1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện pháp luật về lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật

51 420 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 615,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành các quy định về tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật những năm qua cho thấy các quy định của pháp luật vẫn cò

Trang 1

PHẠM PHÁP LUẬT

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Huỳnh Thị Sinh Hiền Nguyễn Thị Kim Thoa

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: 5095564 Lớp: Tư pháp 1 – K35

Cần Thơ, tháng 5/2013

Trang 2

đã mang đến cho tôi biết bao nhiêu là kiến thức, trải nghiệm quý giá, không chỉ trong học tập mà cả kiến thức xã hội, đó là hành trang để tôi vững bước trong cuộc đời cũng như trong sự nghiệp của mình

Luận văn là hồi chuông báo hiệu sắp qua rồi thời sinh viên và những ký ức tươi đẹp đó sẽ theo tôi trên suốt chặn đường sau này Luận văn là sự kiểm nghiệm lại kiến thức mà tôi đã học, là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu của bản thân người viết Luận văn cũng là cả một quá trình dày công hướng dẫn của giáo viên, người cô

đã đồng hành, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt chặn đường sinh viên Nhân đây, xin gửi lời cảm ơn trân trọng và chân thành nhất đến gia đình, thầy cô và bạn bè Đặc biệt là

cô Huỳnh Thị Sinh Hiền, cô hướng dẫn luận văn đã tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tôi tận tình để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Vì đây là lần đầu tiên nghiên cứu đề tài khoa học và trình độ kiến thức còn hạn chế của bản thân người viết cùng với thời gian và quá trình nghiên cứu thực tế còn nhiều hạn chế Hơn nữa vì đây là một đề tài khá rộng, mang tính thực tiễn cho nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự góp ý từ quý thầy,

cô, các bạn Khoa Luật cũng như các cán bộ có trình độ chuyên môn liên quan để giúp

cho bài viết được hoàn thiện hơn./

Cần Thơ, ngày 30 tháng 04 năm 2013

Nguyễn Thị Kim Thoa

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

 -

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

 -

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 5

MỤC LỤC



Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu luận văn 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 3

1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 3

1.1.2 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật 4

1.1.3 Phân loại văn bản quy phạm pháp luật 6

1.1.3.1 Căn cứ vào giá trị pháp lý 6

1.1.3.2 Căn cứ vào thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật 10

1.1.4 Khái quát quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật 11

1.1.4.1 Sáng kiến và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật 12

1.1.4.2 Lấy ý kiến tham gia xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật 12

1.1.4.3 Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật 13

1.1.4.4 Xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật 13

1.1.4.5 Công bố văn bản quy phạm pháp luật 14

1.1.4.6 Gửi, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật 14

1.2 KHÁI QUÁT VỀ LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 15

1.2.1 Khái niệm nhân dân 15

1.2.2 Khái niệm lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật 15

1.2.3 Phân biệt lấy ý kiến nhân dân với trưng cầu ý dân 16

1.2.4 Ý nghĩa của việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật 17

1.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật 18

Trang 6

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

2.1 LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN

QUY PHẠM PHÁP LUẬT CẤP TRUNG ƯƠNG 20

2.1.1 Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành, sửa đổi Hiến pháp 20

2.1.1.1 Sơ lược về lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành, sửa đổi Hiến pháp 20

2.1.1.2 Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành, sửa đổi Hiến pháp hiện hành 22

2.1.2 Lấy ý kiến nhân trong quá trình ban hành Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định của Chính phủ 25

2.1.3 Lấy ý kiến nhân trong quá trình ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Thông tư liên tịch của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ 27

2.1.4 Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác ở trung ương 28

2.2 LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở ĐỊA PHƯƠNG 29

2.2.1 Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh 29

2.2.2 Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cấp huyện 30

2.2.3 Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cấp xã 31

2.3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 32

2.3.1 Những kết quả đạt được 32

2.3.2 Một số tồn tại hạn chế 34

2.3.2.1 Đối với quy định của pháp luật 34

2.3.2.2 Đối với thực tiễn 35

2.4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 36

2.4.1 Đối với việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành, sửa đổi Hiến pháp 36

Trang 7

2.4.2 Đối với việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác 39 KẾT LUẬN 41 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lời nói đầu

Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một hình thức dân chủ tiến bộ, trong đó nhà nước tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Thông qua hình thức dân chủ này, người dân có cơ hội bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Đồng thời, nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm được tính công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng, ban hành pháp luật

Ở Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của hình thức dân chủ này, nên trong lần ban hành Hiến pháp năm 1959 Nhà nước ta đã tiến hành tổ chức lấy

ý kiến nhân dân Sau này là các lần ban hành các bản Hiến pháp năm 1980, 1992 và các lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 vào các năm 2001, 2013 đều được tổ chức lấy ý kiến nhân dân Bên cạnh đó, việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật được ghi nhận trong Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh năm 1988, rồi tiếp đó là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và ngày càng hoàn thiện hơn trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành các quy định về tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật những năm qua cho thấy các quy định của pháp luật vẫn còn quá sơ sài

và có thể từ đó việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân mang nặng tính hình thức và chưa thu hút được sự tham gia đóng góp ý kiến của đông đảo nhân dân

Xuất phát từ những lý do nêu trên, người viết đã chọn vấn đề: “Hoàn thiện pháp

luật về lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng

cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu với mục đích nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao tính dân chủ trực tiếp của nhân dân, nâng cao chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta

Trang 9

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và các quy định của pháp luật về lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; xác định ưu điểm, hạn chế và thực trạng áp dụng của pháp luật về lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản

quy phạm pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau: phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết; phương pháp tổng hợp, so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn, cùng một số phương pháp tiếp cận thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, tạp chí chuyên ngành, internet

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội, ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật, và ngược lại pháp luật chỉ hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả bằng con đường nhà nước Pháp luật luôn là công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước quản lý xã hội một cách phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội Trong lịch sử đã có ba hình thức pháp luật được các giai cấp thống trị sử dụng để nâng cao ý chí của mình thành pháp luật là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật Trong những hình thức đó, văn bản quy phạm pháp luật được coi là hình thức tiến bộ nhất Với những đặc điểm đặc biệt và ưu thế mà tập quán pháp, tiền lệ pháp không có, văn bản quy phạm pháp luật trở thành hình thức pháp luật chủ đạo

và phù hợp nhất với kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa

Theo Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002) quy định: văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Định nghĩa này hoàn thiện hơn trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”.1

Mặc dù, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi hoàn thiện hơn nhưng khái niệm này vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, cụ thể là quy định về chủ thể ban hành Tại Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong khi đó tại Khoản 3, 5, 7, 9 Điều 2 Luật này lại liệt kê các văn bản do cá nhân có thẩm quyền ban

1

Khoản 1 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 11

hành như: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng kiểm toán nhà nước Quy định này của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2008 có thể gây sự nhầm lẫn rằng các cá nhân nêu trên cũng là cơ quan nhà nước

Như vậy, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật có thể được hiểu đúng là: “Văn

bản quy phạm pháp luật là văn bản do cá nhân, cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”

1.1.2 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là một phần không thể thiếu trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chiếm vị trí đặt biệt quan trọng Do đó, văn bản quy phạm pháp luật vừa mang những đặc điểm của văn bản pháp luật nói chung vừa có những đặc điểm riêng biệt Từ định nghĩa nêu trên, có thể thấy văn bản quy phạm pháp luật có những đặc điểm

sau:

- Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cá nhân, cơ quan nhà

nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành

Theo quy định tại Điều 2 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2008 thì không phải mọi cơ quan hoặc mọi cá nhân đều có thẩm quyền ban hành văn bản

quy phạm pháp luật mà chỉ những cơ quan, cá nhân được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 hoặc Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Chính phủ, Hội đồng nhân dân các cấp, Uỷ ban nhân dân các cấp Ngoài ra, còn có sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội để ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch Những cá nhân

có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng kiểm toán nhà nước và sự phối hợp ban hành giữa các chủ thể này như có sự phối hợp giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viên trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Trang 12

- Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo thủ tục, trình tự và hình thức luật định

Văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hình thức pháp luật được cơ quan Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý Nhà nước nên yêu cầu bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là rất cần thiết Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban

nhân dân năm 2004 đã quy định rất cụ thể, chặt chẽ trình tự, thủ tục ban hành văn bản

quy phạm pháp luật Theo đó, một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành qua các bước như lập chương trình, soạn thảo, thẩm tra, thẩm định, lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo văn bản cho đến thông qua, ký, công bố, tất cả đều phải tuân thủ đúng quy định của Luật Tuy nhiên, quy trình này có thể được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn trong trường hợp cần thiết hoặc cần phải bổ sung ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành Như vậy, có thể thấy một văn bản được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền, có nội dung hợp pháp nhưng trong quá trình xây dựng không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thì văn bản đó cũng không được coi là văn bản quy phạm pháp luật và sẽ bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ Bên cạnh đó, một văn bản được coi là văn bản quy phạm pháp luật còn phải được ban hành đúng hình thức do pháp luật quy định

- Thứ ba, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng quy tắc xử sự

chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội

Lý luận nhà nước và pháp luật đã khẳng định rằng các quy tắc xử sự chính là những khuôn mẫu, chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội phải tuân theo khi tham gia các quan hệ xã hội được quy tắc đó điều chỉnh.2

Về mặt hình thức, quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật Trong mối liên hệ này, quy phạm pháp luật là nội dung còn văn bản quy phạm pháp luật là hình thức Đây là đặc điểm quan trọng nhất của văn bản quy phạm pháp luật

Do chứa đựng, thể hiện ý chí của Nhà nước với nội dung là các quy tắc xử sự cho nên văn bản quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc chung và được triển khai thực hiện nhằm mục đích quản lý và duy trì trật tự xã hội Đồng thời với nội dung là các quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật tác động lên nhiều đối tượng có đặc điểm chung hoặc là

2

Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật , Nxb Công an nhân dân, 2008

Trang 13

một nhóm đối tượng nhất định nằm trong điều kiện, hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật quy định

Bên cạnh đó, để bảo đảm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế, nhà nước sử dụng nhiều biện pháp khác nhau như: tuyên truyền, giáo dục và đặc biệt là biện pháp cưỡng chế Tùy từng đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật và mức độ văn bản đó tác động đến các đối tượng khác nhau trong xã hội mà nhà nước sẽ có những biện pháp phù hợp để triển khai đưa văn bản quy phạm pháp luật vào đời sống

Như vậy, chỉ những văn bản nào có đầy đủ những đặc điểm trên đây mới được coi là văn bản quy phạm pháp luật Đây chính là dấu hiệu quan trọng để phân biệt văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, văn bản hành chính thông thường

1.1.3 Phân loại văn bản quy phạm pháp luật

1.1.3.1 Căn cứ vào giá trị pháp lý a) Văn bản luật

Văn bản luật: gồm Hiến pháp, luật (hoặc bộ luật) là văn bản quy phạm pháp luật

do Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước tối cao ban hành nhằm điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có tính chất cơ bản và nền tảng để tổ chức nên bộ máy nhà nước và tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà nước So với văn bản dưới luật, văn bản luật có hiệu lực pháp lý tối cao Mọi văn bản khác (dưới luật) khi ban hành đều phải dựa trên cơ sở của văn bản luật và không được trái với các quy định trong văn bản đó

- Hiến pháp (Hiến pháp và các văn bản bổ sung, sửa đổi hiến pháp): là văn

bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất quy định những vấn đề cơ bản nhất của nhà nước như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước Hiến pháp là cơ sở để hình thành nên khung pháp lý của quốc gia và là cơ sở để xây dựng các đạo luật Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật còn lại đều phải tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp Theo Hiến pháp Việt Nam, chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành và sửa đổi Hiến pháp và phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội tán thành.3

- Bộ luật, luật: Bộ luật, luật của Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản thuộc

lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và

3

Điều 147 Hiến pháp Việt Nam năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001

Trang 14

hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân

b) Văn bản dưới luật

Văn bản dưới luật là văn bản quy phạm pháp luật còn lại trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, do các cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức được pháp luật qui định nhằm thi hành Hiến pháp, luật Những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn văn bản luật Vì vậy, các văn bản dưới luật khi ban hành phải chú ý sao cho những quy định của chúng phù hợp với những quy định của Hiến pháp và luật Văn bản dưới luật bao gồm:

- Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển

kinh tế - xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách Trung ương, điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; phê chuẩn điều ước quốc tế và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội

- Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành nhằm thực hiện những

vấn đề do Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện có thể được Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành luật

- Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến

pháp, luật, pháp lệnh; hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện nhiệm vụ,

quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định Trong số các văn bản của Chủ tịch nước là lệnh và quyết định, có số lượng khá lớn là văn bản cá biệt Do vậy, khi xem xét văn bản của Chủ tịch nước, chỉ có những văn bản chứa đựng quy tắc xử sự chung mới xem là văn bản quy phạm pháp luật

- Nghị định của Chính phủ được ban hành để quy định các vấn đề sau:

+ Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

Trang 15

+ Quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ;

+ Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;

+ Quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý

xã hội Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quy định các vấn đề

sau:

+ Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

+ Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước

- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để

quy định các vấn đề sau:

+ Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

+ Quy định về quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách;

+ Quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề khác do Chính phủ giao

- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành

để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật

Trang 16

- Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao được ban hành để thực hiện

việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương và Toà án quân sự về tổ chức; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để

quy định các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước được ban hành để quy định, hướng

dẫn các chuẩn mực kiểm toán nhà nước; quy định cụ thể quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán

- Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch bao gồm nghị quyết liên tịch và thông

tư liên tịch được ban hành như sau:

+ Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham

gia quản lý nhà nước

+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó

+ Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ đó

- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp được ban hành trong các trường hợp sau:

+ Quyết định những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;

Trang 17

+ Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách quốc phòng,

an ninh ở địa phương; quyết định biện pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, hoàn thiện nhiệm vụ cấp trên giao cho;

+ Quyết định trong phạm vi thẩm quyền được giao những chủ trương, biện pháp có tính chất đặt thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, nhưng không được trái với các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;

+ Văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên giao cho Hội đồng nhân dân quy

1.1.3.2 Căn cứ vào thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật

a) Văn bản quy phạm pháp luật cấp trung ương

Văn bản quy phạm pháp luật cấp trung ương là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền ở trung ương ban hành theo trình thự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định Văn bản quy phạm pháp luật của trung ương bao gồm:

+ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

+ Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

+ Nghị định của Chính phủ

+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

Trang 18

+ Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

+ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

+ Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước

+ Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội

+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

b) Văn bản quy phạm pháp luật cấp địa phương

Văn bản quy phạm pháp luật của địa phương là văn bản do Ủy ban nhân nhân, Hội đồng nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 quy định, trong

đó có quy tắc xử xự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương Theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 thì ở địa phương có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật sau:

+ Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân ba cấp được ban hành dưới hình thức nghị quyết

+ Văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân ba cấp được ban hành dưới hình thức quyết định, chỉ thị

1.1.4 Khái quát về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Quy trình ban hành văn bản văn bản quy phạm pháp luật là trình tự các bước cần phải trải qua trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của cơ quan có thẩm quyền ban hành Tùy theo tính chất, nội dung và hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật mà phải tiến hành các bước đó theo một trình tự chặt chẽ do luật định, hay có thể giản lược một số bước, song không nằm ngoài trình tự chung gồm các bước sau đây:

1.1.4.1 Sáng kiến và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

Sáng kiến văn bản quy phạm pháp luật bao gồm việc đề xuất văn bản quy

phạm pháp luật; lập chương trình xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; quyết

Trang 19

định cơ quan, đơn vị, cá nhân chủ trì soạn thảo và thành lập ban soạn thảo.4

Ban soạn thảo tổ chức nghiên cứu, tiến hành xây dựng dự thảo qua các công việc sau:

- Tổng kết đánh giá các văn bản có liên quan, thu thập tài liệu thông tin;

- Chọn phương án hợp lý: xác định mục đích, yêu cầu để từ đó có cơ sở lựa chọn thể thức văn bản, ngôn ngữ diễn đạt, văn phong trình bày và thời điểm ban hành;

- Viết dự thảo: phác thảo nội dung ban đầu; soạn đề cương; xây dựng dàn bài theo thể thức đã chọn, soạn đề cương chi tiết; tham khảo ý kiến của chủ trương, các chuyên gia, tổ chức thảo luận nội dung phác thảo; chỉnh lý phác thảo, viết dự thảo;

- Biên tập và tổ chức đánh máy dự thảo.5

1.1.4.2 Lấy ý kiến tham gia xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật sau khi viết xong dự thảo sẽ được tổ chức lấy

ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân, đối tượng chịu sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật

Tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định

nguyên tắc trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức khác, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và các cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến

về dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản

Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia góp ý kiến về dự thảo văn bản, tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản

Ý kiến tham gia về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu, giải trình trong quá trình chỉnh lý dự thảo.”

Việc tổ chức lấy ý kiến có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: thông qua internet, báo đài, tổ chức hội thảo, lấy ý kiến trực tiếp thông qua tiến

Trang 20

hành khảo sát,… Kết quả đóng góp ý kiến phải được đánh giá tiếp thu bằng văn bản tổng hợp các ý kiến Văn bản này là yếu tố bắt buộc phải có trong hồ sơ thẩm định và hồ sơ

trình dự thảo

1.1.4.3 Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động nghiên cứu xem xét, đánh giá về hình thức, nội dung và tính khả thi của dự án, dự thảo nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự án dự thảo trong hệ thống pháp luật hiện hành Tùy theo từng loại văn bản mà quy trình, thủ tục, thời hạn thẩm định

dự thảo có thể khác nhau, song về tổng thể văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành thẩm định như sau:

- Ban soạn thảo chỉnh lý hồ sơ dự thảo trên cơ sở các ý kiến tham gia xây dựng dự thảo và chuẩn bị hồ sơ thẩm định;

- Ban soạn thảo gửi hồ sơ đi thẩm định với số lượng bộ hồ sơ theo luật định hoặc theo yêu cầu của cơ quan thẩm định đối với từng loại văn bản;

- Cơ quan, bộ phận thẩm định tiến hành thẩm định theo luật định hoặc tùy theo tính chất nội dung trên các phương diện sau đây: sự cần thiết ban hành văn bản; sự phù hợp của hình thức văn bản với các vấn đề cần giải quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; bố cục văn bản, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật; tính khả thi của văn bản; kỹ thuật soạn thảo văn bản;

- Cơ quan, bộ phận thẩm định ra văn bản thẩm định, chịu trách nhiệm pháp

lý về những nội dung đã thẩm định và gửi văn bản thẩm định đó cho cơ quan soạn thảo trong thời hạn luật định hoặc theo yêu cầu của cơ quan, bộ phận soạn thảo Cơ quan soạn thảo tiếp thu các ý kiến thẩm định và chỉnh lý.6

1.1.4.4 Xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật

Cơ quan, đơn vị soạn thảo trình hồ sơ trình duyệt dự thảo văn bản lên cấp trên để xem xét và thông qua

Hồ sơ trình kí bao gồm: tờ trình dự thảo, bản dự thảo, văn bản thẩm định, bản tập hợp ý kiến tham gia, các tài liệu khác có liên quan.7

Số lượng các bộ hồ sơ được làm theo luật định hoặc theo yêu cầu của cấp

6

TS Lưu Kiếm Thanh: Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nxb Thống kê, 2002, tr 80

7

TS Lưu Kiếm Thanh: Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nxb Thống kê, 2002, tr 81

Trang 21

duyệt kí đối với từng loại dự án, dự thảo cụ thể Hồ sơ được bộ phận có chức năng được kiểm tra về nội dung và thủ tục Nếu phát hiện có khiếm khuyết, hồ sơ được chuyển lại cho cơ quan soạn thảo để chỉnh lý và trình lại dự án, dự thảo lên cấp trên để xem xét Sau đó, Lãnh đạo thông qua và kí ban hành văn bản theo đúng thẩm quyền và thủ tục luật định tùy theo từng loại văn bản quy phạm pháp luật

Việc thông qua văn bản quy phạm pháp luật có thể được tiến hành bằng hình thức phiên họp hoặc theo thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan tổ chức Tùy theo thẩm quyền ban hành, tính chất và nội dung của văn bản, văn bản có thể được xem xét thông qua bằng hình thức tập thể tại một hoặc nhiều phiên họp của cơ quan ban hành Trong trường hợp không được thông qua thì cơ quan soạn thảo phải chỉnh lý và trình lại trong thời hạn nhất định

1.1.4.5 Công bố văn bản quy phạm pháp luật

Đây có thể được coi là giai đoạn cuối của qui trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật Công bố văn bản có ý nghĩa tạo tính công khai, minh bạch của văn bản quy phạm pháp luật nhằm tuyên truyền, phổ biến nội dung văn bản đến rộng rãi giai cấp

nhân dân Điều 84 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định:

“Văn bản quy phạm pháp luật không có nội dung bí mật nhà nước phải được đăng tải toàn văn trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản chậm nhất

là hai ngày, kể từ ngày công bố hoặc kí ban hành và phải đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng.”

1.1.4.6 Gửi, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật sau khi kí ban hành phải được gửi, lưu trữ theo quy định của pháp luật

“1 Văn bản quy phạm pháp luật phải được gửi đến cơ quan nhà nước có

thẩm quyền để giám sát, kiểm tra

2 Hồ sơ dự án, dự thảo và bản gốc của văn bản quy phạm pháp luật phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.”8

8

Điều 10 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 22

1.2 KHÁI QUÁT VỀ LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.2.1 Khái niệm nhân dân

Nhân dân là cụm từ có phạm trù ngữ nghĩa rất rộng và được định nghĩa như sau:

- Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên nhân dân được định nghĩa là bao gồm đông đảo người dân, thuộc mọi giai cấp tầng lớp đang sống trong một khu vực, đất nước nào đó.9 Theo định này, thì nhân dân chỉ bao gồm những người dân sống trong một đất nước Đây chỉ là cách hiểu chung nhất về nhân dân

- Theo tư tưởng thể hiện xuyên xuốt qua nhiều văn kiện của Đảng thì khái

niệm nhân dân được hiểu là bao gồm các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần

kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghĩ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài.10 Theo quan điểm này của Đảng thì phạm trù

“nhân dân” được định nghĩa rộng rãi hơn, không chỉ bao gồm cộng đồng dân cư trên lãnh

thổ Việt Nam mà còn gồm cả người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài

Như vậy, nhân dân được hiểu là bao gồm tất cả mọi người dân Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, giới tính, trình độ,… đang sinh sống trong nước hay

ở nước ngoài

1.2.2 Khái niệm lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Lấy ý kiến nhân dân là thuật ngữ không phải mới ở nước ta, nó được Nhà nước

sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục,… Đặc biệt là trong hoạt động xây dựng pháp luật Trong các văn bản pháp quy cụm từ lấy ý kiến nhân dân cũng

đã được nhắc đến, song việc định nghĩa cụm từ này chưa được quy định cụ thể, điều này làm cho cách hiểu về cụm từ lấy ý kiến nhân dân chưa thống nhất, thậm chí còn nhầm lẫn giữa lấy ý kiến nhân dân với các thuật ngữ khác như trưng cầu ý dân, phúc quyết

Việc định nghĩa lấy ý kiến nhân dân hiện nay chủ yếu phải dựa vào các khái niệm do các nhà khoa học trong lĩnh vực pháp lý đưa ra Tuy có sự nhận diện khác nhau

về cụm từ này, nhưng tựu chung lại cụm từ lấy ý kiến nhân dân được định nghĩa như sau:

Trang 23

Lấy ý kiến nhân dân là một hình thức dân chủ, Nhà nước tổ chức lấy ý kiến nhằm thông báo, hỏi, lắng nghe với những người chịu ảnh hưởng bởi một quyết định, một giải pháp nào đó hoặc những người có liên quan, có quan tâm đến chính sách, giải pháp sắp được ban hành Thông qua đó, nhân dân có cơ hội để bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình, tạo điều kiện để người ra quyết định có cơ hội xem xét cân nhắc trước khi quyết định ban hành hoặc sửa đổi chính sách

Trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì lấy ý kiến nhân dân được định nghĩa như sau: Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức để nhân dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Lấy ý kiến nhân dân là một giai đoạn của quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật Trong giai đoạn này, cơ quan tổ chức lấy kiến có trách nhiệm phổ biến rộng rãi nội dung dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần lấy ý kiến để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến của mình Giai đoạn lấy ý kiến nhân dân kết thúc khi các ý kiến được tiếp nhận hoặc từ chối nhằm chỉnh sửa dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo ý chí nguyện vọng của nhân dân

Hoạt động lấy ý kiến nhân dân rất đa dạng có thể dưới nhiều hình thức như: thông qua internet, báo đài, tổ chức hội thảo, lấy ý kiến trực tiếp thông qua tiến hành khảo sát,… nhằm tìm kiếm ý kiến của nhân dân, hoạt động này có thể tập trung vào một nhóm đối tượng có lợi ích cụ thể và trực tiếp từ một quyết định nào đó hoặc cũng có thể tìm kiếm ý kiến chung từ nhân dân

1.2.3 Phân biệt lấy ý kiến nhân dân với trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp, thể hiện mối quan hệ Nhà nước - công dân trong quản lý, điều hành đất nước, trong đó cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục luật định đưa một vấn đề ra để nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc bỏ phiếu

Có thể nhận thấy trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân đều là một hình thức dân chủ, xét về bản chất, trưng cầu ý dân là một trong những hình thức của lấy ý kiến nhân dân

Tuy nhiên, nội hàm của lấy ý kiến nhân dân rộng hơn so với nội hàm của trưng cầu ý

dân Điểm khác biệt giữa lấy ý kiến nhân dân với trưng cầu ý dân là ở chỗ:

- Thứ nhất, thông qua trưng cầu ý dân, người dân trực tiếp quyết định đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn thông qua việc lấy ý kiến nhân dân, người dân chỉ đưa

ra ý kiến để các cơ quan nhà nước tham khảo, việc quyết định về vấn đề đưa ra lấy ý kiến

Trang 24

như thế nào vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào cơ quan nhà nước.11

- Thứ hai, đối tượng của việc trưng cầu ý dân chỉ gồm những người có quyền bầu cử (cử tri), còn đối tượng của việc lấy ý kiến nhân dân là nhân dân bao gồm tất cả những người có khả năng và tâm huyết đóng góp ý kiến, không hạn chế bất cứ một trường hợp nào cho dù người đó có đầy đủ quyền công dân hoặc quyền bầu cử hay không Những việc đưa ra lấy ý kiến nhân dân có khi là để xem xét quyết định về một vấn đề cụ thể (như việc lấy ý kiến về việc có nên xây dựng một công trình hay không) giống như trong trưng cầu ý dân nhưng cũng có thể chỉ là việc góp ý để hoàn chỉnh thêm các vấn đề đưa ra lấy ý kiến (như việc lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh).12

- Thứ ba, trưng cầu ý dân bắt buộc phải thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu với

câu trả lời là đồng ý hay không đồng ý với vấn đề đưa ra trưng cầu, còn việc lấy ý kiến

nhân dân thường không được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu, người dân thường góp ý bằng cách thể hiện ý kiến trong văn bản và gửi cho cơ quan, tổ chức lấy ý kiến nhân dân hoặc thông qua internet, báo đài, các hội nghị, hội thảo,…

1.2.4 Ý nghĩa của việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì:

- Lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hình thức phát huy quyền dân chủ của nhân dân Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân”13 Tuy nhiên, việc nhân dân quyết định tất cả mọi công việc của nhà nước là không thể Vì vậy, Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, không phải bao giờ ý kiến của các cơ quan đại diện này cũng phản ánh được toàn diện ý chí của nhân dân Vì vậy, với hình thức lấy ý kiến nhân dân đã cho phép người dân mặc dù không tham gia vào tất cả mọi công việc của nhà nước, nhưng đối với một số công việc quan trọng, trong đó có hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật bắt buộc nhà nước phải hỏi ý kiến nhân dân Như vậy, có thể khẳng định rằng, sự tồn tại của hình thức lấy ý kiến nhân đã bổ khuyết cho những điểm chưa hoàn thiện

Trang 25

của nền dân chủ đại diện, khiến cho những quyết định quan trọng của nhà nước luôn phù hợp

và phản ánh được ý chí nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân

- Bên cạnh đó, thông qua hoạt động lấy ý kiến nhân dân, mọi người có cơ hội bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình, tạo điều kiện để người hoạch định chính sách sẽ có thông tin và thực tế cuộc sống để đưa ra những quy định phù hợp với các điều kiện xã hội hiện có Do vậy, lấy ý kiến nhân dân sẽ làm cho các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước trước khi ban hành mang tính khả thi, và tính thực tiễn cao hơn, gần gũi với cuộc sống xã hội và nhu cầu của người dân hơn Bởi vì tất cả các văn bản quy phạm pháp luật nếu không xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống thì cho dù đã được ban hành cũng sẽ không thể áp dụng vào cuộc sống hoặc sẽ có một số nội dung khó áp dụng, thi hành Thông qua hoạt động lấy ý kiến nhân dân, người dân có thể tham gia vào quá trình xây dựng và ban hành pháp luật, góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật minh bạch và hiệu quả, khả thi

- Nếu kết quả lấy ý kiến nhóm đối tượng tác động của văn bản cho thấy văn bản phù hợp với tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của đa số quần chúng nhân dân thì văn bản sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống Niềm tin của nhân dân đối với chính quyền sẽ được cũng cố Ngược lại, nếu văn bản pháp luật không phù hợp với một nhóm nào đó thì quy trình lấy ý kiến văn bản là cơ hội để các cơ quan có thẩm quyền có những biện pháp tuyên truyền để người dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm với cộng đồng, xã hội Từ đó, tránh được hiện tượng người dân phản ứng khi lợi ích của họ bị ảnh hưởng dưới tác động của văn bản

- Qua hoạt động lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập pháp, người dân được tham gia vào quá trình hoạch định xây dựng và ban hành pháp luật nên chắc chắn mọi người sẽ hiểu sâu sắc hơn về nội dung các luật và chính sách ban hành, từ đó nhân dân sẽ

tự giác thực hiện theo các luật, chính sách mà chính họ đã góp phần xây dựng nên và xuất phát từ chính nhu cầu của họ Vì vậy lợi ích của lấy ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật không những chỉ là ban hành được những chính sách hiệu quả, khả thi mà còn làm cho người dân có ý thức pháp luật cao hơn

1.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về lấy ý kiến nhân dân trong quá

trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Mặc dù Nhà nước ta từ lâu đã sớm quy định lấy ý kiến nhân dân là một giai đoạn của quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện cho thấy các quy định của pháp luật về lấy ý kiến nhân dân vẫn còn sơ sài và chưa cụ thể, chưa có cơ chế tiếp thu, giải trình rõ ràng về hoạt động này dẫn đến việc tổ chức lấy

Ngày đăng: 09/11/2015, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w