1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN MUA SẮM CHÍNH PHỦ CỦA VIỆT NAM DƯỚI ẢNH ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP

79 676 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 486 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp và một số kiến nghị đối nhằm nâng cao hiệu quả đấu thầu các dự án mua sắm chính phủ của Việt Nam dưới tác động của Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương...60 3.3.1...

Trang 1

MỤC LỤC

TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH QUAN HỆ ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ NỘI DUNG MUA SẮM CHÍNH PHỦ TRONG HIỆP ĐỊNH 5

1.1 Bối cảnh ra đời 5

1.2 Phạm vi điều chỉnh 7

1.3 Mục tiêu và nguyên tắc 10

1.4 Tình hình đàm phán 11

1.5 Đàm phán đối với MSCP trong TPP 14

1.6 Những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP 14

1.6.1 Sự cần thiết tham gia TPP của Việt Nam 14

1.6.2 Những thuận lợi khi gia nhập TPP 16

1.6.3 Những thách thức khi gia nhập TPP 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN MUA SẮM CHÍNH PHỦ CỦA VIỆT NAM 26

2.1 Phân tích thực trạng hoạt động đấu thầu các dự án MSCP của Việt Nam .26 2.1.1 Đối tượng và phạm vi điều chỉnh Mua sắm chính phủ trong khuôn khổ Hiệp định TPP 26

2.1.2 Hình thức chọn nhà thầu MSCP 26

2.1.3 Chất lượng hoạt động MSCP 27

2.1.4 Năng lực nhà thầu Việt Nam 38

2.1.5 Một số hoạt động thầu tiêu biểu 41

2.2 Đánh giá thực trạng hoạt động đấu thầu các dự án MSCP của Việt Nam 47

Trang 2

2.2.2 Hạn chế 48

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN MUA SẮM CHÍNH PHỦ CỦA VIỆT NAM DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA TPP 50

3.1 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong lĩnh vực mua sắm công dưới ảnh hưởng của TPP 50

3.1.1 Cơ hội 50

3.1.2 Thách thức 53

3.2 Định hướng để nâng cao tính minh bạch trong hoạt động đấu thầu các dự án mua sắm chính phủ 55

3.2.1 Cơ sở định hướng 55

3.2.2 Bối cảnh quốc tế và Việt Nam dưới tác động của Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương 56

3.3 Giải pháp và một số kiến nghị đối nhằm nâng cao hiệu quả đấu thầu các dự án mua sắm chính phủ của Việt Nam dưới tác động của Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương 60

3.3.1 Về phía nhà nước 60

3.3.2 Về phía nhà thầu 64

KẾT LUẬN 68

KẾT LUẬN 68

PHỤ LỤC 1 69

PHỤ LỤC 2 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 3

SPS Sanitary and Phytosanitary Measures Hàng rào vệ sinh dịch tễ

TBT Technical Barriers to Trade Hàng rào kỹ thuật trong thương

mạiBOT Built-Operation-Transfer Hợp đồng xây dựng - chuyển

giao - kinh doanhODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thứcADB The Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu ÁEPC Engineering -Procurement of Goods -

Construction

Hợp đồng thiết kế, cung cấpthiết bị công nghệ và thi côngxây dựng công trình

FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do

APEC Asia Pacific Economic Cooperation Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu

Á-Thái Bình DươngIMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

VDR Vietnam Development Report Báo cáo Phát triển Việt NamSME Small and medium enterprise Doanh nghiệp vừa và nhỏ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các vòng đàm phán 6Bảng 1.2 GDP gia tăng theo quốc gia vào năm 2025 với kịch bản TPP 21

Trang 4

các quốc gia TPP và một số quốc gia khác trong khu vực vào năm2025 22Bảng 2.1: Chỉ số cảm nhận tham nhũng ở Việt Nam giai đoạn 2001-2014 .37Bảng 3.1 Mức độ áp dụng thủ tục đấu thầu điện tử của các đối tác đàm phán

Hiệp định TPP 51Bảng 3.2 Tính minh bạch về thông tin trong đầu thầu MSCP của 5 đối tác

có chi tiêu cho MSCP lớn nhất 52Bảng 3.3 MSCPcủa các đối tác đàm phán Hiệp định TPP năm 2012 56

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Mua sắm chính phủ (MSCP) còn là một bài toán “bập bênh”, làm thếnào giải quyết được xung đột lợi ích nhằm đạt được mục tiêu chung Ngườimua luôn muốn mua hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao với giá rẻ nhất, hoặcgiá tốt nhất đối với mặt hàng chất lượng vừa phải từ một nhà cung cấp đángtin cậy Trong khi đó, người bán thì muốn bán hàng với giá càng cao càng tốt.Người sử dụng thì muốn có hàng chất lượng tốt, dễ sử dụng với giá cả thấp;

và giới quan chức thì muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ tiêu tiền thuế của dântrong mua sắm công

Có thể thấy, MSCP theo đuổi mục tiêu chung trong khi cố gắng làm hàilòng tất cả các bên liên quan Nó không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn trởthành nhiệm vụ kinh tế - xã hội đầy chông gai

Mỗi năm chính phủ các quốc gia bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để chitiêu mua sắm, và đây là một thị trường khổng lồ cho các nhà cung cấp sảnphẩm và dịch vụ Mua sắm chính phủ, vì thế, đã trở thành một chương lớn, và

là một vấn đề cho đến nay vẫn chưa đi đến thống nhất, trong đàm phán Hiệpđịnh Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Trong 12 thành viên đàm phán TPP, mới chỉ một số quốc gia đã làthành viên của Hiệp định MSCP (GPA) của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), như Mỹ, Canada, Singapore, Nhật Bản Một số quốc gia như Chile,Việt Nam, Úc, đang là quan sát viên còn New Zealand thì đang đàm phántham gia, còn lại là đứng ngoài cuộc chơi GPA này

Ở WTO, mỗi thành viên của GPA đều có các quy định riêng của mình,nên việc đấu thầu mua sắm là một việc không hề dễ dàng Với TPP, Mỹ đã đưavấn đề này trở thành một chương để các quốc gia cùng đàm phán Và tronghiệp định này, các quốc gia đàm phán đang muốn nâng vấn đề MSCP lên mộtmức cao hơn nữa Riêng với Việt Nam, đến nay vẫn chưa mở cửa với MSCP

Trang 6

Dù được nhắc đến rất nhiều nhưng cho đến nay, TPP cụ thể như thếnào vẫn chưa ai thực sự nắm rõ Hầu hết các vòng đàm phán vẫn trong bí mật,những thông tin có được chỉ mang tính khái quát, do đó các vấn đề TPP được

đề cập trong nghiên cứu dưới đây chưa phải là tuyên bố chính thức cuối cùng.Xuất phát từ tính cấp thiết trên nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu

khoa học: “Hoạt động đấu thầu các dự án mua sắm Chính phủ của Việt Nam dưới ảnh hưởng của Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương”.

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu đề tài: Nghiên cứu hoạt động đấu thầu các dự án mua sắm

Chính phủ của Việt Nam dưới tác động của Hiệp định quan hệ đối tác xuyênThái Bình Dương chuẩn bị sẽ được ký kết với Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Thứ nhất, tổng quan về TPP và nội dung MSCP trong Hiệp định để từ

đó có cái nhìn bao quát về Hiệp định

Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động đấu thầu các dự ánMSCP của Việt Nam, qua đó thấy được những thành công và hạn chế trongcông tác đấu thầu của Việt Nam

Thứ ba, đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoànthiện hoạt động đấu thầu các dự án MSCP của Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: hoạt động đấu thầu các dự án mua sắm công của

Việt Nam dưới tác động ảnh hưởng của Hiệp định quan hệ đối tác xuyên TháiBình Dương

Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Nghiên cứu các hoạt động đấu thầu mua sắm công củaChính phủ Việt Nam trên cơ sở Luật đấu thầu của Việt Nam, có tính đến tiền

đề, điều kiện gia nhập TPP đối với mua sắm công, tác động của TPP tới muasắm công của Việt Nam trong tương lai

Trang 7

Thời gian: Nghiên cứu hoạt động đấu thầu mua sắm công chủ yếu giaiđoạn từ năm 2010 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, cácquan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tổng hợpkinh nghiệm các nước trên thế giới về những vấn đề liên quan đến MSCP

Phương pháp nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở tổng hợp, phân tích,

so sánh, tích hợp số liệu kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tiễn;phương pháp xã hội học, điều tra, tiếp cận hệ thống

5 Kết cấu đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tàiđược kết cấu thành 3 chương lớn

Chương 1: Tổng quan về Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương

và nội dung mua sắm chính phủ trong Hiệp định

Chương 2: Thực trạng hoạt động đấu thầu các dự án mua sắm chính phủ của

Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động đấu thầu các

dự án mua sắm chính phủ của Việt Nam dưới ảnh hưởng củaHiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương

6 Đóng góp mới của nghiên cứu

Hệ thống hoá, phân tích, so sánh các cơ chế, chính sách liên quan đếnmua sắm công ở Việt Nam Phân tích những cơ chế, chính sách do Chính phủ

và các ngành hữu quan ban hành qua đó đánh giá những thuận lợi, khó khăncủa từng loại cơ chế, chính sách đối với hoạt động mua sắm công hiện nay

Đánh giá thực trạng hoạt động mua sắm công hiện nay trên cơ sở khảosát, điều tra, thu thập, phân tích các dữ liệu mua sắm công

Trang 8

Phân tích những khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp nhằmhoàn thiện mua sắm công hiện nay về cơ chế chính sách, về điều kiện trangthiết bị làm việc và con người thực hiện, về quan hệ phối hợp trong và ngoàingành, ảnh hưởng TPP với mua sắm công Việt Nam.

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH QUAN HỆ ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ NỘI DUNG

MUA SẮM CHÍNH PHỦ TRONG HIỆP ĐỊNH

1.1 Bối cảnh ra đời

TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là têngọi tắt của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương có nguồn gốc từ Hiệpđịnh hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (P4) Đầu tiên, TPPđược biết đến với tên là Pacific Three Closer Economic Partnership (P3-CEP)

và được Tổng thống Chile Ricardo Lagos, Thủ tướng Singapore Goh ChokTong, Thủ tướng New Zealand Helen Clark đưa ra thảo luận tại Hội nghị Cấpcao APEC diễn ra năm 2002 ở Los Cabos, Mexico Sau đó Brunei tham gia ởvòng 5 vào tháng 4/2005 Sau vòng đàm phán này, Hiệp định lấy tên là P4,được ký kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa 4 nước Singapore,Chile, New Zealand, Brunei Tháng 9/2008, Hoa Kỳ tỏ ý định muốn tham giađàm phán TPP, sau đó, tháng 11/2008, các nước Australia, Peru cũng tuyên

bố tham gia, lúc này, P4 được đặt tên lại là Hiệp định Đối tác Xuyên TháiBình Dương (TPP) Tiếp đến Việt Nam ngày 13/11/2010 tuyên bố tham giađàm phán với tư cách thành viên đầy đủ, Canada tham gia vào tháng 10/2012

và mới đây nhất, Nhật Bản tham gia đàm phán vào tháng 3/2013 Việt Nam

đã tuyên bố tham gia TPP với tư cách là thành viên đầy đủ từ ngày13/11/2010 Tính đến thời điểm hiện nay, có 12 quốc gia tham gia đàm phán,trong đó có những đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam như:Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Singapore Với sự tham gia của các nền kinh tếlớn trên thế giới, TPP trở thành khu vực kinh tế với hơn 790 triệu dân, đónggóp 40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu

Trang 10

Bảng 1.1: Các vòng đàm phán Vòng đàm

Thành viên tham gia

Vòng 1 15-19/3/2010 Melbourne, Australia Hoa Kỳ, Australia,

Brunei Chile, New Zealand, Peru, Singapore, Việt Nam Vòng 2 14-18/06/2010 San Francisco, Mỹ Như trên

Vòng 3 4-9/10/2010 Brunei Như trên

Vòng 4 6-10/12/2010 Auckland, New Zealand Như trên

Vòng 5 14-18/1/2011 Santiago, Chile Như trên

Vòng 6 24/3-1/4/2011 Singapore Như trên

Vòng 7 15-24/6/2011 Hồ Chí Minh, Việt Nam Như trên

Vòng 8 6-15/9/2011 Chicogo, Ilinois, Mỹ Như trên

Vòng 9 22-29/10/2011 Lima, Peru Như trên

Vòng 10 5-9/12/2011 Kuala Lumpur, Malaysia Như trên

Vòng 11 2-9/3/2012 Melbourne, Australia Như trên

Vòng 12 8-18/5/2012 Dallas, Texas, Mỹ Như trên

Vòng 13 2-10/7/2012 San Diego, California, Mỹ Như trên

Vòng 14 6-15/9/2012 Lessburg, Virginia, Mỹ Như trên

Vòng 15 3-12/12/2012 Auckland, New Zealand Thêm Canada và

Mehico Vòng 16 4-13/3/2013 Singapore Như trên

Vòng 17 15-24/5/2013 Lima, Peru Như trên

Vòng 18 15-24/7/2013 Kota Kinabalu, Malaysia Thêm Nhật Bản Vòng 19 22-30/8/2013 Brunei Như trên

Vòng 20 7-10/12/2013 Singapore Như trên

19-20/5/2014 Singapore Như trên

(Nguồn: Tổng hợp từ trang http://www.trungtamwto.vn/)

Mỗi năm chính phủ các quốc gia bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để chitiêu mua sắm, và đây là một thị trường khổng lồ cho các nhà cung cấp sảnphẩm và dịch vụ Trong 12 thành viên đàm phán TPP, một số quốc gia đã làthành viên của Hiệp định MSCP (GPA) của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) như Mỹ, Canada, Singapore, Nhật Bản; 3 quốc gia Chile, Việt Nam,

Úc, đang là quan sát viên còn lại New Zealand đang đàm phán tham gia Còn

Trang 11

lại là không tham gia GPA Mỗi quốc gia đều có tiêu chuẩn riêng về MSCP,điều này gây trở ngại cho MSCP trong phạm vi quôc tế Do đó, Mỹ đã đưavấn đề này trở thành một chương để các quốc gia cùng đàm phán.

1.2 Phạm vi điều chỉnh

Phạm vi điều chỉnh của TPP bị quy định bởi ít nhất 3 yếu tố sau

Thứ nhất, TPP – Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Chính thức được khởi động vào tháng 9/2009 đến nay, TPP đã trải qua

19 phiên đàm phán chính thức (tính đến hết tháng 12/2014) và rất nhiều phiênđàm phán, trao đổi cấp kỹ thuật ở phạm vi hẹp TPP là một hiệp định hướngtới một tiêu chuẩn rất cao, thậm chí có thể coi là một tiêu chuẩn chưa từng cótiền lệ trước đây Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hoạt động thương mạitrên thế giới đã chứng kiến 3 thế hệ các FTA, FTA thế hệ thứ nhất tập trung ởviệc tự do hóa lĩnh vực thương mại hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ cácrào cản phi thuế), sang các FTA thế hệ thứ hai: mở rộng phạm vi tự do hóasang các lĩnh vực dịch vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trườngtrong các lĩnh vực dịch vụ liên quan), và FTA thế hệ thứ ba tiếp tục mở rộngphạm vi tự do về dịch vụ, đầu tư Như vậy, theo xu hướng nội dung FTA ngàycàng mở rộng

FTA đang chứng kiến xu hướng mới, mở rộng, đề cập đến cả các vấn

đề phi thương mại như lao động, môi trường… Là 1 trong những hiệp địnhmới nhất, “FTA của thế kỷ XXI”, phạm vi của Hiệp định này, vì vậy, TPPđược dự kiến là sẽ rất rộng và phức tạp, với các vấn đề thương mại và phithương mại đan xen

Thứ hai, TPP ngày càng mở rộng thành viên

Ban đầu TPP chỉ có sự tham gia của P4 gồm Singapore, Chile, NewZealand, Brunei Ban đầu thành lập, TPP chưa có sức hút do nền kinh tế P4chưa có ảnh hưởng lớn với nền kinh tế thế giới Bước ngoặt được tạo ra khiHoa Kỳ tỏ ý định muốn tham gia đàm phán TPP vào tháng 9/2008 Ảnh

Trang 12

hưởng của Hoa Kỳ đã lôi kéo lần lượt các quốc gia khác: Australia, Peru,Canada, Nhật Bản, Mexico, Việt Nam, Malaysia

TPP thực hiện theo cơ chế mở mà theo đó, những nước quan tâm có thểđàm phán ra nhập Sau 10 năm, thành viên TPP đã lên đến 12 quốc gia thamgia đàm phán và có khả năng sẽ còn được mở rộng Hàn Quốc, Colombia,Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước khác đang có ýđịnh tham gia vào TPP Điều đáng chú ý là Trung Quốc vẫn đang đứng ngoàiTPP và chưa có ý định tham gia Như vậy, một khi TPP đàm phán thànhcông, nền kinh tế Trung Quốc có thể chịu ảnh hưởng nặng nề và TPP có thểcoi là Hiệp định mà Mỹ sử dụng để đối chọi với nền kinh tế Trung Quốc

Thứ ba, tăng độ mở các lĩnh vực

- Thuế quan: Mục tiêu ban đầu của Hiệp định là giảm 90% các loại thuếxuất nhập khẩu giữa các nước thành viên ngay sau khi TPP được ký kết vàhướng tới xóa bỏ 100% thuế xuất nhập khẩu

- Dịch vụ: Tăng mức độ mở cửa các lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch

Trang 13

- Các vấn đề phi thương mại khác: Tăng yêu cầu về môi trường.

Đối với chương MSCP, phạm vi điều chỉnh của TPP bao gồm:

- Các cơ quan nêu trong Phụ lục khi mua sắm hàng hóa, dịch vụ, xấylắp thuộc phạm vi điều chỉnh nêu trong Phụ lục

- Phạm vi có thể bao gồm các hoạt động mua, thuê, thuê mua và hợpđồng nhượng quyền, BOT (đang đàm phán)

- Gói thầu có giá từ ngưỡng quy định tại Phụ lục trở lên

- Nội dung Phụ lục bao gồm: ngưỡng giá gói thầu, danh sách cơ quan,

tổ chức, hàng hóa, dịch vụ, dịch vụ xây dựng, các lưu ý chung, ngoại trừ,công thức điều chỉnh giá gói thầu để xác định ngưỡng giá gói thầu thuộcphạm vi điều chỉnh

Phạm vi điều chỉnh trong TPP gồm 4 đặc trưng cơ bản

Thứ nhất, TPP phải là hiệp định đòi hỏi cao với việc xóa bỏ các hàngrào thuế quan và phi thuế thông thường với tất cả các thành viên

Thứ hai, TPP phải xử lý các vấn đề liên quan đến chính sách thươngmại điện tử và phân khúc quá trình sản xuất kinh doanh trong chuỗi cung ứnghiện đại

Ba là, TPP duy trì sự liên kết giữa các nước phát triển và đang pháttriển

Bốn là, TPP đề cập đến rất nhiều chính sách “sau đường biên giới”,đảm bảo quy chế chính sách minh bạch, có khả năng dự đoán TPP giám sát,

xử lý các vấn đề về tiêu chuẩn lao động, môi trường, MSCP, DNNN…

TPP với phạm vi điều chỉnh rộng và sâu cho thấy quá trình đàm phán làkhông hề đơn giản Thực tế, tiến trình đàm phán TPP kéo dài đã cho thấy mứcđộ khó khăn phức tạp của quá trình đàm phán, đòi hỏi các quốc gia nỗ lựchơn nữa, nhượng bộ vì lợi ích chung

1.3 Mục tiêu và nguyên tắc

Trang 14

Về mục tiêu: Không còn rào cản đáng kể (về thuế quan, hàng rào phi

thuế quan, các điều kiện gia nhập-hoạt động trên thị trường) cho hàng hóa,dịch vụ của đối tác với mức độ tự do cao hơn nhiều so với các hiệp địnhthương mại khác

Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa cácnước như: quyền của người lao động, bảo vệ môi trường, chi tiêu chính phủ,tính minh bạch, DNNN, sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toànlao động…

Về nguyên tắc

Nguyên tắc không phân biệt đối xử gồm 2 nguyên tắc

Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (Most Favoured Nation, viết tắt làMFN): theo nguyên tắc này, một quốc gia phải dành cho tất cả các quốc giađối tác một chế độ ưu đãi thương mại thuận lợi như nhau Trong các điều ướcquốc tế cũng như luật thương mại quốc gia, đãi ngộ tối huệ quốc thường đượcthể hiện dưới dạng quy định cho các sản phẩm hàng hoá dịch vụ có xuất xứ từmột quốc gia đối tác được hưởng chế độ thương mại "không kém ưu đãi hơnchế độ ưu đãi nhất" mà quốc gia sở tại dành cho các những sản phẩm hànghoá dịch vụ tương tự của bất kỳ quốc gia nào khác Thực hiện nguyên tắc này,các quốc gia sẽ được bảo đảm rằng quốc gia đối tác thương mại của mình sẽkhông dành cho quốc gia khác chế độ thương mại ưu đãi hơn, qua đó triệt tiêulợi thế cạnh tranh của họ đối với sản phẩm hàng hoá dịch vụ cụ thể trong cạnhtranh với các quốc gia liên quan đó

Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment – viết tắt là NT):Thành viên phải có nghĩa vụ đối xử bình đẳng giữa trong nước và nước ngoài

Một nhà nước phải cung cấp đối xử bình đẳng với những công dân của cácquốc gia khác đang tham gia vào thỏa thuận Các hàng hóa nhập khẩu và sảnxuất trong nước phải được đối xử bình đẳng, ít nhất là sau khi hàng hoá nướcngoài đã vào thị trường

Trang 15

1.4 Tình hình đàm phán

Cách thức đàm phán: mỗi bên đều có quyền đưa ra đề xuất của mình,chấp nhận hoặc không chấp nhận đề xuất của đối tác (không có một hệ thốngquy chuẩn sẵn), với 21 nhóm đàm phán, 29 chương, 2 loại đàm phán: lời văn-

mở cửa thị trường (hàng hóa, dịch vụ, mua sắm công, đầu tư), 2 kiểu đàmphán (đa phương, song phương)

Các quy định trong cách thức tiếp cận của hiệp định TPP là cách tiếpcận chọn-bỏ Khác với cách tiếp cận chọn-cho (chỉ liệt kê các lĩnh vực camkết mở cửa, những lĩnh vực không liệt kê thì không có nghĩa vụ gì); theo cáchtiếp cận này, chỉ cho phép các nước bảo lưu một số lượng hạn chế các ngành,phân ngành, mà phải giải trình với lý do hợp lý để được bảo lưu, các nội dungkhông được liệt kê trong danh mục này được hiểu là cam kết thức hiện

Chưa có kết quả đàm phán chính thức Các nước TPP thỏa thuận vềnguyên tắc bảo mật nội dung đàm phán nên thông tin rất chung chung, mangtính tuyên bố)

Đến hết năm 2014, các nước đã kết thúc đàm phán các nội dung: Hợptác và xây dựng năng lực; doanh nghiệp nhỏ và vừa, vì sự phát triển, gắn kếtmôi trường chính sách, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng; thống nhất lờivăn của chương nhập cảnh tạm thời của khách kinh doanh, chương viễn thông.Ngoài ra, các nước đã kết thúc cơ bản chương chính sách cạnh tranh (khôngbao gồm các vấn đề DNNN) Trong tuyên bố của các nhà lãnh đạo TPP ngày10/11 (sau Hội nghị Bộ trưởng các nước đàm phán TPP tại Australia) nêu rõ,đến nay chỉ còn một số ít các vấn đề còn tồn tại và tiến trình đàm phán đã đạtnhiều tiến bộ hơn trước

Tuyên bố chung của Bộ trưởng và Trưởng các đoàn đàm phán TPP sauHội nghị Bộ trưởng tại Sydney tháng 10/2014 đã đạt được tiến bộ đáng kểtrên hai nội dung đàm phán cơ bản của Hiệp định đó là: đàm phán về tiếp cậnthị trường và đàm phán về các quy tắc trong thương mại và đầu tư

Trang 16

Một số diễn tiến nổi bật trong đàm phán TPP thời gian vừa qua

Các nước TPP có thể sẽ không xóa bỏ toàn bộ thuế quan

Ban đầu, các nước hướng tới mục tiêu xóa bỏ 100% các dòng thuế, tuynhiên điều này khó có thể đạt được là do

- Nhật Bản kiên quyết không mở cửa 5 thị trường nông sản nhạy cảm làthịt, sữa, đường, gạo và lúa mỳ

- Ngày 19/5/2014, Bộ Trưởng Thương mại New Zealand Tim Groser

đã ra tín hiệu rằng chính phủ nước này có thể để mở khả năng một hiệp địnhTPP cuối cùng không xóa bỏ toàn bộ thuế quan đối với các sản phẩm nôngnghiệp mà vẫn giữ lại một số dòng thuế, miễn sao vẫn đàm bảo một kết quảtổng thể cuối cùng “có chất lượng cao”

- Mới đây, Hoa Kỳ không kêu gọi xóa bỏ toàn bộ thuế quan như trướckia mà chỉ mong muốn đạt được “xóa bỏ thuế quan và mở cửa thị trường đángkể cho hàng hóa xuất khẩu của Hoa Kỳ”

Nhật Bản có thể chỉ dành nhượng bộ riêng cho Hoa Kỳ

Theo đó, Nhật Bản mở cửa 5 thị trường nông sản cho riêng Hoa Kỳ để đổilại Hoa Kỳ không áp dụng các biện pháp trả đũa với sản phẩm ô tô của NhậtBản tuy nhiên, điều này đã vấp phải sự phản đối của các nước trong TPP

Bộ trưởng Thương mại New Zealand Tim Groser nhấn mạnh: bất kỳcam kết nào của Nhật bản với Hoa Kỳ phải được thiết kế sao cho các nướcTPP khác cũng phải được lợi tương tự

Đàm phán dệt may đạt tiến triển tuy nhiên đàm phán về quy tắc xuất xứ ngày càng phức tạp

Quy tắc cộng gộp và tỷ lệ tối thiểu của nguyên liệu không có xuất xứnội khối đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi

Tuy nhiên, bước tiến đạt được là TPP thống nhất là sẽ áp dụng cả haiphương pháp doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ sẽ là phương pháp chính

áp dụng phổ biến, nhưng việc xin giấy chứng nhận xuất xứ từ cơ quan có

Trang 17

thẩm quyền sẽ vẫn được sử dụng trong một số trường hợp ngoại lệ và trongmột khoảng thời gian nhất định sau khi TPP có hiệu lực.

Đàm phán về DNNN sẽ loại trừ lĩnh vực dịch vụ

Các quan điểm về DNNN trong TPP

- Hoa Kỳ: Áp dụng nguyên tắc minh bạch và cạnh tranh áp dụng riêngcho DNNN để đảm bảo bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân, áp dụngcho DNNN cấp liên bang

- Australia: DNNN vẫn kinh doanh trên hệ thống chung, tuy nhiên nếu

có DNNN nào được hưởng vị thế thì phải nộp lại cho NN phần lợiích đó

- Singapore: Không thể bình đẳng giữa DNNN và DN tư nhân

Hội nghị Bộ trưởng các nước TPP tại Singapore (diễn ra từ 25/2/2014) đã đi đến thống nhất Chính phủ các nước TPP sẽ không bị hạn chếtrong việc hỗ trợ cho các DNNN khi DNNN đó cung ứng dịch vụ tại thịtrường nội địa Và các nguyên tắc về cạnh tranh bình đẳng mà các nước đangđàm phán để đưa vào Chương DNNN trong TPP, nếu có, sẽ chỉ áp dụng chocác DNNN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa và các DNNN cungcấp dịch vụ ra nước ngoài Như vậy, những DNNN của các nước TPP hoạtđộng trong các lĩnh vực như tài chính, viễn thông, y tế, giáo dục, phân phối,chuyển phát trong thị trường nội địa, nơi mà chúng thường chiếm vị thếđộc quyền, sẽ không bị điều chỉnh

22-Ý tưởng mới về bảo hộ sở hữu trí tuệ với dược phẩm

Các nước TPP đã bắt đầu xem xét một phương pháp tiếp cận mới chovấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với dược phẩm, theo đó vẫn sẽ thiết lập mộtgói các nghĩa vụ/tiêu chuẩn chung, duy nhất cho tất cả các nước tham gia (cảphát triển và đang phát triển) nhưng cho phép lộ trình thực thi dài hơn đối vớicác nước đang phát triển, thu nhập thấp

1.5 Đàm phán đối với MSCP trong TPP

Trang 18

Hiện tại, 12 quốc gia thành viên TPP đang đàm phán về những cam kết

mở cửa thị trường dựa trên một biểu cam kết riêng xoay quanh ba tiêu chí.Thứ nhất, các bên sẽ xây dựng cam kết cơ quan nào của chính phủ sẽ phải mởcửa đấu thầu cho các đối tác TPP Thứ hai là phạm vi hàng hóa dịch vụ nàocác nhà cung cấp TPP được quyền tham gia, và cuối cùng là ở ngưỡng giá trịchào thầu bao nhiêu trở lên thì phải mở cửa

Các quan điểm trong TPP

- Các nước đã thông nhất về nguyên tắc minh bạch hóa

- Tuy nhiên, Hoa kỳ chỉ mở cửa mua sắm công ở các đơn vị cấp liênbang, Canada và Singapore yêu cầu phải mở cửa ở cả cấp bang

- Với chuyện chọn bỏ hay chọn cho cơ quan nào và loại hàng hóa dịch

vụ nào sẽ được đưa ra chào thầu cho các thành viên TPP vẫn chưa đi đến kếtluận cuối cùng

1.6 Những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP

1.6.1 Sự cần thiết tham gia TPP của Việt Nam

Việc tham gia đàm phán TPP là phù hợp với định hướng chiến lược củaViệt Nam là tham gia hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng, toàn diện,phù hợp với điều kiện của đất nước, và mang lại nhiều lợi ích cho đất nước

Về địa chính trị, hiệp định TPP, VN-EU FTA và RCEP (Hiệp định Đốitác Kinh tế Toàn diện Khu vực, viết tắt tiếng Anh: RegionalComprehensive Economic Partnership) giúp tạo lập sự cân bằng giữa cácnước lớn (Mỹ, EU, Trung Quốc) Đây là định hướng chiến lược trong quan

hệ ngoại giao của Việt Nam

Về mặt thể chế, tham gia TPP, một hiệp định chất lượng cao sẽ tạo rasức ép, “buộc” Việt Nam phải đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế nền kinh

tế, thúc đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hìnhtăng trưởng Kinh nghiệm từ việc ký kết BTA, tham gia WTO cho thấy nền

Trang 19

kinh tế Việt Nam đều cần những “sức ép” từ bên ngoài để thúc đẩy quátrình đổi mới và đạt được những giai đoạn tăng trưởng kinh tế.

Về mặt kinh tế, mang lại lợi ích kinh tế lớn cho Việt Nam trong việcphát triển kinh tế và đảy mạnh xuất khẩu, tạo thuận lợi cho thương mại vàhiệu quả trong chuỗi cung ứng, hiện đại hoá các lĩnh vực dịch vụ, đẩynhanh cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, mở cửa thị trường muasắm; thuận lợi trong tiếp cận thị trường tất cả các nước TPP, trong đó cócác lĩnh vực quan trọng của Việt Nam như nuôi trồng thuỷ sản, dệt may, dagiầy, đồ nội thất; được giảm thuế đối với hàng hoá xuất khẩu; cải thiện cácbiện pháp hạn chế nhập khẩu; có cơ hội được công nhận là nền kinh tế thịtrường sớm hơn

Để thúc đẩy cải cách kinh tế và nâng cao trình độ phát triển của ViệtNam rất cần thiết phải mở cửa nền kinh tế Đồng thời, những cải cách vàchính sách mở cửa tích cực lại tạo cơ hội để Việt Nam hội nhập quốc tếthành công TPP vừa tạo ra thách thức, vừa tạo ra sức ép để Việt Nam đẩymạnh cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách khu vựcDNNN, hoàn thiện hệ thống luật pháp…Những cải cách này trước mắt làđể bảo đảm đủ điều kiện cho Việt Nam bước vào "sân chơi” TPP…, song

về lâu dài, có tác động tích cực đối với lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Thông qua TPP, các quan hệ thương mại, đầu tư và hợp tác giáo dục,khoa học công nghệ giữa Việt Nam với các thành viên TPP có thể cải thiện,

mở rộng nhanh chóng Theo đó, tạo thêm nguồn lực từ bên ngoài giúp ViệtNam phát triển, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới

Theo nghiên cứu của Trung tâm Đông – Tây (Mỹ), các quốc gia cóquy mô kinh tế nhỏ, đặc biệt là Việt Nam sẽ nhận được nhiều lợi ích nhất

từ TPP cũng như các hiệp định thương mại tự do trong khu vực Trung tâm

Trang 20

này dự báo, đến năm 2025, GDP của Việt Nam sẽ tăng thêm 14,7%, chủyếu nhờ vào việc mở rộng thương mại thông qua TPP.

1.6.2 Những thuận lợi khi gia nhập TPP

Nếu ra đời, TPP sẽ trở thành một trong những khu vực thương mạilớn nhất thế giới với hơn 800 triệu người, đóng góp hơn 40% GDP của thếgiới và khoảng 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và mang lại lợi íchtổng thể cho tất cả các quốc gia tham gia vào hiệp định

Đối với Việt Nam, có thể phân tích cụ thể các thuận lợi khi tham giaTPP như sau:

(i) Nhóm các lợi ích khai thác từ thị trường nước ngoài (các nước đốitác TPP)

Lợi ích ở thị trường các nước đối tác TPP mà Việt Nam có thể tậndụng từ TPP thể hiện ở 2 hình thức chủ yếu:

- Lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa):

Lợi ích này được suy đoán là sẽ có được khi hàng hóa Việt Namđược tiếp cận các thị trường này với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0 Nhưvậy lợi ích này chỉ thực tế nếu hàng hóa Việt Nam đang phải chịu mức thuếquan cao ở các thị trường này và thuế quan là vấn đề duy nhất cản trở sứccạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường này

Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, việc chúng ta có thể tiếpcận các thị trường lớn như Hoa Kỳ với mức thuế suất bằng 0 hoặc thấp nhưvậy sẽ mang lại một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng hếtsức sáng sủa cho nhiều ngành hàng của chúng ta, kéo theo đó là lợi ích chomột bộ phận lớn người lao động hoạt động trong các lĩnh vực phục vụ xuấtkhẩu Lợi ích này không chỉ dừng lại ở những nhóm mặt hàng mà ViệtNam đang có thế mạnh xuất khẩu (ví dụ như dệt may, giầy dép…), nó còn

là động lực để nhiều nhóm mặt hàng khác hiện chưa có kim ngạch đáng kể

có điều kiện để gia tăng sức cạnh tranh Nói một cách khác, lợi thế này

Trang 21

không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn được nhìn thấy ở cả tiềm năngtrong tương lai.

Tuy nhiên, lợi ích này cần được đánh giá một cách chừng mực hơn,đặc biệt khi quyết định đánh đổi quyền tiếp cận thị trường Việt Nam củahàng hóa nước ngoài để có được những lợi ích này Cụ thể:

+ Thực tế, cơ hội tăng mạnh xuất khẩu không phải cho tất cả khi mà

ví dụ đối với Hoa Kỳ, hàng thủy sản chưa chế biến hay đồ gỗ (hai lĩnh vựcxuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này) thực tế đã đang đượchưởng mức thuế suất gần bằng 0, vì vậy có TPP hay không cũng khôngquan trọng Cũng như vậy, dù rằng tương lai không hẳn chắc chắn nhưngmột số mặt hàng có thể được Hoa Kỳ xem xét cho hưởng GSP “miễn phí”nếu chúng ta có nỗ lực vận động tốt mà không cần TPP với những cái giáphải trả có thể lớn (bằng việc mở cửa thị trường nội địa cũng như nhữngràng buộc khác) Đối với các ngành thuộc nhóm này, lợi ích thuế quan làkhông đáng kể (hoặc không có) Tình trạng tương tự với một số thị trườngkhác (ví dụ Úc, New Zealand, Peru hiện đã áp dụng mức thuế 0% cho cácsản phẩm thủy sản như cá, tôm, cua… của Việt Nam);

+ Đối với những mặt hàng khác, trong khi cơ hội tăng xuất khẩu vớigiá cạnh tranh là có thật và rất lớn (ví dụ dệt may, da giầy), những rào cảndưới dạng quy định kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ hay kiện phòng vệ thương mạivới quy chế nền kinh tế phi thị trường mà Hoa Kỳ thực hiện rất có thể sẽ vôhiệu hóa lợi ích từ việc giảm thuế quan Cũng như vậy những điều kiệnngặt nghèo về lao động, về xuất xứ nguyên liệu cũng có thể khiến hàng hóaViệt Nam không tận dụng được lợi ích từ việc giảm thuế trong TPP

Nói một cách khác, những lợi ích về thuế quan trên thị trường nướcđối tác TPP (đặc biệt là Hoa Kỳ) chỉ thực sự đầy đủ khi xem xét tất cả cácyếu tố Và nếu bất kỳ yếu tố nào trong số những rào cản đối với hàng xuấtkhẩu không được cải thiện thì lợi ích thuế quan từ TPP sẽ bị giảm sút, thậm

Trang 22

chí nếu những rào cản này bị lạm dụng, lợi ích từ thuế quan có thể bị vôhiệu hóa hoàn toàn Phương án đàm phán về thuế quan vì vậy cần phải lưu

ý đến tất cả những yếu tố này

- Lợi ích tiếp cận thị trường (đối với thương mại dịch vụ và đầu tư)

Về lý thuyết Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ của cácnước đối tác thuận lợi hơn, với ít các rào cản và điều kiện hơn Tuy vậytrên thực tế dịch vụ của Việt Nam hầu như chưa có đầu tư đáng kể ở nướcngoài do năng lực cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam cònyếu kém Trong tương lai, tình hình này có thể thay đổi đôi chút (vớinhững nỗ lực trong việc xuất khẩu phần mềm, đầu tư viễn thông hay một sốlĩnh vực dịch vụ khác) tuy nhiên khả năng này tương đối nhỏ

Ngoài ra, với hiện trạng mở cửa tương đối rộng về dịch vụ của cácđối tác quan trọng trong TPP như hiện nay, lợi ích này có thể không có ýnghĩa (bởi có hay không có TPP thì thị trường dịch vụ của họ cũng đã mởsẵn rồi) Đây cũng chính là lý do nhiều ý kiến cho rằng các nước phát triển

sẽ được lợi về dịch vụ trong TPP trong khi những nước như Việt Nam hầunhư không hưởng lợi gì từ việc này

(ii) Nhóm các lợi ích khai thác được tại thị trường nội địa (Việt Nam)

Trong thực thi các FTA, thị trường nội địa thường được hiểu là nơichịu thiệt hại Tuy nhiên, đối với trường hợp của Việt Nam, nhiều chuyêngia nhấn mạnh rằng chúng ta có thể “có lời” từ TPP ngay cả ở thị trườngnội địa, nơi vốn được xem là “chỉ chịu thiệt” từ các FTA nói chung

“Khoản lời” này nằm ở những khía cạnh sau đây:

- Lợi ích từ việc giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nướcTPP: Người tiêu dùng và các ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu nhậpkhẩu từ các nước này làm nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ hànghóa, nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sinh hoạt và sản xuất, từ đó cóthể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của những ngành này;

Trang 23

- Lợi ích từ những khoản đầu tư, dịch vụ đến từ Hoa Kỳ và cácnước đối tác TPP: Đó là một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, manglại dịch vụ giá rẻ hơn chất lượng tốt hơn cho người tiêu dùng, những côngnghệ và phương thức quản lý mới cho đối tác Việt Nam và một sức ép đểcải tổ và để tiến bộ hơn cho các đơn vị dịch vụ nội địa;

- Lợi ích đến từ những thay đổi thể chế hay cải cách để đáp ứngnhững đòi hỏi chung của TPP: TPP dự kiến sẽ bao trùm cả những cam kết

về những vấn đề xuyên suốt như sự hài hòa giữa các quy định pháp luật,tính cạnh tranh, vấn đề hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuỗicung ứng, hỗ trợ phát triển… Đây là những lợi ích lâu dài và xuyên suốtcác khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt có ý nghĩa đối vớinhóm doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (doanh nghiệp nhỏ và vừa) và

do đó là rất đáng kể;

- Lợi ích đến từ việc mở cửa thị trường mua sắm công: Mặc dùmức độ mở cửa đối với thị trường mua sắm công trong khuôn khổ TPPchưa được xác định cụ thể nhưng nhiều khả năng các nội dung trong Hiệpđịnh về mua sắm công trong WTO sẽ được áp dụng cho TPP, và nếu điềunày là thực tế thì lợi ích mà Việt Nam có được từ điều này sẽ là triển vọngminh bạch hóa thị trường quan trọng này – TPP vì thế có thể là một độnglực tốt để giải quyết những bất cập trong các hợp đồng mua sắm công vàhoạt động đấu thầu xuất phát từ tình trạng thiếu minh bạch hiện nay;

- Lợi ích đến từ việc thực thi các tiêu chuẩn về lao động, môitrường: Mặc dù về cơ bản những yêu cầu cao về vấn đề này có thể gây khókhăn cho Việt Nam (đặc biệt là chi phí tổ chức thực hiện của Nhà nước vàchi phí tuân thủ của doanh nghiệp) nhưng xét một cách kỹ lưỡng một sốtiêu chuẩn trong đó (ví dụ về môi trường) sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam làmtốt hơn vấn đề bảo vệ môi trường (đặc biệt trong đầu tư từ các nước đối tácTPP) và bảo vệ người lao động nội địa

Trang 24

Theo một nghiên cứu định lượng của Trung tâm Đông – Tây (Trungtâm nghiên cứu được Quốc hội Mỹ thành lập), thì tác động của TPP trongthời gian đầu là tương đối nhỏ, song đến năm 2025, TPP có thể đem lại giatăng thu nhập cho nền kinh tế toàn cầu lên đến 104 tỷ USD Nghiên cứunày đề cập đến hai con đường hướng tới tự do hóa trong khu vực châu Á –Thái Bình Dương: thứ nhất là đi từ các hiệp định thương mại tự do của cácnước trong khu vực, mà chủ yếu bắt đầu từ các hiệp định của ASEAN, rồitiến đến một hiệp định thương mại tự do cho cả khu vực; thứ hai là đi từTPP, mở rộng dần cho các nước trong khu vực, và tiến đến xây dựng hiệpđịnh cho tất cả các quốc gia trong khu vực Trong nghiên cứu này, các quốcgia TPP được hiểu là bên cạnh 11 quốc gia đã chính thức nhận lời tham giađàm phán còn có thêm Nhật Bản và Hàn Quốc, tổng cộng là 13 quốc gia.Nghiên cứu này chỉ ra rằng TPP là con đường dẫn đến tự do hóa khu vựcđem lại lợi ích nhiều nhất cho các quốc gia Vào năm 2025 GDP toàn cầugia tăng 104,3 tỷ USD, tương ứng với mức gia tăng 0,1% Tất cả các quốcgia tham gia TPP đều thu được lợi ích từ Hiệp định này.

Trang 25

Bảng 1.2 GDP gia tăng theo quốc gia vào năm 2025 với kịch bản TPP

Quốc gia

GDP năm 2025 (không có TPP) (tỷ USD)

GDP gia tăng nhờ TPP (tỷ USD)

% so với GDP

(Nguồn: Nghiên cứu của Trung tâm Đông-Tây, thuộc Quốc hội Mỹ)

Theo dự tính của Trung tâm nghiên cứu Đông-Tây (QH Mỹ), nhờ thamgia TPP, đến năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm 25,8% Mức giatăng này của Việt Nam cao hơn hẳn các quốc gia khác cùng tham gia TPP

Bảng 1.3 Gia tăng thu nhập và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam so với các quốc gia TPP và một số quốc gia khác trong khu vực vào năm 2025

STT Quốc gia % Gia tăng GDP % Gia tăng kim ngạch xuất khẩu

Trang 26

Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong TPP yêu cầu các sản phẩm xuất khẩu

từ một thành viên của TPP sang các thành viên khác phải có xuất xứ “nộikhối”, không sử dụng các nguyên liệu của nước thứ ba ngoài thành viên TPPmới được hưởng ưu đãi thuế suất 0% Đây là khó khăn đối với doanh nghiệpsản xuất của Việt Nam, đặc biệt là ngành xuất khẩu hàng may mặc và da giầy.Hiện nay, do năng lực tự sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu còn hạn chế,ngành xuất khẩu hàng may mặc và da giầy Việt Nam đang lệ thuộc hoàn toànvào nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc (nước không tham giaTPP) Trong khi Quy tắc xuất xứ áp dụng “từ sợi trở đi” thì Việt Nam khó cóthể đáp ứng được yêu cầu này Năm 2014, nhập khẩu nguyên liệu cho ngànhmay mặc và da giầy của Việt Nam là 4,69 tỷ USD, trong đó nhập khẩu từTrung Quốc 32,9%; Hàn Quốc 16,97%; EU 5,8% Trong khi 03 đối tác TPPtrong tương lai là Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ốt-xtrây-li-a chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêmtốn, tương ứng là 4,76%; 5,59% và 0,87% Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội đốivới các ngành sản xuất hàng xuất khẩu bởi nếu vượt qua được, Việt Nam sẽsớm thoát khỏi thực trạng là một nước gia công đơn giản, đồng thời thúc đẩycác ngành phụ trợ

Trang 27

Ngay cả nông sản, chăn nuôi, vốn là một thế mạnh của Việt Nam, songnhiều mặt hàng được dự báo khó cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa, nhưthịt lợn, thịt bò Độ mở của nền kinh tế Việt Nam còn thấp và được bảo hộnhiều hơn bất cứ quốc gia TPP nào Trên thực tế, ở Việt Nam các thị trườngdịch vụ, thị trường lao động, khoa học-công nghệ…vẫn chưa phát triển hoànchỉnh hoặc mới chỉ manh nha Vì vậy, khi TPP chính thức có hiệu lực, ViệtNam sẽ phải đối mặt với đòi hỏi từ các nước TPP về việc mở rộng cửa hơnnữa cho đầu tư nước ngoài ở nhiều lĩnh vực mà Việt Nam chưa thị trườnghóa, chẳng hạn như viễn thông và dịch vụ tài chính Thỏa mãn những yêu cầunày sẽ là thách thức về mặt kinh doanh và chính sách công.

Các nước tham gia TPP có xu hướng đàm phán hạn chế nhằm giữ bảohộ đối với nông sản nội địa Khi đó, hàng rào phi thuế quan sẽ trở nên phổbiến nhưng yêu cầu cao hơn về chất lượng sản phẩm, trong khi đây là điểmyếu của sản xuất nông nghiệp Việt Nam Hàng nhập khẩu tăng, xuất khẩukhông tìm được đường vào thị trường các nước sẽ khiến nông nghiệp có nguy

cơ gia tăng áp lực cạnh tranh

Thứ hai, việc tham gia Hiệp định TPP còn dẫn đến những thách thứclớn về cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, mà theo đánh giá củaphía Mỹ là chiếm tới 40% GDP quốc gia Các cam kết từ TPP có thể gây ramột số hệ quả xã hội tiêu cực như tình trạng phá sản và thất nghiệp ở cácdoanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu, từ đó gây ra áp lức tới thị trườnglao động của Việt Nam

Về cơ bản, tham gia TPP là phù hợp với định hướng cải cách DNNNcũng như cải cách, đổi mới kinh tế thị trường của Việt Nam Bởi vậy, ViệtNam cần nhanh chóng: (i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo hướngcải cách mạnh mẽ DNNN; (ii) Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữacác doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; (iii) Thực hiện nhất quán cơ

Trang 28

chế giá thị trường, loại bỏ mọi hình thức trợ cấp trái với quy định của WTO;(iv) Cải cách và hoàn thiện thể chế về pháp luật kinh doanh.

Thứ ba, việc cam kết và thực hiện các cam kết sâu và rộng trong khuônkhổ TPP sẽ đòi hỏi Việt Nam trong việc phải nhanh chóng kiện toàn hệ thốngluật pháp; các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm, môi trường, xã hội…theothông lệ quốc tế Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, việc đưa hệ thống quyđịnh pháp luật và các chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu kinh tế-xã hội lên một mứctương xứng với các bên khác trong TPP là vô cùng khó khăn

Thứ tư, đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, việcdần xóa bỏ các điều kiện thị trường lại trở thành thách thức do hệ thống ngânhàng vẫn còn nhiều hạn chế Về tiếp cận dịch vụ ngân hàng, tuy đã có nhữngtiến bộ nhưng vẫn ở mức thấp so với một số nước trong khu vực và trên thếgiới (Theo IMF, tính đến năm 2012, tỷ lệ chi nhánh và phòng giao dịch trên100.000 người dân Việt Nam là 3,17, thấp hơn nhiều so với Thái Lan là 11,7,In-đô-nê-xi-a là 9,59, các nước OECD là 27; mức độ phân bổ các chi nhánh

và phòng giao dịch tại Việt Nam chưa đồng đều, tập trung ở Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh) Điều này làm tăng cơ hội cho các ngân hàng quốc tế tiếpcận thị phần khách hàng, ảnh hưởng tới thị trường tiềm năng của các ngânhàng trong nước

Thứ năm, Hiệp định mua sắm chính phủ cũng đặt ra nhiều thách thứcdo: (i) Mua sắm chính phủ của các công ty trong nước không còn độc quyền

mà phải cạnh tranh bình đẳng với các nhà thầu nước ngoài; (ii) Các nhà thầutrong nước phải nâng cao năng lực để có thể cạnh tranh với các nhà thầu củacác nước thành viên TPP

Thứ sáu, thách thức nghiêm trọng nhất đối với Việt Nam bao trùm cảnhững thách thức nêu trên là Việt Nam hiện có khoảng cách quá lớn về trìnhđộ phát triển so với tất cả các nước thành viên TPP Bên cạnh đó, Việt Namcòn có những khác biệt lớn với các đối tác trong TPP Chẳng hạn:

Trang 29

Về kinh tế thị trường: Việt Nam chưa có kinh tế thị trường đúng nghĩa.Kinh tế thị trường ở Việt Nam là "theo định hướng XHCN”, không thật sự tôntrọng các quy luật của thị trường về cung cầu-cạnh tranh-giá cả Thị trường ởViệt Nam về cơ bản mới có thị trường sản phẩm; thị trường vốn, lao động,khoa học công nghệ…phát triển chưa đáng kể Mỹ là đối tác lớn nhất trongTPP hiện cũng vẫn cho rằng Việt Nam là một nền "kinh tế phi thị trường” và

áp đặt các hạn chế đối với ngành dệt may, thuỷ sản…của Việt Nam

Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong công cuộc tự do hoá nền kinh

tế và đã trở thành thành viên của WTO Tuy vậy, Việt Nam vẫn gặp nhiều chỉtrích về các tiêu chuẩn lao động, sở hữu trí tuệ và vấn đề tham nhũng Riêng vềvấn đề quyền sở hữu trí tuệ, Việt Nam tiếp tục nằm trong danh sách các nước

bị phía Mỹ theo dõi, một phần do sản phẩm lậu và nhái vẫn được tiêu thụ rộngrãi trên thị trường, bao gồm cả vi phạm bản quyền online

Về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các đối tác trong TPP chủyếu là quan hệ "hàng dọc”, nghĩa là xuất khẩu nguyên liệu thô, sản phẩm giacông; nhập khẩu công nghệ, máy móc…

Những yếu tố nêu trên sẽ làm hạn chế đáng kể khả năng tận dụng cơhội, vượt qua các thách thức từ TPP của Việt Nam

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN MUA SẮM CHÍNH PHỦ CỦA VIỆT NAM 2.1 Phân tích thực trạng hoạt động đấu thầu các dự án MSCP của Việt Nam

2.1.1 Đối tượng và phạm vi điều chỉnh Mua sắm chính phủ trong khuôn khổ Hiệp định TPP

Mua sắm chính phủ (MSCP) là một trong những lĩnh vực nhạy cảmtrong thương mại quốc tế; vì vậy trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thếgiới (WTO), Hiệp định về MSCP là hiệp định không bắt buộc các thành viênphải tuân thủ Tuy nhiên, trong khuôn khổ Hiệp định TPP, việc tuân thủ cácđiều khoản liên quan đến vấn đề MSCP là bắt buộc đối với tất cả các bêntham gia nhằm sử dụng thị trường MSCP để kích thích thương mại quốc tếphát triển với tốc độ nhanh chóng hơn và bình đẳng hơn giữa các bên thamgia ký kết Những điểm đáng chú ý trong quy định về MSCP của Hiệp địnhTPP tập trung vào ba vấn đề: phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc chung và sựkhuyến khích sử dụng giao tiếp điện tử

Thứ nhất, về đối tượng bao gồm các tổ chức, cá nhân tham gia có liên

quan đến hoạt động đấu thầu được quy định tại Điều 1 Luật Đấu thầu và các

tổ chức, cá nhân được chọn áp dụng theo quy định

Thứ hai, về phạm vi điều chỉnh, MSCP bao gồm họat động “mua, thuê,

thuê mua, hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT)và hợp đồngnhượng quyền công trình công cộng”[3] với những điều kiện cụ thể được quyđịnh tại Phụ lục của Hiệp định bao gồm: ngưỡng giá gói thầu; danh sách các

cơ quan chính phủ; danh sách hàng hóa, dịch vụ, dịch vụ xây lắp và các loạitrừ chung Những gói thầu dưới ngưỡng quy định thì không thuộc phạm vi ápdụng của TPP, do vậy, buộc phải đưa nguyên tắc xác định giá gói thầu

2.1.2 Hình thức chọn nhà thầu MSCP

- Đấu thầu rộng rãi: Là hình thức không hạn chế số lượng chọn nhàthầu, nhà đầu tư

Trang 31

- Đấu thầu hạn chế: Áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao

về kỹ thuật, có tính đặc thù mà chỉ một số nhà thầu có khả năng đáp ứng

- Chỉ định thầu: Áp dụng cho các gói thầu cấp bách, cần triển khaingay hoặc tương thích về điều kiện kinh tế, xã hội, kỹ thuật, an ninh… theoquy định

- Chào hàng cạnh tranh: Áp dụng với gói thầu có giá trị trong hạn mứctheo quy định của chính phủ theo quy định

- Mua sắm trực tiếp: Áp dụng với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tựthuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác

- Tự thực hiện: Áp dụng trong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng

có năng lực kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu

- Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt: Khi xuấthiện các điều kiện không thể áp dụng các hình thức chọn thầu trên, người cóthẩm quyền trình Thủ tướng xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhàthầu, nhà đầu tưu,

- Tham gia thực hiện của cộng đồng: Áp dụng với gối thầu thuộc mục tiêuquốc gia, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ vùng sâu vùng xa, miền núi hải đảo, vùngđặc biệt khó khăn, gói thầu quy mô nhỏ, dân cư địa phương có thể đảm nhiệm

2.1.3 Chất lượng hoạt động MSCP

Mua sắm công luôn chiếm một phần lớn trong tổng chi ngân sách củađất nước Đây cũng là lĩnh vực dễ nảy sinh thất thoát và sử dụng sai mục đíchchi ngân sách Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính cho biết: chỉ tính riêngngân sách Trung ương năm 2015, tổng chi cân đối ngân sách Trung ương là314.544 tỷ đồng Trong đó chi cho phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốcphòng - an ninh và quản lý hành chính sự nghiệp là 160.231 tỷ đồng, trong sốnày khoảng 20% được chi cho mua sắm công

Trong những năm qua, hệ thống pháp luật quản lý hoạt động mua sắmcông của nước ta đã không ngừng được hoàn thiện, giảm thất thoát lãng phí,chất lượng không ngừng tăng lên

Trang 32

Năm 2002, Ngân hàng Thế giới xác định sáu thiếu sót lớn trong hệthống mua sắm công của Việt Nam:

- Thiếu văn bản luật cơ bản về mua sắm công và các tài liệu chuẩn

- Thông báo và quảng cáo về các cơ hội tham gia đấu thầu không đủ

- Thiếu sự tiếp cận của công chúng đối với luật pháp về mua sắm công

- Thiếu cơ chế rõ ràng để xử lý tranh chấp trong đấu thầu

- Thiếu hướng dẫn rõ ràng và chi tiết việc triển khai thực hiện quy định

về mua sắm công, ví dụ phương thức đánh giá chung và thống nhất, thủ tục

ưu tiên trong nước

- Thiếu nhân sự có năng lực và các cơ quan chuyên trách về mua sắm công

Từ đó, Việt Nam đã thông qua nhiều Luật và Nghị định điều chỉnh hoạtđộng mua sắm công nhằm xử lý những bất cập mà Ngân hàng Thế giới đã đềcập đến Luật Đấu thầu 2005 (Luật số 61/2005/QH11), được thông qua năm

2005 và được sửa đổi bằng Luật số 38/2009/QH12 năm 2009 (“Luật Đấuthầu”), và gần đây nhất là Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 (hiệu lực từ01/7/2014 Bên cạnh đó, có nhiều nghị định và thông tư hướng dẫn triển khaicác Luật này (Phụ lục 1)

Luật đấu thầu số 43/2013/QH13có một số điểm tiến bộ như sau

- Ưu tiên phát triển nguồn lực, tạo cơ hội cho nhà thầu trong nướctrúng thầu và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, ưu đãi đối vớinhà thầu và hàng hóa sản xuất trong nước nhằm thực hiện chủ trương của BộChính trị về “Khuyến khích người Việt Nam ưu tiên dung hàng Việt Nam”đồng thời từng bước giúp nhà thầu Việt Nam tiếp nhận công nghệ và kinhnghiệm quản lý tiên tiến, tự chủ, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh để tiến tớitrở thành nhà thầu độc lập thực hiện các gói thầu lớn, công nghệ cao, phức tạpkhông chỉ tại thị trường Việt Nam mà cả trên thị trường quốc tế

- Sửa đổi một số quy định hiện hành nhằm đơn giản hóa thủ tục hànhchính trong hoạt động đấu thầu theo tinh thần Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày2/6/2010 và Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ, đồng

Trang 33

thời quy định cụ thể hơn về các quy trình lựa chọn nhà thầu đối với từngtrường hợp cụ thể.

- Quy định rõ phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu theo từng lĩnh vực

cụ thể Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung một số phương pháp mới trong đánhgiá hồ sơ dự thầu nhằm đa dạng hóa phương pháp đánh giá để phù hợp vớitừng loại hình và quy mô của gói thầu, đồng thời khắc phục tình trạng bỏ thầugiá thấp nhưng không đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu

- Quy định hình thức mua sắm tập trung để áp dụng rộng rãi trong côngtác đấu thầu Theo hình thức này, thay vì tổ chức mua sắm ở hàng trăm cơquan khác nhau thì cơ quan mua sắp tập trung sẽ chịu trách nhiệm tổ chứcmua sắm chuyên nghiệp một lần Hình thức này không chỉ giúp tăng tínhchuyên nghiệp trong hoạt động mua sắm mà còn tạo điều kiện nâng cao hiệuquả, rút ngắn thời gian và chi phí tổ chức mua sắm, đồng thời hỗ trợ phát triểnsản xuất trong nước và khuyến khích nhà thầu nâng cao chất lượng hàng hóa,dịch vụ

- Có một mục quy định về thuốc, vật tư y tế sử dụng vốn nhà nước,nguồn quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu từ dịch vụ khám chữa bệnh và nguồn thuhợp pháp khác của cơ sở y tế công lập Riêng đối với đấu thầu mua thuốc,Luật đấu thầu năm 2013 quy định bổ sung hình thức đàm phán đánh giá đốivới gói thầu mua thuốc chỉ có từ một đến hai nhà sản xuất, thuộc biệt dượcgốc, thuốc hiếm, thuốc trong thời gian còn bản quyền và các trường hợp đặcthù khác theo quy định của Chính phủ

- Bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về thủ tục, phương pháp lựachọn nhà đầu tư trên cơ sở tổng hợp các thông lệ quốc tế tốt và rút kinhnghiệm từ thực tiễn lựa chọn nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước thựchiện các dự án kết cấu hạ tầng và dịch vụ công cộng tại VIệt Nam trong thờigian qua Đi đôi với giải pháp phát triển quyết liệt để thực hiện dự án đầu tưtheo hình thức đối tác công tư nhằm thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư công, quy địnhnày góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thu hút, lựa chọn nhà đầu

Trang 34

tư một cách minh bạch, cạnh tranh; xây dựng niềm tin của nhà đầu tư đối vớimôi trường đầu tư tại Việt Nam.

- Sửa đổi một số quy định hiện hành về ký kết thực hiện và quản lý hợpđồng; quy định hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản, khi quyết định ápdụng loại hợp đồng theo đơn giá cố định, đơn giá điều chỉnh thì người phêduyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải đảm bảo loại hợp đồng này phù hợphơn so với hợp đồng trọn gói

- Phân cấp triệt để việc quyết định hình thức chỉ định thầu cho Bộtrưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịchUBND các cấp mà không yêu cầu trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyếtđịnh Để việc phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình, tránh khép kín trongđấu thầu, Luật đấu thầu năm 2013 đã bổ sung quy định về trách nhiệm giảitrình của người dân có thẩm quyền, chủ đầu tư trong quá trình tổ chức lựachọn nhà thầu, nhà đầu tư

- Bổ sung quy định về yêu cầu giám sát của cộng đồng trong quá trìnhlựa chọn nhà thầu và thực hiện hợp đồng, bổ sung trách nhiệm về giám sátcủa người có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu, đồng thờiquy định rõ trách nhiệm của cá nhân đối với từng hoạt động trong quá trìnhđấu thầu để có cơ sở quy định chế tài xử lý vi phạm tương ứng với từng hành

vi vi phạm

- Bổ sung một số hành vi bị cấm trong đấu thầu, đồng thời quy địnhthêm biện pháp xử phạt đối với cá nhân được giao trách nhiệm xử phạt nhưngkhông tuân thủ quy định, các biện pháp phạt bổ sung như đăng tải công khaicác tổ chức, cá nhân vi phạm trên phương tiện thông tin đại chúng, buộc phảithực hiện đúng quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc bồi thường thiệt hạitheo quy định

Đầu tư các dự án công cũng có những bước cải thiện rõ rệt Trong năm

2014, một số công trình, dự án trọng điểm quốc gia có sử dụng vốn ODA nhưcầu Nhật Tân, đường nối Nhật Tân - Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Nhà

Trang 35

ga hành khách T2 - Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, đường cao tốc Nội Bài

- Lào Cai đã được hoàn thành; Dự án cấp nước sạch và vệ sinh môi trườngnông thôn Đồng bằng sông Hồng được đưa vào khai thác sử dụng, góp phầnhoàn chỉnh, hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng, thúc đẩy liên kết vùng trongtiến trình phát triển khu vực phía Bắc Tại phía Nam, có thể kể đến các dự ánlớn như Dự án cơ sở hạ tầng giao thông Đồng bằng sông Cửu Long, Dự ánđầu tư xây dựng Nhà máy nhiệt điện Ô Môn số 2 và lưới điện truyền tải khuvực Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam được đánh giá cao trong hiệu quả

sử dụng nguồn vốn ODA với những công trình hạ tầng được xây dựng nhanh,đảm bảo chất lượng tốt Nguồn vốn ODA đã giúp Việt Nam đạt được nhữngkết quả phát triển ấn tượng, không chỉ về hạ tầng mà còn về đào tạo, nhân lực,xóa đói giảm nghèo Các dự án của ADB tại Việt Nam đạt tỷ lệ thành công82,1%, cao hơn tỷ lệ của một số nước như Ấn Độ (65,2%), Indonesia(63,2%), Philippines (45,5%)

Áp dụng đấu thầu điện tử nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầuNgày 4/9/2009, Cục Quản lý Đấu thầu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và Cơquan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) đã thực hiện bàn giao Hệ thốngMSCP điện tử thử nghiệm (EPPS)

Thực hiện nhiệm vụ được quy định tại Điều 30 của Luật Đấu thầu,Nghị định 85/2009/NĐ-CP và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về

Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử các giai đoạn 2006-2010 và2011-2015, Chương trình Quốc gia về ứng dụng Công nghệ thông tin giaiđoạn 2011-2015, hệ thống đấu thầu điện tử được tiến hành theo 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 (2009-2011): Xây dựng hệ thống đấu thầu điện tử bằngcách đưa công nghệ đã triển khai thành công tại các nước có hệ thống đấu thầuqua mạng phát triển vào thử nghiệm, phù hợp với điều kiện Việt Nam, tiếp thuchuyển giao công nghệ và từ đó phát triển hoàn thiện thêm Mục tiêu cho giaiđoạn này là: Hạ tầng kỹ thuật của Hệ thống đấu thầu qua mạng; Xây dựng

Trang 36

khung pháp lý thực hiện thí điểm đấu thầu qua mạng; tuyên truyền nâng caonhận thức, đào tạo, tổ chức vận hành và thực hiện thí điểm đấu thầu qua mạng.

- Giai đoạn 2 (2010-2015): Mở rộng hệ thống đã xây dựng, hoàn thiện

bổ sung các chức năng hệ thống đã phát triển, gồm: mua sắm điện tử, hợpđồng điện tử, thanh toán điện tử và từng bước áp dụng với các đơn vị có chứcnăng mua sắm sử dụng nguồn vốn nhà nước

Ngày 22/02/2011, Cục Quản lý đấu thầu – Bộ Kế hoạch và Đầu tư đãphối hợp và hướng dẫn với Chi nhánh Viện Dầu khí Việt Nam tại Thành phố

Hồ Chí Minh triển khai công tác thí điểm đấu thầu qua mạng theo Thông tư17/2010/TT-BKH ngày 22/7/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Sau khi triển khai thành công gói thầu thí điểm đấu thầu qua mạng đầutiên, ngày 23/3/2011, Viện Dầu khí Việt Nam chi nhánh Hà Nội tiếp tục triểnkhai thí điểm đấu thầu qua mạng gói thầu “Mua sắm thiết bị văn phòng khối Cơquan Viện theo kế hoạch năm 2011”, giá gói thầu là 229 triệu đồng, thuộc Dự ánMua sắm thiết bị văn phòng khối Cơ quan Viện theo kế hoạch năm 2011

Hiện nay, đấu thầu qua mạng đã trở thành xu thế tất yếu của nhiều quốcgia Theo báo cáo của các nước đã triển khai, đấu thầu qua mạng có thể giúptiết kiệm chi phí từ 3% đến 20% giá trị đấu thầu mua sắm, trung bình là 10%.Tại Việt Nam, tổng giá trị các gói thầu thực hiện theo Luật Đấu thầu hàngnăm khoảng 20% GDP (tương đương hơn 20 tỷ USD) Nếu triển khai đấuthầu qua mạng cho 100% các gói thầu thì có thể tiết kiệm hàng tỷ USD chongân sách nhà nước

Về khía cạnh kinh tế, hệ thống MSCP điện tử không những nâng caotính minh bạch, mà còn giảm được nhiều chi phí về mặt hành chính choChính phủ, thông qua việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, thông quađấu thầu trực tuyến sẽ cắt giảm được số ngày và chi phí đi lại tham gia dựthầu, nâng cao hiệu suất công việc, hiệu quả của công tác đấu thầu

Cục Quản lý Đấu thầu tính toán rằng: mua sắm công ở Việt Nam thườngchiếm khoảng 40% GDP, giả định 10% tổng số tiền mua sắm công được thực

Trang 37

hiện bằng hình thức điện tử với khả năng giảm 10% chi phí, Việt Nam có thểtiết kiệm hơn 6,7 nghìn tỷ đồng/năm, tương đương khoảng 0,4 tỷ USD.

Đánh giá cao tính hiệu quả của hệ thống EPPS, Cục trưởng Cục Quản

lý Đấu thầu Đặng Huy Đông dự đoán rằng đấu thầu qua mạng sẽ có thể giúpgiảm từ 10 - 20% chi phí giao dịch trong đấu thầu cho cả bên mời thầu và nhàthầu, thông qua việc tự động hóa các quy trình đấu thầu (EPPS là dự án thànhphần của Đề án ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm Chính phủ)

Về mặt kỹ thuật, hệ thống EPPS cho phép công tác sơ tuyển, phát hành

hồ sơ mời thầu, thỏa thuận liên danh, nộp hồ sơ dự thầu, kiến nghị về kết quảđấu thầu, thông báo kết quả… đều có thể được thực hiện trên mạng

Yêu cầu về bảo mật thông tin cũng được đáp ứng thông qua việc ápdụng chữ ký số Ngược lại, EPPS cũng cho phép nhà cung cấp có điều kiện tiếpcận các nội dung đấu thầu, bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu để tham gia dự thầu

EPPS có thể tự động hóa các quy trình đấu thầu bắt buộc, do đó cả bênmời thầu và nhà thầu không thể làm chệch hướng được các quy trình này

Mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung mới được thíđiểm thực hiện 7 năm nhưng đã tỏ ra hết sức hiệu quả trong việc tiết kiệm tối

đa nguồn ngân sách nhà nước Tổng hợp báo cáo trong 5 năm thực hiện thíđiểm từ các Bộ, ngành và địa phương theo số dự toán và số thực tế mua sắmthì số tiền chênh lệch này là hơn 467 tỷ đồng (năm 2008 là 66,6 tỷ đồng; năm

2009 là 109,3 tỷ đồng; năm 2010 là 21,2 tỷ đồng; năm 2011 là 266,5 tỷ đồng

và 06 tháng đầu năm 2012 là 5,3 tỷ đồng) Kết quả này mới chỉ dừng ở con số

23 Bộ, ngành, địa phương triển khai thí điểm; việc mua sắm này góp phầnchống lãng phí hiệu quả

Mặc dù vậy, hiệu quả của mua sắm tập trung sẽ không chỉ thể hiện ở sốtiền giảm chi mà còn được thể hiện ở chất lượng hàng hóa đầu vào tốt, giáthống nhất, tương đồng về kỹ thuật; đảm bảo công khai, minh bạch Việc muasắm tài sản, hàng hoá theo phương thức tập trung đã đáp ứng được yêu cầutrang bị hiện đại, đồng bộ về tài sản, góp phần đổi mới công nghệ quản lý

Trang 38

theo hướng cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhànước, đặc biệt là việc trang bị thiết bị công nghệ thông tin, trang thiết bịchuyên dùng trong ngành Hải quan, Kho bạc nhà nước, Y tế, Giáo dục.

Như vậy, nếu việc mua sắm tập trung được mở rộng tới tất cả các cơquan, đơn vị trên phạm vi cả nước và mở rộng cả đối tượng hàng hóa, dịch vụbuộc phải mua sắm tập trung thì số chênh lệch này được chắc chắn sẽ cao hơnnhiều, chứ không dừng lại ở con số 467 tỷ đồng

Tại các Bộ, ngành, địa phương thực hiện mua sắm tập trung không còntình trạng trang bị tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy địnhhoặc trang bị tài sản tràn lan, không hiệu quả do khi xây dựng kế hoạch muasắm tập trung, các cơ quan quản lý đã rà soát kỹ lưỡng hiện trạng, nhu cầutrang bị tài sản của các cơ quan, đơn vị, đối chiếu với tiêu chuẩn, định mức sửdụng tài sản Điều này đã góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo việc quản lý,

sử dụng tài sản nhà nước chặt chẽ, đúng pháp luật

Có nhiều ưu điểm vượt trội cho nên các quy định về hình thức mua sắmtập trung được bổ sung trong Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 có hiệu lực từngày 1/7/2014

Cổ phần hoá DNNN nhằm nâng cao chất lượng hoạt động Tính đếntháng 3/2015, lượng vốn Nhà nước thoái khỏi các DN đạt 10 nghìn tỷ đồng sovới kế hoạch 15 nghìn tỷ đồng trong giai đoạn 2014-2015 Mục tiêu trongnăm 2015, Việt Nam cổ phần hóa tổng số 532 doanh nghiệp Việc thoái vốnđầu tư ngoài ngành và bán vốn Nhà nước tại doanh nghiệp đến nay đều bảotoàn vốn và có lãi

Tuy nhiên, mua sắm công Việt Nam còn nhiều bất cập Để nâng caohiệu quả quản lý lĩnh vực này, một số vấn đề về phương pháp và pháp luậtcần tiếp tục được hoàn thiện, nhằm siết chặt quản lý chi tiêu công

Thứ nhất, mua sắm công Việt Nam còn lãng phí

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước về việc mua sắm, quản lý và sử dụngtài sản công tại các Ban quản lý dự án thuộc 4 Bộ: Nông nghiệp và Phát triển

Trang 39

nông thôn, Giao thông vận tải, Y tế, Giáo dục và Đào tạo và 3 địa phương là:

TP Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Đồng Nai thì hầu hết các bộ ngành, địa phươngnói trên đều để xảy ra tình trạng sử dụng ngân sách nhà nước vượt tiêu chuẩn,sai mục đích, lãng phí

Việc mua sắm tài sản công ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị thựchiện chưa đúng quy trình, thủ tục theo quy định Việc xây dựng quy chế chitiêu nội bộ còn chung chung, hình thức nên hiệu quả thực hành tiết kiệm,chống lãng phí chưa cao, thậm chí có những đơn vị hụt chi phải ứng trướckinh phí năm sau Một số nơi, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị chưatiêu biểu, gương mẫu trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, để xảy

ra tiêu cực bị xử lý kỷ luật Việc đầu tư, quản lý vốn xây dựng cơ bản nhiềuthiếu sót, đầu tư dàn trải ở một số lĩnh vực Công tác lập, thẩm định, phêduyệt thiết kế dự toán một số dự án, công trình còn nhiều những bất cập, thiếutính khả thi nên khi đưa vào sử dụng hiệu quả kém, gây lãng phí vốn đầu tưxây dựng Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện còn ít, chưa thường xuyên vàviệc xử lý sai phạm sau thanh tra, kiểm tra chưa kịp thời

Tiêu biểu là năm 2013 và những tháng đầu năm 2014, tỉnh Kiên Giangthanh tra, kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý sửdụng ngân sách, mua sắm tài sản công đối với 72 cơ quan, đơn vị của tỉnh.Qua đó, kết luận 35 cơ quan, đơn vị vi phạm với tổng giá trị gần 5 tỷ đồng; xử

lý thu hồi hơn 2,7 tỷ đồng; có 174 cán bộ, đảng viên vi phạm, trong đó xử lýkỷ luật về đảng, chính quyền 32 người và hình sự 1 người

Thứ hai, nhiều công trình bị chậm tiến độ, đội giá, gây thất thu ngân sách

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh- Hà Đông: gói thầu chính (thiết kế,cung cấp thiết bị, vật tư và xây lắp) do Công ty hữu hạn Tập đoàn cục 6đường sắt Trung Quốc thực hiện theo hình thức tổng thầu EPC có tổng mứcđầu tư từ 552 triệu USD đã lên tới 891 triệu USD, tăng 339 triệu USD

Dự án Nhà máy gang thép Lào Cai được khởi công vào cuối tháng4/2008 do công ty TNHH khống chế cổ phần gang thép Côn Minh (Trung

Ngày đăng: 10/11/2015, 18:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Đăng Chương, 2012, Hội thảo “Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương và Ý nghĩa đối với doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương và Ý nghĩa đối với doanh nghiệp
19. Trang Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: http://nguyentandung.org/ Link
4. Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 5. Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013 Khác
7. Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương Khác
14. International Monetary Fund, 2013, World Economic Outlook Database 15. Quốc hội nước CHXHCNVN, 2005, Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 16. World Trade Organization, 1995, Government Procurement Agreement Khác
20. Tạp chí Kinh tế đối ngoại Đại học Ngoại thương Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. GDP gia tăng theo quốc gia vào năm 2025 với kịch bản TPP - HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN MUA SẮM CHÍNH PHỦ CỦA VIỆT NAM DƯỚI ẢNH ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP
Bảng 1.2. GDP gia tăng theo quốc gia vào năm 2025 với kịch bản TPP (Trang 26)
Bảng 3.1. Mức độ áp dụng thủ tục đấu thầu điện tử - HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN MUA SẮM CHÍNH PHỦ CỦA VIỆT NAM DƯỚI ẢNH ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP
Bảng 3.1. Mức độ áp dụng thủ tục đấu thầu điện tử (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w