Đảm bảo sự hỗ trợ đắc lực của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội...104 KẾT LUẬN 106 PHỤ LỤC A-DANH SÁCH CÁC TCTCVM SỬ DỤNG TRONG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ CÁC NH
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 2
3 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
4 Những đóng góp mới của nghiên cứu: 5
5 Cơ cấu nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN MỨC ĐỘ TIẾP CẬN CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 7
1.1 Tổng quan về tài chính vi mô 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Đặc điểm 8
1.1.3 Vai trò 10
1.1.4 Các loại hình tổ chức TCVM 12
1.1.5 Các hoạt động tài chính cơ bản 14
1.2 Khái niệm và đo lường mức độ tiếp cận của TCTCVM 17 1.2.1 Khái niệm về mức độ tiếp cận 17
1.2.2 Đo lường mức độ tiếp cận 18
1.2.3 Lựa chọn phương pháp đo lường độ tiếp cận 22
1.2.4 Mô hình đánh giá tác động của các nhân tố lên mức độ tiếp cận của TCTCVM 23 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận của các TCTCVM 28 1.3.1 Nguồn vốn tài trợ 28
1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn 32
1.3.3 Quản trị 38
1.3.4 Chi phí 39
1.3.5 Tuổi của TCTCVM 41
1.3.6 Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội 42
Trang 2CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VI MÔ, MỨC ĐỘ TIẾP CẬN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ TIẾP CẬN CỦA CÁC TCTCVM TẠI VIỆT NAM 44
2.1 Tổng quan thị trường TCVM ở Việt Nam 44
2.2 Thực trạng mức độ tiếp cận của các TCTCVM 54
2.3 Thực trạng các nhân tố tác động đến mức độ tiếp cận của các TCTCVM
58
2.3.1 Vấn đề về lãi suất cho vay 58
2.3.2 Hoạt động quản trị của các TCTCVM 63
2.3.3 Hoạt động huy động vốn 64
2.3.4 Mức cho vay trung bình 67
2.3.5 Chi phí 68
2.3.6 Phương pháp cho vay 69
2.3.7 Tuổi hoạt động của tổ chức 70
2.3.8 Tình trạng pháp lý của các TCTCVM 72
2.4 Mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận của TCCVM và kết quả mô hình 75 2.4.1 Giải thích các biến trong mô hình 75
2.4.2 Hệ số tương quan giữa các biến 77
2.4.3 Kết quả hồi quy 77
2.4.4 Giải thích kết quả hồi quy 79
CHƯƠNG III: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ TCTCVM TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 83 3.1 Kinh nghiệm của một số TCTCVM trên thế giới 83 3.1.1 Ngân hàng Grameen (GB) – Bangladesh 83
3.1.2 Ngân hàng Rakyat Indonesia 85
3.1.3 Ngân hàng CARD – Philippines 88
3.2 Khuyến nghị đối với các TCTCVM 91 3.2.1 Tăng cường công tác quản trị và điều hành 91
3.2.2 Giảm chi phí và tăng nguồn thu nhằm tăng mức độ tiếp cận 91
3.2.3 Đa dạng hóa dịch vụ, tăng cường chất lượng dịch vụ, cân bằng giữa các dịch vụ tài chính và xã hội 92
3.2.4 Nâng cao năng lực tài chính 93
3.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 93
Trang 33.2.6 Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt, hợp lý 95
3.2.7 Nâng cao khả năng huy động vốn 95
3.3 Khuyến nghị chung dành cho các cơ quan quản lý 95 3.3.1 Về lựa chọn mô hình tổ chức tài chính vi mô 96
3.3.2 Lãi suất 98
3.3.3 Huy động vốn 99
3.3.4 Chính sách thuế đối với hoạt động tài chính vi mô 99
3.3.5 Giám sát và thực thi chính sách 100
3.3.6 Xây dựng chiến lược quốc gia về tài chính vi mô 100
3.3.7 Hoàn thiện khung pháp lý 103
3.3.8 Đảm bảo môi trường kinh tế - chính trị - xã hội nông thôn ổn định 104
3.3.9 Đảm bảo sự hỗ trợ đắc lực của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội 104
KẾT LUẬN 106
PHỤ LỤC A-DANH SÁCH CÁC TCTCVM SỬ DỤNG TRONG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN MỨC ĐỘ TIẾP CẬN CỦA CÁC TCTCVM 108
PHỤ LỤC B-KẾT QUẢ HỒI QUY 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Số bảng Tên bảng
1 1.1 Các đơn vị cung cấp dịch vụ TCVM
2 1.2 Các biến sử dụng trong mô hình đánh giá các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ tiếp cận của TCTCVM
3 1.3 Mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong mô
hình
4 1.4 Quan hệ giữa nguồn tài trợ, hoạt động sử dụng vốn và mức độ
tiếp cận
5 2.1 Phân đoạn thị trường TCVM hiện nay
6 2.2 Các đơn vị cung cấp TCVM ở Việt Nam
7 2.3 Số lượng khách hàng và tổng dư nợ của một số tổ chức cung
cấp dịch vụ TCVM
8 2.4 So sánh chi phí vay vốn của khách hàng từ TCTCVM và
NHTM
9 2.5 Số lượng người gửi tiền tại một số TCTCVM (2012 – 2013)
10 2.6 Huy động tiết kiệm của một số TCTCVM tiêu biểu tại
14 2.10 Các loại hình hoạt động của TCTCVM
15 2.11 Hệ số tương quan giữa các biến liên tục trong mô hình
Nguồn vốn tại BRI năm 2011
17 3.2 Cơ cấu khách hàng tại BRI năm 2011
18 3.3 Chỉ tiêu tài chính tại ngân hàng Rakyat Indonesia
19 3.4 Số khách hàng tại ngân hàng CARD
20 3.5 Cơ cấu vốn tại ngân hàng CARD
21 3.6 Quá trình thực hiện chính sách đối với các TCTCVM
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Diễn giải
2 AECI Cơ quan hợp tác phát triển Tây Ban Nha
4 ANT Số lần trung bình vay lặp lại
7 CAR Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
8 CGAP Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất
9 Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
10 DID Tổ chức phát triển quốc tế Desjardins
14 GGS, GB Grameen Generalized System
16 GTZ Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức
17 HĐQT và BKS Hội đồng quản trị và ban kiểm soát
32 OSS Chỉ tiêu tự bền vững hoạt động
33 QTDNDCS Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, nay là Ngân hàngHợp tác xã – Coop Bank
35 Quỹ TDND Quỹ tín dụng nhân dân
36 STU Dự án tăng cường năng lực và hỗ trợ giảm nghèo bền
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tài chính vi mô (TCVM) từ lâu đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo; trong
đó, các tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) là hạt nhân, được thành lập với mục tiêucung cấp các dịch vụ TCVM cho người nghèo, người có thu nhập thấp, doanh nghiệp
từ siêu nhỏ đến nhỏ,… nhằm đem TCVM đến gần hơn với cuộc sống TCVM khônggiống với các mô hình tài chính thông thường, trước hết là bởi chính đối tượng màTCVM hướng tới: người nghèo Việc người nghèo tiếp cận với các dịch vụ tài chính làmột điều hết sức khó khăn, bởi họ chưa thực sự có nhu cầu cấp thiết, hoặc có nhu cầucấp thiết nhưng chưa có nhận thức thật sự đúng đắn, hoặc đã có nhận thức về lĩnh vựctài chính nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu TCVM sẽ giải quyết những khúc mắccủa người nghèo, khi mà mục tiêu của nó là tiếp cận tới những tầng lớp nghèo nhấttrong xã hội Như vậy, có thể thấy rằng, mức độ tiếp cận của TCTCVM là một khíacạnh quan trọng tạo nên hiệu quả hoạt động của loại hình này
Tại Việt Nam, qua ba thập kỷ tồn tại và phát triển, TCVM đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể trong việc hỗ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp, doanhnghiệp nhỏ được tiếp cận nguồn vốn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vàđời sống Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, hầu hết người dân Việt Nam đềutiếp cận tương đối dễ dàng với các dịch vụ TCVM Tuy nhiên, mức độ tiếp cận cònchưa thật sự tương xứng với tiềm năng của các TCTCVM, hơn nữa mức độ tiếp cậnsâu sát cũng cần đi đôi với quản lý và kiểm soát chặt chẽ Vậy cần làm thế nào đểnâng cao mức độ tiếp cận, hay nói cách khác, những nhân tố nào thực sự ảnh hưởngđến mức độ tiếp cận của TCTCVM? Trong bối cảnh này, đề tài “Các nhân tố ảnhhưởng đến mức độ của TCTCVM ở Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu
Trang 82. Mục đích, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đề tài có 4 mục đích cơ bản sau:
(1) Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản xoay quanh TCVM, mức độ tiếp cận củaTCTCVM và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận
(2) Đánh giá tổng quan về TCVM ở Việt Nam
(3) Phân tích thực trạng mức độ tiếp cận của các TCTCVM tại Việt Nam dựatrên các nhân tố ảnh hưởng: tuổi, nguồn vốn tài trợ, hoạt động sử dụng vốn, chi phítính trên mỗi khoản vay, tính chất pháp lý của tổ chức, lãi suất cho vay đồng thời tìm
ra các nhân tố quyết định đến mức độ tiếp cận của các TCTCVM tại Việt Nam baogồm tuổi, quy mô món vay trung bình, chi phí của mỗi đồng vay, tỷ lệ nợ trên vốnchủ sở hữu, tỷ trọng danh mục cho vay trên tổng tài sản, lương và các lợi ích trungbình khác và là TCTCVM được chuyển đổi trong khi lãi suất cho vay thực hiệu quảkhông có tác động đáng kể
(4) Đề xuất một số khuyến nghị với Chính phủ, với Ngân hàng Nhà nước và các
Bộ, ngành liên quan để hướng tới mục tiêu tăng mức độ tiếp cận cho các TCTCVMtại Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận của
TCTCVM tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tập trung vào hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam tronggiai đoạn 2009 – 2013
Một số tổ chức được đề cập: Nghiên cứu sử dụng số liệu từ 28 TCTCVM
Dữ liệu nghiên cứu: Nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu chủ yếu là dữ liệu thứ
cấp (tổng hợp từ MIX Market) và tham khảo một số dữ liệu từ báo cáo của cácTCTCVM Việt Nam trong giai đoạn 2009-2014
Trang 9Phương pháp phân tích:
Phân tích tổng hợp: kết hợp phân tích định lượng và định tính để giải thích
số liệu, liên hệ các nguyên nhân từ thực tế
Mô hình kinh tế lượng
Phương pháp chuyên gia
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay trên thế giới và Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liênquan đến đề tài này
a) Trên thế giới
Có nhiều tác giả đề xuất các định nghĩa và các phương pháp đo lường mức độ
tiếp cận của TCTCM trên thế giới Trong đó phải kể đến nghiên cứu “Các khía cạnh
tiếp cận: Một khuôn khổ cho các thảo luận xoay quanh lợi ích xã hội của TCVM”
(Aspects of Outreach: A Framework for the Discussion of the Social Benefits ofMicrofinance) của Mark Schreiner (2002) đề cập mức độ tiếp cận của TCTCVM mộtcách đầy đủ qua sáu khía cạnh tiếp cận độ sâu tiếp cận, độ rộng tiếp cận, độ dài tiếpcận, phạm vi, giá trị cũng như chi phí của khách hàng
Nghiên cứu “TCVM ở Uganda: tính bền vững, mức độ tiếp cận và quy định”
(The microfinance industry in Uganda: sustainability, outreach and regulation) năm
2007 của Luka Jovita Okumu phân tích và kết luận các nhân tố ảnh hưởng tới tínhbền vững mức độ tiếp cận của các TCTCVM một cách đầy đủ trong đó tỷ trọng danhmục cho vay trong cơ cấu tài sản, quy mô cho vay trung bình, chi phí của món vayđược giải ngân, lương, tuổi, phương pháp cho vay và tổ chức dưới các hình thức tổchức phi chính phủ, TCTCVM được nhận tiền gửi và hiệp hội tín dụng-tiết kiệm; tìmhiểu mối quan hệ giữa tính bền vững và mức độ tiếp cận của TCTCVM; đánh giá tácđộng của các quy định tài chính lên sự bền vững và mức độ tiếp cận, đề xuất một sốkhuyến nghị của tác giả để nâng cao hiệu quả tiếp cận cho ngành TCVM ở Uganda
Trang 10Nghiên cứu “Xác định mức độ tiếp cận TCVM ở Đông Nam Nigeria: phân tích
theo kinh nghiệm” (Determinants of microfinance outreach in South-Western Nigeria: an empirical analysis) năm 2011 của TS Osotimehin, TS Jegede và Thạc sỹ
khoa học Akinlaby tìm ra quy mô cho vay trung bình, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu vàlương là những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận đồng thời cóthêm một điểm mới, đó là xác định xu hướng tiếp cận của TCTCVM
b) Tại Việt Nam
Trong Luận án Tiến sỹ năm 1998 về “Chi phí giao dịch của người vay, thị
trường phân tách và kém tiếp cận: nghiên cứu về thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam”, PGS.TS Trần Thọ Đạt phân tích về chi phí giao dịch, sự chia tách thị trường
trong khu vực TCVM nông thôn, với mô hình từ số liệu sơ cấp của đồng bằng sôngHồng
Nghiên cứu “Báo cáo phân tích tiếp cận: nâng cao khả năng tiếp cận của hộ
gia đình đối với các dịch vụ tài chính chính thức ở Việt Nam” đề cập sâu hơn tới
mức độ tiếp cận của người nghèo tới các TCTCVM ở Việt Nam, tập trung vào khuvực nông thôn
Năm 2006, Ngân hàng Thế giới với nghiên cứu: “Việt Nam, phát triển một
chiến lược toàn diện để mở rộng tiếp cận của hộ nghèo đối với các dịch vụ TCVM: Tăng cường tiếp cận, hiệu quả bền vững” có cái nhìn toàn cảnh về mức độ tiếp cận
của TCTCVM
Luận án của TS Lê Thanh Tâm “Phát triển các tổ chức tài chính nông thôn tại
Việt Nam” năm 2008 đã đưa ra một số kết luận về mức độ tiếp cận và tính bền vững
của TCTCNT tại Việt Nam cũng như kiểm định mối tương quan giữa tính bền vững
và mức độ tiếp cận dựa trên số liệu của các QTDND
Nghiên cứu “Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam - Kiểm định và so
sánh” (2011) của PGS.TS Nguyễn Kim Anh, PGS.TS Ngô Văn Thứ, TS Lê Thanh
Tâm và Ths Nguyễn Thị Tuyết Mai đã phân tích và kiểm định tác động TCVM đến
Trang 11thu nhập và tài sản của khác hàng, TCVM giúp khách hàng tăng cường năng lực xãhội, sự hài lòng của khách hàng đối với NHCSXH, QTDND và các TCTCVM.
Nghiên cứu “Mức độ bền vững của các TCTCVM ở Việt Nam: Thực trạng và
một số khuyến nghị” (2013) của nhóm Công tác TCVM do PGS.TS Nguyễn Kim
Anh và TS Lê Thanh Tâm đồng chủ biên đã hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về sựbền vững của TCTCTVM, tổng kết các kinh nghiệm thành công và thất bại trongviệc phát triển bền vững TCVM trên thế giới và bài học cho Việt Nam Ngoài ranhóm còn phân tích mức độ bền vững của các TCTCVM tại Việt Nam trên 3 mứcđộ: OSS, FSS, ISS, đồng thời so sánh với các TCTCVM trong khu vực Nhóm cũngđưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp các TCTCVM Việt Nam phát triển bền vững
Nghiên cứu “Tài chính vi mô tại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị chính
sách” (2014) của nhóm Công Tác TCVM do PGS.TS Nguyễn Kim Anh làm chủ
biên, tập trung phân tích, đánh giá tổng thể thực trạng hoạt động TCVM củaTCTCVM được cấp phép hoạt động TCVM chính thức và các chương trình/dự ánđang cung cấp dịch vụ TCVM tại Việt Nam Ngoài ra, nghiên cứu phân tích, đánhgiá những bất cập về cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý, tiến độ triển khai “Đề ánxây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam đến năm 2020”, mức độ liênkết của các TCTCVM đồng thời đưa ra các kiến nghị, đề xuất có tính hành động cụthể, thiết thực nhằm tháo gỡ những nút thắt tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngTCVM phát triển
4 Những đóng góp mới của nghiên cứu
Từ mô hình được lựa chọn và đo lường rút ra nhân tố có ảnh hưởng đến mức độtiếp cận của các TCTCVM tại Việt Nam là quy mô món vay trung bình, tổ chứcđược chuyển đổi thành TCTCVM chính thức, lương và các khoản lợi ích khác củanhân viên, chi phí của mỗi đơn vị tiền tệ cho vay, tuổi của TCTCVM, tỷ lệ nợ trênvốn chủ sở hữu, tỷ trọng danh mục cho vay trong tổng tài sản
Trong nghiên cứu “Xác định mức độ tiếp cận TCVM ở Đông Nam Nigeria:
phân tích theo kinh nghiệm” (Determinants of microfinance outreach in
Trang 12South-Western Nigeria: an empirical analysis) năm 2011 của TS Osotimehin, TS Jegede
và Thạc sỹ khoa học Akinlaby tìm ra lãi suất cho vay là nhân tố quyết định đến mức
độ tiếp cận của 80 TCTCVM tại Đông Nam Nigeria trong giai đoạn 2005-2010 thìtại Việt Nam, nhân tố này có tác động không đáng kể Tuy nhiên, kết quả này cũngđồng thuận với kết quả của Luka Jovita Okumu khi nghiên cứu các TCTCVM tạiUganda Nghiên cứu trên các TCTCVM tại Việt Nam cũng cho thấy rằng khiTCTCVM được chuyển đổi sẽ có tác động tích cực đến gia tăng mức độ tiếp cậntrong khi tình trạng pháp lý được chứng minh không phải là nhân tố quyết định tạiNigeria Đồng thời, quy mô món vay trung bình được tìm ra là nhân tố quan trọngnhất và có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ tiếp cận của TCTCVM so với nhân tố tìnhtrạng pháp lý và tuổi được chứng minh tại Uganda Nhân tố tỷ lệ nợ trên vốn chủ sởhữu và tỷ trọng danh mục cho vay trong tổng tài sản tại các TCTCVM ở Viêt Namcũng được có mối quan hệ ngược chiều với mức độ tiếp cận, trái ngược so với kếtquả tìm được tại Uganda
5 Cơ cấu nghiên cứu
Ngoài Lời cảm ơn của nhóm, phần kết luận, phụ lục, bảng biểu, hình vẽ minhhọa và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu được trình bày trong 3chương:
Chương 1: Cơ sở Lý thuyết về các nhân tố quyết định đến mức độ tiếp cận của
tổ chức tài chính vi mô
Chương 2: Thực trạng thị trường TCVM, mức độ tiếp cận và các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ tiếp cận của các TCTCVM tại Việt Nam
Chương 3: Kinh nghiệm của một số TCTCVM trên thế giới và một số khuyến
nghị
Trang 13Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về TCVM Theo J.Ledgerwood thì TCVM
“là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhậpthấp ” Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP) thì TCVM
“cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm:dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm…" Ngân hàngPhát triển Châu Á (ADB) định nghĩa "TCVM là cung cấp các dịch vụ tài chính tiềngửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo, các hộgia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ." Còn theo World Bank thìcho rằng: “ TCVM là hoạt động cung cấp các dịch vụ tín dụng cho vay tiết kiệm vàcác dịch vụ tài chính cơ bản khác cho người nghèo để họ tiến hành công việc sảnxuất kinh doanh, mua tài sản ổn định tiêu dùng bảo vệ bản thân họ tránh những rủi
ro Các dịch vụ tài chính mà người nghèo cần được cung cấp bao gồm vốn vay đểlàm việc, tín dụng tiêu dùng tiết kiệm, lương hưu bảo hiểm và các dịch vụ chuyểntiền”
Tổng hợp từ những khái niệm trên có thể hiểu TCVM là một cách thức pháttriển kinh tế bằng cách đưa các dịch vụ tài chính như tín dụng, thanh toán và bảohiểm tiếp cận với các đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội để phục vụ nhu cầu chitiêu và đầu tư Chính vì thế, không nên bó hẹp TCVM trong tín dụng vi mô là cungcấp các khoản vay nhỏ cho người nghèo và phạm vi hoạt động của tổ chức TCVMcũng không chỉ giới hạn ở nông thôn như tổ chức TCNT Quan điểm này phù hợpvới quan điểm của chính phủ Việt Nam về TCVM trong Nghị định 28/2005/NĐ – CPngày 09/3/2005 định nghĩa: “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số
Trang 14dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhậpthấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”.
1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, mục tiêu của các hoạt động TCVM là sự dung hòa cả mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu xã hội Khác với các TCTC hoạt động vì một mục tiêu duy nhất là
lợi nhuận, tổ chức TCVM hoạt động vừa vì mục tiêu xã hội, nhằm giúp các cá nhân,
hộ gia đình,… có thu nhập thấp tiếp cận được nguồn vốn để nhờ đó thoát nghèo,nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa vì mục tiêu lợi nhuận để tự thân nó nuôi sống vàvận hành tổ chức
Thứ hai, đối tượng khách hàng của TCVM là người nghèo có thu nhập thấp, đặc biệt là phụ nữ nghèo, không giống như các NHTM cho vay các đối tượng có thu
nhập ổn định (phải chứng minh được tình hình tài chính), đối với cá nhân thường lànam giới Nguyên nhân là do phụ nữ là đối tượng luôn khao khát một cuộc sống tốtđẹp hơn cho con cái, nhưng tiềm lực tài chính gần như không có, đặc biệt ở các nước
có tư tưởng trọng nam khinh nữ Tuy nhiên, trao vốn cho phụ nữ được coi là khá antoàn, bởi họ không ưa mạo hiểm như đàn ông, họ sẽ cân nhắc, tính toán và lựa chọnphương án đầu tư an toàn nhất với mức sinh lời chấp nhận được, đây chính là mụctiêu mà tổ chức TCVM hướng tới
Bên cạnh đó, người đi vay thường tập trung thành các nhóm khách hàng trongmột khu vực địa lý, hay cùng nhóm xã hội như hội phụ nữ, hội nông dân… Nhữngkhách hàng này thường thiếu thông tin cũng như hiểu biết về các dịch vụ tài chính,
và họ cũng e ngại những khoản vay lớn vì tâm lý lo ngại không thể hoàn trả khoảnvay, và phân vân không biết nên đầu tư vào đâu khi sở hữu một số tiền quá lớn, mànếu không để nó vận động thì không thể bù đắp được mức lãi suất khá cao từ cácNHTM Chính vì thế, TCVM rất linh hoạt trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụvới khách hàng, cả về danh mục sản phẩm cũng như quy mô khoản vay Việc chovay theo nhóm cũng giảm chi phí cho cả TCTCVM lẫn người đi vay Về phíaTCTCVM, họ sẽ không phải tiếp xúc với từng đối tượng quá nhỏ lẻ, mà sẽ làm việc
Trang 15với đại diện nhóm, thông qua người đại diện mà tư vấn cũng như cung cấp vốn, giảmthiểu chi phí giao dịch Người đại diện được chọn thường là cá nhân có kiến thức vềlĩnh vực tài chính, hoặc có uy tín trong nhóm, như vậy sẽ thiết lập được sự tin tưởngcho cả đôi bên Với người đi vay, họ có tâm lý e ngại tiếp xúc với cán bộ tín dụng,một phần vì không am hiểu quy trình thủ tục, một phần do nhận thức của ngườinghèo chưa cao, việc cử người đại diễn sẽ giải quyết vấn đề này.
Thứ ba, các đơn vị cung cấp tài chính vi mô phải đối mặt với rủi ro cao Bởi vì
khách hàng của TCVM là ở nông thôn với thị trường tài chính và hàng hóa ở khuvực này thường biến động mạnh dù chỉ có sự thay đổi nhỏ về cung và cầu Thu nhậpcủa người nghèo chủ yếu từ nông nghiệp, các nguồn thu nhập từ làm ăn, kinh doanhnhỏ như bán rong, mở cửa hàng tạp hóa… chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ Rủi ro xảy ra chongành nông nghiệp sẽ ảnh hưởng tới đời sống người nông dân rất nhiều, do đó, sẽảnh hưởng đến khả năng trả nợ
Ngoài ra, rủi ro còn thể hiện ngay trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốnTCVM vì cán bộ tín dụng phải thu thập nhiều thông tin khách hàng thông qua nhữnglần đến thăm gia đình hoặc địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệpnhỏ thường có các báo cáo tài chính khá sơ sài, thiếu thông tin, việc hạch toán cònnhiều sai sót, do đó quá trình thẩm định gặp nhiều khó khăn Việc tiếp xúc với ngườinghèo cũng không dễ dàng khi họ thiếu hiểu biết và chưa quen với các thủ tục báocáo với người cho vay, nên cán bộ tín dụng phải giúp đỡ khách hàng chuẩn bị tài liệu
để đánh giá các dòng tiền tương lai và giá trị ròng của các khoản tiền, qua đó xácđịnh thời hạn và mức khoản vay
Nếu cho vay qua người đại diện như đã nói ở trên, việc người đại diện này lợidụng số tiền của cả nhóm nhằm tư lợi cá nhân, biển thủ hoặc có hành vi lừa gạt cán
bộ tín dụng cũng như thành viên nhóm có thể xảy ra
Thứ tư, chi phí giao dịch của các hoạt động TCVM cao hơn đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ, sản phẩm và khách hàng Khách hàng của TCVM chủ yếu ở khu
vực nông thôn với mật độ dân số phân tán, cơ sở hạ tầng chất lượng kém Do đó,
Trang 16khách hàng khó tiếp cận thông tin, dịch vụ giáo dục và đào tạo Thêm nữa, cán bộ tíndụng phải thường xuyên thăm hỏi các gia đình tại các địa phương, nhằm tìm hiểutiềm lực tài chính, gia cảnh cũng như tài sản của họ.
Thứ năm, các khoản vay trong TCVM thường không có tài sản thế chấp, nếu có thì giá trị tài sản đó rất thấp (như ti vi, xe máy,…), trong khi các ngân hàng truyền
thống yêu cầu thế chấp tài sản trong vay vốn thường phải có giá trị cao TCVM được
xem như là quyền của người nghèo, được tiếp cận các khoản vay vốn nhỏ để tự mìnhgiải phóng mình thoát khỏi đói nghèo Do đó, trong một số trường hợp, các khoảnvay vẫn có thế chấp tài sản, nhưng tài sản ấy được xem là một cách ràng buộc người
đi vay phải trả nợ, hơn là sẽ được sử dụng để bù đắp các khoản nợ xấu
Thứ sáu, cách tính lãi suất của tín dụng vi mô là cách tính lãi suất đơn, còn lãi
suất của các khoản vay truyền thống thường là lãi kép tính theo quý và do đó lãi suấttính bởi các tổ chức tài chính truyền thống có thể là bội số của khoản vay gốc, và phụthuộc vào độ dài của khoản vay Còn các tổ chức TCVM sẽ không tính lãi nữa saukhi tiền lãi bằng với tiền vay gốc
1.1.3 Vai trò
Các tổ chức TCVM có những đóng góp hết sức quan trọng cả về mặt tài chínhcũng như xã hội Về mặt tài chính, thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ tàichính, các tổ chức TCVM thực hiện huy động tiết kiệm, tái phân bổ tiết kiệm chođầu tư, và tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ Còn
về mặt xã hội, các tổ chức này cũng thể hiện vai trò to lớn của mình trong công cuộcxóa đói giảm nghèo Cụ thể:
1.1.3.1 Đóng góp về mặt kinh tế
Thứ nhất, hoạt động của các TCTCVM giúp các thành viên tham gia tiếp cận nguồn vốn vay một cách thuận lợi hơn, cũng như được lĩnh hội những kiến thức về quản lý nguồn vốn hiệu quả và tiếp thu những ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến
Trang 17qua quá trình tiếp xúc và làm việc cũng như học hỏi kinh nghiệm, từ đó ứng dụng
những phát kiến tiến bộ vào đời sống, sản xuất, giúp tăng năng suất lao động, làmtăng thu nhập cho các thành viên tham gia và cũng là tăng sản lượng cho toàn nềnkinh tế, do đó cải thiện thu nhập và cải thiện mức sống cho những thành viên thamgia cũng như gia đình của họ, đồng thời tạo việc làm cho các thành viên khác trongnền kinh tế, tránh chảy máu nhân lực và rơi vào tình trạng lao động giá rẻ
Thứ hai, hoạt động TCVM còn giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập của các đối tượng tham gia, giảm thiểu rủi ro từ việc chỉ sở hữu một nguồn thu nhập cố định cũng như gia tăng quy mô nguồn vốn Bên cạnh đó, các TCTCVM còn cung cấp
những sản phẩm bảo hiểm vi mô để giúp các đối tượng tham gia hạn chế những hậuquả do những rủi ro được bảo hiểm gây ra
họ tự tin hơn, vững vàng hơn trong cuộc sống
Thứ ba, hoạt động của các TCTCVM còn phần nào cải thiện dịch vụ y tế, giáo dục, nâng cao trình độ hiểu biết cũng như giảm tỷ lệ mù chữ ở những địa phương có triển khai hiệu quả hoạt động TCVM Một khi đã có vốn đầu tư, cở sở hạ tầng cũng
theo đó mà phát triển, người nghèo được tiếp cận với các luồng thông tin đại chúng,
Trang 18họ hiểu chỉ có tự nâng cao nhận thức bản thân, trau dồi hiểu biết thì mới có thể thoátnghèo, nếu không, những đồng vốn quý giá nhận được cũng trở thành vô dụng.Tóm lại, hoạt động của các TCTCVM đã có những đóng góp hết sức quan trọngkhông chỉ về mặt kinh tế mà còn có những tác động rất lớn trên phương diện xã hội.Những đóng góp này đang trở thành động lực để thúc đẩy cho sự phát triển của hoạtđộng TCVM ở Việt Nam cũng như trên thế giới, nhân rộng mô hình mang đầy tínhnhân văn này.
1.1.4 Các loại hình TCTCVM
Các đơn vị cung cấp loại hình TCTCVM gồm ba nhóm: chính thức, bán chínhthức và phi chính thức Trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm về việc phân chia các tổchức nằm trong 3 nhóm kể trên, tuy nhiên, theo Luật Các TCTD 2010, điều 4 khoản5:
“TCTCVM là loại hình TCTD chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàngnhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanhnghiệp siêu nhỏ”, ta có thể phân chia thành 3 nhóm như sau:
Trang 19là TCTD.
Các dự án phát triển, các
tổ chức phi chính phủcung cấp dịch vụ TCVM
Các nhóm tương hỗ
Các hiệp hội tiết kiệm.Các hiệp hội tín dụng vàtiết kiệm quay vòng vàcác biến thể của nó
Các công ty tài chính,đầu tư phi chính thức.Những người cho vay cánhân thương mại (nặnglãi,…) và phi thương mại(bạn bè, họ hàng, làngxóm, …)
Các thương gia và chủhiệu
Nguồn: Legerwood (2013)
Các đơn vị thuộc khu vực chính thức được Chính phủ ủy quyền và tuân theocác quy định hoạt động, kiểm soát của ngành Ngân Hàng, các đơn vị thuộc khu vựcbán chính thức thì không phải tuân theo các quy định này nhưng lại do các cơ quancủa Chính phủ cấp phép hoạt động nên vẫn chịu sự quản lý của các cơ quan này Cácđơn vị hoạt động trong khu vực phi chính thức nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát củaChính phủ
1.1.5 Các hoạt động tài chính cơ bản
Trang 20Hoạt động cơ bản của các TCTCVM là cung cấp các dịch vụ trung gian tàichính Các hoạt động tài chính do TCTCVM thực hiện bao gồm: tín dụng tiết kiệm,thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán, bảo hiểm vi mô Việc lựa chọn tập trung thực hiệnhoạt động nào và phương pháp cung cấp phụ thuộc vào mục tiêu của TCTCVM, nhucầu thị trường và loại hình tổ chức đó.
1.1.5.1 Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đivay Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiềnhoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định với một mụcđích nhất định Người vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay đếnhạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi Tín dụng có vị trí quan trọngđối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinhdoanh
Đối với TCTCVM, tín dụng thường đồng nghĩa với cho vay và các khoản vaynày thường phục vụ cho mục đích sản xuất Một số TCTCVM cũng thực hiện chovay tiêu dùng như sửa chữa nhà cửa,… hoặc một số lý do đặc biệt nào đó
Việc phân tích, thẩm định khách hàng đối với các TCTCVM về nguyên lý vẫntheo các khung phân tích chung Tuy vậy, do đặc trưng đối tượng khách hàng củaTCTCVM là người nghèo có thu nhập thấp, một số tiêu chuẩn đánh giá khách hàng
đã được điều chỉnh để phù hợp
Có nhiều cách phân loại khác nhau về phương thức tín dụng cung cấp chokhách hàng như theo đối tượng khách hàng (cá nhân, hộ gia đình, nhóm, doanhnghiệp, tổ chức), theo thời gian (ngắn hạn, trung và dài hạn), theo loại tài sản bảođảm (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, tín chấp), theo tính chất tín dụng của hợp đồng(thấu chi, từng lần, hạn mức)
Các phương thức tín dụng thông dụng mà các TCTCVM cung cấp bao gồm: tíndụng cho cá thể, tín dụng kèm theo nhóm tương hỗ, và tín dụng theo nhóm tương hỗthông qua trung gian thứ ba Do những ưu và nhược điểm của từng phương thức tíndụng, các TCTCVM tùy thuộc điều kiện và khả năng mà áp dụng một hoặc một sốphương thức
Trang 211.1.5.2 Hoạt động huy động vốn
Các TCTCVM có thể thực hiện huy động vốn hằng nhiều cách khác như nhậntiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu; vay các TCTD khác trên địa bànhoặc trên thị trường liên ngân hàng; vay NHTW hoặc nguồn tài trợ trực tiếp từ cácnhà tài trợ Tuy nhiên, do đặc trưng của các TCTCVM là hoạt động khá đơn lẻ, chủyếu ở các vùng khó khăn hơn nên không thuận lợi trong việc huy động từ các nguồnvay Do vậy, tiết kiệm là hình thức huy động vốn chủ yếu nhất của TCTCVM
Huy động tiết kiệm là hoạt động nhằm thu hút vốn của người muốn dành riêngmột khoản tiền cho những mục tiêu hay một nhu cầu về tài chính được được dự tínhtrong tương lai Nhiều TCTCVM trên thế giới đã tỏ ra rất thành công trong việc huyđộng tiết kiệm Điều đó chứng minh rằng ngay cả những người nghèo có thu nhậpthấp cũng có khả năng tiết kiệm
Để phát triển bền vững, hiệu quả, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tài chính khách hàng,các TCTCVM rất cần thiết phát triển hoạt động này và nguồn vốn từ huy động tiếtkiệm phải trở thành nguồn hoạt động chính của TCTCVM
Các TCTCVM cung cấp các loại hình tiết kiệm theo nhiều cách khác nhau nhưtheo thời gian (tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm ngắn hạn, tiết kiệm trung và dàihạn); theo đối tượng khách hàng (khách hàng cá nhân, tổ chức), theo vị trí địa lý củakhách hàng
1.1.5.3 Hoạt động tài chính khác
a Hoạt động thanh toán
Hoạt động thanh toán của TCTCVM là việc TCTCVM trích tiền từ tài khoảncủa đơn vị phải trả chuyển vào tài khoản của đơn vị thụ hưởng Thanh toán thườngbao gồm các thể thức như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thư tín dụng L/C hay thẻthanh toán
Cũng cần phải chú ý rằng không phải mọi TCTCVM đều được cung cấp dịch
vụ thanh toán, và cung cấp mọi thể thức thanh toán, tùy thuộc vào quy định của từngquốc gia Theo luật TCTD Việt Nam chỉ có các ngân hàng mới được cung ứng dịch
vụ thanh toán Các dịch vụ thanh toán gắn liền với các dịch vụ huy động tiền gửi Phí
từ hoạt động thanh toán có thể gắn với hoạt động tiền gửi nhưng cũng có thể tách
Trang 22biệt với mục tiêu đảm bảo bù đắp các chi phí liên quan đến hoạt động thanh toán nhưchi phí trang thiết bị và cơ sở hạ tầng khác, chi phí nhân sự, bảo hiểm.
b Hoạt động cung cấp dịch vụ thẻ thanh toán
Một số TCTCVM cũng thực hiện cung cấp dịch vụ thẻ thanh cho khách hàng,bao gồm thẻ rút tiền tự động, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng Thẻ là một phương tiệnthanh toán không dùng tiền mặt được các định chế tài chính hay công ty phát hành,chủ thẻ sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng dịch vụ tại các đơn vị chấpnhận thẻ
Thẻ thanh toán tạo ra nhiều lợi thế cho TCTCVM và khách hàng vì chúng cóthể (i) giảm thiểu chi phí phát hành chính và chi phí hoạt động; (ii) giúp tổ chức hoạtđộng hợp lý; (iii) bổ sung dòng tiền theo nhu cầu khách hàng khi cần thiết Tuy vậy,dịch vụ này còn khá mới mẻ đối với các TCTCVM
c Hoạt động bảo hiểm vi mô
Nhu cầu bảo hiểm vi mô ở cả khu vực đô thị và nông thôn là rất lớn, đặc biệt
là khu vực nông thôn Như đã trình bày, khu vực nông thôn chịu nhiều rủi ro như làrủi ro thiên tai, dịch bệnh Khách hàng của TCTCVM thường dễ bị tổn thương nếurủi ro xảy ra Vì vậy, nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm là rất lớn Bảo hiểm là một hợpđồng theo đó một bên (gọi là công ty bảo hiểm), bằng việc thu một khoản tiền (gọi làchi phí bảo hiểm), cam kết thanh toán cho bên kia (gọi là người được bảo hiểm) mộtkhoản tiền, hoặc hiện vật tương đương với khoản tiền đó, khi rủi ro xảy ra gây tổnthất cho người được bảo hiểm
Nhiều TCTCVM đã thử nghiệm việc bảo hiểm dư nợ cho vay của các kháchhàng của mình Trong hầu hết các trường hợp, khách hàng đóng góp một món nhỏ vàquỹ tập thể được sử dụng để trả cho món vay của một khách hàng nếu họ mất khảnăng hoặc các tài sản sản xuất của họ bị phá hủy hoặc bị đánh cắp Một số TCTCVM
đã thử nghiệm các kế hoạch bảo hiểm để đề phòng thất thoát do hỏa hoạn hoặc mấttrộm và để trả cho toàn bộ các sự kiện trong một chu kỳ sống, như khi sinh nở haymột thành viên trong gia đình chết Ví dụ điển hình là ngân hàng Grameen Bank đãcung cấp dịch vụ bảo hiểm vay vốn và hoàn trả Mỗi thành vên được yêu cầu đónggóp khoảng 1% giá trị món vay vào quỹ bảo hiểm trong trường hợp khách hàng chết
Trang 23thì quỹ này được sử dụng để hoàn trả món vay và cung cấp cho gia đình người chếtmột số tiền để chi phí tang lễ.
Bảo hiểm vi mô là một sản phẩm mà TCTCVM có cơ hội cung cấp rộng rãihơn trong tương lai, vì khách hàng người nghèo có nhu cầu ngày càng tăng về bảohiểm y tế và tiền vay trong trường hợp chết hoặc mất mát tài sản
Ngoài ra, các TCTCVM có thể thực hiện các hoạt động tài chính đa dạng khácnhư: quản lý hộ tài sản, quản lý hộ ngân quỹ, bảo lãnh, ủy thác, tư vấn, đại lý… cácTCTCVM về nguyên lý có thể cung cấp cho khách hàng rất nhiều dạng dịch vụthông qua các hoạt động của mình Việc quyết đinh thực hiện các hoạt động nào phụthuộc vào mục tiêu của TCTCVM, nhu cầu thị trường, sự tính toán chi phí chính xác
và tính khả thi của việc chuyển giao các dịch vụ hỗ trợ
1.2. Khái niệm và đo lường mức độ tiếp cận của TCTCVM
1.2.1 Khái niệm về mức độ tiếp cận
Theo quan điểm của Conning, ông định nghĩa “Mức độ tiếp cận được sử dụng
để đề cập nỗ lực của TCTCVM nhằm mở rộng cung cấp các khoản cho vay và dịch
vụ tài chính cho một khách hàng trên diện rộng (độ rộng tiếp cận) và hướng tới cáckhách hàng nghèo nhất trong những người nghèo (độ sâu tiếp cận)” Trong địnhnghĩa này mức độ tiếp cận được phản ánh nỗ lực nhằm cung cấp các khoản cho vay
và dịch vụ tài chính cho đối tượng khách hàng nghèo nhất trong những người nghèo.Schreiner cho rằng mức độ tiếp cận đại diện cho lợi ích của TCVM thông qua
số lượng khách hàng hoặc quy mô tiền gửi bình quân Với định nghĩa này, mức độtiếp cận được đánh giá qua sáu khía cạnh: giá trị tới khách hàng, chi phí, độ sâu, độrộng, chiều dài và phạm vi Tương tự, Navaja và cộng sự định nghĩa mức độ tiếp cận
là “giá trị xã hội của các sản phẩm đầu ra mà các TCTCVM cung cấp xét trên cả độsâu, giá trị, chi phí, độ rộng, chiều dài và phạm vi” Theo quan điểm của Navaja,mức độ tiếp cận được nhìn nhận qua giá trị đầu ra của các TCTCVM Nói cách khác,các TCTCVM phải cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đầu ra và giá trị của những sảnphẩm và dịch vụ đầu ra này sẽ quyết định đến mức độ tiếp cận
Trang 24Một số các tác giả khác lập luận rằng khái niệm về mức độ tiếp cận khá mơ hồ
và rất khó có thể đánh giá vì mức độ tiếp cận bao gồm cả mặt số lượng cũng như mặtchất lượng Ngoài ra, đối tượng của việc đánh giá chính là khách hàng, thông thườngrất khó có thể xác định và biết được tình trạng của họ Ví dụ điển hình như khi đánhgiá mức độ tiếp cận thì nên đo lường về số lượng khách hàng đang tiếp cận dịch vụtài chính nói chung hay là chỉ đo lường số lượng người nghèo đang tiếp cận? Nếu chỉxem xét đến các khách hàng người nghèo thì tiêu chuẩn nào để xác định mức nghèocủa khách hàng?
Các định nghĩa của Schreiner và Navaja về mức độ tiếp cận đầy đủ, chi tiết tuynhiên quan điểm này không thực sự hữu ích và rõ ràng khi phản ánh đúng về mức độtiếp cận trong bối cảnh tài chính vi mô Vì vậy, dựa trên quan điểm của Conning, cóthể định nghĩa “mức độ tiếp cận là khả năng khách hàng có thể sử dụng dịch vụ cóchất lượng của TCTCVM, đặc biệt đối với các khách hàng nghèo và dễ bị tổnthương”
1.2.2 Đo lường mức độ tiếp cận
Đối với các nước đang phát triển, mục tiêu chính của các chính phủ là đạt đượcmức tăng trưởng kinh tế cao và cải thiện chất lượng đời sống của người dân Trongsuốt những năm 1960-1970, các nước đang phát triển sử dụng nhiều công cụ khácnhau để tác động vào nền kinh tế, trong đó là tài trợ vốn từ trong nước và quốc tế chongành nông nghiệp đặc biệt cho nông dân sản xuất quy mô nhỏ với lãi suất cho vay
ưu đãi Mục tiêu chính của các sáng kiến đó là tăng sản lượng đầu ra và năng suấtnông nghiệp, tạo ra hiệu quả tối ưu trong việc áp dụng các công nghệ mới và sử dụngcác yếu tố đầu vào, cải thiện phân phối thu nhập, xóa đói giảm nghèo và nâng caotrình độ lao động Trong thời gian này, các TCTCVM quan tâm đến vấn đề mức độtiếp cận hơn sự bền vững của tổ chức Khi đó, mức độ tiếp cận được phản ánh thôngqua số lượng khoản cho vay, số tấn phân bón, số máy kéo, số lượng trâu bò được traođổi Tuy nhiên những cách đo lường này không phản ánh đầy đủ mục tiêu cuối cùngcủa các chính sách
Trang 25Trong những năm 1990, khi mà tín dụng vi mô và tài chính vi mô chính thứcsau này đã huy động tiền gửi để cung cấp các dịch vụ tài chính tới người nghèo, kháiniệm mức độ tiếp cận bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính vi môđồng thời các phương pháp đo lường mức độ tiếp cận cũng phát triển theo Trongthời gian này, Yaron cho rằng các phương pháp định lượng truyền thống đánh giáthành công của các tổ chức dựa trên lợi nhuận trên báo cáo tài chính chỉ phản ánhmột phần thậm chí hoàn toàn là các thông tin không hữu ích để phản ánh khả năng tựvững tài chính Vì lí do này, Yaron đã đề nghị các phương pháp thay thế.
Yaron đã đưa ra bảy phương pháp khác nhau có thể sử dụng để đo lường độ tiếpcận của các TCTCVM : (i) giá trị dư nợ của danh mục đầu tư và giá trị bình quân cáckhoản cho vay, (ii) số lượng tiền gửi tiết kiệm và giá trị trung bình các khoản tiền gửitiết kiệm, (iii) số lượng các dịch vụ tài chính cung cấp, (iv) số lượng chi nhánh vàđơn vị, (v) tỷ lệ phần trăm tổng dân số nông thôn được phục vụ, (vi) tăng trưởng tàisản hàng năm của TCTCVM so với những năm gần đây, (vii) tỷ lệ phụ nữ tham gia.Trải qua nhiều năm, những phương pháp đo lường mức độ tiếp cận đầu tiênđược đề xuất bởi Yaron đã được mở rộng, cải tiến và phân loại CGAP và Yaroncùng cộng sự đã mở rộng phương pháp đo lường độ tiếp cận và phân loại theo banhóm cơ bản: (i) độ tiếp cận khách hàng và nhân viên, (ii) độ tiếp cận các khoản chovay và (iii) độ tiếp cận các khoản tiền gửi tiết kiệm Trong mỗi nhóm này, một số cácphương pháp đo lường cụ thể được đề xuất để thể hiện phạm vi TCTCVM tiếp cậnđược tới các khách hàng và TCTCVM có phục vụ các khách hàng nghèo hay không Mặc dù không có phương pháp đo lường mức độ tiếp cận được đề cập một cách
cụ thể nhưng mức độ tiếp cận có thể được phản ánh thông qua sáu khía cạnh: giá trịvới khách hàng, chi phí của khách hàng, độ sâu, độ rộng, độ dài và phạm vi Các khíacạnh này được Schreiner đề xuất đầu tiên và sử dụng để ước tính lợi ích xã hội ròngcủa các TCTCVM nổi tiếng ở Mỹ - Latinh – BancoSol của Bolivia và được coi nhưphương pháp đo lường độ tiếp cận Navaja giải thích rằng độ sâu tiếp cận chính làgiá trị lợi ích ròng xã hội từ việc sử dụng tín dụng vi mô Khi xã hội dần quan tâm tớitầng lớp dân cư nghèo hơn, mức độ đói nghèo được xem là một đại diện tốt cho độsâu tiếp cận Có thể hiểu đơn giản, giá trị lợi ích ròng của xã hội khi cấp một khoản
Trang 26vay nhỏ cho một đứa trẻ đường phố sẽ cao hơn so với việc cấp khoản vay đó cho mộtngười giàu có Điều này có nghĩa rằng, độ sâu tiếp cận có được khi giá trị xã hội tănglên, và để giá trị xã hội tăng lên thì tầng lớp dân cư nghèo phải được tiếp cận tới tàichính vi mô Tuy nhiên, Conning chỉ ra rằng, việc tiếp cận tới người nghèo thườngphải chịu chi phí cao hơn do những khó khăn liên quan đến sự không đồng nhất, ítkhả năng để nhận biết khả năng cũng như mức độ sẵn sàng trả nợ của khách hàngnghèo do đó yêu cầu quá trình thẩm định và giám sát cho vay chặt chẽ Như vậy,việc cấp tín dụng cho người nghèo tạo ra giá trị xã hội chỉ khi độ sâu tiếp cận tănglên với điều kiện chi phí cung cấp dịch vụ thấp.
Giá trị tiếp cận là sự sẵn sàng thanh toán các chi phí của khách hàng bao gồmtổng chi phí giá cả và chi phí giao dịch Chi phí giá cả là việc thanh toán trực tiếpbằng tiền mặt các khoản tiền lãi và phí, đây chính là nguồn thu của TCTCVM Chiphí giao dịch là chi phí phi giá cả gồm có chi phí cơ hội và chi phí phi tiền mặt ví dụnhư giá trị thời gian để nhận và hoàn trả các khoản cho vay, cũng như chi phí giántiếp bằng tiền mặt cho những việc như vận chuyển, tài liệu, các loại thuế cần thiết để
sử dụng một dịch vụ tài chính Chi phí giao dịch không phải là doanh thu của ngườicho vay
Độ rộng tiếp cận được hiểu là số lượng người sử dụng sản phẩm và dich vụ tàichính vi mô Trong trường hợp này, độ tiếp cận được đo lường bằng một giá trị sốhọc chẳng hạn như số lượng khách hàng được một TCTCVM cung cấp dịch vụ tàichính, đặc biệt là những người trước đó chưa hề tiếp cận
Chiều dài độ tiếp cận là khoảng thời gian mà một TCTCVM cung cấp cáckhoản tín dụng Theo lí thuyết, nguồn vốn trợ cấp lâu dài có thể cho phép mộtTCTCVM đạt được chiều dài độ tiếp cận mà không quan tâm đến sự bền vững Tổnthất cho vay do cả người đi vay và nhân viên tín dụng có thể có cơ hội thực hiệnhành vi lừa gạt tổ chức thông qua các chi phí hành chính cồng kềnh và khả năng vỡ
nợ sẽ làm rút ngắn chiều dài độ tiếp cận
Phạm vi độ tiếp cận là số lượng các loại dịch vụ tài chính được cung cấp bởiTCTCVM, ví dụ như các sản phẩm cho vay và tiết kiệm có quy mô khác nhau, điềunày sẽ làm tăng giá trị cho người sử dụng và tăng chiều dài độ tiếp cận
Trang 27Hơn nữa, các phương pháp đo lường độ tiếp cận có thể được phân loại lạithành: độ rộng (hay quy mô) tiếp cận và độ sâu tiếp cận, mặc dù ngân hàng vi môBulletin đã đưa ra một danh sách dài các chỉ số độ tiếp cận và MIX Market đã sửdụng số lượng người đi vay thực tế như một phương pháp đo lường mức độ tiếp cận
do trên thực tế đây là đại điện phổ biến nhất để đo lường độ rộng tiếp cận Trong khi
độ rộng tiếp cận được hiểu là số lượng khách hàng sử dụng dụng sản phẩm và dịch
vụ TCVM trong một giai đoạn nhất định thì độ sâu tiếp cận được định nghĩa là mức
độ đói nghèo của khách hàng được phục vụ (Legerwood)
Chavas và Gonzalez - Vega đề xuất rằng, chất lượng của các dịch vụ được đolường bằng chi phí giao dịch cũng có thể coi là một đại diện đo lường mức độ tiếpcận Tuy nhiên phương pháp đo lường này gặp phải vấn đề do những khó khăn trongviệc định lượng chi phí giao dịch của các khách hàng Bên cạnh đó, đối tượng ngườinghèo và những người không thuộc đối tượng người nghèo lại chịu chi phí giốngnhau, điều này gây lên khó khăn trong việc phân biệt chi phí giao dịch giữa ngườinghèo và những người không thuộc đối tượng nghèo Do đó, chỉ số này có thể khôngchính xác khi đo lường độ sâu tiếp cận
Christen sử dụng quy mô trung bình các khoản cho vay trên thu nhập bình quânđầu người để đo lường độ sâu tiếp cận, tuy nhiên phải chú ý rằng, mặc dù phươngpháp này được sử dụng rộng rãi nhưng nó lại chưa được thực chứng một cách hệthống Điều này có thể dẫn đến sai lệch do không thống nhất về kỳ hạn và mục đích
sử dụng của các sản phẩm cho vay Do đó có thể không phản ánh hết được thị trườngmục tiêu và mức độ đói nghèo của các khách hàng
Từ sau năm 2006, các ý kiến đều đồng thuận rằng trong các ngành công nghiệp
tài chính vi mô việc đo lường mức độ tiếp cận chia thành hai loại: quy mô và chiều
sâu của mức độ tiếp cận.
Paxton và Fruman đã xây dựng phương pháp thay thế là chỉ số độ sâu tiếp cận(DOI) Chỉ số độ sâu tiếp cận DOI là một phương pháp đo lường độ sâu tiếp cận đơngiản và hữu dụng Tuy nhiên, chỉ số này gặp phải một số vấn đề, đó là nó chỉ đượctính toán trên cơ sở bốn đặc điểm của nhóm dân số mục tiêu: sống ở khu vực nông
Trang 28thôn, phụ nữ, nghèo và tình trạng thất học Một điểm yếu khác của DOI là việc thừanhận một số biến đặc trưng cho những người bị từ chối khi tiếp cận các dịch vụ tàichính trong lĩnh vực tài chính chính thức Điều này không đúng trong nhiều quốc gia
có hoạt động của các TCTCVM Do đó chỉ số này phản ánh khả năng tiếp cận cácdịch vụ tài chính hơn là mức độ đói nghèo của khách hàng
1.2.3 Lựa chọn phương pháp đo lường độ tiếp cận
Như đã đề cập đến các phương pháp đo lường độ tiếp cận ở trên, độ rộng tiếpcận là một phương pháp đơn giản và dễ dàng để thiết lập Tuy nhiên, độ sâu tiếp cận
là một phương pháp đo lường tốt hơn trên cơ sở các quan điểm về nghèo đói Đối vớimục đích của nghiên cứu này, độ rộng tiếp cận được xem là một phương pháp đolường thích hợp bởi các lý do sau đây:
Đầu tiên, đây là một phương pháp hợp lý để đo lường những người bị loại trừtiếp cận các dịch vụ tài chính trong khu vực tài chính chính thức truyền thống Độrộng tiếp cận cho biết số lượng khách hàng được TCTCVM phục vụ và được sànglọc bởi phương pháp hoạt động TCTCVM Ví dụ, TCTCVM cho vay theo nhómthường yêu cầu phải có các cuộc họp hàng tuần và sử dụng thêm các kĩ thuật giáodục khi cho vay, do đó đã loại bỏ các khách hàng giàu có vì họ cảm thấy bất tiện và
ít hấp dẫn với các khoản vay
Thứ hai để chọn độ rộng tiếp cận đó là các dữ liệu có sẵn và việc tính toánchúng đơn giản hơn so với phương pháp tính chỉ số độ sâu tiếp cận DOI hay chi phígiao dịch khách hàng
Thứ ba, chi phí để đo lường độ rộng tiếp cận ít tốn kém hơn Các phương pháp
đo lường xem xét đặc điểm khách hàng nghèo thường đòi hỏi việc thu thập thườngxuyên các thông tin cụ thể về khách hàng để xác định mức độ đói nghèo của họ.Ngoài việc gây tốn kém và mất thời gian, các phương pháp đo lường đói nghèo cũnggây ra những tranh cãi khi định nghĩa về đói nghèo và những đối tượng được coi lànghèo
Tuy nhiên phương pháp đo lường độ rộng tiếp cận vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế:
Trang 29(1) Độ rộng tiếp cận không đáp ứng được việc đo lường lợi ích của tài chính vi
mô Điều này dẫn đến không thực hiện được phân tích lợi ích – chi phí
(2) Độ rộng tiếp cận không đánh giá đầy đủ tác động kinh tế của sự hoạt động củacác TCTCVM do nó không phân tách được mức thu nhập, giới tính, các hoạt độngkinh tế, khu vực nông thôn – thành thị, thất học… của khách hàng
(3) Trên quan điểm sáu khía cạnh tác động đến độ tiếp cận, độ rộng tiếp cận chỉđưa ra một bức tranh về số lượng khách hàng được phục vụ mà chưa phản ánh giá trịcho khách hàng, chi phí của khách hàng, độ sâu, chiều dài và phạm vi
1.2.4 Mô hình đánh giá tác động của các nhân tố lên mức độ tiếp cận của
TCTCVM
Rose và Fraser cho rằng đối với một tổ chức nhận tiền gửi, quy trình sản xuất baogồm hai giai đoạn Trong giai đoạn đầu tiên nó sử dụng các yếu tố sản xuất cơ bảngổm đất đai, lao động, vốn và kỹ năng quản lý để huy động tiết kiệm sau đó dự trữmột phần nhằm đáp ứng nhu cầu tiền mặt trong ngắn hạn và phần còn lại đượcchuyển sang giai đoạn hai Ở giai đoạn hai, định chế tài chính vẫn tiếp tục sử dụngcác yếu tố sản xuất ban đầu được gia tăng thêm bởi phần còn lại của tiết kiệm đượctạo ra trong giai đoạn đầu tiên
Sử dụng các yếu tố sản xuất được mô tả ở trên, tổ chức tài chính nhận tiền gửi cóthể cung cấp một loạt các dịch vụ tùy thuộc vào tình trạng pháp lý của nó Ví dụ, mộtngân hàng thương mại ở Việt Nam có các hoạt động: nhận tiền gửi (không kỳ hạn,tiết kiệm, có kỳ hạn), phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiềngửi, tín phiếu), cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu và tái chiết khấu, bảo lãnh ngânhàng, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán), cung ứng dich vụ thanh toán và tạophương tiện thanh toán, kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm pháisinh, ủy thác và đại lý,…(Luật Tổ chức tín dụng năm 2010)
Thông thường, kết quả của các định chế tài chính như ngân hàng thương mạiđược đo lường thông qua giá trị của các dịch vụ được cung cấp Tuy nhiên kết quảđầu ra của các tổ chức này cũng có thể được đo lường bằng số lượng người gửi tiền
và người đi vay
Trang 30Số lượng khách hàng được phục vụ bởi một TCTCVM trong một thời gian xácđịnh được thể hiện bởi biến OUTR, đất bởi biến LAND, lao động bởi biến L, vốn bởibiến K, kỹ năng quản lý bởi biến GM và nguồn vốn bổ sung từ huy động tiết kiệmbởi biến D, hàm sản xuất của TCTCVM nhận tiền gửi có thể được biểu diễn như sau:
OUTR = f [LAND, L, K, GM, D]
Đối với TCTCVM không nhận tiền gửi thì D = 0 LAND và K thường có thể kết
hợp với nhau GM được thay thế bằng GINDEX đo lường yếu tố quản trị, phản ánhvai trò ngày càng quan trọng của cấu trúc thể chế đến kết quả hoạt động của tổ chức
OUTR = f [L, AK, GM]
Trong đó AK = K + D + LAND
Ngoài các yếu tố quyết định của OUTR quy định trong phương trình trên, các yếu
tố quyết định khác đã được tìm hiểu trong nghiên cứu: lãi suất cho vay thực hiệu quả(RELDR), quy mô vay trung bình so với thu nhập bình quân đầu người (AvLz), chiphí đơn vị của khoản vay được giải ngân (CLD), phương pháp cho vay chủ yếu(DDM- biến giả), tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DER), tình trạng pháp lý (LS, biếngiả), và độ tuổi của các tổ chức (AGE) Do đó
OUTR = f [L, AK, GM, RELDR, AvLz, CLD, DDM, DER, LS, AGE]Trong đó: L ≥ 0, AK ≥ 0, GM ≥ 0, AvLz ≥ 0, AGE ≥ 0, DER≥ 0, và CLD ≥ 0 làđơn trị, liên tục Yếu tố đầu vào L và một phần của AK có thể được xem như là yếu
tố sản xuất truyền thống theo lý thuyết sản xuất tân cổ điển và được phản ánh thôngqua hai biến tương ứng WL và GOLP
Trong các chức năng sản xuất truyền thống, AK và L được coi như yếu tố đầuvào đồng nhất được đo lường bởi dịch vụ được cung cấp trong một đơn vị thời gian
Số liệu về đầu vào trong một đơn vị thời gian không có sẵn, các yếu tố đầu vàothường được đo bằng số lượng sử dụng hoặc có sẵn trong quá trình sản xuất Laođộng thường được tính thông qua số giờ công lao động, đôi khi là số lượng nhân viênhoặc chi phí lao động trong một khoảng thời gian Trong nghiên cứu này lao động L
đã được đo thông qua tiền lương vì khó khăn để có thể thu thập dữ liệu về giờ cônglao động
Trang 31Vốn đầu vào thường được đo bằng giá trị vốn cổ phần ròng hoặc đôi khi bởi tổnggiá trị vốn cổ phần và một số biện pháp trực tiếp nhất định chẳng hạn như số lượngmáy kéo trong sử dụng trong nông nghiệp Để tránh những phức tạp liên quan đếnviệc đo lường vốn, trong nghiên cứu này GOLP và đã được sử dụng như là một đạidiện cho vốn hoặc AK.
Dựa trên lý thuyết về các công ty (theory of the firm) và các ứng dụng thựcnghiệm, hàm sản xuất được biểu diễn dưới dạng phi tuyến tính và thường được dùngdưới dạng hàm log-log để thuận lợi cho việc ước lượng bằng việc sử dụng phươngpháp ước lượng phổ biến nhất OLS và hàm sản xuất được dùng rộng rãi Cobb-Douglas với một số sửa đổi (Fraser)
Như đã trình bày ở trên, trong nghiên cứu này độ rộng tiếp cận được sử dụnglàm đại diện phản ánh mức độ tiếp cận của TCTCVM do gặp một số khó khăn khiđánh giá toàn diện mức độ tiếp cận Mức độ tiếp cận của TCTCVM được đánh giáđầy đủ qua sáu khía cạnh: độ rộng tiếp cận, độ sâu tiếp cận, giá trị tới khách hàng,chiều dài tiếp cận, phạm vi tiếp cận chi phí của khách hàng Quy mô trung bình chovay (AVLZ) sẽ ảnh hưởng đến độ rộng, giá trị và độ sâu tiếp cận vì món vay nhỏthường thích hợp với khách hàng của TCTCVM do đó gia tăng giá trị cho kháchhàng, mở rộng quy mô khách hàng, Hơn nữa, quy mô trung bình của món vay cũng
là một đại diện thể hiện mức đói nghèo của khách hàng qua đó phản ánh độ sâu tiếpcận của tổ chức, cho vay một khách hàng nghèo sẽ đem lại giá trị lợi ích ròng cho xãhội lớn hơn Lãi suất cho vay của TCTCVM (RELDR) và chi phí trên mỗi đơn vịđược giải ngân của TCTCVM (CLD) trực tiếp tác động đến chi phí tiếp cận củakhách hàng do đó ảnh hưởng gián tiếp đến độ rộng tiếp cận Lãi suất càng cao cànglàm giảm động lực đi vay của khách hàng còn chi phí của TCTCVM càng cao dẫntới khả năng tăng chi phí giải ngân cho khách hàng cũng như tác động xấu đến tìnhhình tài chính của tổ chức, gián tiếp ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận trong dài hạn.Nguồn vốn mà tổ chức huy động được (DER) có tác động đến chi phí của tổ chứcqua đó ảnh hưởng đến chi phí tiếp cận của khách hàng Và nguồn vốn cũng ảnhhưởng đến chiều dài tiếp cận, nếu tổ chức huy động nguồn vốn chủ yếu từ vốn tài trợhay các khoản tiết kiệm hay vay ưu đãi dài hạn thì tổ chức có nhiều khả năng cung
Trang 32cấp các khoản tín dụng có kỳ hạn dài hơn tới khách hàng Bên cạnh đó, khi tổ chứchuy động tiết kiệm sẽ mở rộng dịch vụ tài chính tới khách hàng làm gia tăng phạm vitiếp cận Qua đó nguồn vốn ảnh hưởng đến độ rộng tiếp cận Tỷ trọng cho vay trong
cơ cấu tài sản (GOLP) thể hiện quy mô tín dụng của tổ chức dẫn đến tác động đếnphạm vi và độ rộng tiếp cận Khi quy mô danh mục cho vay tăng lên nếu bỏ qua yếu
tố cho vay lại thì sẽ làm gia tăng độ rộng tiếp cận, quy mô lớn hơn cho phép tổ chức
đa dạng hóa các loại hình tín dụng làm gia tăng phạm vi tiếp cận Tình trạng pháp lý(LS) trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn cũng như các hoạt động sửdụng vốn của tổ chức do đó ảnh hưởng đến chi phí tiếp cận của khách hàng và phạm
vi tiếp cận của TCTCVM Lương và các khoản lợi ích khác cho nhân viên (WL) tácđộng đến chi phí của tổ chức do đó ảnh hưởng đến chi phí tiếp cận của khách hàng.Không những vậy, lương có thể giúp tăng động lực làm việc và lòng trung thành củanhân viên vì các hành vi gian lận của nhân viên có thể gây tổn thất cho tổ chức, rútngắn chiều dài tiếp cận Yaron và CGAP cũng đánh giá mức độ tiếp cận thông qua
ba nhóm trong đó có nhân viên Nếu nhân viên có động lực làm việc cao có thể giatăng số lương khách hàng do đó làm tăng độ rộng tiếp cận của TCTCVM Tuổi của
tổ chức (AGE) phản ánh kinh nghiệm của tổ chức trong việc huy động vốn, quản trịcũng như tiếp cận các khách hàng do đó có ảnh hưởng đến chi phí tiếp cận của kháchhàng, độ rộng và phạm vi tiếp cận Phương pháp cho vay (DDM) ảnh hưởng đến đốitượng khách hàng của tổ chức, cho vay theo nhóm có thể giúp đạt độ sâu tiếp cậncũng như mở rộng số lượng khách hàng (độ rộng tiếp cận) Hiệu quả quản trị của tổchức (GINDEX) trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí của tổ chức Các khía cạnh của mức
độ tiếp cận có mối quan hệ tương tác với nhau nên một nhân tố ảnh hưởng đến khíacạnh này một cách trực tiếp có thể tác động gián tiếp đến khía cạnh khác đôi khikhông dễ dàng để nhận ra
Bảng 1.2: Các biến sử dụng trong mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến
mức độ tiếp cận của TCTCVM Biến Nội dung
Trang 33AGE Tuổi của TCTCVM Biến liên tục ( số năm)
GOLP Tỷ trọng danh mục cho vay trong tổng tài
RELDR Lãi suất cho vay thực hiệu quả Biến liên tục
DDM Phương pháp cho vay chủ yếu Biến rời rạc
CLD Chi phí trên một đơn vị tiền tệ cho vay Biến liên tục
WL Lương và các lợi ích khác của một nhân
viên trên GNI bình quân đầu người Biến liên tục
AVLZ Quy mô khoản vay trung bình/ GNI bình
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong mô hình
Các tổ chức TCVM được phân loại theo hai tiêu chí: nguồn hình thành vốn chủ
sở hữu và tình trạng pháp lý mặc dù có nhiều cách phân chia tại các quốc gia khácnhau Dựa vào nguồn quỹ, các tổ chức được chia ra thành tổ chức tư nhân, tổ chức cổphần hay nhà nước sở hữu Những tổ chức tư nhân và tổ chức cổ phần được thànhlập do sự góp vốn của các tổ chức và cá nhân trong khi đó các tổ chức nhà nướcđược cấp tài trợ vốn từ ngân sách trung ương hoặc địa phương Căn cứ vào tình trạngpháp lý, các tổ chức có thể chia ra làm tổ chức có tư cách pháp nhân và tổ chứckhông có tư cách pháp nhân hoặc cũng có thể chia thành tư nhân, cổ phần, nhà nước
Trang 34và phi chính phủ Nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) thường đượccấp phát hay vay ưu đãi từ các nhà tài trợ.
Ngoài nguồn vốn ban đầu khi thành lập tổ chức, nguồn vốn bổ sung có thể huyđộng thông qua lợi nhuận giữ lại, thặng dư, tài trợ, vay (ưu đãi hoặc thương mại) haynhận tiền gửi tiết kiệm Lợi nhuận giữ lại, thặng dư và tài trợ là các khoản mục thuộcvốn chủ sở hữu trong khi đi vay và nhận tiết kiệm là nợ phải trả Vì vậy, nguồn vốncủa TCTCVM có thể được phân ra thành vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Van Greuning đã xác định 3 loại nguồn chính của các TCTCVM để hoạt động:
Sử dụng tiền của cá nhân khác: trợ cấp và tài trợ, tiền gửi có kì hạn, vay ưu đãi
và vay thương mại
Tiền từ các thành viên tham gia dưới hình thức vốn góp, tiền gửi tiết kiệm.
Tiền huy động rộng rãi từ dân cư và các tổ chức: tiền gửi cá nhân, tiền gửi tiết
kiệm, vốn bán buôn và vay thương mại
Bảng 1.4: Quan hệ giữa nguồn tài trợ, hoạt động sử dụng vốn
và mức độ tiếp cận
Nguồn: Okumu L.J (2007)
Trang 35Các TCTCVM có thể đạt được mức bền vững và tiếp cận cao thông qua huyđộng tiết kiệm và các khoản vay thương mại Điều này đã được chứng minh bởi một
số TCTCVM tại châu Á và Mỹ-Latinh Ví dụ, nguồn tài trợ của ngân hàng BRI tạiIndonesia phần lớn đến từ hoạt động huy động tiết kiệm của người thu nhập thấptrong khi các khoản vay thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất nguồn vốn của ngânhàng BancoSol tại Bolivia Trong giai đoạn giữa năm 1998 và 2000, tại Peru ngânhàng Mibanco có số lượng khách hàng tăng từ 32000 lên tới 58000 đồng thời giá trịdanh mục cho vay tăng từ 14 triệu lên tới 40 triệu USD sau khi chuyển đổi và đượcphép huy động tiết kiệm như trung gian tài chính khác
Theo nguyên tắc kế toán thì giá trị của tổng nguồn vốn bằng giá trị của tổng tàisản do đó khi nguồn tài trợ vốn tăng lên nên sẽ đến sự gia tăng trong việc sử dụngvốn Vì vậy, nếu một lượng ổn định khoản tiết kiệm và vay thương mại được huyđộng, nó có thể tạo ra sự bền vững và mở rộng mức độ tiếp cận Tương tự, nếunguồn vốn bổ sung được tạo nên từ lợi nhuận giữ lại hay vốn tài trợ hoặc cả hai đềudẫn đến sự gia tăng hoạt động sử dụng vốn
Ngoài ra, huy động tiết kiệm có thể tác động đến mức độ tiếp cận củaTCTCVM thông qua nhiều hướng Thứ nhất, bằng cách cung cấp dịch vụ tiết kiệmcho người có thu nhập thấp, mức độ tiếp cận có thể được cải thiện đáng kể do nhiềungười nghèo không cần vay nhưng cần các dịch vụ như tiết kiệm, bảo hiểm vi môhay các dịch vụ thanh toán Thứ hai, các TCTCVM có thể thu thập thông tin tươngđối ít tốn kém cho việc thẩm định vốn vay Thông tin bất đối xứng là một trongnhững trở ngại lớn trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người có thu nhậpthấp, tập trung nhiều ở khu vực nông thôn.Thông qua các hoạt động gửi và rút tiềntiết kiệm của khách hàng, các TCTCVM thu thập được thông tin về hành vi của họ,
do đó làm giảm mức độ thông tin không cân xứng về khách hàng Điều này có thểcải thiện tỷ lệ trả nợ và giảm chi phí thẩm định cho vay Tỉ lệ hoàn trả cao và chi phíthấp hơn có thể tạo ra thêm lợi nhuận cho TCTCVM và gia tăng mức độ tiếp cận.Cuối cùng, tiết kiệm cũng có thể cải thiện hoạt động quản trị của các TCTCVM, bởi
vì nó làm tăng cường quản lý giám sát theo định hướng khách hàng
Trang 36Tuy nhiên, huy động tiết kiệm từ dân chúng có những phức tạp riêng và đòi hỏimất nhiều chi phí trực tiếp chẳng hạn như tiền lương và thưởng cho nhân viên, đàotạo cán bộ và cải thiện cơ sở hạ tầng cho các tổ chức, chi phí trả lãi cũng như chi phí
do quản lý các khoản tiết kiệm nhỏ Trong một số trường hợp các quy định của luậtpháp không thúc đẩy hoạt động huy động tiết kiệm vì việc phát triển của sản phẩmtiết kiệm tốn nhiều chi phí và phức tạp, đòi hỏi kỹ năng quản lý thanh khoản và quản
lý rủi ro cao, cũng như hiểu biết thấu đáo về nền kinh tế tại địa phương
Tương tự, việc sử dụng các nguồn vốn thương mại đi kèm với chi phí riêng của
nó Tuy nhiên, những chi phí này phụ thuộc vào tình trạng phát triển của khu vực tàichính Tại hầu hết các nước đang phát triển khu vực tài chính vẫn còn kém phát triểndẫn đến chi phí huy động vốn tương đối cao Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đếnphát triển bền vững và mức độ tiếp cận Các yếu tố khác như quản lý yếu kém vàthiếu tầm nhìn chiến lược có thể đóng vai trò quan trọng trong việc cản trở sự dịchchuyển gia tăng nguồn tài trợ vốn sang cải thiện tính bền vững và mức độ tiếp cậncủa tổ chức
Bên cạnh đó, sự tăng trưởng trong sử dụng vốn (đo bằng GOLP) do sự tăngtrưởng trong huy động vốn không có nghĩa có thể cải thiện tính bền vững và tăngcường mức độ tiếp cận bởi vì nhiều nguyên nhân Như bảng 1.4 cho thấy, khi quy
mô tiền gửi tiết kiệm hay vay thương mại lớn hơn, chúng có thể được chuyển đổithành tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng hoặc đầu tư tài sản cố định khác hơn là chovay hoặc đầu tư-các hoạt động trực tiếp ảnh hưởng đến phát triển bền vững và mức
độ tiếp cận Ví dụ, khi tiền gửi tiết kiệm tăng lên, TCTCVM gia tăng tiền lương củanhân viên hay chi tiêu tăng cường cấu trúc quản trị do đó tiền tiết kiệm huy độngđược chỉ ảnh hưởng tới tính bền vững và mức độ tiếp cận của các TCTCVM trongdài hạn
Thứ hai, ngay cả khi các khoản tiết kiệm huy động hoặc khoản vay thương mạiđược sử dụng để tăng GLP (danh mục cho vay) nhưng nếu mức vay trung bình(AvLz) tăng với tốc độ cao hơn tốc độ của GLP thì sự gia tăng GLP chưa chắc tácđộng đến mức độ tiếp cận cho dù có thể cải thiện được mức độ bền vững
Trang 37Thứ ba, việc gia tăng GLP có thể không dẫn tới mở rộng mức độ tiếp cận, nếunhư số lượng người vay lại tại tổ chức tăng lên Vì lẽ đó, tăng quy mô khoản tiếtkiệm hoặc các khoản vay thương mại sẽ không nhất thiết làm tăng mức độ tiếp cận
Một số TCTCVM sử dụng một phần khoản trợ cấp nhận được để cung cấp cácdịch vụ phi tài chính như đào tạo nhân viên và khách hàng, nghiên cứu và phát triển
và các hoạt động khác theo yêu cầu từ nhà tài trợ Những dịch vụ phi tài chính đượcchứng minh có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ tiếp cận Ví dụ, Grameen Bank phục
vụ hàng triệu thành viên, nguồn vốn chủ yếu là nhờ sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ Bêncạnh đó, sự hỗ trợ kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp tái địnhhướng và mở rộng các chương trình của các ngân hàng thương mại thâm nhập vàothị trường TCVM (downscaler) Tại Chile, trợ cấp chi phí điều hành đặc biệt đượcchứng minh thành công lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động Điều này nghĩa
là khoản trợ cấp có thể ảnh hưởng tích cực đến mức độ tiếp cận Tuy nhiên, nếu trợcấp ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ của người nhận (tổ chức tiếp nhận hoặc kháchhàng) thì nó có thể có tác động tiêu cực đến sự bền vững và mức độ tiếp cận của tổchức nhận trợ cấp
Trợ cấp có thể góp phần cải thiện khả năng tài chính của các tổ chức tài chínhnông thôn nhận trợ cấp nhưng nếu thỏa mãn hai yêu cầu cơ bản:
• Các khoản trợ cấp là các khoản vay một lần hoặc trực tiếp góp vốn và không
có trợ cấp hoạt động sau đó
• Các khoản trợ cấp chuyển trực tiếp cho các tổ chức mà không cấp phát chocác khách hàng và lợi nhuận được giữ lại Khách hàng của TCTCVM hoàn toànkhông ảo tưởng rằng họ có thể tiếp cận các khoản vay như món quà chính trị
Trang 38Dựa trên những phân tích trên, mối quan hệ giữa các khoản trợ cấp với tính bềnvững và mức độ tiếp cận có thể là tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào thái độ củangười quản lý của các tổ chức và các khách hàng nhận được trợ cấp Nghiên cứu nàykhông kiểm tra giả thuyết này vì thiếu dữ liệu chính xác.
1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn
1.3.2.1 Quy mô danh mục cho vay và đầu tư
Như bảng 1.4, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả được sử dụng để tài trợ cho cáckhoản mục tài sản Các tổ chức khác nhau thường có cơ cấu tài sản khác nhau tuynhiên các khoản mục chính bao gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu
tư, danh mục cho vay, các tài sản ngắn hạn khác và tài sản cố định Danh mục đầu tư
và cho vay chính là nguồn thu chính trực tiếp tạo ra doanh thu cho tổ chức, danh mụccho vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của các TCTCVM vànhiều định chế tài chính khác
Khi doanh thu từ các khoản đầu tư và GLP tăng có thể cải thiện tính bền vững,mức độ tiếp cận chỉ bị ảnh hưởng thông qua GLP (giả định các khoản vay là nhữngsản phẩm duy nhất được cung cấp) GLP được thể hiện qua số lượng các khoản vay
NL và quy mô cho vay trung bình của AvLz với công thức GLP = AvLz * NL Giả
sử không có người vay lại (NRB) số lượng các khoản cho vay NL cũng giống nhưmức độ tiếp cận Điều này có nghĩa rằng NL tăng khi GLP tăng khi AvLz và NRBkhông đổi Nếu các biến còn lại tăng, sự gia tăng GLP chưa chắc chuyển dịch sanggia tăng mức độ tiếp cận Do đó, giả thuyết rằng biến GOLP có tác động tiêu cực đếnmức độ tiếp cận của TCTCVM
Trang 391.3.2.2 Phương pháp cho vay
Otero và Rhyne đưa ra bốn phương pháp hàng đầu trong việc cung cấp các dịch
vụ tài chính cho các doanh nghiệp vi mô là: nhóm vay dựa trên tình đoàn kết, hội tíndụng, ngân hàng làng xã và cho vay chuyển đổi Ledgerwood xác định hai phươngpháp cho vay lớn: cho vay cá nhân và theo nhóm, trong khi Conning và Cull xácđịnh ba phương thức cho vay: cá nhân, nhóm và ngân hàng làng xã
Các hội tín dụng và ngân hàng làng xã đủ điều kiện để được coi là tổ chức chứkhông phải là một phương pháp cho vay vì có thể sử dụng phương pháp cho vay cánhân, theo nhóm hoặc cả hai Phương thức cho vay chuyển đổi không được sử dụngrộng rãi Đặc biệt, đối vơi các TCTCVM phương pháp cho vay theo nhóm được coi
là một phương thức cho vay sáng tạo, góp phần đem lại tỷ lệ hoàn trả cao nên nghiêncứu này tập trung phân tích phương pháp này
Phương pháp cho vay theo nhóm cho phép các thành viên trong nhóm đều đượcvay, do đó có thể giảm thiểu các vấn đề gây ra bởi thông tin bất đối xứng giữa ngườicho vay và người đi vay, từ đó sẽ khuyến khích các thành viên trong nhóm giám sátlẫn nhau và loại trừ rủi ro do không có tài sản thế chấp chính thức Điều này dẫn đếnviệc chi phí thẩm định cho vay, thu hồi và cưỡng chế cũng giảm xuống
Có hai mô hình rộng rãi của phương pháp cho vay theo nhóm là: mô hình ngânhàng Grameen (xem xét trong năm 2002 và bây giờ gọi là Grameen GeneralizedSystem (GGS) hoặc Grameen Bank II), và các mô hình nhóm đoàn kết đi tiên phongbởi Accion International Các nguyên lý cơ bản của cả hai phương pháp cho vay theonhóm là các dịch vụ được cung cấp cho hoặc thông qua một nhóm, và các hình thứcchủ yếu của hợp đồng vay là trách nhiệm liên đới (joint liability)
Trong nhóm GCS được hình thành một cách tự nguyện và các cá nhân lần lượt
sẽ được vay, nhưng tất cả các thành viên phải chịu trách nhiệm trả nợ Nhóm này baogồm năm người, ban đầu khoản vay được giải ngân cho hai thành viên rồi hai thànhviên kế tiếp và cuối cùng là thành viên còn lại Tám nhóm như này kết hợp để tạo
Trang 40thành một nhóm kinh tế, và sẽ tổ chức một cuộc họp hàng tuần với nhân viên ngânhàng Do đó, một nhân viên ngân hàng có thể phục vụ số lượng khách hàng nhiềuhơn, khách hàng sẽ được hưởng lợi do tính kinh tế nhờ quy mô Nếu một thành viênkhông trả được nợ, tất cả các thành viên trong nhóm đều bị từ chối các khoản vaytiếp theo Phương pháp cho vay này tận dụng các thông tin địa phương và “tài sản xãhội” nhằm nâng cao khả năng trả nợ.
Trong GGS một số quy tắc và các yêu cầu trong GCS đã được nới lỏng, gồmcó: (i) Một số khoản vay, như cho vay theo mùa vụ; (ii) Quỹ nhóm; (iii) Trần chovay; (iv) Quy mô cố định hàng tuần; và (v) Nhóm trách nhiệm pháp lý buộc mọithành viên để trả nợ vay đúng hạn hoặc các thành viên khác trong nhóm phải trả chophần đó, hoặc từ chối khoản vay khác trong tương lai
Các mô hình cho vay theo nhóm dựa trên tình đoàn kết của BancoSol khác một
số điểm so với mô hình ngân hàng Grameen Đầu tiên, mô hình này tập trung vàokhu vực đô thị Thứ hai, các khoản cho vay được thực hiện cho tất cả các cá nhân cácthành viên cùng một lúc và một nhóm bao gồm 3-7 người Thời hạn thanh toán vàthời gian vay linh hoạt, cho phép một số người vay trả nợ hàng tuần hoặc hàngtháng Khách hàng vay của BancoSol là giàu có hơn so với khách hàng của GrameenBank và các khoản vay cũng lớn hơn
Ý tưởng cho vay theo nhóm được tạo ra nhằm đảm bảo hoạt động thành côngcủa việc cho vay và thu hồi từ người nghèo, những người không thể tiếp cận các dịch
vụ của khu vực tài chính chính thức, một phần vì họ không có các tài sản thếchấp Phương pháp này được thiết kế sau khi phát hiện ra người nghèo phải đối diệnvới nhiều mối nguy hiểm Trên quan điểm của khách hàng, thành viên nhóm cảmthấy được bảo vệ vì có sự hỗ trợ từ nhóm Trên quan điểm của tổ chức cho vay,thành viên trong nhóm bị giám sát hành vi, có áp lực trả nợ và trở nên đáng tin cậyhơn Điều này giảm rủi ro đạo đức vấn đề và làm tăng tỷ lệ trả nợ