Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài : đề tài nghiên cứu nguyên nhân, thực trạng của hiện tượng đôla hóa trong nền kinh tế Việt Nam, và xem xét phân
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình mở cửa hội nhập sâu rộng vớinền kinh tế khu vực và toàn cầu, nhất là sau khi nước ta trở thành thành viên thứ
150 của WTO thì sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới cũng như tình hình biếnđộng kinh tế các nước phát triển hàng đầu tới nước ta càng rõ rệt , sâu sắc và tớinhiều lĩnh vực kinh tế Điều này mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức đốivới các vấn đề trong nước, đặc biệt là các vấn đề về chính sách điều hành kinh tế vĩ
mô của nhà nước để ổn định nền kinh tế như chính sách tài khóa, chính sách tiềntệ Một trong những thách thức lớn mà nước ta đang phải đối mặt là hiện tượngđôla hóa nền kinh tế, đây là một hiện tượng không mới và đang có diễn biến hếtsức phức tạp trong thời gian gần đây, ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế đấtnước nói chung, thị trường tiền tệ nói riêng và còn ảnh hướng tới người dân cũngnhư các doanh nghiệp Sự bất ổn định của đồng USD trong thời gian gần đây cànglàm cho hiện tượng đôla hóa trở nên khó kiểm soát và phán đoán Nó đòi hỏi nhànước cũng như ngân hàng trung ương (NHTW) phải có những biện pháp can thiệpkịp thời để giảm thiểu những rủi ro cho tình trạng này.Chình vì vậy chúng em chọn
đề tài: “Giải pháp hạn chế tình trạng Đôla hóa trong nền kinh tế hiện nay”
Đây là một đề tài khá khó, hơn nữa thời gian làm bài và trình độ của nhómthực hiện còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi có những thiếu sót nhất định.Quađây, em xin được cảm ơn ThS Nguyễn Quang Huy đã tận tình hướng dẫn để chúng
em hoàn thành đề tài này,nếu có thời gian và điều kiện chúng em sẽ mở rộng vàhoàn thiện đề tài này hơn nữa
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:
Hệ thống hoá toàn bộ các vấn đề cơ bản về đôla hoá, trong đó đề tài tập trung
Trang 2giá thực trạng đôla hoá đang diễn ra, qua đó nhận thức được những tích cực và hạnchế của đôla hoá nhằm đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp với điều kiện kinh
tế Việt Nam
3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Xem xét nguyên nhân, biểu hiện và mức độ đô la hóa tại Việt Nam cũng như thực trạng đô la hóa có tác động như thế nào tới muôn mặt đời sống kinh tế-xã hội Việt Nam Bên cạnh đó nghiên cứu các chính sách, biện pháp mà Nhà nước đã thựchiện cùng những bài học kinh nghiệm của nước bạn để đề xuất giải pháp thực hiện nhằm chống đô la hóa phù hợp với điều kiện của nước nhà trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài : đề tài nghiên cứu nguyên nhân, thực trạng
của hiện tượng đôla hóa trong nền kinh tế Việt Nam, và xem xét phân tích tác độngcủa đôla hóa lên nền kinh tế qua các khía cạnh như tác động tới nền kinh tế vĩ mônói chung, tới thị trường vốn, thị trường tiền tệ; những tác động của hiện tượng nàytới lãi suất và tỷ giá hối đoái, các mặt tác động lên chính sách tiền tệ, dự trữ ngoạihối ,mức cung tiền và tâm lý của người dân trong tiêu dùng và tiết kiệm Từ nhữngtìm hiểu phân tích nguyên nhân, hiện tượng và tác động kể trên, đề ra giải phápkhắc phục hiện tượng tồn tại song song hai đồng tiền VNĐ và USD trên thị trường,dựa trên cơ sở những giải pháp đã được áp dụng trước đó
Phạm vi nghiên cứu : đề tài đặt trong bối cảnh nền kinh tế đang có hiện
tượng đôla hóa không hoàn toàn và hiện tượng này đã diễn ra nhiều năm Hơn nữanền kinh tế lại đang bước vào thời kì hội nhập mở cửa Nền kinh tế thế giới cónhiều biến động nhất là vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007
Và đặc biệt nghiên cứu sâu về tình hình đôla hóa trong bảy năm gần đây.Đề tàiđược nghiên cứu dựa trên thực tế về tình trạng đôla hoá ở Việt Nam từ năm 2005-2011
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp phân tích, tổng hợp : Từng nguyên nhân gây ra hiện tượng
đôla hóa đều được nêu rõ và phân tích chỉ ra những yếu tố sâu xa, trọng yếu tạo nênhiện tượng Và sự tác động, ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế cũng được làm rõtheo nhiều khía cạnh cụ thể, phận tích sự tác động tới từng lĩnh vực của nền kinh tế.Qua đó ,vận dụng phương pháp đánh giá tổng hợp kết hợp với hệ thống hóa để cóthể nhận định đầy đủ về tình trạng đôla hóa hiện nay trong nền kinh tế, nêu ra cácđiểm tích cực và tiêu cực trong sự ảnh hưởng đó tới kinh tế cả nước và các hoạtđộng mang tính quốc tế và đề ra phương pháp giải quyết cho hiện tại và tương lai
Phương pháp so sánh đối chiếu : Nêu lên hiện trạng đôla hóa của một số
nước trong khu vực và một số nước tiêu biểu trên thế giới, thêm vào đó là nêu lênbài học kinh nghiệm hay giải pháp đẩy lùi đôla hóa ở một số nước Từ đó đưa ra sự
so sánh, đối chiếu giữa nước ta và các nước bạn,để học hỏi kinh nghiệm, đề ra đượcgiải pháp thích hợp Thêm vào đó là đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn nhằm tìm ra
và giải quyết những khó khăn đang gặp phải trong công cuộc đẩy lùi đôla hóa
Phương pháp thống kê thu thập số liệu và xử lý phân tích số liệu : nhằm làm
rõ vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu
Chương 1 : Cơ sở lý luận vầ đôla hóa
Chương 2 : Thực trạng đôla hóa trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Chương 3 : Giải pháp hạn chế đôla hóa nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔLA HÓA 1.1 Khái niệm và phân loại về đôla hóa
1.1.1 Khái niệm về đôla hóa
Đôla hoá (dollarization) được hiểu một cách thông thường là trong một nềnkinh tế ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng bản tệ trong toàn
bộ hoặc một số chức năng tiền tệ (lưu thông, thanh toán, cất trữ), nền kinh tế đó bịcoi là đôla hóa toàn bộ hoặc một phần Sở dĩ đây là tên gọi chung của hiện tượngngoại tệ hóa, nhưng do đồng đôla Mỹ từ trước tới nay luôn chiếm vị thế quan trọngnhất trong nền kinh tế các quốc gia nên người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệhóa là “đôla hóa”
Theo tiêu chí của IMF đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đôlahoá cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trong tổng khốitiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn,tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ
Theo cách đánh giá của IMF vào năm 1998:
- Trường hợp đôla hóa cao có 19 nước, bao gồm:Argentina, Azerbaijian,Belarus, Bolivia, Cambodia, Costa Rica, Croatia, Georgia, Guinea - Bissau, Laos,Latvia, Mozambique, Nicaragua, Peru, Sao Tome, Principe, Tajikistan, Turkey vàUruguay
- Trường hợp đôla hóa cao vừa phải với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 khoảng16,4% có 35 nước, bao gồm:Albania, Armenia, Bulgaria, Cộng hoà Czech,Dominica, Honduras, Hungary, Jamaica, Jordan, Lithuania, Macedonia, Malawi,Mexico, Moldova, Mongolia, Pakistan, Philippines, Poland, Romania, Russia,Sierra Leone, Cộng hoà Slovak, Trinidad, Tobago, Uganda, Ukraine, Uzbekistan,Việt Nam, Yemen và Zambia
Trang 5Còn theo những con số thống kê mới nhất, mức độ đôla hóa ở Việt Nam hiện nay làtrên 20%.
1.1.2 Phân loại đôla hóa
Có 2 cách để phân loại đôla hóa
1.1.2.1 Căn cứ vào việc thay thế chức năng của nội tệ: Đôla hóa được chia
1.1.2.2 Căn cứ vào phạm vi: Đôla hóa cũng được chia làm 3 loại:
Đôla hóa chính thức (official dollarization)
- Đôla hóa chính thức (hay đôla hóa hoàn toàn) xảy ra khi Chính phủ ban hànhquyết định đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành và đồngnội tệ sẽ biến mất hoặc vẫn duy trì đồng nội tệ nhưng đồng nội tệ chỉ đóng vai tròphụ Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồnggiữa các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ VD: đồng tiền chính thức của Đông Timor là USD, của Greenland là Krone ĐanMạch,…
Trang 6- Đôla hóa chính thức không nhất thiết chỉ lưu hành một đồng ngoại tệ Tuynhiên, các nước đôla hóa chính thức thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ làm đồngtiền hợp pháp
VD: Zimbabwe ở khu vực phía nam gần Nam Phi thì họ yết giá bằng Rand NamPhi, ngoài ra còn có USD và một số ngoại tệ ổn định khác nhưng đồng tiền hợppháp là USD
- Tại một nền kinh tế đôla hóa hoàn toàn thì NHTW chỉ tồn tại trên danh nghĩa,trên thực tế nó không phát huy tác dụng Toàn bộ chính sách tiền tệ sẽ phụ thuộcvào Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (FED)
Đôla hóa bán chính thức (semiofficial dollarization)
- Đôla hóa bán chính thức là tình trạng mà trong một quốc gia có đồng tiền bản tệ
và đồng tiền ngoại tệ lưu hành song song trong đó đồng ngoại tệ cũng được sửdụng chính thức
- Ở những nước này, đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp, thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ yếu trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày Các nước này vẫn duy trì một NHTW để thực hiện chính sách tiền tệ của họ
VD: Campuchia sử dụng cả Riel Campuchia (KHR) và USD, USD chiếm 90% lượng tiền trong lưu thông; Lào sử dụng cả đồng kíp và USD, bath Thái trong đó
có trên 50% USD được lưu thông sử dụng
Đôla hóa không chính thức (unofficial dollarization)
- Đôla hóa không chính thức là tình trạng mà đồng nội tệ được công nhận mộtcách chính thức, đóng vai trò chủ yếu trong việc trả lương, đóng thuế và chi trảhàng ngày Trong khi đó, đồng ngoại tệ được sử dụng rộng rãi và có thể làmphương tiện cất trữ và chi trả một số loại hàng hóa mặc dù không được chính thứcthừa nhận
- Đôla hóa không chính thức bao gồm:
Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài
Trang 7Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài.
Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước
Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trữ
- Tình trạng đôla hóa không chính thức rất khó đánh giá ở các nước do khôngthể thống kê hết số người bản địa nắm giữ các hình thức ngoại tệ
- Phần lớn các thị trường đang phát triển đều có đôla hóa không chính thức, ởmột số nước quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn ở các nước khác
Theo đánh giá của IMF, Việt Nam là một nước đôla hóa không chính thức
1.2 Nguyên nhân dẫn đến đôla hóa
Trước hết, đôla hóa là hiện tượng xảy ra phổ biến ở nhiều nước trên thế giới,nhất là đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển và có đồng nội tệ yếunhư Việt Nam Và trong nền kinh tế đang phát triển ấy, rủi ro có thể xảy đến vớigiá trị đồng tiền là lạm phát làm đồng tiền mất giá, hay nội tệ mất giá so với ngoại
tệ, rủ ro do các chính sách của chỉnh phủ với thị trường tiền tệ , rủi ro của nền kinh
tế không ổn định Đôla hóa thường xảy ra với những nước có tỷ lệ lạm phát cao,đồng nội tệ yếu, tạo ra sự mất niềm tin của người dân vào đồng bản tệ, lúc đó có xuhướng tất yếu là người dân tìm kiếm một đồng ngoại tệ mạnh hơn, ổn định hơn, có
uy tín hơn hay tìm các công cụ dự trữ giá trị khác Ban đầu đồng ngoại tệ mạnh ấychỉ thực hiện chức năng cất giữ giá trị, sau đó dần tạo ra sự ảnh hưởng rộng hơntrên thị trường, cạnh tranh với đồng nội tệ để thực hiện 2 chức năng còn lại là chứcnăng thanh toán và là thước đo giá trị trong mọi hoạt động của kinh tế trong nước
Tiếp đó phải kể đến cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại ngày nay, trên thế giớiđồng tiền của một số quốc gia có nền kinh tế vững mạnh, được sử dụng rộng rãitrong các hoạt động giao lưu quốc tế, đóng vai trò là “tiền tệ thế giới” phải kể đếnđồng USD, với sự ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế thế giới chiếm tỷ trọng trong
Trang 8kim ngạch giao dịch thương mại quốc tế lớn nhất chiếm khoảng 70% Còn lại là sựảnh hưởng của những đồng tiền mạnh khác như bảng Anh, euro, yên Nhật
Cuối cùng phải kể đến cơ chế thị trường của nền kinh tế thương mại mở cửangày nay, sự giao lưu kinh thế và hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng, hoạt độngđầu tư và xuất nhập khẩu ngày càng phát triển làm nhu cầu sử dụng tiền tệ thế giớicần thiết và tất yếu Trong quá trình hội nhập ấy, sự ảnh hưởng của nền kinh tế lớnđến nền kinh tế thế giới hay nền kinh tế của các nước đang phát triển rất rõ rệt Vìvậy, đồng tiền mạnh sẽ có ảnh hưởng tới nền kinh tế hay đồng tiền khác Một quốcgia có nền kinh tế đang phát triển hay kém phát triển, trình độ dân trí thấp, tâm lýngười dân không ý thức được tầm quan trọng của đồng nội tệ Hay như một đấtnước có điều kiện kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ, hệ thồng ngân hàng, cơ chếquản lý ngoại hối và khả năng chuyển đổi ngoại tệ của đồng nội tệ thấp thì khảnăng và mức độ đôla hóa càng cao
1.3 Đo lường mức độ đôla hóa
Theo IMF, tiêu chí để đo lường mức độ đôla hóa của một quốc gia là cao hay
thấp chính là tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ / tổng khối tiền M2 (FCD/M2).
Một nền kinh tế được coi là có:
- Tình trạng đôla hóa cao khi FCD/M2 từ 30% trở lên;
- Đôla hóa trung bình khi FCD/M2 từ 15% đến dưới 30%;
- Đôla hóa thấp khi FCD/M2 dưới 15%.
Chúng ta sử dụng phân tích nhân quả theo phương pháp Granger nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa biến tỷ lệ đôla hoá (FCD/M2) với các biến lạm phát và
tỷ giá hối đoái USD/VNĐ
Trang 9Theo Granger (1969) phương pháp phân tích các mối quan hệ nhân quả thực hiện như sau:
Ví dụ, nếu muốn kiểm tra quan hệ nhân quả giữa X và Y, chúng ta kiểm tra cách biểu diễn Y theo X và X theo Y Cách này phổ biến trong thực tế để xem xét
cả hai chiều tác động (X là nguyên nhân của Y, Y nguyên nhân của X) Trong khi quan hệ nhân quả theo Granger chúng ta đặt giả thuyết kiểm định X không là
nguyên nhân của Y, và nếu có thể bác bỏ giả thuyết này, nó ngụ ý rằng X là nguyênnhân củaY
Kết quả phân tích cho thấy:
- Ở mức ý nghĩa 5% chúng ta bác bỏ giả thuyết H0 là FCD/M2 không là nguyên nhân của tỷ giá hối đoái nghĩa là FCD/M2 là nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
- Ở mức ý nghĩa 10% chúng ta bác bỏ giả thuyết H0 là FCD/M2 không là nguyên nhân của lạm phát nghĩa là FCD/M2 là nguyên nhân ảnh hưởng đến lạm phát
- Ở mức ý nghĩa 10% chúng ta chấp nhận giả thuyết H0 là FCD/M2 không là
nguyên nhân của tỷ giá hối đoái và lạm phát
Tóm lại tương quan giữa FCD/M2 và tỷ giá hối đoái USD/VNĐ và CPI là tương quan một chiều, FCD/M2 là nguyên nhân của thay đổi tỷ giá hối đoái
USD/VNĐ
và CPI
Kết quả phân tích nhân quả theo phương pháp Granger:
Trang 101.4 Tác động của đôla hóa
1.4.1 Tác động tích cực
Thứ nhất: đối với các quốc gia có nền kinh tế đôla hóa hoàn toàn, ngoại tệ
mạnh được sử dụng thay thế toàn bộ nội tệ trong giao dịch cũng như trong cất trữ,
do đó đôla hóa chính thức góp phần làm giảm chi phí giao dịch như chênh lệchgiữa tỉ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khác được xóa
bỏ, các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các ngân hàng cóthể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh Ngoài ra, đôla hóachính thức còn loại bỏ hoàn toàn rủi ro tiền tệ xảy ra trong giao dịch giữa các quốcgia cùng sử dụng USD, từ đó thúc đẩy quan hệ thương mại giữa các nước Nhữngnền kinh tế đôla hóa chính thức thường ổn định hơn và có tỷ lệ lạm phát thấp hơn,chính sự ổn định này của nền kinh tế đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tưvốn vào trong nước, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Thứ hai: đôla hóa chính thức góp phần làm tăng kỷ luật ngân sách nhà nước.
Với những quốc gia có chính sách tiền tệ độc lập khi ngân sách nhà nước bị thâmhụt, chính phủ có thể yêu cầu NHTW phát hành tiền để bù đắp thâm hụt Ngược lạivới những quốc gia bị đôla hóa hoàn toàn, chính phủ không thể yêu cầu NHTWphát hành tiền để khắc phục tình trạng thâm hụt chính phủ nước này phải tiết kiệmchỉ tiêu đồng thời gia tăng nguồn thu ngân sách
Trang 11 Thứ ba: đôla hóa không chính thức góp phần làm giảm lạm phát Đôla hóa làm
tăng cung ngoại tệ dẫn đến sự giảm giá ngoại tệ, tạo một cái van giảm áp lực đốivới nền kinh tế vĩ mô trong những thời kỳ lạm phát cao,các điều kiện kinh tế vĩ môkhông ổn định Khi đó giá cả hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài trở nên rẻ hơn dẫnđến mặt bằng giá cả trong nước giảm xuống
Thứ tư: thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi chính
thức Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ đểchuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trườngchính thức (hợp pháp)
1.4.2 Tác động tiêu cực
Ngoài sự đánh mất chủ quyền về tiền tệ, vị trí độc tôn của đồng nội tệ bị giảmsút khi ngoại tệ được sử dụng rộng rãi lấn át nội tệ thì đôla hóa còn gây ra nhiều tácđộng tiêu cực lên những nền kinh tế bị đôla hóa Chính vì lý do này mà chính phủ
và NHTW các nước luôn tìm cách hạn chế và đẩy lùi tình trạng này
Tác động tiêu cực đầu tiên có thể dễ dàng nhận thấy là việc mất đi thu nhập từthuế in tiền Đó chính là thu nhập từ việc phát hành tiền được tính bằng chênh lệchgiữa chi in tiền, chi phí đưa tiền vào lưu thông so với giá trị hàng hóa mà tiền muađược
Thứ hai, những quốc gia có nền kinh tế đôla hóa chính thức không có chínhsách tiền tệ độc lập khi có các quốc gia này không thể chủ động trong việc thựchiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ Đối với những nền kinh tế không bị đôlahóa, NHTW có thể thông qua cơ chế điều hành tỷ giá tác động lên XNK để đạtđược các mục tiêu của chính sách tiền tệ Giả sử khi các yếu tố khác không đổimuốn kiềm chế lạm phát, NHTW có thể thu hút nội tệ trong lưu thông làm cho nội
tệ lên giá so với ngoại tệ (tức là làm tỉ giá giảm) Ngược lại để thúc đẩy tăng trưởng
Trang 12đó, những nước có nền kinh tế đôla hóa chính thức không có quyền chủ động trongviệc điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tiền tệ của họ phụ thuộc hoàn toàn vàochính sách tiền tệ của NHTW nước ngoài.
Thứ ba: đôla hóa chính thức tước đi vai trò của NHTW, là người cho vay cuốicùng của nền kinh tế Ở những nền kinh tế không bị đôla hóa, khi ngân hàngthương mại (NHTM) sẽ cho vay tiền để giải quyết vấn đề đó, tránh dẫn đến sự sụp
đổ của hệ thống ngân hàng, nhưng ở những nền kinh tế bị đôla hóa chính thức,NHTW chỉ tồn tại trên danh nghĩa Một khi đã sử dụng hết dự trữ tiền tệ thì khôngthể phát hành thêm tiền để giúp đỡ NHTM Vì vậy, khả năng dẫn tới sự sụp đổ của
hệ thống NHTM trong nước là hoàn toàn có thể xảy ra
Thứ tư: đối với những nền kinh tế bị đôla hóa không chính thức, ngoại tệ được
sử dụng rộng rãi trong thanh toán, cất trữ, do đó sẽ có một lượng ngoại tệ lớn trôinổi trên thị trường, nằm ngoài tầm kiểm soát của NHTW Vì vậy, việc dự đoán diễnbiến tổng phương tiện thanh toán, từ đó đưa ra các quyết định về tăng hoặc giảmlượng tiền trong lưu thông sẽ kém chính xác và kịp thời
Thứ năm: cung cầu ngoại tệ thường xuyên biến động Những thay đổi về lãisuất trong nước từ nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền nàysang đồng tiền khác hay từ nơi này sang nơi khác Khi lãi suất có sự thay đổi theohướng nắm giữ ngoại tệ có lợi hơn, người dân sẽ mang nội tệ đổi lấy ngoại tệ, làmcho cầu ngoại tệ tăng, ngược lại, khi nắm giữ nội tệ có lợi hơn, người dân sẽ mangngoại tệ đổi lấy nội tệ, dẫn tới cầu nội tệ tăng Điều này sẽ gây khó khăn choNHTW trong việc điều hành chính sách tiền tệ Ngoài ra, đối với các NHTM có tỷ
lệ tiền gửi bằng ngoại tệ cao, khi có biến động, người dân đổ xô đi rút ngoại tệ,trong khi số ngoại tệ đó đã được ngân hàng cho vay, và NHTW cũng không thể hỗtrợ được do dự trữ ngoại hối còn mỏng có thể gây ra những bất ổn trong hệ thốngNHTM trong nước
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÔLA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
HIỆN NAY 2.1 Quá trình đôla hóa trong nền kinh tế
Đôla hóa đang lan rộng trên toàn thế giới đặc biệt là ở Châu Phi và Mỹ LaTinh Sự hấp dẫn chính của đôla hóa toàn bộ là loại bỏ các nguy cơ về sự phá giáđột ngột sắc nét của tỷ giá hối đoái ở đất nước đó Điều này có thể cho phép cácquốc gia giảm phí bảo hiểm rủi ro gắn liền đến việc vay vốn quốc tế Nền kinh tế bịđôla hóa có được mức độ tin tưởng cao hơn của các nhà đầu tư quốc tế, chênh lệchlãi suất vay quốc tế của họ thấp hơn, giảm chi phí tài chính, đầu tư nhiều hơn vàtăng trưởng Tuy nhiên không khả thi cho nhiều nước đang phát triển, vì họ cónguy cơ biến động quá mức tỷ giá hối đoái Cho đến nay, chỉ có các nền kinh tế lớnnhất đang phát triển, với hệ thống tài chính tương đối tiên tiến, chẳng hạn như HànQuốc, Brazil và Mexico mới cố gắng nổi
Việt Nam rõ ràng không phải là ứng cử viên được hưởng lợi từ đôla hóa dokhác biệt lớn so với Mỹ về sự giàu có, cơ cấu kinh tế và sự hội nhập thấp về thịtrường vốn, lao động Ngoài ra, mặc dù đôla là đồng tiền quốc tế chủ yếu, được ưutiên trong cán cân của Việt Nam, chứ không phải là đồng Euro hay yên Nhật,nhưng Việt Nam lại có quan hệ thương mại đa dạng với các nước khác trên thếgiới Mặc dù buôn bán với Mỹ đang tăng nhanh song buôn bán với các nước châu
Á, đặc biệt là Nhật Bản và châu Âu cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể
Từ năm 1988, khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi bằng đồng đôla,hiện tượng sử dụng đồng đôla trong giao dịch mua bán hàng hóa ngày càng phổbiến, đến 1992, tình trạng đôla hóa đã tăng lên mạnh với hơn 41% lượng tiền gửivào các ngân hàng là USD Trước tình hình này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã
Trang 14cố gắng đảo ngược quá trình đôla hóa nền kinh tế và đã có những thành công nhấtđịnh, năm 1996 chỉ còn 20% Nhưng tiếp theo đó cuộc khủng hoảng tài chính châu
Á đã khiến cho đồng tiền Việt Nam giảm giá trị, và Việt Nam lại tiếp tục chịu sức
ép của tình trạng đôla hoá Đến cuối năm 2001, tỷ lệ đồng USD được gửi vào cácngân hàng tăng lên đến 30,26%, tỷ lệ này có xu hướng giảm đi trong những nămsau đó; dao động từ 22% đến 26%, năm 2010 là 24% Đây là xu hướng tích cực,cho thấy tình trạng đôla hoá tài sản nợ trong hệ thống ngân hàng thương mại đangđược kiềm chế một cách có hiệu quả Người dân đã có niềm tin vào đồng tiền nộiđịa nhiều hơn Tuy nhiên, số tiền gửi tuyệt đối bằng USD thì không ngừng tăng lên,năm 1995 là 1,5 tỷ USD, năm 2005 đạt 8 tỷ USD, nhất là sau khi chúng ta gia nhậpWTO con số này đã tăng lên nhiều lần Chỉ tính riêng lượng kiều hối hàng nămcũng đạt trung bình từ 8 – 10 tỷ USD Đến cuối quý I năm 2011, tổng số tiền gửibằng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt gần 20 tỷ đồng, một mặt chothấy tiềm lực nguồn vốn nhàn rỗi trong dân mà hệ thống ngân hàng có thể huyđộng được cho đầu tư phát triển kinh tế, những mặt khác cũng đáng quan tâm ở góc
độ đôla hóa
Trái với xu hướng biến đổi của cơ cấu tiền gửi, tỷ trọng dư nợ cho vay bằngđôla Mỹ so với tổng dư nợ và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại lại có xuhướng tăng lên, cao hơn cả tiền gửi bằng đôla
Qua đánh giá, Việt Nam là một nước bị đôla hóa một phần, tuy nhiên mức
độ chính xác của đôla hoá là số liệu rất khó xác định.Trong những năm gần đây, tỉ
lệ đôla hóa được kiểm soát có hiệu quả hơn, cụ thể tỉ lệ này giảm trông thấy, nhưngvẫn ở mức khá cao là trên 20% Chính việc cho phép sử dụng gần như hợp pháphoá đồng USD tại Việt Nam để mua các loại hàng hoá như bất động sản, mặt hàngđiện tử, xe cộ, phí khách sạn đã làm tăng quá trình đôla hoá
Trang 15Nếu theo phân loại của IMF thì Việt Nam là nước có nền kinh tế bị đôla hóa
ở mức trung bình Trong những năm gần đây nước ta luôn duy trì tỷ lệ đôla hóa ởmức thấp hơn 30%
Trong khoảng 5 năm trở lại đây, kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chínhthế giới làm cho đồng đôla Mỹ liên tục bị giảm giá thêm vào đó là chính phủ Mỹluôn giữ đồng USD yếu, hệ quả là thu ngoại tệ qua kênh xuất khẩu, du lịch tínhbằng đôla của các nước đều giảm và bị thiệt hại theo mức giảm giá đồng USDtương ứng Và kim ngạch dự trữ ngoại tệ và lượng vốn FDI của nước ta cũng nhưcác nước đang phát triển khác cũng sụt giảm Điều này dẫn tới tất cả các khoảnvốn, tiết kiệm hay phúc lợi xã hội tính bằng USD đều phải chịu thiệt hại Vì điềunày khiến cho thị trường cũng ngần ngại hơn với đồng tiền này hơn trước Tuy vậyUSD vẫn là đồng ngoại tệ mạnh Ngoài ra , các khoản phải trả về nhập khẩu hànghoá, dịch vụ chưa thanh toán, các khoản nợ vay nước ngoài bao gồm tiền gốc và lãichưa trả tính bằng đôla đều mặc nhiên được giảm bớt tương ứng với tỷ lệ sụt giácủa đồng đôla Bởi vậy mới thấy sử dụng đồng USD như thế nào trong nền kinh tếhội nhập, mở cửa và chịu nhiều biến động hiện nay để có hiệu quả và mang lại lợiích là vấn đề vô cùng khó khăn và chịu tự tác động của nhiều yếu tố
Trong thực tế, trên thị trường thừa nhận sự lưu chuyển và sử dụng song songhai đồng tiền, trong đó đồng tiền VNĐ là đồng tiền yếu Và việc thừa nhận gần nhưhợp pháp việc thanh toán, dự trữ và sử dụng đồng đôla Mỹ tại nước ta chính là yếu
tố làm tăng quá trình đôla hóa, làm cho hiện tượng này trở nên diễn biến phức tạphơn Biểu hiện cụ thể của việc này là có nhiều của hàng, mặt hàng được yết giábằng USD như bất động sản, hàng điện tử , xe cộ, phí khách sạn thêm vào đó làtâm lý thích xài đôla của một số bộ phận người dân có thu nhập cao cũng làm tăngthêm hiện tượng này
Trang 16Từ những phân tích , đánh giá trên nhận thấy cần có sự hạn chế và các biệnpháp khắc phục tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế Các giải pháp phải có tínhtriệt để, phù hợp với thời kỳ phát triển và tình hình biến động của kinh tế thế giới,
có tính ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn
2.2 Đo lường thực trạng đôla hóa trong nền kinh tế Việt Nam
Từ số liệu thống kê của IMF, chúng ta xác định, tính toán được diễn biến tỷ lệ đôla hóa ở Việt Nam từ quý 2007 đến Quý 1/2010 như sau:
Biểu đồ 1: FCD/M2 của Việt Nam giai đoạn 2007-Q1 2010
Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF
Tỷ lệ đôla hóa ở Việt Nam đạt mức đỉnh điểm vào năm 2001 với con số xấp
xỉ 35% và được xem là một trong những quốc gia thuộc top các nước có tỷ lệ đôla
hóa cao Tuy nhiên, đồ thị trên cho thấy trong giai đoạn hiện nay (2008 - 2010) đã
giảm đáng kể so với những năm 2000 - 2003, từ mức trung bình 28%-30% xuống16,5% -18% Như vậy, có thể nói hiện nay Việt Nam không còn là quốc gia có tỷ lệđôla hóa cao
Tuy nhiên, ngoài số tiền gửi bằng ngoại tệ FCD, ước tính còn khoảng 30%tổng giá trị thanh toán ngoài hệ thống ngân hàng được thực hiện trực tiếp bằngđồng đôla Do vậy cần phải nhận thức rằng đôla hóa không chính thức tại Việt Nam
Trang 17thực sự đã đến mức nguy hiểm và hình ảnh đồng đôla Mỹ được sùng bái và tháythế hoàn hảo cho đồng Việt Nam không còn là trong ý niệm.
Bên cạnh đó, khi so với Trung Quốc thì tỷ lệ đôla hóa của Việt Nam vẫn ở mứccao
Biểu đồ 2: So sánh tỷ lệ FCD/M2 giữa Việt Nam và Trung Quốc giai
đoạn Q1/2002 –Q1/2010
Từ đồ thị hình 2, ta thấy được thực trạng đôla hóa ở Việt Nam vẫn nằm ởmức cao so với các nước khác, đơn cử như Trung Quốc cũng vì người dân chúng ta
đã không sử dụng đôla như một hàng hóa nhập khẩu (tiền tệ được xem như hàng
hóa đặc biệt) mà lại sử dụng như một liên minh tiền tệ lẫn lộn các chức năng với
nội tệ (VNĐ) trên thị trường tài chính Việt Nam Mặt khác, giá cả đồng đôla Mỹtrên thị trường tiền tệ quốc tế và lãi suất trong chính nước Mỹ giảm thì tại ViệtNam lãi suất huy động và cho vay đồng đôla Mỹ lại có xu hướng gia tăng Đồngthời ở nhiều nước trên thế giới không cho phép có hoạt động tín dụng ngoại tệ, đặcbiệt là loại tín dụng ngoại tệ ngắn hạn Hơn nữa, trong khi nhiều quốc gia cũng cóluật cấm nghiêm ngặt việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ trong nội địa bằng ngoại
tệ, thì hiện nay nhiều NHTM ở Việt Nam đã có dấu hiệu nghịch lý về đồng đôla
Mỹ, biểu hiện qua hiện tượng: "thiếu tiền, thừa vốn" Do lãi suất huy động ngoại tệ
FCD/M 2 _ VN
FCD/M 2 _ TQ
Trang 18tăng, cùng với tỷ giá có xu hướng tăng và đứng ở mức cao nên lượng "tiền gửingoại tệ" tăng, trong lúc tiền mặt ngoại tệ để "mua đứt bán đoạn" lại hiếm Chẳnghạn như tại Việt Nam tình trạng đôla hoá vẫn cao, nên khi lạm phát bùng nổ thìngoại tệ "lên ngôi" ngay cả khi chính nó đang bị mất giá rất mạnh ở Hoa Kỳ và ởkhắp các nền kinh tế công nghiệp phát triển, trong khi tại Việt Nam, một số không
ít cửa hàng, khách sạn cao cấp lại ngang nhiên niêm yết giá, thu tiền bán hàng bằngĐôla và từ chối thanh toán bằng nội tệ Như vậy, vô hình chung Việt Nam đang sửdụng cơ chế tín dụng ngoại tệ thay cho cơ chế mua đứt bán đoạn
2.3 Nguyên nhân đôla hóa tại Việt Nam
2.3.1 Nguyên nhân mang tính lịch sử :
Sự mất lòng tin vào đồng nội tệ của người dân do những cuộc khủng hoảngtiền tệ sau năm 1985 và những năm 1997-1998 Thêm vào đó là hiện tượng lạmphát phi mã trong những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 càng làm làm chođồng nội tệ mất giá nhanh và tạo cho những người giữ tiền cảm thấy quá rủi ro khigiữ một khối lượng đồng nội tệ lớn Và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chínhtại Hoa Kỳ vào cuối năm 2007 kéo dài tới 2 năm làm cho thị trường tiền tệ không
ổn định Hơn thế nữa, sau một thời gian ổn định, chỉ số giá đang ngày càng gia tăngkhiến mọi người thêm ngần ngại hơn trong việc chuyển từ ngoại tệ sang VNĐ.Người ta thích dùng USD không chỉ vì tính ổn định mà còn vì sự gọn nhẹ và tiệndụng của nó
2.3.2 Việt Nam là một nước có nền văn hóa tiền mặt
Thứ nhất: Thói quen dùng tiền mặt trong thanh toán kể cả với các dự án lớn là
một thói quen lâu nay của người Việt Trên thị trường hiện nay hầu như 100% hoạtđộng trao đổi mua bán hàng hóa trên thị trường bán lẻ được thanh toán bằng tiềnmặt Ngay cả trong các dự án lớn hay những hợp đồng mua bán hàng hóa cũng cónhững điều khoản ưu tiên khi thanh toán bằng tiền mặt Điều này tạo ra sự khó
Trang 19trường Hơn nữa hệ thống NHTM cũng như các trung tâm thương mại , siêu thị ,khách sạn hay các cửa hàng chưa có đủ phương tiện kĩ thuật tạo thuận lợi choviệc thanh toán tiền hàng bẳng thẻ Chính này buộc người tiêu dùng phải sử dụngtiền mặt trong thanh toán.
Thứ hai: Hệ thống ngân hàng tuy đã xây dựng các địa điểm đổi tiền nhưng còn
hạn chế về số lượng và chất lượng, tạo ra sự không thuận tiện khi đổi ngoại tệ , làmngười tiêu dùng hay khách du lịch có tâm lý ngại đi đổi tiền hay đổi tiền tại “ chợđen”
Thứ ba: Tỷ giá hối đoái có định và biên độ giao động thấp, tạo khoảng cách
chênh lệch giữa thị trường tự do và các NHTM Trên thị trường hiện này do nhànước áp dụng chính sách tỷ giá cố định , nên sự biến động của tỷ giá hối đoái ở cácNHTM thường có sự biến động không lớn so với sự biến động của thị trường thếgiới Nhưng trên thị trường tự do tỷ giá thướng xuyên thay đổi và theo tình hình thếgiới nên hầu như tỷ giá của thị trường tự do luôn cao hơn ở các NHTM Bởi vậyngười ta thường thích đổi ngoại tệ trên thị trường tự do hơn là tại các ngân hàng vìthu được lượng nội tệ lớn hơn với cùng một lượng ngoại tệ
Trong sự phát triển kinh tế ngày nay, nghiệp vụ xuất nhập khẩu vô cùngquan trọng và chiếm tỷ trọng khá trong nền kinh tế Nghiệp vụ nhập khẩu của nước
ta chủ yếu liên quan đến công nghệ, máy móc thiết bị, hàng hóa xa xỉ Những hànghóa này đòi hỏi phái có chi phí lớn và đồng tiền thanh toán những hợp đồng nhậpkhẩu này chủ yếu là USD Tuy nhiên, nguồn ngoại tệ của NHTM không đủ cho nhucầu của các doanh nghiệp nhập khẩu hay cung ứng dịch vụ Các doanh nghiệp phảivay ngoại tệ ở thị trường chợ đen hay các nguồn ngoại tệ khác
2.3.3 Nguồn ngoại tệ đổ về nước dồi dào
Trang 20Có nhiều nguồn ngoại tệ chảy vào nước ta mỗi năm Ví dụ như: ngoại tệ do cáckhoản đầu tư của các công ty, doanh nhân nước ngoài đổ vào các công ty , các khucông nghiệp hay các chi nhánh đặt tại Việt Nam Lượng ngoại tệ do Việt kiều gửi
về nước là tương đối lớn Ngoài ra còn có nguồn ngoại tệ từ khác du lịch quốc tếtới nước ta và thu nhập của người Việt làm việc ở nước ngoài hay làm tại các công
ty nước ngoài có trụ sở trong nước
- Nguồn kiều hối gửi về nước mỗi năm chiếm số lượng lớn: Việt Nam là mộttrong 10 quốc gia nhận kiều hối hàng đầu thế giới (đánh giá của công ty hàng đầuthế giới về dịch vụ thanh toán toàn cầu -Western Union) Số lượng người Việt sốngngoài Việt Nam vào khoảng 3 triệu người (tính tới năm 2005), và một nửa trong sốViệt kiều sinh sống ở Hoa Kỳ với khoảng 1.521.353 người Số còn lại sống ở Pháp,Nga, Úc và trên 100 quốc gia khác Bởi vậy mỗi năm nước ta nhận được một lượnglớn ngoại tệ từ Việt kiều khắp nơi gửi về nước Các khoản tiền này được gửi vềViệt Nam với nhiều mục đích như để đầu tư vào lĩnh vực tài chính, kinh doanh haybất động sản Cũng có nguồn gửi về với mục đích từ thiện hay gửi về cho ngườithân ở Việt Nam Nhưng dù là gửi với mục đích nào thì điều này đã làm tăng lượngngoại tệ trong nội địa nước ta, nhất là tăng lượng USD vì 80% lượng kiều hối vềnước là USD
- Lượng kiều hối về Việt Nam:
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Triệu
USD
3,8 4,5 5,5 7,2 6,283 8 9
Nguồn : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nhìn vào bảng có thế thấy lượng kiều hối tăng liên tục qua các năm và có xuhướng sẽ tiếp tục tăng trong các năm tới Lượng kiều hối tăng lên tạo điều kiện
Trang 21phát triển nền kinh tế, tạo ra nguồn vốn dồi dào trong kinh doanh Tuy vậy điều nàylại ảnh hưởng làm gia tăng tình trạng đôla hóa ở nước ta Một phần của nguyênnhân của tình trạng trên là chính phủ chưa đưa ra chính sách phù hợp đề quản lýluồng tiền này khi về Việt Nam.
- Đầu tư nước ngoài và các dự án nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăngvới vốn đầu tư lớn: Trong nền kinh tế thị trường, nước ta thực hiện chính sách mởcủa nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư tại ViệtNam, nhất là sau khi gia nhập WTO năm 2006 thì sự mở cửa, hôi nhập càng đượcthể hiện rõ ràng Kết quả là nước ta đã thu hút rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt
đổ vốn vào thị trường Việt Nam
- Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (đơn vị tính: triệu USD):
Trang 22Biểu đổ 3: Lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
qua các năm (đơn vị tính: triệu USD)
Có thể thấy rõ sự chênh lệch rõ giữa lượng vốn đăng kí với lượng vốn thực tếđược đầu tư Điều này chứng tỏ sự quản lý vốn đầu tư ở nước ta còn chưa tốt, đăng
ký kinh doanh ồ ạt nhưng lượng vốn đăng ký khác xa với lượng vốn thực được đầu
tư Tuy nhiên số vốn đầu tư này vẫn là những con số lớn và đầu tư chủ yếu bằngngoại tệ, khiến cho lượng ngoại tề chảy vào Việt Nam tăng nhanh, đặc biệt là khiđồng USD mất giá, FED thực hiện chính sách “ nới lỏng định lượng” thì lượng tiềnđầu tư bằng USD vào nước ta càng tăng nhiều hơn Đó chính là một trong nhữngnguyên nhân làm xuất hiện hiện tượng đôla hóa
- Khách du lịch quốc tế mỗi năm đều tăng lên : Nước ta được thiên nhiên ưu đãi
về vị trí địa lý có bờ biển dài, nhiều bãi biển nông và có cảnh thiên nhiên tươi đẹp,ngoài ra nước ta đã trải qua một thời lịch sử hào hùng nên có nhiều di tích lịch sửthu hút khách du lịch trên nhiều nước trên thế giới Mỗi năm có một lượng lớnkhách du lịch tới nước ta, và đa phần trong số họ mang ngoại tệ và chỉ một số ítlượng ngoại tệ ấy đổi ra VNĐ tại sân bay
- Lượt khách du lịch quốc tế tới Việt Nam tăng qua các năm:
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Triệu lượt người 3,47 3,58 4,17 4,24 3,77 5,05 6,02
Trang 23Nguồn : Tổng cục Du lịch
Biểu đồ 4: Lượng khách du lịch quốc tế qua các năm (đơn vị tính: triệu lượt)
- Nhìn vào biểu đồ ta có thể nhận thấy lượng khác du lịch đến nước ta tăng lênqua các năm và lượng khách đến nước ta khá lớn Khách du lịch càng tăng thì nềnkinh tế càng có nhiều cơ hội phát triển, tuy nhiên có một vấn đề đắt ra là nguồnngoại tệ mà du khác mang đến lại chỉ được thu vào các ngân hàng thông qua cácđiểm đổi tiền ở sân bay, tại khu vực du lịch hay các trụ sở khác mà phần lớn đượctiêu trực tiếp tại các của hàng, khách sạn hay các khu vui chơi ở địa điểm du lịch
Có hiện tượng này là do sự khó khăn trong hoạt động đổi ngoại tệ tại địa điểm cókhách du lịch Các cơ sở đổi tiền còn ít và hoạt động không có hiệu quả Một phần
là do người dân Việt dễ dàng chấp nhận việc thanh toán bằng USD nên tạo ra thóiquen tiêu dùng cho du khách
Trang 24- Người nước ngoài sang Việt Nam làm việc tăng, và người Việt Nam làm ở khuvực nước ngoài cũng tăng lên Trong 10 năm trở lại đây xu hướng và nhu cầu xuấtkhẩu lao động ngày càng tăng Và lượng lao động ký hợp đồng xuất khẩu lao đôngsang các nước làm việc cũng liên tục tăng lên Điều này đã tạo ra một lượng laođộng người Việt làm việc ở nước ngoài lớn Tiền lương của họ phần lớn là đượcgửi về cho gia đình Nhưng đang tồn tại một thực tế là, dù trước khi ra nước ngoàilàm việc, đa phần người lao động đều được công ty môi giới mở một tài khoản tạingân hàng, họ có thể gửi tiền về Việt Nam thông qua ngân hàng đó Trên thực tế,hầu như nhiều lao động gửi về không thông qua tài khoản đó mà được gửi trực tiếp
về bằng cách nhờ người mang về, và lượng ngoại tệ ấy được đổi trên thị trường
“chợ đen”, gây ra luồng ngoại tệ trôi nổi, khó kiểm soát
2.3.4 Tâm lý người Việt Nam
Có một bộ phận người dân Việt thích tiêu bằng đôla để thể hiện đẳng cấp,giàu sang Bán tính sỹ diện, thích xài sang đã là một phần trong tích cách của nhiềungười dân Việt Bởi vậy đã tạo nên hiện tượng rất nhiều người ưa tiêu tiền đô hơntiền Việt, và bộ phận chủ yếu là những người giàu có trong xã hội Và điển hìnhcho hiện tượng này là tâm lý sính đồ ngoại và đặc biệt là ưa chuộng các sản phẩmđược yết giá bằng USD, có nhiếu hàng hóa nếu yết giá bằng VNĐ lại không bánđược,nhưng khi yết giá bằng USD lại bán rất chạy, nhất là hàng hóa nhập khẩu100% hay nhập khẩu nguyên chiếc Bởi vậy rất nhiều cửa hàng tính giá sản phẩmcủa mình bằng USD Trên các đường phố Hà Nội cũng như thành phố Hồ ChíMinh rất dễ hàng bắt gặp các cửa hàng yết giá bằng USD, thậm chí trông một sốsiêu thị lớn cũng tồn tại một số ít mặt hàng được ghi giá bằng USD Đây là mộthiện tượng xấu cần được loại bỏ
Trang 25Nước ta là một nước đang phát triển nền kinh tế vẫn mang tính chất nôngnghiệp, đang trong quá trình hội nhập quốc tế nên ý thức của người dân về các vấn
đề kinh tế chưa cao Vả lại, người dân Việt chưa có thói quen quan tâm, hay tìmhiểu các thông tin về tình hình kinh tế nên chưa ý thức được tác động và tầm quantrọng của đồng nội tệ với nền kinh tế Vậy nên người dân chấp nhận việc thanhtoán bằng USD mà không biết hành động ấy ảnh hưởng tới nền kinh tế thế nào vàcũng không biết được đó là nguyên nhân làm nảy sinh hiện tượng đôla hóa nềnkinh tế
Hơn nữa người dân Việt ,đặc biệt là ngưới dân thuộc các tỉnh miền Bắc luôn
có tâm lý tiết kiệm, dự trữ phòng khi bất trắc Và mọi người luôn mong muốn sửdụng đồng tiền ổn định và có giá trị cao để dự trữ và có lợi từ nguồn dự trữ ấy Đây
là lý do đồng đôla được nhiều người lựa chọn để gửi tiết kiệm hay cất trữ Vả lạilợi ích từ việc dự trữ đôla lớn hơn khi dự trữ bằng nội tệ Và lo ngại về tình hìnhlạm phát gia tăng trong thời gian tới càng thúc đẩy người dân cất trữ ngoại tệ vìmục đích an toàn và lợi nhuận khiến cho lượng ngoại tệ trong dự trữ tăng lên, làmsâu thêm tình hình đôla hóa
2.3.5 Chính sách tiền tệ của các ngân hàng và Nhà nước
Quy định về vấn đề chỉ được tiêu tiền bản tệ trong tiêu dùng hàng ngày trênlãnh thổ Việt Nam còn chưa nghiêm, chưa mang tính cưỡng chế, ép buộc Nênkhông có khả năng răn đe, làm hiện tượng thanh toán bằng USD trên thị trườngdiễn ra công khai, rộng rãi Trong khi đó nhiều nước đã có những quy định nghiêmngặt như ở Trung Quốc, bạn sẽ không thể tiêu bằng bất kì ngoại tệ nào, muôn tiêuxài bạn cần đổi ra đồng nhân dân tệ Thêm vào đó các NHTM và nhà nước chưa cóchính sách khuyến khích đổi lượng kiều hối hay nguồn tiền ngoại tệ từ nước ngoàivào ngân hàng ra nội tệ mà giữ nguyên ngoại tệ
Thị trường chợ đen chưa có sự quản lý và diễn ra công khai phức tạp Có thểtìm thấy rất nhiều cá nhân làm dịch vụ đổi USD sang tiền VNĐ nhất là ở khu vực
Trang 26có địa điểm du lịch, có nhiều du khách như trên phố cổ Hà Nội, các khu vui chơitrong thành phố Hồ Chí Minh.
Trong thời gian gần đây ngân hàng nhà nước (NHNN) áp dụng chính sáchthắt chặt tiền tệ và hạ mức lãi suất đi vay VNĐ trở lên khan hiếm hơn và lợi ích từviệc dự trữ bằng bản tệ của người dân giảm xuống, gây tâm lý muốn chuyển đổi dựtrữ sang dự trữ bằng ngoại tệ trong lòng người dân Hơn nữa, các đợt phá giá đồngbản tệ làm giảm niềm tin vào VNĐ, như ba đợt phá giá trong vòng 10 tháng từ cuốinăm 2009 đã đẩy tý giá tăng liên tục Ngày 26/11/2009, NHNN nâng tỷ giá thêm5,44% và hạ biên độ tỷ giá từ 5% xuống 3% Và ngày 11/02/2010 NHNN năng tỷgiá từ 17.941 VNĐ = 1 USD lên 18.544VNĐ, các NHTM có quyền ấn định tỷ giálên tới 19.000 VNĐ trong khi biên độ giữu nguyên 3% Đợt phá giá thứ ba vàongày 18/08/2010 tỷ giá tăng lên gần 2% từ mức 18.544 VNĐ lên 18.932 VNĐ = 1USD trong khi biên độ vẫn giữ ở mức 3% Như vậy trong vòng 10 tháng tỷ giá củaUSD so với VNĐ đã tăng 10,9 % Điều này gây nên sự mất lòng tin vào nội tệ vàchênh lệch lợi ích khi sử dụng và dự trữ ngoại tệ với bản tệ
Ngoài những nguyên nhân trên cần kể đến một số yếu tố khác như :
- Các khoản tiền viện trợ không hoàn lại, tiền của các tổ chức tài chính vi mô, tổ chức từ thiện quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài v.v Nguồn vốn tài trợ của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, chính phủ các nước tài trợ và đầu tư vào Việt Nam chưa được quản lý và sử dụng hợp lý, gây thất thoát và chảy ra bên ngoài Làm tăng lượng ngoại tệ lưu chuyển trên thị trường
- Ngoại tệ từ các hoạt động buôn lậu và một số nguồn ngoại tệ qua các hoạt động kinh tế ngầm khác mà chính phủ chưa thể quản lý và kiểm soát
2.4 Tác động của thực trạng đôla trong nền kinh tế Việt Nam
2.4.1 Tác động đến chính sách tiền tệ
Trang 27Ảnh hưởng của đôla hóa tới các chính sách tiền tệ của Việt Nam mang nhiềutính tiêu cực hơn là tích cực Rõ ràng là với việc mức độ đôla hóa trong nền kinh tếhiện nay vượt qua con số 20%, các chính sách tiền tệ của chúng ta hiện nay phảiphụ thuộc khá nhiều vào tình hình và các chính sách tài chính của Mỹ cũng như củanhiều quốc gia phát triển khác trên thế giới Thêm vào đó, do là một quốc gia thuộcnhóm các nước đôla hóa không chính thức, Nhà nước phải vừa quan sát động tháicủa thị trường Mỹ, của quốc tế, lại phải xem phản ứng trong nước như thế nào, nhất
là trong tình trạng khủng hoảng kinh tế như thời gian vừa qua để đưa ra các chínhsách hợp lý
Xét về mặt tích cực, việc tỷ lệ đôla hóa cao sẽ tạo nguyên tắc cho chính phủ
vì khi đó, chính phủ không thể dễ dàng tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua việc intiền
Về mặt tiêu cực, như đã nói ở trên, với việc phải chịu sự ảnh hưởng, phụthuộc vào các chính sách và tình hình kinh tế Mỹ đã khiến việc hoạch định cácchính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước và Chính phủ gặp nhiều khó khăn, làmgiảm hiệu quả của các chính sách tiền tệ Thêm vào đó, xét trong tình hình nước tahiện nay, khi mà người dân có xu hướng giữ đôla như một hình thức bảo hiểm rủi
ro, ngoài số lượng USD được gửi trong ngân hàng, còn có một số lượng lớn USDnằm trong dân rất khó để thống kê chính xác giá trị, đồng thời tuy Nhà nước muốngiảm tỷ lệ đôla hóa nhưng người dân thì không, mâu thuẫn này khiến cho các chínhsách tiền tệ được đưa ra trở nên kém chính xác
2.4.2 Tác động đến tỷ giá và thị trường ngoại hối
Trang 28Biểu đồ 5: Sự biến động của tỷ giá hối đoái tại Việt Nam Chú thích:
SBV official rate: Tỉ giá chính thức của NHNN
Parallel market mid rate: Tỷ giá thị trường tự do trung bình
Implied interbank rate: Tỷ giá bình quân liên ngân hàng
Ở nước ta, hiện có hai tỷ giá ngoại tệ: tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhànước công bố được các ngân hàng thương mại áp dụng với biên độ hiện nay là +/-3% và tỷ giá trên thị trường (chợ đen) Khoảng lệch giữa hai tỷ giá này tùy thuộcvào tình hình ngoại tệ; gần sát nhau trong trạng thái thị trường ngoại tệ ổn định, có
xu hướng doãng ra khi cung-cầu ngoại tệ căng thẳng Theo biểu đồ, ta có thể thấy
tỷ giá thị trường tự do có biên độ dao động lớn hơn, còn tỷ giá chính thức của Ngânhàng Nhà nước có tính chu kỳ, ổn định hơn
Trang 29Nhìn chung, trong giai đoạn từ 2007-2010, tỷ giá hối đoái VNĐ/USD biếnđộng tăng, đặc biệt là trong thời kỳ chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Mỹ,
tỷ giá có sự biến động mạnh bất thường Bên cạnh đó, việc biến động tỷ giá cònchịu ảnh hưởng không nhỏ của nhiều nguyên nhân gắn với tình trạng đôla hóakhông chính thức ở nước ta Tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của một số nhân tốchính như: cung-cầu ngoại tệ, mức chênh lệch lãi suất và lạm phát
Đôla hóa làm cho khối lượng giao dịch bằng đôla tăng, điều này làm tăngmột lượng lớn cầu ngoại tệ Lượng cầu này được sử dụng một lượng lớn trong hoạtđộng xuất nhập khẩu Ta có thể xem xét sự biến động của khối lượng hàng hóa xuấtnhập khẩu như sau:
Biểu đồ 6: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giai đoạn
2004-2009 và 10 tháng năm 2010
Theo lý thuyết, đồng nội tệ giảm giá sẽ kích thích xuất khẩu tăng và nhậpkhẩu giảm, tuy nhiên ta thấy kim ngạch nhập khẩu luôn cao hơn kim ngạch xuấtkhẩu và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao Điều này một phần do năng lực sản xuất và
Trang 30quản lý của các doanh nghiệp trong nước còn yếu kém, trong khi ta xuất khẩu chủyếu là mặt hàng thô, nguyên vật liệu thì lượng nhập khẩu chủ yếu lại là các thiết bị,công nghệ hiện đại sử dụng trong sản xuất Vì vậy nhu cầu về ngoại tệ luôn cao.Bên cạnh đó, mức sống ngày càng cao làm cho người dân có xu hướng đi du lịchnước ngoài ngày càng nhiều.Hay một số hoạt động khác như du học, chữa bệnh tạinước ngoài cũng làm tăng cầu ngoại tệ, đặc biệt là USD.
Đôla hóa cũng có tác động lớn tới cung ngoại tệ Hiện nay, dù đã đặt mứctrần lãi suất tiền gửi USD là 3% nhưng lượng tiền gửi bằng USD tại các ngân hàngvẫn khá lớn Ta có thể xem xét lượng tiền gửi này thông qua lượng kiều hối gửi vềViệt Nam, ước tính năm 2011 đạt 9 tỷ USD Đây là một nguồn cung ngoại tệ khálớn, ảnh hưởng tới toàn bộ lượng cung ngoại tệ trên thị trường
Đôla hóa cũng ảnh hưởng tích cực tới tình hình lạm phát Đôla hóa làm tăngcung ngoại tệ, làm giảm giá ngoại tệ, điều này dẫn tới việc giảm giá các mặt hàngnhập khẩu và giá các mặt hàng trong nước nhìn chung giảm
Vì vậy, có thể nhìn nhận rằng, đôla hóa có tác động một cách gián tiếp tới tỷgiá hối đoái thông qua việc tác động tới cung- cầu ngoại tệ và tỉ lệ lạm phát
Ngoài ra, đôla hóa còn tác động tới tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen Tỷgiá chợ đen thường cao hơn so với tỷ giá trên thị trường chính thức, thường biếnđộng rất nhanh, thậm chí tạo nên những cơn sốt đôla, gây thiệt hại cho một bộ phậnkhông nhỏ người dân Đôla hóa giúp thu hẹp khoảng cách giữa tỷ giá trên 2 thịtrường, làm tăng giao dịch trên thị trường chính thức
Trang 31Biểu đồ 7: So sánh sự biến động của tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen
(12-2007 đến 9-2010)
Nguồn: SBV và các cửa hàng vàng
Bên cạnh đó, đôla hóa cũng có tác động tới thị trường ngoại hối Các hoạtđộng trên thị trường ngoại hối có thể bao gồm các giao dịch vãng lai (chuyển tiềnmột chiều, mang ngoại tệ tiền mặt khi xuất nhập cảnh…) và các giao dịch vốn (đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam, đầu tư ra nước ngoài, vay, nợ nước ngoài và cho vay,thu hồi nợ nước ngoài, phát hành chứng khoán trong và ngoài nước…) và cả cáchoạt động sử dụng ngoại hối trên thị trường Việt Nam
Có thể minh họa đại diện thông qua lượng kiều hối gửi vào Việt Nam:
Trang 32Biểu đồ 8: Lượng kiều hối vào Việt Nam
Nguồn : Ngân hàng nhà nước
Kiều hối là một nguồn lực lớn và tăng khá nhanh, liên tục trong thời gianqua Lượng kiều hối là một trong những nguồn ngoại tệ vao Việt Nam lớn nhất.Đây là nguồn trong nước được hưởng hoàn toàn, nguồn tiền này có ý nghĩa và đónggóp đáng kể trong công cuộc phát triển kinh tế Khi đôla hóa diễn ra ngày càngmạnh, việc lượng kiều hối rót về cũng càng nhiều, làm tăng cung ngoại tệ trong cảhoạt động tiêu dùng và đầu tư
Mặc dù Chính phủ theo đuổi chính sách quản lý ngoại hối theo định hướngnhất quán “ trên thị trường Việt Nam chỉ giao dịch bằng đồng Việt Nam”, nhưngtrên thực tế, ngoại tệ và hàng hóa đắt tiền, vay, trả nợ, cất trữ…mỗi khi có biếnđộng về tỷ giá thì các ngoại tệ, nhất là USD, sẽ gia tăng vai trò trên thị trường
Trang 332.4.3 Chịu sự tác động của chính sách tiền tệ Mỹ
Đồng đôla là đồng tiền chung thế giới, bởi vậy khi có sự biến động sẽ làmảnh hưởng tới đồng tiền của các nước và ảnh hưởng tới nền kinh tế thế giới trong
đó có Việt Nam Điều đó lý giải vì sao thế giới luôn quan tâm đến chính sách tiền
tệ và sự can thiệp của chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vào thị trường tài chínhnhất là sự điều chỉnh giá trị đồng USD Trong thời gian qua, từ cuộc khủng hoảngtài chính năm 2007đến nay Cục Dữ trữ Liên bang FED vẫn có các chính sách vàđộng thái can thiệp điều chính giá trị đồng USD nhằm cứu vãn và phục hồi nềnkinh tế Mọi quyết định của FED đều có tác động tới nền kinh tế thế giới và tớikinh tế Việt Nam nhất là tỷ giá hối đoái của VNĐ Cụ thể là từ cuộc khủng hoảngkinh tế năm 2007, để cứu các công ty tài chính đang gặp khó khăn,Chính phủ Mỹbơm tiền cứu trợ làm tăng cung tiền ra thị trường FED thực hiện chính sách “nớilỏng định lượng” (viết tắt là QE-Quantitative Easing), và quyết định chi 600 tỷUSD để mua trái phiếu chính phủ đã làm cho lượng USD lưu thông trong thịtrường tăng lên Ngoài ra FED còn hạ lãi suất vay ngắn hạn, dài hạn nhất làm năm
2007 và 2008 lãi suất hạ thấp, lãi suất còn tiếp tục giữ ở mức thấp trong những nămtới Những điều trên FED thực hiện nhằm mục đích hạ giá đồng USD và giữ đồngđôla là đồng tiền yếu để kích thích sản xuất xuất khẩu , khôi phục nền kinh tế saukhủng hoảng Chính sách này đã làm tăng lạm phát của nhiều quốc gia nhất làTrung Quốc, Ấn Độ và EU Ngoài ra nó còn tác động tới kinh tế Việt Nam ở một
Trang 34Việt sẽ rẻ hơn Tuy nhiên điều này chỉ đúng nếu các món hàng đó có giá tính bằngđôla Mỹ không đổi so với trước kia Trong thực tế, hầu hết hàng hóa nhập khẩu đều
đã tăng giá đôla, cho nên khi đổi sang tiền đồng, chúng ta chẳng những được lợi màcòn thiệt nhiều hơn
Xăng dầu là ví dụ điển hình, khi mà giá dầu tăng lên đến 110 đôla một thùng thay
vì 100 đôla như trước kia, thì việc nhập khẩu khó lòng được lợi tỷ giá, vì tỷ giá củachúng ta hầu như không thay đổi là mấy Trong khi đó chính sách đồng đôla yếucủa FED đẩy giá hàng hóa tính bằng đồng USD tăng nhanh vùn vụt
Thứ hai, đồng đôla yếu làm lợi cho các khoản nợ nước ngoài tính bằng đôla của
Việt Nam Khi USD giảm giá thì tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với USD tănglên, điều này làm cho các khoản nợ bằng USD khi đổi sang VNĐ thì giá trị khoản
nợ sẽ giảm so với trước
b Những ảnh hưởng tiêu cực
Về mặt hại, chính sách của FED làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự cân bằng của nền kinh tế Việt Nam
Ảnh hưởng lớn nhất của đồng đôla yếu là tới tình trạng lạm phát của Việt
Nam Khi FED không ngừng cắt giảm lãi suất làm đồng tiền này mất giá liên tục, các nhà đầu tư Mĩ sẽ chuyển vốn ra thị trường tiền tệ thế giới, trong đó có Việt Nam Chính điều này là một nguyên nhân lớn khiến luồng đôla chảy vào Việt Nam tăng mạnh, trong khi chúng ta lúng túng không biết xử lý như thế nào Thay vì nới rộng biên độ, NHNN lại tăng cung tiền để mua vào số lượng đôla khổng lồ Điều này tất yếu gây ra lạm phát (một biểu hiện của nhập khẩu lạm phát)
Hơn nữa, trong số vốn đôla được quy đổi này, một phần lớn đổ vào thị trường chứng khoán - một thị trường có tính bong bóng cao và không đem lại nhiều hiệu quả Số vốn ứ đọng trong thị trường này đến nay vẫn là vấn đề hết sức nan giải đối
Trang 35với nước ta.
Thứ hai, việc đồng đôla bị kìm giữ ở mức thấp khiến cho người dân không
còn mặn mà với đồng tiền này nữa mà đua nhau đổi ra tiền đồng hoặc vàng Vậy là tình trạng khan hiếm tiền đồng xảy ra Thêm vào đó việc Việt Nam thắt chặt tiền tệ khiến cho tiền Việt Nam càng thêm đắt đỏ Lãi suất huy động và cho vay không thểkhông tăng cao như chúng ta đã chứng kiến
Thứ ba, trên thực tế tỷ giá không tăng mạnh Vả lại, có thể thấy rằng, khi đồng
đôla yếu đi so với các đồng tiền mạnh khác như Euro, yên Nhật thì đồng tiền Việt Nam cũng mất giá theo vì tỷ giá của tiền đồng được gắn với đôla Do đó các khoản
nợ nước ngoài tính bằng các ngoại tệ khác USD sẽ tăng lên đáng kể Vì vậy nếu xéttrong tổng thể các khoản nợ thì chưa chắc nước ta đã có lợi
Nhưng rõ ràng, dù xét cả cái lợi lý thuyết lẫn cái "chưa chắc được lợi" trong thực
tế, đều thấy rằng chính sách đồng tiền tệ của FED ảnh hưởng quá rõ ràng tới Việt Nam
Riêng về thị trường vàng, đã có một thời kì cơn sốt vàng đẩy giá của kim khí quý này lên 2,3 triệu đồng Đó cũng là thời điểm đồng đôla rất yếu và nhu cầu mua vàng tích trữ thay đôla trong nước tăng cao đến đỉnh điểm
Thứ tư, những tác hại mà chính sách đồng đôla yếu gây ra với ngành xuất khẩu
Việt Nam, mà cụ thể là xuất khẩu sang Mỹ Việc người dân Mỹ thắt chặt chi tiêu thực chất không phải là nguyên nhân chính, vì các sản phẩm của Việt Nam xuất sang hầu hết là hàng hóa thiết yếu như giày dép, dệt may, thực phẩm Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu vẫn điêu đứng vì nhiều lý do
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thu được tiền về, khi quy đổi thì bị thiệt hại vì tỷ giá Khi vay để xuất khẩu, họ "trót" vay tiền Việt khi đồng tiền này còn rẻ Nhưng khi thu được tiền về, đồng tiền trong nước đã lên giá, khiến cho lượng VNĐ mà họ
Trang 36quy đổi được nhỏ hơn số VNĐ họ đã vay Chẳng những không lãi mà thậm chí còn chịu lỗ Như thế, ai còn đủ can đảm vay vốn xuất khẩu?
Điều này làm cho lượng ngoại tệ thu được từ các hợp đồng xuất khẩu giảmđáng kể Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp khi thu đôla về còn không thể quy đổi đểtiếp tục đầu tư vì các Ngân hàng "chê" tiền USD Vậy là, họ lại phải vay vốn VNĐ
để tái sản xuất, dù "trong tay sẵn có đồng tiền", làm tăng lượng tiền VNĐ lưu thôngtrên thị trường và góp phần làm giảm lượng USD trên thị trường Tuy nhiên, việcvay vốn VNĐ không phải là chuyện dễ dàng, vì lãi suất cao mà lượng vốn sẵn cócủa các NHTM lại hạn chế, các ngân hàng đang hạn chế việc giải ngân
Nhìn chung chính sách tiền tệ nới lỏng của Mỹ ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế ViếtNam và nhất là tới giá trị của VNĐ Và qua đó có sự ảnh hưởng trực tiếp và giántiếp tới tình hình đôla hóa ở nước ta
- Như khi đồng USD yếu đi, người dân mất lòng tin với USD và tiền đồng tăng giátương đối so với USD nên người dân chuyển từ USD sang VNĐ làm giảm lượngUSD trong dân chúng, góp phần giảm áp lực đôla hóa trên thị trường
- Hơn nữa, sự ảm đạm của đôla hiện nay cũng làm thị trường “chợ đen” ảm đạm
và hoạt động cầm chừng hơn, điều đó có tác động quá trình chống đôla hóa củachính phủ
- FED thực hiện chính sách “nới lỏng định lượng “ bằng cách bơm tiền ra thịtrường làm gia tăng lượng đôla lưu thông trên thế giới và thúc đẩy xuất khẩu của
Mỹ Điều này dẫn tới lượng đôla trong thời gian qua chảy vào Việt Nam tương đốinhiều qua nhiều con đường như nhập khẩu hay các khoản đầu tư, làm lượng tiềnUSD lưu thông trong nền kinh tế Việt tăng lên, tăng khả năng đôla hóa
Trang 37- Tuy FED muốn giữ đôla là đồng tiền yếu nhưng USD vẫn là ngoại tệ mạnh vàphổ biến, bởi vậy xu hướng sử dụng USD vẫn rất cao trên thị trường và trong ngườidân.
Ta nhận thấy sự tác động của chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ đến tình trạng đôla hóacủa nước ta có tính hai mặt và có sự diễn biến phức tạp khó có thể định lượng
2.4.4 Tác động đến giá trị Việt Nam đồng
Song song với tình trạng đôla hóa là sự mất giá của đồng tiền Việt Nam sovới ngoại tệ nói chung và USD nói riêng ngày càng tăng, thể hiện ở tỷ giáVNĐ/USD ngày càng cao hơn (năm 1996, tỷ giá này là khoảng 11.000 đồng; năm
2000 là khoảng 14.000 đồng; năm 2005 khoảng 15.500 đồng; năm 2006 khoảng16.000 đồng… và đến tháng 3/2012 là 20.828 đồng) Khi người dân sử dụng nhữngđồng tiền khác thay vì đồng bản tệ để tiết kiệm, lãi suất huy động đồng bản tệ củacác NHTM buộc phải duy trì ở mức cao (14% - năm 2011), dẫn đến lãi suất huyđộng vốn của các doanh nghiệp cũng phải cao tương ứng Với mức lãi suất caodoanh nghiệp Việt Nam sẽ khó có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp củacác quốc gia mà lãi suất huy động thấp
Thiệt hại cũng đến với cả người dân khi phải sử dụng phương tiện khác nhưngoại tệ mạnh hoặc vàng để tiết kiệm Lãi suất của những phương tiện này đềuthấp Hơn nữa, người dân lại còn phải trả các chi phí chuyển đổi khi phải chuyểnqua lại giữa VNĐ với các phương tiện dự trữ giá trị đó.Tình trạng này là do cả cung
và cầu về ngoại tệ mạnh nói chung, USD nói riêng ở Việt Nam cùng tăng lên theothời gian, trong đó cầu tăng nhanh hơn cung Do các nhu cầu giao dịch với nướcngoài tăng nhanh như: các hoạt động xuất khẩu, xuất khẩu lao động, du học, dulịch, người nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước
Trang 38Đối với một nước có cơ cấu nợ nước ngoài như Việt Nam, thì mức độ đôlahoá cao sẽ tạo áp lực khiến đồng Việt Nam ngày càng mất giá, làm cho tỷ giá quyđổi giữa đồng Việt Nam với USD ngày càng tăng Điều đó đồng nghĩa với việcgánh nặng nợ quốc gia thực tế ngày càng tăng lên Theo số liệu của Bộ Tài chính,
nợ quốc gia đến 31/12/2009 chiếm 38,9% GDP; nợ chính phủ chiếm 41,9% GDP,trong đó nợ trong nước chiếm 41,2%, nợ nước ngoài chiếm 58,8% Trong nợ nướcngoài, 86,5% là các khoản vay trung và dài hạn với lãi suất rất ưu đãi, thời gian ânhạn lớn Theo Ngân hàng Thế giới WB, mức độ nợ quốc gia dưới 50% GDP củaViệt Nam vẫn ở ngưỡng an toàn Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng nợ của nhiềunước Châu Âu và trong nước Tập đoàn Vinashin làm ăn thua lỗ hàng chục nghìn tỷđồng là dấu hiệu cảnh báo về nguy cơ mất an ninh tài chính mà đôla hóa là tác nhânchính
Trước tình hình, những ảnh hưởng tiêu cực của đôla hóa đến nền kinh tếngày càng rõ rệt, có nguy cơ lấn át đồng nội tệ và ảnh hưởng xấu đến hiệu quả điềuhành chính sách kinh tế, tài chính tiền tệ vĩ mô, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
số 11/NQ – CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 Về những giải pháp chủ yếu tập trungkiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Trong đó, nhấnmạnh các giải pháp thực hiện chính sách tài chính tiền tệ thắt chặt, linh hoạt và thậntrọng, điều hành tỷ giá hối đoái linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường, kiểmsoát chặt chẽ kinh doanh vàng… Để triển khai nghị quyết này, Ngân hàng Nhànước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính đã đề ra nhiều giải pháp
cụ thể nhằm chống đôla hóa trong giai đoạn hiện nay
2.4.5 Tác động đến lãi suất
- Năm 1988, các ngân hàng Việt Nam bắt đầu được phép nhận tiền gửi bằngUSD
Trang 39- Trong suốt khoảng thời gian từ 1988-1992, lượng USD gửi vào hệ thống ngânhàng ngày càng tăng nhanh chóng.
- Từ cuối năm 1991đến 1993, mức độ đôla hóa tiền gửi giảm mạnh làm lãi suấttiền gửi USD bắt đầu giảm mạnh, lợi tức của các NHTM nhanh chóng rút lượngtiền gửi ở các ngân hàng nước ngoài về cuối năm này, lượng ngoại tệ trong hệthống ngân hàng chiếm 41% tổng lượng tiền gửi
- Trong khoảng từ những năm 2000-2004 đồng USD giảm giá dần một số yếu
tố kinh tế chính trị tác động vào nước Mỹ khiến cho đồng USD không còn được sửdụng rộng rãi như trước ở một số nước mà thay vào đó là đồng EUR
- Khả năng sụt giảm giá trị của đồng USD so với các ngoại tệ khác là rất cao,trong khi lượng USD trong hệ thống NHTM Việt Nam lại lớn, dẫn đến nguy cơ về
tỉ giá
- Trong khoảng những năm sau đó, tình trạng đôla hóa được kiềm chế dần
- Cuối năm 2000, nhiều NHTM đồng loạt tăng lãi suất tiền gửi VNĐ và hạ giảmlãi suất huy động USD Động thái này giúp đưa tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ xuống mức31.7% vào cuối năm 2001, 23.6% vào cuối năm 2003 và 24.3% vào cuối năm
2004 Sự giảm xuống của tỉ lệ này phản ảnh lượng vốn nhàn rỗi trong dân đã dầndần dịch chuyển vào hệ thống ngân hàng
- Những năm tiếp theo, tỉ lệ USD có xu hướng giảm chậm nhưng vẫn ở mứccao, khoảng 20-25%
- Lượng kiều hối chuyển về trong nước tăng khá đều đặn kể từ năm 2000 chođến 2007, với mức tăng trung bình hàng năm là 17,9% Tuy nhiên, trong hai năm
2008 và 2010, lượng kiều hối tăng đột biến với tốc độ lần lượt lên tới 30,9% và27,3% Nhìn vào lãi suất huy động USD kỳ hạn ba tháng của các NHTM đã tăng từmức bình quân khoảng 4% trong suốt năm 2007 lên mức khoảng 6,5% vào giữanăm 2008 Tương tự mức lãi suất USD năm 2010 cũng đã tăng dần từ mức bìnhquân khoảng 1,5% vào giữa 2009 lên mức 4% vào giữa 2010 và tới 4,5% vào cuốinăm 2010