1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK

83 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các ràng buộc cạnh tranh trong ngành ngân hàng ở Việt Nam được thể hiện qua luật các tổ chức tín dụng, các thông tư, chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, các chính sách tiền tệ và tài khóa, c

Trang 1

Qua 50 năm hình thành và phát triển, ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam hiện nay đã xây dựng cho mình một vị trí quan trọng và là một thương hiệu nổi tiếng trong hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam Nhưng trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt với các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế về năng lực cạnh tranh, hiệu quả hoạt động đầu

tư vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế

Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói riêng là một đòi hỏi cấp thiết Vì vậy đề tài “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam” được chọn để nghiên cứu nhằm đưa ra những phương hướng, giải pháp trong đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương, góp phần phát triển và khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực ngân hàng

Mục tiêu:

Trang 2

Một là, làm rõ các khái niệm học thuật liên quan đến cạnh tranh và đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, nguồn vốn đầu tư, các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh trong ngân hàng qua các chỉ tiêu.

Hai là, tìm hiểu quá trình đầu tư phát triển tại Vietcombank trong những năm gần đây qua việc phân tích số liệu,từ đó, thấy được những điểm lớn đạt được và những góc khuất ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của ngân hàng Đồng thời tìm hiểu những đối thủ cạnh tranh lớn của Vietcombank

Ba là, tác giả tìm hiểu, phân tích các số liệu đưa ra các giải pháp định tính và định lượng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh tại Vietcombank

Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp logic, phương pháp mô tả và khái quát hóa đối tượng nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quy mô và chất lượng đầu tư phát triển tại ngân hàng Vietcombank Qua đó, chỉ ra được những lợi thế so sánh làm nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank so với các đối thủ trên thị trường Đề tài cũng đưa ra định hướng cho đầu tư phát triển tại Vietcombank làm nâng cao năng lực cạnh tranh

Phạm vi nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu đề tài qua các thông tin, số liệu của Vietcombank và các ngân hàng đối thủ, số liệu của Ngân hàng Nhà nước, các bảng số liệu từ các công ty kiểm toán nước ngoài, qua đó, so sánh sự cạnh tranh, tìm mặt mạnh và điểm yếu trong quá trình đầu tư phát triển của ngân hàng Vietcombank

Trang 3

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ KHÁI LƯỢC

VỀ VIETCOMBANK

1.1 Một số vấn đề cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 Khái niệm và các loại hình cạnh tranh và khả năng cạnh tranh

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm

có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành ngân hàng, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia Điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy

mô doanh nghiệp hay ở quốc gia Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc

tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân

- Theo K Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch "

- Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là " Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình

- Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất

- Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)

- Ba tác giả Mỹ khác là D.Begg, S Fischer và R Dornbusch cũng cho

Trang 4

cạnh tranh là cạnh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết Một cạnh tranh hoàn hảo, là nghành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua.

- Cùng quan điểm như trên, R.S Pindyck và D.L Rubinfeld trong cuốn Kinh tế học vĩ mô cho rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả

- Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh”, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho rằng: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua”

- Tác giả Nguyễn Văn Khôn trong từ điển Hán việt giải thích: "Cạnh tranh là ganh đua hơn thua"

- Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ, cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực tế của người dân nước đó

- Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm

2003, định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là: "Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”

Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút

ra các điểm hội tụ chung: cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:

Trang 5

- Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể

có cùng các mục đích, mục tiên và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hớng đến chiếm đoạt Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tưng tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm ra và đợc người mua chấp nhận Còn với các chủ thể cạnh tranh bên muc là giành giật muc được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình

- Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ Các ràng buộc cạnh tranh trong ngành ngân hàng ở Việt Nam được thể hiện qua luật các tổ chức tín dụng, các thông tư, chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, các chính sách tiền tệ và tài khóa, cũng như các đặc điểm cầu thanh toán về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp khác trong kinh doanh dịch vụ ngân hàng; giữa những người vay và cho vay là các thoả thuận được thực hiện có lợi cho cả hai bên và cho sự phát triển kinh tế của đất nước

- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh) Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một nước, giữa các nước)

Cạnh tranh trong các NHTM là việc sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của ngân hàng để giành lấy phần thắng, phần hơn về lợi nhuận,

uy tín, thương hiệu và vị thế cho mình trước các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong quá trình kinh doanh, bảo đảm cho ngân hàng đó phát triển bền vững

Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại

- Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường ngân hàng – tài chính, cạnh

tranh được chia thành:

+ Cạnh tranh giữa bên nhận vay và bên cho vay: Người cho vay muốn lãi suất huy động cao, còn bên nhận vay (NHTM) muốn cho vay với lãi vay cao

Trang 6

nhất và được vay với lãi suất huy động thấp Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên trên cơ sở pháp lý và lãi suất huy động trần do NHNN đặt ra, ví dụ: từ ngày 18/03/2012: lãi suất huy động trần với các khoản tiền gửi là 13%.

+ Cạnh tranh giữa các NHTM với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường Khi lãi suất huy động trần cao nhưng lại thấp hơn nhiều so với lạm phát thì việc huy động vốn trong các tổ chức tín dụng rất khó khăn Các NHTM có thương hiệu, khả năng thanh toán tốt, các dịch vụ được đáp ứng cao sẽ có khả năng huy động vốn đầu tư tốt hơn các đối thủ trên thị trường

- Căn cứ theo phạm vi ngành ngân hàng, cạnh tranh được phân thành hai loại

+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, cùng cung cấp cho nền kinh tế các loại dịch

vụ Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển + Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Trong quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân

- Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh được phân thành 3 loại + Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Cometition): Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán, người cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên thị trờng trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường Các sản phẩm được cung cấp người mua, người sử dụng xem là đồng thức, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh + Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm, dịch vụ không đồng nhất với nhau Mỗi sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau, vì vậy, để giành đựơc ưu thế trong cạnh tranh, người bán phảo sử dụng các công cụ hỗ trợ bán

Trang 7

như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay Đây là hình thức cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

+ Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): trên thị trường chỉ

có nột hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu

- Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành: + Cạnh tranh lành mạnh: là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và đợc xã hội thừa nhận, nó thướng diễn ra sòng phẳng, công bằng

và công khai

+ Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa bào kẽ hổ của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án ( như trốn thuế, buôn lậu, huy động vượt trần lãi suất…)

1.1.2 Vai trò của cạnh tranh

Đối với các doanh nghiệp : Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến

kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh

tế Đó chính là cạnh tranh lành mạnh Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thì thường xuất hiện trì trệ, kém phát triển

Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, tiện ích hơn và giá bán rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn… để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng Do

đó, cạnh tranh giúp họ thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, chất lượng

Trang 8

sản phẩm ngày càng cao cùng với mức giá cả càng ngày phù hợp với khả năng thanh toán của họ

Đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế Cạnh tranh tạo điều kiện để xóa bỏ độc quyền bất hợp lý, xóa bỏ bất bình đẳng trong kinh doanh, phát huy tính năng động, sự sáng tạo trong các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản xuất, đời sống xã hội, phát triển nền văn minh nhân loại

Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội

1.1.3 Ngân hàng thương mại

1.1.3.1 Khái niệm về ngân hàng và ngân hàng thương mại

Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người chủ sở hữu của nó, tránh gây mất mát Đổi lại, người chủ sở hữu cho người giữ một khoản tiền công Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn và đại diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những người có tiền Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu tiền vay và tiền ngày càng lớn trong

xã hội Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lượng tiền cần gửi và

Trang 9

lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn.

Ngân hàng là một trong các loại tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chúc kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò thủ quỹ cho toàn xã hội Thu nhập từ ngân hàng là thu nhập quan trọng đối với nhiều hộ gia đình Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân,

hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước Đối với doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ chức cấp tín dụng để mua hàng hóa dự trữ hoặc để xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng sẽ, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử… Và khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ (thông qua mua chứng khoán Chính phủ) là nguồn tài trợ quan trọng để đầu tư phát triển Ngân hàng thực hiện chính sách kinh tế, đặc biệt là các chính sách tiền tệ, vì vậy là công cụ quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm phát triển bền vững

Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước

Ở Việt Nam hay các nước khác, định nghĩa về NHTM đều có điểm chung

là dựa trên chức năng và phương thức hoạt động Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.Theo điều 4 khoản 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 số 47/2010/QH12, ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí

Trang 10

gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

1.1.3.2 Các hoạt động của ngân hàng thương mại

Huy động vốn, bao gồm nhận tiền gửi (tiền gửi kỳ hạn và tiền gửi không

kỳ hạn), phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn, vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vay vốn của NHNN và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN

Hoạt động tín dụng, bao gồm cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, và các hình thức khác theo quy định của NHNN Đây là hoạt động sinh lời đem lại thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng, quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng

Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, bao gồm mở tài khoản, cung ứng các phương tiện thanh toán trong nước vào ngoài nước, thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ, thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt, ngân phiếu thanh toán cho khách hàng

Các hoạt động khác, bao gồm các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, thực hiện các nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và USD, kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán thông qua công ty trực thuộc, cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ, cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quí, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ

1.1.4 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

Theo Fafchamps, sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra

Trang 11

những sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng có chi phí thấp hơn thì được coi là có năng lực cạnh tranh

Một quan niệm khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”

Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cũng có thể hiểu là khả năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sẹ hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm

và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh

Năng lực cạnh tranh có thể được chia làm ba cấp:

- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân

- Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp :được đo bằng khả năng duy trì và

mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ, vì vậy, người ta còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ

- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường

Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau Mỗi nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia phải có nhiều doanh nghiệp có cạnh tranh, ngược

Trang 12

lại, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, môi trường kinh doanh cho nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng,

có thể sự bao được, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Là tế bào của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hoặc một số sản phẩm dịch vụ có năng lực cạnh tranh

Trong ngân hàng thương mại, cạnh tranh là sự tranh đua, giành dật khách hàng dựa trên tất cả những khả năng mà ngân hàng có được để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, có

sự đặc trưng riêng của mình so với các ngân hàng thương mại khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường

Với những đặc điểm chuyên biệt của mình, sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng cũng có những đặc thù nhất định:

- Do hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống rất cao, nếu năng lực cạnh tranh của một ngân hàng yếu dẫn đến khó khăn cho hoạt động kinh doanh của

hệ thống và có thể tác động trực tiếp đến thị trường tiền tệ, gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Vì vậy, hoạt động cạnh tranh của các ngân hàng phải tuân thủ theo pháp luật

- Hoạt động ngân hàng có liên quan đến nhiều tổ chức kinh tế, chính trị,

xã hội và các cá nhân Nếu một ngân hàng bị đổ vỡ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các ngân hàng khác và khách hàng Vì thế, trong hoạt động của các ngân hàng,

đi liền với cạnh tranh lẫn nhau là sự hợp tác với nhau nhằm hướng đến một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn

Trang 13

- Từ hai đặc thù trên để tránh những nguy cơ đổ vỡ cả hệ thống, ngân hàng trung ương phải có sự giám sát chặt chẽ thị trường tiền tệ, nhằm có những giải pháp kịp thời tránh những yếu tố có thể làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.

- Mặt khác, hoạt động ngân hàng không giới hạn phạm vi trong nước mà liên quan đến các nước khác trong hoạt động kinh tế đối ngoại Do vậy, hoạt động của ngân hàng đòi hỏi những chuẩn mực quốc tế rất cao và cần phải tuân thủ nghiêm

Các ngân hàng thương mại dùng nhiều công cụ để cạnh tranh lẫn nhau:

- Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ: Dịch vụ do ngân hàng cung ứng là nhắm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Nếu như chất lượng của dịch vụ ngày càng hoàn hảo thì khách hàng sẽ gắn bó lâu dài và chấp nhận ngân hàng Không những vậy, những lời khen, sự chấp nhận thỏa mãn về chất lượng của khách hàng hiện hữu sẽ được chính họ thông tin tới những người khác có nhu cầu dịch vụ tìm đến ngân hàng giao dịch Sự hoàn hảo của dịch vụ có thể được hiểu là giảm thiểu các sai sót trong giao dịch với khách hàng và rủi ro trong kinh doanh dịch vụ của ngân hàng Chất lượng dịch vụ của ngân hàng ngày càng hoàn hảo, giảm các sai sót trong giao dịch của ngân hàng với khách hàng, giảm thiểu những lời phàn nàn và khiếu kiện, khiếu nại của khách hàng đối với ngân hàng Bên cạnh đó là những rủi ro trong kinh doanh dịch vụ của ngân hàng ngày càng được giảm thiểu, quy mô và tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ của ngân hàng ngày càng tăng lên Dịch vụ càng ngày được nâng lên thì thị phần của từng loại dịch vụ của ngân hàng không ngừng được giữ vững cà tăng lên như kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, thanh toán thẻ… Để đạt được mục tiêu đó, chất lượng sản phẩm dịch vụ cần được đi kèm với sự đa dạng của dịch vụ, nghiệp vụ marketing, uy tín và danh tiếng của ngân hàng, quy mô và mạng lưới hoạt động của ngân hàng

- Cạnh tranh bằng giá cả: Giá cả phản ánh giá trị sản phẩm, nó có vai trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng Đối với các NHTM, giá cả chính

là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách hàng của mình Trong việc xác định mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải đối

Trang 14

mặt với quy tắc đanh đổi: Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh tranh để

mở rộng thị phần thì cần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các khách hàng của mình, tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của NHTM thậm chí có thể khiến ngân hàng bị lỗ Ngược lại, nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ra mức lãi suất và phí cao hơn để đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập nhưng điều này có thể dẫn đến ngân hàng sẽ bị mất dần khách hàng, giảm thị phần trong kinh doanh, bởi suy cho cùng thì ngân hàng luôn quan tâm tới mục tiêu tối thường trên thương trường là tối đa hóa lợi nhuận, mà

để đạt được điều đó thì cần tiết giảm các chi phí đầu vào Điều này có nghĩa là cạnh tranh bằng giá cả đang trở thành một biện pháp nghèo nàn nhất vì nó làm giảm bớt lợi nhuận thu được của các NHTM Chính vì vậy, việc xác định lãi suất trên thị trường là quan trọng, song theo dõi thông tin phản hồi từ khách hàng là rất cần thiết để NHTM đưa mức lãi suất và phí có tính cạnh tranh

Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối: Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng có đặc tính nhanh tàn lụi, không thể lưu trữ nên việc xây dựng mạng lưới cung ứng dịch vụ trở nên trọng yếu Mạng lưới cung ứng là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng nắm bắt chính xác, kịp thời nhu cầu của khách hàng, qua đó, ngân hàng chủ động trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng

1.1.5 Các nhân tố tác động đến cạnh tranh

- Sự đe dọa của các đối thủ tiềm ẩn

Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Các đối thủ cạnh tranh hiện tại đang chia nhau chiếc bánh thị trường Do vậy, một hành động của một đối thủ này để khai thác nhiều hơn phần thị trường đó thì sẽ nhận được sự đáp trả của đối thủ khác

để giành lại phần thị trường bị mất Nếu cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành mãnh liệt thì nguy cơ chiến tranh giá xảy ra, thị trường bị thu hẹp, lợi nhuận bị giảm sút Trong tương lai, cạnh tranh là giành cơ hội chứ không phải

là giành thị phần Các nhân tố tác động đến mức độ ganh đua giữa các đối thủ trong ngành bao gồm cấu trúc cạnh tranh ngành, các điều kiện nhu cầu và rào cản rời ngành

Trang 15

Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: Sự xuất hiện của những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là mối nguy lớn đe dọa đến thị phần của các ngân hàng bằng cách đem vào ngành những năng lực sản xuất mới Do vậy nhận diện được các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là hết sức quan trọng để thiết lập những rào cản ngăn chặn trước khi nó có thể xâm nhập Những rào cản có thể bao gồm: xây dựng lòng trung thành nhãn hiệu, khai thác lợi thế về chi phí thấp, tận dụng tính kinh

tế về quy mô, những quy định của chính phủ Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của ngân hàng như: các cá nhân, tổ chức có ý định thành lập ngân hàng của mình

- Các chính sách của Ngân hàng Nhà nước và của Chính phủ

Môi trường chính trị- pháp luật: Một đất nước có môi trường chính trị ổn định, luật pháp được quy định rõ ràng, minh bạch, sự thay đổi luật diễn ra không thường xuyên, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ khuyến khích các doanh nghiệp nói chung và các tổ chức tín dụng nói riêng an tâm hơn trong hoạt động kinh doanh của mình, có khả năng phát huy hết tối đa lợi thế cạnh tranh của mình Ngược lại, nếu môi trường chính trị, xã hội luôn biến động thì dẫn đến sự kém hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng do sự không an toàn và sự thay đổi liên tục, sự kém minh bạch của hệ thống luật pháp

Một ngân hàng làm theo những chính sách của Ngân hàng nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật thì phát triển sẽ bền vững Những ngân hàng thương mại cạnh tranh không lành mạnh bằng cách lách luật phải chịu những chế tài xử phạt nghiêm khắc từ Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ

- Nguy cơ từ các dịch vụ mang tính thay thế

Thứ nhất, khả năng của những sản phẩm thay thế: Sản phẩm thay thế là những sản phẩm có thể thỏa mãn những nhu cầu tương tự của khách hàng Khả năng của sản phẩm thay thế có nguy cơ làm hạn chế khả năng đặt giá cao và do

đó có thể hạn chế khả năng sinh lợi của ngân hàng Vì vậy, chiến lược của ngân hàng sẽ được thiết kế để giành lợi thế cạnh tranh từ thực tế này Ví dụ các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp như vàng, bất động sản, chứng khoán

Trang 16

Thứ hai, cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra như vũ bão trên toàn thế giới, công nghệ quyết định đến sự thành công của một doanh nghiệp nói chung và một ngân hàng nói riêng, nếu ngân hàng có công nghệ lạc hậu hơn đối thủ cạnh tranh thì sớm muộn cũng sẽ bị đối thủ cạnh tranh đánh bật ra khỏi thị trường Một ngân hàng chú trọng đến công nghệ của mình sẽ làm cho khách hàng tin tưởng và từ đó có thể dễ dàng thu hút khách hàng mới hay lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh

Thứ ba, đối thủ cạnh tranh quốc tế: Quá trình hội nhập của nền kinh tế đòi hỏi một đất nước cũng phải tuân thủ các luật chơi của quốc tế Sự biến động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các chỉ số như lãi suất, tỷ giá, giá dầu, vàng,

đô la cũng tác động rất lớn tới nền kinh tế trong nước và từ đó ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, sự hội nhập kinh tế thế giới làm cho các ngân hàng không chỉ cạnh tranh nội địa với nhau mà còn cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài đổ bộ ngày càng nhiều vào Việt Nam với quy mô vốn lớn và công nghệ hiện đại

- Nhu cầu tăng lên từ phía khách hàng

Xu hướng quốc tế hóa hoạt động ngân hàng đã đặt các ngân hàng thương mại trước áp lực rất lớn của sự cạnh tranh, không những cạnh tranh giữa các NHTM khác mà còn cạnh tranh với các tổ chức tài tài chính phi ngân hàng (các công ty tài chính, các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm, bưu điện…), xu hướng này sẽ ảnh hưởng và tác động đến khách hàng của các ngân hàng trong tương lai, vì trong kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều lấy khách hàng làm đối tượng

và mục tiêu phục vụ, họ đã không ngừng nỗ lực đổi mới và xây dựng mô hình phục vụ hướng tới khách hàng, tối đa các nhu cầu của khách hàng dựa trên các giới hạn chi phí cho phép Do đó, những đòi hỏi của khách hàng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các NHTM là tất yếu

Mặt khác, kinh tế càng phát triển, thu nhập và mức sống của người dân càng nâng cao, nhu cầu của họ đối với sản phẩm dịch vụ ngân hàng đòi hỏi ngày càng phải hoàn thiện, giá trị gia tăng mang lại từ các sản phẩm dịch vụ đó ngày càng nhiều, từ nhu cầu thực tế, đòi hỏi các ngân hàng phải nhạy bén cảm

Trang 17

nhận thị trường Hơn nữa, trong điều kiện thị trường phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp lớn có nhiều cơ hội để lựa chọn phương thức tài trợ vốn hơn, thông qua các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, qua thị trường chứng khoán… và

họ phải cân nhắc lựa chọn phương án nào có chi phí sử dụng vốn thấp nhất, nhằm mục đích tối đa hóa các lợi ích kinh tế của họ Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ngân hàng, các khoản cho vay lớn giảm, các khoản cho vay nhỏ lẻ tăng, chi phí quản lý tăng, rủi ro cũng tăng, phần nào cũng làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng

- Nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế

Hệ thống ngân hàng với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế đã cung ứng một lượng vốn khá lớn cho nền kinh tế hàng năm (chiếm khoảng 16-18% GDP) và gần bằng 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, do đó, ngân hàng như một chiếc máy bơm vốn cho nền kinh tế Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vốn càng lớn và ngân hàng hoạt động càng mạnh mẽ hơn Ngân hàng là ngành có mối quan hệ mật thiết với các biến động của nền kinh tế, đây là ngành hồi phục trước tiên để tạo điều kiện cho nền kinh tế hồi phục và đi vào ổn định

Với đặc điểm, hoạt động của các NHTM đồng thời cũng là một trong các công cụ hữu hiệu để ngân hàng nhà nước thực hiện điều tiết các ảnh hưởng đến nền kinh tế và ngược lại Do vậy, để đảm bảo an toàn, ngân hàng nhà nước giám sát các hoạt động của NHTM rất chặt, nhất là mức vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại Một trong những tiêu chí để đánh giá xếp hạng các ngân hàng thương mại là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Để đạt được tỷ lệ này, các NHTM phải thường xuyên tăng vốn điều lệ bằng nhiều cách (sáp nhập, bán cổ phần, bổ sung từ lợi nhuận để lại…) Điều này đã tạo áp lực làm gia tăng quá trình các NHTM đua nhau tăng vốn điều lệ trong thời gian gần đây

- Khả năng cung ứng tài chính của các ngân hàng

Ngân hàng là một ngành chứa đựng rất nhiều rủi ro Mỗi một biến động bất lợi của kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của một ngân hàng Nếu nền kinh tế có các chỉ số về lãi suất, lạm phát, tỷ giá biến động thì các chính sách, chiến lược kinh doanh cũng sẽ thay đổi để hạn chế sự suy giảm của lợi nhuận Đặc biệt, nếu ban lãnh đạo của ngân hàng không đề ra

Trang 18

được các chíên lược phù hợp với sự biến động đó sẽ ngân hàng của mình dần bị thua lỗ.

1.2 Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong các ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm và vai trò của đầu tư trong các ngân hàng thương mại

Đầu tư trong NHTM là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại (tài sản vật chất và trí tuệ) để tiến hành các hoạt động dịch vụ nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuyệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu

tư mà chỉ được hưởng các lợi ích vật chất (như cổ tức, tiền lãi trái phiếu), lợi ích phi vật chất (như quyền biểu quyết, quyền tiên mãi)

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư, bao gồm hai loại: Đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển Trong đó, đầu tư dịch chuyển

là một hình thức đầu tư trực tiếp mà việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị tài sản Thực chất, trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản Chẳng hạn như nhà đầu tư mua một số lượng cổ phiếu với mức khống chế có thể tham gia hội đồng quản trị của một doanh nghiệp, các trường hợp thôn tính, sáp nhập doanh nghiệp trong cơ chế thị trường

Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động đầu

tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ

và sinh hoạt đời sống của xã hội Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, cho chính các đơn vị, tổ chức sản xuất và cung ứng dịch

vụ Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tặng trưởng và phát

Trang 19

triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia Vì vậy, Đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ

sở cho các hoạt động đầu tư khác Đầu tư gián tiếp và đầu tư dịch chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển

Qua đó, thấy rõ, đầu tư là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh trên góc độ toàn bộ nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng

Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế:

Thứ nhất,đầu tư góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế

ICORTrong đó: ∆Y là mức gia tăng

I là mức đầu tư thuần

ICOR là hệ số gia tăng vốn-sản lượng

Thứ hai, đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua các chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư như chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hóa, xây dựng cơ chế quản lý đầu tư gián tiếp thông qua chính sách thuế, chính sách tín dụng trong các NHTM, chính sách lãi suất để xác lập và định hướng cơ cấu đầu tư theo ngành, vùng hợp lý Chẳng hạn, năm 2012, chính sách tín dụng không khuyến khích cho vay đối với các dự án đầu tư vào bất động sản, kinh doanh chứng khoán

Thứ ba, đầu tư tác động đến tổng cung, tổng cầu

M: nhập khẩuTrong ngắn hạn, đầu tư tăng làm cho cầu thanh toán cho các sản phẩm, dịch vụ đầu vào tăng cao, làm tăng tổng cầu Trong dài hạn, khi các kết quả đầu

tư được phát huy, đưa vào hoạt động, làm gia tăng vốn, chất lượng lao động, phát triển công nghệ, năng lực phục vụ sản xuất, làm tăng tổng cung

AS = F(K,L,T,R…)

Trang 20

L: lao động

T: công nghệ

R: tài nguyên thiên nhiên

Thứ tư, đầu tư vào khoa học công nghệ: nghiên cứu, mua sắm, sửa chữa các máy móc thiết bị nhằm nâng cao chất lượng đầu tư

Thứ năm, đầu tư phát triển tác động đến hai mặt của một nền kinh tế Mọi sự tăng giảm của đầu tư, cùng một lúc, vừa là yếu tố tác động làm mất ổn định nền kinh tế Do tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu nên mọi sự thay đổi đều có tác động tích cực và tiêu cực

Về mặt tiêu cực, trong ngắn hạn, việc huy động các nguồn lực đầu vào cho hoạt động đầu tư phát triển làm tổng cầu tăng lên, làm giá cả tăng nhanh, dẫn đến gia tăng lạm phát, làm mất ổn định nền kinh tế

Trên góc độ một NHTM

Đầu tư quyết định đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của một NHTM NHTM trang bị các trang thiết bị cho văn phòng, các trạm ATM, các phòng và quầy giao dịch Đối với các NHTM đang hoạt động, việc sửa chữa, thay mới các cơ sở vật chất – kỹ thuật đã hư hỏng, hao mòn để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển của khoa học công nghệ góp phần làm nâng cao

vị thế, năng lực cạnh tranh của NHTM đó Hoạt động đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, chú trọng đến đào tạo và nâng cao trình độ, phong cách phục

vụ của các chuyên viên ngân hàng giúp cho NHTM có một vị thế nhất định đối với những khách hàng sử dụng dịch vụ Đầu tư giúp các ngân hàng không chỉ

mở rộng các lĩnh vực kinh doanh, hoặc đầu tư theo chiều sâu giúp hoàn thiện hơn về chỉ tiêu đầu tư và tài chính giúp không chỉ các nhà đầu tư, những người gửi tiền, người vay, các cơ quan quản lý nhà nước đặt niềm tin vào ngân hàng

mà còn làm gia tăng tài sản, doanh thu và lợi nhuận cho NHTM

Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM là quá trình bỏ vốn đầu

tư nhằm tiến hành các hoạt động tăng thêm hoặc tạo ra giá trị tài sản vật chất (máy móc, thiết bị công nghệ ) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng ) nhằm gia tăng hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM trên thị trường

Trang 21

1.2.2 Nguồn vốn đầu tư

Vốn chủ sở hữu:

Khi mới thành lập, nguồn vốn của các NHTM là vốn chủ sở hữu để đầu

tư vào cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, máy móc Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn đầu tư ban đầu khác nhau Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, ngân sách Nhà nước cấp (vốn của Nhà nước) Nếu là ngân hàng cổ phần, các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp vốn đầu tư Ngân hàng

tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân

Đối với các NHTM đang hoạt động, khi thu nhập ròng lớn hơn 0, các NHTM có xu hướng gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng Những ngân hàng lâu năm, thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao so với vốn của chủ hình thành ban đầu Các quỹ trong ngân hàng như quỹ dự phòng tổn thất được trích lập hằng năm và được tích lũy lại để bù đắp những tổn thất xảy ra, quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp sự hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc

Vốn nợ:

Nguồn vốn đầu tư trong các NHTM đang hoạt động chủ yếu là nguồn vốn huy động được là vốn nợ từ trong dân cư, các tổ chức kinh tế thông qua dịch vụ tiền gửi giao dịch, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội Ngoài ra, NHTM vay NHNN thông qua hình thức tái cấp, tái chiết khấu các thương phiếu, vay vốn các NHTM và các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng, từ việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu trên thị trường vốn, qua hoạt động ủy thác đầu tư, qua thanh toán séc trong chi trả, ký quỹ để mở thư tín dụng L/C…

1.2.3 Nội dung đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 22

Việc sử dụng vốn trong NHTM chính là tạo ra các loại tài sản khác nhau của ngân hàng, trong đó, cho vay đầu tư và đầu tư trực tiếp là hai loại tài sản lớn và quan trọng đối với một NHTM

NHTM cho vay đầu tư chủ yếu qua hình thức cấp tín dụng cho các dự án đầu tư thương mại, đầu tư phát triển (trong các lĩnh vực không bị pháp luật cấm, các lĩnh vực khuyến khích đầu tư như mở rộng sản xuất nông nghiệp, đầu tư chăn nuôi thủy sản…)

NHTM đầu tư trực tiếp qua các kênh đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu động Trong đó, tiền mặt là một trong những tài sản lưu động quan trọng nhất của NHTM Tài sản cố định gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình Quá trình đầu tư vào tài sản hữu hình (TSHH) luôn đi kèm với sự tăng lên về năng suất và sản lượng Tài sản cố định hữu hình với tư cách là kết cấu hạ tầng của sản xuất là điều kiện cần thiết đối với quá trình sản xuất Doanh nghiệp phải có được một cơ sở hạ tầng nhất dịnh mới có thể đầu tư vào tài sản

vô hình (TSVH) một cách có hiệu quả Khi TSHH được quan tâm đầu tư, cơ sở

hạ tầng được cải thiện, nâng cấp, máy móc, trang thiết bị tiên tiến, hiện đại, nguyên vật liệu được chọn lọc, có chất lượng tốt, thì sản phẩm của doanh nghiệp không những tăng về số lượng mà chất lượng cũng cao hơn Nếu như chất lượng của dịch vụ của NHTM cung cấp vượt trội so với những sản phẩm cùng loại khác thì nó sẽ tạo dựng được lòng tin trong lòng khách hàng Chính điều đó đã mang lại cho NHTM cả về lợi ích do thị trường mở rộng ra Như vậy, có thể nói vị thế của sản phẩm không được tính bằng tiền nhưng nó lại có khả năng mang về rất nhiều tiền cho công ty và tạo thế đứng vững chắc trên thị trường đầy sóng gió Đầu tư vào TSHH theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm có tác dụng nâng cao giá trị của các TSVH như uy tín của NHTM, thưong hiệu sản phẩm Khi sản phẩm có chất lượng cao sẽ thu hút được khách hàng Thêm vào đó, một NHTM có cơ sở vật chất kỹ thuật ( trụ sở NHTM, Sở giao dịch, các chi nhánh, các phòng giao dịch, trang thiết bị ) hiện đại cũng sẽ dễ dàng tiếp cận và tạo dựng niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm hơn, uy tín của NHTM được nâng cao

Trang 23

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các NHTM thường hướng vào các yếu

tố sau:

Nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh: Đó là số tiền ngân hàng chi ra để tiến hành các hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Vốn đầu tư bao gồm: các chi phí phục vụ công tác huy động thêm vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cồ phiều, đầu tư cho các khoản mục tài sản nhằm tăng tính thanh khoản; chi phí mua sắm, đổi mới thiết bị công nghệ như nâng cấp hệ thống máy chủ, đường truyền, nâng cấp phần cứng, phần mềm hệ thống ATM, POS; chi phí đầu tư mở rộng các trung tâm nghiên cứu, mở trường lớp đào tạo nguồn nhân lực; chi phí mở rộng mạng lưới, xây dựng các chi nhánh, phòng giao dịch, lắp đặt ATM; chi phí đầu tư cho hoạt động marketing; chi phí nghiên cứu đời sản phẩm dịch vụ mới, đào tạo kỹ năng cung cấp sản phẩm mới…

Đầu tư nâng cao năng lực tài chính qua vốn điều lệ (vốn chủ sở hữu) và quỹ dự trữ

Đầu tư nâng cao năng lực công nghệ, tạo ra các sản phẩm tiện ích, đa dạng để cung cấp cho khách hàng như thẻ ATM (Automatic teller machine), thẻ POS, giao dịch Home Banking, Internet Banking Vì thế, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin là sự quan tâm hàng đầu của NHTM Đến nay, hơn 80% các nghiệp vụ ngân hàng đã được xử lý bằng máy tính và hầu hết được xử

lý trên mạng nội bộ, các giao dịch nghiệp vụ huy động vốn, thanh toán, cho vay, kinh doanh ngoại hối… bước đầu được chuẩn hóa phù hợp điều kiện của mỗi NHTM Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin có thể làm giảm 76% chi phí hoạt động của ngân hàng nhưng đây là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn và cũng là hạn chế đối với hệ thống NHTM ở Việt Nam do quy mô vốn còn nhỏ Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng cộng nghệ của các NHTM ở Việt Nam còn kém so với các ngân hàng nước ngoài Cụ thể, theo ngân hàng thế giới WB, công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng

ở Việt Nam còn kém, chỉ số công nghệ mới là (-0,47), trong khi chỉ số này ở Trung Quốc là (-0,35), của Thái Lan và Indonesia là (-0,07), của Malaysia là 1,08, của Singapore là 1,95 Ở Việt Nam, các NHTM đã thành lập hệ thống thanh toán Smart link giúp cho khách hàng có thể rút tiền linh hoạt tại các điểm

Trang 24

ATM trên toàn hệ thống, tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như chi phí cao khi rút ở các ATM khác thẻ ngân hàng, một số ATM hoạt động yếu, chập điện Từ

đó thấy, tính liên kết trong các ngân hàng về công nghệ còn chưa cao, dẫn đến các dịch vụ ngân hàng còn hạn chế, tiện ích kém hấp dẫn

Đầu tư nâng cao năng lực quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi

ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro nhân sự hay rủi ro quản lý ngân quỹ luôn mang tính sống còn đối với mỗi ngân hàng

Đầu tư nâng cao trình độ nhân lực để đủ khả năng làm chủ công nghệ, quản lý giỏi, thích ứng trong mội trường cạnh tranh quyết liệt

Đầu tư mở rộng nâng cao chất lượng mạng lưới hoạt động: chi nhánh, hình thành các chi nhánh tự động hóa hoàn toàn bằng máy móc, dưới sự điều khiển của các thiết bị điện tử, chi nhánh lưu động, ngân hàng điện tử (e Banking) để thực hiện các giao dịch điện tử như máy thanh toán tại điểm bán hàng (EFTPOS) giúp khách hàng thuận tiện khi mua hàng không cần mang tiền mặt trong túi, máy rút tiền tự động (ATM) hoạt động 24/24 giờ, ngân hàng qua điện thoại (Tel Banking, SMS Banking) Ngân hàng qua mạng internet có thể giao dịch với khách hàng mà không cần đến ngân hàng, có chức năng kiểm tra tài khoản khách hàng, vay, mua hợp đồng bảo hiểm, đầu tư chứng khoán, chuyển ngân, mở L/C, mở thư bảo lãnh…Ngân hàng qua mạng nội bộ (mạng LAN) giúp cho toàn bộ hệ thống của NHTM có được dữ liệu của khách hàng qua hệ thống SYMBOL

Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh qua hệ thống marketing để chiếm lĩnh được thị phần, qua quảng cáo, khuyến mại, hoạt động xã hội

1.2.4 Các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong các NHTM

1.2.4.1 Các tiêu chí đánh giá kết quả đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong các NHTM

- Tài sản cố định: tài sản cố định huy động là công trình, hạng mục công trình, máy móc thiết bị có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã được đưa vào

Trang 25

hoạt động như sở giao dịch, chi nhánh, các phòng giao dịch, ATM đã được lắp đặt và đi vào hoạt động…Tài sản cố định được đưa vào hoạt động làm tăng năng lực cung cấp sản phẩm dịch vụ

- Nguồn vốn chủ sở hữu: một ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn sẽ tạo được niềm tin cho khách hàng, đối tác, cho người lao động và từ đó tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Nguồn vốn chủ sở hữu giúp NHTM đẩy mạnh phát triển mạng lưới, tài trợ cho các khách hàng lớn, đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng

- Vốn chủ sở hữu của NHTM trong các NHTM và tổ chức tín dụng khác

- Lợi nhuận trước thuế

- Lợi nhuận sau thuế

- Cơ cấu dư nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

- Mạng lưới các NHTM

Trang 26

1.2.4.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong các NHTM

- Tỷ lệ an toàn vốn (CAR – Capital Adequacy Ratio)

CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%

Tỉ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu Bằng tỉ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là NH đó đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, ở Việt Nam tỉ lệ này hiện đang là 8%, giống như chuẩn mực Basel mà các hệ thống ngân hàng trên thế giới áp dụng phổ biến Khi tính toán tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, người ta xét đến hai loại vốn: vốn cấp I(vốn nòng cốt) và vốn cấp II(vốn bổ sung), trong đó vốn cấp I được coi là có độ tin cậy và an toàn cao hơn Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR từ 8% trở nên, các ngân hàng còn phải đảm bảo tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn cấp I

- Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA - Return on total assets, hoặc ROAA)

ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp

ROA = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường

Tổng tài sảnROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) Tài sản của một doanh nghiệp được hình

trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành

Trang 27

lợi nhuận được thể hiện qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vì doanh nghiệp,

cụ thể là NHTM, đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn

- Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on common equity, hoặc ROAE) ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường

Vốn cổ phần thườngChỉ số này là thước đo chính xác, đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích

quyết định mua cổ phiếu của công ty nào

Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn

Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ

cụ thể như sau:

+ ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng

+ ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không

- Giá trị hiện tại thuần (NPV: net present value)

Trang 28

Trong đó:

Bi : là khoản thu năm i

Ci : là khoản chi năm i

r: chi phí sử dụng vốn của dự án

NPV >0 => dự án có hiệu quả tài chính

NPV <0 => dự án không có hiệu quả tài chính

- Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR: Interner rate of return)

Hình 1 Mối quan hệ giữa NPV và IRRIRR được xem là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án đầu tư

IRR < r  NPV <0 => dự án không có hiệu quả tài chính

IRR > r NPV >0 => dự án có hiệu quả tài chính

IRR có thể được tính theo nhiều phương pháp như thử dần, vẽ đồ thị, dùng hàm trong máy tính, phương pháp ngoại suy, phương pháp nội suy Trong đó, phương pháp nội suy được sử dụng nhiều nhất

Trang 29

IRR: tỷ suất hoàn vốn nội bộ

r : lãi suất chiết khấu

NPV: giá trị hiện tại thuần

NPV và IRR giúp NHTM thẩm định hiệu quả trong các dự án đầu tư phát triển cho vay

- Lợi nhuận tăng thêm trên đồng vốn đầu tư

IVRR: lợi nhuận tăng thêm trên 1 đồng vốn đầu tư bỏ ra

W: lợi nhuận tăng thêm trong kỳ (thường là 1 năm)

IV: vốn đầu tư phát triển trong kỳ (thường là 1 năm)

Lợi nhuận tăng thếm có thể được tính bằng lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế Chỉ số này cho biết muốn thu về một đồng lợi nhuận phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn đầu tư

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngân hàng

Hành lang pháp lý: Việc huy động vốn và cho vay trong các NHTM được khống chế bởi các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của chính phủ và ngân hàng nhà nước.Về lãi suất, lãi suất trần huy động (kể từ ngày 16/03/2012)

là 13%/năm và theo lộ trình hạ lãi suất huy động để kiềm chế lạm phát của NHNN đến cuối năm 2012, lãi suất huy động có thể đưa về 10%/năm Vốn điều

lệ không dưới 3000 tỷ đối với NHTM NHTM không được cho vay quá 80% vốn huy động NHTM chỉ được huy động trên thị trường 2 tối đa 20% số vốn huy động trên thị trường 1 Chính vì vậy, các NHTM giảm khả năng tạo tiền vì không thể cho vay ra nền kinh tế nhưng cũng không thể làm trái với các quy định của NH Nhà nước vì vi phạm sẽ bị trừng phạt

Yếu tố chính trị: Một Quốc gia ổn định về an ninh quốc phòng và trật tự

an toàn xã hội sẽ có được niềm tin của dân chúng đối với các ngân hàng, lúc đó,

Trang 30

người dân sẽ gửi tiền vào ngân hàng cũng như sử dụng các dịch vụ thanh toán

do ngân hàng cung cấp

Yếu tố kinh tế: Các NHTM đều muốn được huy động với lãi suất thấp và cho vay với lãi suất cao Với nền kinh tế đang rơi vào tình trạng suy thoái như những năm gần đây, lạm phát tăng cao, lãi suất huy động thấp kém hấp dẫn với người gửi, lãi cho vay cao của các NHTM làm cho các doanh nghiệp đắn đo hơn khi huy động vốn cho đầu tư, đặc biệt là đầu tư phát triển (VD: xây dựng nhà xưởng, các công trình phục vụ sản xuất trong công nghiệp)

Yếu tố xã hội: quy mô dân cư, sự phân bố dân cư, trình độ văn hóa, chất lượng cuộc sống ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của ngân hàng Ở tại các thành phố lớn, dân cư đông đúc, trình độ văn hóa cao, chất lượng cuộc sống ổn định, người dân dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng Khả năng nguồn tiền nhàn rỗi nhiều, NHTM dễ huy động vốn đầu tư để cho vay trong các dự án đầu tư của các doanh nghiệp khác hoặc trực tiếp đầu tư để nâng cao chất lượng dịch vụ của chính NHTM đó

Yếu tố tâm lý thói quen người tiêu dùng như lo sợ sự mất giá của đồng nội tệ (Vietnamdong: VND), ưa thích ngoại tệ (đô la) và vàng, yếu tố an toàn (khi người gửi tiền sợ mất tiền gửi trong ngân hàng), lo ngại mất thời gian phải đến ngân hàng của người dân vì thủ tục rườm rà… sẽ làm cho việc huy động vốn của NHTM trở nên khó khăn hơn, làm cho việc sử dụng vốn huy động cho đầu tư phát triển hạn chế nhiều

Yếu tố vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng đối với NHTM vì NHTM là một chủ thể kinh tế đặc biệt, chịu sự quản lý của cơ quan chức năng đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước Hầu hết mọi hoạt động quan trọng của ngân hàng như giới hạng cho vay, mở rộng quy mô, khai trương thêm điểm giao dịch mới đều phụ thược vào quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng Thông thường, vốn chủ sở hữu cao, vốn đầu tư pháp triển lớn và kết quả là nguồn doanh thu và lợi nhuận lớn Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vốn đầu tư phát triển còn phụ thuộc vào yếu tố con người và thị trường…

Yếu tố nguồn nhân lực: Hoạt động đầu tư của một ngân hàng có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người, bao gồm trình độ quản lý,

Trang 31

trình độ đội ngũ nhân viên Đội ngũ quản lý là những người hoạch định chiến lược đầu tư cho ngân hàng, là người ra quyết định và chịu trách nhiệm về định hướng phát triển và những vấn đề quan trọng trong ngân hàng Định hướng đầu

tư phát triển đúng sẽ dẫn đến hiệu quả đầu tư cao và ngược lại, muốn làm được điều này ngân hàng phải có đội ngũ cán bộ quản lý giỏi Đội ngũ nhân viên là nguồn nhân lực ưu tú giúp đỡ công việc cho cán bộ quản lý, là những người làm việc trực tiếp Một đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao sẽ đảm bảo thực thi đúng đắn những đường lối ban lãnh đạo đưa ra

Yếu tố thẩm định dự án đầu tư trong ngân hàng: Thẩm định là một khâu trọng yếu trong việc quyết định có nên cho vay hay đầu tư vào một dự án hay không Việc ra quyết định chính xác giúp cho việc sử dụng vốn huy động của NHTM hiệu quả, dự án đầu tư có vốn thực hiện, giúp nâng cao hiệu quả đầu tư Ngược lại, nếu thẩm định sai, dự án có thể được vay vốn mà NHTM không cho vay sẽ gây ra hậu quả tồn đọng vốn trong ngân hàng, gây ra hiện tượng vốn chết, các dự án không đủ vốn thực hiện Hoặc trong trường hợp NHTM thẩm định sai và cho vay vốn đối với dự án có rủi ro tín dụng cao sẽ gây ra thiệt hại

về tài chính lớn đối với ngân hàng Ví dụ: vụ án Minh Phụng – EPCO đã làm 6 ngân hàng trong đó có Vietcombank thiệt hại tổng cộng 6000 tỷ đồng và 35 triệu đô khi các ngân hàng này đã cho doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn vào bất động sản gây thua lỗ nặng nề Hay như việc thẩm định cho vay vốn đối với các dự án do tập đoàn Vinashin làm chủ đầu tư sai đã làm cho thiệt hại nhiều về tài chính đối với các NHTM

Chương II Tình hình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng

TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)

2.1 Giới thiệu khái quát về Vietcombank

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển, bộ máy tổ chức

Trang 32

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/4/1963, với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức hoạt động với tư cách là một Ngân hàng TMCP vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM.

Hình 2 Hội sở Vietcombank đặt tại 198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Trải qua 48 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu

Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động

Trang 33

vốn, tín dụng, tài trợ dự án…cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanh ngoại tệ và các công vụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…

Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có lợi thế rõ nét trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng, phát triển các sản phẩm, dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao Các dịch vụ: VCB Internet Banking, VCB Money, SMS Banking, VCB Cyber Bill Payment,…đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, dần tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) cho khách hàng

Sau gần nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, Vietcombank hiện có khoảng 11.500 cán bộ nhân viên, với gần 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 74 chi nhánh và gần 300 phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con tại nước ngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 4 công ty liên doanh, 2 công ty liên kết Bên cạnh đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với khoảng 16.300 máy ATM và điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được

hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý tại 100 quốc gia và vùng lãnh thổ

Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…Vietcombank luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của hơn 5,2 triệu khách hàng cá nhân trong và ngoài nước Vietcombank

đã, đang và sẽ luôn nỗ lực, xứng đáng với vị thế là “Ngân hàng hàng đầu vì Việt Nam thịnh vượng”

Bảng 1: Các cột mốc phát triển của Vietcombank

1962 Ngày 30/10/1962, Ngân hàng Ngoại Thương (NHNT - Vietcombank) được

thành lập theo Quyết định số 115/CP của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở tách ra

Trang 34

từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương (nay là NHNN)

1963 Ngày 01/04/1963, chính thức khai trương hoạt động NHNT như là một ngân

hàng đối ngoại độc quyền

1978 Thành lập Công ty Tài chính ở Hồng Kông – Vinafico Hong Kong

1990 Ngày 14/11/1990, NHNT chính thức chuyển từ một ngân hàng chuyên doanh,

độc quyền trong hoạt động kinh tế đối ngoại sang một NHTM nhà nước hoạt động đa năng theo Quyết định số 403-CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

1993 NHNT được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Hai.

NHNT thành lập ngân hàng liên doanh với đối tác Hàn Quốc - First Vina Bank, nay là ShinhanVina Bank

1994 Thành lập Công ty Thuê mua và Đầu tư trực thuộc NHNT (Công ty Quản lý Nợ

và Khai thác Tài sản)

1995 NHNT được Tạp chí Asia Money – Tạp chí Tiền tệ uy tín của Châu Á - bình

chọn là Ngân hàng hạng nhất tại Việt Nam

1996 Ngày 21/09/1996, Thống đốc NHNN ra Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc

thành lập lại NHNT trên cơ sở Quyết định số 68/QĐ-NH5 ngày 27 tháng 3 năm

1993 của Thống đốc NHNN Theo đó, NHNT được hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, 91 quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ với tên giao dịch quốc tế: Bank for Foreign Trade of Viet Nam, tên viết tắt là Vietcombank

Thành lập VPĐD tại Paris (Pháp) và tại Moscow (Cộng hòa Liên bang Nga)Khai trương Công ty liên doanh Vietcombank Tower 198 với đối tác Singapore

2003 Vietcombank được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Được tạp chí EUROMONEY bình chọn là ngân hàng tốt nhất tại Việt Nam

Trang 35

Sản phẩm thẻ Connect 24 của Vietcombank là sản phẩm ngân hàng duy nhất được trao giải thưởng "Sao vàng Đất Việt".

2004 Vietcombank được tạp chí The Banker bình chọn là "Ngân hàng tốt nhất

Việt Nam" năm thứ 5 liên tiếp

2005 Vietcombank là ngân hàng duy nhất được trao giải thưởng Sao Khuê (Giải

thưởng do Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) tổ chức dưới

sự bảo trợ của Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin và Bộ Bưu chính Viễn thông

Vietcombank chi nhánh Đồng Nai vinh dự là chi nhánh đầu tiên của hệ thống NHNT được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý "Anh hùng lao động" vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới từ năm 1995-

2004, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.Góp vốn thành lập Công ty liên doanh quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán – VCBF

2006 Tổng Giám đốc Vietcombank nhận giải thưởng "Nhà lãnh đạo ngân hàng châu

2007 Tháng 1/2007, Vietcombank và NHTMCP Sea Bank ký kết Hợp đồng với đối

tác Cardif thành lập Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Vietcombank – Cardif (VCLI)

Vietcom,bank được bầu chọn là "Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoại hối cho doanh nghiệp tốt nhất năm 2007" do tạp chí Asia Money bình chọn

2008 01/2008, Vietcombank được trao Giải thưởng Ngôi sao kinh doanh năm 2007

và là 1 trong 10 doanh nghiệp tiêu biểu lớn nhất VN

4/2008, Vietcombank là đơn vị duy nhất thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng

Trang 36

được lựa chọn tham gia chương trình Thương hiệu Quốc gia

02/6/2008, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức chuyển đổi thành Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam theo Giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN số 138/GP – NHNN ngày 23/5/2008 của Thống đốc NHNN VN và Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần số 0103024468 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.Hà Nội cấp ngày 02/6/2008

07/2008, Vietcombank nhận danh hiệu Ngân hàng trong nước tốt nhất tại Việt Nam năm 2008 Đây là Giải thưởng thường niên được bình chọn bởi Asiamoney và năm 2008 là năm đầu tiên Việt Nam được tạp chí đưa vào danh sách bình chọn với 01 giải thưởng duy nhất cho danh hiệu này

8/2008, Vietcombank nhận giải thưởng “Ngân hàng Quản lý tiền mặt tốt nhất tại Việt Nam năm 2008” do các doanh nghiệp bình chọn thông qua tạp chí Asiamoney

10/2008, ông Nguyễn Phước Thanh - Tổng Giám đốc Vietcombank - được trao tặng Danh hiệu Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2008 và Giải thưởng Nhà lãnh đạo xuất sắc trong lĩnh vực bán lẻ năm 2008

10/2008, Vietcombank được trao tặng Giải thưởng – Cúp vàng “Công ty cổ phần hàng đầu Việt Nam”

12/2008, Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam theo Quyết định số 1697/QĐ-TTg vì đã có thành tích trong việc thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất, xuất khẩu, đảm bảo an sinh xã hội

2009 11/06/2009, chính thức khai trương hoạt động công ty TNHH Bảo hiểm Nhân

thọ Vietcombank – Cardif

30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán TPHCM

7/2009, Vietcombank đạt Giải thưởng Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam

về Tài trợ thương mại năm 2009 do độc giả tạp chí Trade Finance Magazine (TFM) bình chọn Vietcombank là ngân hàng duy nhất tại Việt Nam lần thứ hai liên tiếp nhận giải thưởng này

Trang 37

9/2009, Vietcombank được tạp chí Asiamoney trao 06 giải thưởng quan trọng trên các lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ, quản lý tiền mặt và giao dịch điện tử.10/2009, ông Nguyễn Hoà Bình - Chủ tịch HĐQT Vietcombank - nhận danh hiệu Doanh nhân việt Nam tiêu biểu năm 2009.

10/2009, Vietcombank đạt Giải thưởng “Thương hiệu Chứng khoán uy tín 2009” và “Top 20 Doanh nghiệp niêm yết hàng đầu Việt Nam”

10/2009, Vietcombank nhận giải thưởng Thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ tiêu biểu Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Lễ tôn vinh Doanh nghiệp và thành viên tiêu biểu trên Sở giao dịch Chứng kháon hà Nội (HNX) năm 2009 do HNX và báo Đầu tư tổ chức

11/2009, Vietcombank là đơn vị đồng tổ chức Hội nghị thường niên các nhà lãnh đạo tài chính khu vực châu Á

2010 01/2010, Vietcombank nhận Giải thưởng “Thương hiệu Kinh tế đối ngoại uy tín

năm 2009” và ông Nguyễn Hoà Bình - Chủ tịch HĐQT Vietcombank - được trao giải thưởng “Nhà hoạt động kinh tế đối ngoại tiêu biểu năm 2009”

4/2010, Vietcombank lần thứ 2 liên tiếp được lựa chọn tham gia chương trình Thương hiệu Quốc gia

7/2010, Vietcombank nhận giải thưởng “Ngân hàng nội địa cung cấp cung cấp dịch vụ tài trợ thương mại tốt nhất Việt Nam năm 2010” do tạp chí Trade Finance trao tặng Đây là năm thứ 3 liên tiếp, Vietcombank (đại diện duy nhất của Việt Nam) nhận được giải thưởng này

29/7/2010, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã có quyết định số CTN tặng thưởng Huân chương Lao động cho nhiều tập thể và cá nhân Vietcombank

1148/QĐ-8/2010, Vietcombank được trao danh hiệu “Thương hiệu bền vững toàn quốc”9/2010, Vietcombank nhận danh hiệu “Thương hiệu Chứng khoán uy tín”.10/2010, bà Nguyễn Thị Tâm - Uỷ viên HĐQT, nguyên Phó Tổng Giám đốc

và bà Nguyễn Thu Hà – Phó Tổng Giám đốc Vietcombank được trao tặng giải thưởng “Bông hồng vàng thủ đô”

10/2010, Vietcombank là 1 trong 4 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam và cũng là ngân hàng nộp thuế lớn nhất Việt Nam

Trang 38

thuộc khối tài chính, ngân hàng

7/4/2011, Vietcombank được The Asian Banker - Tạp chí hàng đầu thế giới về cung cấp thông tin chiến lược trong lĩnh vực dịch vụ tài chính - trao tặng giải thưởng “Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam trong lĩnh vực tài trợ thương mại năm 2011” (The Best Domestic Trade Finance Bank, VietNam) và giải thưởng

“Phát triển tài năng và lãnh đạo” (The Asian Banker Talent and Leadership Development Award) Ông Phạm Quang Dũng – Phó Tổng giám đốc Vietcombank - cũng đã vinh dự nhận giải thưởng “Nhà Lãnh đạo Ngân hàng trẻ

và triển vọng năm 2011” khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (The Asian Banker Promising Young Banker Award, 2011)

10/4/2011, Vietcombank được trao biểu trưng Top Ten “Thương hiệu mạnh Việt Nam 2011” Đây là năm thứ 9 liên tiếp Vietcombank nhận danh hiệu này

Ngày 30/9/2011, Vietcombank đã ký kết thành công thoả thuận hợp tác chiến lược với Ngân hàng TNHH Mizuho (MHCB) - một thành viên của Tập đoàn tài chính Mizuho (Nhật Bản) – thông qua việc bán cho đối tác 15% vốn cổ phần

Trang 39

Hình 3 Sơ đồ tổ chức của Vietcombank (số chi nhánh tính đến cuối năm 2009)

Trang 40

2.1.2 Tầm nhìn chiến lược và kế hoạch phát triển

Xây dựng NHTMCP NTVN thành Tập đoàn đầu tư tài chính ngân hàng

đa năng trên cơ sở áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất, duy trì vai trò chủ đào tạo tại Việt Nam và trở thành một trong 70 định chế tài chính hàng đầu Châu Á vào năm 2015 – 2020, có phạm vi hoạt động quốc tế

NHTMCP NTVN xác định chiến lược phát triển tập trung vào các nội dung:

• Tiếp tục đổi mới và hiện đại hóa toàn diện mọi mặt hoạt động - bắt kịp với trình độ khu vực và thế giới

• Tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế sẵn có của NHNT cũng như của các cổ đông mới – phát triển, mở rộng lĩnh vực hoạt động một cách hiệu quả theo

cả chiều rộng và chiều sâu

Kế hoạch phát triển: Năm 2012, Vietcombank nhận định là năm nền kinh

tế phải tạo bước ngoặt để xoay chuyển ổn định tình hình, củng cố nội lực, tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn 2011 – 2020 Năm 2012 cũng là năm Việt Nam tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế trong đó một trong ba trọng tâm là tái cấu trúc

Với định hướng hoạt động nêu trên, năm 2012, Vietcombank đặt mục tiêu kiểm soát mức tăng từ 15 – 17% đối với dư nợ cho vay khách hàng và phấn đấu đạt mức tăng từ 18 - 20% chỉ tiêu huy động vốn từ nền kinh tế, lợi nhuận trước thuế phấn đấu đạt 6.500 tỷ đồng, ROE đạt mức 15% và ROA đạt 1,22%,

nợ xấu kiểm soát dưới mức 2,8%

Ngày đăng: 10/11/2015, 21:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mối quan hệ giữa NPV và IRR IRR được xem là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án  đầu tư. - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Hình 1. Mối quan hệ giữa NPV và IRR IRR được xem là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án đầu tư (Trang 28)
Hình 2. Hội sở Vietcombank đặt tại 198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Hình 2. Hội sở Vietcombank đặt tại 198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội (Trang 32)
Hình 3. Sơ đồ tổ chức của Vietcombank. (số chi nhánh tính đến cuối năm 2009) - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Hình 3. Sơ đồ tổ chức của Vietcombank. (số chi nhánh tính đến cuối năm 2009) (Trang 39)
Bảng 2. Đánh giá so sánh năng lực của các đối thủ cạnh tranh - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Bảng 2. Đánh giá so sánh năng lực của các đối thủ cạnh tranh (Trang 50)
Hình 5. Chuỗi giá trị của Vietcombank - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Hình 5. Chuỗi giá trị của Vietcombank (Trang 54)
Bảng 3. Cơ cấu dư nợ năm 2010 và 2011 tại Vietcombank - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Bảng 3. Cơ cấu dư nợ năm 2010 và 2011 tại Vietcombank (Trang 56)
Bảng 4. CAR của một số ngân hàng giai đoạn (2005- 2008) (Đơn vị tính : %) - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Bảng 4. CAR của một số ngân hàng giai đoạn (2005- 2008) (Đơn vị tính : %) (Trang 60)
Bảng 5. Xếp hạng chỉ tiêu một số ngân hàng tại châu Á - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Bảng 5. Xếp hạng chỉ tiêu một số ngân hàng tại châu Á (Trang 69)
Bảng 6. Chỉ tiêu kế hoạch năm 2012 của Vietcombank - ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI VIỆTCOMBANK
Bảng 6. Chỉ tiêu kế hoạch năm 2012 của Vietcombank (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w