Xuất phát từ yêu cầu đó, nhóm tiến hành nghiên cứu đề tài “Đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao Việt Nam giai đoạn 2009 – 2014”, với mong muốn chỉ ra một số tồn tại trong hoạt động đ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thể dục thể thao (TDTT) là lĩnh vực xã hội, có ý nghĩa quan trọng trongviệc nâng cao sức khỏe, tầm vóc, thể lực người dân, từ đó nâng cao năng suấtlao động xã hội Không chỉ vậy, TDTT còn có ý nghĩa chính trị, văn hóa to lớn,
và trong thời gian gần đây ngày càng tỏ rõ sự đóng góp trong quá trình tăngtrưởng, phát triển kinh tế đất nước
Kể từ khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945, dưới sựlãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, TDTT đã được xác định là lĩnhvực quan trọng, cần được quan tâm sâu sát, nhất là khi nước ta vừa thoát khỏiđêm trường nô lệ gần 100 năm, vấn đề sức khỏe bị xem nhẹ Từ đó đến nay,ngành thể thao (TT) vẫn luôn được quan tâm và có những bước phát triển đángkể
Tuy vậy, từ Đại hội VI (1986), Ban chấp hành Trung ương Đảng xác địnhlại đường lối phát triển kinh tế là theo hướng thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Không chỉ các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh mà ngay cả những ngànhthường được mặc định hiểu là “phi kinh tế” như TT cũng phải chuyển mình đểthích ứng với sự thay đổi to lớn đó Gần 40 năm đổi mới, ngành TT đã gặt háiđược nhiều thành tựu, nhưng bên cạnh đó là không ít những vấn đề bất cập vàsai lầm – những bài toán đang chờ lời giải, trong đó có đầu tư phát triển Đây lànhiệm vụ then chốt trong sự phát triển của bất cứ lĩnh vực nào, nhưng với riêngTDTT, quá trình thực hiện vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý và không hiệu quả
Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải tìm giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tưphát triển phục vụ sự nghiệp TDTT Xuất phát từ yêu cầu đó, nhóm tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao Việt Nam giai
đoạn 2009 – 2014”, với mong muốn chỉ ra một số tồn tại trong hoạt động đầu tư
phát triển của ngành TDTT, từ đó rút ra một số vấn đề kinh tế, quản lý và cácgiải pháp, kiến nghị tương ứng để tham mưu cho các nhà quản lý
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 2- Phân tích, đánh giá thực trạng, kết quả đầu tư phát triển ngành TDTT, tìm
ra nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế tronghoạt động đầu tư phát triển TDTT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Tình hình đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển ngành thể dục thểthao Việt Nam giai đoạn 2009 – 2014 trên các nội dung cơ bản: cơ sở vật chất,nguồn nhân lực và hoạt động khoa học
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –Lênin
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, phương pháp so sánh, phươngpháp toán thống kê
- Vận dụng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý hoạtđộng đầu tư ngành TDTT
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đầu tư phát triển là chìa khóa của sự tăng trưởng và phát triển, không chỉđối với nền kinh tế vĩ mô mà còn với riêng từng ngành, trong đó có TDTT Bởivậy, nghiên cứu về đầu tư phát triển là đòi hỏi khách quan và cấp thiết trong tìnhhình hiện nay Ở trong nước đã có một số công trình đề cập tới yêu cầu đầu tưphát triển ngành TDTT, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ tiếp cận vấn đềbằng một số công cụ toán kinh tế mà chưa đi sâu nghiên cứu Lâm Quang
Thành, Dương Nghiệp Chí, Phạm Ngọc Viễn, Tạ Xuân Lai trong Tài sản thể dục thể thao kinh doanh và quản trị (2007) tập trung xem xét việc kinh doanh
TDTT nhằm tạo ra lợi nhuận thông qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Trang 3Lương Kim Chung, Dương Nghiệp Chí, Tạ Xuân Lai trong Kinh tế học TDTT
(2003) cũng chỉ dừng lại ở việc khảo lược, chưa có những nghiên cứu, phân tíchchuyên sâu
Có thể thấy đầu tư phát triển ngành TDTT chưa được nghiên cứu cụ thể
cả ở góc độ chuyên môn TDTT và kinh tế học, nhưng đã dần manh nha những ýtưởng nghiên cứu ban đầu Trong quá trình thực hiện, nhóm tác giả đã kế thừa,học hỏi các công trình đi trước để đề tài được hoàn thiện hơn
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu thamkhảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chư ơng 1 : Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư phát triển ngành thể dục
thể thao
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao Việt Nam
giai đoạn 2009 - 2014
Ch
ương 3 : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển
ngành thể dục thể thao Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN NGÀNH THỂ DỤC THỂ THAO 1.1 Lý thuyết về đầu tư phát triển
1.1.1 Khái niệm, bản chất của đầu tư phát triển
Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thờigian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác địnhtrong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là phương thức đầu tư trựctiếp nhằm duy trì và tao ra giá trị và năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của tàisản Qua hoạt động đầu tư này, năng lực sản xuất và năng lực phục vụ của nềnkinh tế cũng gia tăng
Tìm hiểu cụ thể, thì bản chất của đầu tư phát triển bao gồm các nội dungchủ yếu sau:
- Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực như: tiền vốn, đất
đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên…
- Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư
bỏ vốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định: Trên góc độ phân công
lao động xã hội thì hai nhóm đối tượng là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnhthổ Trên góc độ tính chất và muc đích đầu tư, đối tượng là công trình vì mụctiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận Trên góc độ mức độ quan trọng, đốitượng đầu tư gồm loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khíchđầu tư và loại cấm đầu tư Trên góc độ tài sản, đối tượng là tài sản vật chất (tàisản thực: tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh và tài sản lưu động)
và tài sản vô hình (phát minh sáng chế, uy tín, thương hiệu)
- Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản: gồm tài sản vât
chất (nhà xưởng, thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoahọc kỹ thuật…) và tài sản vô hình (phát minh sáng chế, bản quyền…)
- Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư: Đầu tư nhà nước nhằm thúc đầy tăng trưởng
Trang 5kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đờisống của các thành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểuchi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồnnhân lực…
- Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi môt chủ đầu tư nhất định:
Theo Luật đầu tư năm 2005, chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giaoquản lý, sử dụng vốn đầu tư Bởi vậy, chủ đầu tư là người ra quyết định đầu tưhoặc được giao quản lý quá trình thực hiện, vận hành kết quả đầu tư và đượchưởng lợi từ thành quả đầu tư đó; đồng thời chủ đầu tư cũng chịu trách nhiệmkiểm tra giám sát đầu tư, chịu trách nhiệm toàn bộ về những sai phạm và hậuquả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường, trực tiếp ảnh hưởng đến việc nângcao hiệu quả đầu tư
- Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài
và tồn tại vấn đề “độ trễ” thời gian: Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa
thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư Đầu tư trong hiện tạinhưng kết quả đầu tư có “độ trễ” do thời gian vận hành nằm ở tương lại
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
- Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi vốn lớn, vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư: Đặc điểm này liên quan đến quyết định bỏ
vốn của chủ đầu tư Do quy mô vốn lớn nên đòi hỏi phải có giải pháp tạo và huyđộng vốn hợp lý, xây dựng chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn,quản lý vốn đầu tư chặt chẽ, bố trí vốn theo đúng tiến độ đầu tư, thực hiện đầu
tư đúng trọng tâm trọng điểm Bên cạnh đó, trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, cầnnghiên cứu kỹ từ luật pháp liên quan đến hoạt động đầu tư, nghiên cứu nhu cầuthị trường, môi trường đầu tư đến yếu tố đầu vào, công nghệ sử dụng,… để đảmbảo nguồn vốn lớn được sử dụng đúng mục đích và đạt hiệu quả tối ưu
- Hoạt động đầu tư phát triển có tính chất lâu dài: Tính lâu dài thể hiện
trong cả thời gian thực hiện đầu tư kéo dài cho đến thời gian vận hành các kếtquả đầu tư cũng kéo dài
Trang 6+ Thời gian thực hiện đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự
án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Do thời gian này có thể kéodài hàng chục năm cùng với lượng vốn lớn nằm khê đọng dưới dạng các côngtrình xây dựng dở dang, nên cần xem xét và phân tích kỹ lưỡng để đưa ra cácquyết định sử dụng vốn hợp lý, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng đồngthời nghiên cứu sự thay đổi các chính sách pháp luật, hay môi trường đầu tư đểkịp thời điều chỉnh hoạt động đầu tư phù hợp
+ Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi công trìnhđưa vào hoạt động đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình Trongquá trình vận hành, công trình luôn chịu sự tác động, cả về mặt tiêu cực lẫn mặttích cực, của các yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội,
- Kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian: Kết quả
là sự so sánh những gì đạt được với mục tiêu đã đề ra Hiệu quả là sự so sánhthành quả đạt được với chi phí sử dụng Hoạt động đầu tư luôn diễn ra trong môitrường biến động theo thời gian và không gian, nên đôi khi mục tiêu đề ra haychi phí sử dụng sẽ thay đổi theo sự biến động đó, cho nên thành quả đạt đượccũng sẽ khác với dự kiến ban đầu Bởi vậy, kết quả và hiệu quả cũng đồng thờithay đổi linh hoạt theo sự biến đổi của không gian và thời gian, nơi diễn ra hoạtđộng đầu tư
- Thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng, thường phát huy tác dụng ở ngay nơi nó được tạo dựng nên, do đó quá trình thưc hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng: Đặc điểm này liên quan
đến việc lựa chọn địa điểm cho việc thực hiện dự án với nhiều vấn đề cần xemxét như: vấn đề quy hoạch địa phương nơi đặt dự án; vấn đề giá thuê đất, muađất và giá thành xây dựng công trình; vấn đề tiêu thụ sản phẩm, chi phí vậnchuyển
Trang 7- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Do qui mô vốn đầu tư lớn, hoạt động
đầu tư có tính chất lâu dài,… nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triểnthường cao Nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như: quản lý kém,chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu, Nguyên nhân khách quan như giánguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt côngsuất thiết kế,… Vì vậy, cần đề ra các biện pháp quản lý rủi ro, gồm: nhận diệnrủi ro đầu tư, đánh giá mức độ rủi ro, xây dựng các biện pháp phòng và chốngrủi ro nhằm hạn chế tối thiểu các thiệt hai có thể xảy ra
1.1.3 Vai trò của đầu tư phát triển
a Ở phạm vi nền kinh tế
- Tác động đến tổng cầu, tổng cung của nền kinh tế
Tác động đến tổng cầu: Xét mô hình kinh tế vĩ mô: AD = C + I + G + NXĐầu tư là một bộ phận quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Tácđộng của đầu tư thể hiện rõ nét nhất trong ngắn hạn Khi tổng cung chưa kịpthay đổi, gia tăng đầu tư (I) sẽ làm tổng cầu (AD) tăng
Tác động đến tổng cung: Cung trong nước phụ thuộc các yếu tố sản xuất:vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ,…: Q = F(K, L, T, R…)
Khi tăng qui mô đầu tư, sẽ làm gia tăng trực tiếp tổng cung của nền kinh
tế khi các yếu tố khác không đổi Đầu tư còn mang lại tác động nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ,… gián tiếp làm tăng tổng cung
- Tác động đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượngtăng trưởng Tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý góp phầnnâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng caosức cạnh tranh của nền kinh tế,… từ đó làm nâng cao chất lượng tăng trưởngkinh tế
Biểu hiện cụ thể mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thông qua hệ sốICOR (tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa qui mô vốn đầu tư
Trang 8tăng thêm với mức gia tăng sản lượng hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra mộtđơn vị sản lượng (GDP) tăng thêm
Đầu tư ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng thông qua các nhân tốchính: vốn (K), lao động (L) và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) Trong đó,TFP phản ảnh sự gia tăng chất lượng lao động, chất lượng máy móc, vai trò củaquản lý và tổ chức sản xuất TFP phụ thuộc tiến bộ công nghệ và hiệu quả sửdụng vốn, lao động
- Tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư tác động làm cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với qui luật vàchiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cânđối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, giữa các ngành, vùng và phát huyđược nội lực của nền kinh tế
Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, qui mô nhiều hay ít,hiệu quả sử dụng vốn cao hay thấp,… đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, khảnăng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triểncác ngành mới,… do đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành
Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư góp phần giải quyết những mất cân đối vềphát triển giữa các vùng lãnh thổ, đảm bảo chất lượng cho quá trình đô thị hóa…
Đối với cơ cấu theo thành phần kinh tế, đầu tư góp phần khuyến khích cácthành phần kinh tế, động viên mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế xã hội
- Tác động đến sự tăng năng lực khoa học công nghệ của đất nước
Đầu tư là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoahọc công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia Tùy vào mỗi thời kỳ pháttriển mà các quốc gia sẽ có các chiến lược khác nhau để đầu tư phát triển côngnghệ
- Tác động tới tiến bộ xã hội và môi trường
Đầu tư là nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng xã hội tiến bộ Đầu tư đúngtrọng tâm trọng điểm và đồng bộ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững, qua đó nâng cao thu nhập người dân, cài thiện mức sống vật chất,
Trang 9tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tế, giáo dục Hoạt động đầu tư cũngtrực tiếp cung cấp công ăn việc làm cho người dân, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Đầu tư tác động tới môi trường: Ở góc độ tích cực, thông qua mục tiêu, kếhoạch đặt ra trong công tác huy động vốn và nguồn lực vào các vùng kinh tế,các ngành, thông qua hoạt động sử dụng vốn, đầu tư đã góp phần khắc phục vàgiảm bớt sự ô nhiễm, cân bằng lại môi trường sinh thái Những hình thức đầu tưphát triển sản xuất đã sử dụng nguyên liệu tái chế, tận dụng, tiết kiệm tài nguyênmôi trường
Ở góc độ tiêu cực, hoạt động đầu tư trên cơ sở các nguồn lực sẵn có,không thể tái tạo đang ngày càng cạn kiệt; sử dụng đầu vào là nguồn tài nguyên
có khả năng tái tạo không hợp lý dẫn đến mất cân bằng sinh thái; thải chất độchại ra môi trường khiến môi trường ngày càng ô nhiễm nặng nề
b Ở phạm vi doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư quyết định đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của cácdoanh nghiệp Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn nhằm hìnhthành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinhdoanh Hoạt động này được thực hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự
án đầu tư
1.1.4 Nguồn vốn đầu tư phát triển
a/ Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế baogồm tiết kiệm của khu vực tư dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp vàtiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội, baogồm:
* Nguồn vốn Nhà nước
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách
Nhà nước cho đầu tư Đây là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lựơcphát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sửdụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các
Trang 10dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chicho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Trong nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư còn có một bộ phậnvốn sự nghiệp có tính chất đầu tư phát triển, được cấp cho các đơn vị hành chính
sự nghiệp để sửa chữa, cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất hiện có nhằm phục hồihoặc tăng giá trị tài sản cố định (bao gồm cả việc xây dựng mới các hạng mụccông trình trong các cơ sở đã có của các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp).Đây là loại chi lưỡng tính, mang tính không thường xuyên do không đều đặn, ổnđịnh hàng năm như chi lương, quản lý hành chính…, nhưng lại được cân đối vàochi thường xuyên do dùng để phục vụ hoạt động sự nghiệp và không mang tínhthen chốt như chi đầu tư thông thường
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình
đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vaitrò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việcbao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụngnguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đàu tư là ngườivay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụngđầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấpphát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồivốn trực tiếp
- Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là thành
phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ mộtkhối lượng vốn khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá mộtcách công bằng thì khu vực thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia củacác doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tếnhiều thành phần Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệuquả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của
Trang 11các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổngquy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
* Nguồn vốn của dân cư và tư nhân: Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao
gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh,các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sởhữu một lượng vốn rất tiềm năng mà chưa được huy động tối đa
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trongdân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹtryuền thống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải lànhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt… Nguồn vốn này xấp xỉ bằng80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Vốn của dân cưphụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Quy mô của các nguồntiết kiệm này phụ thuộc vào:
Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấpthường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp)
Tập quán tiêu dùng của dân cư
Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập
và các khoản đóng góp với xã hội
b/ Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi rộng hơn đó làdòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows) Về thực chất, cácdòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tàichính giữa các quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế,dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được cácnước thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm Dòng vốn này diễn ra với nhiều hìnhthức, mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng Theotính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại như sau:
Tài trợ phát triển chính thức (ODF - official development finance)
Trang 12Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA -officaldevelopment assistance) và các hình thức viện trợ khác, trong đó, ODA chiếm tỷtrọng chủ yếu trong nguồn ODF
ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủnước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với cáchình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODFnào khác Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay tương đối lớn,bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ)đạt ít nhất 25%
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèmcác điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tụcchuyển giao vốn và thị trường…) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn nàyvới thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể.Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài chonền kinh tế Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự
án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồnđược những mục tiêu có tính nguyên tắc
Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồnvốn ODA Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràngbuộc về chính trị Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường làtương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao, gây trở ngạikhông nhỏ đối với các nước nghèo
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọngtrong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị trường thế giới và
xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mạithường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắnhạn Một bộ phận của nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển Tỷ
Trang 13trọng của nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâudài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
FDI có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếpnhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận Thay vì nhận lãisuất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự
án đầu tư hoạt động có hiệu quả FDI mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanhvào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt lànhững ngành đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn Vìthế nguồn vốn này có tác dụng rất to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư,nhất là các nước đang phát triển
Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thịtrường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng vế cácnguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm
vi toàn cầu Ngay tại nhiều nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư qua thị trườngchứng khoán cũng gia tăng mạnh mẽ Mặc dù vào nửa cuối những năm 1990, có
sự xuất hiện của một số cuộc khủng hoảng tài chính nhưng đến cuối năm 1999khối lượng giao dịch chứng khoán tại các thị trường mới nổi vẫn đáng kể Riêngnăm 1999, dòng vốn đầu tư dưới dạng cổ phiếu vào Châu Á đã tăng gấp 3 lầnnăm 1998, đạt 15 tỷ USD
1.2 Đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao
1.2.1 Khái quát tiến trình lịch sử ngành thể dục thể thao
a Lịch sử ngành thể dục thể thao thế giới
Khoa học Mác – Lênin giải thích sự phát sinh và phát triển ban đầu củaTDTT theo quan điểm duy vật như một bộ phận của nền văn hóa chung của loàingười, bắt đầu từ đời sống vật chất của xã hội nguyên thủy Quá trình đó diễn ra
Trang 14do tác động qua lại của nhân tố khách quan là lao động sản xuất (săn thú, háilượm, bắt cá…) và nhân tố chủ quan là ý thức của con người.
Khoa học ngày nay đã xác định nguyên nhân phát sinh TDTT là nhu cầutruyền thụ và củng cố các kỹ năng lao động Nhu cầu tự nhiên về sự tập luyệncủa các cơ quan trong cơ thể để hoạt động tốt được coi là tiền đề sinh vật học, là
cơ sở tự nhiên của sự xuất hiện các bài tập TDTT
Trong xã hội thị tộc, các bài tập TDTT không những nhằm phát triển cácphẩm chất thể lực mà còn giáo dục tính kiên cường và ý chí Vì thế các mônchạy, nhảy, ném vật, mang vác nặng, trò chơi với bóng được phát triển rộng rãi
Thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy có liên quan tới việc sửdụng kim loại và phân công lao động giữa những người chăn nuôi và trồng trọt.Trong thời kỳ này đời sống kinh tế và xã hội có những biến đổi quan trọng Cáccuộc xung đột giữa các bộ lạc mang tính chất thường xuyên Nội dung giáo dụcthể chất đã thay đổi nhiều (đặc biệt là bị quân sự hóa rõ rệt)
Trong thời kỳ cổ đại, TDTT được sử dụng theo khuynh hướng quân sự cả
ở phương Đông và phương Tây với những bài tập đặc trưng như vật, chạy ,nhảy, ném lao… Ở thời kỳ này, TDTT phát triển tới đỉnh cao với sự ra đời củathế vận hội Olympic vào năm 776 Trước Công nguyên ở Olympia (Hy Lạp)
Ở thời trung cổ, TDTT mang nặng khuynh hướng quân sự do việc đào tạoquân sự là bắt buộc đối với vua chúa phong kiến, còn những người nông dânthường phải chống lại kẻ thù và bảo vệ tự do Khi xã hội phong kiến phát triển(thế kỷ X-XIV), cuộc đấu tranh giai cấp của quần chúng nhân dân chống lại chế
độ ngày càng trở nên gay gắt Ảnh hưởng đã hình thành nền TDTT của quầnchúng nhân dân (nông dân và thị dân) và nền TDTT của giai cấp thống trị(phong kiến và hiệp sĩ)
Thời kỳ cuối cùng của chế độ phong kiến đặc trưng bởi những mâu thuẫngay gắt, dữ dội, vốn có của nó Cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân chống
ý thức hệ tôn giáo và quý tộc trung cổ trong giáo dục là cơ sở cho sự phát triểnTDTT thời kỳ này Tư tưởng cơ bản của các nhà nhân đạo chủ nghĩa thời đại
Trang 15này là sử dụng giáo dục thể chất không những để huấn luyện quân sự mà còn đểtăng cường sức khỏe, phát triển sức mạnh thể chất Đó là một tư tưởng tiến bộ.
Đến thời cận đại, các quan điểm của chủ nghĩa duy vật khoa học tự nhiên
đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của lý luận và thực tiễn giáo dục thểchất Ở nhiều nước đã nảy sinh và phát triển các hệ thống giáo dục thể chất quốcgia, nhất là châu Âu Còn ở các nước thuộc địa, hoạt động giáo dục thể chất diễn
ra hạn chế do chính sách “ngu dân” của chính quyền thực dân Sau sự kiện Công
xã Paris (1871), phong trào TDTT có sự phát triển cả ở giai cấp tư sản và côngnhân Liên đoàn thể dục Châu Âu thành lập năm 1881 là tổ chức TT quốc tế đầutiên Tháng 6/1894, hội nghị Olympic lần 1 ở Paris đã thông qua Hiến chươngOlympic và thông qua quyết định thành lập Ủy ban Olympic quốc tế (IOC).Năm 1896, Đại hội Olympic lần 1 tổ chức tại Athen (Hy Lạp) – nơi khai sinh ra
nó Năm 1913, Giải vô địch các quốc gia Viễn Đông – tiền thân của Á vận hộiASIAD ra đời Kì ASIAD đầu tiên được tổ chức tại New Delhi (Ấn Độ) từ 4-12tháng 3 năm 1951
Sau thế chiến thứ 2, sự thống nhất và đoàn kết của các tổ chức TT cácnước xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong cuộc đấu tranh vì hòa bình và hữu nghị,
sự thi đấu thành công của các VĐV các nước XHCN ở các đại hội Olympic cáccuộc thi đấu vô định thế giới và Châu Âu, các cuộc gặp gỡ hữu nghị đã trở thànhđộng lực quan trọng đối với sự phát triển của phong trào TT quốc tế
Đại diện cho một phương hướng khác trong phong trào TT quốc tế là giới
TT phản động các nước đế quốc Họ chủ trương tiến hành đường lối thu hẹpphong trào TT quốc tế và hạn chế quan hệ với các VĐV các nước XHCN
Trong những năm sau chiến tranh, các lực lượng phản động của TT tư sản
đã nhiều lần mưu toan gây quan hệ căng thẳng trong phong trào TT quốc tế.Chính phủ một vài nước tư bản đã nhiều lần gây trở ngại cho việc tiến hành cáccuộc thi đấu quốc tế của thanh niên và sinh viên
Trong những năm sau chiến tranh thế giới trên vũ đài TT quốc tế đã xuấthiện một lực lượng mới là các tổ chức TT của các nước Châu Á và Châu Phi
Trang 16vừa thoát khỏi xiềng xích nô lệ thực dân Họ đã tham gia tích cực vào phongtrào TT quốc tế Trong những năm 70 và 80, tại một loạt nước đã thông qua cácđạo luật thể chất hóa hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực TDTT Tại phầnlớn các nước đang phát triển, đã thành lập các Ủy ban Olympic quốc gia, đạidiện cho VĐV trong phong trào thể thao quốc tế Ở Đông Nam Á, Đại hộiTDTT của khu vực (SEA Games) được tổ chức lần đầu ở Bangkok (Thái Lan)với tên gọi Đại hội TDTT bán đảo Đông Nam Á (SEAP Games) từ ngày 12-17/12/1959 Năm 1963, GANEFO thế giới – sự kiện TT tiêu biểu của phongtrào không liên kết tổ chức lần đầu ở Jakarta (Indonesia).
Ngày nay, các sự kiện TDTT vẫn được tổ chức định kỳ với sự góp mặtcủa những VĐV tên tuổi, xác lập nhiều kỷ lục mới, khẳng định khả năng không
có giới hạn của con người
b Lịch sử ngành thể dục thể thao Việt Nam
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiếnhành cuộc cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời Đất nước vừa giành được độc lập đã gặp phải biết bao khó khăn, trở lựcbởi thù trong giặc ngoài, nền kinh rất nghèo nàn lạc hậu, nhân dân nhiều nơi đóirét, dịch bệnh hoành hành, sức khỏe giảm sút nghiêm trọng, thất học và mù chữnặng nề Trong hoàn cảnh đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thứcđược tầm quan trọng của vai trò sức khỏe đối với con người nên đã sớm ký Sắclệnh thành lập ngành Y tế và ngành TDTT của nước Việt Nam mới
Vào ngày 31/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14, thành lậpNha Thể dục Trung ương thuộc Bộ Thanh niên, tiền thân của ngành TDTT ngàynay Ngành TDTT mới ra đời có nhiệm vụ là liên lạc mật thiết với Bộ Y tế và
Bộ Giáo dục để nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục trong toàn quốcnhằm nâng cao sức khỏe quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam
Ngày 26/03/1964, Bác Hồ tự tay viết “Lời kêu gọi tập thể dục” Ngày hôm sau 27/03/1946 “Lời kêu gọi tập thể dục” của Bác được công bố trên báo Cứu
Quốc, cơ quan ngôn luận của Mặt Trận Việt Minh Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí
Trang 17Minh ký tiếp Sắc lệnh số 33 thành lập Nha Thanh niên và Thể dục thuộc BộQuốc gia Giáo dục.
Chỉ hai tháng sau khi “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” của Bác Hồ đăng
trên báo Cứu quốc số 199, ngày 27-3-1946, trong toàn quốc đã dấy lên phongtrào “Khỏe vì nước” sôi nổi Phong trào “Khỏe vì nước” thực chất là bước đầucủa nền TDTT mới còn non trẻ nhưng đầy sinh lực phát triển
Ngành TDTT ra đời có chức năng tham mưu cho Chính phủ, quản lý, điềuhành công tác TDTT trong phạm vi cả nước, đặc trách công tác TDTT vì lợi íchcủa nhân dân và đất nước Điều đó chưa từng có trong lịch sử dân tộc Việt Nam
từ trước cách mạng tháng Tám
Năm 1957, Ban TDTT Trung ương được thành lập, đến năm 1960 đổithành Ủy ban TDTT Ngày 02/10/1958, Ban bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thịđầu tiên về TDTT ở nước ta – Chỉ thị số 106 CT/TW Ngày 25/12/2958, giải
chạy việt dã báo Tiền phong được tổ chức lần đầu Ngày 15/9/1959, Trường
trung cấp TDTT Trung ương – tiền thân của Trường đại học TDTT Bắc Ninh –được thành lập
Năm 1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua Nghịđịnh về “ Chế độ rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn” và “Chế độ phân cấp vậnđộng viên và trọng tài”, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện cơ sở chươngtrình và tiêu chuẩn của hệ thống giáo dục cho quân nhân dự bị và cho chiến sĩlòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, táo bạo, mưu trí, sự nhanh nhẹn, sức bềnbỉ… Cũng trong năm này, Ban bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 38 CP/TW
về “tăng cường công tác TDTT quốc phòng” Năm 1975, với sự kiện thống nhấtđất nước, một giai đoạn phát triển mới của TDTT được bắt đầu TDTT đang trởthành một bộ phận hữu cơ của công cuộc xây dựng nên văn hóa mới, con ngườimới XHCN Việt Nam
Năm 1985, Đại hội TDTT toàn quốc lần 1 tổ chức tại thủ đô Hà Nội.Ngày 29-1-1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 25/CT về việc lấy
ngày 27-3 hàng năm làm “Ngày Thể thao Việt Nam” Sự kiện được tổ chức hàng
Trang 18năm nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia phong trào rèn luyện thân thể
và các hoạt động văn hoá TT lành mạnh Đây là dấu mốc lịch sử bắt nguồn từnhững sự kiện lịch sử buổi ban đầu của nền TDTT cách mạng
Ngày 31 tháng 7 năm 2007, Bộ văn hóa, thể thao và du lịch được thànhlập, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực theo Nghịquyết số 01/2007/QH12 trên cơ sở sáp nhập Tổng cục Du lịch, Tổng cục TDTT;tiếp nhận phần quản lý Nhà nước về gia đình từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻem
1.2.2 Chức năng của thể dục thể thao và sự cần thiết phải đầu tư phát triển
ngành thể dục thể thao
TDTT là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là một loại hình hoạt động
mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực (thể hiện qua cách thức rèn luyệnthân thể) nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích TT, gópphần làm phong phú sinh hoạt văn hoá và giáo dục con người phát triển cân đốihợp lý
TDTT có một số chức năng cơ bản như sau:
- Chức năng giáo dưỡng: Được thể hiện trong việc sử dụng TDTT trong
hình thức giáo dục chung nhằm hình thành cho thế hệ trẻ vốn kĩ năng kĩ xảo vậnđộng cơ bản trong cuộc sống và trang bị tri thức chuyên môn Chức năng nàyđược thực hiện trong lĩnh vực TDTT trường học dưới hình thức môn học TDTTbắt buộc (giáo dưỡng cho trẻ các kĩ năng kĩ xảo vận động như đi, chạy, nhảy, leotrèo các bài tập thể dục cơ bản)
- Chức năng thực dụng: Chức năng này được thể hiện trước nhất trong
việc sử dụng TDTT để chuẩn bị thể lực chuyên môn cho hoạt động cũng nhưnâng cao năng suất lao động Bao gồm các bài tập thực dụng trong đào tạo nghềnghiệp Có 2 dạng là thực dụng quân sự và thực dụng ngành nghề
- Chức năng TT: Là chức năng khai thác và mở rộng giới hạn thể lực và
những khả năng có liên quan trực tiếp với nói ở con người chức năng này đượcthể hiện trong lĩnh vực TT thành tích cao
Trang 19- Chức năng nghỉ ngơi giải trí, hồi phục sức khoẻ: TDTT là một nhân tố
hữu hiệu chống lại mệt mỏi, đáp ứng nhu cầu cảm xúc và hồi phục chức năng cơthể, được thể hiện khi sử dụng TDTT trong lĩnh vực tổ chức TDTT nhàn rỗi vàtrong hệ thống biện pháp hồi phục chuyên môn
Bên cạnh các chức năng nói trên, TDTT còn một số chức năng văn hóa,giáo dục chung và các chức năng xã hội khác không tách rời các chức năng đặcthù, vì việc thực thi bất kì chức năng nào của TDTT cũng liên quan một cáchkhách quan tới những tác động không chỉ về mặt thể lực mà cả về phẩm chấttâm lý và nhân cách
Về nguyên tắc, tất cả các chức năng văn hóa chung đều được thể hiệntrong TDTT nhưng chức năng thẩm mĩ, định chuẩn mực và thông tin là thể hiện
rõ hơn cả
- Chức năng thẩm mỹ của TDTT: cho phép thỏa mãn nhu cầu con người
về tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất cân đối và hoàn thiện Giá trị thẩm
mĩ TDTT còn thể hiện ở tư thế đứng đẹp, tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát vànhiều giá trị khác tiếp thu được qua tập luyện TDTT
- Chức năng định chuẩn mực của TDTT: định chuẩn mực để đánh giá
trình độ chuẩn bị thể lực, trình độ tài nghệ TT, trình độ hoàn thiện thể chất làmột nội dung quan trọng của hoạt động TDTT xã hội Những định chuẩn mực
đó không chỉ đánh giá mà còn là những định hướng cho mỗi cá nhân trên conđường tiếp tục hoàn thiện Khi được công nhận và truyền bá rộng rãi, các chuẩnmực đó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới thái độ với TDTT của con người Chúngkích thích con người sử dụng TDTT vì lợi ích cá nhân và xã hội Ở các nước xãhội chủ nghĩa tồn tại 2 chuẩn mực TDTT – tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và tiêuchuẩn đẳng cấp TT
- Chức năng thông tin của TDTT: Khi nói về chức năng thông tin của
TDTT là muốn nói tới vai trò quan trọng của nó trong việc tuyên truyền vàchuyển giao giữa các thế hệ về tri thức TDTT, những giá trị vật chất và tinh thần
Trang 20được tạo ra trong lĩnh vực TDTT và những thành tựu của con người trong việchoàn thiện những phẩm chất tự nhiên của mình.
Ngày nay, thông tin TDTT và đặc biệt là thông tin TT đã nhanh chóng trởthành nội dung thường xuyên trong các chương trình truyền thông đại chúng Đó
là sự phản ánh thực tế vai trò ngày càng tăng của TDTT trong đời sống văn hóa
xã hội và thúc đẩy càng nhiều người tham gia hoạt động TDTT
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng, TDTT có thể thực hiện nhiều chức năng
xã hội khác như giao tiếp, mở rộng quan hệ ngoại giao, quan hệ quốc tế, nângcao uy tín quốc gia, xã hội hóa nhân cách và liên kết xã hội
- Chức năng nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế: TDTT là
phương tiện ngoại giao liên kết thắt chặt tình đoàn kết giữa các đội tuyển quốcgia trên thế giới, nâng cao uy tín quốc gia thông qua TDTT, TDTT làm cho mọingười xích lại gần nhau hơn
- Đóng góp vào sự phát triển kinh tế: đây không phải là chức năng đặc thù
của TDTT nhưng càng ngày càng được thể hiện rõ nét Nội hàm khái niệm pháttriển kinh tế bao gồm 3 vấn đề: tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và tiến bộ xã hội TDTT tác động tới phát triển kinh tế ở cả ba khía cạnh này.Hoạt động đầu tư trong TDTT làm gia tăng sản lượng, thúc đẩy tăng trưởng,chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng vàdịch vụ, cũng là hướng chuyển dịch hiện đại Hiệu quả của hoạt động đầu tư sẽtác động tới tiến bộ xã hội thông qua nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người vàchất lượng cuộc sống
Với những vai trò trên, có thể thấy rằng đầu tư cho TDTT là một hoạtđộng cần thiết để nâng cao trình độ phát triển kinh tế - xã hội đất nước Hơnnữa, ở mảng TT thành tích cao, Việt Nam ngày càng được chú ý trên đấu trườngquốc tế nhờ thành tích ở các kỳ Seagames, Asiad, Olympic Tiềm năng pháttriển TDTT ở nước ta cũng rất lớn với những môn TT thế mạnh, phù hợp vớiđặc điểm cơ thể, điều kiện địa lý, tự nhiên như thể dục dụng cụ, bơi lội Nếu
Trang 21được quan tâm đầu tư đúng hướng, chúng ta hoàn toàn có thể ghi tên mình vàobản đồ TT thế giới, mang lại lợi ích nhiều mặt cho nhiều thành phần kinh tế.
1.2.3 Mối quan hệ của thể dục thể thao với các ngành, lĩnh vực khác
TDTT là một bộ phận cấu thành nền kinh tế - xã hội, bởi vậy nó có mốiquan hệ biện chứng với các ngành, lĩnh vực khác
Trên giác độ kinh tế, TDTT sử dụng đầu ra của các ngành sản xuất, xâydựng (công trình, thiết bị…) để phục vụ cho các hoạt động tác nghiệp Đồngthời, TT cũng cung cấp đầu ra của mình là sản phẩm dịch vụ TDTT (hoạt độngthi đấu, biểu diễn…) tới người tiêu dùng TT Các hoạt động đầu tư của TDTTcũng làm gia tăng sản lượng cho nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế nhưcác hoạt động đầu tư khác
TDTT có mối quan hệ mật thiết với văn hóa, trực tiếp thông qua các môn
TT dân tộc Bản thân TT cũng là một thành tố của văn hóa, vì hoạt động này làmtăng cường sự giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa con người, cộng đồng, quốc gia,dân tộc
TDTT gắn bó với công tác giáo dục – đào tạo Giáo dục thể chất trongtrường học là một nội dung có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao sức khỏecho học sinh, sinh viên, tăng cường khả năng tiếp thu, học hỏi các kiến thứckhác
Ngoài ra, TDTT liên quan tới nhiều lĩnh vực khác như lao động, tàinguyên – môi trường, quốc phòng an ninh…
1.2.4 Nội dung đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao
Để phát triển ngành TDTT tại các quốc gia, cần thiết phải tiến hành đầu tưvào một số nội dung cơ bản sau:
- Đầu tư cơ sở vật chất
+ Đầu tư xây dựng cơ bản: là đầu tư cho xây dựng công trình TDTT.Theo cách phân loại phổ biến nhất hiện được Tổng cục thống kê và Tổng cụcTDTT sử dụng, các công trình TDTT bao gồm hai loại chủ yếu là công trình thiđấu và công trình tập luyện
Trang 22Bên cạnh các công trình kể trên còn có các công trình hỗ trợ và công trìnhphục vụ quản lý Công trình hỗ trợ nhóm 1 là các công trình dành cho việc phục
vụ những người tập luyện và khán giả: tiền sảnh và các phòng chờ, khu gửi đồ
và thay quần áo, khu vệ sinh, phòng nghỉ ngơi, nhà hàng, ki-ốt bán hàng Côngtrình nhóm 2 là các công trình phục vụ đặc biệt cho người tập: phòng thay quần
áo với những buồng vệ sinh và buồng tắm, phòng y tế, phòng dành cho các HLV
và chuyên gia, các phòng họp và hội nghị Công trình phục vụ quản lý bao gồmcác phòng phục vụ dành cho bộ phận quản lý, các cán bộ, bảo vệ, sửa chữa cácdụng cụ và trang thiết bị, các phòng ở (các căn hộ, các phòng khách sạn )
Đây là nội dung chủ yếu trong đầu tư phát triển ngành TDTT, đồng thờicũng là nội dung chiếm phần lớn tỷ trọng vốn đầu tư cho ngành TDTT
+ Đầu tư thiết bị, dụng cụ phục vụ chuyên môn TDTT: gồm các trangthiết bị, dụng cụ trong TDTT được sử dụng để phục vụ công tác tập luyện, thiđấu, giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học, y học TDTT Đây là nội dung cănbản, nhằm đáp ứng những điều kiện cần thiết cho các hoạt động tác nghiệpTDTT mà quan trọng nhất là hoạt động tập luyện, thi đấu và nghiên cứu khoahọc
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: Nhân lực TDTT là những người lao
động làm việc trong hoạt động phát triển và kinh doanh TDTT, bao gồm: VĐV,huấn luyện viên, hướng dẫn viên, giáo viên, giảng viên, trọng tài, cán bộ quản
lý, cán bộ y sinh học, cán bộ truyền thông TT, cán bộ nghiên cứu khoa học Ngoài ra còn có nhân lực hoạt động kinh doanh TDTT theo cách hiểu thôngthường của kinh tế thị trường (cụ thể là của kinh doanh công nghiệp, thươngmại), thí dụ như lực lượng lao động trong các cơ sở (doanh nghiệp) sản xuấttrang thiết bị, dụng cụ, trang phục TDTT…, tuy nhiên do cho đến nay ở nước ta,TDTT còn được coi là ngành “phi kinh tế”, hoạt động công ích, chủ yếu dựa vàonguồn kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước nên chỉ có số liệu thống kê vềnhân lực TDTT hưởng lương từ ngân sách Nhà nước như là công chức, viên
Trang 23chức hoặc lao động hợp đồng không thời hạn mà không có số liệu thống kê củanhững đối tượng này
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực không phải chỉ là sự gia tăng về mắt sốlượng lao động, mà còn phải gắn liền với sự nâng cao chất lượng do tính chấtchung của hoạt động đầu tư phát triển Việc thuê mướn lao động đơn thuầnkhông gắn với nâng cao trình độ so với mức trung bình chỉ được tính vào chithường xuyên mà không phải chi đầu tư
- Đầu tư cho hoạt động khoa học: hoạt động khoa học TDTT bao gồm
nghiên cứu khoa học, y học TDTT; ứng dụng khoa học trong công tác tập luyện,thi đấu và quản lý TDTT Đầu tư cho hoạt động khoa học TDTT là đầu các dự
án, đề tài nghiên cứu, đầu tư trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, đào tạo đội ngũnhà khoa học, hợp tác với nước ngoài để tiếp nhận tri thức, công nghệ Nộidung này có ý nghĩa rất quan trọng bởi khoa học có vai trò củng cố, hoàn thiện
cơ sở lý luận TDTT, đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quảtập luyện, thi đấu cũng như hiệu quả của các hoạt động tác nghiệp khác Khoahọc đi trước một bước thì TDTT sẽ phát triển đúng hướng và tích cực
1.2.5 Nguồn vốn đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao
Nguồn vốn đầu tư phát triển ngành TDTT bao gồm 3 nguồn vốn cơ bảnsau:
- Vốn Nhà nước: đây vẫn là nguồn vốn chủ đạo chi cho các công cuộc đầu
tư của ngành, do các công trình TDTT phần lớn là công trình phúc lợi, khó thuhồi vốn và ít thu hút khu vực tư nhân Cũng bởi những nguyên nhân đó, các nộidung đầu tư khác của ngành như nguồn nhân lực, khoa học cũng sử dụng chủyếu nguồn vốn này
Trong vốn Nhà nước, chi cho TDTT chủ yếu sử dụng vốn ngân sách, baogồm ngân sách Nhà nước duyệt chi cho TDTT và ngân sách địa phương Nguồnvốn này đang ngày càng được đa dạng hóa khi các đơn vị TDTT công lập dần tựchủ tài chính, tìm hướng kinh doanh để tự tạo ra nguồn thu cho đơn vị mình,thay vì trông chờ ngân sách hàng năm rót xuống có nguồn gốc chủ yếu từ thuế
Trang 24- Vốn tư nhân và dân cư: nguồn vốn này được lấy từ ngân sách nội bộ củacác đơn vị kinh tế tư nhân và các khoản lợi nhuận do chính các hoạt động tácnghiệp TDTT mang lại như các khoản thu của hoạt động thi đấu, biểu diễn, dịch
vụ TDTT, chuyển dịch lao động TDTT (chuyển nhượng cầu thủ), bán quyềnthương mại các giải thi đấu TT chuyên nghiệp Khu vực tư còn tham gia hỗ trợcho các hoạt động TDTT bằng các hình thức tài trợ, ủng hộ cho các quỹ tài năngthể thao Ngoài ra, không thể không kể đến sự đóng góp của khu vực dân cưđối với các công trình TDTT quần chúng theo phương châm „Nhà nước và nhândân cùng làm“
- Vốn đầu tư nước ngoài: nguồn vốn này được thực hiện khi các đơn vịkinh tế nước ngoài lựa chọn TDTT là đối tượng đầu tư nhằm tìm kiếm lợinhuận, hoặc sử dụng như một công cụ để truyền thông, quảng cáo (sở hữu độibóng, tài trợ ) Ở cấp Nhà nước, nguồn vốn này chủ yếu được hỗ trợ thông quacác chương trình hợp tác của các cơ quan quản lý Nhà nước về TDTT của cácquốc gia; còn ở cấp độ Chính phủ, vốn thường được ưu tiên cho các dự án cơ sở
hạ tầng giao thông, xóa đói giảm nghèo, cải cách pháp luật đều là những nộidung cấp thiết hơn so với TDTT
Trang 25CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH THỂ DỤC
THỂ THAO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 - 2014 3.1 Quy mô và nguồn vốn đầu tư
Ở Việt Nam, trước thời kỳ Đổi mới, TDTT cũng như các lĩnh vực khácđược Nhà nước bao cấp hoàn toàn Từ năm 2000, đã có sự kết hợp quản lý giữacác cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, tuy nhiên quản lý Nhà nước vẫnđóng vai trò chủ đạo, tỷ trọng đầu tư nói riêng và chi ngân sách nói chung củaNhà nước cho phát triển TDTT vẫn chiếm phần lớn Các môn TT hầu như vẫnđược Nhà nước bảo đảm toàn bộ công tác huấn luyện, thi đấu ở cấp đội tuyểnquốc gia Ở cấp câu lạc bộ, khu vực tư nhân có tham gia đầu tư, song chỉ giớihạn ở một số bộ môn thu hút được sự chú ý của khán giả như bóng đá, bóngchuyền, đua xe đạp… Các môn thể thao khác được duy trì dựa vào ngân sáchđịa phương, tuy nhiên trong đó có bao hàm một phần được Trung ương phân bổxuống
1.1.1 Vốn nhà nước
Hoạt động TDTT cho đến nay hầu như hoàn toàn dựa vào sự bao cấp từngân sách Nhà nước Trong giai đoạn 2001 – 2013, trung bình ngân sách Nhànước đã phải cấp tới hơn 69% để bù đắp các khoản chi TDTT Tỷ lệ này tronggiai đoạn 2009 – 2013 thậm chí luôn ở trên mức 71%, cá biệt năm 2012 lên tới75,03% Tổng chi ngân sách Nhà nước cho TDTT bình quân là 0,41%/năm(khoảng 0,13% GDP) Tỷ lệ này có xu hướng giảm xuống từ mức 0,82% năm
2011 và năm 2012 chỉ còn 0,17%
Trong các năm 2009 – 2013, thu từ hoạt động TDTT có xu hướng tănglên hàng năm từ 101,9 tỷ đồng năm 2009 lên 150,75 tỷ đồng năm 2013 Cáckhoản thu đến từ hoạt động bán vé, quảng cáo, đặt biển quảng cáo, tài trợ, họcphí, phạt vi phạm và các khoản thu khác Tuy nhiên, thu hàng năm chỉ đáp ứngđược trung bình 7,97 % mức chi cho chính các hoạt động TDTT Như vậy, áplực cho ngân sách Nhà nước là khá nặng nề, trong khi các hoạt động TDTT phầnlớn không tạo ra nhiều lợi nhuận
Trang 26Bảng 2.1 Quy mô vốn đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao
(Nguồn: Vụ tài chính, Tổng cục thể dục thể thao)
Bảng trên cho thấy từ năm 2009 đến 2013, ngành TT đã được dành hơn7.700 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển, trong đó chiếm trên 70% là từ ngân sáchNhà nước Lượng vốn bỏ ra năm 2010 giảm 143,9 tỷ đồng so với năm trước đó,nhưng rồi lại tăng dần vào các năm tiếp theo, điều này phù hợp với tình hìnhkinh tế khi cả nước vừa trải qua suy giảm, các ngành nghề, lĩnh vực nói chungđều gặp nhiều khó khăn Diễn biến tương tự xảy ra đối với vốn từ ngân sáchNhà nước khi năm 2010 cũng giảm 95,7 tỷ đồng
Ngân sách Trung ương đã tăng đầu tư cho các hoạt động TDTT từ 759,5
tỷ (2009) lên 910 tỷ (2013), ngân sách địa phương cũng tăng từ 330 lên 432 tỷđồng Tổng cộng chi ngân sách Nhà nước trong giai đoạn này đã tăng 252,5 tỷđồng Trong cơ cấu vốn của ngân sách Nhà nước, ngân sách Trung ương luônchiếm tỷ trọng cao hơn (trên 50%), song con số này đang có xu hướng giảm, chothấy các địa phương đang được phân cấp đầu tư nhiều hơn trong khả năng quản
lý vốn của mình
Trang 27Biểu đồ 2.1 Quy mô vốn đầu tư phát triển thể dục thể thao giai đoạn 2009 - 2013
0 500 1000 1500
NSĐP 330 304 335 390 432 NSTW 759,5 689,8 734 779 910
2009 2010 2011 2012 2013
Lượng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực TDTT có tăng,nhưng chiếm tỷ trọng thấp so với các ngành khác (chưa đến 1%), trong khi đónhu cầu đầu tư là rất lớn Ví dụ, để có một mặt sân bóng đá tiêu chuẩn cần 5-7 tỷđồng, chi phí duy tu bảo dưỡng gần 3 tỷ, chiếm 10% kinh phí duy trì hoạt độngcủa 1 đội bóng Một sân vận động cấp tỉnh, thành loại I có định mức đầu tư 250– 300 tỷ, loại II 400 – 500 tỷ đồng Do vậy, nếu chỉ dựa vào vốn ngân sách thì sẽlàm hạn chế rất nhiều hoạt động đầu tư cho ngành
Trong giai đoạn 2010 – 2020, ngành TDTT sẽ phải chuẩn bị để phục vụcác sự kiện lớn: đại hội thể thao bãi biển châu Á lần thứ 5 (2016), đại hội TDTTtoàn quốc cũng như tiếp tục đề án 641 (đề án tổng thể phát triển thể lực, tầmvóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030) Á vận hội ASIAD 18 đã được ViệtNam giành quyền đăng cai thành công, song do khả năng tài chính không chophép mà chúng ta buộc phải từ bỏ
Dự toán hàng năm của ngân sách Trung ương cho TDTT cho 7 năm gầnđây nhất không bao giờ vượt quá 750 tỷ đồng (cụ thể theo bảng 2.2) Về tỷtrọng, con số luôn dưới 0,5% Tỷ trọng quyết toán chi (bao gồm cả văn hóathông tin, phát thanh truyền hình và thông tấn) cũng chỉ hơn 1% Chi ngân sáchTrung ương cho TDTT ít hơn các ngành khác một phần vì đã phân cấp cho địa
Trang 28phương, Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm ở cấp cao nhất bao gồm các cán bộtrong ngành ở Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, Tổng cục TDTT và các đội tuyểnquốc gia.
Bảng 2.2 Chi cho thể dục thể thao giai đoạn 2009 – 2015
Bảng 2.3 Tỷ trọng chi ngân sách Trung ương cho thể dục thể thao trong
tổng dự toán chi thường xuyên giai đoạn 2009 - 2014
(Đơn vị: %)
Dự toán 0,39 0,199 0,21 0,1985 0,1795 0,187 0,183
Ghi chú: 2013 - 2015 chưa có số liệu quyết toán
(Nguồn: tính toán từ số liệu của Bộ tài chính)
Chi của ngân sách Trung ương cho TDTT tuy ít nhưng đã có xu hướngtăng Năm 2009, dự toán chi tăng đột biến 161,6% từ 237 tỷ đồng năm 2008 lên
620 tỷ, trên đà tăng trưởng nóng của toàn nền kinh tế, tuy nhiên sau đó lại giảmmạnh xuống xuống 400 tỷ đồng năm 2010 do kinh tế rơi vào suy giảm Từ 2010đến nay, kinh tế có những dấu hiệu hồi phục, dự toán chi cho ngành cũng theo
đó tăng đều qua từng năm, mỗi năm tăng khoảng vài chục tỷ đồng Dẫu vậy, tỷtrọng chi vẫn không có nhiều thay đổi quanh mức 1%, cao nhất năm 2012 chỉ là1,2%
Trang 29Biểu đồ 2.2 Dự toán chi cho thể dục thể thao giai
đoạn 2009 - 2015
0 500 1000
1.1.2 Vốn tư nhân
Sự tham gia của khu vực tư nhân vào TDTT là một yếu tố quan trọng gópphần thúc đẩy sự phát triển của ngành, nhất là trong bối cảnh ngân sách Nhànước còn hạn hẹp Vốn tư nhân có thể chảy vào cơ sở vật chất, thị trường dụng
cụ TT, phổ biến hơn cả là thị trường chuyển nhượng cầu thủ Ví dụ về thị trườngchuyển nhượng cầu thủ bóng đá (loại tài sản nhân lực TT hay lao động TT) Thịtrường này rất sôi động trên thế giới, đem lại số thu cao Brazil trong những năm
90 của thế kỷ trước đã xuất khẩu 2060 cầu thủ bóng đá, đem lại lượng ngoại tệlớn Nhờ vậy, kinh tế bóng đá của Brazil những năm ấy đạt khoảng 6 tỷUSD/năm
Từ năm 2000 – 2001, ngành TDTT đã tiến hành thí điểm thực hiệnchuyên nghiệp hóa một số môn TT, trong đó có bóng đá nam Sau 10 năm thí
Trang 30điểm chuyên nghiệp, Liên đoàn đã thành lập và tổ chức các giải thi đấu cho 14câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp và 14 câu lạc bộ hạng nhất; kinh phí thu được
từ kinh doanh bóng đá đáp ứng được khoảng 28%, ngân sách Nhà nước hỗ trợkhoảng 72% tổng kinh phí chi cho phát triển bóng đá chuyên nghiệp Ước tínhtổng nguồn thu tài chính của 28 câu lạc bộ năm 2005 là 454 tỷ đồng, bù đượckhoảng 32% tổng số chi Một số câu lạc bộ điển hình về thành tích thi đấu, chấtlượng cầu thủ cũng như thu tài chính có thể kể đến như Hoàng Anh Gia Lai,Sông Lam Nghệ An, Đồng Tâm Long An…
Trong thời gian đầu của quá trình chuyên nghiệp hóa (2001 – 2010), kinhphí hoạt động của các câu lạc bộ bóng đá chủ yếu dựa vào các nguồn thu sau:
- Ngân sách Nhà nước đầu tư hoặc sự hỗ trợ của cơ quan, tổ chức hoặccủa các doanh nghiệp đang quản lý các câu lạc bộ
- Bán thương quyền của các câu lạc bộ
- Các khoản tài trợ, đóng góp, ủng hộ của các cá nhân, tổ chức trong vàngoài nước
- Thu từ hợp đồng phân chia lợi nhuận với các sân thông qua bán vé xemcác trận đấu có đội bóng của câu lạc bộ thi đấu
- Bản quyền truyền hình các trận đấu
- Các khoản thu khác từ hoạt động bóng đá, dịch vụ phù hợp với quy địnhcủa Quy chế bóng đá chuyên nghiệp
Ở hai mùa giải đầu, nguồn kinh phí hoạt động của các câu lạc bộ chủ yếu
do ngân sách địa phương hoặc tiền đầu tư của doanh nghiệp dao động từ 3 -5 tỷđồng
Các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của các địa phương được bao cấp
từ ngân sách Nhà nước và hỗ trợ của các doanh nghiệp (Đồng Tháp, Bình Định,
Đà Nẵng, Nam Định, Sông Lam Nghệ An ) khoảng 2,5 – 3,5 tỷ đồng Các câulạc bộ bóng đá doanh nghiệp (Đồng Tâm Long An, Hoàng Anh Gia Lai ) vớikinh phí hoạt động chủ yếu được trích từ chi phí quảng cáo của doanh nghiệphàng năm khoảng 5 tỷ đồng Tổng nguồn thu của từng câu lạc bộ ở giai đoạn
Trang 31đầu (2001 – 2005) khoảng từ 6 – 8 tỷ đồng/năm, cá biệt như Becamex BìnhDương đạt 16 tỷ đồng/năm Ở giai đoạn sau (2006 – 2010) tổng nguồn thu củacác câu lạc bộ, đặc biệt là các doanh nghiệp bóng đá tăng nhanh.
Bảng 2.4: Doanh thu của một số câu lạc bộ mùa giải thứ 9 (2008) và thứ 10
Hoàng Anh Gia Lai
Hòa Phát Hà Nội
Đồng Tâm Long An
Sông Lam Nghệ An
Khatoco Khánh Hòa
Megastar Nam Định
(Nguồn: GS TS Lưu Quang Hiệp, Giải pháp phát triển kinh tế thể dục thể thao
ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, Đề tài khoa học cấp Nhà nước)
Thực tế cho thấy các đội bóng của doanh nghiệp tư nhân, hoặc ít nhất là
có sự tham gia góp vốn của tư nhân có nguồn kinh phí hoạt động dồi dào hơn.Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư phát triển, từ đó giúpcâu lạc bộ đạt được những thành tích cao hơn Những đội bóng lớn được nhắcđến nhiều thường là những cái tên như Hoàng Anh Gia Lai, Đồng Tâm Long
An, SHB Đà Nẵng, Becamex Bình Dương,… Những câu lạc bộ có tiền thân ởkhu vực nhà nước như Quân khu 4 do gặp khó khăn về tài chính cũng đã phảichấp nhận chuyển giao cho tư nhân (Ngân hàng Nam Việt Navibank)
Theo ông Phạm Văn Tuấn – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục TDTT, khithực hiện chủ trương xã hội hóa một cách triệt để, ngày nay, chỉ riêng 28 câu lạc
bộ bóng đá ở 2 hạng cao nhất (V.League và hạng Nhất) đã huy động nguồn kinhphí đầu tư ước chừng 2.000 tỷ đồng mỗi năm từ xã hội Đấy là chưa kể nhữngkhoản tiền rất lớn mà các doanh nghiệp đầu tư vào bóng đá bỏ ra để củng cố cơ
sở vật chất, sân bãi phục vụ cho công tác đào tạo, huấn luyện Không thể bìđược với bóng đá, nhưng ở môn bóng chuyền, sau khi kết thúc năm vừa qua,ngân quỹ của Liên đoàn bóng chuyền Việt Nam cũng có số dư tới hơn 15 tỷđồng
Trang 32Hoàng Anh Gia Lai có lẽ là cái tên được nhắc đến nhiều nhất trong việcđầu tư cho lứa cầu thủ trẻ Vào năm 2006, sau chuyến công tác tới Anh và gặp
gỡ ban lãnh đạo câu lạc bộ Arsenal, chủ tịch Đoàn Nguyên Đức tiếp tục thựchiện những phi vụ đình đám khác trong lĩnh vực bóng đá thông qua việc thắtchặt quan hệ với đội bóng thành London Đầu tiên là việc đặt biển quảng cáocủa Hoàng Anh Gia Lai trên sân vận động Emirates với chi phí hàng triệu USDbắt đầu từ mùa giải 2007-2008 để quảng bá thêm cho thương hiệu doanh nghiệp,đồng thời củng cố ý định nghiêm túc của bầu Đức trong việc hợp tác với câu lạc
bộ Arsenal để đào tạo cầu thủ
Đầu năm 2007, bầu Đức chi 2 triệu USD góp vốn với câu lạc bộ Arsenal
để mở Học viện Hoàng Anh Gia Lai Arsenal JMG Sau đó, ông cho đốn hạ 5 hacao su đang vào tuổi thu hoạch (bình quân 300 triệu/ha/năm) để lấy quỹ đất rồiđầu tư thêm hàng chục tỷ đồng xây dựng cơ sở vật chất Sau 7 tháng thi công,tháng 9/2007, Học viện Hoàng Anh Gia Lai Arsenal JMG bắt đầu đi vào hoạtđộng với lứa cầu thủ khóa 1 Công Phượng, Tuấn Anh, Xuân Trường…
Tuy vậy, mỗi năm, số tiền chi cho bóng đá của ông chủ tập đoàn HoàngAnh Gia Lai chỉ gần 50 tỷ đồng cho bóng đá (chưa tính tiền đầu tư cho cơ sở vậtchất như xây khu nhà ở và các sân bóng) Trong đó, năm 2012 hết gần 48 tỷ,
2013 khoảng 49,5 tỷ Đó là chi phí cho 4 đội bóng gồm: đội lớn Hoàng Anh GiaLai dự V.League, 2 khóa Học viện Arsenal JMG và 1 lớp tuyến trẻ U19 đượctập trung Trong gần 50 tỷ đồng của bầu Đức để nuôi bóng đá, số tiền dùng chođội lớn Hoàng Anh Gia Lai dự V.League đã chiếm đến 70% bao gồm nhữngkhoản “nặng” nhất là tiền lương, lót tay, tiền thưởng và tiền ăn ở di chuyển khithi đấu
Về cơ sở vật chất, câu lạc bộ đã đầu tư một khu ăn nghỉ đẳng cấp 5 saocho đội trẻ ở Học viện Hoàng Anh Gia Lai Arsenal JMG Ngoài ra còn có sânvận động Pleiku - một công trình không chỉ phục vụ cho hoạt động thi đấu củacâu lạc bộ mà còn mang tính phúc lợi cao Sân được xây dựng trước năm 1975,ban đầu sức chứa chỉ chừng 5.000 khán giả Từ khi đội bóng phố núi lên chuyên
Trang 33nghiệp, sân vận động được nâng cấp, tu sửa, lắp dàn đèn với sức chứa 10.000người Còn hiện nay sức chứa sân vận động Pleiku là 12.000 chỗ ngồi, với tổngkinh phí xây dựng lên tới 60 tỉ đồng do Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đầu tưtoàn bộ.
Đổi lại, tiền lương của cầu thủ nội Hoàng Anh Gia Lai loại A hiện tạikhông có người nào vượt quá 25 triệu đồng/tháng Lương cầu thủ ngoại thì caothấp khác nhau nhưng cao nhất là Oseni cũng vào khoảng 9.000 USD/tháng Dovậy, tiền đầu tư cho đào tạo trẻ với 3 tuyến hiện tại hằng năm chỉ tốn của bầuĐức khoảng 15 tỷ đồng
So với nhiều câu lạc bộ chỉ nuôi một đội bóng dự V.League, 50 tỷ đồngchưa phải là một con số quá lớn khi mà hằng năm có những đội đã ngốn của ôngbầu ngót nghét 60-70 tỷ đồng, thậm chí là cả 100 tỷ đồng như Becamex BìnhDương hay Xi măng Xuân Thành Sài Gòn như chính lời thừa nhận của bầuThụy Điều này có được là do Hoàng Anh Gia Lai có cơ sở vật chất sẵn có Ví
dụ tiền ăn hằng ngày nếu ở câu lạc bộ tại thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội thìphải mất tới 200.000 đồng/1 cầu thủ/ngày do phải đặt người khác nấu Trong khi
ở Hàm Rồng với chất lượng bữa ăn tương đương, tiền ăn chỉ vào khoảng120.000 đồng/1 cầu thủ/ngày, tiết kiệm đến 25% so với các đội bóng khác
Xã hội hóa được hiểu là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt thờigian phát triển khả năng của con người và học hỏi các mẫu văn hóa của nhânloại Đây chính là xã hội hóa cá nhân, giúp con người hòa nhập với xã hội, hìnhthành và phát triển nhân cách Xã hội hóa TDTT là một bộ phận của xã hội hóa.Chủ trương này bắt đầu với Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 củaChính phủ Theo đó, "Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao
là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sựphát triển của sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáodục, y tế, văn hóa, thể thao trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của nhândân"
Trang 34Việc thu hút được nguồn vốn xã hội hóa có ý nghĩa to lớn trong quá trìnhphát triển sự nghiệp TT Nó không chỉ giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhànước mà còn giúp khơi thông nguồn vốn trong dân cư, tích tụ, tập trung, lưuchuyển vốn đến với những lĩnh vực cần đầu tư, mà cụ thể ở đây là TT Nếu nhưtrước đây, TDTT thường được nghĩ là một ngành khó tìm kiếm lợi nhuận, thìnay nó đã dần cho thấy tiềm năng của mình trong việc làm giàu cho xã hội Nếubiết cách, đây sẽ thực sự là một mảnh đất màu mỡ cho các nhà đầu tư Hơn nữa,khi người dân đầu tư cho TT cũng có nghĩa là đầu tư cho sức khỏe của chínhmình, tác động dài hạn của nó là chắc chắn.
Với chính sách xã hội hóa hoạt động TDTT, đã có khá đa dạng loại hìnhkinh tế đầu tư vào kinh doanh các dịch vụ hoạt động TDTT (Bảng 2.5) Cáccông trình TDTT (các phòng tập luyện, sân bóng đá mini,…) do tư nhân xâydựng và quản lý ngày càng gia tăng ở các thành phố và tỉnh lớn Ở một số môn
TT, có thể nhận rõ sự đóng góp của tư nhân vào xây dựng các cơ sở vật chấtnhằm mục đích cung cấp dịch vụ tập luyện và giải trí TDTT Chẳng hạn, đối vớikinh doanh về sân golf, tính đến năm 2011, cả nước có 90 dự án sân golf nằmtrên địa bàn 34/63 tỉnh, với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 24,5 tỷ USD, trong đó:vốn nước ngoài là 20,5 tỷ USD (chiếm 84%), vốn trong nước khoảng 4 tỷ USD(chiếm 13%) Trong số 90 dự án nằm trong quy hoạch có 21 dự án là do các nhàđầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn, 28 dự án liên doanh, còn lại 41 dự án đầu
tư 100% vốn trong nước Sự đa dạng hóa trong nguồn vốn xây dựng các sân golfthể hiện sự tham gia của các thành phần kinh tế trong việc xây dựng cơ sở vậtchất, mua sắm trang thiết bị cho lĩnh vực TT nghỉ dưỡng, tập luyện sức khỏe
Trang 35Bảng 2.5 Các loại hình kinh tế kinh doanh dịch vụ thể dục thể thao
Doanh nghiệp liên
(Nguồn: Kết quả tổng điều tra doanh nghiệp năm 2010, Tổng cục Thống kê)
Các cơ quan quản lý TDTT của Nhà nước đang ngày càng tích cực trongviệc kêu gọi nguồn vốn xã hội hóa Sở TDTT Hà Nội là một ví dụ điển hình Haiđội bóng chuyên nghiệp của Hà Nội là Hòa Phát Hà Nội và Hà Nội ACB đãđược tư nhân trực tiếp đầu tư trong nhiều năm qua Câu lạc bộ cầu lông củathành phố cũng nhận được sự tài trợ của tập đoàn Ciputra, Indonesia Hiện nay,câu lạc bộ mang tên Câu lạc bộ cầu lông Ciputra, hàng năm nhận được tài trợgần 2 tỷ đồng Liên đoàn Wushu Hà Nội thì nhận được khoảng 10.000 USD tàitrợ hàng năm của hãng dầu Caltex Một số cơ sở vật chất của Sở được chuyểnthành đơn vị sự nghiệp có thu như cung TT tổng hợp Quần Ngựa, sân vận độngHàng Đẫy (từ năm 2005)…
Tuy nhiên, sự quan tâm đầu tư lại chưa được mở rộng ra các môn TTkhác Nếu như bóng đá nam, bóng chuyền được nhiều sự quan tâm cả từ phíangười hâm mộ và các doanh nghiệp thì những môn như thể dục dụng cụ, cử tạ,bơi lội, điền kinh lại không nhận được may mắn đó Thậm chí, cũng chỉ trongnội bộ môn bóng đá, nhưng giữa bóng đá nam và bóng đã nữ đã có sự cách biệtrất lớn Bắt đầu tổ chức mùa giải đầu tiên vào năm 1998, nhưng phải đến năm
Trang 362003 giải mới lần đầu được tài trợ bởi Kotex, và lần thứ hai diễn ra sau đó 8năm với nhà tài trợ Công ty cổ phần thương mại Việt Á Cũng ở mùa giải 2006 -
2007, với sự chung tay của Việt Á, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam đã công bố hỗtrợ cho 6 câu lạc bộ dự giải, tổng cộng số tiền là 320 triệu đồng 2 địa phươnggặp nhiều khó khăn là Hà Tây và Hà Nam được hỗ trợ 60 triệu đồng, Hà Nội,Than Cửa Ông, TP HCM và Thái Nguyên được nhận 50 triệu đồng So vớibóng đá nam, những con số đó thực sự không đáng là bao
Trong lĩnh vực sản xuất dụng cụ, trang phục TDTT, nhìn chung các doanhnghiệp có quy mô khá khiêm tốn Bình quân mỗi doanh nghiệp chỉ có khoảngvài trăm lao động và quy mô tài sản mới đạt 56 tỷ đồng Doanh thu bình quânmỗi doanh nghiệp vào khoảng 52 tỷ đồng (Bảng 2.6) Nếu theo tiêu chí củaChính phủ (theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) về phân loại doanh nghiệp cóthể thấy rằng các doanh nghiệp hàng hoá TDTT mới chỉ đạt quy mô nhỏ và vừa(Quy mô vừa đối với khu vực công nghiệp và xây dựng: theo nguồn vốn: từ trên
20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng; theo lao động: từ trên 200 người đến 300 người)
Theo tiêu chí về lao động, tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ (micro) và doanhnghiệp nhỏ chiếm tỷ lệ tương ứng 27,59% và 36,21%; về quy mô vốn, tỷ lệ này
là 86,2%
Bảng 2.6 Quy mô của doanh nghiệp sản xuất, buôn bán thiết bị, dụng cụ thể dục
thể thao năm 2010
Sản xuất Bán buôn Bán lẻ
Quy mô tài sản – trung bình (triệu đồng) 55.670,59 8.246,65 4.643,99
Quy mô tài sản – lớn nhất (triệu đồng) 608.466 136.075 201.853
Quy mô doanh thu–trung bình (triệu đồng) 52.499 5.619,3 2.760,2
Quy mô doanh thu – lớn nhất (triệu đồng) 557.390 159.432 120.012
(Nguồn: Kết quả tổng điều tra doanh nghiệp năm 2010, Tổng cục Thống kê)
Xét theo các yếu tố đầu vào sản xuất, vốn sản xuất của doanh nghiệp chủyếu là từ nguồn đi vay, trong các năm 2007-2010, vốn tự có chỉ chiếm chưa đến
Trang 3740% (Bảng 2.7) Nguyên vật liệu đầu vào phụ thuộc vào nhập khẩu, bình quâncủa giai đoạn 2008 – 2012 chiếm 52% tổng chi phí nguyên vật liệu đầu vào.
Bảng 2.7 Vốn tự có của doanh nghiệp sản xuất-buôn bán thiết bị, dụng cụ
thể dục thể thao giai đoạn 2007 – 2010
2.1.1 Vốn đầu tư nước ngoài
Đối với nguồn vốn nước ngoài, cho đến thời điểm hiện tại, sự tham giacủa các nhà đầu tư ngoài nước trong lĩnh vực TDTT là chưa nhiều Tỷ trọngdoanh nghiệp có vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực TDTT chỉ chiếm trêndưới 10% (theo bảng 2.5) Các nguồn tài chính hỗ trợ đầu tư mới, nâng cấp côngtrình TT công lập tuy có nhưng rất ít Nhiều trong số đó mang tính không chínhthức dưới dạng thương thảo hay chuyển giao hàng đã qua sử dụng
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI chủ yếu chảy vào phân khúc dịch vụ
TT giải trí như golf hay các cơ sở tập luyện yoga, thể hình đại chúng… Các môn
TT chuyên nghiệp nhận được đầu tư cũng chỉ là những môn thu hút khán giảnhư bóng đá, và thông qua góp vốn liên doanh vào công ty cổ phần (nếu có)
Trong thời gian gần đây, với làn sóng về tái phân bổ sản xuất, các tậpđoàn sản xuất hàng TT quốc tế có xu hướng dịch chuyển sản xuất sang các nước
có chi phí lao động thấp hơn Chẳng hạn như Kunnan của Đài Loan, Kennex ởThái Lan, Tae Hwa của Hàn Quốc ở Indonesia, và các hãng khác ở Trung Quốc,Philippines,…Tất cả các loại giầy TT của Nike và Reebok hiện đang được cácnhà thầu phụ của châu Á sản xuất, còn với các loại giầy TT của Mizuno là 80%,trong khi Adidas tái phân bổ 70% giầy TT ở Châu Á Đối với Nike, hầu hết quytrình sản xuất thép để sản xuất xe đạp (xe đua, xe địa hình) diễn ra ở Malaysia,
Trang 3890% giầy TT, 80% vợt tennis và 90% bóng tennis được sản xuất ở Hàn Quốc vàĐài Loan (Bourg & Gouguet, 2001) Đây là một xu hướng mà Việt Nam cónhững lợi thế về chi phí nhân công để cạnh tranh với các nước trong việc thu hútcác tập đoàn quốc tế sản xuất các dụng cụ TDTT đầu tư vào Việt Nam Tuynhiên, các hãng tầm quốc tế về sản xuất dụng cụ, trang phục TDTT vẫn chưa đặtcác cơ sở sản xuất hay Việt Nam tham gia vào chuỗi sản xuất, hiện nay mới chỉ
có một số doanh nghiệp trong ngành như Công ty liên doanh Sodex Toseco làmđại lý phân phối tại Việt Nam một số sản phẩm của Adidas, Reebok,…
Đầu tư nước ngoài là một nguồn huy động vốn quan trọng vì giải quyếtđược nhu cầu vốn, đồng thời tạo cơ hội nâng cao trình độ ứng dụng khoa học –công nghệ thông qua các hoạt động chuyển giao công nghệ, song vẫn chưa đượckhai thác đúng mức Điều đó đồng nghĩa với việc đồng nghĩa với việc nguồnvốn nước ngoài còn rất nhiều tiềm năng trong tương lai và cần được khai tháchợp lý
3.2 Thực trạng đầu tư phát triển ngành thể dục thể thao Việt Nam theo một số nội dung giai đoạn 2009 – 2014
Hoạt động đầu tư phát triển ngành TDTT được triển khai theo một số nộidung cơ bản gồm: đầu tư cơ sở vật chất, đầu tư phát triển nguồn nhân lực và đầu
tư cho hoạt động khoa học Tình hình thực hiện các nội dung này được trình bàytrong các tiểu mục dưới đây
1.2.1 Đầu tư cơ sở vật chất
Đối với ngành thể dục thể thao, hoạt động đầu tư cơ sở vật chất chủ yếu baogồm: đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư thiết bị dụng cụ,… Trong thời gian qua,hoạt động đầu tư vào nội dung này tại Việt Nam được thực hiện cụ thể như sau:
a Đầu tư xây dựng cơ bản
Về đầu tư cơ sở hạ thầng TDTT trong giai đoạn này, số chi có tăng nhẹ từ
207 (2009) lên 210 tỷ đồng (2013), song đó là kết quả cuối cùng sau những biếnđộng giảm qua 3 năm 2010, 2011, 2012 (chi tiết bảng 2.8) Tỷ trọng chi cho cơ
sở hạ tầng trong tổng chi cho TDTT giảm qua 5 năm là 2,09 điểm phần trăm
Trang 39Nếu so sánh với năm 2003 là năm Seagames được tổ chức ở Hà Nội thì cả lượngvốn và tỷ trọng đều thấp hơn nhiều.
Bảng 2.8: Chi cho đầu tư cơ sở hạ tầng thể dục thể thao giai đoạn 2009
% Chi CSHT
Tỷ trọng
(Nguồn: Vụ tài chính, Tổng cục thể dục thể thao)
Số lượng các công trình TDTT đủ tiêu chuẩn, kích thước để thi đấu theoquy định quốc tế (thi đấu trong nước, thi đấu quốc tế) còn rất ít, chiếm tỷ lệ rấtthấp so với tổng số công trình TDTT (2%) Trong khi đó ở nhiều quốc gia châu
Á, số công trình TDTT đúng tiêu chuẩn (kể cả TT giải trí) thường lớn gấp 1,8lần số công trình TT không đủ tiêu chuẩn Ở đây, cần lưu ý ngoài tiêu chuẩnquốc tế còn có tiêu chuẩn của từng quốc gia cho TDTT quần chúng, trường học
và giải trí Đấy là vấn đề đánh giá về chất lượng Như vậy, chất lượng các côngtrình TDTT ở nước ta còn rất thấp, hầu hết là ở cấp xã, phường, trường học, khudân cư Ở cấp tỉnh nhiều địa phương chưa có đủ 3 công trình cơ bản là: sân vậnđộng, nhà thi đấu, bể bơi
Việc sử dụng, khai thác (kinh doanh) các cơ sở vật chất kỹ thuật TDTTđược đánh giá là nhiều bất cập và kém hiệu quả, thậm chí gây lãng phí (tìnhtrạng nợ đọng vốn, khai thác và sử dụng không liên tục, dẫn tới công trình bịxuống cấp ) Một số công trình lớn không sử dụng đúng mục đích mà bị tận
Trang 40dụng cho kinh doanh phi TT, làm biến tướng khái niệm xã hội hóa Điển hìnhcho việc này là công trình sân vận động quốc gia Mỹ Đình Được đầu tư 69 triệuUSD để phục vụ cho Seagames 22 (2003) trên diện tích 247 ha, sức chứa tới40.192 chỗ ngồi, nhưng sau khi sự kiện TT khu vực kết thúc, công trình cũngdần trở nên đìu hiu khi một năm chỉ tổ chức gần chục sự kiện Thay vào đó, các
cơ sở dịch vụ như massage, rạp chiếu phim, trung tâm tổ chức tiệc cưới…, thậmchí có cả gia cầm được chăn thả tự do
Với các công trình TT giải trí, điển hình là sân golf, việc xây dựng sai quyhoạch, quy định xảy ra phổ biến Theo quy hoạch năm 2009, cả nước có 90 dự
án sân golf ở 34 tỉnh thành phố đã được Thủ tướng phê duyệt Trong đó có 5 sânđang đề nghị phải rút ra khỏi quy hoạch vì chậm tiến độ và chuyển đổi mục đíchđầu tư Tuy nhiên, sau khi kiểm tra việc thực hiện quy hoạch năm 2011, Bộ kếhoạch đầu tư cho biết phát hiện thêm 27 sân golf thuộc 13 tỉnh thành nằm ngoàidanh mục và không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được duyệt do các tỉnhkhông thống kê đầy đủ
Trong số diện tích đất quy hoạch làm sân golf, tỷ lệ các chủ đầu tư xâydựng các khu du lịch sinh thái, trung tâm thương mại chiếm đến hơn 50%.Thực tế mới có 24 sân golf đang có người chơi, có 3 dự án thực hiện xong việcxây dựng nhà ở, biệt thự để bán với diện tích 304 ha 13 chủ đầu tư sân golf đã
có quyết định thu hồi đất là sử dụng đất đúng mục đích, xây dựng đúng tiến độ
Có tới 46 chủ đầu tư làm chậm tiến độ hoặc sai quy định như làm sân golfkhi chưa có quy hoạch chi tiết được duyệt, chưa ký hợp đồng thuê đất; chưa nộptiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định 9 dự án chưa lập báo cáo đánh giátác động môi trường.
Trong số 90 dự án sân golf, chỉ có 21 dự án là kinh doanh sân golf Cònlại 69 dự án kết hợp kinh doanh sân golf với bất động sản, du lịch Tiêu biểu như
dự án Tam Nông (Phú Thọ) có hơn 2.000 ha nhưng diện tích sân golf chỉkhoảng 170 ha Dự án khu du lịch Tam Chúc (Hà Nam) cũng chỉ có hơn 140 haxây sân golf trên tổng số diện tích lên tới 2.042 ha đất