Tính cấp thiết của đề tàiTTCK là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằmhuy động những nguồn vốn tiết kiệm trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớntài trợ cho
Trang 1CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM
Trang 2CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM
NĂM 2012”
Tên công trình: Thực trạng và vấn đề tái cấu trúc Thị trường chứng khoán
Việt Nam
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Xã hội và Nhân văn
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Phương Thảo (Nữ)Lớp: Kinh tế Đầu tư 52A Năm thứ 2
Giáo viên hướng dẫn: Tiến Sĩ Trần Mai Hương
Hà Nội, 2012
Trang 3Bảng 1: Cách thức hoạt động của 2 SGDCK 10
Bảng 2: Quy mô TTCK giai đoạn 2000 - 2005 12
Bảng 3: Quy mô TTCK giai đoạn 2010 - 2011 34
Bảng 4: Tình hình hoạt động 1 số CTCK giai đoạn 2007 - 2010 36
Bảng 5: Đầu tư của các ngân hàng vào công ty khác 58
Biểu đồ 1: Chỉ số VNIndex năm 2006 21
Biểu đồ 2: Chỉ số VNIndex 2007 26
Biều đồ 3: Chỉ số VNIndex 2008 30
Biểu đồ 4:Xu hướng biến động VNIndex giai đoạn 2010 - 2012 34
Biểu đồ 5: Biểu đồ thể hiện lỗ, lãi 37
Biểu đồ 6: Biểu đồ độ sâu tài chính 46
Biểu đồ 7: Số lượng công ty niêm yết, CTCK, số lượng tài khoản của nhà đầu tư 47
Biểu đồ 8: TTCK Việt Nam: vốn hóa và mức huy động vốn qua TTCK hàng năm 48
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài
TTCK là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằmhuy động những nguồn vốn tiết kiệm trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớntài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sảnxuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư Vì vậy chứng khoán luôn làđiểm nóng được các nhà đầu tư quan tâm TTCKVN chính thức đi vào hoạtđộng vào năm 2000 với việc vận hành SGDCK TP.HCM vào ngày 20/7/2000 vàSGDCK HN vào ngày 8/3/2005 (trước đó các SGDCK hoạt động với mô hình làcác TTGDCK và tổ chức dưới hình thức đơn vị sự nghiệp có thu thuộcUBCKNN)
Trong 11 năm hoạt động, TTCK VN đã huy động được 400.000 tỷ đồng, khaithác được rất nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào Việt Nam Từ đó,giúp tận dụng được nguồn tiền nhàn rỗi, tạo đà cho các doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả Tuy nhiên, trong 2-3 năm trở lại đây, thị trường đang có nhữngdấu hiệu mất cân bằng một cách rõ ràng Các chỉ số liên tục tìm đáy mới, niềmtin nhà đầu tư giảm sút, dòng tiền đổ vào cũng ngày càng cạn kiệt, giá trị cổphiếu suy giảm nghiêm trọng TTCKVN, theo như các quỹ đầu tư nước ngoàiđánh giá là một trong những thị trường tệ nhất thế giới
Ai cũng có thể thấy, bức tranh "màu xám" của TTCK thời gian qua là hậu quảcủa một chuỗi các tác động từ sự suy thoái của kinh tế vĩ mô, sự mất niềm tincủa nhà đầu tư, mà nguyên do chủ yếu là từ chất lượng hàng hoá và dịch vụ, sựminh bạch thông tin trên thị trường ở mức thấp; cũng như vai trò của các thành
Trang 6được phát huy một cách đúng đắn
Điều này gióng lên hồi chuông báo động về việc cần thiết phải có một cuộc thayđổi triệt để từ gốc rễ TTCKVN, vấn đề tái cấu trúc trở nên cần thiết và cấpbách Tái cấu trúc thị trường chứng khoán là một hướng đi mà các thị trường tàichính quốc tế đã từng trải qua sau mỗi chu kỳ hưng thịnh, suy thoái Đặc biệttrong giai đoạn hiện nay, thị trường tài chính quốc tế đã có sự biến đổi nhanhtrong cấu trúc thị trường cũng như hoạt động nghiệp vụ đòi hỏi TTCKVN cầnphải có bước đi thích hợp Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Đánh giá thực trạng vàvấn đề tái cấu trúc Thị trường chứng khoán Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứukhoa học
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu gồm các mục đích cơ bản
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề cơ bản về TTCK và cơ sở để tái cấu trúc TTCK Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng TTCK VN và làm rõ nhận yêu cầu và
tính cấp thiết của việc tái cấu trúc
Thứ ba, đề xuất những giải pháp trên cơ sở tái cấu trúc và phát triển TTCK VN
bền vững
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: TTCK Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động của TTCK VN từ 2000 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu khoa học sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, phântích logic, kết hợp giữ lý luận và tình hình thực tế; đồng thời sử dụng phương
Trang 7báo cáo tổng kết đưa ra các nhận định và giải pháp
5 Kết cấu đề tài:
Chương 1: Tổng quan về TTCK Việt Nam
Chương 2: Thực trạng TTCK Việt Nam và yêu cầu tái cấu trúc
Chương 3: Tái cấu trúc TTCK
Trang 9Chương 1: Tổng quan về TTCK và vấn đề tái cấu trúc TTCK
1.1 Thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái niệm
Chứng khoán là những giấy tờ có gía và có khả năng chuyển nhượng, xác định
số vốn đầu tư; chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợppháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó
1.1.2 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích vốn trong xã hội tăng lên, đadạng và phong phú; người thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư, ngườithì có vốn nhàn rỗi muốn cho vay để sinh lời Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trựctiếp trên cơ sở quen biết tuy nhiên sau đó, khi cung cầu vốn không ngừng tănglên thì hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ quen biết không đápứng được; Vậy cần phải có một thị trường cho cung và cầu gặp nhau, đáp ứngcác nhu cầu tài chính của nhau – Đó là TTTC Thông qua TTTC, nhiều khoảnvốn nhàn rỗi được huy động vào tiêu dùng, đầu tư, tạo đòn bẩy cho phát triểnkinh tế
Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra sơ khai ở ngoài trời với những
ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng Ở Mỹ năm
1921, khu chợ này được chuyển từ ngoài trời vào trong nhà, SGDCK chính thứcđược thành lập
Ngày nay, theo sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật, các phương thứcgiao dịch ở các SGDCK cũng được cải tiến dần theo tốc độ và khối lượng yêucầu nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch, các SGDCK đã dần dần
sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyền dần từ giao dịch thủcông kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tửthay cho thủ công trước kia
Lịch sử phát triển các TTCK thế giới trải qua một sự phát triển thăng trầm lúclên, lúc xuống, vào những năm 1875-1913, TTCK thế giới phát triển huy hoàngcùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới lúc đó, nhưng rồi đến "ngày thứnăm đen tối " tức ngày 29/10/1929 đã làm cho TTCK Tây, Bắc Âu và Nhật bản
Trang 10khủng hoảng Khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, TTCK hồi phục dần vàphát triển mạnh Đến năm 1987 một lần nữa TTCK thế giới điên đảo với "ngàythứ hai đen tối" do hệ thống thanh toán kém cỏi không đảm đương được yêu cầucủa giao dịch, sụt giá chứng khoán mạnh làm mất lòng tin và phản ứng dâychuyền mà hậu quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929 Theoquy luật tự nhiên, sau gần hai năm, TTCK Thế giới lại đi vào giai đoạn ổn định
và phát triển đến ngày nay Cứ mỗi lần khủng hoảng như vậy, giá chứng khoáncủa tất cả các TTCK trên Thế giới sụt kinh khủng ở mỗi khu vực và mỗi nước ởnhững mức độ khác nhau gây ra sự ngừng trệ cho TTCK toàn cầu và cũng ảnhhưởng trực tiếp tới nền kinh tế mỗi nước
Cho đến nay, phần lớn các nước trên Thế giới đã có khoảng trên 160 SGDCKphân tán khắp các châu lục bao gồm cả các nước trong khu vực Đông nam Áphát triển vào những năm 1960 -1970 vào ở các nước ở Đông Âu như Balan,Hunggari, Séc, Nga, và Châu Á như Trung quốc vào những năm 1980 - đầu năm1990
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK trên Thế giới cho thấy thời gian đầu,thị trường hình thành một cách tự phát, đối tượng tham gia chủ yếu là các nhàđầu cơ, dần dần về sau mới có sự tham gia ngày càng đông đảo của công chúng.Khi thị trường bắt đầu xuất hiện dấu hiệu trục trặc và bất ổn, chính phủ buộcphải can thiệp bằng cách thành lập các cơ quan quản lý nhằm bảo vệ quyền lợicủa công chúng đầu tư và sau đó dần dần hệ thống pháp lý cũng bắt đầu đượcban hành Kinh nghiệm đối với những thị trường mới hình thành về sau này chothấy thị trường sau khi thiết lập chỉ có thể hoạt động có hiệu quả, ổn định vànhanh chóng nếu có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt về hàng hoá, luật pháp, conngười, bộ máy quản lý và đặc biệt sự giám sát và quản lý nghiêm ngặt của Nhànước
Song cũng có một số TTCK có sự trục trặc ngay từ ban đầu như TTCK TháiLan, Inđônêsia, hoạt động trì trệ một thời gian dài do thiếu hàng hoá và dokhông được quan tâm đúng mức, TTCK Philippine kém hiệu quả do thiếu sự chỉđạo và quản lý thống nhất hoạt động của 2 Sở giao dịch chứng khoán Makita vàManila, TTCK Balan, Hungari gặp trục trặc do việc chỉ đạo giá cả quá cao hoặcquá thấp
TTCK là một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của
Trang 11những nước theo cơ chế thị trường và nhất là những nước đang phát triển đangcần thu hút luồng vốn lớn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân.
1.1.3 Đặc điểm
Tính thanh khoản (tính lỏng): Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển tài sản
đó thành tiền mặt Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian
và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảm sút giá trị của tàisản đó do chuyển đổi Chứng khoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản khác,thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên thị trường và nói chung, cácchứng khoán khác nhau có khả năng chuyển nhượng là khác nhau
Tính rủi ro: Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động
lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống Rủi ro có
hệ thống hay rủi ro thị trường là loại rủi ro tác động tới toàn bộ hoặc hầu hết cáctài sản Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung như: lạmphát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất v.v Rủi ro không hệ thống là loại rủi rochỉ tác động đến một tài sản hoặc một nhóm nhỏ tài sản Loại rủi ro này thườngliên quan tới điều kiện của nhà phát hành
Tính sinh lợi: Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư
mong muốn nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai Thu nhập nàyđược bảo đảm bằng lợi tức được phân chia hằng năm việc tăng giá chứng khoántrên thị trường
1.1.4 Chức năng cơ bản của TTCK
Thứ nhất, TTCK là công cụ quan trọng trong việc huy động vốn trung và dài
hạn
Với chi phí thấp, khả năng chủ động trong việc lựa chọn đối tượng, lượng vốncần thiết cũng như hình thức huy động vốn, TTCK có vai trò rất lớn trong việctrợ giúp cho các doanh nghiệp thu hút, huy động vốn cho hoạt động sản xuất –kinh doanh một cách dễ dàng Nếu như trước đây các tổ chức tín dụng là chỗdựa tiềm tàng về vốn cho các doanh nghiệp, từ nguồn vốn nhỏ nhất trong thời
Trang 12gian dài nhất theo nhu cầu, thì đến nay khi nền kinh tế phát triển, TTCK đã mở
ra cơ hội huy động vốn mới cho các doanh nghiệp
Không chỉ đóng vai trò là công cụ huy động vốn, TTCK còn là môi trường đầu
tư thuận lợi của công chúng TTCK là môi trường đầu tư lành mạnh với cơ hộilựa chọn phong phú Những nguồn tiền tiết kiệm của dân cư được sử dụng vớihiệu suất cao nhất thông qua việc lựa chọn các loại chứng khoán với mức độ antoàn và linh hoạt khác nhau khiến cho các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình thứcđầu tư phù hợp với khả năng và sở thích của mình Có thể nói, TTCK là mộttrong những cơ sở đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của nền kinh tế một cáchtổng hợp (kể cả giá trị hữu hình và giá trị vô hình) thông qua các chỉ số giáchứng khoán trên thị trường là kết quả của quá trình cạnh tranh, đảm bảo chohiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp nói riêng và của cá nhân nền kinh tế nóichung đạt hiệu quả cao nhất
Thứ hai, TTCK là công cụ thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc gia và các
chính sách vĩ mô khác
TTCK phản ánh các giá cả chứng khoán của các doanh nghiệp và các ngànhkinh tế Mức độ giao động giá chứng khoán cho thấy dấu hiệu tiêu cực Chính vìvậy, có thể nói rằng TTCK là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụhữu hiệu để Chính phủ điều hành việc thực hiện các chính sách vĩ mô Thôngqua TTCK, Chính phủ thực hiện “cân đối lại” ngân sách nhà nước bằng việcphát hành các loại trái phiếu Chính phủ Đây chính là nội dung quan trọng nhằmthực hiện chính sách tài chính quốc gia Việc thực hiện tốt chính sách tài chínhquốc gia tạo căn cứ chắc chắn cho việc ổn định giá trị đồng tiền, là nội dung cơbản và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia Chính vì thế, TTCK tạomôi trường thuận lợi cho Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Thứ ba, TTCK đóng vai trò tạo khả năng thanh khoản cho các chứng khoán
Trang 13Nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán của họ thành tiền mặt hoặc các loạichứng khoán mà họ mong muốn khác tại thị trường Chính tính thanh khoản củachứng khoán giúp cho thị trường sôi động, đồng thời cũng là một trong nhữngyếu tố quyết định mức hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Vì vậy,bản thân tính thanh khoản và hoạt động của thị trường có mối quan hệ nội tại,bảo đảm cho TTCK hoạt động an toàn, hiệu quả.
Bất kỳ quốc gia nào có TTCK đều phải tính toán sự ảnh hưởng của đầu tư nướcngoài đối với nền kinh tế trong nước Có thể nói, TTCK thu hút đầu tư nướcngoài với độ nhậy lớn Đối với những hình thức đầu tư tài chính thông qua thịtrường có vai trò quan trọng đối với quốc gia đang phát triển Vì vậy, nếu thịtrường có tính ổn định, môi trường đầu tư thuận lợi, cơ hội nhận vốn đầu tưnước ngoài sẽ lớn hơn Điều này lại được phản ánh trong tính thanh khoản củachứng khoán và những giới hạn đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư nướcngoài (kể cả nhà đầu tư có tổ chức và đầu tư cá thể) Đối với việc thu hút đầu tưtrực tiếp cũng tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệp chứngkhoán trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ tư, TTCK có mối quan hệ mật thiết với quá trình cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã tạo điều kiện hết sức quantrọng thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường sơ cấp cũng như hình thành thịtrường thứ cấp ở Việt Nam Việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp được
cổ phần hoá làm sôi động hơn thị trường phát hành, chuyển hoá phần vốn tiếtkiệm trong dân chúng thành vốn kinh doanh Việc niêm yết cổ phiếu trên thịtrường tập trung làm tăng thêm và sôi động thêm lượng hàng hoá tại thị trườngthứ cấp Thực tế cho thấy, các cổ phiếu niêm yết tại thị trường tập trung hiệnnay đều là cổ phiếu của các công ty cổ phần hình thành từ con đường cổ phầnhoá Ngược lại, TTCK cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình cổ phần hoá
Trang 14doanh nghiệp nhà nước, từ giai đoạn cổ phần hoá đến giai đoạn niêm yết chứngkhoán và khi có nhu cầu phát hành chứng khoán để tăng vốn doanh nghiệp
Thứ năm, phân tích các yếu tố tác động qua lại của TTCK trong thị trường tài
chính
Hệ thống pháp luật phản ánh chính sách tiền tệ quốc gia, gây ảnh hưởng trựctiếp đến cơ cấu tiền của toàn xã hội Chính sách lãi suất của Chính phủ làm thayđổi cơ cấu tiền trong lưu thông, làm ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền và mức
độ giao dịch của các nhà đầu tư trên TTCK Lãi suất cơ bản của ngân hàng trungương (Ngân hàng Nhà nước đối với Việt Nam) có ảnh hưởng trực tiếp đến lãisuất thị trường tín dụng (bao gồm cả lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất táichiết khấu), đồng thời, kích ứng mức độ sôi động TTCK (thông qua biến độngcác chỉ số giá chứng khoán) Những biến động về lãi suất như vậy sẽ ảnh hưởngtới nguồn cung cấp vốn cho các nhà kinh doanh trong mở rộng đầu tư và hìnhthành vốn, làm cho nguồn vốn được đưa vào đầu tư có chi phí thấp nhất, các bộphận thị trường tài chính có mức độ tự cạnh tranh cao nhất Ngoài ra, thị trườngngoại hối cũng như cán cân thương mại cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giao dịchtrên TTCK Đối với đồng nội tệ có sức mua ổn định, chỉ số giá chứng khoán cómức độ cân bằng tương đối so với thị trường nước ngoài sẽ không xảy ra tìnhtrạng luồng tiền được chuyển ra đầu tư nước khác Sức mua đối ngoại của đồngtiền ổn định cũng tạo cho nhà đầu tư chứng khoán an tâm, không có sự chuyểndịch đầu tư từ bộ phận thị trường này sang bộ phận thị trường khác, xa lánhTTCK (chẳng hạn từ thị trường chứng skhoán chuyển sang thị trường ngoại hối,thị trường bất động sản…) Những yếu tố kinh tế như tốc độ tăng trưởng, chínhsách đầu tư của Nhà nước, thay đổi cơ cấu tổ chức hoặc người đứng đầu bộ máynhà nước, tác động của các tổ chức tiền tệ quốc tế đều có thể làm biến độngTTCK Từ những phân tích trên, điều dễ nhận thấy là TTCK rất nhạy cảm vớicác yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội; việc ổn định và phát triển các yếu tố đóchính là cơ sở quan trọng để TTCK ổn định và phát triển
Trang 15- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu,chứng chỉ thụ hưởng, phục vụ cho hoạt động của họ
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính
Các tổ chức có liên quan đến TTCK
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch chứng khoán
Trang 16- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
1.1.6 Cấu trúc và phân loại cơ bản của TTCK
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
TTCK được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thức cấp
Thị trường sơ cấp: Là thị trường phát hành các chứng khoán hay là nơi mua bán
các chứng khoán lần đầu tiên Tại thị trường này, giá cả của chứng khoán là giáphát hành Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn chonhà phát hành
Thị trường thứ cấp: Là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng
khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay dichuyển tài sản xã hội
Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán): Người mua và người bán gặp
nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch, mua bán, trao đổi chứngkhoán
Thị trường phi tập chung (OTC): Là thị trường của các nhà buôn, những người
tạo ra thị trường Ở thị trường này không có địa điểm giao dịch chính thức mà
có thể diễn ra tại tất cả các quầy, sàn giao dịch của các thành viên thông quađiện thoại hay mạng máy tính diện rộng Khối lượng giao dịch của thị trườngnày lớn hơn rất nhiều lần so với thị trường Sở giao dịch
Trang 17Căn cứ phân loại theo hàng hóa
TTCK có thể phân thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trườngcác công cụ dẫn suất
Thị trường trái phiếu: Là thị trường mà hàng hóa được bán là trái phiếu
Thị trường cổ phiếu: Khác với thị trường nợ (thị trường trái phiếu), thị trường
cổ phiếu là nhơi giao dịch, mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đónggóp của cổ đông
Thị trường công cụ dẫn suất: Là nơi các chứng khoán phái sinh được mua và
bán
1.2 Tái cấu trúc TTCK
Trong quá trình hình thành và phát triển TTCK còn nhiều bất cập, hạn chế chưaphù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế Những hạn chế này được biểuhiện qua một số mặt sau: số lượng các công ty chứng khoán không cân xứng vớithị trường; năng lực tài chính và quy mô hoạt động còn hạn hẹp; chỉ số an toàntài chính giảm rủi ro cao; nguồn nhân lực, cở sở vật chất kém; vì vậy phải táicấu trúc để khắc phục những hạn chế và ngày càng hoàn thiện TTCK
Trang 18Chương 2: Thực trạng TTCKVN và yêu cầu tái cấu trúc
2.1 Quá trình hình thành và phát triển TTCKVN
2.1.1 Quá trình hình thành
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị định
số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh choTTCKVN ra đời Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập TTGDCKđặt tại TP.HCM và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã do UBCK rađời bằng Nghị định 75/CP ngày 28-11-1996
TTGDCK TP.HCM được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TT ngày11-7-1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vàongày 28-7-2000
TTGDCKHN đã chính thức chào đời vào ngày 8/3/2005 Chỉ số VN-Index sosánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sở vào ngày gốc 28-7-
2000, khi TTCK chính thức đi vào hoạt động Giá trị thị trường cơ sở trong côngthức tính chỉ số được điều chỉnh trong các trường hợp như niêm yết mới, huỷniêm yết và các trường hợp có thay đổi về vốn niêm yết Công thức tính chỉ sốVN-Index :
Chỉ số VN-Index = (Giá trị thị trường hiện hành / Giá trị thị trường cơ sở) x 100
2.1.2 Cách thức hoạt động của 2 SGDCKHN và SGDCKHCM
Trang 19Đối với CP vàChứng chỉ quỹđầu tư
Đối với tráiphiếu
GDkhớplệnh
GDthỏathuận
GD theophương thứcthỏa thuận từ8h30 – 11h8h30–
10h30
10h30– 11hGiá tham chiếu CP đang
GD
Giá cơ sở của ngày GD gần nhất trước đó
Biên độ giá ± 7% đối với CP, không
hạnĐợn vị GD Lô chẵn với GD khớp
lệnh là 100 CP, TP
Lô lẻ: Từ 1 đến 99 CK
Đơn vị GD lô chẵn
Qua bảng trên, ta có thể nhận thấy được những đặc điểm nổi bật nhất cũng như
sự giống và khác nhau trong phương thức giao dịch của 2 SGDCK
Trang 202.2 Thực trạng hoạt động của TTCKVN từ 2000 đến nay
2.2.1 Giai đoạn 2000 – 2005: Giai đoạn TTCK chập chững những bước đi đầu tiên
Việc khai trương đưa TTGDCK TP.HCM đi vào hoạt động từ tháng 7 – 2000
đã đánh dấu một bước tiến lớn trong công cuộc cải cách nền kinh tế của ViệtNam Thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Ở thời điểm lúcnày chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn
270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.TTCKVN chính thức đi vào hoạt động với 6 CTCK làm “nòng cốt” là BVSC,BSC, SSI, FSI, TLS, ACBS Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạngthái trầm lắng ngoại trừ cơn sốt vào năm 2001(chỉ số VN-Index cao nhất đạt571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưng chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từtháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ sốVN-Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200điểm vào tháng 10/2001 Trong 4 tháng này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháochạy khỏi thị trường với ý định không bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tưkhác vẫn bình tĩnh bám trụ, âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận.Trong 5 năm chỉ số VN-Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhấtxuống đến 130 điểm Lý do chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yếtnhỏ, không nổi tiếng, không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước
Ngày 8/3/2005 TTGDCK HN chính thức đi vào hoạt động Giai đoạn tỉnh ngủdần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài đượcnâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng)
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quantâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường
chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành củanền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 2: Quy mô TTCK giai đoạn 2000 - 2005
Trang 21Nguồn: UBCK và tác giả tổng hợp
TTCK Việt Nam trong 5 năm đầu đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn, có ảnhhưởng quan trọng đến sự phát triển của lĩnh vực này trong tương lai
Những sự kiện nổi bật liên quan đến chứng khoán nước nhà trong 5 năm
đầu hoat động.
Chuyển Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) về Bộ Tài chínhSau gần 5 năm điều hành TTCK như một cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ,cuối tháng 1/2004, UBCKNN được chính thức chuyển về Bộ Tài chính theoNghị định 66/2004/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ Về cơ bản, cơ cấu tổ chứccủa UBCKNN không có thay đổi lớn sau khi chuyển đổi, duy chỉ có tên gọi các
vụ chức năng được đổi thành các ban
Việc UBCKNN và Bộ Tài chính “cùng chung trận địa” được xem là “điều kiệnquan trọng để thúc đẩy TTCK phát triển”, có ý nghĩa đặc biệt trong việc gắn kếtTTCK với thị trường tiền tệ, thị trường tài chính
Khung pháp lý về chứng khoán và TTCK từng bước được hoàn thiệnNăm 2004 ban hành các thông tư hướng dẫn Nghị định 144/2003/NĐ-CP -khung pháp lý cao nhất và quan trọng nhất về chứng khoán và TTCK Tiếp đến
là việc ban hành Nghị định 187/2004/NĐ-CP thay thế Nghị định
64/2002/NĐ-CP về cổ phần hóa DNNN UBCKNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định144/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK thay thế Nghị định 48/NĐ-CP trước đây,
Trang 22trên cơ sở đó đã trình Bộ Tài chính ban hành các quy chế, thông tư hướng dẫnliên quan Các chính sách về thuế, về quản lý ngoại hối, kế toán, kiểm toán cũng
đã được nghiên cứu, đề xuất để Bộ Tài chính và các Bộ ngành liên quan banhành
Hai hiệp hội chứng khoán quan trọng(VAFI, VASB) được thành lập
Đó là Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) và Hiệp hội Kinhdoanh chứng khoán Việt Nam (VASB) Ra mắt ngày 4/1/2004, VAFI đến nay
đã kết nạp được gần 200 thành viên, trong đó, có 28 thành viên là các tổ chức;còn VASB ra đời muộn hơn (14/5/2004), tập hợp được 14 thành viên, gồm 13CTCK và một công ty quản lý quỹ đầu tư Với vai trò, nhiệm vụ của mình, Hiệphội chứng khoán đã tham gia với UBCKNN trong việc xây dựng khuôn khổpháp lý, đào tạo tuyên truyền và giám sát hoạt động của các thành viên
Việc ra đời các hiệp hội này sẽ tạo thêm cầu nối giữa doanh nghiệp, CTCK, giớiđầu tư với các cơ quan quản lý, từ đó tạo thêm sức mạnh cho hoạt động kinhdoanh chứng khoán và niềm tin cho công chúng đầu tư VAFI và VASB đã cónhững đề xuất và kiến nghị thiết thực với các cơ quan quản lý, nhằm bảo vệquyền lợi hợp pháp cho các nhà đầu tư và thúc đẩy TTCK phát triển
TTGDCKHN ra đời và phát triển
Một trong những điểm khác biệt lớn của TTGDCKHN so với TTGDCKTPHCM là các doanh nghiệp (vốn điều lệ tối thiểu 5 tỷ đồng, hoạt động kinh doanhcủa năm liền kề có lãi và có ít nhất 50 cổ đông) chỉ cần ĐKGD chứ không cầnphải xin phép niêm yết Như vậy, với sự ra đời của TTGDCKHN đã đi vào hoạtđộng từ 14 tháng 7 năm 2005 tạo cho các doanh nghiệp và giới đầu tư có thêmmột sân chơi mới bên cạnh TTGDCK TPHCM
Chứng chỉ quỹ đầu tiên được niêm yết trên TTCK
Ngày 8/11/2004, Quỹ Đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1) chính thức lên sàn,với khối lượng niêm yết lên tới 30 triệu đơn vị, tương đương 300 tỷ đồng đã gópphần đa dạng hóa “thực đơn” cho các nhà đầu tư
Khi niêm yết, chứng chỉ VF1 không được tính vào “rổ” VN-Index, nhưng vẫnchịu sự khống chế trong biên độ (5%) như đang áp dụng với cổ phiếu
Doanh nghiệp bị hủy niêm yết
Trang 23Đó là trường hợp của Công ty cổ phần Cáp treo Núi Bà Tây Ninh (Catour).Catour bị UBCKNN hủy giấy phép niêm yết vào ngày 21/12/2004 do khôngtriển khai việc niêm yết sau 3 tháng được cấp phép.Đây là trương hợp đầu tiên
bị hủy niêm yết cho thấy việc quản lý, giám sát TTCK đã được UBCKNN coitrọng, thông qua đó đã phát hiện các vi phạm, uốn nắn kịp thời, và có biện pháp
xử lý nghiêm những vụ việc vi phạm, bởi vậy bước đầu đã tạo được lòng tin nơicông chúng
Xuất hiện nhiều quỹ đầu tư nước ngoài
Điển hình là Quỹ đầu tư Phan-xi-phăng (PXP) Quỹ PXP do một số tổ chức và
cá nhân nước ngoài góp vốn thành lập với mục đích chính là đầu tư vàoTTCKVN Sau gần 1 năm hoạt động, PXP đã tăng quy mô vốn 5 triệu USD lúcban đầu lên gấp đôi và đã đầu tư trên 15 loại cổ phiếu trên sàn
Ngoài PXP, Quỹ Vietnam Growth Fund (VGF), do Công ty Dragon Capitalthành lập, cũng vừa xuất hiện với quy mô dự kiến 75 triệu USD Công tyFinansa lập quỹ mới sau khi thanh lý Quỹ Vietnam Frontier Fund (VFF) Nhiềunhà đầu tư nước ngoài đã tham gia mua bán chứng khoán và thực tế hoạt độngcho thấy nhiều cổ phiếu của các công ty niêm yết như Ree, Sacom…các nhà đầu
tư nước ngoài đã nắm giữ ở mức tối đa cho phép (30% cổ phiếu niêm yết) Đây
là dấu hiệu cho thấy nếu chúng ta có sản phẩm hàng hoá tốt trên TTCK sẽ thuhút nguồn vốn từ bên ngoài vào và nguồn vốn này sẽ góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế của đất nước.Sự xuất hiện của thêm nhiều quỹ đầu tư nước ngoài
sẽ góp phần quan trọng trong việc kích cầu TTCK
Doanh nghiệp được phép trả cổ tức bằng cổ phiếu
Điển hình là Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) là doanh nghiệp niêm yết đầutiên được UBCKNN cho phép thực hiện trả cổ tức bằng cổ phiếu và thưởng cổphiếu cho nhân viên và năm 2004 là năm đầu tiên REE thực hiện kế hoạch này
Kế hoạch của REE là trả 50% cổ tức bằng tiền mặt và 50% còn lại bằng cổphiếu theo giá thị trường có chiết khấu một tỷ lệ khoảng 10% Tỷ lệ cổ tức dựkiến trong ba năm 2004, 2005 và 2006 là 13%, 14% và 15%.Tạo ra tính linhhoạt cho thị trường, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp tham gianiêm yết
Ban hành quy chế niêm yết cổ phiếu ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước cũng đã chính thức ban hành quy chế niêm yết và pháthành cổ phiếu ra công chúng đối với cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ
Trang 24phần có ý nghĩa tích cực cho TTCK và cho hoạt động của các ngân hàng, vừagiúp tạo hàng cho TTCK, vừa giúp các ngân hàng có điều kiện tốt hơn trongviệc huy động vốn trên TTCK phục vụ hoạt động kinh doanh giúp hoạt động củacác ngân hàng minh bạch, rõ ràng hơn
Đánh giá TTCK 5 năm đầu hoạt động
Về mặt cung, có quá ít công ty sẵn sàng hoặc có khả năng đáp ứng các tiêu chí
để được niêm yết trên thị trường chứng khoán Đặc biệt, mức độ công khaithông tin doanh nghiệp - điều cần thiết để niêm yết trên TTCK là cản trở lớn đốivới nhiều công ty ở Việt Nam trong thời điểm này trong khi đây là việc cần làm
để việc niêm yết trên thị trường chứng khoán (và các yêu cầu pháp lý gắn liềnvới việc niêm yết) trở nên hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp niêm yết tiềmnăng, và giúp trung tâm giao dịch chứng khoán phát triển trở thành một nhân tốquan trọng và hữu dụng về mặt kinh tế
Những nguyên nhân nêu trên đã làm cho hoạt động huy động vốn cổ phần hiện
có diễn ra nhiều hơn trên thị trường "chợ đen" không chính thức Nơi các công
ty với thông tin công bố kém minh bạch hơn vẫn có thể tiến hành bán cổ phiếu
Do không được quản lý và giám sát, thị trường vốn không chính thức này cónguy cơ trở thành nạn nhân của một hoặc nhiều vụ bê bối tài chính Điều này cóthể gây hại đến niềm tin đang ngày càng tăng lên của công chúng vào đầu tư vốn
cổ phần và đẩy lùi sự phát triển của hoạt động huy động vốn cổ phần ở ViệtNam
Lòng tin của công chúng vào lĩnh vực tài chính của Việt Nam đã gia tăng đáng
kể tuy vẫn còn nhiều hạn chế Hậu quả của sự sụp đổ những chương trình tíndụng và phá sản ngân hàng không nên bị quên lãng, và không được lặp lại trongcác lĩnh vực khác của hoạt động tài chính, bao gồm cả hoạt động huy động vốn
cổ phần Vì vậy, thử thách đặt ra phải loại bỏ dần thị trường chợ đen, chủ yếubằng cách tăng cường các quy định về quản lý và giám sát thu hút thêm nhiềucông ty có cổ phiếu hiện đang giao dịch trên thị trường OTC không chính thứctiến hành niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán chính thức Việc sửdụng cẩn trọng các ưu đãi về thuế có thể là một công cụ hỗ trợ đạt được mụctiêu này
Xét về khía cạnh cầu, hầu hết các nhà đầu tư ở thị trường chứng khoán chủ yếu
là các nhà đầu tư cá nhân Cũng như các nhà đầu tư cá nhân ở nhiều thị trườngchứng khoán Đông Nam Á khác, họ có xu hướng đầu tư mang tính đầu cơ ngắnhạn và ít quan tâm đến các chiến lược đầu tư dài hạn hơn trên cơ sở những hiểu
Trang 25biết căn bản về hoạt động kinh doanh của công ty Điều này giải thích một phầncho sự biến động thường xuyên của chỉ số VN-Index trong hai năm đầu hoạtđộng cũng như tình trạng sụt giảm tiếp theo.
Cộng đồng các nhà đầu tư hiện nay ở Việt Nam thiếu các nhà đầu tư có tư cáchpháp nhân, và do đó không tạo ra một nền tảng đủ mạnh để làm tăng đáng kể sốlượng các công ty được niêm yết và giá trị lũy kế của các cổ phiếu lưu hành trênthị trường chứng khoán Một thị trường chứng khoán lý tưởng nên bao gồmnhiều loại nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, sử dụng các chiến lược đầu tư đa dạng
để tạo ra một tập hợp phong phú hơn các đối tượng tham gia thị trường và tăngkhối lượng giao dịch Do đó nảy sinh yêu cầu rõ ràng là cần: phát triển các tổchức tài chính trong nước và sản phẩm tài chính liên quan đến thị trường chứngkhoán, cho phép các tổ chức tài chính nước ngoài tham gia nhiều hơn nữa vàothị trường này trong nước
Thực TTCKVN chỉ có thể phát triển lâu dài với vai trò là một phần hợp nhấtkhông thể thiếu của một chương trình phát triển lĩnh vực tài chính ở tầm lớn hơnchứ không phải là một dự án độc lập Điều này đòi hỏi sự điều phối chính sáchchặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan của Chính phủ với các đóng góp về xâydựng chính sách và sự tham gia của các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính(cả ở trong và nước ngoài) Quyết định về việc sáp nhập UBCKNN vào Bộ TàiChính tạo cơ hội cho việc phối hợp chính sách chặt chẽ hơn nhằm hướng tới sựphát triển thị trường vốn ở Việt Nam
Các chi phí cố định cho hoạt động của một hoặc nhiều TTCK có thể khá cao đốivới một nước đang phát triển như Việt Nam Vì vậy, nếu thị trường chứng khoánkhông đạt được những mục tiêu chính của nó - là công cụ cho các công ty huyđộng vốn dài hạn để phát triển, và là nơi để các nhà đầu tư tổ chức và cá nhânđầu tư các nguồn tiết kiệm vào nhiều loại tài sản, hoạt động của TTCK cần đượcxem xét lại một cách nghiêm túc
UBCKNN đang tiến hành xây dựng một bộ Luật Chứng khoán toàn diện, dựđịnh trình lên Quốc hội vào năm 2005 Việc ban hành trong tương lai một bộluật đồng bộ quản lý ngành chứng khoán, và sự ra đời các quy định hướng dẫnthực thi hiệu quả để hỗ trợ việc thực hiện luật này, tạo cơ hội xây dựng môitrường luật pháp có lợi cho sự phát triển TTCK ở Việt Nam Những điểm yếu vàthiếu sót trong khuôn khổ pháp lý hiện tại có thể được đề cập và khắc phục
Trang 26Nhà đầu tư tham gia TTCK hiện nay chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân với số lượngtham gia quá ít so với tiềm lực tài chính trong dân và so với các loại hình đầu tưkhác như đầu tư vào bất động sản và gửi tiết kiệm Hầu hết nhà đầu tư có vốn ít
và chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tâm lý, nhất là khi thị trường thăng giángthất thường Nhà đầu tư có tổ chức còn quá ít, tính chuyên nghiệp chưa cao,nguốn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán chưa ổn định
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn chưa thu hút được đông đảo các nhàĐTNN, chủ yếu do quy mô thị trường quá nhỏ bé và chính sách đối với nhàĐTNN chưa thực sự cởi mở và cơ chế lưu ký, giao dịch còn nhiều phức tạp.Quy
mô thị trường còn nhỏ, với 0,6% GDP thì TTCK chưa đóng góp được nhiều chotăng trưởng và phát triển kinh tế Các chứng khoán niêm yết và giao dịch trênTTCK chưa phải là cổ phiếu, trái phiếu của các công ty lớn đại diện cho nềnkinh tế,cơ chế hoạt động của TTCK chưa thực sự ổn định, các văn bản pháp quy
ở mức thấp,cơ sở vật chất kỹ thuật đầu tư cho TTCK đặc biệt là hệ thống côngnghệ thông tin của các TTGDCK, Công ty chứng khoán, Ngân hàng lưu ký còn
ở trình độ thấp, năng lực trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ hoạch định chínhsách, các nhân viên hành nghề chưa đáp ứng được với yêu cầu phát triển lâu dàicủa thị trường Việc đào tạo, phổ cập kiến thức về chứng khoán và TTCK chocông chúng đã làm nhiều nhưng chưa đạt được hiệu quả.Vì vậy phải có nhữnggiải pháp khắc phục để dần hoàn thiện TTCK
2.2.2 Giai đoạn 2006 – 2009: Giai đoạn phát triển nóng và tạo bong bóng thị trường
TTCK giai đoạn 2006 – 2009 là một bức tranh nhiều màu, được thể hiện quatừng giai đoạn sau:
Giai đoạn bùng nổ 2006-2007
Bước tạo đà – 2006
Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “độtphá”, tạo cho TTCK VN một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịchsôi động tại cả 3 “sàn”: SGDCK TPHCM, TTGDCKHN và thị trường OTC Vớimức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 TTCKVN trở thành
"điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-buê Và sựbừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "hút hồn" các nhà đầu tưtrong và ngoài nước
Trang 27Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua TTCKVN non trẻ này đã có “màn trìnhdiễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được với khối lượng vốn hóatăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm Năm 2006 , TTCKVN có sự phát triển vượtbậc, chỉ số Vn-Index tại SGDCK TPHCM tăng 144% năm 2006, tại SGDCKHNtăng 152,4% Chỉ số VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm Thanh khoảntăng vượt trội, khối lượng giao dịch tăng mạnh từ trung bình 2 triệu đơn vị 1phiên giai đoạn trước 2006 tăng lên trung bình hơn 6 triệu cổ phiếu 1 phiên.
Biểu đồ 1: Chỉ số VNIndex năm 2006
Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP) Thuhút tích cực đầu tư nước ngoài, giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoàiđang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thịtrường
Hàng ngày có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những cổphiếu được phát hành theo Luật Doanh nghiệp là chính Trên thị trường phi tậptrung, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịchtrên HASTC Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đãlên tới 193 công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn, gấp 3 lần năm 2005
và 30 lần so với 6 năm trước Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn
500 điểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006 Trong khoảng từgiữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước ta mang tâm lý
“đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những người mua, bán theophong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiện tượng “bong bóng” là
có thật
Mức vốn hóa của TTCK VN đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt 13,8 tỉ USD(chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị trườngngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoản giao
Trang 28dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nướcngoài.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm VớiHASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm Tính chung, so với đầu năm, chỉ
số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170%.Đây là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấntượng Tính đến phiên 29/12/2006, TTGDCKTP.HCM đã có sự góp mặt của
106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêm yết theomệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng Còn tại TTGDCKHN, số lượng chứng khoántham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91 trái phiếu với tổng mức ĐKGD theomệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng Xét riêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộTTCK chính thức Việt Nam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220nghìn tỷ đồng tương đương 13,8 tỷ USD
Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiên giaodịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tương đương vớitổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng
và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006 Bình quân mỗi phiên giao dịch có9,2 triệu chứng khoán được chuyển nhượng tương đương với 980 tỷ đồng TTGDCKHN thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khối lượnggiao dịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương với tổng giátrị giao dịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khối lượng và15,8 lần về giá trị giao dịch so với năm 2006 Quy mô giao dịch tăng trưởng
Trang 29mạnh khi mức giao dịch bình quân năm 2007 đạt 255 tỷ đồng/phiên trong khinăm 2006 chỉ đạt 19 tỷ đồng/phiên.
- Thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm 2007
Đây là giai đoạn thị trường có những đợt sóng cao, khiến Index của cả 2 sàngiao dịch đều lập kỷ lục: chỉ số VN-Index đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm sau
7 năm hoạt động và HASTC-Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 nămhoạt động Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng với tốc
độ lớn nhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong 3 tháng giao dịch
Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thị trườngtrong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng So với tổng giá trị vốn hóa492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đã chiếm tỷtrọng 4/5 Nhưng điều quan trọng góp phần gia tăng giá trị vốn hóa của thịtrường không phải do số lượng chứng khoán niêm yết gia tăng mà do yếu tố giá
cổ phiếu tăng mạnh
Trong giai đoạn này, giá các cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồng loạtcác cổ phiếu từ Blue – chip, Penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trên sàn…tất cả đều đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá giao dịch đầunăm, trong đó có những cổ phiếu đạt mức tăng trưởng trên 100% như: STB(113,57%), REE (122,66%), ACB (197%),… Rất nhiều mã CP thiết lập mứcgiá đỉnh kể từ khi lên sàn trong giai đoạn này như: SJS (728.000 đ/CP), FPT(665.000 đ/CP), DHG (394.000đ/CP), REE (285.000đ/CP), SSI (255.000đ/CP),SAM (250.000đ/CP), KDC (246.000đ/CP), VNM (212.000đ/CP), ACB(292.000đ/CP)… Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng tronggiai đoạn này phải kể đến sức cầu trên thị trường tăng một cách đột biến khiếngiá trị giao dịch trung bình mỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng Tạisàn HCM, bình quân mỗi phiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HNcũng đạt con số 300 tỷ đồng
- Thị trường điều chỉnh từ Tháng 4/2007 đến đầu Tháng 9/2007
Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nướccũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện phápkiểm soát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăngtrưởng quá nóng của thị trường Phản ứng trước điều này, TTCK đã có những
Trang 30đợt điều chỉnh rõ rệt Một đợt điều chỉnh giảm của thị trường đã diễn ra trongmột khoảng thời gian rất dài (từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 9).
Giai đoạn điều chỉnh này ghi nhận sự trầm lắng của cả 2 sàn HOSE và HASTC,tất cả các yếu tố của thị trường đều giảm sút nghiêm trọng VN-Index chỉ trongvòng 1 tháng giao dịch đã rơi xuống mức 905,53 điểm (24/04/2007), giảm tới22,6% so với mức đỉnh vào tháng 3 HASTC-Index trở về mốc 321,44 điểm(24/04/2007), giảm 30% so với mức đỉnh Thị trường đã mất điểm quá nhanhtrong 1 thời gian ngắn khiến giá giao dịch của các cổ phiếu đã trở về gần mứcgiá thiết lập vào đầu năm
Trong giai đoạn này, thị trường cũng có một đợt hồi phục vào giai đoạn cuốiTháng 5/2007 khi VN-Index quay trở về mốc 1.107,52 điểm (23/05/2007).Nhưng do tác động tâm lý quá mạnh của các chính sách kiềm chế thị trườngtrước đó như Chỉ thị 03, Luật thuế thu nhập cá nhân, thị trường nhanh chóng trởlại trạng thái mất cân bằng và liên tục sụt giảm mạnh khiến giai đoạn đầu tháng
8, thị trường xác lập mức đáy 883,9 điểm của VN-Index (6/8/2007) và 247,37điểm của HASTC-Index (23/08/2007)
Vào giai đoạn thị trường xuống sâu nhất (khoảng đầu tháng 8), sàn HCM cónhững phiên giao dịch chỉ có hơn 3 triệu cổ phiếu được khớp lệnh (ngày30/07/2007 chỉ có 3.296.340 CP được giao dịch), sàn HN cũng chỉ có vẻn vẹn600.000 CP được chuyển nhượng thành công (ngày 8/8/2007 khớp lệnh 603.100CP) Giai đoạn này, các nhà đầu tư nước ngoài cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượnggiao dịch của khối này trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh Giá trị giaodịch bình quân của khối nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn này đạt khoảng
170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so với giai đoạn đầu năm
- Sự phục hồi của thị trường vào những tháng cuối năm
Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầutháng 9 đến cuối tháng 10 năm 2007 Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướngphục hồi nhanh chóng, đặc biệt là các mã cổ phiếu blue – chip trên cả 2 sàn đềulấy lại được những gì đã mất trong 6 tháng giữa năm, tuy nhiên sức bật của các
cổ phiếu không đủ mạnh để đưa các cổ phiếu trở về mức giá đỉnh thiết lập vàotháng 3 Trong giai đoạn này, VN-Index đã có những phiên giao dịch vượt lêntrên ngưỡng 1.100 điểm (1.106,6 điểm vào ngày 3/10/2007), HASTC-Indexcũng gần chạm trở lại ngưỡng 400 điểm (393.59 điểm ngày 01/10/2007)
Trang 31Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ở nhóm các
cổ phiếu blue – chip như DHG, FPT, VIC… tại HOSE và nhóm cổ phiếu SôngĐà: S99, SDA, S91… tại HASTC Lượng giao dịch bình quân phiên tại HOSEluôn ở trên mức 10 triệu CP (phiên giao dịch kỷ lục đạt 19.047.000 CP vào ngày01/10/2008), sàn HASTC cũng đạt lượng giao dịch bằng 1/2 sàn HOSE vớitrung bình phiên có 5 triệu CP được chuyển nhượng
Biểu đồ 2: Chỉ số VNIndex 2007
Thị trường đã có giai đoạn phát triển quá nóng trong 3 tháng đầu năm sau đó đã
có sự điều chỉnh và phục hồi trong những tháng tiếp theo Tuy nhiên mức đỉnhsau thấp hơn đỉnh trước báo hiệu 1 đợt suy giảm trong tương lai Trong 2 thángcuối năm, thị trường thỉnh thoảng cũng có các đợt phục hồi giả với sự tăng lênmạnh mẽ của tất cả các yếu tố Tuy nhiên sự phục hồi này không duy trì đượclâu, thậm chí đã có dấu hiệu suy giảm chỉ sau 1 phiên tăng điểm Chính điều này
đã dẫn tới việc các nhà đầu tư bị đọng vốn, Trong khi nguồn cầu có xu hướngcạn kiệt, thì nguồn cung vẫn tiếp tục gia tăng Tương quan cung cầu mất cânbằng khiến thị trường ngày càng tuột dốc cả về giá lẫn khối lượng giao dịch vàgiá trị giao dịch VNIndex giảm xuống dưỡi ngưỡng điểm 1.000 và chỉ xoayquanh mốc 900 điểm, với lượng chứng khoán chuyển nhượng rất hạn chế
Giai đoạn 2008 – 2009 : Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK
Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh.
Nhìn lại thị trường sau 01 năm giao dịch, những điểm nổi bật của thị trường:Index giảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã CP rơixuống dưới mệnh giá), tính thanh khoản kém, sự thoái vốn của khối ngoại, sựcan thiệp của các cơ quan điều hành và sự ảm đạm trong tâm lý các nhà đầu tư.Tính từ đầu năm đến hết ngày 31/12/2008, TTCKVN trải qua 03 giai đoạnchính
Trang 32Trong năm 2008, lượng cung tiếp tục được bổ sung đáng kể thông qua việcChính phủ đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN, đặc biệt là các DN quy mô lớn, kinhdoanh hiệu quả và việc bán bớt cổ phần Nhà nước trong các DN đã cổ phần hóa,chưa kể hàng loạt ngân hàng, CTCK, doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cổphiếu để tăng vốn điều lệ, dẫn đến tình trạng TTCK có nguy cơ thừa “hàng”.
- Từ tháng 01 tới tháng 06 - Thị trường giảm mạnh do tác động từ ảnh
hưởng của kinh tế vĩ mô.
Khởi đầu năm tại mức điểm 921,07, VN-Index đã mất đi gần 60% giá trị và trởthành một trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửađầu năm 2008 Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đầu tư trong giai đoạnnày chủ yếu xuất phát từ nội tại nền kinh tế Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạmphát, chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức
ép giải chấp từ phía ngân hàng đối với các khoản đầu tư vào TTCK Nhằmmục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều hành bắt đầuđưa ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:
UBCK thu hẹp biên độ giao dịch
SCIC tham gia mua vào cổ phiếu
NHTM được vận động ngừng giải chấp
Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ
Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn, vàthị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không ngừng tác độngtới tâm lý các nhà đầu tư Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có tới 71phiên VNIndex giảm điểm Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên VN-Index giảm điểmliên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008 Sau 103 phiên giao dịch, VN-Index giảm mất 550,52 điểm- tương đương 59,77% Bình quân trong mỗi phiên,toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng, tương đươngkhoảng 482 tỷ đồng Trong đợt suy giảm này, nhóm cổ phiếu chịu nhiều tácđộng nhiều nhất là nhóm cổ phiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và côngnghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp BĐS) Trong lịch sử hoạt động của TTCK,chưa có năm nào UBCKNN phải can thiệp vào thị trường bằng các biện phápmạnh tay nhiều như năm 2008 Tổng cộng trong năm 2008, UBCKNN đ ã có 04lần thay đổi biên độ dao động giá trên cả 2 sàn chứng khoán Nhằm hỗ trợ thêmcho sức cầu trên thị trường, ngăn đà suy giảm mạnh của các chỉ số chứng khoán,
Trang 33ngày 04/03/2008, Chính phủ đã đưa ra nhóm 19 giải pháp ứng cứu thị trường:Cho phép SCIC mua vào cổ phiếu trên thị trường, kêu gọi và tạo điều kiện chocác doanh nghiệp niêm yết mua vào cổ phiếu quỹ
Sự tăng trưởng nóng trong năm 2007, đặc biệt vào những tháng cuối năm đã đưađến những dấu hiệu bất ổn về kinh tế vĩ mô Chỉ số tiêu dùng bắt đầu gia tăngvới mức trung bình 2,07%/tháng trong 02 cuối năm 2007
Tiếp nối xu thế này, trong quý I/ 2008, chỉ số CPI tiếp tục gia tăng với tốc độbình quân 3,06%/tháng và đạt đỉnh vào tháng 05/200822 với mức tăng 3,91%.Trong chu kỳ tăng giá nửa đầu năm 2008, tại đa số thời điểm, lương thực đượccoi là yếu tố tác động chủ yếu đến chỉ số giá Tính đến tháng 06, giá lương thực
đã tăng 57.22% so với tháng 12/2007
Chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ lệ lạm phát tăng cao trong nước và sự biến độngmạnh của giá cả hàng hóa trên thế giới, thị tr ường hàng hóa và thị trường tiền tệViệt Nam tiếp tục có những biến động mạnh Trên thị trường hàng hóa, xăngdầu - loại hàng hóa cơ bản thuộc sự kiểm soát của Chính phủ - đã được điềuchỉnh mạnh Trên thị trường tiền tệ, lãi suất từ NHNN và NHTM liên tiếp xácđịnh các mặt bằng mới Chịu tác động sức ép từ lạm phát, lãi suất từ các NHTMtăng mạnh trong cuối quý II, dao động từ 16 - 18% đối với huy động tiền gửi và20-21% đối với các khoản vay Đặc biệt các sản phẩm huy động vốn với kỳ hạnngắn, lãi suất cao là tiêu điểm của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn này Sựcăng thẳng về thanh khoản và sự xáo trộn về dòng chảy của tiền gửi huy động lànỗi lo của các NHTM trong giai đoạn này Thâm hụt thương mại cao nhất vàotrong năm tháng đầu năm với mức trung bình là khoảng 2,6 tỷ USD/tháng
Trước thực trạng này chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp vào tháng 3/2008 vớimục tiêu kiềm chế lạm phát và thâm hụt thương mại Các chính sách chủ yếuđược thực hiện thông qua việc sử dụng công cụ điều hành lãi suất cơ bản và thắtchặt đầu tư công để hạn chế nguồn cung tiền trên thị trường
- Tháng 06 tới đầu tháng 09 - Phục hồi trong ngắn hạn
Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue-chip như STB, FPT, DPM…và đặcbiệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác nước ngoài, cả hai sàn chứng khoán đã
có được những phiên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này VN-Index vàHASTC-Index liên tiếp vượt qua các ngưỡng cản tâm lý quan trọng và thườngxuyên có được những chuỗi tăng điểm kéo dài Đây cũng là giai đoạn thị trường
Trang 34hoạt động sôi động nhất Sức cầu mạnh, kéo theo khối lượng giao dịch và giá trịgiao dịch thường xuyên ở mức cao VN-Index tăng được 168,55 điểm, tươngđương 45,52% Khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu CP&CCQ, tươngđường 599,18 tỷ đồng/phiên
Trong giai đoạn này, nhóm cổ phiếu được ưa thích nhất là nhóm cổ phiếu dầukhí (tăng 80,33%), nguyên vật liệu và công nghệ (tăng 89,78%) Các đại diệntiêu biểu cho nhóm cổ phiếu này bao gồm: PVS, PVD, PTC, HPG, FPT…
- Từ tháng 09 tới tháng 12 - Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm do tác
động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Đây là thời kỳ VN-Index rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ đáy thiếtlập được trong giai đoạn đầu của năm 2008 Tổng kết cả giai đoạn này, VN-Index mất 223,48 điểm, tương đương 41,45% Khối lượng giao dịch trung bìnhđạt 15,82 triệu CP&CCQ, tương đương 497,58 tỷ đồng/phiên
Nguyên nhân tác động lớn nhất tới TTCK trong giai đoạn này chính là sự lan tỏamạnh của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới Hòa cùng xu thế giảmđiểm của TTCK các nước, 02 chỉ số chứng khoán tại sàn HOSE và HASTC liêntiếp giảm điểm Trong 86 phiên giao dịch tại HOSE, 49 phiên VN-Index mấtđiểm Đáy mới thiết lập trong giai đoạn này là 286,85 điểm vào ngày10/12/2008
Biều đồ 3: Chỉ số VNIndex 2008
Cùng với nỗ lực giải cứu nền kinh tế của Chính phủ và động thái từ NHNN, xenlẫn giữa những phiên giảm điểm, TTCKVN vẫn có những phiên phục hồi mạnh
Trang 35Tuy nhiên, các “con sóng” trên thị trường thường rất ngắn và không ổn định.Kết thúc giai đoạn này, VN-Index giảm mất 239,52 điểm, tương đương 43,15%.Tốc độ giảm mạnh nhất trong giai đoạn này thuộc nhóm cổ phiếu các ngànhnguyên vật liệu, công nghiệp, tài chính và công nghệ Nguyên nhân của sự suygiảm trong giai đoạn này được nhận định một phần do sự tác động của xu thếchung thị trường, ngoài ra, cũng là hệ quả của việc tăng khá chóng mặt của cáccác cổ phiếu này trong giai đoạn trước đó Một trong những đề tài nóng hổi vàđược báo giới chú ý trong những tháng cuối năm là phong trào trả cổ tức bằngtiền mặt, với tỷ lệ khá cao của các công ty niêm yết.
Nguồn vốn FII vào Việt Nam chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư Tuy nhiên, kể
từ cuối tháng 08/2008 cùng với sự sụt giảm của TTCK thế giới nói chung,TTCKVN cũng giảm mạnh Tính đến tháng 12/2008, những dấu hiệu về khảnăng nhà đầu tư nước ngoài rút vốn ra khỏi TTCK cũng bắt đầu xuất hiện, thểhiện qua việc bán ròng của khối ngoại trong những tháng cuối năm Ngoài ra,mặc dù lạm phát được kiềm chế nhưng lại có sự lo ngại về giảm phát do chỉ sốCPI tăng trưởng âm trong những tháng cuối năm
Trong quý cuối năm, CPI đã giảm 0,23% trong tháng 10 và tăng lên thành0,81% trong tháng 12 (so từng tháng) Tính cả năm 2008 , tỷ lệ lạm phát là19,89% (so với tháng 12/2007) và xấp xỉ 23% (so với bình quân 2007)Giải pháp tài chính kịp thời trong những tháng cuối năm 2008 được thực hiệnthông qua việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản nhằm kích cầu sản xuất tiêudùng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vay vốn một cách dễ dànghơn, đồng thời giảm áp lực tín dụng cho các ngân hàng thương mại
TTCKVN là thị trường tăng trưởng tệ nhất châu Á tính từ đầu năm 2009 đếnnay Lợi nhuận các công ty năm 2008 giảm tới 30% Tuy nhiên một số công tyvẫn có kết quả kinh doanh tốt và giá cổ phiếu của những công ty này hiện vẫn ởtrong mức rất hấp dẫn
TTCKVN vẫn tiếp tục đi xuống trong năm 2009 Chỉ số Vn-Index từ đầu nămđến nay hạ 22%, mức hạ tệ nhất so với các thị trường châu Á khác Giá trị giaodịch cổ phiếu trung bình trong ngày tháng 2/2009 tại SGDCK TPHCM vàSGDCK HN chỉ là 13 triệu USD Tổng giá trị vốn hoá thị trường rơi xuống mứckhoảng 10 tỷ USD, không một cổ phiếu niêm yết nào có giá trị vốn hoá thịtrường lớn hơn 1 tỷ USD và chỉ có 4 cổ phiếu có giá trị vốn hóa hơn 500 triệuUSD
Trang 36Nhà đầu tư nước ngoài đã giảm bán, sau khi bán ra số cổ phiếu với tổng giá trị
127 triệu USD trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến hết tháng 12/2008,nhà đầu tư nước ngoài chỉ bán ra lượng cổ phiếu có giá trị khoảng 2 triệu USD
từ đầu năm đến nay Nguyên nhân chính cho điều này là phần lớn tiền đầu tưcủa nhà đầu tư nước ngoài, nếu không tính đến những quỹ đóng, đã rút hết khỏithị trường Việt Nam (Quỹ đầu tư chứng khoán PXP Vietnam Emerging EquityFund mới đây cho phép nhà đầu tư rút cổ phiếu ra và sau đó họ có thể bán số cổphiếu này)
Tuy nhiên, thông tin về lợi nhuận các công ty không mấy tích cực Tăng trưởngdoanh số khoảng 40% so với cùng kỳ năm trước nhưng lợi nhuận hoạt động chỉtăng 8% Thua lỗ ở các khoản đầu tư địa ốc và chứng khoán đẩy lợi nhuận rònggiảm 25% Trong số 329 công ty niêm yết, 23 công ty thua lỗ, trong đó có cảmột số công ty trước đây từng được nhà đầu tư nước ngoài hết sức ưa chuộngnhư Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE), Công ty cổ phần Gemadept (GMD)
và Công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông (SAM)
Mặc dù vậy cũng có một số công ty công bố lợi nhuận ấn tượng, đây là nhữngcông ty có hoạt động kinh doanh đi theo hướng thế mạnh và không đầu tư vàothị trường bất động sản và ngân hàng.Một số nhà đầu tư mạo hiểm có thể tiếptục tham gia vào thị trường với mục tiêu dài hạn, họ có thể mua một số cổ phiếucủa các công ty tốt
Các nhà đầu tư đã chứng kiến một tháng 3 tăng điểm ấn tượng nhất kể từ tháng11/2008 VN-Index không chỉ khởi sắc về điểm số mà khối lượng giao dịchcũng tăng mạnh trong hai tuần cuối tháng, mức tăng kỷ lục trong nửa năm qua Sau khi bắt đáy vào ngày 24/2/2009 VN-Index đã có 1 đợt hồi phục mạnh mẽ,sau 2 lần tạo đỉnh VN-Index đã tạo đỉnh của năm 2009 tại 626 vào ngày15/10/2009 tăng tới 266,769% Tuy đạt mức hồi phục ấn tượng nhưng VN-Index cũng không thể lấy lại được mức cao nhất năm 2007
Nhận xét
Thị trường trong giai đoạn tăng trưởng nóng đã không có những biện pháp kiểmsoát, điều chỉnh phù hợp để ngăn chặn tình hình “bong bóng thị trường” Các cơquan chức năng thiếu khả năng quản lý, điều chỉnh và các công cụ đồng bộ phùhợp với mức phát triển quá nhanh của thị trường, vượt quá tầm kiểm soát