Lớp thứ hai bao gồm các biểu hiện của hành vi như lễ nghi chào hỏi,bắt tay, hôn… Nó có liên quan tới các giá trị là các quan niệm, tư tưởng đượcchia sẻ bởi các thành viên của một nền v
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, khi các dân tộcngày càng ràng buộc gắn bó với nhau hơn bao giờ hết, khi các tế bào gia đình,các tổ chức và cả những đơn vị kinh doanh cũng đang chịu áp lực ngày cànglớn của những dòng chảy biến động của văn hóa và hội nhập thì ngay cả nhữngtập đoàn hùng mạnh đến những công ty nhỏ bé đều phải đứng trước các tháchthức xây dựng văn hóa riêng phù hợp với tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu củacông ty đó “Một cao trào mãnh liệt đang xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giớingày nay, tạo ra môi trường lạ lùng Trong bối cảnh đầy thách thức đó, cácdoanh nhân phải chèo chống cố cưỡng lại trào lưu kinh tế đang trội dạt…các hệthống giá trị đang tan vỡ và sụp đổ…” (Chinh phục các đợt sóng văn hóa,
2008, trang 6) Văn hóa là một phần không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp
và văn hóa doanh nghiệp, văn hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sựphát triển bền vững Điều đó lí giải vì sao các tập đoàn lớn thành công trên cảthế giới và ở Việt Nam đều phải tạo dựng được nét đặc trưng văn hóa riêngbiệt, độc đáo nhưng cũng rất toàn cầu
Với thực tế đó, những nghiên cứu văn hóa vô cùng cần thiết Trên thếgiới đã có rất nhiều học giả nghiên cứu văn hóa như Trompernaars, Hall,Alder, Hofstede, trong đó công trình của Hofstede và Trompernaars có quy
mô rộng trên toàn thế giới Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra những đặctrưng văn hóa của từng quốc gia góp phần làm cho thế giới xích lại gần nhauvượt qua những rào cản về văn hóa
Năm 2007, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chứcThương mại thế giới khiến việc xử lý những thách thức về văn hóa đối với cácdoanh nghiệp trở nên cấp bách Những chuyển biến thay đổi diễn ra nhanhchóng hơn cùng với sự du nhập của nhiều những yếu tố văn hóa khiến hoạt
Trang 2động của doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phức tạp trong mối quan hệ côngviệc, cá nhân, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp đa dạng
Từ việc tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoàinước, có thể thấy:
1 Một số lượng hạn chế các nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế về
so sánh văn hóa kinh doanh giữa Việt Nam với các nước trên
thế giới và ngược lại
2 Một số lượng hạn chế các nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị trong kinh doanh giữa Việt Nam với thế giới dựa trên các
phương diện văn hóa
3 Chưa có một công trình nghiên cứu mang tính định lượng về
văn hóa Việt Nam dựa trên mô hình văn hóa phổ biến thế giớicủa Trompernaaars
Vì vậy, với mong muốn đóng góp một phần vào cái nhìn tổng quan, sosánh văn hóa Việt Nam với các nước trên thế giới trên cùng một mô hình
nghiên cứu, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài: “ Đo lường các đặc tính văn hóa kinh doanh Việt Nam sử dụng mô hình và phương pháp luận của Trompernaars”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài là đo lường các đặc tính văn hóa kinh doanh ở Việt Nam dựa trên
mô hình có sẵn và phương pháp luận của Trompernaars, dựa trên công trình “Chinh phục các đợt sóng văn hóa”- Trompernaars, 2005, NXB Tri Thức
Trang 33 Đưa ra khuyến nghị kinh doanh giữa Việt Nam với các nước khác.
4 Đưa ra khuyến nghị kinh doanh giữa các nước khác với Việt Nam
3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu kết hợp hai phương pháp: định tính và định lượng
Phương pháp định tính: phỏng vấn chuyên gia để đưa ra các
nhận định khách quan về văn hóa, đồng thời trong quá trìnhnghiên cứu, nhóm đã phỏng vấn 15 người đi làm để có cái nhìntổng quan và xác thực hơn về các tình huống được lựa chọn
Phương pháp định lượng: bảng hỏi với 6 tình huống trong hệ
thống các tình huống đưa ra trong cuốn “ Chinh phục các đợtsóng văn hóa” - Trompernaars, 2005, nhóm nghiên cứu tiến hànhđiều tra 538 đối tượng chủ yếu là những người đang đi làm vàđang theo học tại chức, văn bằng hai, cao học tại trường Đại họcKinh Tế Quốc Dân Sau đó, thông kê, xử lý số liệu thu thập đượctrên phần mềm SPSS
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm: dữ liệu sơ cấp và thứ cấp
Dữ liệu sơ cấp: nhóm thu thập dữ liệu dựa trên bảng hỏi với sáu
tình huống về sáu phương diện văn hóa được nghiên cứu Sáucâu hỏi này được nằm trong hệ thống các câu hỏi màTrompernaars đưa ra trong cuốn “ Chinh phục các đợt sóng vănhóa”, 2008, NXB Trị Thức
Dữ liệu thứ cấp: thu thập, tổng hợp, phân tích và đánh giá các
tài liệu nghiên cứu trước, thừa kế có chọn lọc những tài liệu này
Trang 43.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào đo lường các đặc tính văn hóa kinhdoanh chủ yếu trên địa bàn Hà Nội dựa trên mô hình và phương pháp luận củaTrompernaars, chứ không phải toàn bộ hệ thống các giá trị văn hóa Việt Nam.Mặc dù vậy, kết quả của đề tài có giá trị tham khảo cao đối với các doanhnghiệp trong nước và nước ngoài
4 Cấu trúc của báo cáo nghiên cứu
Báo cao nghiên cứu khoa học gồm ba chương chính:
Chương 1: trình bày cơ sở lý luận về văn hóa và các mô hình đo lường phương
diện văn hóa dân tộc
Chương 2: trình bày phần nghiên cứu thực địa bao gồm: quá trình nghiên cứu
và kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu
Chương 3: trình bày một số quan sát chung trong xã hội Việt Nam theo sáu
phương diện đã nghiên cứu và đồng thời đưa ra khuyến nghị trong kinh doanhgiữa Việt Nam và các nước trên thế giới
Trang 5CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH
VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA
DÂN TỘC
1.1Văn hoá và văn hoá kinh doanh
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hóa là một khái niệm mở và phức tạp với nhiều định nghĩa khácnhau Năm 1952, hai nhà nhân chủng học Strodtbeck và Kluckhohn đã liệt kêđược 164 khái niệm khác nhau về văn hóa Không có định nghĩa nào là đúnghay sai một cách tuyệt đối Đó là lý do cần đưa ra một số định nghĩa khác nhau
để xem xét theo các khía cạnh khác nhau
Theo PGS.TS Trần Ngọc Thêm, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giátrị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạtđộng thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội (Cơ sở văn hóa Việt Nam, 1997, trang 10)
Theo Federico Mager Zaragoza, tổng giám đốc UNESCO, văn hóa phảnánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống conngười đã và đang diễn ra qua hàng thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thốngcác giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa vào đó mỗi dân tộc khẳngđịnh bản sắc của mình để tồn tại và phát triển (Lễ phát động thập kỷ thế giớiphát triển văn hóa của UNESCO, Paris, 1992)
Theo Edgar Schein (1993), văn hóa là một khuôn mẫu các giả định cơbản được chia sẻ mà nhóm học được khi nó giải quyết các vấn đề để thích nghivới bên ngoài hay hòa nhập bên trong, mà đã vận hành tốt đủ để được coi là cógiá trị và do đó, được dạy cho các thành viên mới
Theo Hofstede (1994), nhà tâm lý học người Đan Mạch, thế giới đầy rẫy
sự đối đầu giữa người, nhóm người, các tổ chức và các quốc gia với những suynghĩ, cảm xúc và hành động khác nhau Văn hóa là sự hình thành nhân cáchmang tính tập thể phân biệt các thành viên của nhóm người này với nhóm
Trang 6người khác Theo nghĩa này, văn hóa bao gồm các hệ thống giá trị và các giá trị
là ở giữa các dãy nhà văn hóa (Hofstede, 2004, trang 22)
“Văn hóa là các hành vi được học hỏi gồm cách suy nghĩ, cảm nhận vàhành động” (Hofstede, 1996, trang 41)
Cũng theo Hofstede, văn hóa có thể được tưởng tượng như một củ hànhvới nhiều lớp khác nhau:
Lớp đầu tiên là những cái do con người tạo ra và các hành vi Chúng
là những biểu hiện vật chất như kiến trúc hay quy tắc ăn mặc
Lớp thứ hai bao gồm các biểu hiện của hành vi như lễ nghi chào hỏi,bắt tay, hôn… Nó có liên quan tới các giá trị là các quan niệm, tư tưởng đượcchia sẻ bởi các thành viên của một nền văn hóa về cái gì là tốt, và cái gì làkhông tốt; liên quan tới các chuẩn mực là các hướng dẫn không chính thống vềcái gì là hành vi xã hội chuẩn mực được xem xét trong một nhóm người cụ thể
Lớp thứ ba ám chỉ biểu hiện bằng lời rõ ràng như truyện cười, giaithoại hay thần thoại…
Ba lớp này có thể được so sánh và hoàn thiện bởi mô hình tảng băng trôi
Hình 1.1 Mô hình tảng băng trôi về văn hóa
Nguồn: Hofstede (1995)
Theo mô hình tảng băng trôi này, lớp bề mặt liên quan tới những cái docon người tạo ra và các hành vi không bị che giấu Các quy tắc ngầm hiểu là
Trang 7các biểu hiện hành vi được hiểu ngầm ít hay nhiều Và các quy tắc tiềm thứcthể hiện những thứ mà người ta có thể không nghĩ đến.
Trong số các định nghĩa trên, định nghĩa và cách phân chia lớp văn hóacủa Geert Hofstede là hữu ích hơn cả để tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp
1.1.2 Khái niệm văn hoá kinh doanh
Càng ngày con người càng nhận thấy rằng văn hóa tham gia vào mọiquá trình hoạt động của con người và sự tham gia đó ngày càng được thể hiện
rõ nét và tạo thành những lĩnh vực văn hóa đặc thù như văn hóa chính trị, vănhóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa giá đình… và văn hóa kinh doanh
Theo từ điển tiếng Việt, kinh doanh được hiểu là tổ chức việc sản xuấtsao cho sinh lời Với nghĩa phổ thông này từ “ kinh doanh” không những cónghĩa “buôn bán” mà còn bao hàm cả nghĩa tổ chức nhằm đạt mục đích đạt lợinhuận qua một loạt các hoạt động kinh doanh như hoạt động tiếp thị, quản trị,tài chính, kế toán, sản xuất Kinh doanh là hoạt động cơ bản của con người,xuất hiện cùng với hàng hóa và thị trường Mục đích chính của kinh doanh làđem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh nên bản chất của của kinh doanh làkiếm lời Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh là một nghề chính đáng xuấtphát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội tạo ra
Còn việc kinh doanh như thế nào, kinh doanh đem lại lợi ích gì và giá trịcho ai thì đó chính là vấn đề của văn hóa kinh doanh Theo nghĩa rộng văn hóakinh doanh là toàn bộ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do chủ thể kinhdoanh sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động kinh doanh, trong sựtương tác giữa chủ thể kinh doanh với môi trường kinh doanh Theo nghĩa hẹp
“văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị các chuẩn mực, các quan niệm
và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trìn kinh doanh, được thểhiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay mộtkhu vực” (Dương Thị Liễu, giáo trình Văn hóa kinh doanh, 2011, NXB ĐHKinh tế Quốc Dân)
Trang 8Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các giá trị văn hóa được chủ thể kinhdoanh sử dụng và tạo ra trong một hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinhdoanh của chủ thể đó Văn hóa kinh doanh không chỉ là văn hóa mà các chủ thểkinh doanh sử dụng trong kinh doanh của họ mà còn là giá trị sản phẩm vănhóa mà các chủ thể kinh doanh (là doanh nhân, doanh nghiệp) sáng tạo ra tronghoạt động kinh doanh của họ Theo đó, văn hóa kinh doanh ở đây được xemxét trên 2 phương diện:
Cách thức, mức độ mà doanh nhân, doanh nghiệp sử dụng trong quátrình kinh doanh của họ
Sản phẩm và những giá trị văn hóa mà các doanh nhân doanh nghiệptạo ra trong hoạt động kinh doanh của họ
Văn hóa kinh doanh là những giá trị văn hóa gắn liền với hoạt động kinhdoanh thể hiện trong hình thức mẫu mã và chất lượng sản phẩm, trong thôngtin quảng cáo của sản phẩm, trong cửa hàng bày bán sản phẩm trong cách chọn
và bố trí máy móc và dây chuyền công nghệ, trong cách tổ chức bộ máy nhân
sự và các quan hệ giao tiếp ứng xử của người bán đối với người mua, trong tâm
lý bản thị hiếu tiêu dùng, rộng ra là trong cả quá trình tổ chức sản xuất kinhdoanh…nhằm tạo ra những chát lượng hiệu quả kinh daonh nhất định Trongquan hệ giữa các doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh có thể bao gồm môitrường kinh doanh trong thị trường, những quy tắc ứng xử được các đối táccùng chia sẻ hoặc những truyền thống hay thói quen có tính đặc thù cho từngthị trường, từng nước hay từng nhóm đối tác Văn hóa kinh doanh không chỉtạo ra tiêu chí cho cách thức kinh doanh hàng ngày mà còn tạo ra những khuônmẫu chung về quan điểm và động cơ trong kinh doanh Văn hóa kinh doanh lànhững nét văn hóa rất được chú trọng trong các quốc gia công nghiệp hóanhanh và thành công
Bản chất của văn hóa kinh doanh là làm cho cái lợi gán bó chặt chẽ vớicái đúng , cái tốt và cái đẹp Văn hóa kinh doanh là một phương diện của vănhóa xã hội, kinh doanh có văn hóa đòi hỏi chủ thể không chỉ đạt được mục tiêu
Trang 9lợi nhuận cá nhân mà còn mang đến cái lợi cái thiện cái đẹp cho khách hàng,đối tác, xã hội, nó cần áp dụng trong hoạt động của doanh nghiệp doanh nhân
và cả trong hành vi ứng xử của khách hàng
Văn hóa kinh doanh được cấu thành bởi các yếu tố chính là triết lý kinhdoanh, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp và vănhóa ứng xử trong hoạt động kinh doanh Văn hóa kinh doanh là văn hóa củanghề kinh doanh, là văn hóa của cộng đồng kinh doanh, là văn hóa của giớidoanh nhân Vai trò của nó không chỉ trong công tác quản trị nội bộ mà còn cảtrong quan hệ của doanh nghiệp, doanh nghiệp với xã hội; doanh nghiệp cầntạo ra những sản phẩm dịch vụ có hàm lượng văn hóa đậm đà, vươn tới việcsáng tạo ra các giá trị nhân văn giàu bản sắc, qua đó quảng bá nâng tầm giá trịthương hiệu quốc gia dân tộc
1.2 Các nghiên cứu trước đây về các phương diện văn hoá kinh doanh trên
thế giới
Hình 1.2 : Các phương diện văn hóa
(nguồn: Scheinder và Barsoux 2003)
Trang 101.2.1 Mô hình văn hóa của Hall
Edward Twitchell Hall (16/5/1914 – 20/7/2009) là nhà nhân chủng họcngười Mỹ và là nhà nghiên cứu về các nền văn hóa khác nhau Dựa trên kinhnghiệm ở ban đối ngoại, Edward T.Hall đã xuất bản hai cuốn sách “The SilentLanguage” (1959) và “The Hidden Dimension” (1969) Trong hai cuốn sáchnày, ông định nghĩa hai khía cạnh văn hóa: văn hóa bối cảnh cao/thấp và địnhhướng thời gian polychronic/monochronic
Đầu tiên, ông định nghĩa văn hóa bối cảnh cao, văn hóa bối cảnh thấpchủ yếu liên quan tới cách truyền đạt thông tin Theo Hall, trong văn hóa bốicảnh cao, việc trao đổi thông tin thành công hay không phụ thuộc vào việc ápdụng khung hiểu biết được chia sẻ, ý nghĩa thường ngầm hiểu chứ ít theo nghĩađen, dựa nhiều vào giọng nói, ngôn ngữ cơ thể, diễn tả nét mặt, tiếp xúc mắt,
sự im lặng, và các ám hiệu không lời và bối cảnh đóng vai trò quyết định.Trong văn hóa bối cảnh thấp, truyền tải thông tin dựa trên ý nghĩa rõ ràng,thường được viết ra, từ ngữ được hiểu theo nghĩa đen, truyền đạt không lờithường bị bỏ qua
Khái niệm bối cảnh cao/thấp là một trong những khái niệm đơn giảnnhất sử dụng trong các cuộc gặp giữa các nền văn hóa khác nhau Khái niệmnày chủ yếu đề cập tới ngôn ngữ, cái mà nằm ở lớp bên ngoài trong văn hóa
“củ hành” theo cách chia của Hofstede, và là một trong những khái niệm cơbản nhất cho bất kỳ loại trao đổi văn hóa giao tiếp nào, hoặc khi cần phân tíchchúng
Khái niệm thứ hai của Hall là định hướng thời gian polychronic vàmonochronic Khái niệm này liên quan tới cách các nền văn hóa cấu trúc thờigian của họ Bảng sau giúp đưa ra cái nhìn tổng quan ngắn gọn về hai kháiniệm thời gian này:
Bảng 1.1 : Mô phỏng định hướng thời gian
Trang 11Văn hóa Monochronic Văn hóa Polychronic Mối quan hệ
Đặt đồng hạng
hành động
Kế hoạch đặt đồng hạng vớihành động, thời gian cuộc hẹn
là khắt khe
Mối quan hệ giữa các cánhân đồng hạng với các hànhđộng, thời gian cuộc hẹn linhhoạt
Thời gian nghỉ giải lao vàthời gian cá nhân phụ thuộcmối ràng buộc cá nhân
Cơ cấu thời gian Thời gian không linh hoạt,
thời gian là cụ thể, rõ ràng
Thời gian linh hoạt, thời gian
là vô hình, hay thay đổi
Sự tách biệt thời
gian cá nhân/
công việc
Thời gian làm việc tách biệt
rõ ràng với thời gian cá nhân
Thời gian làm việc khôngtách biệt rõ ràng với thờigian cá nhân
Các hoạt động được tích hợpvào tổ chức như một tổngthể; các công việc được đolường như là một phần củamục tiêu tổng thể của tổchức
(Nguồn: The Hidden Dimension, 1969)
Mặc dù các khái niệm thời gian monochronic/polychronic, khái niệmvăn hóa bối cảnh cao/thấp rất hữu ích và có thể dễ dàng thấy được nhưng việcthiếu dữ liệu thực nghiệm làm cho việc áp dụng các khái niệm này trong
Trang 12nghiên cứu gặp khó khăn, đặc biệt là khi nghiên cứu so sánh các nền văn hóatương đối gần nhau.
1.2.2 Mô hình các phương diện văn hóa của Hofstede
Công trình nghiên cứu nổi tiếng đầu tiên trên thế giới về mối quan hệgiữa văn hoá và kinh doanh quốc tế là của Geert Hofstede Hofstede là chuyêngia tâm lí học của hãng IBM, và một phần công việc của ông từ năm 1967 đếnnăm 1973 là thu thập dữ liệu, số liệu về thái độ cũng như giá trị của nhân viêntrên cơ sở điều tra từ 10000 cá nhân, gọi là điều tra Hermes (tên một vị thầntrong thần thoại Hy Lạp, bảo trợ thương mại) Dựa trên kết quả nghiên cứunày, Hofstede đã nêu ra bốn đặc điểm chính để phân biệt sự khác nhau giữa cácnền văn hoá dân tộc, đó là (1) sự phân cấp quyền lực, (2) tính cẩn trọng, (3)chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể và (4) nam tính/ nữ tính Chúng ta xemxét trên 4 khía cạnh:
- Sự phân cấp quyền lực: Theo Hofstede, tập trung vào việc xã hội có
cách giải quyết như thế nào trước một thực tế là con người có những vị trí khácnhau trong hệ thống phân cấp quyền lực của xã hội Nó được thể hiện dướidạng thước đo mức độ chấp nhận của những người có ít quyền lực trong giađình, trường học, làng xã, nơi làm việc…với sự phân chia không công bằng vềquyền lực Sự phân cấp quyền lực thể hiện trong mối quan hệ độc lập hay phụthuộc giữa cha mẹ - con cái, thầy - trong, thủ trưởng - nhân viên, ông chủ -người làm thuê… nó sẽ cho ta biết mức độ bình đẳng giữa những người có địa
vị khác nhau trong xã hội cũng như trong công việc Các nước Châu Á trong
đó có Việt Nam đều có truyền thống về sự phân cấp quyền lực cao Tại giađình, con cái phải nghe lời bố mẹ, ngay cả khi chúng không đồng ý Tại cơquan, cấp dưới phải phục tùng cấp trên Điều này cũng một phần do ảnh hưởngcủa đạo Khổng, một tôn giáo rất phổ biến ở Châu Á Trong khi đó sự phân cấpquyền lực ở các châu lục khác không ở mức cao như vậy Cũng theo Hofstede,những nền văn hóa có sự phân quyền lực cao đều dẫn đến sự bất bình đẳng về
Trang 13quyền lực và của cải, còn những nền văn hóa có sự phân quyền lực thấp lànhững xã hội cố gắng hạn chế sự bất bình đẳng đến mức có thể.
- Tính cẩn trọng: Phản ảnh mức độ mà thành viên của nền văn hóa
khác nhau chấp nhận các tình thế không rõ ràng hoặc bất ổn Các thành viêncủa các nền văn hóa mang tính cẩn trọng cao thường có một khoản tiền bảohiểm cho an toàn lao động, tiền hưu trí… Họ cũng cần có các quy định và luậtđiều chỉnh rõ ràng
- Tính cá nhân/ tính tập thể: Đặc điểm này liên quan đến mối quan hệ
giữa cá nhân với những người xung quanh Trong những xã hội mang nặngtính cá nhân, sự ràng buộc, liên kết giữa các cá nhân là hết sức lỏng lẻo vàthành công cũng như tự do của cá nhân được đánh giá rất cao Còn ở xã hội
mà người ta nhấn mạnh đến chủ nghĩa tập thể, mối quan hệ giữa các cá nhân lạirất chặt chẽ Trong xã hội đó con người được sinh ra trong tập thể, giống nhưmột gia đình lớn và mọi người đều phải vì lợi ích của tập thể
Nghiên cứu của Hofstede chỉ ra rằng, phần lớn các nước Châu Á lànhững nước có tính cộng đồng cao, trong khi chỉ số tính cá nhân cao nhất ởMỹ: 91/100 và ở Pháp 71/100 Các nước ở Châu Á có chỉ số từ 31(Philippines) đến 14 (Indonesia)
- Nam tính/ nữ tính: Đặc điểm này xem xét mối quan hệ giữa giới tính
và vai trò trong công việc Trong môi trường nam tính, vai trò giới tính rấtđược coi trọng và các “ giá trị nam tính” truyền thống như sự thành đạt, quyềnlực… quyết định các ý tưởng văn hóa Trong môi trường nữ tính, vai trò củagiới tính ít được coi trọng hơn và trong cùng một công việc, ít có sự phân biệtgiữa nam và nữ Sở dĩ phải tính đến yếu tố này vì Hofstede đã thu được nhữngcâu trả lời hoàn toàn khác nhau khi hỏi các nhân viên nam và nhân viên nữ củaIBM về vai trò của giới tính trong công việc, trừ những người từ những nước
có tính nữ tính cao như Thụy Điển, nơi chỉ số nam tính chỉ là (5/95) và Na Uy (8/95)
Trang 14Nghiên cứu còn cho thấy rằng, các nước Châu Á rất khác nhau trong chỉ
số nam tính, từ Nhật Bản (95/95) đến Philippines (64/95), Hồng Kong (57/95)
… và cuối cùng là Thái Lan (34/95)
Hofstede đã tiến hành nghiên cứu 5 phương diện văn hóa của ông tạiViệt Nam, bảng 1.2 số điểm trong năm phương diện văn hóa Việt Nam so vớimột số nước trên thế giới
Bảng 2.1 Điểm số Việt Nam với một số nước trên thế giới qua 5 phương diện văn hóa
của HofstedeQuốc gia Khoảng
cách quyền lực
Chủ nghĩa cá nhân
Nam tính Tránh rủi ro Hướng
(nguồn: Hofstede, http://www.geerthofstede.nl/)
1.2.3 Mô hình văn hóa của Trompernarss
Fons Trompenaars là chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực giao tiếp đa văn hóa người Hà Lan Cùng với các đồng nghiệp của ông và người đồng sáng lập Charles Hampden-Turner, Fons đứng đầu một công ty tư vấn, làm việc với các công ty hàng đầu cung cấp dịch vụ đào tạo và tư vấn trong các lĩnh vực phát triển bền vững và toàn cầu hoá, cũng như đào tạo và phát triển đa dạng, nâng cao nhận thức văn hóa, đổi mới và lãnh đạo
Trompernarss và cộng sự thực hiện nghiên cứu này từ quan điểm nềntảng của các khác biệt văn hóa Ông cho rằng mọi nền văn hóa đều tự phân biệt
nó với các nền văn hóa khác bằng cách chọn những phương án giải quyết riêngđối với các tình huống khó xử Ông cho rằng các khác biệt này chủ yếu dựatrên 3 nhóm vấn đề:
Trang 15 Những vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa con người với conngười.
Liên quan đến thời gian
Liên quan đến môi trường
Từ ba nhóm vấn đề nêu trên, ông đã phát triển ra 7 phương diện chính của vănhóa như sau:
1.2.3.1 Các quan hệ với con người
Chủ nghĩa phổ biến và chủ nghĩa đặc thù: Cách tiếp cận của chủ
nghĩa đặc thù rất mạnh mẽ “Có thể định nghĩa cái tốt và cái đúng; và có thểluôn luôn áp dụng chúng” Trong các nền văn hóa đặc thù, người ta tập trungnhiều hơn vào nghĩa vụ của các quan hệ và hoàn cảnh riêng Đặc điểm văn hóanày làm cho con người ít chú ý đến các quy tắc xã hội trừu tượng hơn
Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cộng đồng: Phương diện này trả lời
câu hỏi liệu người ta coi bản thân họ là một cá nhân độc lập hay là một phầncủa cộng đồng
Trung lập và cảm xúc: Trong các mối quan hệ chúng ta nên có mục
đích và không thiên vị hay chúng ta nên thể hiện cảm xúc của mình?
Cụ thể và phổ biến: Khi một người tham gia vào mối quan hệ kinh
doanh, khi đó sẽ tồn tại sự tiếp xúc thật sự và cá nhân thay cho mối quan hệ cụthể được quy định trong hợp đồng
Thành tích và quy gán: Thành tích có nghĩa là chúng ta được đánh
giá dựa trên những gì bạn mới đạt được và trên thành tích của bạn Quy gán cónghĩa là những đặc điểm như tuổi tác, dòng họ, giới tính, những mối quan hệ,học tập được dùng để đánh giá một con người Trong nền văn hóa thành tích,người ta có xu hướng hỏi “bạn đã học cái gì?” trong khi đó trong nền văn hóaquy gán, người ta sẽ hỏi “Bạn học ở trường nào?”
1.2.3.2 Thái độ với thời gian
Trang 16Các xã hội khác nhau nhìn nhận thời gian khác nhau Ở một số xã hội,những gì người khác đạt được trong quá khứ không quan trọng, quan trọng hơn
là họ đã phát triển kế hoạch gì cho tương lai Ở một số xã hội khác, người ta cóthể gây nhiều ấn tượng với những thành tích trong quá khứ hơn là những thànhcông hiện tại Những khác biệt văn hóa đó ảnh hưởng nhiều đến các hoạt độngcủa công ty
Ở một số nền văn hóa, thời gian trôi theo đường thẳng, một sự tiếp nốicủa các sự kiện riêng rẽ Các nền văn hóa khác lại coi thời gian như một vòngquay, các khả năng quá khứ và hiện tại đi cùng với những khả năng tương lai.Điều này tạo nên sự khác biệt đáng kể khi lập kế hoạch, đầu tư, quan điểm vềđào tạo tài năng hay mua tài năng từ bên ngoài
1.2.3.3 Thái độ với môi trường
Một số nền văn hóa coi nguồn gốc tội lỗi và đức hạnh nằm trong bảnthân con người, các động cơ và giá trị bắt nguồn từ bên trong Các nền văn hóakhác coi thế giới mạnh mẽ hơn các cá nhân, họ coi tự nhiên là đối thủ củamình
1.2.4 Các phương diện văn hóa Việt Nam
Chân dung văn hóa kinh doanh Việt Nam theo nghiên cứu của Hofstedethông qua các phương diện: sự phân cấp quyền lực, tính cẩn trọng, tính đối lậpgiữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cộng đồng, tính đối lập giữa nam tính và
nữ tính Thông qua bốn yếu tố trên tuy có thể chưa thật đầy đủ song cũng tạo ramột nền tảng chung để nhận dạng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
- Sự phân cấp quyền lực:
Việt Nam là nước có mức độ phân cấp quyền lực khá cao Sự phân cấpnày thể hiện rất rõ qua cơ cấu tổ chức các doanh nghiệp Việt Nam và mức độphụ thuộc trong mối quan hệ giữa các cấp trong doanh nghiệp Sự phân cấpnày thể hiện rất rõ không chỉ trong công việc mà trong cả các mối quan hệ giaotiếp Trong xã hội Việt Nam, tôn ti trật tự phụ thuộc vào hai yếu tố: chức vụ và
Trang 17tuổi tác Giám đốc là người có quyền quyết định tối cao về công việc, nhưngngay cả giám đốc cũng phải tỏ ra tôn trọng người cao tuổi, nhất là khi ngườinày làm việc lâu năm trong công ty Trong giao tiếp, người Việt Nam có xuhướng hòa nhập các mối quan hệ Cách xưng hô trong công ty phụ thuộc vàotuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp cụ thể.
Người Việt Nam rất coi trọng tình nghĩa và ít tách bạch giữa cuộc sốngriêng tư với công việc Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là doanh nghiệpnhà nước, quan tâm đến nhân viên không chỉ về mặt lương bổng và sự thăngtiến trong công việc, mà còn cả về những như cầu khác của họ trong cuộc sốnghàng ngày như nhà cửa, đất đai, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chăm sóc concái, giải trí
Qua một số biểu hiện về chức năng của tổ chức và cách xưng hô trongdoanh nghiệp, có thể thấy các tổ chức doanh nghiệp ở Việt Nam giống như mộtgia đình, người lãnh đạo như những ông bố bà mẹ, phải quán xuyến hết tất cảcác công việc trong gia đình Dẫn đến nhân viên trở lên phụ thuộc, ít quyền tựquyết, phải tuân theo mọi sự chỉ dẫn từ cấp trên
- Tính cẩn trọng cao:
Tính ưa ổn định : Nhiều doanh nghiệp ưu thích làm việc theo lối cũ,thường có xu hướng chọn những bạn hàng đã quen biết tuy giá cả không hấpdẫn bằng bạn hàng mới, nhưng gặp ít rủi ro
Tránh xung đột trực diện trong quan hệ: Xuất phát từ ý thức “ giữ thểdiện” và xu hướng tránh mọi xung đột trực diện trong quan hệ, thay vì nói
“không” , các doanh nhân Việt Nam thường nói “chúng tôi sẽ xem xét vấn đềnày”, “chúng tôi sẽ liên lạc với ông (bà) khi có quyết định cụ thể” Không chỉvậy, trong các mối quan hệ họ thường im lặng còn hơn nói “ không”
Sự coi trọng các mối quan hệ: Các mối quan hệ có vai trò rất quantrọng trong kinh doanh tại Việt Nam Các nhà kinh doanh rất chú trọng việc
mở rộng các mối quan hệ : “Trong kinh doanh, quen biết rộng nhiều khi quan
Trang 18trọng hơn năng lực” Doanh nhân Việt Nam coi việc đầu tư cho các mối quan
hệ như hình thức làm ăn và là một cách để “ Tự bảo hiểm”
Tin vào vận may trong kinh doanh: Đa số doanh nhân Việt Nam tintưởng vào “ số” và “ may rủi” trong kinh doanh Họ thường có chung tâm lýthờ cúng, thắp hướng cúng bái, vào những dịp lễ tết, đầu năm và cuối năm đểmong muốn một khởi đầu hay một kết quả kinh doanh mong muốn
- Quan niệm về chủ nghĩa cá nhân và cộng đồng:
“ Nếp sống dân chủ” mang tính hình thức: Mọi doanh nghiệp đềunhắc tới nếp sống dân chủ như một yếu tố khách quan, nhưng lãnh đạo và nhânviên chưa hẳn đã tuân thủ theo nó Một hiện không hiếm là nhiều giám đốcluôn khuyến khích nhân viên “ nói thẳng nói thật”, nhưng khi nhân viên dámgóp ý hay phê bình thẳng thắn thì lại tìm cách gây khó dễ
Quan điểm về lợi ích tập thể: Môi trường doanh nghiệp Việt Nam ítkhuyến khích sự thể hiện vai trò cá nhân, các thành tích cá nhân thường đượcgắn liền với vai trò tập thể
Sự coi trọng “con dấu” : Tại Việt Nam con dấu của cơ quan quantrọng hơn chữ kí cá nhân Nếu một văn bản chỉ có chữ kí cá nhân mà không cóđóng dấu thì người ta sẽ nghi ngờ về tính đáng tin cậy của văn bản đó
- Tính đối lập giữa nam tính và nữ tính: Theo thống kê xã hội học, cả trình độ
học vấn lẫn trình độ chuyên môn nữ giới ở Việt Nam đều kém hơn nam giới,điều đó lý giải tại sao vị thế lao động nữ giới thấp hơn nam giới Những giá trịmang tính nam tính như sự thành đạt, quyền lực, tính quyết đoán dễ cao hơn làcác giá trị nữ tính như lòng bao dung, thông cảm… trong các doanh nghiệpViệt Nam
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1
Văn hóa là một khái niệm mở và phức tạp Không có định nghĩa nào đúng hay sai một cách tuyệt đối nhưng tất cả các khái niệm chúng đều có đặc điểm chung là miêu tả văn hóa là tất cả những gì hướng tới giá trị chân, thiện,
mĩ và đề cao giá trị của con người Trên thế giới đã có rất nhiều các học giả
Trang 19nghiên cứu về văn hóa Edgar Schein cho rằng văn hóa là một khuôn mẫu các giả định cơ bản được chia sẻ mà nhóm học được khi nó giải quyết các vấn đề
để thích nghi bên ngoài hay hòa nhập bên trong Hofstede lại cho rằng văn hóa
là sự hình thành nhân cách mang tính tập thể phân biệt các thành viên của nhóm người này với nhóm người khác Trompernaars lại chia văn hóa thành 3 nhóm vấn đề : những vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa con người và con người, liên quan đến thời gian và liên quan đến môi trường Những nghiên cứu
về văn hóa của các học giả trên thế giới đều hướng đến mục tiêu đo lường văn hóa và giúp các nước vượt qua rào cản văn hóa để xích lại gần nhau, tăng cường mối quan hệ kinh tế và giao lưu giữa các nước
Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các giá trị vật chất, tinh thần do chủ thể kinhdoanh sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động kinh doanh, trong sựtương tác giữ chủ thể kinh doanh với môi trường kinh doanh Văn hóa kinhdoanh không chỉ là văn hóa mà các chủ thể kinh doanh sử dụng trong kinhdoanh của họ mà còn là giá trị sản phẩm văn hóa mà các chủ thể kinh doanh (làdoanh nhân, doanh nghiệp) sáng tạo ra trong hoạt động kinh doanh của họ.Vănhóa kinh doanh là một phần của văn hóa nói chung và chịu tác động nhiều từvăn hóa Hiểu được văn hóa quốc gia sẽ giúp các doanh nghiệp xây dựng đượcvăn hóa kinh doanh, tạo hình ảnh, thương hiệu cho doanh nghiệp mình
Trang 20CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU THỰC ĐỊA2.1 Quá trình nghiên cứu
Trong phần này, nhóm nghiên cứu miêu tả toàn bộ quá trình thực hiệnnghiên cứu từ việc lựa chọn mô hình nghiên cứu, đến thiết kế bảng hỏi, lựachọn mẫu nghiên cứu, thử bảng hỏi, phát bảng hỏi, thu thập bảng hỏi, nhập liệu
và xử lý dữ liệu
2.1.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu
Như trình bày ngay trong tên của bài, nhóm nghiên cứu lựa chọn môhình của Trompernass, với các lý do sau:
Thứ nhất, đây là một trong những nghiên cứu lớn được thực hiện gầnđây nhất về các phương diện văn hóa dân tộc, chính vì thế được thừa hưởng về
cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của các nghiên cứu đi trước
Thứ hai, các tình huống được sử dụng nhằm đo lường các phương diệnvăn hóa dân tộc là một cách tiếp cận khả thi đối với nhóm sinh viên nghiên cứukhoa học
Thứ ba, kết quả nghiên cứu của bảy phương diện được nghiên cứu trên
35 nước khác nhau với 30000 người tham gia, bao gồm những nước có khoảngcách địa lý xa so với Việt Nam, cũng như các nước khá gần gũi với Việt Nam
về các yếu tố văn hóa như Trung Quốc Từ những kết quả sẵn có như vậy, giúpcho nhóm nghiên cứu có thể so sánh và định vị Việt Nam với các nước khác
2.1.2 Thiết kế bảng hỏi
Nghiên cứu của Trompernaars trên 7 phương diện với hệ thống câu hỏi
đa dạng liên quan đến văn hóa kinh doanh Nhóm nghiên cứu đã chọn lựa ra 6câu hỏi thuộc 6 phương diện: (1) chủ nghĩa phổ biến – đặc thù, (2) chủ nghĩa
cá nhân – cộng đồng, (3) định hướng trung lập – cảm xúc, (4) định hướng cụthể - phổ biến, (5) định hướng thành tích – gán, (6) định hướng bên trong – bên
Trang 21ngoài để thiết kế cho bảng hỏi của mình Đây là những câu hỏi đảm bảo tínhngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu và gần gũi với tình huống thực tế ở Việt Nam.
2.1.3 Lựa chọn mẫu
Với đề tài nghiên cứu là các đặc tính trong văn hóa kinh doanh ViệtNam, nên đối tượng điều tra được hướng đến là những người làm trong lĩnhvực kinh doanh Để đảm bảo tính thuận tiện và khả thi cho quá trình nghiêncứu, đối tượng điều tra được lựa chọn là sinh viên chính quy, cao học, tại chứcđang theo học tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân
2.1.4 Thử bảng hỏi, phát, thu bảng hỏi
Quá trình thử bảng hỏi được thực hiện từ ngày 1 tháng 12 năm 2011.Bảng hỏi được thiết kế gồm 7 hỏi nghiên cứu 7 phương diện văn hóa kinhdoanh Quá trình tiếp thu ý kiến chỉnh sửa bảng hỏi được thực hiện từ ngày 5tháng 12 năm 2011 đến ngày 10 tháng 12 năm 2011.Sau quá trình tiếp thu ýkiến số lượng câu hỏi được rút xuống còn 6 câu do câu hỏi về phương diện vănhóa kiểm soát thời gian được phản ánh là quá trừu tượng và không được ngườitham gia điều tra trả lời
Thực hiện điều tra chính thức từ ngày 20 tháng 12 năm 2011 đến ngày 5tháng 2 năm 2012 Số bảng hỏi phát ra 800, số bảng hỏi thu về 538 Tỷ lệ hồiđáp là 67,25%
2.1.5 Xử lý dữ liệu
Nhóm nghiên cứu thực hiện nhập dữ liệu và thống kê dữ liệu trên phầnmềm SPSS
2.2 Kết quả nghiên cứu
2.2.1 Các thông tin chung về mẫu nghiên cứu
Hình 2.1 Thống kê mẫu nghiên cứu
Trang 22(Nguồn: nhóm nghiên cứu thống kê)
Theo kết quả thống kê hình 2.1, tổng thể mẫu nghiên cứu với tỷ lệ nam
nữ khá cân đối, đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu (không thiên vềnghiên cứu văn hóa theo bất cứ giới tính nào) Độ tuổi của đối tượng nghiêncứu chủ yếu là giới trẻ (70% từ 25 đến 35 tuổi) với tình trạng công việc hầu hết
là người đi làm
Mẫu nghiên cứu trên phù hợp với nội dung đề tài nghiên cứu các đặc tính
về văn hóa kinh doanh
2.2.2 Chủ nghĩa phổ biến và chủ nghĩa đặc thù
Hành vi phổ biến có nghĩa là hành vi dựa trên luật lệ Con người chútrọng vào luật lệ hơn là các mối quan hệ, đó là cách mà các loại hợp đồng pháp
lý kinh doanh được tạo ra dựa trên luật lệ, trong nền văn hóa mà hành vi chủyếu mang tính chất phổ biến thì người được coi là đáng tin tưởng là người tôntrọng những lời nói và giao ước Với họ thỏa thuận chỉ mang tính giao ướckhông ràng buộc, họ chỉ tin tưởng và chấp nhận sự thật khi điều đó được đồng
ý Những người theo chủ nghĩa phổ biến thường gặp trong văn hóa đạo tinlành Ví dụ như ở Đức hay Thụy Sỹ là những nước rất tôn trọng luật lệ thì nếunhư bạn qua đường trong khi có đèn đỏ thì dù ngay cả khi không có xe trênđường bạn vẫn sẽ nhận được những cái nhìn khó chịu Nó hướng tới hàm ýbình đẳng theo nghĩa bất kỳ ai không làm theo luật cũng bị xử lý như nhau
Trang 23Hành vi đặc thù là chủ nghĩa hành vi mà trong đó con người chú trọngvào các mối quan hệ hơn luật lệ Họ sẵn sàng dựa trên tình cảm cá nhân để thayđổi những giao kèo hợp pháp đã ký kết Đối với họ người đáng tin cậy là ngườinhững người tôn trọng lẫn nhau, tình trước lý sau Những mối quan hệ trong xãhội được coi trọng và luôn luôn thay đổi, tiến triển Nếu người thân của bạngặp vấn đề gì thì bạn luôn bảo vệ người ấy dù luật lệ có quy định gì đi chăngnữa.
Bảng hỏi đưa tình huống đầu tiên như sau:
Tình huống 1:
Bạn là một nhà báo, hàng tuần bạn phải viết bài phê bình về những nhà hàng mới Một người bạn của bạn đã dùng hết tiền tiết kiệm để mở một nhà hàng Bạn đến đó ăn và thực sự nghĩ rằng nhà hàng này không ngon Bạn của bạn dựa vào đâu để mong rằng bạn sẽ nhẹ tay với nhà hàng của cô ta trong bài phê bình sắp tới của bạn?.
a Bạn của tôi hoàn toàn có quyền mong đợi tôi nhẹ tay với nhà hàng của
cô ấy trong bài phê bình của tôi.
b Bạn của tôi có ít quyền mong đợi tôi làm điều này.
c Bạn của tôi không có quyền mong đợi tôi làm điều này.
Liệu bạn có nhẹ tay với nhà hàng của cô ấy trong bài phê bình của bạn với trách nhiệm đối với độc giả và trách nhiệm đối với người bạn của bạn?
Trang 24Phần trăm những người trả lời không viết bài phê bình sai hay không cho người bạn có quyền mong đợi được giúp đỡ (câu trả lời c hoặc b và e)
(Nguồn: Trompernaars 2009 và nhóm nghiên cứu)
Theo Hình 2.2, với tình huống này ta thấy, Việt Nam với 34% số ngườitrả lời không giúp đỡ, thuộc nhóm 3 nước thấp nhất, xã hội Việt Nam có xuhướng theo chủ nghĩa đặc thù, giống như các nước Secbi (24%), HànQuốc(45%), Trung Quốc (49%)
Trong khối các nước theo chủ nghĩa đặc thù, con người với đặc điểm coitrọng các mối quan hệ xã hội, thường dành nhiều thời gian cho việc thăm hỏi,
Trang 25tìm hiểu và tăng sự gần gũi với nhau trong kinh doanh, họ thường và sẵn sàngthăm dò hiểu biết về đối tác trong hoạt động đời thường trước rồi mới tới kýkết hợp đồng kinh doanh Nhưng đối với các nước theo chủ nghĩa phổ biến nhưCanada, Thụy Sỹ, Phần Lan thì họ rất coi trọng hợp đồng Hợp đồng là việc ghilại những nguyên tắc thống nhất và lập ra các luật lệ về những điều mà các bêncam kết thực hiện Bản hợp đồng cũng hàm ý sự ưng thuận, nhất trí và cungcấp sự trợ giúp nếu các bên không thực hiện đúng cam kết Bản hợp đồng đượccoi là dứt khoát với những người theo chủ nghĩa phổ biến nhưng lại là một bảnchỉ dẫn với người theo chủ nghĩa đặc thù
Biểu hiện ở Việt Nam là hình thức đi quà cáp các dịp lễ tết để lấy lòngcũng như củng cố mối quan hệ giữa cấp trên và nhân viên Các hợp đồngthường được ký kết trên cơ sở ngoại giao từ trước Trong đám cưới của ngườinước ngoài đặc biệt là phương tây họ chủ yếu chỉ mời những người thân thiếtnhất của họ trong cuộc sống như người thân và bạn thân, còn đám cưới ở ViệtNam lại chủ yếu là đồng nghiệp và bạn bè là nhiều nhất do họ muốn củng cốmối quan hệ bất cứ khi nào có thể đặc biệt là qua các dịp cưới hỏi, lễ tết
Trong công việc của người Việt Nam, nếu có hai người đồng nghiệptrong một công ty làm cùng trong một mảng công việc, nếu họ có thiện cảmvới nhau và quý mến nhau, trong công việc họ sẽ trợ giúp nhau và ủng hộ nhautrong các cuộc họp của công ty Nhưng nếu hai người có một điều hiềm khíchnào đó khiến cho cả hai không ưa nhau hay ganh ghét nhau thì trong công việc
họ sẽ đối đầu với nhau và chống đối nhau trong các cuộc họp hay thường cạnhtranh nhau ngáng đường nhau trong công việc Tuy nhiên, doanh nhân nướcngoài theo định hướng cụ thể sử dụng hợp đồng và hợp đồng mẫu như mộtcách tự bảo vệ bằng pháp lý Việc tạo dựng quan hệ thân thiết hay các thủ phápxoa dịu tinh thần với họ hầu như không cần thiết vì đã ký thì cứ y theo hợpđồng mà làm
Trang 26Một số quan sát chung về chủ nghĩa phổ biến và đặc thù trong kinh doanh quốc tế của người Việt Nam.
Một số ví dụ đặc trưng cho chủ nghĩa đặc thù ở Việt Nam và một nướcđặc trưng cho chủ nghĩa phổ biến như nước Pháp Nhóm nghiên cứu phỏng vấnT.S Trương Thị Nam Thắng có cho biết tại CFVG trung tâm đào tạo Pháp –Việt về quản lý cách một năm có một hội nghị định hướng thường niên Baogồm các đại diện của Bộ Giáo Dục Việt Nam, đại sứ Pháp tại Việt Nam, đạidiện của các trường đại học Kinh Tế Quốc Dân, đại học Kinh Tế Thành Phố
Hồ Chí Minh, các giám đốc pháp tại Việt Nam Hội nghị một năm tổ chức tại
Hà Nội, năm sau sẽ được tổ chức tại Paris, khi các đại diện của pháp tới HàNội tham dự hội nghị thường niên, đại diện bên Việt Nam đón tiếp rất nồngnhiệt Ví dụ như xe đưa đón đại diện, đưa đi ăn, thăm quan thành phố….Nhưng khi đại diện Việt Nam sang Paris tham dự hội nghị thì ngược lại bênphía Pháp không quá chú trọng vào vấn đề lễ nghi hình thức như đưa đón, thămquan của đại diện Việt Nam, khác với cách đón tiếp khách của Người ViệtNam Khiến cho người Việt Nam cảm thấy hụt hẫng và cảm thấy mình khôngđược quan tâm khi văn hóa Việt Nam là “có đi có lại” Còn ngược lại đối vớingười Pháp họ cảm thấy được quan tâm quá, người pháp sẽ cảm thấy “điều đó
có đi quá giới hạn về mối quan hệ công việc hay không” Đó cơ bản là sự khácnhau giữa hai định hướng đối lập phổ biến và đặc thù
Hợp đồng: đối với xã hội theo chủ nghĩa phổ biến, hợp đồng được coi là
một bản pháp lý phục vụ cho việc ghi lại những nguyên tắc thống nhất và lập
ra các luật lệ về những điều các bên tương ứng cam đoan thực hiện Việc cóluật sư của hai bên trong quá trình ký kết hợp đồng hàm ý rằng bất kỳ sự viphạm nào cũng phải trả giá đắt và rằng các cam kết lúc đầu phải được giữnguyên, ngay cả khi việc thực hiện chúng gặp phiền phức Với Việt Nam, theochủ nghĩa đặc thù thì bản hợp đồng giống như một bản chỉ dẫn, các điều kiệntuy đã được xác nhận trong hợp đồng nhưng lại có thể thay đổi thông qua quá
Trang 27trình thỏa thuẫn giữa đôi bên Đó là dấu hiệu của một sự ưu tiên cho quá trìnhthích nghi lẫn nhau Việc các mối quan hệ khách hàng và nhân viên tốt có thể
sẽ liên quan đến việc làm nhiều hơn những gì bản hợp đồng yêu cầu
Với những đối tác định hướng cụ thể, cái gọi là “bản ghi nhớ” khôngmấy có giá trị, bởi theo quan điểm của họ, tất cả các cuộc thương lượng phảiđược thể hiện bằng hợp đồng trong khi đa phần doanh nhân Việt chọn cách kýmột bản ghi nhớ trước khi có được hợp đồng, bởi họ cần nhiều thời gian để xâydựng mối quan hệ
- Tính toán thời gian cho một hành trình kinh doanh:Theo chủ nghĩa
phổ biến như các nước Mỹ, Anh, Hà Lan thì việc ký kết hợp đồng hoặc thiếtlập các mối quan hệ trong thời gian nhanh nhất có thể Còn với người Châu Átheo chủ nghĩa đặc thù trong đó có Việt Nam thì việc vội vã sẽ khiến anh tanghi ngờ Thời gian cần thiết để tiến tới thiết lập một mối quan hệ gần gũi ítnhất phải mất gấp đôi số thời gian cần thiết để ký kết hợp đồng Quan trọnghơn là phải tạo ra một cơ sở quan hệ tốt và đáng tin cậy tương đương với chấtlượng sản phẩm và với chất lượng của mối quan hệ cá nhân Họ coi thời gianmất đi để gia tăng mối quan hệ gần gũi với đối tác sẽ là thời gian tiết kiệmđược để tránh khỏi những rắc rối trong tương lai
- Vai trò của văn phòng đầu não: Tại các quốc gia phương tây theo chủ
nghĩa phổ biến, văn phòng đầu não là văn phòng có xu hướng nắm giữ nhữngchìa khóa Marketing toàn cầu, sản xuất toàn cầu và quản lý nguồn nhân sự toàncầu Còn đối với các quốc gia theo chủ nghĩa đặc thù trong đó có Việt Nam thì
sự chỉ đạo từ văn phòng đầu não không phù hợp với các văn phòng, chi nhánhđịa phương hoạt động Các nhóm khác nhau hoạt động theo tiêu chuẩn địaphương của họ Mỗi nhóm và chi nhánh tìm kiếm lợi lộc thông qua các mốiquan hệ với người lãnh đạo
- Đánh giá công việc và khen thưởng: Logic của hệ thống theo chủ
nghĩa phổ biến là tất cả công việc phải được mô tả, tất cả ứng viên phải có trình
Trang 28độ chuyên môn ứng với những mô tả này và năng lực của nhân viên được đánhgiá qua những thành tích mà họ đạt được và mức độ hoàn thành nhiệm vụ màbản hợp đồng của họ quy định Một nhân viên chỉ có thể bị sa thải khi có bằngchứng về sai sót cụ thể Như vậy, trong xã hội theo chủ nghĩa phổ biến côngnhân sẽ được bảo về nhiều hơn và công bằng hơn đối với các nước theo chủnghĩa đặc thù Đối với Việt Nam thì quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới có liênquan tới việc nhân viên đó có được thăng tiến nhanh chóng trong công việc hay
là bị cấp trên trù dập Khi công ty có một vị trí trống để tuyển nhân viên mớithì vị trí đó có thể thuộc về những người thân trong gia đình của một vị giámđốc hay trưởng phòng nào đó Việc nhân viên bị sa thải cũng ảnh hưởng bởinhững mối quan hệ của người đó khi làm việc
2.2.3 Chủ nghĩa cộng đồng và chủ nghĩa cá nhân
Mỗi nước có mức độ đề cao vai trò cá nhân và vai trò tập thể khác nhau.Chủ nghĩa cá nhân được miêu tả là “định hướng cơ bản đến cái tôi”, các quyếtđịnh được đưa ra dựa trên quan điểm của cá nhân đại diện Con người độc lậpđạt tới thành công của riêng họ và họ tự chịu hay thừa nhận trách nhiệm cánhân của mình trong mọi việc họ làm Vì vậy họ thường rất tự lập, mọi hoạtđộng giải trí hay các kỳ nghỉ thường chỉ là của cặp đôi hoặc của cá nhân chứkhông đi theo tập thể Chủ nghĩa cộng đồng là chủ nghĩa được miêu tả “ địnhhướng cơ bản tới mục tiêu và mục đích chung” Đại từ nhân xưng được dùngnhiều trong xã hội này thường là “chúng ta”, vì vậy các quyết định đưa rathường dựa trên quan điểm của tổ chức Con người đạt tới mục tiêu theo nhóm
và chịu trách nhiệm chung Hoạt động thường niên hay các kỳ nghỉ thường donhóm tổ chức hoặc với các thành viên trong gia đình đi cùng nhau
Đi sâu vào phân tích khía cạnh văn hóa này tại Việt Nam ta đi vào tìnhhuống cụ thể sau
Tình huống 2:
Việc lắp đặt máy móc gặp phải sai sót, lỗi là do một thành viên của tổ lơ đễnh,
Trang 29thiếu tập trung Trong trường hợp này, theo bạn trách nhiệm có thể quy về cho ai.
a) Nhân viên gây sai sót phải chịu trách nhiệm.
b) Vì anh ta ở trong tổ, nên cả tổ phải chịu trách nhiệm.
Thông qua khảo sát ta có được kết quả và bảng so sánh sự lựa chọn tìnhhuống trên của Việt Nam với một số nước trên thế giới
Hình 2.3 Lỗi của ai Phần trăm những người ghi nhận kết quả với tư cách cá nhân
(Nguồn: Trompernaars 2009 và nhóm nghiên cứu)
Theo hình 2.3, ta thấy Việt Nam với phần trăm số người ghi nhận tưcách cá nhân là 42% , Việt Nam thuộc các nước theo xu hướng chủ nghĩa cộngđồng, giống như một số nước Hàn Quốc (42%), Malaysia (43%), Thái Lan
Trang 30(45%), Philippine (37%), Trung Quốc (37%) và phần lớn các nước thuộc khuvực Châu Á Bên cạnh đó các nước theo chủ nghĩa cá nhân như Nga (69%),
Mỹ (55%), Hungary (66%) thì con người họ theo phong cách tự do, họ làmtheo sự sáng tạo của bản thân họ, thành tựu của họ do công lao bản thân họ tạo
ra và họ luôn chịu trách nhiệm cho những gì họ làm, tính tự giác và tinh thầnlàm việc cao, nhưng như thế lại không kết nối được với các thành viên trong tổchức tốt
Một số quan sát chung thể hiện trong các mối quan hệ kinh doanh công, công việc tại Việt Nam.
Người Việt Nam trên thực tế thường làm việc theo cá nhân, có sự liênkết rất yếu giữa các thành viên trong tổ chức để hoàn thành công việc chung.Tuy vậy với nhiệm vụ không hoàn thành tốt thì trách nhiệm thường được quycho cả một tập thể
Một ví dụ về phương diện cá nhân và cộng đồng, nhóm nghiên cứuphỏng vấn T.S Trương Thị Nam Thắng (công tác tại CFVG trường đại họcKinh Tế Quốc Dân đồng thời là giảng Viên trường Đại Học Kinh Tế QuốcDân) có cho biết năm 2007 khi tiến sĩ đi tham gia một dự án đánh giá hiệu quả
và tăng cường năng lực nganh tư pháp Việt Nam với sự tài trợ của chính phủPháp Một đối tác người Pháp cùng tham gia dự án có hỏi rằng “Việt nam có sựphân cấp quyền lực cao?” Bởi vì người Pháp thấy rằng khi giao dịch đàm phánhay họp hợp tác với người Việt Nam Người Việt Nam thường không đi giaodịch đàm phán một mình mà thường có một đại diện hay giám đốc, thư ký vàtrợ lý Nhưng ngoài lãnh đạo như giám đốc và đại diện thì thư ký cũng như trợ
lý thường không tham gia vào quá trình đám phán giao dịch Thể hiện rằngquyền lực cũng như sự quyết đoán chỉ nằm trong tay những lãnh đạo cấp caochứ không phân đều theo nhóm làm việc Lệnh được truyền từ trên xuống và ítkhi có phản ứng trái chiều với các quyết định được lãnh đạo đưa ra
Trang 31Đại diện: Những người theo chủ nghĩa cộng đồng như Việt Nam thích
đại diện theo nhóm nhiều hơn, các nhóm là quy mô thu nhỏ những lợi ích củatoàn bộ các chi nhánh Rất hiếm người Việt Nam đi đến một cuộc đàm phánmột mình, thường nhóm đại diện là một phái đoàn Những người có mặt ở buổihọp chỉ là đoàn đại biểu, đại diện cho ý kiến của những người đã gửi họ đi
Địa vị: Đối với người Việt Nam theo chủ nghĩa cộng đồng thì những
người riêng lẻ bị coi là những người không có địa vị, những người đơn độc.Trong công việc hay khi đi làm việc với đối tác nếu bạn không có thư ký haykhông có người mang túi xách cho bạn thì bạn không thể là người quan trọngđược Địa vị của một cá nhân được đánh giá và nhìn nhận qua quy mô, nănglực của đội ngũ dưới quyền trợ giúp đắc lực cho cá nhân đó
Phiên dịch: Đối với người theo chủ nghĩa cá nhân như các nước Mỹ,
Anglosaxon thì người phiên dịch được coi là trung lập, giống như một hộp đentrong đó từ ngữ đi vào theo một thứ tiếng và đi ra theo một thứ tiếng khác Cònđối với văn hóa Việt Nam theo chủ nghĩa cộng đồng, người phiên dịch sẽ phục
vụ cho nhóm quốc gia, có rằng buộc lâu dài vì vậy họ cố gắng điều hòa cáchiểu lầm xuất hiện trong văn hóa cũng như trong ngôn ngữ Người phiên dịchkhông chỉ đơn thuần có nhiệm vụ thông ngôn mà còn có vai trò truyền tải cảmxúc suy nghĩ của cả hai bên tham gia đàm phán
Ra quyết định: Việc ra quyết định trong nhóm theo chủ nghĩa cộng
đồng như Việt Nam thường lâu hơn và cần có những nỗ lực liên tục để khiếnmọi người đạt được sự đồng thuận theo kết quả đã được định hướng có sẵn,không như các nước phương tây theo chủ nghĩa cá nhân họ không chấp nhậnviệc bỏ phiếu chống lại người không chịu quy phục Xã hội ưa suy xét cẩn thậncho đến khi đạt được đồng thuận, sẽ mất nhiều thời gian hơn cho đến khi đạtđược kết quả cuối cùng nhưng nó sẽ chắc chắn hơn so với quyết định nhanhchóng của xã hội theo chủ nghĩa cá nhân
2.2.4 Trung lập và cảm xúc
Trang 32Các cấp độ cảm xúc trong các nền văn hóa khác nhau giữa các nền vănhóa được phân biệt rất rõ ràng Italia, Ấn Độ là quốc gia có mức độ biểu hiệncảm xúc rất mạnh Khi giao tiếp họ sử dụng những hành động đi kèm nhữnglời nói Hành động mạnh mẽ của họ sẽ khiến cho các nước thuộc trường pháitrung lập dễ hiểu nhầm và gây nên những xích mích không đáng có Tương tựnhư vậy, Mĩ là quốc gia có xu hướng sử dụng công cụ phi ngôn ngữ và những
từ ngữ giảm nhẹ trong giao tiếp Trái ngược lại các quốc gia như Nhật, Hà Lan
và Thụy Điển lại là những quốc gia theo trường phái trung lập Những cảm xúckhó được biểu hiện trên khuôn mặt Những xúc cảm như giận dữ hay vui thíchthường được che giấu dưới khuôn mặt điềm tĩnh
Âm lượng và biên độ của lời nói sử dụng trong các nền văn hóa khácnhau là hoàn toàn khác nhau Những nước thuộc trường phái cảm xúc có biên
độ âm lượng rộng và thường xuyên thay đổi nhưng ngược lại trường phái trunglập âm lượng và ngôn ngữ giao tiếp mang tính dung hòa, tránh những xung đột
to tiếng
Việc nhìn nhận cảm xúc ở xã hội trung lập là rất khó khăn và cần phải có
sự quan sát kĩ lưỡng Mức độ biểu hiện lí trí và cảm xúc đều có vai trò quantrọng đối với mối quan hệ con người trong xã hội Các thành viên trong nềnvăn hóa trung lập thường không biểu hiện cảm xúc mà họ sẽ kìm nén hay kiểmsoát chúng Ngược lại trong nền văn hóa cảm xúc con người thể hiện cảm xúccủa họ một cách thẳng thắn như cười to, nhăn mặt, cau có, cố gắng tìm kiếm sựthỏa mãn cho cảm giác tức thời của mình Hiểu được mức độ biểu hiện cảmxúc theo văn hóa quốc gia giúp ta hiểu được con người và mức độ tình cảm tánthành hay bất đồng của người mà ta làm việc cùng để từ đó đưa ra những quyếtđịnh theo những cư xử phù hợp với hoàn cảnh của cảm xúc cá nhân
Đi sâu vào phân tích phương diện văn hóa này tại Việt Nam ta đi vàotình huống cụ thể sau
Trang 33Tình huống3:
Trong một cuộc họp bạn cảm thấy bị xúc phạm nặng nề vì một đồng nghiệp nói rằng đề xuất của bạn là điên rồ Phản ứng của bạn là gì?
a Tôi sẽ không tỏ ra là người đó làm tôi tổn thương/xúc phạm tôi, vì
đó là dấu hiệu của sự yếu đuối và sẽ làm tôi dễ bị tổn thương hơn trong tương lai.
b Tôi sẽ không tỏ ra là tôi bị tổn thương vi điều đó sẽ làm hỏng mối quan hệ của chúng tôi Sau này tôi sẽ nói với đồng nghiệp rằng tôi bị tổn thương như thế nào và để anh ta rút kinh nghiệm chuyện đó Tôi sẽ thể hiện cảm xúc của mình khi người đồng nghiệp có nhiều cơ hội tăng cường mối quan hệ kinh doanh của chúng tôi.
c Tôi sẽ thể hiện rõ ràng để người đồng nghiệp biết rằng tôi đã bị xúc phạm Tôi tin rằng sự rõ ràng của tôi sẽ giúp tôi có thể kiểm sót đươc những nỗi buồn lớn hơn sau nay.
d Tôi sẽ thể hiện rõ ràng để người đồng nghiệp biết rằng tôi đã bị xúc phạm Nếu người đồng nghiệp không cư xử đúng mực thì họ sẽ phải nhận lấy hậu quả.
Theo kết quả khảo sát, ta có được bảng so sánh sự lựa chọn của ngườiViệt nam với một số nước trên thế giới như sau:
Hình 2.4 Phần trăm không biểu hiện cảm xúc
Trang 34(Nguồn: Trompernaars 2009 và nhóm nghiên cứu)
Theo hình 2.4, với 66% người được trả lời cho rằng không biểu hiện cảmxúc khi làm việc, Việt Nam thuộc vào nhóm các nước trung lập như Nhật Bản(74%), Ba Lan (70%), Hồng Kong (64%), Áo (59%), Trung Quốc (55) Ngượclại, sự lựa chọn của các nước phương Tây như Ai Cập (18%), Tây Ban Nha(19%), Pháp (29%) thuộc nhóm các nước theo phương diện cảm xúc Sự biểuhiện cảm xúc ở các nước phương Tây là rất rõ ràng Sự bất đồng ý kiến sẽ đượcbày tỏ mạnh mẽ, đối với người phương Đông khi mới làm việc dễ hiểu nhầm vìnhư tại Italia, Ấn Độ sự mâu thuẫn dù là rất nhỏ cũng sẽ được biểu hiện trênnét mặt hay hành động rất mạnh mẽ khiến người khác nghĩ rằng đây là một vấn
đề nghiêm trọng Nhưng tại Việt Nam hay như một số nước châu Á khác,những cảm xúc thường được kìm nén ở một mức độ nào đó, do vậy trong kinh
Trang 35doanh, cấp trên khó đoán được những suy nghĩ hay mức độ phản ứng của nhânviên Những bất đồng không được biểu hiện và dồn nén dễ dẫn đến nhữngnguy cơ tiềm ẩn sự xung đột trong tương lai.
Người Việt Nam đa số không biểu hiện cảm xúc một cách rõ ràng vàmãnh liệt đặc biệt trong các cuộc họp giữa quản lí và nhân viên Ý kiến của cấptrên luôn được tôn trọng và thường ít khi bắt gặp sự phản kháng của cấp dướimặc dù ý kiến ấy không được hoàn toàn tán thành do đó tại những cuộc họpkhó lấy được những ý kiến trái chiều mang tính phản biện
Sự bất đồng về quan điểm công việc, tính cách giữa các đồng nghiệpkhông được thể hiện rõ ràng trong môi trường làm việc, cảm xúc thường bị kìmhãm do vậy những xung đột trong công ty mang tính cá nhân thường khôngxảy ra nhưng những mâu thuẫn nội bộ luôn luôn tiềm ẩn
Sự quá tải hay khó khăn trong công việc chưa vượt khỏi tầm kiểm soátthường được các nhân viên cố gắng nỗ lực để giải quyết mà không cần sự canthiệp của cấp trên Đây là một điều tốt bởi nhân viên sẽ nỗ lực hết mình nhưngđiều này cũng có mặt trái bởi cấp trên sẽ không cập nhật được tiến độ kịp thờicủa công việc, nếu xảy ra sự cố thì sự can thiệp của cấp trên sẽ ít có tác dụng
Một ví dụ thực tế của T.S Trương Thị Nam Thắng có chia sẻ với nhómnghiên cứu trong quá trình phỏng vấn về phương diện trung lập – cảm xúc.Tháng 10 năm 2011, tiến sĩ có công tác tại Canada, có thể nói Canada là mộtnước Bắc Mỹ có nền văn hóa khá tương đồng với nước Mỹ Cô có cảm nhận
về người Việt Nam khá lạnh so với người Canada về mặt cảm xúc Năm 2001,khi du học bên thái, cô có giao lưu với người Ấn Độ Người Ấn nói khá to, âmgiọng của họ cũng cao hơn người Việt giọng nói có điểm nhấn mạnh một phần
do tính cạnh tranh mạnh trong môi trường của họ cũng như sự đa văn hóa củaquốc gia Ấn Độ, sự phân biệt đối xử tầng lớp cao Do đó biểu hiện cảm xúc rõràng hơn người Việt Nam Trong công việc người Việt Nam cũng dễ dàngthăng tiến và thành công hơn do rào cản về văn hóa cũng như định kiến về tầnglớp trong xã hội dễ chịu hơn người Ấn Độ
Trang 362.2.5 Định hướng cụ thể và định hướng phổ biến
Cảm xúc của chúng ta qua cách ứng xử với người khác thể hiện mức độliên kết của chúng ta với họ trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống và các cấp
độ đơn lẻ của nhân cách, hay một cách phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đờisống với nhiều cấp độ nhân cách cùng một lúc
Trong các nền văn hóa theo định hướng phổ biến, đơn cử trong xã hộitheo chủ nghĩa đặc thù, một người giữ cương vị là giám đốc, quyền lực của ông
ta rất to lớn Mọi quyết định của giám đốc được coi là đúng đắn hơn các ý kiếncủa các nhân viên cấp dưới Sự ảnh hưởng về địa vị của giám đốc được thểhiện ở mọi không gian đời sống Sự tôn trọng của nhân viên cấp dưới đối vớigiám đốc ngay cả khi ở công ty, ở cửa hàng, câu lạc bộ hoặc trên đường là nhưnhau Danh tiếng của giám đốc ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực trong đời, sống củaông ta Ngược lại đối với xã hội theo chủ nghĩa đặc thù như Mĩ, Canada, …một giám đốc chỉ có quyền lực trong khi làm việc tại trụ sở, ngoài trụ sở ông tađược đối xử bình đẳng như bao công dân bình thường khác mà không nhậnđược sự ưu ái khác biệt nào từ địa vị mà ông ta có được
Đây là khía cạnh đo lường sự cụ thể và sự phổ biến
Hinh 2.5 Cụ thể và phổ biến.
( Nguồn: Chinh phục các đợt sóng văn hóa, 2009)
Đối với những quốc gia theo văn hóa cụ thể, có không gian mở nhiềuhơn không gian riêng tư, với nhiều lĩnh vực cụ thể tách biệt của đời sống Bạn
Cụ thể
Phổ biến
Trang 37có thể bước vào không gian mở với các lĩnh vực cụ thể của đời sống hằng ngàycủa họ mà không phải gần gũi hay làm bạn bè suốt đời Những người thuộc nềnvăn hóa định hướng cụ thể biết đến nhau chỉ với những mục đích hạn chế.
Đối với những quốc gia theo văn hóa phổ biến, đường vào các khônggian sống được một đường dày bảo vệ Để bước vào không gian sống nào đóbạn cần được họ cho phép Không gian mở là tương đối nhỏ Không gian riêng
tư lớn và phổ biến, điều đó có nghĩa là một khi bạn được chấp nhận, bạn sẽđược phép bước vào tất cả các không gian riêng tư của họ, hơn nữa chỗ đứng
và danh tiếng của họ còn vắt qua không gian này
Đàm phán và sự tách biệt văn hóa cụ thể- phổ biến.
Kinh doanh với một nền văn hóa thiên về phổ biến khiến ta cảm thấy rấtmất thời gian Tại các nền văn hóa phổ biến, mọi thứ được kết nối với nhau.Đối tác kinh doanh của bạn sẽ muốn biết quan điểm của bạn về : chính sách,chính trị, nghệ thuật, văn hóa và âm nhạc… từ đó tạo mối quan hệ bạn bè Chỉsau khi mối quan hệ “ không gian riêng tư” đã được thiết lập thì họ mới sẵnsàng nói chuyện kinh doanh
Trong đàm phán, cụ thể và phổ biến là vấn đề cần được cân nhắc và ưutiên Bạn có thể bắt đầu với những đề xuất cụ thể và trung lập, sau đó tiếp tục
kế hoạch với những người có hứng thú hay bạn có thể bắt đầu với những ngườibạn tin tưởng vì bạn đã mời họ vào các không gian đời sống và sau đó chuyểnsang vấn đề kinh doanh Cả hai cách đều dễ hiểu đối với những ai sống trongnền văn hóa đó những lại đối lập với nhau
Nói cách khác cụ thể - phổ biến nói về chiến thuật tiếp cận con người ởcác nền văn hóa khác nhau
Xu hướng của các nền văn hóa cụ thể là nhìn vào các mục tiêu, nhữngthứ cụ thể trước khi xem xét mối quan hệ giữa chúng Vì vậy khi có đối táckinh doanh thuộc nền văn hóa cụ thể bạn nên “ đi thẳng vào vấn đề”, đối với
Trang 38những người trung lập, các khía cạnh “ mục tiêu” trong bản hợp đồng kinhdoanh và nếu người khác vẫn còn đang hứng thú thì bạn phải “đi lòng vòngxung quanh”, biết về họ để ký hợp đồng dễ dàng hơn.
Hình 2.6 : Xu hướng tiếp cận vấn đề của nền văn hóa cụ thể - phổ biến
Từ cái cụ thể đến cái chung Từ cái chung đến cái cụ thể
(Nguồn: Chinh phục các đượt sóng văn hóa, 2009)
Trả lương theo hiệu quả công việc được áp dụng hầu hết đối với cácnước văn hóa cụ thể nhưng không được áp dụng nhiều trong nền văn hóa phổbiến vì nó chia rẽ các mối quan hệ một cách tùy tiện Nó nói rằng “ bạn chỉchịu trách nhiệm với những gì bạn bán vào tháng này” trong khi thật ra có thểnhững nhân viên bán hàng khác đã giúp đỡ bạn, cấp trên đã truyền cảm hứngcho bạn hay hướng dẫn bạn những cách hiệu quả hơn Tuyên bố hầu hết haytất cả phần thưởng là của bạn đã phủ nhận tầm quan trọng của các mối quan hệ,bao gồm những cảm xúc yêu mến và trân trọng đối với cấp trên và đồngnghiệp, những người bạn có mối quan hệ phổ biến và các không gian đời sốngriêng tư được chia sẻ
Các quốc gia khác nhau có sự khác biệt sâu sắc về sự cụ thể và phổ biến.Điều này được minh họa bởi tình huống cụ thể sau:
Tình huống 4:
Một giám đốc yêu cầu cấp dưới giúp ông ta sơn lại nhà Cấp dưới không thích điều đó nói chuyện với đồng nghiệp Bạn lựa chọn lập luận nào để áp dụng?
Trang 39a Đồng nghiệp lập luận: “ Bạn không phải sơn nhà nếu bạn không thích Ông ta là giám đốc ở nới làm việc Còn ở bên ngoài, ông ấy không có thẩm quyền”
b Người cấp dưới lập luận: “ Cho dù tôi không thích làm, tôi vẫn làm Ông
ta là chủ của tôi, tôi không thể lờ chuyện đó đi được”.
Theo kết quả khảo sát, ta có được bảng so sánh sự lựa chọn của ngườiViệt nam với một số nước trên thế giới như hình 2.5:
Hình 2.7 Phần trăm những người trả lời chọn không sơn nhà
(Nguồn: Trompernaars 2009 và nhóm nghiên cứu)Trong các xã hội theo trường phái cụ thể, công việc và cuộc sống riêng
tư tách biệt rõ ràng với nhau, các giám đốc có xu hướng không yêu cầu nhân
Trang 40viên giúp đỡ Theo hình 2.7, tỷ lệ người trả lời không sơn nhà, khoảng 80%hay cao hơn tại Anh, Mỹ, Thụy Sĩ và hầu hết các nước Bắc Âu Tại các xã hộiChâu Á theo trường phái phổ biến như Trung Quốc, Nepal và các xã hội ChâuPhi như Nigeria và Buốc Kina Faso đa số chọn có sơn nhà Việt Nam với 59%nằm gần nhất với Singapore (58%), Indonexia (58), Hàn quốc ( 65%), kết quảkhá trùng khớp với các nước trong khu vực.
Nhưng với 59% lựa chọn phương án không sơn nhà, sự chênh lệch giữahai định hướng trên tại Việt Nam là chưa rõ ràng Để rõ hơn chúng tôi cũngđưa ra tình huống như trên nhưng để người phỏng vấn lựa chọn giải pháp sẽđược lựa chọn trong xã hội Việt Nam:
Tình huống 5:
Theo bạn, giải pháp nào thường được lựa chọn trong xã hội Việt Nam?
a Đồng nghiệp lập luận: “ Bạn không phải sơn nhà nếu bạn không thích Ông ta là giám đốc ở nới làm việc Còn ở bên ngoài, ông ấy không có thẩm quyền”
b Người cấp dưới lập luận: “ Cho dù tôi không thích làm, tôi vẫn làm Ông ta là chủ của tôi, tôi không thể lờ chuyện đó đi được”.
Với tình huống 5 thì đã có sự khác biệt rõ ràng giữa định hướng cụ thể
và phổ biến ở Việt Nam Khác so với 59% người được phỏng vấn trả lời khôngsơn nhà thì ở tình huống 5 chỉ có 18% người được phỏng vấn là sẽ không sơnnhà
Ngạc nhiên với sự chênh lệch khá lớn trên, chúng tôi đã phỏng vấn một
số người tham gia trả lời tình huống 5 Họ trả lời rằng, Việt Nam với sự hộinhập nền kinh tế thế giới, một hệ tư tưởng mới cũng như văn hóa phương Tâyđược tiếp nhận cùng với sự hưởng ứng nhiệt tình của giới trẻ, tuy nhiên với sựtồn tại lâu đời của nền văn hóa cũ đã đi thành lối mòn ăn sâu vào tư tưởng và