bán bị trả lại, các phép tính cộng dồn, nhân, chia được tính toán đúng
đắn và chính xác
7 Xác nhận về tính đúng kỳ: Cụ thể doanh thu và các khoản phải thu phải
được ghi chép đúng kỳ, không được ghi giảm doanh thu kỳ này, ghi tăng doanh
thu kỳ sau và ngược lại
Tóm lại : Đối với mỗi một chu trình kiểm toán có các mục tiêu đặc thù
riêng và chu trình Bán hàng - Thu tiền cũng có các mục tiêu riêng biệt Tuy
nhiên với mỗi một cuộc kiểm toán cụ thể thì mục tiêu riêng của chu trình Bán
Trang 20hàng Thu tiền là khác nhau Vì vậy căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà kiểm
toán viên xác định các mục tiêu kiểm toán cụ thể
3.2- Các chứng từ, sổ sách sử dụng trong quá trình kiểm toán
3.2.1- Các chứng từ được sử dụng trong quá trình kiểm toán bao gồm
- Báo cáo kết quả kinh doanh của năm trước và năm nay
- Các đơn đặt hàng của khách (Đây là cơ sở pháp lý cho việc ràng buộc
trách nhiệm cho các bên tham gia hợp đồng)
- Hợp đồng đã ký kết về bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ
- Hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho
- Các bản quyết toán, thanh lý hợp đồng bán hàng
- Các chứng từ phiếu thu tiền mặt hoặc séc, giấy báo nợ, các bản sao kê
của ngân hàng
- Các hợp đồng khế ước, tín dụng
- Các chứng từ, các hợp đồng vận chuyển thành phẩm hay hàng hoá
3.2.2- Các sổ sách sử dụng trong quá trình kiểm toán
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ nhật ký chung trong kỳ để hạch
toán kế toán thì hệ thống sổ bao gồm:
1 Sổ Nhật ký chung
2 Sổ Nhật ký thu tiền
3 Sổ cái
4 Sổ chi tiết các khách hàng phải thu
5 Sổ chi tiết doanh thu bán hàng
6 Sổ chi tiết thuế VAT đầu ra
3.3- Quy trình kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong kiểm toán
Bảng khai tài chính
Sau khi kiểm toán viên đã xác nhận các mục tiêu kiểm toán đặc thù cho
chu trình bán hàng và thu tiền thì công việc tiếp theo là tập hợp bằng chứng
kiểm toán Để đảm bảo cho công việc diễn ra theo đúng tiến độ, khoa học và
Trang 21hiệu quả thì việc tập hợp và thu thập bằng chứng, đánh giá phải diễn ra theo
một quy trình
Quy trình kiểm toán là một hệ thống phương pháp của quá trình tổ chức
một cuộc kiểm toán nhằm giúp cho kiểm toán viên tập hợp bằng chứng một
cách đầy đủ
Chu trình Bán hàng và thu tiền là một bộ phận cấu thành của Báo cáo tài
chính, vì vậy để cho toàn bộ cuộc kiểm toán diễn ra một cách thống nhất thì khi
kiểm toán chu trình này phải tuân theo quy trình kiểm toán của một cuộc kiểm
toán báo cáo tài chính Mỗi một cuộc kiểm toán nào cũng phải tuân theo các
bước cơ bản sau:
Bước 1: Chuẩn bị kiểm toán
Bước 2: Thực hiện kiểm toán
Bước 3: Kết thúc kiểm toán
Do Kiểm toán nội bộ có những đặc thù nhất định nên quy trình kiểm toán
báo cáo tài chính không phải chỉ là ba bước như Kiểm toán độc lập thực hiện
mà là 4 bước Cụ thể kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán do Kiểm toán
nội bộ thực hiện gồm 4 bước sau :
Bước 1 : Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Bước 2 : Thực hiện kiểm toán
Bước 3 : Kết thúc kiểm toán
Bước 4 : Theo dõi sau kiểm toán
3.3.1 - Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Chất lượng của kiểm toán nội bộ phụ thuộc và kế hoạch kiểm toán Chất
lượng này có thể đánh giá một cách dễ dàng tuỳ theo tính chất khách quan của
các kết luận, những giá trị mang lại cho ban lãnh đạo doanh nghiệp và bộ phận
được kiểm toán hay là quá mức độ đáp ứng yêu cầu đặt ra
Đây là bước đầu tiên trong quá trình kiểm toán, nó chiếm một vị trí quan
trọng trong toàn bộ cuộc kiểm toán do mục đích của giai đoạn này là tạo ra cơ
sở pháp lý, trí tuệ, vật chất cho công tác kiểm toán Bộ phận kiểm toán nội bộ
Trang 22lập kế hoạch kiểm toán sao cho đảm bảo được rằng tất cả các lĩnh vực của đơn
vị đều được xem xét thường xuyên và tiến hành làm kiểm toán đột xuất trong
trường hợp cần thiết một Một trong những chuẩn mực kiểm toán đươc IPAC
phê duyệt và ban hành vào tháng 10/ 1980 đòi hỏi kiểm toán viên phải lập kế
hoạch kiểm toán để trợ giúp cho công việc kiểm toán được tiến hành có hiệu
quả, đúng thời gian
Giai đoạn này bao gồm các bước chủ yếu sau:
a- Xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán
Mục tiêu và phạm vi kiểm toán cần được xác định cụ thể cho từng cuộc
kiểm toán Mục tiêu kiểm toán là cái đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết
quả kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán cụ thể Mục tiêu chung phải gắn chặt
với mục tiêu riêng, yêu cầu của quản lý Do vậy mục tiêu của kiểm toán phải
tuỳ thuộc vào quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, tuỳ thuộc vào loại
hình kiểm toán
Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối
tượng kiểm toán thường được xác định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là
một hướng cụ thể xác định mục tiêu này Với một khách thể kiểm toán cần xác
định rõ đối tượng cụ thể của kiểm toán: Bảng cân đối tài sản hay toàn bộ các
Tuỳ thuộc vào mục tiêu và phạm vi kiểm toán, cần chỉ định trước người
chủ trì kiểm toán sẽ tiến hành lần này Công việc này có thể thực hiện đồng thời
với việc xây dựng mục tiêu cụ thể song cần được thực hiện trước khi thu thập
thông tin Ở đây, vì hệ thống kiểm toán nội bộ nắm được tình hình chung của
toàn thể đơn vị nên họ có thể ước lượng về công việc sẽ tiến hành trong năm,
chính vì thế bộ phận kiểm toán nội bộ thường lập kế hoạch cả năm và trình lên
Trang 23ban lãnh đạo hoặc Hội đồng Quản trị phê duyệt Sau khi phê duyệt sẽ chỉ định
người phụ trách kiểm toán
Người được chỉ định phụ trách công việc kiểm toán phải có trình độ
tương xứng với vị trí, yêu cầu, nội dung và tinh thần của cuộc kiểm toán nói
chung Bên cạnh đó cần chuẩn bị các thiết bị và điều kiện vật chất khác như
phương tiện tính toán, kiểm tra thích ứng với đặc điểm tổ chức kế toán
c- Thu thập thông tin
Thu thập thông tin chỉ hướng tới việc đưa ra các bước quyết định về kiểm
toán (kể cả kế hoạch kiểm toán), chưa đặt ra các mục đích thu thập bằng chứng
cho kết luận kiểm toán Do vậy, nhiệm vụ thu thập thông tin đặt ra ở bước này
là mục tiêu và phạm vi kiểm toán song nói chung là cần quan tâm tới chiều rộng
hơn là chiều sâu
Trong thu thập thông tin, trước hết cần tận dụng tối đa các tài liệu đã có
song khi cần thiết vẫn phải có các biện pháp điều tra bổ sung Các nguồn tài
liệu đã có thường bao gồm :
- Các nghị quyết có liên quan đến hoạt động của các đơn vị được kiểm
toán
- Các văn bản có liên quan đến đơn vị được kiểm toán
- Các kế hoạch, dự toán, dự báo có liên quan
- Các báo cáo kiểm toán lần trước, các biên bản kiểm kê hoặc biên bản xử
lý các vụ việc đã xảy ra trong kỳ kiểm toán
- Các tài liệu khác có liên quan
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán KTV cần phải thực hiện các bước
công việc sau:
* Tiếp xúc với cơ sở để nắm bắt được tình hình khái quát
Trong bước này các kiểm toán viên nội bộ cần phải xuống cơ sở, gặp
gỡ các cán bộ lãnh đạo đơn vị sắp được kiểm toán để tìm hiểu đặc điểm của đơn
vị đó như :
- Đơn vị đó có cơ cấu tổ chức ra sao
Trang 24- Bộ phận hay đơn vị đó chịu tác động ảnh hưởng bởi sự phát triển của
tổng thể doanh nghiệp như thế nào hay chính là tìm hiểu thông tin về lý do tồn
tại và quá trình hoạt động
- Điều kiện hoạt động của đơn vị có thuận lợi và khó khăn gì
- Vị trí của đơn vị đó trong tổng thể các mối quan hệ với doanh nghiệp
cũng như môi trường xung quanh
- Tìm hiểu về những thay đổi hiện tại và trong tương lai của đơn vị về
những mặt kỹ thuật, tài chính, kế toán chức năng nhiệm vụ trong sản xuất kinh
doanh
Tiếp đó các KTV tiếp tục thực hiện công tác thu thập thông tin về những
loại tài liệu phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp Nhất là những Báo
cáo tài chính nếu như đối tượng của cuộc kiểm toán là các Báo cáo tài chính,
những tài liệu thu thập là:
Báo cáo quản trị nội bộ Chính từ những báo cáo này mà KTV có thể
tìm ra được những vấn đề quan trọng nhất đã bàn luận trước trong cuộc họp về
tài chính, quản lý mà các vấn đề đó có khả năng ảnh hưởng đến sự trình bày
trung thực của Báo cáo tài chính
Kế hoạch sản xuất kinh doanh
Báo cáo kiểm toán kỳ trước trong trường hợp kỳ trước đơn vị này đã
được kiểm toán
Các loại sổ sách kế toán xem đơn vị áp dụng hình thức sổ sách kế toán
gì và có đủ các sổ của loại hình đó không
Ngoài ra còn có các quy trình riêng do đơn vị ban hành như là các quy
tắc và thể thức hoạt động của đơn vị qua đó đưa ra nhận xét ban đầu về sự
chặt chẽ của hệ thống kiểm soát nội bộ
Như vậy qua bước thu thập thông tin khái quát các KTV đã có sự nhìn
nhận bước đầu về sự tồn tại, hoạt động cũng như những số liệu cơ bản về kết
quả sản xuất kinh doanh
* Đánh giá rủi ro và xác định mức trọng yếu
Trang 25Trọng yếu xét trong quan hệ với nội dung kiểm toán là khái niệm chỉ tầm
cỡ và tính hệ trọng của các sai phạm Các sai phạm ở đây là các gian lận và sai
sót Mức độ trọng yếu có ảnh hưởng rất lớn đối với việc thành lập kế hoạch,
thiết kế phương pháp kiểm toán và đặc biệt là khi phát hành báo cáo kiểm toán
Trách nhiệm của kiểm toán viên xác định xem báo cáo tài chính có sai phạm
trọng yếu không Trong trường hợp phát hiện ra các sai phạm trọng yếu kiểm
toán viên sẽ yêu cầu khách hàng điều chỉnh lại, nếu khách hàng từ chối thì kiểm
toán viên sẽ phát hành báo cáo kiểm toán có loại trừ tuỳ theo mức độ trọng yếu
của sai phạm Để xác định mức trọng yếu KTV phải thực hiện các bước sau:
1 Ước tính ban đầu về tính trọng yếu Ước lượng ban đầu về tính trọng
yếu là mức sai sót tối đa cho phép, nghĩa là mức mà KTV tin tưởng là không
làm cho báo cáo tài chính bị sai lầm nghiệm trọng, gây ảnh hưởng đến nhận
định của người sử dụng
Việc ước tính ban đầu về tính trọng yếu là căn cứ để KTV xây dựng kế
hoạch, thu thập các bằng chứng kiểm toán Mức trọng yếu càng thấp thì yêu
cầu về độ chính xác càng cao nên số lượng bằng chứng thu thập phải càng
nhiều từ đó chi phí kiểm toán lớn
2 Phân phối ước tính ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục Khi
có được ước tính ban đầu về tính trọng yếu KTV thực hiện phân phối ước tính
đó cho các khoản mục hoặc các bộ phận của báo cáo tài chính Chu trình bán
hàng và thu tiền gồm các khoản mục doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu,
các khoản phải thu, tài khoản tiền và các khoản phải thu khó đòi Các khoản
mục này sẽ lần lượt được phân phối ước tính ban đầu về tính trọng yếu Việc
phân phối sẽ được thực hiện theo cả hai chiều hướng mà các sai phạm có thể
xảy ra là khai tăng và khai giảm và căn cứ vào bản chất, các rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát đối với các khoản mục Đặc biệt việc phân phối này phụ thuộc
phần lớn vào kinh nghiệm của KTV nên nó mang tính chất chủ quan
Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, khả năng KTV có nhận xét
không xác đáng về báo cáo tài chính là điều luôn có thể xảy ra, từ đó người ta
Trang 26đưa ra khái niệm về rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán (AR) được hiểu là
những rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không thích
hợp về các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Ví dụ, KTV có thể đưa ra một ý
kiến nhận xét hoàn hảo về báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà không biết
rằng báo cáo này có những sai lầm nghiệm trọng Vấn đề đặt ra là phải tìm cách
giới hạn khả năng có rủi ro kiểm toán ở mức độ thấp nhất có thể chấp nhận
được bằng cách lập kế hoạch kiểm toán và điều hành cuộc kiểm toán một cách
phù hợp Mức rủi ro thường nằm trong khoảng 0% - 100% Rủi ro bằng 100%
là điều chắc chắn không, còn rủi ro bằng 0% là điều không thực tế vì khi đó phí
kiểm toán sẽ lớn đến mức bất hợp lý
Mức độ rủi ro cao hay thấp sẽ quyết định khối lượng công việc KTV tiến
hành Vì vậy, cần phải phân loại rủi ro, xem xét mối quan hệ tác động giữa các
loại rủi ro đến khối lượng công việc kiểm toán cần tiến hành cũng như đến các
trình độ và thủ pháp kiểm toán thích hợp để thực hiện kế hoạch kiểm toán
Trong kiểm toán bao gồm các loại rủi ro sau:
- Rủi ro tiềm tàng (IR): là sự tồn tại sai sót trọng yếu trong bản thân đối
tượng kiểm toán (không kể đến sự tác động của bất kỳ hoạt động kiểm toán nào
kể cả kiểm soát nội bộ) Rủi ro tiềm tàng tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh
của đơn vị
- Rủi ro kiểm soát (CR): là sự tồn tại sai sót trọng yếu mà hệ thống kiểm
soát nội bộ không thể phát hiện và ngăn chặn kịp thời Rủi ro kiểm soát đại
diện cho sự đánh giá về cơ cấu kiểm soát nội bộ của khách hàng có hiệu quả
đối với ngăn ngừa hoặc phát hiện sai sót hay không và mục đích của KTV là
đánh giá ở một mức thấp hơn mức tối đa (100%) như một phần của kế hoạch
kiểm toán
- Rủi ro phát hiện (DR): là sự tồn tại sai sót trọng yếu mà KTV kiểm
toán báo cáo tài chính không phát hiện ra Rủi ro phát hiện có quan hệ trực tiếp
đến phạm vi kiểm toán và các phương pháp kiểm toán mà KTV sử dụng trong
quá trình kiểm toán Nói chung các phương pháp kiểm toán , các bước tiến
Trang 27hành kiểm toán càng chặt chẽ, phạm vi kiểm toán càng rộng, công việc kiểm
toán được tuân thủ theo các chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán thì mức rủi ro
phát hiện càng thấp
Việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng nên người ta đã thiết lập ra mô hình
rủi ro kiểm toán để phản ánh mối quan hệ giữa các loại rủi ro
AR = IR X CR X DR
AR
IR X CR
Theo công thức trên ta có rủi ro phát hiện phát hiện tỷ lệ nghịch với rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Rủi ro tiềm tàng không thể thay đổi do nó căn
cứ vào bản chất kinh doanh của đơn vị, tính liêm chính của Ban quản trị, động
cơ của đơn vị, kết luận của những lần kiểm toán trước, tính nhậy cảm với sự
tham ô, số tiền của số dư tài khoản, quy mô tổng thể, cấu tạo tổng thể Những
rủi ro kiểm soát lại có thể hạn chế được thông qua hoạt động của hệ thông kiểm
soát nội bộ Nguyên nhân có rủi ro phát hiện là do KTV đã chọn lựa và áp dụng
phương pháp kiểm toán không thích hợp, giải thích sai hoặc nhận định sai về
kết quả kiểm tra
* Tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán và đánh
giá rủi ro kiểm soát
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 400 quy định : “Kiểm toán viên cần
phải có sự hiểu biết phù hợp về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ để lập kế
hoạch kiểm toán và đề ra một biện pháp kiểm toán có hiệu quả KTV cần phán
đoán về mặt nghề nghiệp để đánh giá các rủi ro kiểm toán và đề ra các quy trình
kiểm toán nhằm hạn chế rủi ro một cách có thể chấp nhận được ” Do đó, KTV
tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ của đơn vị kiểm toán thông qua việc tìm hiểu
các vấn đề sau
- Môi trường kiểm soát
- Hệ thống kế toán
Trang 28- Các thủ tục kiểm soát
- Hệ thống kiểm soát nội bộ
Sau khi KTV có được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ thì tiến hành
đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát đối với từng số dư tài khoản quan trọng hoặc
đối với từng loại giao dịch ở mức độ chấp nhận Thông thường việc đánh giá
rủi ro kiểm soát gồm các bước:
1 Nhận diện mục tiêu kiểm soát:
Dựa trên những thông tin thu được về hệ thống kiểm soát nội bộ KTV
đánh giá khả năng ngăn ngừa các sai phạm Chẳng hạn xem xét hoá đơn bán
hàng có đánh số trước hay không, việc đánh số trước hoá đơn bán hàng để đề
phòng ghi sổ nghiệp vụ thiếu, mất mát cũng như ghi sổ hai lần Doanh nghiệp
có thường xuyên đôn đốc công nợ hay không, các khoản bán chịu có được phê
duyệt không?
2 Xác định các sai phạm, rủi ro có thể xảy ra đối với báo cáo tài chính:
* Rủi ro đối với các khoản phải thu là trường hợp các khoản phải thu
thường bị khai tăng lên để che đậy sự thụt két bởi số tiền thu được từ bị bán
hàng bị nhân viên thu tiền lấy đi Ngoài ra khoản phải thu có thể bị khai tăng
bằng cách tạo ra khoản dự phòng không thích hợp cho các khoản phải thu khó
đòi Khoản phải thu nội bộ không được phân loại đúng đắn bằng cách ghi lẫn
vào các khoản phải thu khách hàng vào khoản phải thu khác
* Rủi ro đối với doanh thu thường là: phân loại doanh thu không đúng
đắn giữa doanh thu bán hàng ra bên ngoài với doanh thu bán hàng nội bộ
Chuyển doanh thu từ nhóm hàng có thuế suất cao sang nhóm hàng có thuế suất
thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc cũng có thể doanh thu bị để ngoài sổ sách,
không hạch toán doanh thu bán hàng trong trường hợp hàng đổi hàng hoặc
dùng hàng hoá, sản phẩm trả lương, trả thưởng cho công nhân viên, chi cho các
quỹ doanh nghiệp hay khi bán hàng hoá có thu bằng ngoại tệ thì hạch toán thấp
hơn tỷ giá thực tế
3- Đánh giá rủi ro kiểm soát:
Trang 29Từ những nhận xét về các loại sai phạm có thể xảy ra và khả năng ngăn
chặn các sai phạm đó cấu hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV tiến hành đánh giá
rủi ro kiểm soát Tuy nhiên, việc đánh giá rủi ro kiểm soát chỉ là ước tính Sự
ước tính được thực hiện cho từng mục tiêu kiểm soát nội bộ của từng loại
nghiệp vụ và được thể hiện bằng cách diễn đạt chủ quan như rủi ro kiểm soát
cao, trung bình, thấp khi nào KTV cho rằng kiểm soát nội bộ là yếu kém thì họ
sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát nội bộ là yếu kém thì họ sẽ đánh giá rủi ro kiểm
soát cao và ngược lại
4- Thiết lập chương trình kiểm toán :
Để đạt được sự kết hợp hài hoà giữa chi phí và thời gian kiểm toán với
việc đáp ứng yêu cầu của Ban lãnh đạo doanh nghiệp hay bộ phận được kiểm
toán, các kiểm toán viên cần phải thiết lập được chương trình kiểm toán chu
trình bán hàng và thu tiền thích hợp
Chương trình kiểm toán là việc hoạch định chi tiết về những công việc cần
thực hiện và thời gian hoàn thành với trọng tâm là các thủ tục kiểm toán được
thực hiện đối với từng khoản mục
Trình tự lập chương trình kiểm toán bao gồm các bước cụ thể như sau:
- Mục đích kiểm toán từng phần
- Phạm vi và mức độ kiểm tra cần thiết
- Xác định các bước đi chi tiết
- Thu thập bằng chứng đánh giá phân tích và đưa ra nhận xét
- Xác định thời gian kiểm toán, dự tính ngày hoàn thành và hình thức các
báo cáo sẽ lập
- Bố trí lực lượng kiểm toán và sự phối hợp với các trợ lý khác
3.3.2- Thực hiện kiểm toán
Đây là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã ấn định trong kế
hoạch, quy trình kiểm toán Do vậy, trong bước công việc này, tính nghệ thuật
trong tổ chức bao trùm suốt quá trình Mặc dù vậy tính khoa học trong tổ chức
vẫn đòi hỏi thực hiện kiểm toán phải tôn trọng những nguyên tắc cơ bản sau:
Trang 30Một: Kiểm toán phải tuyệt đối tuân thủ quy trình kiểm toán đã được xây
dựng Trong mọi trường hợp, kiểm toán viên không được tự ý thay đổi quy
trình
Hai: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi
chép những phát giác, những nhận định về các nghiệp vụ, các con số, các sự
kiện nhằm tích luỹ bằng chứng, nhận định cho những kết luận kiểm toán và
loại trừ những ấn tượng, nhận xét ban đầu không chính xác về nghiệp vụ, các
sự kiện thuộc đối tượng kiểm toán
Ba: Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán để nhận rõ mức độ thực hiện so
với khối lượng công việc chung thường là trên các bảng kê chênh lệch và bảng
kê xác minh
Bốn: Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán đều phải có
ý kiến thống nhất của người phụ trách chung công việc kiểm toán viên, người
ký thư mời và hợp đồng kiểm toán Mức độ pháp lý của những điều chỉnh này
phải tương ứng với tính pháp lý trong lệnh kiểm toán hoặc hợp đồng kiểm toán
Trong giai đoạn này để thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có
hiệu lực thì kiểm toán viên phải sử dụng kết hợp hàng loạt các kỹ thuật như
quan sát, phỏng vấn, đối chiếu, xác nhận, tính toán, phân tích
Chu trình bán hàng và thu tiền bao gồm các khoản mục trong mối quan hệ
chặt chẽ với nhau Vì vậy, khi thực hiện kiểm toán kiểm toán viên sẽ vận dụng
một trong hai phương pháp sau:
- Phương pháp kiểm tra kiểm soát (hay phương pháp tuân thủ, phương
pháp tiếp cận dựa trên hệ thống) để áp dung được phương pháp này phải có
điều kiện là hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu quả
- Phương pháp kiểm toán cơ bản được sử dụng để thu thập các bằng chứng
về mức độ trung thực và hợp lý của số liệu kế toán
Thứ nhất: Thực hiện thử nghiệm tuân thủ và thử nghiệm cơ bản đối với
nghiệp vụ bán hàng
Trang 31- Xem xét việc phân cách các nhiệm vụ trong khi thực hiện nghiệp vụ bán
hàng Việc thực hiện nghiệp vụ bán hàng phải do các bộ phận đảm nhiệm từng
chức năng một
- Việc xem xét đơn đặt hàng, chuẩn y các đơn đặt hàng, lập hoá đơn do
phòng tiêu thụ (phòng kinh doanh, phòng thị trường) lập
- Việc phê chuẩn bán chịu, xét duyệt các khoản nợ không thu hồi được,
quyết định mức dự phòng nợ khó đòi do giám đốc hoặc người có thẩm quyền
của đơn vị phê chuẩn
- Việc ghi sổ, tính toán các chiết khấu, giảm giá dự phòng do kế toán
ghi sổ đảm nhận
- Việc thu tiền do thủ quỹ tiến hành
- Việc xuất kho, bảo quản kho hàng do thủ kho thực hiện
Thủ tục cần tiến hành trong trường hợp này là phỏng vấn nhân viên, quan
sát viên thực hiện hay kiểm tra các chữ ký của chứng từ, sổ sách tương ứng với
các bộ phận, xem rằng liệu đơn vị có tôn trọng nguyên tắc trách nhiệm không
- Sổ sách và chứng từ đầy đủ: Sổ sách chứng từ của chu trình này là sổ
nhật ký chung, nhật ký bán hàng, hoá đơn bán hàng ( hoá đơn kiêm phiếu xuất
kho), chứng từ vận chuyển, hợp đồng đã ký kết về cung cấp hàng hoá, dịch vụ
Các loại chứng từ này có thể tập hợp thành từng bộ tương ứng với từng nghiệp
vụ bán hàng Việc tập hợp này giúp cho kiểm toán viên biết được chứng từ nào
thiếu hoặc đầy đủ, từ đó có thể phán đoán có gian lận hoặc sai sót xảy ra hay
không
Thủ tục cần tiến hành là xem từng bộ chứng từ, ví dụ như xem một chuỗi
lệnh vận chuyển, kiểm tra xem có kèm theo lệnh bán hàng hoặc hoá đơn kiêm
phiếu xuất kho hay không
- Các loại chứng từ được đánh số trước: Sử dụng chứng từ được đánh số
trước nhằm ngăn ngừa gian lận, biển thủ tiền thu được do bán hàng hoặc sai sót
do ghi sổ trùng lặp
Trang 32Thủ tục kiểm toán là thực hiện kiểm tra tính liên tục, số thứ tự của hoá đơn
bán hàng, số hạng, số quyển các loại nhật ký bán hàng
- Nghiệp vụ bán hàng được phê chuẩn
Hiện nay hầu hết các loại nghiệp vụ bán hàng trong Công ty, doanh nghiệp
đều thực hiện bán hàng trả chậm để khuyến khích khách mua hàng Tuy vậy
luôn có rủi ro đi kèm do việc bán chịu gắn liền với việc thanh toán của khách
hàng Trong trường hợp nào đó, nếu gặp khách hàng cố tình dây dưa trả nợ,
hoặc do một nguyên nhân nào đó như bị phá sản chẳng hạn đều dẫn đến khả
năng doanh nghiệp gặp khó khăn do không thu hồi được nợ, từ đó có thể gặp
khó khăn trong việc thanh toán kèm theo tình hình tài chính có nhiều biến động
phức tạp, ảnh hưởng lớn đến công việc kinh doanh lâu dài Cho nên khi thực
hiện bán chịu đòi hỏi phải có sự phê chuẩn, ký duyệt của người có thẩm quyền
như giám đốc hoặc kế toán trưởng
Thủ tục kiểm toán ở đây là áp dụng thử nghiệm tuân thủ, thực hiện việc
kiểm tra các chữ ký trên các hoá đơn bán hàng, hoặc chính sách bán hàng của
doanh nghiệp
Thứ hai: thực hiện thử nghiệm tuân thủ và thử nghiệm cơ bản với tài
khoản doanh thu
Việc thực hiện hai loại thử nghiệm này cùng theo các mục tiêu kiểm toán
được nhìn nhận
- Doanh thu bán hàng được ghi sổ là có thật:
Khi thực hiện kiểm toán viên thông thường chọn mẫu một số nghiệp vụ
bán hàng, đối chiếu giữa việc ghi sổ, hoá đơn bán hàng và các chứng từ khác
kèm theo như chứng từ vận chuyển, phiếu xuất kho hàng hoá, có thể tiến hành
tính toán lại số tiền trên hoá đơn xem có đúng không Mục đích của việc kiểm
tra chi tiết từng loại nghiệp vụ để xem xét liệu có thể có gian lận, khai khống,
hoặc hàng chưa xuất kho, chưa chuyển giao cho khách mà đã ghi doanh thu
- Doanh thu bán hàng được ghi sổ đầy đủ
Trang 33Khi có sự gian lận, cố tình biển thủ tài sản hoặc ghi giảm doanh thu để
trốn thuế thì doanh thu thường bị khai thiếu
Khi kiểm toán mục tiêu này, thường kiểm toán viên thực hiện các công
việc sau
Trước hết, kiểm toán viên tiến hành phân tích doanh thu năm nay và năm
trước xem có biến động gì lớn Thường thì việc phân tích này kết hợp chặt chẽ
với tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giả sử như
doanh nghiệp đang mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh bởi sản phẩm sản xuất
ra trên thị trường được ưa chuộng, tình hình tiêu thụ là khả quan, trong khi đó
doanh thu của công ty lại giảm sút so với năm trước Chính từ đặc điểm này
khiến cho kiểm toán viên phải chú ý đến khả năng doanh thu bị khai thiếu Mặt
khác khi phân tích, để có một cái nhìn tổng quát thì phải xem xét cơ cấu của
doanh thu bao gồm những loại nào và tỷ lệ của chúng trong tổng doanh thu
Một trong những nguyên nhân để tăng hay giảm doanh thu cũng là bắt nguồn từ
sự thay đổi doanh thu
Sau khi tiến hành thủ tục phân tích (trắc nghiệm phân tích) kiểm toán viên
tiếp tục tìm hiểu về các thủ tục kiểm soát áp dụng cho việc quản lý doanh thu
tại đơn vị như thế nào
Khi doanh thu có biến động lớn (giảm mạnh so với năm trước) kết hợp với
việc tìm hiểu các thủ tục kiểm soát và các hoạt động quản lý cho thấy có sự
buông lỏng, thì kiểm toán viên sẽ tiến hành ngay việc kiểm tra chi tiết (trắc
nghiệm trực tiếp các số dư) với số lượng đại diện các phần tử cho mẫu Nếu các
thủ tục kiểm soát đã được thiết kế vận hành liên tục và có hiệu quả thì lúc đó lý
do nghi ngờ doanh thu bị khai thiếu là do sai sót nhiều hơn là gian lận và kiểm
toán viên có thể giảm số lượng mẫu chọn đi so với trường hợp trên
Khi doanh thu có biến động không lớn, có thể xấp xỉ so với năm trước
nhưng sản phẩm của doanh nghiệp có thể đang được ưa chuộng trên thị trường,
sản lượng sản xuất tăng hơn so với năm trước thì khả năng doanh thu bị khai
thiếu là nhiều hơn và kiểm toán viên lại tiếp tục như trên
Trang 34Khi doanh thu có biến động không lớn, kết hợp với việc kiểm tra đánh giá
các thủ tục kiểm soát thấy có hoạt động có hiệu quả, vì vậy kiểm toán viên chỉ
cần kiểm tra chi tiết ở mức độ phù hợp
Để tiến hành các công việc đã nêu như ở trên, kiểm toán viên sẽ kiểm tra
việc phê chuẩn nghiệp vụ bán hàng ( do đặc điểm của thủ tục kiểm soát này gắn
chặt chẽ với việc ghi thiếu hay ghi đầy đủ doanh thu), thể hiện qua chữ ký của
người có thẩm quyền tại đơn vị trên các loại hoá đơn, chứng từ Bên cạnh đó
kiểm toán viên cũng phải chú ý đến thủ tục quản lý chứng từ tại đơn vị và
thông thường việc ghi thiếu doanh thu thường gắn liền với việc lập chứng từ
khống, hoặc hoá đơn bán hàng bị mất mát ngoài ra kiểm toán viên có thể tổng
hợp các hợp đồng quan trọng, tính tổng cộng lại để phát hiện sự chênh lệch
- Doanh thu được ghi chép đúng kỳ
Đây là mục tiêu kiểm toán đặc thù áp dụng cho tài khoản doanh thu bởi
doanh thu của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng được tính toán trong một quá
trình lâu dài Nếu doanh thu bị khai thiếu thì thường có một số nghiệp vụ bán
hàng được chuyển sang kỳ sau Trong trường hợp ngược lại doanh thu bị khai
tăng thì có một số hoá đơn bán hàng sẽ được ghi nhận trước Như vậy mục tiêu
này gắn liền với mục tiêu kiểm toán tính đầy đủ hoặc có thật của doanh thu
Mục tiêu này bị vi phạm có thể do chủ ý của doanh nghiệp muốn khai tăng
doanh thu để khuếch trương danh thế, hoặc để ghi nhận thành tích và hưởng
các mức ưu đãi, hoặc ghi giảm doanh thu để trốn thuế Cũng có thể kế toán viên
sai sót, không thể quản lý hết được sự biến động của doanh thu do nghiệp vụ
bán hàng xẩy ra thường xuyên với tần xuất lớn
Đối với mục tiêu này, kiểm toán viên cũng thực hiện việc phân tích như ở
trên Khi tìm hiểu các thủ tục kiểm soát kiểm toán viên phải đặc biệt lưu ý đến
tần xuất xảy ra các nghiệp vụ bán hàng, việc luân chuyển chứng từ bán hàng từ
các bộ phận đến phòng kế toán, cùng trình độ của kế toán viên tương ứng
Khi tiến hành kiểm tra chi tiết thông thường sẽ chọn một số hoá đơn chứng
từ lập trước và sau ngày kết thúc niên độ kế toán, kiểm tra việc ghi sổ với từng
Trang 35hoá đơn và phát hiện xem có hoá đơn nào được chuyển sang ghi kỳ sau hoặc có
một số chứng từ của năm sau được ghi nhận sang năm trước hay không
- Doanh thu bán hàng được phân loại và trình bày đúng đắn
Việc phân loại và trình bày các loại doanh thu thường gắn chặt chẽ với cơ
cấu doanh thu Để thực hiện thủ tục phân tích, kiểm toán viên sẽ thực hiện việc
so sánh cơ cấu của các loại doanh thu như doanh thu tiêu thụ nội bộ, doanh thu
các loại hàng hoá dịch vụ, doanh thu từ bên thứ ba của năm kiểm toán và năm
trước đó, nếu thấy có sự biến động lớn thì có thể tiến hành so sánh phân tích về
tình hình sản xuất (thể hiện ở số lượng nhập kho hàng hoá thành phẩm) và tình
hình tiêu thụ (thể hiện ở số lượng hàng hoá, thành phẩm xuất kho) Do việc
phân loại và trình bày có liên quan tới việc tính toán thuế doanh thu, ứng với
mỗi loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau sẽ được áp dụng các mức thuế khác nhau,
kiểm toán viên có thể tiến hành tính toán lại các loại thuế, đối chiếu lại với mức
thuế đã ghi nhận, nếu phát hiện thấy sự chênh lệch đáng kể thì phải tiến hành
kiểm tra tổng doanh thu với số tổng hợp chi tiết từng loại hàng bán và các hình
thức tiêu thụ trong kỳ để phát hiện sai sót khi kế toán viên không phân loại và
trình bày đúng đắn doanh thu
- Doanh thu bán hàng được đánh giá đúng đắn
Để kiểm toán mục tiêu này, kiểm toán viên cũng thực hiện các bước phân
tích và tìm hiểu về thủ tục kiểm soát như trên Còn việc tiến hành kiểm tra chi
tiết sẽ được thực hiện như sau:
Với số hoá đơn mẫu được chọn, kiểm toán viên tiến hành thính toán lạI số
liệu trên hoá đơn bán hàng (số tiền = số lượng hàng bán * đơn giá), đối chiếu
xem giá bán trên hoá đơn có phải được quy định trên bảng yết giá của doanh
nghiệp hay không đồng thời đối chiếu số liệu trên hoá đơn bán hàng (đã được
tính lại) với các bút toán tương ứng trên sổ nhật ký bán hàng, ngoài ra còn đối
chiếu số liệu trên hoá đơn bán hàng và số liệu trên chứng từ vận chuyển với
các đơn dặt hàng của khách hàng và với hợp đồng đã ký trước Thông thường
mục tiêu ghi nhận doanh thu được đánh giá và tính toán đúng đắn kết hợp với
Trang 36việc ghi nhận các loại chiết khấu, giảm giá, hàng bán bị trả lại vì những
nghiệp vụ này gắn liền với việc ghi giảm doanh thu
Các nghiệp vụ này phát sinh có liên quan đến việc giảm giá trị tài sản của
doanh nghiệp nên trước khi nghiệp vụ xảy ra phải có sự phê chuẩn của người
có thẩm quyền trong doanh nghiệp và kiểm toán viên phải đặc biệt chú ý đến
đặc điểm thời gian được hưởng chiết khấu, giảm giá với khách hàng mua nhiều
hoặc hàng hoá có chất lượng kém, mà sau khi kiểm tra công ty thấy đúng với
thực tế, đặc biệt là với hàng đã bán bị trả lại, mỗi nghiệp vụ đều phải có sự phê
chuẩn của trưởng phòng kinh doanh hoặc của người có thẩm quyền về lý do trả
lại hàng
Kiểm toán viên thực hiện kiểm tra chi tiết bằng cách chọn một số nghiệp
vụ phát sinh trong kỳ, so sánh với mức chiết khấu, giảm giá trên hoá đơn với
mức tính cho khách hàng thực tế trên sổ nhật ký bán hàng, các khoản phải thu
Với hàng bán bị trả lại kiểm tra sự phê chuẩn bằng cách đối chiếu số lượng trên
hoá đơn, hàng trả lại với phiếu nhập kho (nếu nhập kho) hoặc trên sổ hàng gửi
bán, đối chiếu số tiền bán hàng trả lại với bên có của tài khoản phải thu nếu
hàng bán chưa thanh toán
Thứ ba: Thực hiện thử nghiệm tuân thủ và thử nghiệm cơ bản đối với tài
khoản phải thu khách hàng
Khi nhìn nhận chu trình bán hàng và thu tiền trong mối liên hệ giữa các bộ
phận cấu thành cho thấy khoản phải thu khách hàng có quan hệ chặt chẽ không
chỉ với khoản tiền đã thu được mà còn phản ánh tới các khoản doanh thu đã ghi
nhận và các khoản khác như chiết khấu hàng bán, hàng bán bị trả lại và đặc biệt
là liên quan đến khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi và việc xử lý các khoản
này Với một hệ thống kiểm soát hoạt động mạnh thông thường các khoản phải
thu được quản lý hết sức chặt chẽ thể hiện thông qua các biểu hiện sau
- Các khoản bán chịu phải được phê duyệt trước khi giao hàng hoá cho
khách Việc phê duyệt phải được thực hiện bởi người có thẩm quyền như Giám
đốc và kế toán trưởng Chính vì thế khi thực hiện thử nghiệm tuân thủ, kiểm
Trang 37toán viên có thể phỏng vấn nhân viên của doanh nghiệp và tiến hành xem xét
các loại hoá đơn chứng từ bán chịu hàng hoá liệu đã có đầy đủ chữ ký của
người có thẩm quyền hay không, hoặc quan sát một nghiệp vụ cụ thể phát sinh
Việc thực hiện bán chịu hay bán hàng thu tiền ngay phải được tiến hành
theo một trình tự hợp lý, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất của các bộ
phận Chú ý đến việc luân chuyển chứng từ bán hàng giữa các bộ phận, liệu các
chứng từ được lập tại phòng kinh doanh có được chuyển đến cho phòng kế toán
đúng lúc để ghi sổ hay không Thông thường tính đúng lúc của quy trình luân
chuyển chứng từ gắn liền với việc ghi chép đúng kỳ của các loại doanh thu và
các khoản phải thu Để thực hiện thử nghiệm kiểm soát đối với vấn đề này,
kiểm toán viên tiến hành quan sát một số nghiệp vụ cụ thể về việc bán hàng cho
khách hàng để thấy được việc lập và luân chuyển chứng từ như thế nào, kết hợp
với các tài liệu do khách hàng cung cấp về chính sách bán hàng, sơ đồ mô tả
việc bán hàng
Một trong những phương pháp thường được áp dụng là lập bảng so sánh
các tỷ suất của năm nay và năm trước các tỷ suất được sử dụng bao gồm:
CÁC THỦ TỤC PHÂN TÍCH TÀI KHOẢN PHẢI THU CỦA KHÁCH HÀNG
THỦ TỤC PHÂN TÍCH SAI SÓT CÓ THỂ XẢY RA
So sánh doanh thu bán chịu năm nay
với năm trước
Tăng hay giảm các khoản phải thu
So sánh số dư của khách hàng có số
dư nợ vượt quá một giới hạn nào đó
so với năm trước
Sai sót ở tài khoản phải thu
So sánh giữa số dư của tài khoản phải
thu với doanh thu bán chịu của năm
nay so với năm trước
Tăng hay giảm khoản thu được từ khách hàng
Ngoài việc so sánh chung, kiểm toán viên cần duyệt lại các bảng kê nợ
phải thu để chọn ra một số khách hàng có mức dư nợ vượt qua một số nào đó,
hoặc có số dư kéo dài trong nhiều năm để nghiên cứu thêm
Trang 38Từ việc tìm hiểu các thủ tục kiểm soát nội bộ và thực hiện các thủ tục phân tích
kiểm toán viên sẽ tiến hành khoanh vùng sai sót, tập trung vào việc thiết kế các
kiểm tra chi tiết theo các mục tiêu kiểm toán đặc thù
- Các khoản phải thu được tính toán đúng đắn
Số liệu chi tiết tài khoản phải thu phải nhất quán với các sổ phụ có liên
quan, số tổng hợp lại tương ứng với số liệu trên sổ tổng hợp Có thể chọn một
số mẫu bao gồm các số dư cá biệt, đối chiếu với sổ chi tiết các khoản phải thu
để kiểm tra đúng đắn về tên khách hàng, số dư và tài khoản nợ
- Các khoản phải thu là có thật
Kiểm toán viên yêu cầu khách hàng cung cấp bảng kê khách nợ, chọn mẫu
và tiến hành gửi thư xác nhận Việc chọn khách hàng nợ để gửi thư xác nhận
phụ thuộc vào:
- Tính trọng yếu của các khoản phải thu, nếu các khoản phải thu thực sự
là trọng yếu theo đánh giá của kiểm toán viên thì cần phải có dung lượng mẫu
lớn hơn
- Số lượng các khoản phải thu
- Kết quả hiểu biết về cơ cấu kiểm soát nội bộ của khách hàng và việc
thực hiện các thủ tục phân tích
- Kết quả xác nhận của năm trước
Sau khi tiến hành chọn khách hàng để xác minh các khoản phải thu, kiểm
toán viên có thể yêu cầu công ty khách hàng gửi thư xác nhận dưới sự kiểm soát
của kiểm toán viên hoặc do kiểm toán viên tự tiến hành Hình thức thư xác
nhận thông thường bao gồm hai loại là: Thư xác nhận loại tích cực (yêu cầu
khách hàng trong trường hợp nào cũng gửi thư lại cho dù có sự thống nhất hay
không về số liệu cần xác minh) và loại không tích cực (chỉ gửi thư trả lời trong
trường hợp có sự chênh lệch về số liệu) Tuy nhiên trên thực tế thông thường
kiểm toán viên hay sử dụng loại thứ nhất bởi cách này tuy có tốn kém và mất
thời gian nhưng thể hiện rõ sự hợp tác hay bất hợp tác của khách hàng nợ
Trang 39Thư xác nhận thường được gửi cận hoặc sau ngày lập báo cáo tài chính để
tránh các rủi ro có thể xảy ra Trong trường hợp khách nợ không đáp ứng yêu
cầu xác nhận (không nhận được thư trả lời sau hai hoặc ba lần gửi thư xác
nhận) kiểm toán viên phải tiếp tục kiểm tra với các khoản thu tiền mặt sau đó
đối chiếu số liệu trên sổ cái với hoá đơn bán hàng
- Các khoản phải thu được ghi sổ đầy đủ
Với mục tiêu này, khi thực hiện việc tìm hiểu các thủ tục kiểm soát kết hợp
với các thủ tục phân tích đã trình bày khi thực hiện việc kiểm toán tài khoản
doanh thu và tài khoản tiền mặt đã góp phần khẳng định mục tiêu này vì vậy,
chúng ta có thể lướt qua mà không cần phải xem xét kỹ lưỡng
- Các khoản phải thu được ghi đúng kỳ
Việc xem xét mục tiêu này cũng gắn liền với tính đúng kỳ của khoản
doanh thu Vì vậy, việc thực hiện mục tiêu này đã được đề cập kết hợp với việc
kiểm toán các khoản doanh thu như đã trình bày ở trên
Thứ tư: Thực hiện thử nghiệm tuân thủ và thử nghiệm cơ bản đối với
khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi và việc xử lý các khoản phải thu không
thu hồi được
Khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi là những khoản giảm tài sản của
doanh nghiệp (cụ thể là giảm khoản phải thu) mà theo ước tính của doanh
nghiệp trong tương lai sẽ không thể thu hồi được
Còn các khoản không thu hồi được là những khoản khách hàng nợ song
doanh nghiệp thực sự không có khả năng thu hồi mặc dù đã cố gắng đòi nợ
Thông thường với một doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát nội bộ lành mạnh
thì việc quản lý chặt chẽ các khoản này thể hiện ở những mặt sau
- Lập bảng phân tích tuổi nợ, xem xét những khách hàng đã qua hạn mà
chưa thanh toán, gửi thư thúc nợ, lập dự phòng phải thu khó đòi đồng thời phải
điều tra nguyên nhân tại sao khách hàng không thể trả nợ được
- Với những khách hàng thật sự không có khả năng trả thì việc xoá sổ các
khoản nợ đó phải được phê duyệt bởi những người có đầy đủ thẩm quyền, hoàn
Trang 40nhập dự phòng, tiến hành xoá nợ sau đó vẫn phải tiến hành theo dõi trên tài
khoản 004 “Nợ phải thu khó đòi” để tiến hành tiếp tục đòi nợ
Sau khi thực hiện các thử nghiệm tuân thủ, kiểm toán viên có thể dùng các
tỷ suất sau đây để tiến hành phân tích tính thích hợp của các khoản dự phòng nợ
phải thu và việc xử lý các khoản không thu hồi được
CÁC THỦ TỤC PHÂN TÍCH KHOẢN DỰ PHÒNG NỢ PHẢI THU KHÓ ĐÒI
THỦ TỤC PHÂN TÍCH SAI SÓT CÓ THỂ XẢY RA
So sánh giữa chi phí về nợ không
thu hồi được với số dư của tài khoản
phải thu của năm nay và năm trước
Tăng hay giảm mức dự phòng
So sánh các khoản phải thu phân
tích theo từng nhóm tuổi của năm
nay so với năm trước
Tăng hay giảm mức dự phòng
Khi kiểm toán các khoản này vấn đề quan tâm chính của kiểm toán viên là
xem xét các mục tiêu sau:
- Các khoản dự phòng nợ phải thu được tính toán và đá giá đúng đắn
Bản chất của các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, được tính toán dựa
trên những phán xét chủ quan của doanh nghiệp nên khó có thể có những nhận
xét đúng đắn về giá trị của những khoản mục này Tuy vậy kết quả của việc tính
toán lại có ảnh hưởng lớn đến báo cáo tài chính như tổng tài sản, mức thuế lợi
tức phải nộp Để thực hiện việc kiểm tra chi tiết thông thường kiểm toán viên sẽ
chọn mẫu một số khoản dự phòng của các khách hàng và đánh giá khả năng trả
nợ của họ, kết hợp với tình hình thanh toán của các khách hàng này
- Các khoản xử lý dự phòng nợ phải thu khó đòi là có thật
Gian lận dễ xảy ra đối với khoản này nhất là khả năng biển thủ tiền bằng
cách xoá sổ các khoản nợ, mà trên thực tế khoản nợ đó đã thu được tiền Thông